GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG SỰ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG SỰ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH":

GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI

GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI

khóa học tôn giáo ở trong và ngoài nước, đưa người nơi khác đến truyền đạo,xây dựng nhà thờ, nhà nguyện... nhưng không tuân thủ các quy định hiệnhành), cần phải kiên trì cảm hóa giáo dục, răn đe. Nếu thái độ ngoan cố, tiếptục có hoạt động vi phạm, cần đưa ra kiểm điểm vạch mặt trước quần chúnghạ uy tín và thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ pháp lý để xử lý công khaitrước pháp luật khi có yêu cầu.Năm là, cùng với các biện pháp tăng cường công tác giáo dục, vấn đềcông tác tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, các địa phương cần tập25trung xây dựng hệ thống chính trị xã (phường), thị trấn vững mạnh về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức, đủ sức lãnh đạo, quản lý và giải quyết kịp thời, thoảđáng những mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện giữa người Kinh với các dântộc khác. Trước hết, tập trung giải quyết dứt điểm tình trạng buôn, làng chưacó tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, củng cố đội ngũ cốt cán ở cơ sở buôn,làng. Đặc biệt chú ý bố trí đúng bí thư, chủ tịch xã và trưởng các buôn, làng;đồng thời coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ,đảng viên trong đồng bào có đạo một cách đồng bộ, toàn diện ở cấp cơ sở, coiđây là nhân tố quyết định thắng lợi trong vấn đề xây dựng mối đoàn kết giữađồng bào Kinh với đồng bào khác ở địa phương.Nội dung: phát huy vai trò của những người có uy tín trong các dântộc, tôn giáo tham gia vào phòng chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáochống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Tích cực xây dựnghệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc, vùng tôn giáo.Cách tiến hành: Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng,sử dụng đội ngũ cán bộ cả cán bộ lãnh đạo quản lí và cán bộ chuyên môn kĩthuật, giáo viên là người dân tộc thiểu số, người có tôn giáo Bởi đây là độingũ cán bộ sở tại có rất nhiều lợi thế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôngiáo. Đổi mới công tác dân vận vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm:
Xem thêm

29 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÔN GIÁO ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

TIỂU LUẬN TÔN GIÁO ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

nước, ý thức bảo vệ độc lập thống nhất của Tổ quốc, truyền thống tốt đẹp củadân tộc, của Đảng. Động viên đồng bào nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ýthức vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tích cực tham gia xây dựng đờisống văn hoá mới, bài trừ mê tín dị đoan...Tuyên truyền vận động đồng bàothực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia các hoạt động quản lý nhànước ở địa phương, đấu tranh chống tệ tham nhũng, quan liêu, thực hiệnkhiếu tố đúng quy định của pháp luậtĐồng thời với “việc giải quyết hợp lý những nhu cầu tín ngưỡng củaquần chúng”, cũng cần phải “kịp thời đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi25dụng tôn giáo phá hoại cách mạng”. Đảng và Nhà nước đã nhiều lần khẳngđịnh rằng, chúng ta không chống tôn giáo, mà chỉ chống ai lợi dụng tôn giáođể phá hoại cách mạng. Chính vì vậy, cần thường xuyên tuyên truyền, giáodục để đồng bào hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chia rẽ dân tộc, tôn giáo của cácthế lực thù địch, đề cao cảnh giác để không bị chúng lừa gạt, lôi kéo, lợi dụng.Nói tôn trọng tự do tín ngưỡng không có nghĩa là khuyến khích pháttriển tôn giáo. Trong một điều kiện nhất định, khi tín ngưỡng và niềm tin tôngiáo còn tồn tại như một hiện tượng khách quan, khi nó còn là nhu cầu của mộtbộ phận nhân dân thì nhà nước của dân có trách nhiệm tạo điều kiện để bộ phậnquần chúng đó thức hiện nhu cầu tâm linh của mình. Song, tôn giáo bao giờcũng có hai mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tiêu cực của tôn giáo luôn luôn ảnhhưởng ngược chiều đến sự phát triển của cá nhân và sự tiến bộ xã hội. Bây giờkhông phải là lúc ngồi tranh cãi suốt ngày xem "vô thần" đúng hay "hữu thần"đúng. Vả lại, làm như vậy không khéo chúng ta lại trúng kế của địch: chúngđang muốn khoét sâu mâu thuẫn giữa "vô thần" và "hữu thần", giữa cộng sảnvới người theo tôn giáo, muốn chuyển hóa mâu thuẫn nội bộ thành mâu thuẫnđối kháng để chúng lợi dụng. Cái cấp thiết hiện nay là nâng cao trình độ dân trí,nâng cao sự hiểu biết về những kiến thức khoa học, kỹ thuật cần thiết nhất, trên
Xem thêm

34 Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Cùng với các lĩnh vực khác, trong thời kỳ đổi mới, công tác tôn giáo đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đạt được những thành tựu to lớn đó, một phần rất quan trọng là do sự đổi mới nhận thức về tôn giáo trong những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua.

30 Đọc thêm

QUAN DIEM CHINH SACH CUA DANG VE DAN TOC VA DAIDOAN KET CAC DAN TOC TRONG THOI KY MOI

QUAN DIEM CHINH SACH CUA DANG VE DAN TOC VA DAIDOAN KET CAC DAN TOC TRONG THOI KY MOI

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VỀ DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ MỚI.
1 Sự cần thiết phải tăng cường đoàn kết các dân tộc.
Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về vấn đề dân tộc và vị trí chiến lượng của công tác dân tộc.
Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau, chỉ có giai cấp vô sản mới giải quyết được triệt để vấn đề dân tộc. Do đó tăng cường thực hện công tác dân tộc là yêu cầu khách quan, là vấn đề có vị trí chiến lược nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạng quần chúng to lớn giành thắng lợi trong cách mạng vô sản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có on đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” và khẳng định: Chỉ khi đất nước được độc lập dân tộc, tự do đi lên CNXH thì các dân tộc trong nước thực sự có điều kiện sống với nhau như anh em một nhà. Muốn đoàn kết phải thực sự bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau và các dân tộc cùng nhau làm chủ đất nước.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã từng bước phát triển và hoàn chỉnh đường lối quan điểm về vấn đề dân tộc: lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới.
Sự nghiệp CNH – HĐH xây dựng và bảo vệ tổ quốc là sự nghiệp toàn dân; sức mạnh bảo vệ tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy trong thời kỳ mới phải tăng cường thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Do sự chống phá của các thế lực thù địch.
Thực tiễn cho thấy, các thế lực thực dân, đế quốc luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, sắc tộc để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân trí thấp và các vùng chiến lược quan trọng để tuyên truyền chống phá, truyền đạo trái phép, kích động gây rối, tổ chức bạo loạn để lấy cớ can thiệp vũ trang. Vì vậy, trong thời kỳ mới phải tăng cường thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, nhà nước nhằm giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, bảo vệ cuộc sống hoà bình, phát triển của mỗi dân tộc và của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
2 Quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.
Một là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Hai là: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lới sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, xây dựn và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
Ba là: Phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miến núi, gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện vấn đề chính sách dân tộc, chăm lo xây dựng bồi dưỡng nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng văn hoá dân tộc Việt Nam.
Bốn là: Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở cácvùng dân tộc và miền núi, khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực tự cường của đồng bào đồng thời tăng cường quan tâm hỗ trợ của trung ương và các địa phương khác.
Năm là: Xác định công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của các cấp các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
3 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ mới.
Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hoá của các dân tộc.
Thực hiện tốt chiến lược phát triển KT XH ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới.
Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ an ninh quốc phòng.
Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, động viên và phát huy vai trò những người uy tín trong các dân tộc.
Thực hiện chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân sỹ, trí thức vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
II QUAN ĐIỂM CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC TÔN GIÁO.
1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo.
Một là: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một số bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Hai là: Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy tích cực giá trị truyền thống, tôn vinh những người có công với tổ quốc, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo, đồng thời nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chinh sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.
Ba là: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Xem thêm

11 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG – AN NINH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG – AN NINH

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng nền quốc phòng – an ninh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX là thế kỷ đầy biến động đối với dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã làm nên nhiều chiến công hiển hách. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật nhào ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đó là hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc ta đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, non sông thu về một mối và sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo đã và đang đem lại nhiều thành tựu quan trọng.
Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng ta, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện.
Tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình tìm tòi và vận dụng sáng tạo học thuyết quân sự của chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là sự kế thừa một cách sáng tạo truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta trong lịch sử. Vận dụng, kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới di sản quân sự của cha ông cùng những kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng bộ tham mưu của Đảng đã đề ra hệ thống những quan điểm quan trọng về quân sự; về quốc phòng, an ninh; về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, khởi nghĩa và đấu tranh giải phóng; kết hợp quốc phòng với an ninh, kinh tế, ngoại giao; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, tình hình chính trị thế giới và trong nước đang có nhiều diễn biến phức tạp. Trên thế giới, các cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra gay gắt và quyết liệt, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi nhưng những cuộc xung đột vũ trang và nội chiến vẫn xảy ra và kéo dài ở nhiều nơi, những mâu thuẫn gay gắt về dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ đang tiếp diễn. Trong bối cảnh đó, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiếp tục phấn đấu xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm từng nước. Việt Nam đã và đang nằm trong tầm ngắm của các thế lực phản động và đế quốc, chúng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, sắc tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của ta nhằm thực hiện diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, gây bạo loạn chính trị. Tình hình đó đã đặt ra những yêu cầu mới cho nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong thời kỳ mới, không chỉ của riêng Đảng và Nhà nước mà là của toàn thể nhân dân. Vì thế, cần thiết phải học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân trong bối cảnh hiện nay để phát huy tổng hợp sức mạnh toàn dân, của hệ thống chính trị, từng bước nâng cao tiềm lực quốc phòng an ninh của đất nước để bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thất bại mọi âm mưu chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch.
Mặt khác, đứng trước sự nghiệp đổi mới, quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp không thể không giải quyết, đặt biệt trước sự biến đổi nhanh chóng, khó lường của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, của hàng loạt vấn đề toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế. Sự tiếp thu thiếu chọn lọc các nền văn hóa trên thế giới của bộ phận thanh thiếu niên đã làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc, một khi an ninh văn hóa bị khủng hoảng thì ý thức dân tộc cũng dần phai mờ đi từ đó ảnh hưởng đến ý thức bảo vệ Tổ quốc. Nếu không làm tốt công tác xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc, không thực hiện tốt việc giáo dục tuyên truyền cho đồng bào Việt Nam, về những vấn đề liên quan đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, thì không những không phát huy được vai trò của họ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mà họ còn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chia rẽ gây mất đoàn kết và có thể trở thành lực lượng đối lập, chống đối lại dân tộc và đất nước. Âm mưu, thủ đoạn đó chỉ có thể thất bại trước sức mạnh tổng hợp của nước ta được nâng cao, khi chúng ta thực hiện tốt việc xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho mọi người dân.
Vì vậy, việc ý thức bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là vấn đề cấp thiết, nhất là trong tình hình hiện nay. Hơn nữa, việc học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành cuộc vận động lớn trong cả nước. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng nền quốc phòng – an ninh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm, luận điểm toàn diện bao gồm nhiều nội dung: tư tưởng dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng; tư tưởng khởi nghĩa vũ trang toàn dân; tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, lấy sức mình là chính; về nghệ thuật quân sự; về xây dựng căn cứ địaxây dựng hậu phương; xây dựng lực lượng; xây dựng nền quốc phòng toàn dân…
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp đại học, đề tài chỉ tập trung khai thác những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh trong tư tưởng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng nền quốc phòng an ninh.
Những quan điểm, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng lực lượng vũ trang; về xây dựng nền quốc phòng an ninh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Đề tài sẽ từng bước làm rõ những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Phân tích, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong giai đoạn hiện nay nhằm rút ra những giải pháp góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu,…
Xem thêm

70 Đọc thêm

Sự vận dụng nguyên tắc chủ nghĩa Mác Lenin giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay

SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC CHỦ NGHĨA MÁC LENIN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sự vận dụng nguyên tắc chủ nghĩa Mác – Lênin giải quết vấn đề tôn giáo của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào, có tôn giáo nội sinh. Trong những năm qua tôn giáo ở Việt Nam phát triển phong phú và đa dạng. Vấn đề tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm, nếu ko giải quyết vấ đề này một cách khéo léo và đúng đắn thì sẽ dẫn đến những hậu quả lớn. Vì vậy trong pham vi bài tiểu luận này, tás giả xin được viết về đề tài: “Những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quết vấn đề tôn giáo và sự vận dụng nguyên tắc này của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay.”

NỘI DUNG

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO.

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo.

a. Định nghĩa tôn giáo.

Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.

b. Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo.

Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.

Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…

Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch.

Tôn giáo có rất nhiều nguồn gốc khác nhau bao gồm:

Thứ nhất, nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người.

Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan.

Cuối cùng là nguồn gốc tâm lí của tôn giáo. Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”.

2. Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hôi chủ nghĩa.

Các tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài trong các nước xã hội chủ nghĩa là do nguyên nhân chủ yếu sau:

Đầu tiên là về nguyên nhân nhận thức: thế giới khách quan là vô cùng tân, nhiều hiện tượng tự nhiên đến nay con người vẫn chưa giải thích được. Do vậy tâm lý sợ hãi, trông chờ và nhờ cậy, tin tưởng vào thần thánh...chưa thể gạt bỏ khỏi ý thức của con người trong xã hội, trong đó có nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa.

Tiếp theo là nguyên nhân tâm lý: tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử loài người, ăn sâu vào trong tiềm thức của nhiều người dân. Trong m ối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thì ý thức xã hội bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội, trong đó tôn giáo lại là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất. Tín ngưỡng, tôn giáo đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệđến mức trở thành một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của cuộc sống. Cho nên, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội... thì tín ngưỡng, tôn giáo cũng không thayđổi ngay theo tiến độ của những biến đổi kinh tế, xã hội mà nó phản ánh.

Sau đó là nguyên nhân chính trị, xã hội: trong các nguyên tắc tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là mặt giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Mặt khác, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn, lật đổ... còn xảy ra ở nhiều nơi. Nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo... cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại.

Tiếp đến là nguyên nhân kinh tế: trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Sự bất bình đẳng về kinh tế, văn hoá, xẫ hội vẫn là mọt thực tế. Đời sống vật chất của người dân chưa cao thì con người càng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên may rủi. Điều đó làm con người có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên.

Cuối cùng là nguyên nhân văn hoá: do lợi ích đáp ứng mức độ nào đó nhu cầu văn hoá, tinh thần, giáo dục cộng đồng, đạo đức, phong cách lối sống của người dân. Vì vậy việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hoá (có chọn lọc) của nhân loại trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết.

3. Nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giải quết vấn đề tôn giáo.

Khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần nắm vững các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất là cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo, bởi vì: ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không như nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Thứ hai là khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội củ, xây dựng xã hội mới. điều đó nói lên rằng: muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng. Điều cần thiết trước hết phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nhèo đói và thất học... cùng những tệ nạn nảy sinh trong xã hội

Thứ ba là tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Quyền ấy không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các Đảng. Tuy nhiên, đi đôi với việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng phải chống lại những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng để chống phá cách mạng.

Thứ tư là cần phân biệt 2 mặt nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tính ngưỡng tôn giáo. Vì có sự phân biệt được 2 mặt đó mới tránh khỏi khuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo sẽ còn tồn tại lâu dài, phải được tôn trọng và bảo đảm. Mọi biểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trên đây là 4 nguyên tắc quan trọng cần phải chú ý khi giải quyết vấn đề về tôn giáo để có thể giúp đất nước phát triển ổn định và hòa bình.

II. VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

1. Thực tiễn tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

Tôn giáo tại Việt Nam khá đa dạng, gồm có các nhánh Phật giáo như Đại thừa, Tiểu thừa, Hòa Hảo..., một số nhánh Kitô giáo như Công giáo Rôma, Tin Lành, tôn giáo nội sinh như Đạo Cao Đài, và một số tôn giáo khác. Nền tín ngưỡng dân gian bản địa cho tới nay vẫn có ảnh hưởng nhất định tại Việt Nam

Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất. Theo thống kê dân số năm 2009 thì số tìn đồ Phật Giáo là 6.802.318 người trong đó 2.988.666 tín đồ ở thành thị và 3.813.652 tín đồ ở nông thôn.

Công giáo Rôma (hay Thiên Chúa giáo La Mã), lần đầu tiên tới Việt bởi những nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một thuộc địa của Pháp. Theo thống kê năm 2009 ở Việt Nam có khoảng 5.677.086 tín đồ Công giáo trong đó có 1.776.694 tín đồ ở khu vực thành thị và 3.900.392 ở các khu vực nông thôn, địa phương có đông đảo tín đồ Công giáo nhất là tỉnh Đồng Nai với 797.702 tín đồ, và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước.

Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ ba tại Việt Nam. tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước)

Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh. Theo điều tra Ban Tôn giáo chính phủ, có 3 triệu người tự xem mình là tín đồ Cao Đài phân bố tại 39 tỉnh thành cả nước.

Tin Lành được truyền vào Việt Nam năm 1911. Năm 2009, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam là 734.168 chủ yếu tập trung ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc và là tôn giáo chính của nhiều dân tộc thiểu số. Tỉnh có đông đảo tín đồ Tin Lành nhất là Đăk Lăk với 149.526 tín đồ.

Hầu hết tín đồ Hồi giáo và Hindu giáo tại Việt Nam là người Chăm. Người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm. Năm 2009, tại Việt Nam có khoảng 75.268 tín đồ Hồi giáo.

Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một số tôn giáo khác nhưng nó nhỏ lẻ không đáng kể và còn có một số người không có tôn giáo.

Về mặt tích cực thì tôn giáo là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp phần chế ngự các hành vi phi đạo đức. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của các tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày càng thuần khiết. Ở Việt Nam giáo phái sống hòa thuận, không có xung đột dẫn đến chiến tranh như một số nước hồi giáo ở Trung Đông.

Bên cạnh đó thì tôn giáo cũng có một số mặt tiêu cực. Một số người lợi dụng vào vấn đề tâm linh để lừa gạt người khác như vụ làm giả hài cốt nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng nhà ngoại cảm “rởm” “cậu Thủy” của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam khoảng 8 tỷ đồng, … Còn có một số kẻ phản động chuyên đi kích động một số bà con giáo dân làm loạn để chống phá Đảng và Nhà nước ta…

2. Chủ trương đường lối tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về quan điểm, chính sách:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Hai là, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền, nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nước ta hiện nay có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bổ ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước. Vì vậy, công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành.

Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo,.. của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

3. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới.

Để thực hiện tốt chính sách tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng, trong những năm tới, theo tác giả cần làm tốt những nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quan tâm đúng mức đối với các vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Hai là, nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể đối với công tác tôn giáo. Trên cơ sở triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tôn giáo, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ của công tác tôn giáo trong tình hình mới.

Ba là, đẩy mạnh công tác tham mưu, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với công tác tôn giáo, tích cực tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về tôn giáo, đồng thời bổ sung kịp thời những chính sách đối với tôn giáo ở những vùng, miền khác nhau

Bốn là, thực hiện tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều kiện giúp đỡ Đại hội, Hội nghị thường niên của các tổ chức tôn giáo, xem xét cho đăng ký hoạt động một số tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác tôn giáo hiện nay. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng đông tôn giáo.

Sáu là, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Bảy là, công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo trong tình hình hiện nay, cần chủ động và tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành trong việc đối thoại và xử lý những vấn đề tôn giáo nhạy cảm đang được các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” để xuyên tạc tình hình tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, gây sức ép với Nhà nước về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Tám là, tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng , chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo Đồng thời xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

KẾT LUẬN

Như vậy, quan điểm của Đảng ta về tôn giáo là rõ ràng, nhất quán, đảm bảo quyền tự do, dân chủ. Trong khi đó, hiện nay, có những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước vẫn cho rằng ở Việt Nam người dân không có quyền tự do tín ngưỡng, tôn của nhân loại, kìm hãm sự phát triển của tư duy con người trong những bức tường chật hẹp của những sách kinh, giáo điều. Nhưng cũng không thể không nhắc đến ý nghĩa của tôn giáo như là một phương thuốc giảm đau cho những con người đang bất lực trước tự nhiên kinh khủng và bí ẩn, đang rên siết trong gông cùm của nô dịch và đàn áp, bất công. Bởi vậy, khi nghiên cứu về tôn giáo phải nắm vững quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác Lênin, không thể chỉ xem xét nó một cách phiến diện trong những mặt tiêu cực và hạn chế.

Qua bài tập này, ta còn thấy tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm cần được giải quyết trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã hiểu được vấn đề tôn giáo rất quan trọng và đã đưa ra những nghị quyết hợp lí để giải quyết vấn đề này. Việc giải quyết hợp lí vấn đề tôn giáo giúp cho đất nước ta ổn định và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa được thuận lợi hơn.
Xem thêm

11 Đọc thêm

BÀI GIẢNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG AN NINH QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO

BÀI GIẢNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG AN NINH QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO

Dân tộc, tôn giáo lĩnh vực khá phức tạp, đã và đang còn ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống xã hội của nhiều quốc gia, khu vực, quốc tế. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo; trong lịch sử, các đồng bào các dân tộc, tôn giáo đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, nghiên cứu, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Xem thêm

37 Đọc thêm

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trong tất cả các quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa người và người, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc có tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến sự định hướng cuộc sống của mỗi con người ở mỗi thời đại. Nghiên cứu vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt vấn đề dân tộc tạo động lực to lớn, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiều sự kiện về vấn đề dân tộc trên thế giới và ở nước ta diễn ra phức tạp, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm mũi nhọn để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Vì vậy, nghiên cứu, giải quyết vấn đề dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn mang tính cấp thiết.
Xem thêm

13 Đọc thêm

XỬ LÝ ĐIỂM NÓNG TÂY NGUYÊN NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

XỬ LÝ ĐIỂM NÓNG TÂY NGUYÊN NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng về an ninh. Sau khi giải quyết cơ bản vấn đề Fulro (năm 1992), tình hình an ninh chính trị vùng Gia Lai cơ bản ổn định, kinh tế tăng trưởng, đời sống đồng bào các DTTS được cải thiện một bước, Mỹ và các thế lực thù địch đã gia tăng hoạt động thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ đối với ta nói chung và đối với Gia Lai nói riêng.
Chúng nuôi dưỡng phục hồi Fulro, đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta, kích động tư tưởng ly khai, tự trị trong đồng bào dân tộc, cho nên tình hình Gia Lai Gia Lai có những diễn biến phức tạp. Các cuộc bạo loạn đều nằm trong ý đồ của Mỹ, trong đó bọn Fulro là nòng cốt. Sau khi đã phát triển lực lượng, hình thành tổ chức, kích động lôi kéo được nhiều người tham gia, chúng tiến hành nhiều hành động manh động, táo tợn như: công khai tuyên truyền các luận điệu phản động, phát tán tài liệu “Nhà nước Đề ga”, kích động đồng bào dân tộc nổi dậy đấu tranh giành quyền độc lập cho Gia Lai; đe doạ khống chế cán bộ cơ sở, thách thức chính quyền và công an; tổ chức tập luyện ra mắt tổ chức “Đề ga”. Nghiêm trọng nhất là kích động quần chúng gây biểu tình, bạo loạn chính trị ngày 02022001 và ngày 10042004. Đáng chú ý là số đối tượng cầm đầu đã lừa dối được một bộ phận cán bộ cơ sở, che dấu cho chúng hoạt động. Đồng thời, chúng chủ trương cho một số đối tượng về đầu thú giả để nắm tình hình mọi mặt trong làng báo cáo ra bên ngoài.
Bên cạnh đó, tình hình trộm cắp nông sản, tiêu, cà phê… của các nông trường, trong nhân dân diễn ra khá gay gắt; tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nội bộ nhân dân diễn biến phức tạp; nhất là việc tranh chấp đất đai giữa nhân dân với nhân dân; giữa nhân dân với cơ quan, nông, lâm trường; giữa đồng bào dân tộc tại chỗ với dân kinh tế mới, dân di cư tự do... có nhiều vụ phức tạp, có thể là nguyên cớ trở thành điểm nóng.
Từ thực tế trên, ta có thể nhận định các thế lực thù địch bên ngoài vẫn tiếp tục duy trì và quyết tâm thực hiện âm mưu gây mất ổn định chính trị ở Gia Lai. Trong bối cảnh mới, chúng sẽ đặc biệt lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lợi dụng những sơ hở thiếu sót của ta trong việc thực hiện chủ trương, chính sách ở các vùng dân tộc nhằm tuyên truyền kích động tư tưởng ly khai tự trị, tạo dựng lực lượng đối lập có tổ chức theo kiểu “Nhà nước Đề ga”, “Tin lành Đề ga” để chống phá ta. ở từng thời điểm, hoạt động của số đối tượng bên trong mạnh hay yếu phụ thuộc vào sự tác động của số đối tượng Fulrô bên ngoài và công tác đấu tranh giải quyết Fulrô của ta.
Để ngăn chặn điểm nóng chính trị, việc tìm ra nguyên nhân, xác định phân loại nguyên nhân là hết sức quan trọng. Trên cơ sở đó mới có đối sách thích hợp. Điểm nóng chính trị diễn ra ở Gia Lai bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
1. Nguyên nhân khách quan
Các thế lực thù địch bên ngoài đã hậu thuẫn cho bọn phản động người Việt lưu vong và các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm phá hoại thành quả cách mạng Việt Nam. Đây là nguyên nhân cơ bản, sâu xa phát sinh điểm nóng chính trị ở Gia Lai;
Tác động của cơ chế thị trường gây ra phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và giữa các tầng lớp dân cư. Trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất còn lạc hậu, đời sống gặp nhiều khó khăn; tình trạng di cư tự do và sự tranh chấp, mua bán đất đai trái pháp luật đã tạo kẽ hở cho bọn xấu kích động. Đó là những nguyên nhân bên trong, trực tiếp tác động đến tình hình kinh tế xã hội, là mảnh đất tốt cho kẻ địch lợi dụng.
Xem thêm

7 Đọc thêm

LUẬN VĂN TRIẾT HỌC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỚI THANH THIẾU NIÊN Ở THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN TRIẾT HỌC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỚI THANH THIẾU NIÊN Ở THỪA THIÊN HUẾ

1.1 Tính Cấp Thiết Của Đề Tài
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu, là người chủ của một dân tộc, quốc gia trong tương lai. Chính vì vậy, Nghị quyết BCHTW Đảng lần IV khóa 7 đã xác định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội hay không phần lớn tùy thuọc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên đó là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” 4; 2
Thừa Thiên Huế, một tỉnh dân số lớn và trẻ, nên lực lượng thanh niên đông đảo khoảng 251.000 thanh niên (chiếm 25% dân số năm 1996). Công cuộc đổi mới đất nước, quá trính công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ”đa số thanh niên Thừa Thiên Huế vẫn giữ được bản sắc của một trung tâm văn hóa Cố Đô, sống thanh lịch, giàu lòng nhân ái, cần cù, chịu khó, hăng say học tập văn hóa, chủ động trong việc học nghề, chọn nghề và lao động để tự nuôi sống bản thân, từng bước thích nghi với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, một bộ phận thanh niên đang có biểu hiện dao động về định hướng chính trị, thiếu niềm tin ở Chủ Nghĩa Xã Hội hoặc ít quan tâm đến thời cuộc, đến sinh hoạt chính trị, xem nhẹ truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Một bộ phận nhỏ khác có xu hướng chạy theo lối sống không lành mạnh, xem thường kỉ cương luật pháp, ngại khó, sợ khổ, mắc nhiều tệ nạn xã hội dẫn đến phạm tội (số này chiếm 70% tổng số người phạm tội hiện nay), tình trạng mê tín, dị đoan trong thanh niên có chiều hướng phát triển...”3; 1
Những vấn đề tồn tại đó sẽ là lực cản đối với công cuộc đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm thực hiện cũng như là tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ thù chống phá ta.
Huế được coi là một trung tâm tôn giáo lớn bậc nhất của nước ta, bao gồm các tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài. Thu hút số lượng đáng kể trong lực lượng thanh thiếu niên tham gia trong đó có khoảng 16.548 thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo tham gia sinh hoạt Gia Đình Phật Tử, một tổ chức quy tụ để bồi dưỡng, giáo giục thanh thiếu niên Phật tử. Gia Đình Phật Tử Huế đã có những đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh chống chế độ MỹNgụy của Phật Giáo trước đây. Ngày nay, Gia Đình Phật Tử đã và đang có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành tính cách, lối sống của thanh thiếu niên và có một vị trí nhất định trong tín đồ Phật giáo tại Thừa Thiên Huế .
Những năm gần đây, nhất là từ năm 1992 đến nay, hoạt động Gia Đình Phật Tử phát triển khá mạnh, cả hình thức lẫn nội dung, lôi kéo được đông đảo quần chúng tín đồ Phật tử. Bọn phản động lợi dụng Phật giáo, nhất là số đối tượng cực đoan chống phá cách mạng trong hàng ngũ tu sỹ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất Phái Ấn Quang (Quảng Đức) tích cực lôi kéo tổ chức này theo chúng, tách rời sự lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tập hợp lực lượng hậu thuẫn khi cần thiết.
Chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế muốn sử dụng tôn giáo như là một công cụ quan trọng để thực thi chiến lược ”Diễn Biến Hòa Bình” hòng chống phá Chủ Nghĩa Xã Hội ở nước ta, nên chúng càng làm cho vấn đê tôn giáo ở bất kì nước nào, cũng như ở nước ta tăng thêm phần phức tạp. Bọn thù địch lấy vấn đề nhân quyền, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập làm mất ổn định xã hội và gây bạo loạn lật đổ chế độ ta. Huế luôn là ”điểm nóng” về tôn giáo nói chung, cũng như đối với Phật giáo nói riêng. Vì vậy, đập tan âm mưu của kẻ thù muốn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá chế độ ta là vấn đề có ý nghĩa quan trọng sống còn. Chúng ta chú ý tới việc tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo với ý nghĩa ”tranh thủ, tập hợp quần chúng”, trong đó có thanh thiếu niên Phật tử về phía cách mạng, phá tan âm mưu ”giành quần chúng” để thực hiện những mưu đồ chính trị nham hiểm của các thế lực thù địch bên ngoài và bọn phản động lưu vong người Việt.
Do vậy, nghiên cứu Gia Đình Phật Tử là vấn đề cần thiết để chúng ta có cơ sở để quản lí và đấu tranh với hoạt động không thuần túy tôn giáo của nó, giúp chúng ta nhận thấy được những ảnh hưởng của nó đối với thanh thiếu niên Huế hiện nay.
Xem thêm

57 Đọc thêm

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và Cách mạng giải phóng dân tộc

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cácvấn đề cơ bản của Cách mang Việt Nam từ Cách mang dân tộc dân chủ đến CáchMạng xã hội chủ nghĩa ,là kết quả của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bảncủa Chủ nghĩa Mác –Lê nin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam ,đồng thờilà sự kết tinh tinh hoa của dân tộc giải phóng giai cấp và giải phóng con người .Hệ thống nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm :Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc .Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Đảng cộng sản Việt Nam với tư cách là ngườisáng lập và rèn luyện Đảng ta .Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân do dân và vì dân .Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc về đạo đức văn hóa ,về Chủnghĩa Xá hội và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam về kinh tế về quân sự vềphương pháp và phong cách .Vấn đề dân tộc tôn giáo và nhân quyền là những vấn đề nhạy cảm luôn được cácthế lực thù địch lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.Mặt khác do sự phát triển ,biến đổi tất yếu trong nội hàm của các vấn đề trên cũngđăt ra những nội dung mới về lý luận và thực tiễn trong việc nhận thức và giải quyếtvấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình mới .Đây là đòi hỏi có tính tất yếu cần đượcđầu tư nghiên cứu để cung cấp những luận cứ khoa học khách quan góp phần giảiquyết hiệu quả hơn vấn đề dân tộc trong bối cảnh tình hình phát triển hiện nay của đấtnước .Từ lý luận của chủ nghĩa MácLê nin ,được Đảng ta,Chủ tịch Hồ Chí Minh vàgiới khoa học vận dụng vào Việt Nam,từ thực tiễn tình hình dân tộc và việc giải quyếtvấn đề dân tộc ,thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong mấy chục năm qua,việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhân thức về vấn đề dân tộc trong bối cảnh tìnhhình hiện nay là rất cần thiết .
Xem thêm

22 Đọc thêm

BÀI THU HOẠCH TUẤN SINH HOẠT CÔNG DÂN

BÀI THU HOẠCH TUẤN SINH HOẠT CÔNG DÂN

Đảm bảo ANTT trường học là phòng ngừa, đấu tranh với âm mưu, hoạt động gây mất an ninh chính trị, trật tự trong và ngoài nhà trường; phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội có liên quan đến sinh viên và cán bộ, giáo viên, nhân viên trường học; phối hợp tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật; phổ biến các âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và bọn tội phạm cho cán bộ, công chức, viên chức và sinh viên biết đấu tranh, phòng ngừa; trao đổi thông tin tình hình kết quả công tác đảm bảo an ninh trật tự giữa nhà trường và cơ quan chức năng.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TIỂU LUẬN NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ VỊ TRÍ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC MỚI HIỆN NAY

TIỂU LUẬN NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ VỊ TRÍ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC MỚI HIỆN NAY

Chủ nghĩa xã hội là một môn khoa học, nghiên cứu các quy luật, tính quy luật chính trị xã hội của quá trình phát sinh, hình thành phát triển hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa; những điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh và những nguyên tắc cơ bản của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa. Do đó, ngay từ khi ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học đã bị các thế lực chống cộng, cơ hội xét lại chống phá quyết liệt. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh tính khoa học, cách mạng và sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác nói chung, chủ nghĩa khoa học nói riêng
Xem thêm

15 Đọc thêm

THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH Ở ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH QUẢNG BÌNH

THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH Ở ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH QUẢNG BÌNH

Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, báo chí ngày càng phát huyvai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội của đất nước.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, báo chí nói chungvà hệ thống phát thanh – truyền hình nói riêng đã góp phần tích cực phản ánh mộtcách nhanh nhạy, sắc bén mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tuyên truyền phổ biếnchủ trương, cổ vũ mạnh mẽ phong trào hành động cách mạng của nhân dân.Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu, nhiệmvụ của toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn tới là: “Phấn đấu thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.” [5, tr.14].Đảng ta cũng chỉ ra những thời cơ và thách thức trong thời kỳ xây dựng vàphát triển đất nước. Chúng ta có thuận lợi cơ bản của hòa bình, ổn định và nhữngtiền đề quan trọng về kinh tế - xã hội đã đạt được trong công cuộc đổi mới toàndiện đất nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những khó khănthử thách rất lớn đó là: những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội như thamnhũng, lạm phát, các tệ nạn xã hội…có chiều hướng gia tăng; các thế lực thù địchvẫn từng ngày, từng giờ đang đẩy mạnh âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạngcủa nhân dân ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Đối với ngành phát thanh– truyền hình, quá trình toàn cầu hóa thông tin ngày càng mở rộng, tác động đếnmọi mặt của đời sống xã hội, mở ra một thời kỳ phát triển mới nhưng đồng thờicũng nảy sinh những thách thức không nhỏ trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nguycơ xâm lăng văn hóa và xâm lăng chính trị một cách hòa bình.Trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, thông tin đại chúng có vaitrò hết sức quan trọng trên mặt trận tư tưởng – văn hóa, đóng góp tích cực vàothành tựu chung của đất nước. Báo chí cả nước đã thường xuyên tự đổi mớimình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó. Trongbối cảnh toàn cầu hóa, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất17
Xem thêm

109 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ PHƯỜNG THỊ TRẤN Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG AN NINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ PHƯỜNG THỊ TRẤN Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ BVTQ XHCN, đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch trong mọi tình huống, đòi hỏi phải thường xuyên xây dựng, củng cố nền QPTD và an ninh nhân dân vững mạnh, trong đó, giáo dục QP, AN cho các tầng lớp dân cư trong xã hội nói chung và bồi dưỡng kiến thức QP, AN cho CBCC các cấp trong hệ thống chính trị nói riêng là một nội dung rất quan trọng.

103 Đọc thêm

SỰ kết hợp độc lập dân tộc với CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM

SỰ KẾT HỢP ĐỘC LẬP DÂN TỘC VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã hội là đường lối xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay. Đó là sự kết hợp giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, vị trí và biểu hiện của từng mục tiêu thay đổi qua mỗi giai đoạn cách mạng.
+ Trong giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân, độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp giành và bảo vệ độc lập dân tộc, còn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng, mục tiêu vươn tới của cách mạng. Nêu mục tiêu chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa định hướng cách mạng khi thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc.
+ Trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu trực tiếp, còn độc lập dân tộc là mục tiêu phối hợp nhằm bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Trong những trường hợp cụ thể, độc lập dân tộc trở thành mục tiêu trực tiếp cả trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
Cá biệt và cũng rất đặc biệt, trong thời kỳ 19541975, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đều là những mục tiêu trực tiếp được thực hiện ở hai miền Nam và Bắc. Ở mỗi miền đất nước đồng thời kết hợp cả hai mục tiêu: ở miền Bắc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, ở miền Nam vừa chiến đấu để giành độc lập tự do, vừa bảo vệ vùng giải phóng, từng bước xây dựng vùng giải phóng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mối quan hệ, sự kết hợp giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ biện chứng, có tính quy luật. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của bất cứ nước nào, của bất cứ thời kỳ nào. Dân tộc Việt Nam trong quá trình tồn tại và phát triển cũng đã thực hiện theo quy luật đó.
Ở nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo, khi chưa giành độc lập và chính quyền, cả sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 khi đất nước đã độc lập, chính quyền đã về tay nhân dân thì xây dựng và bảo vệ là hai nhiệm vụ chiến lược luôn kết hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau. Thời kỳ kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam (19541975) thì nhiệm vụ giành độc lập dân tộc và chính quyền được thực hiện đồng thời với sản xuất xây dựng và đấu tranh bảo vệ vùng giải phóng.
Trong thời kỳ đất nước đã giành được độc lập và chính quyền (thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp) thì thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược kháng chiến và kiến quốc kết hợp chiến đấu và xây dựng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc.
Trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa (từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975 đến nay), trong khi Đảng và nhân dân ta đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì vẫn khẳng định vẫn không một phút được lơ là cảnh giác nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Hai nhiệm vụ chiến lươc đó luôn luôn quan hệ khăng khít với nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986), nhất là đến Đại hội VII (61991), nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ, sự kết hợp giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng được nâng cao, tư duy được đổi mới:
+ Xây dựng và bảo vệ trong giai đoạn hiện nay có xu hướng hòa nhập nhau một cách khăng khít, đến mức bảo vệ trở thành một bộ phận hợp thành của xây dựng, cũng như vậy, xây dựng trở thành một bộ phận của bảo vệ.
+ Tác động giữa xây dựng và bảo vệ không chỉ là tác động giữa hai mặt tạo nên sức mạnh để bảo vệ mà tác động đó nằm ngay trong xây dựng. Chính thành tựu đạt được trong xây dựng đã tạo nên sức mạnh để bảo vệ.
Điểm mới giữa mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là phải xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện, làm cho các yếu tố hợp thành chế độ đó phát triển bền vững, có khả năng bảo vệ trực tiếp từng tế bào của xã hội.
Nói riêng về bảo vệ, trong những thập kỷ trước đây, để lật đổ một chế độ, một nhà nước xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc sử dụng đến chiến tranh lật đổ, xâm chiếm lãnh thổ. Nay chủ nghĩa đế quốc vẫn dùng phương pháp đó, còn dùng phương pháp tấn công thẳng vào các yếu tố hợp thành chế độ xã hội chủ nghĩa, làm suy yếu, hủy hoại từ bên trong chế độ, như dùng diễn biến hòa bình, chiêu bài tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, nhân quyền, thậm chí là lấy cớ chống khủng bố để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc do đó khó khăn phức tạp hơn, vì đối tượng đấu tranh mở rộng hơn, ngoài những thế lực thù địch bên ngoài, còn có những thế lực thù địch ngay ở bên trong của mỗi nước.

Chương 1
Độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã hội từ quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin đến đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Xem thêm

65 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO

thiểu số. Đó là những vùng đất mới - nơi chưa có tôn giáo chính thống hoặc tôn giáo, tín ngưỡng cũ đang suythoái, mất uy tín, nơi đời sống dân sinh, trình độ dân trí thấp. Truyền đạo đến những vùng này, đạo Tin lànhkhông những phát huy lợi thế vốn có "đơn giản về luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo" mà còn nghiên cứu rấtkỹ đặc điểm lịch sử, văn hoá, tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của từng dân tộc, chủ động địa phương hoá,dân tộc hoá để dễ dàng hoà nhập.- Ra đời, phát triển cùng với giai cấp tư sản cho nên đạo Tin lành có mối quan hệ khá chặt chẽ với giai cấp tưsản. Giai cấp tư sản sử dụng đạo Tin lành như một thứ vũ khí trong các cuộc cách mạng tư sản ở thời kỳ đầu vàviệc tìm kiếm thị trường thuộc địa sau này. Ngược lại, đạo Tin lành nhờ dựa vào giai cấp tư sản để củng cố pháttriển lực lượng, kể cả việc lợi dụng các cuộc chiến tranh xâm thực mà giai cấp tư sản tiến hành.- Tổ chức giáo hội Tin lành không chặt chẽ mà tùy thuộc vào từng hệ phái, từng khu vực, từng quốc gia.* Yêu cầu trong công tác quản lý:- Tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước vềtín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đối với đạo Tin lành; đồng thời tổ chức thực hiện tốt các chương trình pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân và tạo điều kiện để đồng bàotheo đạo Tin lành gắn bó với cộng đồng, tham gia ngày càng tốt hơn các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, gópphần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động và tạo điều kiện thuận lợi để các chức sắc, tín đồ Tin lành thựchiện tốt chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đưa sinh hoạt tôn giáo của đạoTin lành đi vào nền nếp bình thường, phù hợp với pháp luật; động viên mọi chức sắc, tín đồ sống ''tốt đời, đẹpđạo'', ''phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc''. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tínngưỡng, tự do theo đạo và không theo đạo của mọi công dân; nghiêm cấm việc ép buộc đồng bào theo đạo hoặcbỏ đạo. Kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, đội lốtđạo Tin lành để kích động, lôi kéo đồng bào ta gây chia rẽ dân tộc, chống phá đất nước.- Hướng dẫn, giúp đỡ Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lànhViệt Nam (miền Nam) thực hiện các hoạt động tôn giáo đúng theo Hiến chương, Điều lệ của giáo hội và tuânthủ các quy định của pháp luật.- Thông báo công khai cho đồng bào biết rõ những người đội lốt chức sắc Tinlành để hoạt động chống phá đất nước, gây chia rẽ dân tộc và những hành vi vi phạm pháp luật của họ, cũngnhư biện pháp xử lý và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta. Xử lý nghiêm theo pháp luật những người hoạt
Xem thêm

24 Đọc thêm

KHÓA LUẬN ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN CỦA DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG TRÊN MẶT TRẬN VĂN HOÁ TƯ TƯỞNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN CỦA DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG TRÊN MẶT TRẬN VĂN HOÁ TƯ TƯỞNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

nghĩa trước đây, cũng như các nước tư bản khác ngày nay không thể sosánh được với sự giúp đỡ của Mỹ. Chiến lược này nhằm thúc đẩy tự dotheo kiểu Mỹ ở Việt Nam, lôi kéo Việt Nam về phía Mỹ.Tuy nhiên, bằng kinh nghiệm lịch sử và tinh thần cảnh giác, chúngta thấy rằng việc viện trợ của Mỹ cho Việt Nam không đáng là bao sovới những lời hào phóng của họ, thậm chí còn chưa bằng một số nướckhác. Hơn nữa các viện trợ đó của Mỹ thường gắn với những điều kiệnchính trị ngang ngược, cũng như trong chiêu bài nhân đạo, chúng ta sẵnsàng hợp tác với Mỹ trong vấn đề POW/MIA. song, ngược lại Mỹ lạithiếu thiện chí trong vấn đề giải quyết nạn nhân chất độc màu da cam ởViệt Nam do Mỹ gây ra…Vì thế, chiến lược “ngoại giao thân thiện” của Mỹ chỉ là một chiêubài đánh vào lòng người dân Việt Nam mà thôi.Thứ ba, chiến lược khoét ssau mâu thuẫn nội bộ, thực hiện “nộicông ngoại kích” cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam làm nòngcốt để chuyển hoá Đảng, Mỹ tập trung lôi kéo đảng viên phụ trách kinhtế, kích động nói xấu cán bộ chính trị gây ra sự phân hoá, đối lập giữa“nhóm cán bộ kinh tế” và “nhóm cán bộ chính trị”, cố gắng làm phânhoá xã hội bằng tham nhũng, buôn lậu, tạo ra sự phân cực sâu sắc trongcác tầng lớp nhân dân Việt Nam. Mỹ tiến hành lôi kéo đội ngũ trí thức làtầng lớp trẻ và những người dễ dao động để “Nuôi dưỡng hạt nhân”,“Gieo mầm dân chủ”, “Tạo dựng ngọn cờ”, từ đó tạo thành phong tràochống đối Đảng và chế độ. Lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để gâyáp lực dối với chính quyền.Mỹ rất chú ý khai thác các khía cạnh tiêu cực vè kinh tế - văn hoá,xã hội ở Việt Nam để chống lại Đảng và Nhà nước ta. Tìm mọi cách thổiphòng và kích động những mâu thuẫn giữa Việt Nam với các nước, nhấtlà Trung Quốc, Campuchia và Lào đẻ gây chia rẽ. Chẳng hạn, khi ta và18
Xem thêm

86 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO HUYỆN BÌNH NGUYÊN TỈNH CAO BẰNG VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TRUYỀN ĐẠO TRÁI PHÉP

TÀI LIỆU THAM KHẢO HUYỆN BÌNH NGUYÊN TỈNH CAO BẰNG VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG TRUYỀN ĐẠO TRÁI PHÉP

Hoạt động tôn giáo là một trong những vấn quan trọng và là vấn đề hết sức nhạy cảm của thế giới, trong nước nói chung và huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng nói riêng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là trong 2 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta, Bác Hồ luôn coi trọng vấn đề đoàn kết tôn giáo, coi đây là một bộ phận của cách mạng Việt Nam, cùng với các giai cấp khác góp phần quan trong trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh rằng lực lượng tôn giáo đã có đÓng góp cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tôc ta.
Xem thêm

22 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ SỰ PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH Ở TỈNH KON TUM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ SỰ PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO TIN LÀNH Ở TỈNH KON TUM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trong mấy thập kỷ qua, xung đột sắc tộc mang màu sắc tôn giáo nổ ra gây mất ổn định ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới. Các thế lực thù địch đã lợi dụng, cấu kết với số cầm đầu các tôn giáo trong âm mưu phá hoại, xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô cũ và ngày nay đang tiếp tục lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược Diễn biến hòa bình đối với các nước còn lại trong đó Việt Nam là một trong những mục tiêu trọng điểm của chúng.
Xem thêm

132 Đọc thêm

Cùng chủ đề