TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG DÂN

Tìm thấy 4,668 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG DÂN":

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN LUẬN ÁN TS LUẬT

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN LUẬN ÁN TS LUẬT

Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân luận án TS luật
Xem thêm

178 Đọc thêm

XÂY DỰNG KỊCH BẢN ĐỂ GIÁO DỤC Ý THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN TRONG BÀI CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

XÂY DỰNG KỊCH BẢN ĐỂ GIÁO DỤC Ý THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN TRONG BÀI CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Nhiệm vụ quan trọng của toàn ngành giáo dục hiện nay đã được Đảng taxác định trong Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI là tiếp tục đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục đào tạo, coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, học điđôi với hành; giáo dục nhà trường gắn liến với giáo dục gia đình và xã hội.Muốn đổi mới căn bản toàn diện giáo dục- đào tạo cần có sự chuyển biến mạnhmẽ nền giáo dục chủ yếu là truyền thụ kiến thức một chiều sang giáo dục tương1tác giữa người dạy và người học, giữa nhà trường và xã hội nhằm hình thànhnhân cách và phát triển năng lực học sinh; chuyển từ nền giáo dục đóng, khépkín sang nền giáo dục mở, học tập suốt đời gắn với xây dựng xã hội học tập.Trong cuộc hội thảo do Viện Khoa học giáo dục tổ chức ngày 20 tháng 9năm 2011, Bộ trưởng Bộ Giáo dục – đào tạo Phạm Vũ Luận cũng nhận địnhrằng: Công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục – đào tạo mới chỉ đang bắtđầu, để tiến hành thành công đòi hỏi cần sự chung tay góp sức của toàn ngành,mỗi tập thể cá nhân phải ra sức phấn đấu. Đổi mới bắt đầu từ mỗi cá nhân cụthể, công việc cụ thể chứ không phải từ việc làm to lớn nào khác. Mỗi đảng viênphải gương mẫu đi đầu thực hiện tinh thần Nghị quyết của Đảng trước quầnchúng.Bản thân tôi là một giáo viên có nhiều năm đứng lớp, tôi càng thấy mìnhphải có trách nhiệm thực hiện trước khi chờ sự thay đổi cấu trúc chương trìnhhọc sau năm 2015. Đặc biệt giáo viên giảng dạy Giáo dục công dân hiện nay vừaphải giảng dạy nội dung chương trình sách giáo khoa, vừa phải tham gia đánhgiá đạo đức học sinh cùng với giáo viên chủ nhiệm. Phân phối chương trình dạyở mỗi lớp chỉ có một tiết một tuần thì việc nhớ tên học sinh đã khó huống chi làđánh giá ý thức các em Giáo viên dạy GDCD như chúng tôi không chỉ có dạykiến thức sách giáo khoa trên lớp, chúng tôi phải dạy tích hợp các tài liệu khácnhư Tư tưởng Hồ Chí Minh; nếp sống văn minh thanh lịch, phòng chống thamnhũng, hoạt động ngoài giờ lên lớp…Với lượng công việc như trên, bản thân
Xem thêm

15 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 10 môn Giáo dục công dân (P2)

Đề thi học kì 2 lớp 10 môn Giáo dục công dân (P2)

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 NĂM 2014 Câu 1: Nêu khái niệm, ý nghĩa, biểu hiện, cấp độ, trách nhiệm của công dân trong vấn đề hợp tác? Kể tên 5 tổ chức ViệtNam tham gia hợp tác.                                   Câu 2: Thế nào là lòng yêu nước? trình bày truyền thống yêu nước của người Việt, nêu trách nhiệm xây dựng tổ quốc của công dân. Em có suy nghĩ gì về những giá trị truyền thống của dân tộc đang ngày càng mất đi?              Câu 3: Môi trường là gì? Thực trạng và hậu quả? Nêu trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường. Hãy tìm hiểu và giới thiệu với các bạn trong lớp về hoạt động mà em biết để giải quyết vấn đề môi trường.                                                Câu 4: Hải và Hạnh là đôi bạn thanh mai trúc mã. Hạnh lớn lên xinh đẹp, giỏi giang nên được bao người để ý. Sợ mất Hạnh, Hải đã tỏ tình. Hạnh trả lời “Chúng ta mới học lớp 10 còn nhỏ lắm, phải nên học hành chứ không nên yêu đương đâu” nhưng Hải khẳng định “tình yêu không phân định tuổi tác, chúng ta chơi thân từ nhỏ yêu nhau đâu có sai”.                                               *Em đồng ý với quan điểm của Hải hay Hạnh? Vì sao? *Tình cảm của Hải và Hạnh có phải là tình yêu không? Vì sao? *Nếu là bạn của 2 người em sẽ khuyên hai bạn ra sao?  ĐÁP ÁN ĐỀ THI HỌC KÌ 2 MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 NĂM 2014 Câu 1: khái niệm : Hợp tác là cùng chung làm việc...                                                                                      Biểu hiện :                                                                                                       - Cùng bàn bạc. - Phối hợp nhịp nhàng . - Hiểu biết về mọi nhiệm vụ của nhau . - Sẵn sàng giúp đỡ , chia sẻ .  Ý nghĩa   _ Tạo nên sức mạnh tinh thần & thể chất . _ Đem lại chất lượng & hiệu quả cao . _ Phẩm chất quan trọng của người lao động mới . Cấp độ                                                                                                                                                 _ HT song phương, HT đa phương . _ HT từng lĩnh vực, HT toàn diện . _ HT giữa các cá nhân, gữa các nhóm, các cộng đồng. Trách nhiệm                                                                                                                                       _ Cùng nhau bàn bạc phân công & xây dựng kế hoạch cụ thể. _ Nghiêm túc thực hiện phối hợp nhịp nhàn. _ Chia sẻ, đóng góp ý kiến cho nhau. * 5 tổ chức : HS tự kể                                                                                           Câu 2: Lòng yêu nước là tình yêu quê hương đất nước và tinh thần …                                 Truyền thống yêu nước                                                                                                             - Truyền thống cao quý thiêng liêng nhất của dân tộc VN . - Là cội nguồn của các giá trị truyền thống khác . - Lòng yêu nước được hình thành trong công cuộc đấu tranh xây dựng bảo vệ tổ quốc .  Biểu hiện lòng yêu nước :                                                                                    _ Tình cảm gắn bó với quê hương , đất nước. _ Tình yêu thương đối với đồng bào, dân tộc. _ Lòng tự hào dân tộc chính đáng. _ Đoàn kết kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm . * Trách nhiệm xây dựng tổ quốc của công dân                                                                  _ Cần cù và sáng tạo trong lao động . _ Chăm chỉ, sáng tạo trong học tập, lao động . _ Tích cực rèn luyện đạo đức tác phong trong sáng , lành mạnh. _ Quan tâm đến đời sống chính trị xã hội,chủ trương , chính sách của Đảng, nhà nước & pháp luật. _ Góp phần xây dựng quê hương bằng những việc làm phù hợp với khả năng. _ Biết phê phán đấu tranh với những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. ** HS trình bày suy nghĩ                                                                                     Câu 3: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên vật chất...                                                 - Thực trạng môi trường hiện nay:                                                                             + TN thiên nhiên khai thác cạn kiệt + MT bị ô nhiễm Hậu quả: Mưa lớn, bão lũ, mưa a xít, tầng ôzôn bị chọc thủng nhiệt độ trái đất nóng dần lên…  Mất cân bằng sinh thái  ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người. Trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường :                                                  Bảo vệ MT là khắc phục mâu thuẫn nẩy sinh ... Trách nhiệm : + Giữ gìn trật tự vệ sinh trường lớp, nơi cư trú, không vứt rác thải rác bừa bãi ... + Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên ... + Tích cực trồng cây, trồng rừng ... + Đấu tranh những hành vi phá hoại môi trường ... HS: kể hoạt động                                                                                               Câu 4: *Em đồng ý với quan điểm của Hải hay Hạnh? Vì sao?                                           Đồng ý với ý kiến của Hạnh vì không nên yêu sớm .... *Tình cảm của Hải và Hạnh có phải là tình yêu không? Vì sao?                               Chưa phải là tình yêu... vì tình yêu là... *Nếu là bạn của 2 người em sẽ khuyên hai bạn ra sao?                                         Khuyên 2 bạn nên học cho tốt chuyện tình cảm hãy để sau ít nhất là học hết phổ thông. Các đề thi học kì 2 môn Giáo dục công dân sẽ liên tục được cập nhật trên Tuyensinh247.com các em chú ý theo dõi nhé! Nguồn Dethi.Violet
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục HIỆU TRƯỞNG QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục HIỆU TRƯỞNG QUẢN lý QUÁ TRÌNH dạy học ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội

Giáo dục phổ thông là một bậc học quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 27, tr.4.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương Công dân 9 HK2

Đề cương Công dân 9 HK2

đề cương ôn tập GDCD9 HK2 20152016 : nội dung bài học, các ví dụ, hành vi,...bài sống có đạo đức và tuân theo pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân,...Công dân 9: Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật: 1)Khái niệm: a)Sống có đạo đức: Suy nghĩ hành động theo những chuẩn mực đạo đức Chăm lo đến mọi người,đến việc chung Lấy lợi ích xã hội, dân tộc làm mục tiêu sống và kiên trì hoạt động để thực hiện mục tiêu đó 4 hành vi: Chăm sóc ông bà lúc ôm đau Tham gia tích cực các công việc của lớp Làm việc nhà giúp cha mẹ Tham gia hiến máu nhân đạo b)Tuân theo pháp luât: Là luôn sống, hành động theo những quy định của pháp luật 4 hành vi: Không đua xe máy Không vận chuyển chất cấm Không vượt đèn đỏ Không đi vào đường ngược chiều 2)Mối quan hệ: Sống có đạo đức là tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức do xã hội quy định Thực hiện pháp luật là bắt buộc thực hiện những quy định của pháp luật do nhà nước đề ra Là phẩm chất bền vững của mỗi cá nhân là động lực để điều chỉnh nhận thức, thái độ hành vi 3)Ý nghĩa: Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật là 1 điều kiện hoặc yếu tố giúp mọi con người tiến bộ, làm được nhiều việc có ích cho mọi người và xã hội 4)Trách nhiệm: Cần thường xuyên tự kiểm tra đánh giá hành vi của bản thân trong việc sống có đạo đức và tự giác tuân theo pháp luật. ~Ví dụ:Sống có đạo đức: + Bé Hoa thường hay phụ mẹ chăm em khi mẹ vắng nhà +Bạn Hà hay giúp đỡ các bạn học yếu hơn trong lớp Tuân thủ pháp luật +Bạn Minh khi thấy đèn đỏ thì gặp lại để không hối hận sau này +Các bạn trong lớp tuyên truyền không được sử dụng các chất cấm có hại Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân : 1)Khái niệm: a)Vi phạm pháp luật:là hành vi trái pháp luật có lỗi do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện,xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Các loại vi phạm pháp luật: +Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm) +Vi phạm pháp luật hành chính +Vi phạm pháp luật dân sự +Vi phạm kỉ luật
Xem thêm

Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ 4 - GIÁO ÁN ÔN PHỤ ĐẠO MÔN GDCD 12

CHUYÊN ĐỀ 4 - GIÁO ÁN ÔN PHỤ ĐẠO MÔN GDCD 12

Tiết: 40, 41, 42 Ngày soạn: 5/4/2017 Chuyên đề 4: Pháp luật với sự phát triển của công dân và đất nước I.Mục tiêu bài học: 1.Về kiến thức: -Giúp HS nêu được KN, nội dung, ý nghĩa quyền học tập của công dân. -Giúp HS nêu được KN, nội dung, quyền sáng tạo và quyền được phát triển của công dân. - Giúp HS nắm được ý nghĩa quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân. - Trình bày được trách nhiệm của nhà nước và công dân trong việc bảo đảm thực hiện quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân. - Trình bày được 1 số nội dung cơ bản của pháp luật trong việc phát triển kinh tế. - Trình bày được 1 số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển các lĩnh vực xã hội. - Trình bày được 1 số nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường. - Trình bày được 1 số nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ an ninh, quốc phòng. 2.Về kỹ năng : - Biết thực hiện và có khả năng nhận xét việc thực hiện quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân theo quy định của pháp luật. - Biết thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và bảo vệ an ninh, quốc phòng theo quy định của pháp luật. 3.Về thái độ : - Có ý thức thực hiện quyền học tập, sáng tạo và phát triển của mình; tôn trọng các quyền đó của người khác. - Tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật về kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và bảo vệ an ninh, quốc phòng. - Có thái độ phê phán những hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và bảo vệ an ninh, quốc phòng. II. Chuẩn bị: 1. Giáo viên: - SGK GDCD 12, SGV GDCD 12, giáo án ôn phụ đạo, nhữ
Xem thêm

Đọc thêm

Khái niệm luật tố tụng hình sự bài 1

Khái niệm luật tố tụng hình sự bài 1

Quy định: Trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các CQTHTT; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người THTT; Quyền và nghĩa vụ của những người TGTT; của các cơ quan, tổ chức và công dân; Vấn đề hợp tác quốc tế trong TTHS.

Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ Xây dựng đảng và chính quyền nhà nước Nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở tỉnh bắc giang hiện nay

Luận văn thạc sĩ Xây dựng đảng và chính quyền nhà nước Nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở tỉnh bắc giang hiện nay

1.Lý do chọn đề tàiTrong công cuộc đổi mới, Đảng ta xác định Nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng, tổ chức và vận hành theo thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN. Hiến pháp năm 2013 đã xác định Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Để đạt được điều đó, những người làm ở các cơ quan Nhà nước chính là nhân tố để đảm bảo thực hiện những chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời cũng chính là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Hành chính: Khác biệt trong quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam so với công dân Việt Nam

Bài tập nhóm luật Hành chính: Khác biệt trong quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam so với công dân Việt Nam

Khác biệt trong quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam so với của công dân Việt Nam Trong những năm qua, chính sách mở cửa để hội nhập với thế giới của nước ta đã và đang được thực hiện ngày càng tích cực. Thông qua việc thực hiện những chính sách này mà số lượng người nước ngoài đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam càng ngày càng tăng. Nhà nước ta đã có những quy chế pháp lý riêng để quản lý những người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam. Chắc chắn rằng, những quy chế pháp lý này so với quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt Nam sẽ có những điểm khác biệt. Để có thể hiểu biết chính xác hơn về những khác biệt này, bài viết này chúng em xin được làm rõ vấn đề: Phân tích về những điểm khác biệt trong quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam so với quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt Nam và lí do của sự khác biệt đó. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. KHÁI NIỆM 1. Công dân Quốc tịch là một phạm trù chính trị pháp lí thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, đồng thời quốc tịch còn xác định một cá nhân là công dân. Có thể nói người có quốc tịch của quốc gia nào là công dân của quốc gia đó. Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Theo Khoản 5 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 2008, “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam.” Vậy, người nước ngoài là người đang ở một nước nhưng không có quốc tịch của nước sở tại. 2. Quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt Nam Quy chế pháp lí hành chính của công dân là tổng thể các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước. Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam có những đặc điểm: Mọi công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền về tự do cá nhân về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là quyền quan trọng nhất của công dân. Quy chế pháp lý hành chính của công dân được xác lập trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do Hiến pháp quy định và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể hạn chế quyền và nghĩa vụ của công dân trên cơ sở pháp luật. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên pháp luật phải có những quy định thích hợp để công dân có quyền và nghĩa vụ được thực hiện trên thực tế. Quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời. Công dân được hưởng quyền đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện cho nhu cầu chính đáng của cá nhân được thỏa mãn. Nhà nước chỉ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với công dân khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ trong giới hạn mà pháp luật cho phép. Nhà nước không ngừng hoàn thiện quy chế pháp lý hành chính của công dân để đảm bảo cho công dân tham gia tích cực vào quản lý nhà nước. 2. Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là tổng thể những quy định của pháp luật về các quyền và nghĩa vụ pháp lí của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam. Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có những đặc điểm sau: Bất kỳ người nước ngoài nào cũng phải chịu sự tài phán của hai hệ thống pháp luật: Pháp luật của nước sở tại và pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch. Tất cả những người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống ở Việt Nam đều bình đẳng về năng lực pháp luật hành chính. Quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài có hạn chế nhất định so với công dân Việt Nam. II. PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT TRONG QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CƯ TRÚ TẠI VIỆT NAM SO VỚI QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM. 1. Về khái niệm Về định nghĩa: Quy chế pháp lí hành chính của công dân là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lí hành chính nhà nước. Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam. Về đặc điểm, công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam còn người nước ngoài cư trú tại Việt Nam không có quốc tịch nước Việt Nam. Quy chế pháp lí của công dân Việt Nam được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được đảm bảo thực hiện trong thực tế còn quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và những văn bản pháp luật khác như: pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000... Mọi công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền về tự do cá nhân, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… còn người nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải chịu sự tài phán của hai hệ thống pháp luật: Pháp luật Việt Nam và pháp luật nước mà họ mang quốc tịch nên họ bị hạn chế về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực; ví dụ như không được lựa chọn nghề nghiệp như công dân Việt Nam. Quy chế pháp lí hành chính của công dân xác lập trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do Hiến pháp quy định, chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể hạn chế quyền và nghĩa vụ của công dân. So với quy chế pháp lý của công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam bị hạn chế một số quyền và nghĩa vụ. 2. Trong lĩnh vực hành chính chính trị Xét trong lĩnh vực hành chính chính trị, người nước ngoài và công dân Việt Nam đều có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, đảm bảo bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, có quyền được bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự, tài sản; có quyền khiếu nại tố cáo để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Tuy nhiên, so với công dân Việt Nam, các quyền dành cho người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam có phần hạn chế hơn nhiều: Đối với công dân Việt Nam, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội được nhà nước thừa nhận rộng rãi và được quy định trong Hiến pháp: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28 Hiến pháp 2013). Ngược lại, đối với người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam, quyền này bị hạn chế và hầu như không có. Nhà nước ta không thừa nhận việc người nước ngoài tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước. Tuy nhiên trên thực tế, họ vẫn có thể được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước đối với những công việc không liên quan đến bí mật quốc gia và an ninh quốc phòng khi được sự đồng ý của cán bộ, công chức có thẩm quyền. Điều 27 Hiến pháp 2013 quy định quyền bầu cử, ứng cử: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân”. Nhưng nhóm người nước ngoài không có quyền này. Thực tế cho thấy, quyền tự do đi lại và cư trú của người nước ngoài bị hạn chế hơn rất nhiều so với công dân Việt Nam. Đây là một quyền chính trị quan trọng mà Nhà nước ta đã quy định rõ đối với công dân trong Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước” (Điều 23 Hiến pháp 2013). Trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định về quyền này của người nước ngoài rất chặt chẽ và cụ thể. Ví dụ người nước ngoài muốn cư trú ở Việt Nam phải làm các thủ tục nhập cảnh; phải đăng kí mục đích, thời hạn và địa chỉ cư trú tại Việt Nam... Tuy nhiên, nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài xuất nhập cảnh. Hay pháp luật nước ta quy định người nước ngoài không được cư trú, đi lại ở những khu vực, địa điểm cấm người nước ngoài cư trú, đi lại như khu vực vành đai biên giới, các khu vực công nghiệp quốc phòng, khu quân sự, các khu vực có yêu cầu bảo vệ an ninh đặc biệt… quy định tại chương II và chương III Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Đối với một số người nước ngoài, nhà nước Việt Nam còn dành một số quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, miễn trừ lãnh sự khi xét xử trong khi công dân Việt Nam không cần thiết và không có những quy định này. Ngoài ra, công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khi có hành vi phạm tội nghiêm trọng mà bị xét xử theo pháp luật Việt Nam còn người nước ngoài có thể bị trục xuất trong những trường hợp: vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt nam, bị xử phạt vi phạm hành chính; phạm tội nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội… Công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam đều phải có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhưng so với người nước ngoài, công dân Việt Nam còn có các nghĩa vụ và trách nhiệm khác, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ tổ quốc, phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tham gia quân sự khi tới độ tuổi theo quy định của pháp luật. Ngoài ra công dân Việt Nam phải có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (giữ gìn bí mật nhà nước), mọi hành vi phản bội đều bị trừng trị thích đáng. Như vậy, so với công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được hạn chế một số nghĩa vụ liên quan đến quân sự và bí mật quốc gia. 3. Trong lĩnh vực kinh tế xã hội a. Quyền lao động : Đây là một quyền quan trọng trong lĩnh vực kinh tế xã hội và có ý nghĩa lớn với mọi công dân cũng như toàn xã hội. Trong Hiến pháp 1992, Điều 55 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân…” Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, Điều 56 Hiến pháp 1992 đã quy định rất cụ thể: “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động…” Nhưng trong Hiến pháp 2013, quyền này được quy định chi tiết như sau: “1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. 2. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.” Quyền lao động của công dân được Nhà nước bảo đảm từng bước trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, qua đó cũng giúp cho đất nước phát triển, của cải trong xã hội ngày càng nhiều hơn và phong phú hơn. Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có quyền lao động nhưng không được tự do lựa chọn nghề nghiệp như công dân Việt Nam. Pháp luật quy định cụ thể một số ngành nghề mà người nước ngoài không được phép hoạt động (Ví dụ nghề lái xe chở khách, nghề lái ca nô và các phương tiện vận chuyển hành khách…). Người nước ngoài có quyền làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam và được các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam cấp giấy phép lao động. Người sử dụng được phép tuyển người nước ngoài làm việc khi cần có các chuyên gia có chuyên môn kỹ thuật cao. b. Quyền tự do kinh doanh : Đây cũng là môt quyền được pháp luật quy định rõ ràng trong Hiến pháp, bộ luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33 Hiến pháp 2013). Vậy, nhà nước ta tạo điều kiện cho công dân tự do kinh doanh các ngành nghề pháp luật cho phép, góp phần phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, pháp luật chỉ cho phép họ kinh doanh một số ngành nghề nhất định và phạm vi kinh doanh cũng bị thu hẹp hơn so với công dân. Một số ngành nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh của người nước ngoài tại Việt Nam như: Ngành luật sư, các ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật cao, trong lĩnh vực tín dụng, hoạt động kinh tế tại vùng biển, hoạt động thương mại du lịch. Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay có một số nghề kinh doanh đặc biệt mà người nước ngoài được phép tham gia nhưng phải nộp bản cam kết cho công an cấp tỉnh hoặc ấp huyện nơi họ hành nghề (VD: cho thuê nghỉ trọ, nghề khắc con dấu…) c. Quyền sở hữu thu nhập hợp pháp : Đây là quyền mà cả công dân và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đều được hưởng. Tuy nhiên xét về mọi khía cạnh thì người Việt Nam luôn được ưu tiên hơn. d. Quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch : Đây là sự khác biệt cơ bản trong lĩnh vực kinh tế xã hội giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam. Điều 5 luật đất đai 2013 quy định “Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:…Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ…”. Để được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, người nước ngoài phải thuộc đối tượng được mua, thừa kế, tặng cho và sở hữu nhà ở tại Việt Nam và nhà ở mà cá nhân, doanh nghiệp trên được mua, sở hữu là căn hộ chung cư trong các dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại. Còn công dân Việt Nam không bị hạn chế quyền mua nhà ở các khu vực này cũng như những địa điểm trên phạm vi Việt Nam. e. Nghĩa vụ đóng thuế : Đối với công dân Việt Nam thì chỉ phải chịu thuế thu nhập thường xuyên còn đối với người nước ngoài cư trú ở Việt Nam thì phải chịu thuế về thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Người nước ngoài dù không ở Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam luôn phải đóng thuế thu nhập cao. Như vậy người nước ngoài phải có nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cao hơn so với công dân Việt Nam. f. Các nghĩa vụ khác : Các nghĩa vụ khác như: nghĩa vụ lao động công ích, nghĩa vụ tham gia xây dựng công trình công cộng, nghĩa vụ khắc phúc hậu quả thiên tai… Hầu hết các nghĩa vụ này thì người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thể có hoặc không thực hiện nhưng người Việt Nam thì bắt buộc. 4. Trong lĩnh vực văn hóa xã hội Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, quy chế pháp lí của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam có những sự khác biệt nhất định, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục và văn hóa. a. Về giáo dục Tuy công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đều có quyền học tập tại Việt Nam và được tuyển sinh, quản lí theo quy chế của Việt Nam nhưng Công dân Việt Nam không những được tự do học tập trong nước mà còn được đi học ở nước ngoài theo con đường tự chọn về ngành học, bậc học, nước mà công dân du học… Còn người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và con em của họ được vào học tại các trường học Việt Nam trừ một số trường đại học, trường chuyên nghiệp hoặc một số ngành học trong các trường có liên quan đến an ninh, quốc phòng…Và việc tiếp nhận, quản lí đào tạo đối với người nước ngoài học tại các cơ sỏ giáo dục thuộc Bộ quốc phòng, Bộ công an, Thanh tra Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cơ yếu Chính phủ, Học viện chính trị hành chính quốc gia được thực hiện theo quy đinh riêng của Nhà nước. Như vậy, có thể thấy, trong lĩnh vực giáo dục, quyền của người nước ngoài bị hạn chế và bị quản lí nghiêm ngặt hơn công dân Việt Nam. b. Về văn hóa Trong lĩnh vực văn hóa xã hội, công dân Việt Nam có nghĩa vụ bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc, chịu trách nhiệm pháp lí khi có hành vi xâm hại di sản văn hóa dân tộc… Pháp luật không quy định quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam về vấn đề này. Tuy nhiên, ta có thể thấy các khu di tích văn hóa có những quy định riêng ngăn chặn hành vi xâm hại tới các di sản văn hóa đôi với mọi người thăm quan di tích. Với người nước ngoài, những di sản văn hóa ở Việt Nam với họ không mang ý nghĩa lớn lao như với người Việt Nam nhưng các di sản đó thể hiện nét đẹp truyền thống, bản sắc của Việt Nam. Mọi người cần phải chung tay bảo vệ vẻ đẹp đó. c. Các lĩnh vực khác Ngoài ra, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam cũng được pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ trong một số lĩnh vực như công dân Việt Nam như: hôn nhân – gia đình, báo chí thông tin, sở hữu trí tuệ, y tế, bảo trợ xã hội… tuy nhiên các quyền của họ trong những lĩnh vực này cũng bị hạn chế hơn nhiều so với công dân Việt Nam. III. LÝ DO QUY CHẾ PHÁP LÍ HÀNH CHÍNH CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CƯ TRÚ TẠI VIỆT NAM KHÁC QUY CHẾ PHÁP LÍ CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM 1. Nguyên tắc quốc tịch Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ pháp lí giữa cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước cũng như trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân Việt Nam. Nhà nước ta bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và theo quy định của pháp luật. Vì vậy mà quy chế pháp lý hành chính nhà nước giữa công dân và người nước ngoài có sự khác biệt, cụ thể là các quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài hẹp hơn so với công dân Việt Nam. 2. Nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng Vấn đề độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia hiện nay đối với Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung là một vấn đề quan trọng, là mối quan tâm hàng đầu của các nhà làm chính trị. Nó gắn liền và ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển cũng như cuộc sống của nhân dân. Một quốc gia khi mất đi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì nước đó sẽ tiêu vong, công dân nước đó sẽ nghèo đó và khổ cực. Vì vậy, mọi hoạt động nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia cần được cân nhắc kỹ lưỡng kể cả đối với việc ban hành các quy chế hành chính nhà nước đối với người nước ngoài đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam. Để đảm bảo các bí mật về quốc phòng, an ninh và các công việc nội bộ của đất nước mà Nhà nước ta đã hạn chế việc tìm hiểu các vấn đề chính trị, các công việc nội bộ của Nhà nước ta của người nước ngoài của người nước ngoài như: Người nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam có quyền tự do đi lại nhưng bị hạn chế không được đi lại tùy tiện ở các khu vực quốc phòng, các nơi liên quan đến an ninh, quốc phòng… Bên cạnh việc bị hạn chế một số quyền nhất định thì người nước ngoài cũng không phải thực hiện một số nghĩa vụ như nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Có thể thấy, sự khác biệt quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam và công dân Việt Nam là do những yêu cầu thiết yếu để bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước ta bảo hộ các quyền của công dân Việt Nam trên cơ sở pháp luật Việt Nam, tạo mọi điều kiện để công dân phát huy những khả năng vốn có của mình, góp phần xây dựng đất nước. Còn đối với người nước ngoài, Nhà nước ta bảo hộ quyền lợi của họ dựa trên những điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia. KẾT LUẬN Từ việc phân tích sự khác biệt giữa quy chế pháp lý của công dân Việt Nam và quy chế pháp lý của công dân nước ngoài trên các lĩnh vực hành chính – chính trị; kinh tế xã hội và văn hóa – xã hội cùng việc giải thích lý do dẫn tới sự khác biệt đó là theo nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc an ninh – quốc phòng. Những phân tích nói trên đã góp phần không nhỏ giúp chúng ta hiểu hơn về những quy định, pháp luật hành chính của nước ta trong việc bảo vệ và phát triển đất nước.
Xem thêm

Đọc thêm

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP, TIẾP DÂN CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC UBND phường Lê Hồng Phong

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP, TIẾP DÂN CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC UBND phường Lê Hồng Phong

MỤC LỤC I. LỜI NÓI ĐẦU 1 II. NỘI DUNG BÁO CÁO 4 PHẦN I: KHẢO SÁT CÔNG TÁC VĂN PHÒNG CỦA CƠ QUAN 4 1.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBND phường Lê Hồng Phong: 4 1.1 Vài nét sơ lược về UBND phường Lê Hồng Phong. 4 1.2 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBND Phường Lê Hồng Phong: 4 1.2.1 Chức năng: 4 1.2.2 Nhiệm vụ, Quyền hạn: 5 1.2.3 Cơ cấu tổ chức UBND phường Lê Hồng Phong. 7 2. Khảo sát tình hình tổ chức, quản lý, hoạt động công tác hành chính văn phòng của UBND phường Lê Hồng Phong. 8 2.1 Tổ chức và hoạt động của văn phòng 8 2.1.1 Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của văn phòng 8 a. Vị trí chức năng. 8 b. Nhiệm vụ quyền hạn 9 c. Cơ cấu tổ chức của văn phòng HĐNDUBND phường: 12 2.1.2 Xây dựng bản mô tả công việc của các vị trí công việc trong văn phòng 12 2.1.2.1. Vị trí công việc 12 2.1.2.2. Trách nhiệm công việc 12 2.1.2.3. Điều kiện làm việc . 13 2.1.2.4. Tiêu chuẩn: 13 3. Tìm hiểu công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan tổ chức: 14 3.1 Hệ thống hóa các văn bản quản lý của cơ quan về công tác văn thư, lưu trữ cơ quan , tổ chức. 14 3.2 Công tác xây dựng Chương trình Kế hoạch công tác (Kế hoạch năm, Kế hoạch tháng, lịch công tác tuần của cơ quan). 15 3.2.1. Khái niệm: 15 3.2.2. Vai trò: 15 3.2.5 Quy trình lập chương trình, kế hoạch công tác 17 3.2.6. Bố cục chương trình, kế hoạch công tác 17 3.2.7. Bố cục lịch công tác hàng tuần 18 3.3 Công tác soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan 18 3.3.1 Nhận xét về thẩm quyền ban hành các hình thức văn bản quản lý của cơ quan 18 3.3.2 Nhận xét về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản của cơ quan, tổ chức; 19 3.3.3 Mô tả các bước trong quy trình soạn thảo văn bản quản lý của cơ quan. So sánh với quy định hiện hành và nhận xét, đánh giá. 20 3.4 Nhận xét về quy trình quản lý và giải quyết văn bản 24 3.4.1 Sơ đồ hóa quy trình quản lý và giải quyết văn bản đi – đến 24 3.4.1.1 Sơ đồ hóa quy trình quản lý và giải quyết văn bản đi 24 3.4.1.2 Sơ đồ hóa quy trình quản lý và giải quyết văn bản đến 26 3.4.2 Nhận xét về lập hồ sơ hiện hành của cơ quan, đơn vị 27 3.5 Tìm hiểu về tổ chức lưu trữ của cơ quan, tổ chức 28 4. Tìm hiểu về công tác tổ chức sử dụng trang thiết bị văn phòng trong cơ quan 28 4.1 Tìm hiểu và nhận xét về trang thiết bị văn phòng, cơ sở vật chất của văn phòng 28 4.2 Sơ đồ hóa cách bố trí, sắp xếp các trang thiết bị trong một phòng làm việc của văn phòng (hiện tại) . Đề xuất mô hình văn phòng mới tối ưu. 29 4.3 Tìm hiểu và thống kê cụ thể tên các phần mềm đang được sử dụng trong công tác văn phòng của cơ quan (Phần mềm quản lý nhân sự, quản lý văn bản, quản lý tài sản, quản lý tài chính…). Nhận xét bước đầu về những hiệu quả mang lại. 29 PHẦN II:CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP: KỸ NĂNG GIAO TIẾP, TIẾP DÂN 31 CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP, TIẾP DÂN 32 1.1 Khái niệm kỹ năng giao tiếp 32 1.1.1 Giao tiếp 32 1.1.2 Kỹ năng giao tiếp 32 1.1.3 Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản 32 1.2 Khái niệm tiếp dân 33 1.2.1 Mục đích, ý nghĩa, vai trò tiếp công dân 33 1.2.2 Quan niệm về tiếp dân 34 1.2.2.1 Quan niệm tiếp dân là thể hiện quan điểm “dân là gốc” của Đảng và Nhà nước ta. 34 1.2.2.2 Quan niệm tiếp công dân là tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. 34 1.2.2.3 Quan niệm tiếp công dân là bước đầu giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 35 1.2.3 Nội dung và các hình thức trong công tác tiếp dân 35 1.2.3.1 Tiếp công dân theo chủ đề 35 1.2.3.2 Tiếp công dân theo tính chất, nội dung vụ việc 36 1.2.4 Trách nhiệm của người tiếp công dân, quyền và nghĩa vụ của công dân tại nơi tiếp công dân. 36 1.2.4.1 Trách nhiệm của người tiếp công dân được quy định tại Điều 4 tại Nội quy tiếp công dân tại trụ sở UBND phường Lê Hồng Phong ban hành ngày 01 tháng 10 năm 2014 36 1.2.4.2 Quyền và Nghĩa vụ của công dân tại nơi tiếp công dân được quy định tại Điều 10, Điều 11 Quy chế tiếp dân của UBND phường Lê Hồng Phong ngày 01 tháng 10 năm 2014 37 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP, TIẾP DÂN CỦA 38 CÁN BỘ CÔNG CHỨC TẠI UBND PHƯỜNG LÊ HỒNG PHONG 38 2.1 Thực trạng kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức viên chức tại UBND phường Lê Hồng Phong. 38 2.2 Thực trạng công tác tiếp dân của cán bộ công chức tại UBND phường Lê Hồng Phong 42 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP, TIẾP DÂN CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC PHƯỜNG 49 3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức tại UBND phường như sau: 49 3.2 Giải pháp nâng cao công tác tiếp dân của cán bộ công chức viên chức của UBND phường. 49 PHẦN III: PHỤ LỤC 52
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận Biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học

Tiểu luận Biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học

1.Lý do chọn đề tài:Giáo dục trẻ em là một nhiện vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều phải quan tâm, bởi vì “ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai ”. Để ngày mai có những người chủ xứng đáng, xã hội có những công dân tốt thì ngay từ ngày hôm nay, khi trẻ em còn là những mầm non nhỏ, thế hệ đi trước phải có trách nhiệm dạy dỗ, hướng dẫn trẻ em đi đúng hướng. Đúng như lời Bác Hồ đã dạy:“ Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người ”Phát triển Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nồng cốt, đóng vai trò quan trọng.
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo thực tập tốt nghiệp quản trị văn phòng tại HDND, UBND huyện Thuận Thành

Báo cáo thực tập tốt nghiệp quản trị văn phòng tại HDND, UBND huyện Thuận Thành

MỤC LỤC I. LỜI NÓI ĐẦU 1 II. LỜI CẢM ƠN. 3 III. NỘI DUNG BÁO CÁO 4 PHẦN I: KHẢO SÁT CÔNG TÁC VĂN PHÒNG CỦA CƠ QUAN 4 1.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy Ban Nhân Dân huyện Thuận Thành 4 1.1 Vài nét sơ lược về UBND Huyện Thuận Thành 4 1.2 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBND Huyện Thuận Thành. 4 1.2.1 Chức năng: 4 1.2.2 Nhiệm vụ, Quyền hạn: 5 1.2.3 Cơ cấu tổ chức UBND Huyện Thuận Thành. 5 2. Khảo sát tình hình tổ chức, quản lý, hoạt động công tác hành chính văn phòng của Ủy Ban Nhân Dân huyện Thuận Thành 7 2.1 Tổ chức và hoạt động của văn phòng 7 2.1.1 Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của văn phòng 7 2.1.2 Xây dựng bản mô tả công việc của các vị trí công việc trong văn phòng 9 2.1.2.1. Tiêu chuẩn đảm nhiệm công việc. 9 2.1.2.2 Tóm tắt công việc. 10 3. Tìm hiểu công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan tổ chức: 11 3.1 Hệ thống hóa các văn bản quản lý của cơ quan về công tác văn thư, lưu trữ cơ quan , tổ chức. 11 3.2 Mô hình tổ chức văn thư của cơ quan (Tổ chức văn thư tập trung, hỗn hợp) 11 3.3 Công tác soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan 13 3.3.1 Nhận xét về thẩm quyền ban hành các hình thức văn bản quản lý của cơ quan 13 3.3.2 Nhận xét về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản của cơ quan, tổ chức; 14 3.3.3 Mô tả các bước trong quy trình soạn thảo văn bản quản lý của cơ quan. So sánh với quy định hiện hành và nhận xét, đánh giá. 15 3.4 Nhận xét về quy trình quản lý và giải quyết văn bản 19 3.4.1 Sơ đồ hóa quy trình quản lý và giải quyết văn bản đi – đến 19 3.4.1.1 Sơ đồ hóa quy trình quản lý và giải quyết văn bản đi 19 3.4.2 Nhận xét về lập hồ sơ hiện hành của cơ quan, đơn vị 25 3.5 Tìm hiểu về tổ chức lưu trữ của cơ quan, tổ chức 25 4. Tìm hiểu về công tác tổ chức sử dụng trang thiết bị văn phòng trong cơ quan 26 4.1 Tìm hiểu và nhận xét về trang thiết bị văn phòng, cơ sở vật chất của văn phòng 26 4.2 Sơ đồ hóa cách bố trí, sắp xếp các trang thiết bị trong một phòng làm việc của văn phòng (hiện tại) . Đề xuất mô hình văn phòng mới tối ưu. 27 4.3 Tìm hiểu và thống kê cụ thể tên các phần mềm đang được sử dụng trong công tác văn phòng của cơ quan (Phần mềm quản lý nhân sự, quản lý văn bản, quản lý tài sản, quản lý tài chính…). Nhận xét bước đầu về những hiệu quả mang lại. 29 PHẦN II: CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 30 Chương I: Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiêp, tiếp dân 32 1.1 Khái niệm kỹ năng giao tiếp 32 1.1.1 Giao tiếp 32 1.1.2 Kỹ nang giao tiếp 32 1.1.3 Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản 32 1.2 Khái niệm tiếp dân 33 1.2.1 Mục đích, ý nghĩa, vai trò tiếp công dân 33 1.2.2 Quan niệm về tiếp dân 34 1.2.2.1 Quan niệm tiếp dân là thể hiện quan điểm “dân là gốc” của Đảng và Nhà nước ta. 34 1.2.2.2 Quan niệm tiếp công dân là tạo điều kiện để nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. 34 1.2.2.3 Quan niệm tiếp công dân là bước đầu giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 35 1.2.3 Nội dung và các hình thức trong công tác tiếp dân 35 1.2.3.1 Tiếp công dân theo chủ đề 35 1.2.3.2 Tiếp công dân theo tính chất, nội dung vụ việc 36 1.2.4 Trách nhiệm của người tiếp công dân, quyền và nghĩa vụ của công dân tại nơi tiếp công dân. 36 1.2.4.1 Trách nhiệm của người tiếp công dân được quy định tại điều 4 tại Nội quy tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân của huyện ủy – HĐND – UBND Huyện Thuận Thành ban hành ngày 22 tháng 05 năm 2013 36 1.2.4.2 Quyền và Nghĩa vụ của công dân tại nơi tiếp công dân được quy định tại chương IV điều 12, 13 quy chế tiếp dân của UBND huyện Thuận Thành ban hàng ngày 21 tháng 05 năm 2013 37 Chương II: Thực trạng kỹ năng giao tiếp, tiếp dân của cán bộ công chức viên chức tại Ủy Ban Nhân Dân huyện Thuận Thành 38 2.1 Thực trạng kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức viên chức tại Ủy Ban Nhân Dân huyện Thuận Thành 38 2.2 Thực trạng công tác tiếp dân của cán bộ công chức viên chức tại Ủy Ban Nhân Dân huyện Thuận Thành 42 Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng Kỹ năng giao tiếp, tiếp dân của cán bộ công chức viên chức tại cơ quan. 51 3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức viên chức tại Ủy ban nhân dân huyện Thuận Thành như sau: 51 3.2 Giải pháp nâng cao công tác tiếp dân của cán bộ công chức viên chức của cơ quan huyện Thuận Thành. 52 PHẦN III: PHỤ LỤC
Xem thêm

Đọc thêm

Luận bàn về ý thức trách nhiệm và thói vô cảm

LUẬN BÀN VỀ Ý THỨC TRÁCH NHIỆM VÀ THÓI VÔ CẢM

Ý thức trách nhiệm bắt đầu từ việc chăm lo sức khỏe, trau dồi tri thức cho bản thân, cho đến thực hiện các hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội, rồi từ đó thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội một cách tự nguyện. Bài làm Ý thức trách nhiệm bắt đầu từ việc chăm lo sức khỏe, trau dồi tri thức cho bản thân, cho đến thực hiện các hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội, rồi từ đó thực thi nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội một cách tự nguyện. Chẳng hạn tự dừng xe lại trước đèn đỏ khi có cũng như không có bóng dáng của cảnh sát giao thông. Từ những việc tưởng chừng là đơn giản như vậy nhưng đã góp phần xây dựng được ý thức trách nhiệm xã hội. Dù muốn hay không muốn, đã là công dân thì cần phát huy ý thức trách xã hội để xây dựng những cái tốt và mang lại lợi ích công, để tạo nên cái tốt chung cho cả cộng đồng và đó cũng là chăm lo cho cái tốt riêng, như Mác đã "nhận định "trong cái chung nó luôn chứa đựng những cái riêng". Trách nhiệm đối với xã hội xuất phát từ ý thức và lương tâm mà mỗi công dân chúng ta cần phải có. Ý thức từ những việc nhỏ nhặt như giúp đỡ những người gặp khó khăn, tham gia vào các hoạt động từ thiện... sẽ tạo ra vô vàn giá trị tốt đẹp từ vật chất cho đến tinh thần để hình thành nên một xã hội văn minh. Chẳng hạn nhường chỗ cho người tàn tật, già cả trên xe buýt thì ta sẽ nhận được lời cảm ơn chân thành, đem lại niềm vui trong đời sống tinh thần, hoặc khi không còn xả rác thì chúng ta sẽ không phái tốn hàng trăm tỉ đồng cho việc quét đường phố và thanh lọc các dòng sông. Hay khi ai cũng có ý thức chấp hành tốt luật pháp thì nhà nước sẽ không phải tốn nhiều chi phí cho việc tổ chức bộ máy hành pháp ngăn chặn các hành vi tiêu cực đến xã hội. Ngoài ra ý trách nhiệm giúp cho ta có tính kỷ luật và tự giác trong đời sống thường nhật. Như thế, giá trị lợi ích mà chúng ta nhận đưọc từ việc ý thức trách nhiệm xã hội là vô cùng to lớn. Vật chất để củng cố cho nền kinh tế nhờ đó mà nhà nước có điều kiện chăng? Tuy nhiên, không hẳn ai cũng đã nhận thức được đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với xã hội. Hiện nay chưa có cuộc khảo sát cũng như không có một số liệu  nào nói về ý thức trách nhiệm xã hội của người dân ở mức độ nào. Nhưng nếu nhìn vào thực tế những gì đang diễn ra hàng ngày làm thước đo sự ý thức ấy thì câu trả lời sẽ là "chưa cao". Cụ thể như từ những việc xảy rác bừa bãi, chuyện lấn chiếm vỉa hè gây cản trở giao thông, chuyện nhà máy Vedan xả trực tiếp nước thải ra sông Thị Vải đã tàn phá môi trường thiên nhiên, nạn đinh tặc gây ra những tai nạn thương tâm vẫn còn tiếp diễn... Có nói đó là sự khủng hoảng ý thức trách nhiệm xã hội trầm trọng mà hệ quả làm băng hoại các giá trị đạo đức con người. Nguy hiểm hơn, lâu dần nó lại hình thành một thứ "chuyện bình thường". Tuy nhiên, cho dù ý thức trách nhiệm thấp, nhưng chúng ta vẫn không mất đi niềm tin, đó là nhờ trong cộng đồng vẫn duy trì những giá trị đạo lí truyền thống như "thương người như thế thương thân", "lá lành đùm lá rách hay "nghèo cho sạch rách cho thơm". Cũng nhờ các giá trị truyền thống đó mà chúng ta vẫn thường bắt gặp các hành động xả thân vì người khác, sự tương thân tương ái trong lúc hoạn nạn. Với các hành động “ tự làm gương” đó đã làm cho nhiều người trong chúng ta phải suy nghĩ mà tự giác tiết chế những hành vi xấu của mình, mà điều chỉnh các hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Nguyên nhân của sự thiếu ý thức trách nhiệm xá hội và thói vô cảm là vì đâu? Thứ nhất xuất phát từ xã hội. Thời kỳ Cộng sản Nguyên thủy trình độ phát  triển còn thấp kém, con người phải nưong tựa, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau chống chọi lại với những khó khăn của thiên nhiên. Mọi thành quả trong thời kỳ này đều phục vụ lợi ích cho cộng đồng. Nhưng, từ khi công cụ kim khí ra đời, con người tiến đến đủ sống và tạo ra sản phẩm dư thừa. Tuy nhiên, sản phẩm dư thừa này không được chia đều cho mỗi cá nhân mà bị chiếm đoạt bởi những người cơ hội. Mọi người không được thừa hưởng như nhau, sự chiếm dụng "của công làm của riêng"đã gây nên sự bất công trong xã hội, thế là không ai còn muốn đóng góp vào "cái chung" nữa. Ý thức trách nhiệm xã hội bị phá hủy từ đó. Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm ở chế độ quân chủ. Thời kỳ này lo cho xã hội là công việc của vua chúa, quan lại, dân không có quyền cũng như không được phép bàn chuyện "trị quốc". Thần dân đã bị giết chết đi ý thức trách nhiệm xã hội bởi có muốn cũng không được. Sau khi xã hội phong kiến sụp đổ, đất nước lại lâm vào hoàn cảnh chiến tranh. Khi chiến tranh thúc, chính sách bao cấp của nhà nước đã tạo nên tâm lý "ỷ lại" và yếu tố như một mã gen di truyền cho đến ngày nay khiến người dân trở nên thụ động và thờ ơ, vô cảm với xã hội. Thứ hai là gia đình, gia đình là tế bào của xã hội, bộ mặt của xã hội cũng xuất phát từ trong gia đình mà ra. Ngày nay một thực trạng khả phố biến ở nhiều gia đình khá giả là ông bố bà mẹ đặc biệt quan tâm "tài năng" cho các con mình khi còn rất bé. Các bé được chú trọng đào tạo tài năng để chí ít không trở thành "hiện tượng" thì cũng phải cho bằng người ta mà quên đi giáo dục ý thức chia sẻ với cộng đồng. Trong khi đó, những đứa trẻ trong những gia đình khó khăn thì phải bươn trải cho cuộc sống hàng ngày. Bàn thân của mình còn không được đầy đủ thì lấy gì mà nghĩ cho người khác. Mà nếu sau này chúng thành danh đó cũng là nhờ những công lao cửa cha mẹ, nên chúng “trả ơn" cho gia đình hơn là "báo đáp" xã hội cũng là điều dễ hiểu nên "ăn cơm nhà, thổi tù và hàng tổng" là câu nói thể hiện yếu tố này.   Thứ ba, một bản năng tự nhiên của con người chúng ta là luôn chăm lo cho bản thân của mình trước đã. Khi làm bất cứ việc gì thì luôn tự hòi "tôi sẽ được gì”. Câu nói “ hãy cho đi rồi bạn sẽ được nhận”, nhưng không hẳn ai cũng biết những giá trị mà họ nhận được là gìcho nên các hoạt động thể hiện tinh thần cống hiến cho cộng đồng thường không được ủng hộ và phát huy rộng rãi. Qua đó cho chúng ta thấy cá nhân chưa thể hiện được vai trò của người người công dân trong xã hội, gia đình chưa thể hiện hết nhiệm vụ giáo dục của mình, va môi trường xã hội chưa tốt để vun bón cho ý thức xã hội. Muốn mỗi cá nhân có ý thức trách nhiệm với xã hội thì trước tiên phải làm họ nhận thức được các giá trị mà mình đã cống hiến. Phải làm cho họ hiểu những việc làm cống hiến cho xã hội không chỉ đơn thuần là "cho đi", mà ngược lại họ sẽ "nhận lại" được rất nhiều. Ngoài ra muốn cá nhân chăm lo cho xã hội, đặt nhu cầu lợi ích chung của xã hội lên trên thì xã hội cũng phải có nhiệm vụ đảm bảo công bằng cho nhu cầu và lợi ích chinh đáng của cá nhân, bởi suy cho cùng cá nhân chỉ đóng góp cho xã hội khi họ được thừa hưởng nhu cầu và lợi ích từ xã hội. Chẳng hạn như tiền thuế từ cá nhân đóng phải được sư dụng có hiệu quả, tức là phái phục vụ lợi ích cho cá nhân như xây dựng đường xá, mở bệnh viện trường học, chăm lo cho an sinh xã hội. Nhưng, nếu tiền thuế này bị rơi vào "túi riêng" (tham nhũng) thi chăng ai muốn đóng thuế nữa, như vậy sẽ có tình trạng trốn thuế tràn lan. Cho nên, một xã hội minh bạch, công bằng và dân chủ sẽ làm cho công dân phát huy cao độ ý thức trách nhiệm với xã hội. Một xã hội trong quá trình vận động và đổi thay, nó sinh ra biết bao tiềm năng thời cơ và thuận lợi, nhưng nó cũng mang lại không ít những vấn nạn và thách thức khó lường. Do đó cần phải có môi trường chuyên biệt xây đắp "bờ đê” không để những vấn nạn này rò rỉ mà phải đi theo "dòng chảy", cuốn theo phương hướng tự nhiên. Môi trường chuyên biệt này chính là môi trường của "xã hội dân sự". Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, tính tự nguyện, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung. Xã hội dân sự là xã hội mà ở đó người dân biết tự lo lấy cho minh rất nhiều chuyện, biết tự tổ chức lại để phát huy năng lực sáng tạo, hiện thực hóa các ý tường và để hợp tác với nhà nước nhằm thăng tiến tới những lợi ích công và đạt tới một nền quản trị quốc gia minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm. Xã hội dân chủ thường được hình thành dưới dạng các tổ chức do người dân làm chủ như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phong trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư... Các tổ chức này có đường lối hoạt động, chương trình làm việc, ngân sách và trách nhiệm rõ ràng nhằm xây dựng chăm lo và bảo vệ các lợi ích chung cho cả cộng  đồng và thông qua đó các hội viên sẽ được thực hành ý thức trách nhiệm của hội. Nhưng, như vụ nhà máy Vedan thả nước thải ra sông thị vải gây ô nhiễm môi trường gần 9 năm mới bị phát hiện thì chứng tỏ xã hội dân sự ở nước ta còn thiếu sinh động. Bởi lẽ, ngay từ những ngày đầu người dân ở gần đã phát hiện ra hành vi sai trái của công ty này và họ đã gửi rất nhiều lá đơn lên chính quyển địa phương để tố cáo. Như đã phân tích ở trên, xã hội phát triển thì luôn kèm theo những vấn nạn mà chính quyền không thể nào "ôm" và giải quyết ngay được, cho nên xử lý thường rất chậm trễ khi "việc cũng đã lỡ rồi”. Nhưng nếu như chúng ta có được các hội đoàn chuyên bảo vệ môi trường, chỉ cần nhận được vài nguồn tin là họ liến phản ứng đánh động dư luận và ngăn chặn được ngay lúc đầu. Hay như khi có thiên tai xảy ra, chính các hội đoàn ngay tại địa phương sẽ thực hiện cứu trợ và giúp đỡ đồng bào trước khi có trợ giúp của chính quyền, ngoài ra có thể tránh được tình trạng "ăn chặn" . Tham nhũng cán bộ biến chất như báo chí đã từng đăng. Như vậy ta có thể thấy hội đoàn của xã hội dân sự tuy độc lập với nhà nưóc nhưng là "cánh tay đắc lực" của nhà nước, tham gia và quản lý cùng nhà nước, để hình thành nên xã hội công bình, minh bạch và dân chủ.   Do đó, thiết nghĩ nên cần có một môi trường thuận lợi để làm nên xã hội dân sự sinh động, bằng các chính sách khuyến khích các hội đoàn phát triển. Chẳng hạn thông thoáng hơn cho các hội đoàn hoạt động, hay là trợ giúp ngân sách cho các hoạt động của hội đoàn bằng cách nếu cá nhân quyên góp tiền cho các hoạt động thiện nguyện sẽ được khấu trừ vào thuế thu nhập cá nhân. Cũng hợp lý thôi, tiền thuế dùng để chăm lo cho phúc lợi và phát triển xã hội thì các tổ chức thiện nguyện đều nhắm đến mục tiêu đó, nhưng điều quí trọng hơn sẽ làm cho người dân quan tâm đến xã hội, từ đó có thể phát huy vai trò và nghĩa vụ của mình trong xã hội, để rồi người người sống trong xã hội luôn có cách cư xử trong quan hệ dựa vào sự tin cậy, lòng bao dung, bác ái và vị tha, đó là những nền móng đầu tiên của xã hội Cộng Sản Chủ Nghĩa. Giữa cá nhân và xã hội rất khó tương tác với nhau nếu không có vai trò của gia đình như nhà xã hội học Ba Lan Szczepan - ski đã đưa ra nhận định: “ gia đình là môi trường đầu tiên và môi trường xã hội con người và là chủ thể của sự giáo dục." Thật vậy, giáo dục gia đình là cơ sở đầu tiên để con người phát triển nhân cách thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội. Tuy nhiên, có thể nói giáo dục từ trong gia đình về ý thức trách nhiệm xã hội ta chưa được xây dựng đúng mức, cha mẹ lấy vật chất để làm "mồi nhử" cho con mình, đại loại như "nếu con làm thế này thế kia thì mẹ (bố) sẽ thường cho con” như thế sẽ giết chết đi tinh thần trách nhiệm khi nó lớn lên vì có lợi ích vật chất mới cuốn hút được nó. Do đó xin các ông bố bà mẹ phải rất thận trọng trong việc rèn luyện nhân cách của trẻ con, Giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội cho trẻ trong gia đình từ những việc làm rất đơn giản như phụ giúp mẹ gom quần áo hay sách vở cũ gửi tặng cho những bạn khó khăn hơn, hay bỏ tiền ống giúp đỡ đồng bào lúc gặp thiên tai, hay là dạy cho trẻ lòng thương cảm rung động trước những mảnh đời bất hạnh, như Kark Marx đã từng nói: Chỉ có con vật mới có thế quay lưng lại trước khổ đau của đồng loại mà chăm bộ lông của nó”.   Đức tính này chính là căn bản thực sự của hạnh phúc và của đức tính trong tương lai cần phải được in sâu vào trí óc của đứa trẻ càng sớm càng tốt, ngay khi dứa trẻ bắt đầu hiếu biết; sau hết, những người trong gia đình phải có nhiệm quan tâm triển khai thêm tính tình này bằng mọi phương tiện có thể được. Tuy nhiên, với "đặc tính gia đình" đã quá ăn sâu vào "ý thức hệ" của mỗi chúng ta, cho nên giải pháp và kiên nghị nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội từ trong gia đình xem ra cũng chẳng sáng sủa gì, đại khái là cha mẹ không muốn lo việc đời thì cũng chẳng muốn con cái họ "mang vác" cuộc đời. Cho nên bây giờ cần phải có một môi trưòng giáo dục khác hoàn thiện và có hiệu quả hơn. Môi trường giáo dục đó chính là "nhà trường". Nhà trường là một không gian công, một môi trường hoá riêng biệt thực hiện giáo dục. Sẽ là rất hiệu quả khi nhà trường quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dục ý thức trách nhiệm cho mọi người công dân ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng như chăm lo xây dựng thành "thói quen" về nhân cách công dân sau này. Nên bắt đầu xây dựng và phát triển ý thức trách nhiệm xã hội từ trong học đường ngay bây giờ là rất cần thiết, học đường là nơi tất cả chúng ta đac phải trải qua hàng chục năm, và nơi đây là một xã hội thu nhỏ để chúng ta “ học” và "hành" ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi công dân, và bên cạnh đó những Viện nghiên cứu Giáo dục công dân để "theo và đuổi” thói vô cảm của con người. Chỉ khi nào xuất phát từ ý thức trách nhiệm đối với bản thân xã hội thì công dân mói tự nguyện tham gia vào các hoạt động xã hội và xây dựng những cái tốt và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Ý thức trách nhiệm xã hội cần được xây dựng, thực hành và phát huy để trở thành một thói quen, nếp sống và cần được vun đắp liên tục từ khi chúng ta có được nhận thức cho đến hết một đời. Gia đình là môi trường quan trọng đầu tiên giáo dục ý thức trách nhiệm cho mỗi cá nhân, học đường là môi trường quan trọng thứ hai giúp cá nhân hoàn thiện đức tính này, vì thế gia đình và nhà trường cần thể hiện được vai trò đào luyện nhân cách cho mỗi cá nhân để sau này có thể trở thành người công dân tốt trong xã hội, và kể đến là cần xây dựng, một xã hội dân sự sinh động hơn. Khi công dân ý thức được trách nhiệm thể hiện vai trò và nghĩa vụ công dân trong sinh hoạt xã hội chắc chắn sẽ góp phần tạo nên một xã hội như tất cả chúng ta hằng mong ước. Do đó, trước tiên ngay bây giờ hãy đánh thức lương tâm của mỗi con người bằng chính lương tâm của chúng ta.   Phạm Lê Vương Cúc Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Vướng mắc, hạn chế và những giải pháp nâng cao việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

Vướng mắc, hạn chế và những giải pháp nâng cao việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

Vướng mắc, hạn chế và những giải pháp nâng cao việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Hình sự 3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc có tính khái quát cao, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế vẫn còn có một số bất cập cần phải hoàn thiện. Nhóm chúng em xin đưa ra một số vướng mắc, đồng thời đóng góp giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này như sau: 3.1. Vướng mắc, hạn chế Thứ nhất: Về việc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5) và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6 BLTTHS). Theo quy định của hai nguyên tắc trên, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị bắt trừ trường hợp phạm tội quả tang. Trong BLTTHS Việt Nam năm 2003 đã quy định khá là chi tiết những trường hợp bắt người, những đối tượng bắt người. Tuy nhiên, những đối tượng phạm tội có những đặc điểm riêng, đặc biệt là về nhân thân như: Đại biểu quốc hội, Đại biểu hội đồng nhân dân, người nước ngoài phạm tội; đảng viên; cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân; người có chức sắc trong các tôn giáo; người thủ lĩnh, người có danh tiếng, có uy tín lớn trong các dân tộc ít người; tri thức, nhân sĩ có tên tuổi, văn nghệ sĩ có tiếng tăm được trong nước và thế giới chú ý … lại chưa được BLTTHS đề cập đến. Trong khi đó việc bắt những “đối tượng đặc biệt” này được quy định trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước, văn bản của Đảng và Bộ Công an, như: Luật Tổ chức Quốc hội, luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Công văn số 318CVBNV(V11) ngày 2931992 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) về việc xin ý kiến trước khi bắt, giam, giữ một số đối tượng đặc biệt,…Theo đó, việc bắt những đối tượng này phải tuân theo cả quy định của BLTTHS và những quy định riêng trong các văn bản pháp luật khác. Ví dụ: Điều 99 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giam giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét và quyết định.” Điều 44 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 23112003: “Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của Chủ tọa kỳ họp thì không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay với Chủ tọa kỳ họp.”Trong khi đó, BLTTHS lại không quy định những vấn đề này. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện quy định của pháp luật về bắt người, đồng thời ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của những đối tượng trên. Thứ hai: Về việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7 BLTTHS). Theo quy định tại Điều 81 BLTTHS thì việc bắt người khẩn cấp không cần có quyết định của Toà án và sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát Nhân dân. Điều này dẫn đến thực trạng chúng ta không thể chắc chắn rằng việc bắt người trong mọi lúc, mọi nơi là đúng. Đành rằng con người cũng có đôi lúc thiếu sót nhưng việc bắt người trong trường hợp này sẽ có tác động không nhỏ đến danh dự và đời sống bình thường của người bị bắt. Trong khi đó, do tính cấp bách của vấn đề nên việc bắt người khẩn cấp vẫn còn có trường hợp oan sai. Mặc dù sau 12h, người bị bắt có thể được thả ra nhưng việc bị bắt và bị giam oan sai thì ai và cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết? Mức độ giải quyết cụ thể như thế nào, việc khôi phục lại danh dự, uy tín cho người bị oan sai ra sao và có thoả đáng không còn là một vấn đề còn bỏ ngỏ. Ngoài ra, hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế của đối tượng bị áp dụng, ảnh hưởng đến quyền bảo hộ về tài sản của công dân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 146 BLTTHS, tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân của họ bảo quản nhưng không quy định rõ trong trường hợp nào thì giao cho thân nhân và trong trường hợp nào thì giao cho chủ tài sản. Ngoài ra, nếu người có tài sản bị kê biên không muốn giao tài sản cho người thân giữ mà muốn giao cho người khác vì tin cẩn hơn thì có được không? Thậm chí, Điều luật còn chưa làm rõ nếu trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền kê biên tài sản mà kê biên sai hoặc trong lúc kê biên làm hỏng, thất thoát tài sản kê biên gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của công dân, nhất là đối với các doanh nghiệp thì sẽ chịu trách nhiệm ra sao? Thứ ba: Về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8 BLTTHS). Rõ ràng, vấn đề giữ bí mật điều tra và việc công bố các thông tin điều tra vụ án trước khi có kết luận điều tra, trước khi xét xử cũng là một điều đáng bàn (Điều 124 BLTTHS). Bởi tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng Hình sự của Nhà nước ta. Do vậy, những bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, bí mật đời tư, bí mật trong kinh doanh cũng cần phải được đảm bảo trong suốt quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử và chỉ được công bố khi thật cần thiết. Sự cần thiết ở đây phải được hiểu là chỉ được công bố khi những bí mật này có liên quan đến việc định tội, hay gỡ tội cho bị can, bị cáo. Riêng đối với doanh nghiệp, những bí mật trong sản xuất, kinh doanh cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nếu những bí mật của doanh nghiệp bị tiết lộ sẽ làm mất đi ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Tuy nhiên vấn đề này lại không được Điều luật quy định. Như vậy, sẽ khiến cho doanh nghiệp không thấy được sự bảo đảm quyền lợi trong việc kinh doanh khi mà các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng có thể gây ra cho mình. 3.2. Giải pháp hoàn thiện Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc này thì trước tiên chúng ta phải nhìn nhận được những vướng mắc, bất cấp của nó trong cả quy định của pháp luật và thực tiễn. Qua việc phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân bao trùm lên rất nhiều phần của BLTTHS. Do đó, nhóm chúng em xin đưa ra một số giải pháp như sau: • Hoàn thiện quy định của pháp luật: Bổ sung quy định về bắt người đối với những đối tượng “đặc biệt” tại chương VI BLTTHS thay vì quy định rải rác, không thống nhất trong quá nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Những đối tượng này có những đặc điểm riêng về nhân thân nên việc quy định cụ thể trình tự, thủ tục bắt người là rất quan trọng để đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền bất khả xâm phạm của công dân, tránh những tình trạng tiêu cực trong thực tiễn. Bổ sung quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 81 BLTTHS đối với tình huống bắt người oan sai. Cần quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cho công dân bị bắt oan để đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ. Quy định cụ thể hơn đối với tài sản của công dân bị kê biên tại Điều 146 BLTTHS, trường hợp nào tài sản kê biên được giao cho thân nhân và trong trường hợp nào thì giao cho chủ tài sản cũng như trách nhiệm của cơ quan tố tụng trong trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản kê biên. Quy định chặt chẽ hơn về việc giữ bí mật điều tra tại Điều 124 BLTTHS. Không chỉ những bí mật của cá nhân mà những bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, bí mật đời tư, bí mật trong kinh doanh cũng cần phải được đảm bảo trong suốt quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử và chỉ được công bố khi thật cần thiết. Điều này có ý nghĩa quan trọng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị điều tra. • Hoàn thiện con người: Cần có đội ngũ những người tiến hành tố tụng giỏi về chuyên môn và có đạo đức nghề nghiệp. Có thể nói đây là điều kiện có tính chất quyết định, bởi vì các quyền cơ bản của công dân có được tôn trọng và bảo vệ hay không là phụ thuộc vào việc thực thi pháp luật của những chủ thể này. Phải tăng cường ý thức pháp luật của nhân dân để họ nhận thức rõ và thực hiện tốt hơn các quyền của mình. Phải hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ và có hiệu quả.
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận giáo dục công dân: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT Nguyễn Đình Liễn

Tiểu luận giáo dục công dân: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT Nguyễn Đình Liễn

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (sửa đổi bổ sung một số điều năm 2009) xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Khoản 1 Điều 27). Để hoàn thành được mục tiêu trên và thực hiện thắng lợi chín nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết số 29NQTW, ngày 04112013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường đều có ý nghĩa và đóng một vai trò nhất định. Trong đó, môn giáo dục công dân (GDCD) có vai trò rất quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục cho học sinh ý thức, hành vi, thái độ, phát triển tâm lý và hình thành nhân cách con người toàn diện. . Đặc biệt, chương trình Giáo dục công dân lớp 12 đề cập đến bản chất và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Mặt khác, qua môn Giáo dục công dân lớp 12 học sinh hiểu được quyền và nghĩa vụ cơ bản của một công dân, có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực, có ý thức tuân thủ luật pháp và có khả năng thực hiện đúng những quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế dạy và học, vai trò môn Giáo dục công dân từ trước tới nay chưa được nhìn nhận một cách đúng đắn như nó vốn có, đặc biệt là Giáo dục công dân lớp 12. Ở năm học cuối cấp, học sinh chịu nhiều áp lực bởi chương trình học nặng hơn cũng như lo lắng nhiều cho việc thực hiện ước mơ, hoài bão bằng con đường thi cử. Các em đa số chú tâm, giành nhiều thời gian cho những môn học mà tới đây các em sẽ thi tốt nghiệp và thi Đại học. Môn Giáo dục công dân thường bị các em coi nhẹ, học đối phó để lấy điểm mà thôi. Ngoài xã hội trong đó đa số phụ huynh học sinh thì không quan tâm cho đây là “môn phụ” … nên các em học sinh đã “lơ là” và học tập một cách “đối phó”. Chính vì vậy, chất lượng đào tạo không đáp ứng được yêu cầu mà mục tiêu giáo dục của bộ môn đề ra. Đó là nguyên nhân của những hạn chế trong dạy học bộ môn GDCD ở trường trung học phổ thông (THPT )Nguyễn Đình Liễn hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

so sánh bộ luật tố tụng hình sự 2003 và 2015

so sánh bộ luật tố tụng hình sự 2003 và 2015

so sánh luật tố tụng hình sự 2003 và 2015, quyền con người trong các quy định mới của pháp luật Mở rộng việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi lích hợp pháp của cá nhân thay vì chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hơn nữa quy định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền THTT một cách bao quát hơn thay vì liệt kê tất cả các cơ quan, người có thẩm quyền nàyĐiều 5. Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luậtTố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luậtTTHS được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.Không giới hạn đối tựơng được hưởng quyền bình đẳng trước pháp luật như BLTTHS 2003 đã nêu mà mở rộng quyền bình đẳng của con người, bình đẳng của pháp nhânĐảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền con người , quyền bình đẳng Thay cụm từ “nam nữ” bằng ‘’giới tính ‘’ vì theo xu thế thế giới , pháp luật Việt Nam không thừa nhận cũng không phủ nhận giới tính thứ 3
Xem thêm

Đọc thêm

Giáo án Tuần 13 lớp 5

Giáo án Tuần 13 lớp 5

TUẦN 13 Thứ hai, ngày 16 tháng 11 năm 2015 Tiết 2: Tập đọc NGƯỜI GÁC RỪNG TÍ HON A. Mục tiêu: Biết đọc diễn cảm bài văn với giọng kể chậm rãi, phù hợp với diễn biến các sự việc. Hiểu ý nghĩa: Biểu dương ý thức bảo vệ rừng, sự thông minh và dũng cảm của một công dân nhỏ tuổi. (Trả lời được các câu hỏi 1, 2, 3b). KNS: Ứng phó với căng thẳng (linh hoạt, thông minh trong tình huống bất ngờ). Đảm nhận trách nhiệm với cộng đồng. B. Chuẩn bị: Tranh minh họa bài đọc. Ghi câu văn luyện đọc bảng phụ. SGK. C. Hoạt động dạy học: (40 phút).
Xem thêm

Đọc thêm

GDCD 10 ( Công dân với tình yêu , hôn nhân và gia đình )

GDCD 10 ( Công dân với tình yêu , hôn nhân và gia đình )

Với chủ đề Công dân với tình yêu , hôn nhân và gia đình đưa chúng ta đến với một tình yêu chân chính , hạnh phúc . Và biết được những luật hôn nhân của nước ta quy định .1. Về kiến thức : Hiểu được thế nào là tình yêu ? thế nào là tình yêu chân chính , hôn nhân và gia đình . Biết về đặt trưng tốt đẹp của chế độ hôn nhân nước ta hiện nay Nêu chức năng cơ bản của gia đình2. Về kĩ năng : Biết nhận xét , đánh giá những quan niệm sai lầm về tình yêu Thực hiện tốt trách nhiệm của bản thân trong gia đình3 . Về thái độ : Yêu quý gia đình Ủng hộ về quan niệm đúng đắn về tình yêu , hôn nhân và gia đình. :( :)
Xem thêm

Đọc thêm

Tai lieu on tap chuyen vien khoi nha nuoc

Tai lieu on tap chuyen vien khoi nha nuoc

I. LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2008 Tập trung các vấn đề: 1. Các nguyên tắc trong thi hành công vụ + Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. + Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. + Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát. + Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả. + Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ. 2. Khái niệm cán bộ, công chức + Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. + Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. 3. Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức Nội dung này được quy định tại chương II của Luật CB,CC năm 2008 (từ Điều 08 đến Điều 20) Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân(Điều8 ) 1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia. 2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. 3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. 4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ (Điều 9) 1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước. 3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. 4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. 5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. 6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. .......
Xem thêm

Đọc thêm

Giáo dục khai phóng

Giáo dục khai phóng

Giáo dục khai phóng (GDKP) hiểu một cách đơn giản là khai minh và giải phóng bản thân để trở thành con người tự do, tránh trở thành con người phận vị, công cụ, hoang dã hay nô lệ. Thang đo thành công và hạnh phúc thường thấy trong xã hội là “to have” - “có được” (tiền tài, địa vị, danh vọng…); hoặc “to give” - “cống hiến” và được công nhận, khen ngợi. Con người thường sẽ chọn một trong hai cách sống này. Mô hình GDKP hướng người học đến thang đo thành công và hạnh phúc là “to be” - sống với chính mình, được là chính mình; trở thành con người tự do, công dân trách nhiệm, chuyên gia ưu tú. Vì thành công bền vững và hạnh phúc đích thực là hệ quả tất yếu khi những người trẻ dấn thân, sống đúng phẩm giá của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề