TỶ LỆ LỢI NHUẬN LÀ GÌ

Tìm thấy 3,841 tài liệu liên quan tới từ khóa "TỶ LỆ LỢI NHUẬN LÀ GÌ":

Tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình

Tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng Ngân hàng cũng là hoạt động thường xuyên tiềm ẩn rủi ro. Rủi ro tín dụng cũng như vấn đề nợ xấu là không thể tránh khỏi. Các Ngân hàng luôn tìm mọi biện pháp để giảm thiểu nợ xấu và tối đa hóa lợi nhuận. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2011 tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng là 3,3% Mức này cao hơn nhiều so với năm 2010 là 2,14%.Số liệu này cho thấy vấn đề nợ xấu có chiều hướng tiếp tục tăng.Vì vậy, hạn chế phát sinh nợ xấu và xử lý dứt điểm các khoản nợ tồn đọng là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu đối với sự tồn tại cũng như uy tín của Ngân hàng. Đó không chỉ là mối quan tâm của chính các Ngân hàng mà còn là mối quan tâm của Nhà nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, dư chấn của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới vẫn còn, tình hình kinh tế trong nước khó khăn, tỷ lệ lạm phát cao, diễn biến phức tạp của tỷ giá và lãi suất làm cho môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dễ nhạy cảm với thị trường, dẫn đến nợ xấu liên tục tăng cao; bong bóng bất động sản làm cho việc phát mại tài sản bảo đảm khó khăn và kéo dài khiến cho việc xử lý nợ xấu cũng gặp khó khăn. Xuất phát từ lý do trên kết hợp với thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình, tôi đã chọn đề tài “Tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CHI PHÍ VÀ LỢI ÍCH CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CHI PHÍ VÀ LỢI ÍCH CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CHI PHÍ VÀ LỢI ÍCH CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN? Nếu các lý thuyết kinh tế là giá trị thử nghiệm thực sự về tuổi thọ, mô hình nguồn nhân lực với kết quả mỹ mãn. Vấn đề những nguyên tắc cơ bản đã được thực nghiệm kiểm chứng (nói chung xác nhận tính hợp lệ). Một cá nhân sẽ đầu tư vào vốn con người của anh ấy hoặc cô ấy thêm một năm nữa cho việc học hoặc một năm nữa cho vừa học vừa làm. Miễn là mức đầu tư của họ chỉ tăng nhẹ so với chi phí biên. Những lợi ích kéo dài trong suốt cuộc đời được chiết khấu về hiện tại. Nếu mỗi cá nhân có thu nhập tích lũy tăng, chính phủ cần kích thích mỗi cá nhân đưa ra quyết định thanh toán. Hành động nào cũng có thể cần thiết nếu các cá nhân nghèo không thể huy động các nguồn lực để tài trợ cho việc đầu tư hiện nay, mặc dù một lời hứa về lợi ích lớn trong tương lai. Khuôn khổ vốn con người này đã là một động lực cho các khoản đầu tư rất lớn trong giáo dục ở các nước đang phát triển trong 40 năm qua. Ngoài các lợi ích xã hội của giáo dục, việc công nhận các lợi ích kinh tế lâu dài của nó đã thúc đẩy các bộ tài chính và ngân sách để hành động. Trong điều kiện toàn cầu, chi tiêu giáo dục đã mọc lên như nấm từ 3,7 phần trăm GDP trong năm 1970 lên 4,5 phần trăm GDP trong năm 2002 (xem Hình 1). Điều này đã dẫn đến thu nhập, số lượng trẻ em đi học tăng, đặc biệt ở cấp tiểu học. Năm 2005 trên toàn cầu có nhiều hơn 688 triệu trẻ em học tiểu học, tăng 6% kể từ năm 1999. Trên toàn thế giới mức học trung bình cho dân số là 5.0 năm đi học trong năm 1970 đạt trên 103 quốc gia (dựa trên tính toán từ Barro và Lee (2000) cơ sở dữ liệu). Có sự gia tăng 31% vào năm 1999, khi học trung bình tăng 1,5 năm học tới trên 6,5 năm. Bởi vì khuôn khổ là một trong những khoản đầu tư kinh tế, phân tích chi phí lợi ích (CBA) nên là một công cụ quan trọng trong việc đưa ra quyết định quan trọng về số lượng và loại hình đầu tư. Khi xem xét trong phần 1 của bài viết này, các phương pháp để áp dụng công cụ này được thành lập là tốt. Và, như được mô tả trong phần 2, các ứng dụng của các phương pháp này đã đóng một vai trò mạnh mẽ trong việc ủng hộ cho tổng chi tiêu nhiều hơn vào giáo dục như là một ưu tiên quốc gia. CBA như 1 hướng dẫn để ưu tiên thiết lập cho chính sách công nhưng đạt được ít thành công. Trong phần 3 cho thấy rằng việc sử dụng phân tích định lượng như vậy, và đặc biệt phân tích tỷ suất lợi nhuận (ORO), giá trị hiện tại (NPV), chi phí hiệu quả (CE), để hướng dẫn chính quyền tổng chi tiêu đã không được phổ biến rộng rãi. Và ở cấp độ vi mô, trong giáo dục CBA không được sử dụng rộng rãi cho các dự án cụ thể. Tại sao không được sử dụng rộng rãi? Chúng tôi cho rằng thiếu sót trong phương pháp chủ chốt này là nguyên nhân gây ra: đặc biệt là khó khăn trong việc ước tính phí tổn xã hội. Trái ngược với tư nhân, lợi ích, đo lường chi phí và lợi ích giáo dục trong việc xác định kích thước tổng thể có sự phức tạp hơn là truy cập vào một năm học tại một cơ sở giáo dục và ghi kết quả các can thiệp thực tế. Giải quyết những vấn đề này là những thách thức quan trọng đối với nghiên cứu trong tương lai. Trong khi nghiên cứu về các tính toán tiếp tục định lượng mạnh mẽ hơn về chi phí và lợi ích, CBA nên được sử dụng hướng dẫn đầu tư công. Chúng tôi lập luận trong phần 4 mà quy tắc của một mô tả các chi phí và lợi ích của một dự án sẽ giúp ra quyết định nhiều hơn so với thực tế của đơn giản nói rằng khoản đầu tư đó được xã hội hợp lý. Kết hợp tổng thể với cơ sở ngành, CBA là rất quan trọng để cung cấp khuôn khổ nghiêm ngặt cho phép cơ quan công quyền để làm cho sự lựa chọn khó khăn giữa các dự án đầu tư cạnh tranh. 1. Nguyên tắc áp dụng chi phí và lợi ích cho giáo dục. Việc áp dụng phân tích lợi ích và chi phí (CBA) cho giáo dục là đơn giản và cũng được cải thiện trong một số sách giáo khoa gần đây nhất trong kinh tế phát triển (xem Perkins, Radelet và Lindauer 2006). Một sơ đồ của các lợi ích và chi phí việc đầu tư vào thêm 1 năm sau bậc giáo dục tiểu học được thể hiện trong hình 2. Lợi ích tư nhân (B) của việc đầu tư trong 1 năm vào giáo dục là thu nhập đạt được trong phần còn lại làm việc của con người. Các chi phí cá nhân (C) sẽ bao gồm bất kỳ khoản phí hoặc chi phí trực tiếp mà các cá nhân trả cộng với các chi phí cơ hội về thu nhập bị bỏ qua. Bởi vì các giá trị này xảy ra theo thời gian, họ phải được chiết khấu về hiện tại để có thể so sánh được. Giá trị hiện tại thuần (NPV) là sự khác biệt giữa các giá trị chiết khấu của dòng hiện tại ròng của các lợi ích và chi phí. Một nhà đầu tư lý tưởng trong trường hợp này là một sinh viên hoặc gia đình của mình cam kết đầu tư chẳng hạn như học cao hơn nếu giá trị hiện tại ròng là dương. Một tiêu chí khác tỷ lệ hoàn vốn nội bộ sẽ được tính toán và so sánh nó với lợi nhuận thay thế từ các khoản đầu tư. Từ sơ đồ này, nếu t đại diện cho một đơn vị thời gian, tỷ lệ lợi tức cho giáo dục (r) được tính thẳng từ công thức sau: Lợi ích xã hội (SB) của con người là lợi ích giá trị thành tiền chẳng hạn như những tác động tích cực việc những người có học tương tác với nhau, gắn kết xã hội. Chi phí xã hội (SC) là giá trị thành tiền chi phí khác trong xã hội, chẳng hạn như chi phí tài chính nếu giáo dục được trợ cấp, bao gồm chi phí trọng tải huy động nguồn lực công. Trở lại xã hội được tính bằng cách thay thế B và C bởi SB và SC trong phương trình trên. Ước tính thu nhập của một ngành công nghiệp tiểu thủ nhỏ đã dẫn đến học bổng (để xem xét, thấy Psacharopoulos và Patrinos 2004). Một phương pháp khác là so sánh hồ sơ thu nhập của những người có trình độ học vấn. Trong trường hợp của giáo dục đại học, ví dụ, công thức để tính toán tỷ lệ lợi tức là (Wu Ws) là sự khác biệt về thu nhập của nhóm tốt nghiệp đại học (kí hiệu u) và nhóm tốt nghiệp trung học cơ sở (kí hiệu s, nhóm kiểm soát). Cu đại diện cho các chi phí trực tiếp của giáo dục đại học (học phí và lệ phí, sách), và Ws biểu thị thu nhập bị bỏ qua của học sinh hoặc chi phí gián tiếp. Một tính toán tương tự có thể được thực hiện đối với các cấp khác của giáo dục. Tuy nhiên, có một sự bất đối xứng quan trọng giữa việc tính toán lợi nhuận đối với giáo dục tiểu học và cấp độ khác. Học sinh tiểu học, chủ yếu trong độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi, không tính trước được bề dài toàn bộ thu nhập của họ. Trên giả định rằng trẻ em ở độ tuổi 11 và 12 giúp đỡ trong lao động nông nghiệp, trong khi ở bậc tiểu học hai hoặc ba năm lợi nhuận đã bị bỏ qua được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm (Psacharopoulos 1995). Về giáo dục tính toán giá của xã hội, là sự chỉ dẫn thích hợp cho đầu tư công, người ta thực hiện điều chỉnh. Về chi phí, bao gồm chi tiêu của xã hội cho giáo dục. Vì vậy, trong ví dụ trên, Cu sẽ bao gồm việc thuê các tòa nhà và lương của giáo sư. Tổng thu nhập (có nghĩa là, trước khi trừ thuế và các khoản khấu trừ khác) được sử dụng trong tỷ suất lợi tức xã hội và thu nhập bao gồm thu nhập bằng hiện vật mà thông tin này có sẵn. Một giả định quan trọng trong tính toán tỷ suất lợi tức xã hội là tiền lương được quan sát và ủy quyền tốt cho sản phẩm biên của lao động, đặc biệt là trong một nền kinh tế cạnh tranh bằng cách sử dụng dữ liệu từ khu vực tư nhân của nền kinh tế. Mức chi trả dịch vụ dân sự là không thích hợp cho một tỷ suất lợi tức, mặc dù chúng có thể được sử dụng trong tư nhân. Các thuộc tính xã hội được ước lượng đề cập đến tỷ suất lợi tức bao gồm các chi phí nguồn lực đầy đủ của đầu tư (chi phí trực tiếp và thu nhập bị bỏ qua). Lý tưởng nhất, xã hội bao gồm phi tiền tệ hoặc ảnh hưởng bên ngoài của giáo dục (ví dụ, khả năng sinh sản thấp hơn hoặc người được cứu sống vì cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường theo sau là một người phụ nữ có học vấn hơn những người không bao giờ tham gia vào thị trường lao động chính thức). Với những bằng chứng thực nghiệm ít ỏi về các tác động bên ngoài của giáo dục, tỷ suất lợi tức của ước tính lợi nhuận thường được dựa trên chi phí tiền tệ trực tiếp quan sát được và lợi ích của giáo dục. Kể từ khi tính toán các chi phí này so với chỉ số từ quan điểm cá nhân cao hơn một tỷ suất lợi tức ở xã hội, ước tính lợi tức xã hội thường thấp hơn so với tỷ suất lợi tức cá nhân. Sự khác biệt giữa các tỷ suất lợi tức cá nhân và tỷ suất lợi tức xã hội phản ánh mức độ trợ cấp của giáo dục. Việc chiết khấu của mạng lưới tuổi thu nhập thực tế là phương pháp thích hợp nhất ước tính lợi nhuận giáo dục vì nó sẽ đưa vào tính toán các phần quan trọng nhất của lịch sử thu nhập gần đây của cá nhân. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi dữ liệu toàn diện người ta phải có đủ số lượng các quan sát trong một thời đại các cấp giáo dục cho việc xây dựng hồ sơ có giáo dục biểu quan hệ thu nhập theo tuổi (có nghĩa là, không giao với nhau). Các phương pháp hàm thu nhập, còn được gọi là phương pháp Mincerian (xem Mincer 1974), bao gồm hàm logarit của thu nhập (LnW) thường là theo giờ hoặc theo tuần, bằng nhiều năm học tập (S), nhiều năm kinh nghiệm làm việc trên thị trường (X) và bình phương của nó (X2) là những biến độc lập. Như vậy, hàm thu nhập cơ bản là: ln Wi = α + βSi + 1Xi + γ¬2Xi2 + εi Trong đặc điểm của hàm bán logarit này, hệ số của năm học (β) có thể được hiểu là tỷ suất lợi nhuận cá nhân trung bình để thêm một năm học, bất kể trình độ giáo dục được đề cập đến. Ngoài ra, các phương pháp hàm thu nhập có thể được sử dụng để ước tính lợi nhuận cho giáo dục ở các cấp độ khác nhau bằng cách chuyển đổi các năm học liên tục (S) vào một loạt các biến giả, như Dp, Ds và Du, để biểu thị cho một người đã hoàn thành các bậc tương ứng (tiểu học, trung học, đại học), tất nhiên, trong mẫu khảo sát cũng có những người không được tiếp cận giáo dục để tránh ma trận đặc biệt. Sau đó, sau khi thay một hàm thu nhập mở rộng bằng cách sử dụng những biến giả ở trên thay vì số năm đi học trong hàm thu nhập, có thể được bắt nguồn từ tỷ lệ lợi suất cá nhân với các cấp khác nhau của nền giáo dục. Một lần nữa, phải quan tâm đến các khoản thu nhập liên quan bị bỏ qua của các em học sinh trong độ tuổi tiểu học. Mặc dù phương pháp này thuận tiện bởi vì nó đòi hỏi ít dữ liệu, nhưng phương pháp này vẫn kém hơn so với những phương pháp trước đó, trên thực tế, giả định rằng tuổi thu nhập cho các mức độ khác nhau của nền giáo dục là không đổi (xem Psacharopoulos và Layard 1979). 2. Áp dụng phân tích chi phílợi ích trong giáo dục: Thực hành Các phân tích được mô tả trong phần trước đó để ước tính tỷ lệ lợi nhuận về giáo dục đã được ứng dụng thường xuyên để tranh luận tại sao các quốc gia phải đầu tư nhiều hơn cho giáo dục bằng các nguồn lực quốc gia. Các kết quả mới nhất chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận cá nhân trung bình cho trung bình một năm học trên 100 quốc gia là 10 phần trăm (Psacharopoulos và Patrinos 2004). Lợi nhuận này cao hơn ở các khu vực có thu nhập thấp. Lợi nhuận bị suy giảm tương tự ở các quốc gia: các quốc gia càng phát triển thì lợi nhuận về giáo dục ở các cấp càng thấp. Nền giáo dục có lợi nhuận cao ở các nước có thu nhập thấp đó là do sự khan hiếm tương đối về nguồn nhân lực. Lợi nhuận cá nhân trung bình cho một năm học của một khu vực được thể hiện trong Hình 3. Lợi nhuận tổng hợp cao nhất được thấy ở châu Mỹ Latin, tiếp theo là châu Phi cận Sahara. Lợi nhuận thấp nhất là ở các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) và các nước không thuộc OECD Châu Âu Trung Đông Bắc Phi về giáo dục tiên tiến. Nhìn chung, phụ nữ nhận được lợi nhuận cao hơn trong đầu tư vào việc học hành của họ; nhưng vì các lý do khác, trong hầu hết các quốc gia, phụ nữ nhận được mức lương thấp, không phân biệt nghề nghiệp. Trong một thời gian dài lợi nhuận đầu tư giáo dục cao hơn ở các trường cấp thấp. Sự khan hiếm nguồn nhân lực ở các nước có mức thu nhập thấp đã cung cấp một chi phí đáng kể để đầu tư vào giáo dục. Lợi nhuận cao về giáo dục tiểu học đưa ra một minh chứng đúng đắn cho việc thực hiện giáo dục là ưu tiên hàng đầu ở các nước đang phát triển. Qua thời gian, bình quân, tỉ lệ lợi nhuận để giáo dục đã giảm. Sự suy giảm này trùng với sự gia tăng đáng kể trong số năm học trung bình cho toàn bộ dân số. Trong 12 năm qua, lợi nhuận vào học trung bình đã giảm 0,6 tỷ lệ phần trăm (Psacharopoulos và Patrinos 2004). Đồng thời, các cấp giáo dục trung bình đã tăng lên. Do đó, theo lý thuyết, mọi thứ trở nên tương tự nhau, sự gia tăng trong việc cung cấp giáo dục đã dẫn đến sự giảm nhẹ trong lợi nhuận việc giáo dục. Đó là, nếu như không có những cú sốc chẳng hạn như những thay đổi trong công nghệ làm tăng nhu cầu cho việc học, sau đó tăng mức giáo dục trên tổng thể dẫn đến việc giảm lợi nhuận trong giáo dục. Trong những thập kỷ gần đây, chúng ta đã thấy sự trở lại việc giáo dục suy giảm ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp, trong khi các cuộc cách mạng công nghệ đã tăng nhu cầu lao động có tay nghề cao ở một số nước phát triển và lợi nhuận cho giáo dục đã tăng lên. Giữa những biến động, đã có xu hướng giảm dần trong lợi nhuận cho giáo dục từ những năm 1980. Tỷ lệ dân số có giáo dục trung học trở lên đã tăng đáng kể trong nhiều thập kỷ trong khi tỷ lệ dân số có chỉ có trình độ tiểu học đã bị từ chối. Điều này có nghĩa là giáo dục tiểu học đã trở thành gần như phổ biến; do đó lợi nhuận cho giáo dục tiểu học đã bị giảm rất nhiều qua thời gian. Đối với giáo dục trung học, cả tỷ lệ lợi nhuận và tỷ lệ dân số đã tăng với nhau cho đến những năm 1980 khi tỷ lệ dân số giáo dục trung học dường như tỷ lệ nghịch với tỷ lệ lợi suất cá nhân về giáo dục trung học. Ước tính như thế này đã được sử dụng rộng rãi trong các diễn đàn về chính sách để lập luận rằng cần đầu tư vào giáo dục nhiều hơn, đặc biệt là giáo dục cơ sở. Ví dụ, trong các chiến dịch Giáo dục cho Mọi người, nhà phân tích đã sử dụng các tỷ suất lợi nhuận như một lời kêu gọi hành động. Trong khi giáo dục được nhiều người coi là một quyền con người cơ bản, những lý luận kinh tế được coi là thiết yếu cho giải phóng các nguồn lực quốc gia để đầu tư vào các trường học và các trường đại học. Trong năm 2002 Báo cáo Giám sát Giáo dục Toàn cầu cũng thể hiện rằng ước tính có sẵn của tỷ suất lợi nhuận đối với các nước đang phát triển liên tục cho thấy cả lợi nhuận tư nhân và xã hội để giáo dục tiểu học cao hơn ở cấp trung học và đại học. Độ lớn của nó nói chung lớn hơn lợi nhuận thông thường để vốn trong các ngành kinh tế khác (UNESCO 2002: 34). Chiến dịch toàn cầu vì Giáo dục (2005: 3) lập luận rằng: giáo dục, đặc biệt là cho trẻ em gái, trao quyền cho các gia đình để phá vỡ chu kỳ của đói nghèo cho tốt. Phụ nữ trẻ với một nền giáo dục tiểu học là gấp đôi để giữ an toàn khỏi bệnh AIDS, và thu nhập của họ sẽ cao hơn 1020 phần trăm cho mỗi năm đi học đã hoàn thành. Bằng chứng thu thập được hơn 30 năm cho thấy giáo dục phụ nữ là thứ vũ khí mạnh nhất chống lại suy dinh dưỡng hiệu quả hơn cả việc cải thiện thực phẩm bổ sung. Không có giáo dục tiểu học, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ khác dừng AIDS, giảm một nửa số người sống trong nghèo đói, kết thúc nạn đói không cần thiết và con chết, giữa những người khác sẽ không thể đạt được . 3. Giới hạn áp dụng phân tích chi phí – lợi ích để hướng dẫn Đầu tư công cộng Trong khi thuyết phục để tuyên truyền vận động trên toàn quốc gia và thậm chí trên toàn cầu, tỷ lệ ước tính lợi nhuận đã được chứng minh là kém hữu dụng như hướng dẫn cho việc thiết lập ưu tiên chi tiêu của chính phủ ở cấp độ tổng thể. Ví dụ, Đánh giá chi tiêu công của World Bank (PERS) đã thực hiện: Để hỗ trợ người vay trong việc tìm hiểu các vấn đề phát triển và các giải pháp tiềm năng cũng như giúp làm sáng tỏ chiến lược hỗ trợ quốc gia của Ngân hàng Thế giới. Do đó một trong những yếu tố chính góp phần vào sự thành công của các chương trình cho vay quốc gia theo sau là chất lượng phân tích được thực hiện trong PER. Trong một nỗ lực để cải thiện việc đối xử trong Pers về vấn đề phát triển con người nói chung, và vấn đề của ngành giáo dục nói riêng, Mạng Phát triển Con người của Ngân hàng Thế giới đã xây dựng Hướng dẫn cho việc phân tích chi tiêu công trong các lĩnh vực phát triển con người. (http:go.worldbank.org6837YTCIR0) Khi nhìn vào các ghi chú hướng dẫn cho giáo dục, bao gồm cả phần trợ giúp có gắn nhãn đầy đủ, Tóm lại: Bao nhiêu là đủ? Có phải là chi tiêu công cộng thích đáng và bền vững? Không có đề cập về CBA. Ở cấp độ vi mô, các bản ghi vào lúc tốt nhất vẫn sẽ bị trỗn lẫn. Phân tích chi phí lợi ích ban đầu được phát triển để định hướng cho đầu tư công, đặc biệt là cơ sở hạ tầng, được đóng gói như là dự án cá nhân mà nó đã được xác định rõ mục tiêu và giới hạn thời gian. Trong khi rất nhiều chi phí định kỳ của giáo dục đi theo hướng tiền lương, nhiều vốn cho đầu tư công, trong đó có sự tài trợ của các nhà tài trợ quốc tế, là tổ chức theo dự án. CBA đã được sử dụng để biện minh cho các dự án này? Câu trả lời ngắn gọn là không thực sự. Ngân hàng Thế giới, là nhà đầu tư hàng đầu thế giới trong các dự án như vậy, cho thấy rằng trong hầu hết các lý giải kinh tế, chỉ có 39% đã được đánh giá là tốt, và hơn 35% đã được đánh giá là chấp nhận được ; 26% còn lại được đánh giá cận biên. Chỉ có 39% có sử dụng phân tích chi phí lợi ích tốt. Vì thế, tại sao CBA dù đã được vận dụng một cách tự nhiên phù hợp với định hướng đầu tư giáo dục, không được sử dụng để thông báo các lựa chọn. Lý do chính là, trong khi nó đã được đơn giản hóa để đạt được ước tính về lợi nhuận giáo dục cá nhân, các ước tính đáng tin cậy về các phúc lợi xã hội, đó là cần thiết để phân tích đầu tư công, vẫn khó nắm bắt. Thật vậy, cho đến gần đây, các dự án giáo dục ở các nước đang phát triển đã miễn trừ phân tích chi phí lợi ích, vì lợi ích của dự án đó là xã hội và được coi là vốn không đo lường được. Chính sách hoạt động của Ngân hàng thế giới một phần của thủ tục và chính sách xác định các hoạt động cho vay và giám sát của Ngân hàng Thế giới cho các khoản tín dụng của Ngân hàng Thế giới 10.04, Đánh giá kinh tế của các hoạt động đầu tư (41994), nói rằng nếu dự án được kỳ vọng sẽ tạo ra những lợi ích mà không thể được đo bằng tiền tệ, phân tích (a) định nghĩa rõ ràng và biện chứng cho các mục tiêu dự án, rà soát các chương trình chuyên ngành rộng lớn hay nền kinh tế để đảm bảo rằng các mục tiêu đã được lựa chọn một cách thích hợp, và (b) cho thấy, dự án đại diện cho phương pháp sử dụng chi phí ít nhất mà vẫn đạt được các mục tiêu đã nêu. Bên cạnh đó một thiếu sót trong phân tích lợi ích chi phí chính thức trong các dự án giáo dục, sự miễn trừ này cũng có nghĩa rằng các dự án giáo dục đã không xác định kết quả; nó cũng là chuyện rất hiếm để tìm thấy bất kỳ chi phí đơn vị hoặc phân tích định lượng về lựa chọn thay thế. Nó cũng khiến một số nhà kinh tế cân nhắc các lĩnh vực như mềm dẻo và ngần ngại giữa một số bộ trưởng tài chính để vay vốn cho giáo dục. Trong khi chúng tôi sẽ đồng ý rằng các lợi ích thật sự rất khó để đo lường, nó vẫn có thể để đo lường chúng. Ngoài việc không có khả năng để đạt được các ước tính đáng tin cậy và mạnh mẽ của các phúc lợi xã hội, hai ràng buộc quan trọng khác đã ngăn chặn CBA trở thành một công cụ thực sự thiết thực trong công việc ra quyết định. Một là thiếu sót của CBA trong kế toán cho Tính năng đa dạng về các kết quả của các khoản đầu tư giáo dục vượt quá một năm chi tiêu trong trường. Và một điều khác là thiếu bằng chứng trong việc gán kết quả cho đầu tư. Chúng tôi thảo luận về sự cần thiết phải tiến bộ hơn để được thực hiện trong nghiên cứu trong các lĩnh vực này. Ước tính phúc lợi xã hội Bắt quyền đối chứng, CBA giả định rằng khu vực công là các nhà tài chính duy nhất và nhà cung cấp cho giáo dục. Việc thay thế cho đầu tư công thường được giả định là không có giáo dục ở tất cả. Vì vậy, chi phí của dự án chỉ đơn giản là chi phí của các khoản đầu tư thay thế cho giáo dục (và chi phí huy động vốn công cộng, mặc dù thường bị xem như bỏ qua xem Devarajan, Squire và SuthiwartNarueput 1997). Giả định đơn giản này dẫn đến các vấn đề trong phân tích và có thể dẫn đến một đánh giá cao của lợi nhuận để đầu tư. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ngoài giáo dục cơ sở, khu vực công không còn là độc quyền. Điều này mang hàm ý gì cho CBA? Ít nhất, giả thiết ngược cần có những ảnh hưởng đến tài khoản tư nhân . Khi có một khu vực tư nhân đang hoạt động, sự mở rộng của các trường công lập chỉ có thể thu hút các học sinh ra khỏi trường tư thục. Ví dụ, ở Philippines, từ 13 số học sinh trung học ở các phần khu vực công đã chuyển thành 23 số học sinh. Một nghiên cứu gần đây ước tính rằng một dự án để mở rộng các trường trung học công lập sẽ dẫn đến sự gia tăng trong tuyển sinh là ít hơn 40 50% so với mong đợi vì các hiệu ứng thay thế đi từ các trường tư (Jimenez và Sawada 2001). Hiện tượng này đã lan rộng đến các trường tiểu học (xem Bảng 1). Tại Pakistan, trường học tư nhân ở cấp tiểu học hiện nay chiếm 30% của tổng số học sinh (Andrabi và cộng sự , 2007). Tại Ấn Độ, gần 20% học sinh nông thôn được ghi danh vào các trường tư nhân, và gần 30 % là trong các trường học tư nhân tại khu vực đô thị (Kingdon 2007). CBA cũng cần phải ước tính phúc lợi xã hội và chi phí để nội hóa ngoài tác, phân phối lại và hiệu chỉnh cho những thất bại thị trường khác. Nội hóa ngoại tác: Những lợi ích của giáo dục có thể dành cho những người khác ngoài cá nhân học sinh. Vì thế, lợi ích thực sự từ một năm giáo dục không thể định đoạt bởi sự khác biệt về kết quả thu nhập của năm đó. Theo ví dụ của Lucas (1988), sự nâng cao học tập của một công nhân hoặc hiệu quả của chính công nhân đó cũng như của các đồng nghiệp, từ đó làm tăng các yếu tố ngoại cổ điển hay hiệu ứng lan tỏa. Mức độ chung của giáo dục trong lực lượng lao động cũng mở rộng khả năng sản xuất, bằng việc phát hiện, thích ứng và sử dụng hiệu quả hơn về kinh tế, mặc dù công nghệ được đòi hỏi nhiều hơn trong quy trình sản xuất và kiến thức chuyên sâu hơn. Bên cạnh tác động trực tiếp đến sản xuất kinh tế, giáo dục có thể mang lại những năng suất khác, lợi ích cộng đồng. Những hiệu ứng phi thị trường bao gồm các đóng góp có thể của giáo dục để cải thiện công bằng xã hội, tăng cường sự gắn kết quốc gia, giảm căng thẳng môi trường thông qua tác động của nó đối với khả năng sinh sản và tăng trưởng dân số, giảm tỷ lệ tội phạm… (xem Bảng 2 cho một phần danh sách). Một số nghiên cứu đã thành công trong việc xác định các yếu tố ngoại tích cực, và đã định lượng chúng (xem Weisbrod 1964; Haveman và Wolfe 1984; Wolfe và Zuvekas 1997). Nếu có thể bao gồm các yếu tố ngoại ước tính điển hình, sau đó giá của xã hội trở lại cũng có thể là cao hơn tỷ lệ lợi nhuận trên tin giáo dục, có lẽ nhiều hơn gấp đôi (Haveman và Wolfe 1984; Wolfe và Zuvekas 1997). Rauch (1993) cho thấy lợi ích xã hội cao hơn (ở mức 8,1 phần trăm), so với lợi ích tư nhân (4,8 phần trăm), bằng cách so sánh trình độ học vấn của người lao động và tăng trình độ học vấn trung bình đạt được ở Hoa Kỳ khu vực thống kê đồ thị. Acemoglu và Angrist (2000) cũng cho rằng lợi xã hội cao hơn (9,1 phần trăm so với 7,4 phần trăm) cho giáo dục cá nhân, trẻ em bắt buộc đến trường và pháp luật lao động trẻ em tại các tiểu bang có nền giáo dục trung bình (xem thêm Moretti 2002). Bảng 2: Phi thị trường và lợi ích bên ngoài của Giáo dục. Lợi ích Phát hiện Giáo dục trẻ em Giáo dục của cha mẹ ảnh hưởng đến trình độ và thành tích học tập của con cái Sức khoẻ trẻ em Sức khỏe trẻ em liên quan tích cực đến giáo dục của cha mẹ Khả năng sinh sản Giáo dục của mẹ làm giảm sinh con gái Sức khoẻ Giáo dục nhiều hơn làm tăng tuổi thọ Sức khoẻ vợ chồng Trường lớp cải thiện sức khỏe của vợ hoặc chồng và làm giảm tỷ lệ tử vong Hiệu quả tìm kiếm công việc Trường lớp làm giảm chi phí tìm kiếm, tăng tính di động Quy mô gia đình mong muốn Trường lớp cải thiện hiệu quả tránh thai Sự thay đổi công nghệ Sự giáo dục của nhà trường giúp nâng cao khả năng nghiên cứu và phát triển Gắn kết xã hội Giáo dục làm tăng sự tín nhiệm và giảm đi sự tha hoá Tội phạm Giáo dục làm giảm hành vi vi phạm pháp luật Nguồn: Chuyển thể từ Wolfe và Zuvekas (1997) Các yếu tố ngoại tác có thể được tạo ra ở tất cả các cấp giáo dục, nhưng tính chất của nó có thể khác nhau, ngụ ý các cấp độ khác nhau của các khoản trợ cấp. Nhiều nhà phân tích đều đồng ý rằng mức độ giáo dục thấp sinh các yếu tố ngoại tác nhiều hơn mức giáo dục cao. Khả năng đọc, viết và kiến thức khác được truyền đạt ở mức độ học vấn thấp thường được xem như là một phương tiện hiệu quả để đạt được bản sắc và gắn bó giữa các dân tộc. Thật không may, có rất ít bằng chứng thực nghiệm về tầm quan trọng của ngoại tác giữa các cấp giáo dục, mặc dù có một số kết quả hấp dẫn mới. Sự tăng trung bình mỗi năm các trường tiểu học của những người nông dân kết hợp với 4.3 phần trăm sự gia tăng về sản lượng, so với 2,8 phần trăm ảnh hưởng của giáo dục tiểu học ở Uganda (Appleton 2000). Một nghiên cứu khác cho thấy rằng giáo dục tiểu học ở khu vực nông thôn làm tăng năng suất bằng 56 phần trăm, trong khi nền giáo dục tiểu học thông thường chỉ làm tăng năng suất bằng 2 phần trăm trong Ethiopia (Appleton 2000); Tuy nhiên, con số 56 phần trăm có vẻ khá cao. Nhìn chung, kết quả là không thuyết phục. Ở Ấn Độ, các nhà nghiên cứu đã tranh luận rằng, vì lợi ích của các thành viên của một hộ gia đình xuất phát từ việc chỉ cần một người biết chữ và có thể đọc và viết, tỷ lệ thực biết chữ bị đánh giá thấp (Basu và Foster 1998). Không có thông tin về tầm quan trọng của các yếu tố bên ngoài có thể dẫn đến không đi đến kết luận của việc phân tích chính sách. Ví dụ, vì các lý do trong đo lường, nhiều nhất là tỷ lệ của các tính toán lợi nhuận các ước lượng tỷ lệ lợi ích xã hội thấp hơn so với lợi ích tư nhân: Lợi ích xã hội và tư nhân được giả định là giống nhau bởi vì trước đây hầu như không thể ước tính; và trong khi các chi phí cá nhân chỉ bao gồm các chi phí cơ hội của trẻ em, các chi phí xã hội được cho là bao gồm các chi phí là tốt cho chính phủ. Tại mệnh giá, điều này sẽ bao hàm sự giáo dục tư nhân, trong thực tế, không cần phải được trợ cấp ở tất cả các mặt. Các dự án trước bất kỳ cách nào với kinh phí công cộng có thể được kết luận là những chính sách đúng đắn. Tuy nhiên, rõ ràng quyết định không phát sinh từ việc phân tích định lượng. Ước tính mục tiêu phân phối. Phân phối lại thu nhập và giảm nghèo bởi những lợi ích xã hội được chấp nhận hiện nay (xem Ngân hàng Thế giới 2006). Bởi vì, các nước đang phát triển rất khó khăn trong việc sử dụng các loại thuế và các khoản thu khác để phân phối lại thu nhập, xã hội buộc phải sử dụng chi tiêu để làm như vậy. Đầu tư vào giáo dục có thể là một công cụ quan trọng bởi vì nó không chỉ tái phân phối thu nhập hiện tại, nó còn phân bố lại cơ hội để tạo ra thu nhập trong dài hạn. Thật khó để có thể nắm bắt được các mục tiêu phân phối lại trong phân tích chi phílợi ích tiêu chuẩn. Các lý thuyết về việc làm thế nào để đạt được mục tiêu như vậy đã được thành lập trong nhiều năm. Nghiên cứu tiên phong của Squire và Tak (1975) đã nêu được làm thế nào các tỷ lệ tiêu chuẩn của công thức trả về có thể được điều chỉnh với tỉ trọng phân phối thích hợp để đi lên với mức độ đúng. Tuy nhiên, trong thực tế, khó để xác định tỉ trọng này. Phân tích gần đây về tỷ lệ chi tiêu công cộng cho thấy mức độ chênh lệch xã hội từ lợi ích cá nhân sẽ thay đổi tùy theo trình độ học vấn. Trong thực tế, một trong những mất mát khi phân phối lại vào tài khoản, các lợi ích xã hội của giáo dục tiểu học sẽ được tăng lên tương đối so với các cấp độ khác của giáo dục. Điểm này được minh họa trong Bảng 3 cho thấy rằng 5 nhóm nước nghèo nhất không được hưởng lợi từ các khoản trợ cấp nào cho giáo dục đại học. Bảng 3: Tỷ lệ trợ cấp công nhận ở các nhóm nghèo nhất bởi Trình độ học vấn Tiểu học Trung học Đại học Colombia, 1992 39 21 5 Kenya, 199293 22 7 2 Ghana, 199192 22 15 6 Mexico, 1996 30 19a 1 Morocco, 19989 17 4 2 a :Đối với giáo dục trung học cơ sở; cho giáo dục phổ thông, tỷ lệ này là 5% Nguồn: Filmer 2003 Sửa chữa cho thất bại thị trường. Một lý do khác mà chênh lệch tiền lương không nắm bắt được lợi nhuận thực của giáo dục là vì thị trường lao động không hoàn hảo. Ví dụ, các tài liệu kiểm tra cho rằng ước tính các khoản tăng thu nhập có thể đánh giá quá cao giá trị của giáo dục vì những lợi ích này không nhất thiết phải do năng suất tăng thêm của các sinh viên trẻ nhưng vì thị trường lao động được phân loại học vấn dựa theo trình độ tay nghề thấp hay cao. Như thế, việc sửa chữa các thông tin sai lệch có thể là một sự đầu tư tốt hơn so với việc chi thường xuyên nguồn vốn lớn cần thiết để mở rộng hệ thống trường học. Điều này sẽ đưa đến tranh luận là đường cong lợi ích xã hội thì thấp hơn so với tư nhân được mô tả trong hình 2. Tuy nhiên, chúng ta biết không có nghiên cứu nào ở các nước đang phát triển có thể cung cấp bằng chứng về điều này. Giải thích đa dạng kết quả giáo dục Hầu hết các dự án giáo dục không chỉ nhằm mục đích mở rộng số năm giáo dục, các kết quả chỉ được sử dụng trong hầu hết các phân tích chi phílợi ích (CBA). Như đã nêu trước đó, nhiều quốc gia có những tiến bộ đặc biệt trong mục tiêu tiếp cận với giáo dục tiểu học. Như dự án mở rộng mục tiêu của họ bao gồm các cải tiến về chất lượng và cải tiến nhiều hơn nữa về hiệu quả quản lý, CBA đo lường sự hoàn trả ở một năm tại trường là không còn phù hợp. Kỹ thuật hiện nay đang thiếu trang bị để đấu tranh với một tập hợp đa dạng hơn về kết quả dự án. Trong đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ có 64 phần trăm trong tất cả các tài liệu thẩm định dự án bao gồm việc cung cấp để thử nghiệm cho kết quả học tập được đánh giá tốt. Hai đánh giá khác (9 phần trăm) là chấp nhận được. Sáu dự án (27 phần trăm) được đánh giá là chỉ ở mức biên của sơ đồ thử nghiệm kết quả học tập. (Một dự án được tài trợ chỉ hỗ trợ kỹ thuật và nghiên cứu đã không được áp dụng). Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để ước tính tỉ suất lợi nhuận, không phải để làm một đứa trẻ khác đến trường thêm một năm, nhưng để trẻ có thể học hỏi nhiều hơn sẽ có cách khác. Các tài liệu về những gì ảnh hưởng đến kết quả học tập đã tồn tại nhiều khó khăn. Vai trò của việc cải thiện việc học, một phần trung tâm của hầu hết các chiến lược phát triển, đã trở thành tranh cãi vì sự nâng cao trình độ học vấn chưa đảm bảo điều kiện kinh tế được cải thiện. Dấu hiệu chỉ mới bắt đầu được thu thập. Hanushek và Woessmann (2007) xem xét lại vai trò của giáo dục trong việc thúc đẩy kinh tế phúc lợi, tập trung vào vai trò của chất lượng giáo dục. Họ kết luận rằng có bằng chứng chứng minh rằng các kỹ năng nhận thức của người dân đúng hơn trình độ học vấn liên quan đến thu nhập cá nhân, với sự phân bố của thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Kết quả thực nghiệm mới cho thấy tầm quan trọng của cả kỹ năng tối thiểu và kỹ năng cấp cao, sự bổ trợ của các kỹ năng và chất lượng của các tổ chức kinh tế, và sự vững mạnh của các mối quan hệ giữa kỹ năng và tăng trưởng. So sánh quốc tế kết hợp mở rộng dữ liệu về kỹ năng nhận thức thể hiện sự thâm hụt kỹ năng lớn hơn nhiều so với ở các nước đang phát triển nói chung bắt nguồn từ việc đạt được kết quả thông qua tuyển sinh. Độ lớn của sự thay đổi cần thiết làm rõ rằng việc thu hẹp khoảng cách kinh tế với các nước công nghiệp đòi hỏi thay đổi cơ cấu chính trong tổ chức giáo dục ở nhà trường. Glewwe và Kremer (2006) lập luận rằng các trường ở các nước đang phát triển phải đối mặt với những thách thức đáng kể. Chúng bao gồm các biến dạng trong ngân sách giáo dục thường dẫn đến phân bổ không hiệu quả quỹ chi tiêu; khuyến khích giáo viên yếu dẫn đến các vấn đề như tỷ lệ giáo viên vắng mặt cao; và giáo trình thường tập trung quá nhiều vào các sinh viên giỏi và cũng không kết hợp với các sinh viên tiêu biểu, đặc biệt là sự xem xét các mức tỷ lệ vắng mặt của giáo viên và sinh viên cao. Sáng kiến cải cách của nhiều trường đã được đề xuất, từ các chương trình được thiết kế để tăng cường liên kết giữa lương giáo viên và sự thực hiện, để cải cách phân cấp quản lý ngân sách, chứng từ và các chương trình để lựa chọn trường. Mặc dù các bằng chứng là khan hiếm về các chương trình khuyến khích giáo viên ở các nước đang phát triển, kết quả từ Israel cho rằng biện pháp khích lệ giáo viên tích cực cho thấy ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh (và chủ yếu dành cho học sinh yếu hơn). Kết quả từ Kenya cho thấy rằng việc khuyến khích sự tăng cường nỗ lực của giáo viên về kết quả ngắn hạn (điểm thi) nhưng không có hứng thú học tập trong dài hạn (thông qua những thay đổi về mặt giáo viên, tỷ lệ bỏ học của học sinh, hoặc phương pháp sư phạm) (Glewwe, Ilias và Kremer 2003). Chương trình phân cấp xuất hiện đầy hứa hẹn, nhưng kết quả của chính sách phân cấp xuất hiện là phụ thuộc nhiều vào các chi tiết của việc thực hiện. Cuối cùng, một chương trình lựa chọn trường học ở Colombia mang lại lợi ích to lớn đối với người tham gia (Angrist et al 2002; Angrist, Bettinger và Kremer 2006), nhưng bằng chứng từ các chương trình chứng thư tại Chile (Hsieh và Urquiola 2006) và các nước phát triển cho thấy rằng cần thêm nghiên cứu để đánh giá khả năng khái quát của tác động chương trình như vậy. Kết quả Có nhiều dự án tìm cách để mở rộng hệ thống giâó dục của một quốc gia. Một vấn đề được cho là kết quả của nhiều sự thay đổi tới dự án, trái với một số nhân tố khác có thể dẫn tới việc tuyển sinh. Điều này có thể đúng với một số nguyên tắc cơ bản được sửa chữa bởi việc mong chờ so sánh kết quả giáo dục ở một trang dự án với những địa điểm không có trong dự án. Tuy nhiên, có thể cho rằng vấn đề dân số trong trang dự án không hoàn toàn có thể so sánh được với những thứ nằm ngoài dự án. Cơ quan giáo dục, ví dụ, có thể nhắm tới các vùng khó khăn và điều này có thể dẫn đến việc các dự án bị đánh giá thấp bởi việc mong chờ thành tựu từ khu vực dự án có thể thấp hơn do đặc điểm của người dân nơi đây. Vấn đề …. Có thể được ghi nhận khi đánh giá tác động của dự án trước đó thích hợp để sử dụng đánh giá tiềm năng. Đây vẫn là công việc đang tiến triển. Tại Ngân hàng Thế Giới, ví dụ, chỉ có 26 phần trăm của các dự án giáo dục được phê duyệt trong năm tài chính 2006 bao gồm bằng chứng từ, hoặc một kế hoạch, đánh giá tác động. Đánh giá tác động của dự án và các chương trình cung cấp thông tin quan trọng cho các quyết định của các nhà sản xuất trong việc xác định làm thế nào để ưu tiên và can thiệp vào các quĩ (cook 2003, barrow and rouse 2005). Đôi khi chi phí bổ sung thực hiện một đánh giá tác động triệt để thực sự là khá nhỏ. Khi dự án này hướng tới kết quả và yêu cầu dữ liệu cơ bản, một bộ sưu tập ban đầu được thiết kế thông minh của dữ liệu có thể xác định có hay không một đánh giá tác động sẽ khả thi đôi khi không có bất kỳ thu thập số liệu bổ sung. Chi phí chính của một nghiên cứu phân ngẫu nhiên là chi phí của việc thu thập dữ liệu, và các chi phí của việc thu thập dữ liệu cho một nghiên cứu được chỉ xấu cao như thu thập dữ liệu cho một trong những tốt (Angrist 2004). Các nhà phê bình đôi khi cho rằng đánh giá tác động chỉ cho chúng ta biết một cái gì đó có tác động mà không nói với chúng tôi lý do tại sao và làm thế nào. Nhưng một đánh giá tác động tốt có thể cung cấp bằng chứng đáng tin cậy về kết quả đạt được khi nó đồng thời thu thập thông tin về quá trình và kết quả trung gian. Đánh giá tác động không phải là một thay thế cho các lý thuyết, mô hình, đánh giá nhu cầu, và giám sát, tất cả trong số đó là cần thiết để bổ sung cho việc phân tích các tác động. Tuy nhiên, nó cũng đúng mà kiến thức thu được từ đánh giá tác động là một bổ sung cần thiết cho các loại khác của các phân tích (Savedoff và những người khác 2005). Trong khi những nhà hoạch định chính sách đang rất quan tâm đến những ảnh hưởng tiềm tàng của các rào cản chính sách đối với các thành tựu của học sinh, thì các nghiên cứu gần đây chỉ đưa ra một sự chỉ dẫn hạn hẹp. Thậm chí ngay cả những nghiên cứu đáng tin cậy nhất cũng tồn tại những vấn đề, trong đó vấn đề quan trọng nhất bị bỏ sót chính là có nhiều mâu thuẫn giữa nhà trường và giáo viên, giữa trẻ nhỏ và gia đình liên quan đến nhà trường và giáo viên, và những sai lệch trong tài liệu về giáo viên và trường học. Điều này đã thu hút nhiều sự chú ý lên các nghiên cứu tự nhiên và phép thử ngẫu nhiên trong thời gian gấn đây. Bằng chứng từ các thí nghiệm tự nhiên gần đây ở các nước thu nhập trung bình cho thấy rằng tăng nguồn lực học (được đo bằng tỷ lệ học sinh giáo viên) nâng cao thành tích học tập về các bài kiểm tra đọc (nhưng không kiểm tra toán) giữa các sinh viên da đen ở Nam Phi (Case và Deaton 1999). Trường hợp và Deaton (1999) đã kiểm tra kết quả giáo dục ở Nam Phi, sử dụng dữ liệu thu thập vào năm 1993, khi chính phủ tài trợ cho các trường học đã tập trung cao độ và người da đen gần như không có đại diện chính trị của bất cứ loại nào. Các tác giả cho rằng người da đen đã không kiểm soát được ngân được cung cấp cho các trường học của con em mình và rằng việc kiểm soát di cư chặt chẽ hạn chế khả năng của họ để di chuyển đến các khu vực có trường học tốt hơn. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của Israel chỉ ra rằng việc giảm quy mô lớp học nâng điểm số và đọc (ít thường xuyên hơn) điểm toán (Angrist và Lavy 1999) và cung cấp các máy tính không có ảnh hưởng trên kết quả học tập (Angrist và Lavy 2002). Thử nghiệm ngẫu nhiên đưa ra các bằng chứng từ một số nước đang phát triển tương đối ổn định. Tại Nicaragua, sách bài tập và hướng dẫn phát thanh có tác động đáng kể đến điểm 23 môn toán của các em học sinh, và những tác động của giáo dục phát thanh đặc biệt cao (Jamison et al.1981). cung cấp các sách giáo khoa nâng thành tích các bài kiểm tra ở Philippines (Ta, Lane và Coustere 1997) nhưng ở Kenya tác động duy nhất của sách giáo khoa nằm trong số những học sinh tốt (có thể vì các sách giáo khóa quá khó đối với nhiều sinh viên) (Glewwe, Kremer và Moulin 2006) Bằng chứng từ Kenya cũng cho thấy được ảnh hưởng rất ít về điểm thi của việc giảm qui mô lớp học (Glewwe, Kremer và Moulin 2006), flip charts ( Glewwe at al. 2004) và thuốc tẩy giun ( Miguel và Kremer 2004), mặc dù thức ăn tại trường được tìm thấy là có tác động tích cực đến các bài kiểm tra miễn là giáo viên được đào tạo tốt (Vermeersch và Kremer 2004). Một chương trình khắc phục giáo dục tại thành phố Ấn Độ, tập trung nhiều vào việc cải thiện môi trường học tập ở các trường công, dường như điểm thi đã tăng ở một chi phí thấp ( Banerjee et al. 2000). Trong khi những thí nghiệm tự nhiên và thử nghiệm ngẫu nhiên được bắt đầu xây dựng một cơ sở dữ liệu của kết quả đó là ít có khả năng bị các vấn đề ước lượng rằng bệnh dịch hạch nghiên cứu hồi cứu, một tập hợp lớn hơn nhiều của kết quả là cần thiết trước khi chúng có thể được sử dụng trong CBA và kết luận nói chung có thể được rút ra cho hoạch định chính sách. Nhưng thậm chí, một số kết quả rất rõ ràng. Một cách giải thích các kết quả là, trong nhiều nước đang phát triển, các phương tiện hiệu quả nhất để cải thiện chất lượng trường có thể là thông qua giải quyết các vấn đề giảng dạy yếu. Các chương trình khắc phục hậu quả giáo dục ở thành thị Ấn Độ, chương trình toán học phát thanh tại Nicaragua, và các chương trình hướng dẫn máy tính ở Ấn Độ tất cả các yếu tố đầu vào được cung cấp mà giải quyết vấn đề của yếu tố giảng dạy, trong khi các chương trình mà cung cấp đầu vào mà là phụ thuộc vào việc sử dụng bởi các giáo viên mình (chẳng hạn như các tờ gấp và, ở một mức độ nào đó, chương trình sách giáo khoa tại Kenya) là ít có hiệu lực 4. Phân tích chi phí lợi ích có thể vẫn là một hướng dẫn hữu ích cho chính sách giáo dục Với những khó khăn của việc tính toán giá xã hội trở lại trong giáo dục, người ta có thể được cám dỗ để tránh phân tích chi phílợi ích tất cả cùng nhau. Trong thực tế, như đã nói trước đó, một số cơ quan đã làm chính xác điều đó, bởi miễn các dự án giáo dục, nói, từ trải qua CBA, mà dự án hạ tầng đi qua. Đối số chỉ đơn giản là việc đầu tư giáo dục đáng để làm vì lý do phi kinh tế và trong trường hợp đó, các nhà phân tích chính sách chỉ cần đảm bảo mà nó được cung cấp ít nhất là chi phí. Nếu CBA được hiểu là tỷ lệ hoàn vốn hoặc tính toán NPV, sau đó, chúng tôi tinrằng, vì những lý do nêu trên, nó sẽ tiếp tục có tính ứng dụng hạn chế trong thế giới thực thiết lập chính sách cho giáo dục. Các nghiên cứu thực nghiệm cho đến nay chỉ đơn giản là quá hạn chế cho các nhà phân tích để ước lượng mạnh mẽ của các lợi ích xã hội. Tuy nhiên, nếu CBA được xác định rõ ràng như một bài tập tính toán cho một con số, chẳng hạn như một IRR hay NPV đó là đường đi hay không đi tiêu chí quyết định, và nhiều hơn nữa như là một lập luận chặt chẽ rằng những lợi ích của một khoản đầu tư lớn hơn chi phí, thậm chí nếu không phải tất cả của họ được định lượng, sau đó họ có thể cải thiện chính sách. Phân tích này sẽ là cần thiết để thuyết phục các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là các bộ phận quan trọng trong kinh tế như: tài chính, ngân sách hay lập kế hoạch, phân bổ ngân sách cho giáo dục, đặc biệt là các nước đang phát triển thực hiện các quyết định quan trọng đó cũng đi ra, ngoài việc mở rộng giáo dục tiểu học, nơi mà các lợi ích xã hội không ai tranh luận. Hầu như tất cả các quốc gia công nhận sự cần thiết để cung cấp giáo dục cơ bản cho tất cả như một điều kiện thiết yếu của chủ quyền quốc gia. Nhưng sự thỏa hiệp trở nên rõ ràng hơn khi các quốc gia quyết định bao nhiêu để đầu tư vào việc cải thiện những gì diễn ra trong trường học, trong việc mở rộng tiếp cận với các tổ chức cấp trung học và thậm chí cả đại học, và trong việc hợp lý chương trình giáo dục kỹ thuật và dạy nghề với một học thuật. Trong những quyết định này, CBA, thậm chí nếu nó không tạo ra các IRR cổ điển, là rất quan trọng trong việc thông tin những lựa chọn khó khăn các nhà hoạch định chính sách cần phải thực hiện. Nghiên cứu cho thấy rằng việc phân tích kinh tế dự án tốt, bao gồm phân tích chi phílợi ích, là gắn liền với kết quả dự án tốt hơn. Trong thực tế, chất lượng của các phân tích chi phílợi ích được kết hợp với chất lượng cao hơn các kết quả dự án. Xác suất ít hơn thỏa đáng kết quả dự án được đưa ra một đánh giá phân tích kinh tế nghèo nàn ở giai đoạn thiết kế là cao hơn bốn lần hơn so với một dự án với phân tích kinh tế chất lượng tốt (Vawda et al. 2003). Hơn nữa, từ một điểm kinh tế chính trị, chỉ đơn giản cho rằng nó là đáng giá để đầu tư vào giáo dục bởi vì nó là một trách nhiệm xã hội có thể không mang nhiều trọng lượng trong các cuộc thảo luận cứng rắn với tài chính và các Bộ, ngân sách mà phải lựa chọn khó khăn trên tất cả các lĩnh vực. Kết quả này đã khiến các tổ chức tài chính lớn mà nhiều chi tiêu giáo dục trong nước đang phát triển, chẳng hạn như Ngân hàng Thế giới, đánh giá lại các miễn trừ trước đó chống lại CBA và bắt đầu đi nhấn mạnh lại CBA như là một phần của phân tích kinh tế của dự án. Các phân tích kinh tế của một dự án được cho là giúp các dự án lựa chọn và thiết kế đóng góp vào phúc lợi của một quốc gia. Công cụ khác nhau của phân tích kinh tế giúp xác định các tác động kinh tế và tài chính của dự án, bao gồm các tác động về xã hội và các bên liên quan tham gia, cũng như các rủi ro của dự án và tính bền vững (xem Bảng 1) Bảng 1: Một phân tích kinh tế tốt là khi trả lời được các câu hỏi 1. Mục tiêu của dự án là gì? Điều này giúp xác định các công cụ để phân tích. Một mục tiêu được xác định rõ ràng còn giúp xác định các lựa chọn thay thế tốt để các dự án. 2. Điều gì sẽ được tác động của dự án? Câu hỏi này liên quan đến một đối chứng là sự khác biệt giữa tình hình có hoặc không có dự án là rất quan trọng cho việc đánh giá các chi phí gia tăng và lợi ích của dự án. 3. Có bất kỳ lựa chọn thay thế cho dự án? Nếu vậy làm thế nào chi phí và lợi ích sẽ trong các phương thức để đạt được cùng một mục đích so sánh với các dự án trong câu hỏi? 4. Có biện minh kinh tế của từng thành phần riêng biệt: các dự án? 5. Ai được và ai mất nếu dự án được thực hiện? Việc phân tích phải đảm bảo rằng những lợi ích nhất tích lũy cho người nghèo. 6. Các tác động tài chính của dự án là điều gì? 7. Dự án có bền vững về tài chính và những rủi ro liên quan là gì? 8. Có những yếu tố bên ngoài khác? Các tác động môi trường của là gì dự án? Nguồn: Belli 1996 Ngay cả nếu người ta không thể làm một CBA sản xuất một IRR cho toàn bộ dự án, nó thường rất hữu ích để làm các phép tính như vậy trên một tập hợp con của các thành phần dự án mà định lượng là hơn khả thi. Đây là loại CBA, hạn chế mặc dù nó có thể được, vẫn có thể tạo ra rất hữu ích thiết thực hướng dẫn, như trong ví dụ dưới đây Ethiopia. Trong các trường hợp khác, nó có thể được tốt hơn để đơn giản hạn chế bản thân để phân tích chi phíhiệu quả, như trong các ví dụ từ Philippines mà sau các cuộc thảo luận về Ethiopia. CBA trên một thành phần dự án: Ethiopia Chương trình Ngân hàng Thế giới Ethiopia Education Sector Development (ESDP) là đáng chú ý cho sự phức tạp của nó. Các ESDP là một chương trình chi tiêu để tái cơ cấu và mở rộng Hệ thống giáo dục của Ethiopia, nhằm mục đích nâng cao trình độ giáo dục tổng thể trong khi đạt được công bằng xã hội lớn hơn. Mục tiêu lâu dài của nó là để đạt được giáo dục cơ bản học vào năm 2015. Dự án hỗ trợ nó có nhiều thành phần, bao gồm cả việc xây dựng, nâng cấp và đổi mới các trường tiểu học, cải cách chương trình đào tạo, nâng cấp, giáo viên, cung cấp sách ở mức giáo dục cơ bản. Ở cấp trung học, chương trình góp phần vào việc mở rộng cơ sở vật chất các trường trung học, sửa đổi chương trình giảng dạy, nâng cấp giáo viên, và tài liệu giảng dạy và trang thiết bị. Đối với giáo dục và đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, các chương trình hỗ trợ sử dụng lao động và thị trường khảo sát và khuyến khích tư nhân tham gia. Đối với giáo viên đào tạo chương trình góp phần vào việc nâng cấp và mở rộng các cơ sở đào tạo giáo viên, sửa đổi chương trình giảng dạy, giáo dục từ xa, đào tạo giáo viên chủ nhiệm, và thiết lập các tiêu chuẩn quốc gia. Thứ năm, hỗ trợ thành phần trong việc mở rộng các ngành dịch vụ. Cuối cùng, một sự phát triển thể chế thành phần hỗ trợ lập kế hoạch, quản lý tài chính, thực hiện, giám sát và năng lực thẩm định của Bộ Giáo dục. Một CBA toàn diện của một chương trình như vậy sẽ không phải là vấn đề được đưa ra khả thi chỉ ra trong các phần trước đó ước lượng lợi xã hội, những tác động phân phối và ghi công. Hơn nữa, dữ liệu ở Ethiopia là thưa thớt và chất lượng thấp. Phân tích kinh tế của dự án này đã được hướng dẫn bởi những câu hỏi được liệt kê trong bảng 1. Các việc bao gồm phân tích tác động tài chính, phân tích rủi ro về thể chế, phân tích các lựa chọn thay thế, và phân tích nghèo, được hỗ trợ bởi đất nước rộng lớn hơn và hoạt động kinh tế. Một phần quan trọng của công việc cũng bao gồm phân tích chi phílợi ích của một phần của dự án mà có thể dẫn đến lựa chọn thay thế thiết kế khác nhau đã không được thực hiện. Một trong những hoạt động chính là việc xây dựng, nâng cấp, cải tạo các trường tiểu học. Trong thực tế, sẽ có 2.423 trường tiểu học chu kỳ đầu tiên mới được xây dựng trong khoảng cách đi bộ cộng đồng. Các chiến dịch công trình dân dụng lớn đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp của các nhà quy hoạch, các nhà giáo dục, các cộng đồng và các nhà thầu. Mới xây dựng trường tiểu học một mình là một tốn kém tập thể dục (912 triệu Birr Ethiopia hoặc US 325,000,000), chiếm 25 phần trăm của vốn chi tiêu của ESDP. Những trường này sẽ cần phải thích ứng với sinh viên phải học đặt hàng cho dự án để đạt được các chỉ tiêu tuyển sinh đặt trong ESDP. Các trường tiểu học, cải cách chương trình đào tạo, nâng cao giáo viên, cung cấp sách ở mức giáo dục cơ bản. Ở cấp trung học, chương trình góp phần vào việc mở rộng cơ sở vật chất của các trường trung học, cải cách chương trình giảng dạy, nâng cao đội ngũ giáo viên, tài liệc giảng dạy và trang thiết bị. Đối với giáo dục và đào tạo kỹ thuật dạy nghề, chương trình hỗ trợ người lao động và thị trường khảo sát và khuyến khích tư nhân tham gia. Đối với giảng viên tham gia chương trình góp phần vào việc nâng cao và mở rộng cơ sở đào tạo giảng viên, cải cách chương trình giảng dạy, đào tạo trí óc giảng viên, và thiết lập các tiêu chuan quốc gia. Thứ năm, hỗ trợ thành phần trong việc mở rộng các ngành dịch vụ. Cuối cùng, một sự phát triển thể chế thành phần hỗ trợ lập kế hoạch, quản lý tài chính, thực hiện, giám sát và thẩm định năng lực của bộ giáo dục. Một CBA toàn diện của một chương trình như vậy sẽ không phải là vấn đề được đưa ra khả thi, chỉ ra trong các phần trước đó ước lượng lợi ích xã hội, những tác động phân phối và ghi công. Hơn nữa dữ liệu của Ethiopia là thưa thớt và chất lượng thấp. Phân tích kinh tế của dự án này được hướng dẫn bởi danh sách câu rộng lớn và hoạt động kinh tế. Một phần quan trọng của công trình cũng bao gồm phân tích hỏi trong Box 1. Công việc bao gồm phân tích tác động tài chính, phân tích rủi ro về thể chế, phân tích các lựa chọn thay thế, và phân tích nghèo đói, tất cả được hỗ trợ bởi quốc gia chi phí – lợi ích của một phần dự án, cái mà có thể dẫn đến lựa chọn thay thế thiết kế khác nhau không được thực hiện. Một trong những hoạt động chính là xây dựng, nâng cấp và cải tạo trường tiểu học. Trong thực tế, sẽ có 2.423 trường tiểu học mới trong giai đoạn đầu tiên nằm trong phạm vi đi bộ của cộng đồng. Các chiến dịch công trình dân dụng lớn đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp của các nhà quy hoạch, các nhà giáo dục, các cộng đồng và các nhà thầu. Việc xây dựng những trường tiểu học mới một mình là một bài t
Xem thêm

Đọc thêm

THUYẾT TRÌNH CHÍNH SÁCH CỔ TỨC

THUYẾT TRÌNH CHÍNH SÁCH CỔ TỨC

... đầu tư hiệu Phần 2: CHÍNH SÁCH CỔ TỨC Chính sách cổ tức – Khái quát Chính sách cổ tức giải toán phân chia tỷ lệ cổ tức chia cho cổ đông lợi nhuận giữ lại Chính sách cổ tức – Các nhân tố ảnh... chi trả cổ tức - Chi trả cổ tức tiền mặt - Chi trả cổ tức cổ phiếu * Cổ phiếu quỹ * Cổ phiếu thưởng * Tách cổ phiếu - Mua lại cổ phiếu - Chia cổ tức tài sản Tổng quan cổ tức – Chi trả cổ tức tiền... cổ tức Định nghĩa Cách thức chi trả Các hình thức chi trả cổ tức Phần 2: Chính sách cổ tức Định nghĩa Các yếu tố ảnh hưởng Ảnh hưởng Thuế TNCN đến sách cổ tức Chính sách cổ tức thực tiễn Lý thuyết
Xem thêm

38 Đọc thêm

Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh

Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM TÔ THỊ BÍCH LIỄU TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM TRONG GIAI ĐOẠN 2008 2012 Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60.34.02.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013 MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Tóm tắt ...................................................................................................................... 1 1. Giới thiệu.............................................................................................................. 1 1.1 Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 3 1.2 Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 4 1.3 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 4 2. Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước đây ........................................... 4 2.1 Cơ sở lý luận ................................................................................................... 4 2.1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của chính sách cổ tức................................. 4 2.1.2 Một số chính sách chi trả cổ tức ............................................................... 5 2.1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ............................................... 5 2.1.2.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định.................................................... 6 2.1.2.3 Các chính sách chi trả cổ tức khác .................................................... 6 2.1.3 Phương thức chi trả cổ tức........................................................................ 7 2.1.3.1 Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt.......................................... 7 2.1.3.2 Phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu.......................................... 8 2.1.3.3 Phương thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác..................................... 9 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định một chính sách cổ tức ................... 9 2.1.4.1 Các hạn chế pháp lý ........................................................................... 9 2.1.4.2 Các điều khoản hạn chế ................................................................... 10 2.1.4.3 Các ảnh hưởng của thuế................................................................... 10 2.1.4.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản....................................... 11 2.1.4.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn .............................. 11 2.1.4.6 Ổn định thu nhập ............................................................................. 11 2.1.4.7 Triển vọng tăng trưởng .................................................................... 12 2.1.4.8 Lạm phát.......................................................................................... 12 2.1.4.9 Các ưu tiên của cổ đông................................................................... 12 2.1.4.10 Bảo vệ chống loãng giá.................................................................. 13 2.1.5 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM ............... 13 2.1.5.1 Các giả định của lý thuyết MM....................................................... 13 2.1.5.2 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM........ 14 2.1.6 Lý thuyết chi phí đại diện ....................................................................... 15 2.2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây ........................................................ 16 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.................................................................... 24 3.1 Xây dựng giả thuyết ...................................................................................... 24 3.2 Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................................ 25 3.3 Mô tả các biến nghiên cứu............................................................................. 26 3.3.1 Biến phụ thuộc....................................................................................... 26 3.3.2 Biến độc lập............................................................................................ 26 3.3.3 Biến kiểm soát ........................................................................................ 26 3.4 Thiết lập phương trình hồi quy xác định mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức ................................................................................................ 30 3.5 Phương pháp xử lý số liệu ............................................................................. 30 4. Nội dung và các kết quả nghiên cứu.................................................................... 31 4.1 Thống kê mô tả biến ...................................................................................... 31 4.2 Kiểm tra độ tương quan giữa các biến ........................................................... 33 4.3 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng của mô hình The Full Adjustment Model (FAM) ..................................................................................................................... 34 4.4 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng của mô hình The Partial Adjustment Model (PAM) ..................................................................................................................... 39 5. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo .............................................................. 47 5.1 Kết luận ......................................................................................................... 47 5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo........................................................ 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 50 PHỤ LỤC 1 ............................................................................................................ 53 PHỤ LỤC 2 ............................................................................................................ 63 PHỤ LỤC 3 ............................................................................................................ 73 1 TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 Tóm tắt Bài nghiên cứu này cố gắng kiểm tra tác động của cấu trúc quyền sở hữu lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Nó đánh giá mức độ tác động của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức như thế nào. Bài viết này sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012. Dựa trên những bài nghiên cứu về lĩnh vực này trước đây, bài nghiên cứu phân tích hồi quy thông qua kiểm định Pooled Regression, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM) trên 2 mô hình cổ tức của Lintner (1956), The Full Adjustment Model (FAM) và The Partial Adjustment Model (PAM). Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu đến chính sách cổ tức. Cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư tổ chức tương quan dương với chính sách chi trả cổ tức, cấu trúc sở hữu của nhà quản lý tương quan âm với chính sách chi trả cổ tức. Từ khóa: Chính sách cổ tức, Quản trị Doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu tổ chức, cấu trúc sở hữu quản lý, Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh. 1. Giới thiệu Chính sách cổ tức là một phần quan trọng trong chính sách tài chính của Doanh nghiệp vì nó vừa ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông, vừa ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những lý thuyết cũng như thực nghiệm về chính sách cổ tức. Đầu tiên là cuộc tranh luận về những giả định không thực tế của Miller và Modigliani (1961), hai ông cho rằng thị trường vốn là hoàn hảo, không có những va chạm của thị trường như không có thuế, không có chi phí phát hành, không có chi phí giao dịch, không có thông tin bất cân xứng, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến tổng thu nhập của cổ đông, hay nói cách khác, mọi chính sách cổ tức đều như nhau. 2 Thực tế, thị trường vốn là không hoàn hảo và các bất hoàn hảo của thị trường đã đem lại những suy luận và những quyết định về chính sách cổ tức cũng khác nhau giữa các doanh nghiệp vì thực chất nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp. Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng ban quản trị là những người nắm rõ thông tin hơn những nhà đầu tư bên ngoài, kết quả là bất cứ hành động nào của doanh nghiệp bao gồm cả cách thức huy động vốn hay phân chia lợi nhuận đều có thể mang một hàm ý nào đó đối với nhà đầu tư bên ngoài, và chính sách cổ tức tạo thành một phương tiện chuyển giao thông tin từ ban quản trị đến các cổ đông về triển vọng tương lai của công ty. Theo lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976), các ch ủ s ở hữu muố n t ối đa hóa giá trị doanh nghi ệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trườ ng c ủa v ốn c ổ phầ n doanh nghi ệ p. Các nhà qu ả n lý l ại hướng đế n các m ục tiêu trong ng ắ n hạ n: tăng doanh s ố, tăng thị phầ n, t ối đa hóa lợi nhu ậ n, ... nh ằm tăng mức lương, thưở ng hay uy tín c ủa mình đối v ớ i doanh nghiệ p. Do vậy, lý thuy ế t v ề đạ i di ệ n cho r ằng, n ế u c ả hai bên trong m ối quan h ệ này (c ổ đông và ngườ i qu ản lý công ty) đề u mu ố n tối đa h óa l ợ i ích c ủa mình, thì có cơ sở để tin rằng ngườ i qu ả n lý công ty s ẽ không luôn luôn hành động vì l ợ i ích t ốt nhất cho ngườ i ch ủ sở hữu, t ức các c ổ đông. Sự tách bi ệ t vi ệ c s ở hữu và điề u hành doanh nghi ệ p còn tạ o ra hi ện tượ ng thông tin không cân x ứng, nhà qu ản lý có ưu thế hơn chủ s ở hữu v ề thông tin, nên d ễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa vi ệc giám sát các hành động của người đạ i di ện cũng rấ t tốn kém, khó khăn, phức tạ p. V ớ i v ị trí c ủa mình, ngườ i qu ản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợ i và k hông đủ siêng năng, mẫ n cán, và có th ể tìm ki ế m các lợ i ích cá nhân cho mình ch ứ không ph ả i cho công ty. Tuy nhiên, c ấ u trúc s ở hữu quả n lý có th ể ngăn ngừa xung đột lợ i ích gi ữa nhà quản lý và ngườ i ch ủ s ở hữu, cân b ằ ng lợ i ích của nhà qu ả n lý và c ổ đông bên ngoài và làm tăng giá trị doanh nghiệ p. Ngược lại với lập luận trên, Demsetz (1985) cho rằng nếu nhà quản lý có quy ề n sở hữu cao thì h ọ s ẽ chỉ vì lợ i ích cá nhân c ủa mình mà không quan tâm đế n lợ i ích c ủa c ổ đông bên ngoài, do đó làm giả m giá tr ị doanh nghiệ p. 3 Nói tóm lại, có rất nhiều nghiên cứu tranh luận xoay quanh vấn đề lợi ích giữa nhà qu ả n lý và c ổ đông, mộ t trong nh ững l ợi ích đó là chính sách cổ tức. Và t ầ m quan trọng c ủa nghiên c ứu này cũng xuấ t phát t ừ vai trò c ủa chính sách c ổ tức để bả o v ệ lợ i ích c ủa c ổ đông thiể u s ố và thu hút v ốn đầu tư nướ c ngoài. Có nhi ề u bài nghiên c ứu th ực nghiệ m kiểm tra tác động c ủa cấ u trúc quy ề n s ở hữu đế n chính sách c ổ tức đượ c thực hi ệ n ở các qu ốc gia phát tri ển như Anh, Mỹ , Nh ậ t B ả n. Vì vậ y bài nghiên c ứu này s ẽ c ố gắ ng tìm ra m ối quan h ệ giữa c ấ u trúc quy ề n s ở hữu và chính sách c ổ tức ở nh ững qu ốc gia đang phát triển như Việ t Nam. Bố cục của bài nghiên cứu được sắp xếp như sau : Phần 2 giới thiệu cơ sở lý lu ậ n và tổng quan các nghiên c ứu trước đây, phầ n 3 mô tả dữ liệu và phương pháp nghiên c ứu, ph ầ n 4 trình bày n ội dung và các k ế t qu ả nghiên c ứu đạt đượ c, ph ầ n 5 trình bày th ả o luậ n k ế t lu ậ n c ủa bài nghiên c ứu và hướ ng nghiên c ứu tiế p theo. 1.1 Lý do chọn đề tài Chính sách cổ tức là một phần quan trọng trong chính sách tài chính của Doanh nghiệp. Lý thuyết của chính sách cổ tức trong việc xác định giá trị doanh nghiệp là một trong những chủ đề gây tranh cãi cho nhiều nhà nghiên cứu. Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông. Vai trò của chính sách cổ tức là thu hút thêm đầu tư nước ngoài và bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số. Còn cấu trúc sở hữu được xem là một cơ chế trong quản trị doanh nghiệp, để tạo điều kiện tăng hiệu quả doanh nghiệp. Tại Việt Nam, sự biến mất dần của các doanh nghiệp nhà nước và mở rộng dần của các công ty tư nhân, xuất hiện sự chuyển dịch cấu trúc sở hữu hay có nghĩa là sự suy giảm của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước cùng với sự gia tăng của các doanh nghiệp tư nhân trong nước hoặc các doanh nghiệp thuộc sở hữu nước ngoài. Đặc biệt việc gia nhập tổ chức Thương mại Quốc tế WTO đã dẫn đến sự cải cách thị trường vốn Việt Nam nhằm thu hút các nhà đầu tư trên thế giới. Trong giai đoạn này một câu hỏi quan trọng và thực sự cần thiết là cấu trúc quyền sở hữu và chính sách cổ tức có mối quan hệ như thế nào. Để từ đó chúng ta có thể xác định được việc cải thiện cấu trúc quyền sở hữu cũng như chính sách cổ tức của các công 4 ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh một cách tốt nhất. Do đó, tôi đã chọn bài nghiên cứu “Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 để xem xét vấn đề này. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Trong bài nghiên cứu này, tôi xem xét tác động của cấu trúc quyền sở hữu lên chính sách cổ tức. Đồng thời trả lời cho các câu hỏi sau : Cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và cấu trúc sở hữu của nhà quản lý tác động đến chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Chứng Khoán TP HCM như thế nào? Mức độ tác động của từng khía cạnh đó lên chính sách cổ tức ra sao? 1.3 Phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, đồng thời thực hiện phân tích hồi quy dữ liệu bảng thông qua kiểm định Pooled Regression, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM) để kiểm tra sự tác động của cấu trúc quyền sở hữu (bao gồm tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý) lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính tại thị trường TP Hồ Chì Minh. Mẫu dữ liệu mà tôi thu thập được bao gồm 55 công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012. 2. Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước đây 2.1 Cơ sở lý luận 2.1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của chính sách cổ tức Chính sách tài trợ, chính sách đầu tư và chính sách cổ tức là ba chính sách tài chính quan trọng của doanh nghiệp. Trong đó: Chính sách cổ tức là chính sách liên quan tới việc xác định lượng tiền mặt dùng để trả cổ tức cho các cổ đông thường của công ty, quy định việc dùng bao nhiêu lượng tiền mặt để đầu tư vào sự phát triển của công ty. Mặc dù được xếp ưu tiên thấp hơn so với chính sách tài trợ và 5 chính sách đầu tư nhưng các nhà quản lý tài chính thường tỏ ra thận trọng và có những xem xét đặc biệt khi lựa chọn chính sách cổ tức cho công ty họ, vì những lý do chủ yếu sau : Thứ nhất, chính sách phân chia cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Bởi lẽ, thông thường đại bộ phận cổ đông đầu tư vào công ty đều mong đợi được trả cổ tức cao. Vì thế việc tăng giảm hay cắt cổ tức của mỗi công ty sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu của công ty trên thị trường. Thứ hai, chính sách chia cổ tức ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của công ty. Vì chính sách cổ tức sẽ quyết định tỉ lệ tái đầu tư để phát triển công ty và đây sẽ là nguồn vốn quan trọng hơn phát hành cổ phần mới. Vì những lý do trên những người lãnh đạo và quản lý công ty luôn cân nhắc, xem xét chính sách phân chia cổ tức sao cho hợp lý và phù hợp với tình hình và xu thế phát triển của công ty. Đối với Việt Nam, việc xem xét chính sách phân chia cổ tức của các công ty cổ phần ở các nước đã có quá trình phát triển lâu dài là điều cần thiết để rút ra kinh nghiệm cho sự phát triển của công ty cổ phần ở nước ta. 2.1.2 Một số chính sách chi trả cổ tức 2.1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách này xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi. Hay chính sách này ngụ ý rằng việc chi trả cổ tức có thể thay đổi từ năm này qua năm khác và tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên, có những chứng cứ mạnh mẽ cho thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp cố gắng duy trì một tỷ lệ chi trả cổ tức tương đối ổn định theo thời gian. Tất nhiên điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua những nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động trong việc thực hành các quyết định phân phối bởi vì sự ổn định cổ tức có thể duy trì theo hai cách: 6 Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao. Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức. Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức. Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức. Sau đó, trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp. Nguyên lý giữ lại lợi nhuận cũng đề xuất là công ty “tăng trưởng” thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các doanh nghiệp đang trong giai đoạn sung mãn (bão hòa). Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng cao có khuynh hướng tỷ lệ chi trả cổ tức hơi thấp. 2.1.2.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định. Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác. Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng các khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn. Như vậy, tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong lợi nhuận và đồng thời cũng thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó. Có nhiều lý do tại sao các nhà đầu tư thích cổ tức ổn định. Chẳng hạn, nhiều nhà đầu tư thấy các thay đổi cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin. Ngoài ra, nhiều cổ đông cần và lệ thuộc vào một dòng cổ tức không đổi cho các nhu cầu tiền mặt của mình. Dù họ có thể bán bớt một số cổ phần như một nguồn thu nhập hiện tại khác nhưng do các chi phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ cho nên phương án này không thể thay thế một cách hoàn hảo cho lợi nhuận cổ tức đều đặn. 2.1.2.3 Các chính sách chi trả cổ tức khác 7 Ngoài chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động và cổ tức tiền mặt cố định, các doanh nghiệp còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như: Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi. Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo. Chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm. Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc cả hai. Ngay cả khi doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn có thể trông cậy vào một mức chi trả cổ tức đều đặn của họ; còn khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ công bố một mức cổ tức thưởng cuối năm. Chính sách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt giữ lại lợi nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhận được một mức cổ tức “bảo đảm”. Để có thể đưa ra một quyết định cho một chính sách cổ tức cụ thể, các ban quản lý thường cân nhắc để lựa chọn cho doanh nghiệp mình một chính sách cổ tức cụ thể, sau đó mới xét đến phương thức chi trả cổ tức như thế nào? Đây là một phần quan trọng trong một chính sách cổ tức của một doanh nghiệp và cuối cùng là chia tỷ lệ cổ tức một cách thích hợp. 2.1.3 Phương thức chi trả cổ tức Thông thường, có 3 phương thức chi trả cổ tức cơ bản là: cổ tức bằng tiền mặt, cổ tức bằng cổ phiếu, và cổ tức bằng tài sản khác theo quy định tại doanh nghiệp. Trong đó, 2 phương thức đầu là phổ biến nhất. 2.1.3.1 Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt Cổ tức tiền mặt là dạng cổ tức mà công ty lấy ra từ lợi nhuận ròng có được chia cho cổ đông dưới dạng tiền mặt (hoặc chuyển khoản). Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh giá. Ưu điểm: 8 Cổ tức tiền mặt có tính thanh khoản rất cao, vì một số nhà đầu tư vào cổ phiếu sợ rủi ro nên các cổ đông này thường muốn nhận một lượng tiền mặt ở hiện tại hơn là kỳ vọng vào một lượng thu nhập không chắc chắn ở tương lai. Có thể phát tín hiệu tốt cho thị trường, vì các công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt thì chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty là rất tốt, đặc biệt là tình hình hoạt động của công ty. Việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt có thể khẳng định khả năng quản lý tốt của ban điều hành doanh nghiệp, ngoài ra có thể đào thải những nhà quản lý kém cỏi. Nhược điểm: Nguồn vốn của công ty bị giảm do dùng tiền mặt chi trả cổ tức, ngoài ra, dòng tiền đi ra càng nhiều đe dọa đến khả năng thanh toán của công ty. Giá cổ phần của công ty bị giảm đúng bằng lượng cổ tức được chia. Có khả năng công ty phải gia tăng thêm nợ, làm tăng chi phí kiệt quệ tài chính và rủi ro trong các dự án đầu tư khi tỷ trọng tiền vay ở mức lớn. Sức ép từ việc chi trả bằng tiền mặt làm việc kinh doanh của một số doanh nghiệp kém hiệu quả, thua lỗ nhưng vẫn cố chi trả cổ tức cho cổ đông. 2.1.3.2 Phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy động vốn của công ty. Tuy công ty không nhận được cổ tức bằng tiền mặt nhưng lại nhận được cổ phiếu; do đó, nhà đầu tư sẽ thu được lãi vốn trong tương lai. Về bản chất, cổ đông sẽ nhận được nhiều cổ phiếu hơn nhưng giá thị trường của cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm để đảm bảo nguyên tắc công bằng với các cổ đông mua vào ngày hoặc sau ngày giao dịch không hưởng quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu. Ví dụ khi doanh nghiệp tuyên bố trả cổ tức bằng cổ phiếu là 10% một năm. Nghĩa là cổ đông hiện hành sở hữu 100 cổ phiếu sẽ có thêm được 10 cổ phiếu nữa. Mặc dù vậy, vốn điều lệ công ty sẽ tăng lên và số lượng cổ phiếu lưu hành sẽ nhiều hơn. Luồng tiền mặt không hề bị di chuyển ra khỏi doanh nghiệp. Tuy nhiên, 9 việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu được các chuyên gia khuyến nghị nên áp dụng cho những doanh nghiệp đang làm ăn tốt và có thị giá cổ phiếu cao. Ưu điểm: Hạn chế được lượng tiền mặt ra khỏi doanh nghiệp, đẩy mạnh việc tái đầu tư mở rộng sản xuất, tạo cơ hội làm tăng tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận của công ty từ đó làm tăng tỷ lệ tăng trưởng cổ tức và làm giá cổ phiếu tăng lên. Không phải chịu áp lực tăng nợ vay, giảm thiểu rủi ro thanh toán. Nhược điểm: Làm số lượng cổ phiếu đang lưu hành của công ty tăng lên; do đó, có thể làm giá cổ phiếu bị giảm do các chỉ số tài chính. Tạo áp lực cho việc chi trả cổ tức trong tương lai. Việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu ở tỷ lệ cao sẽ dẫn tới chi phí cổ tức ở các năm sau tăng lên buộc công ty phải sử dụng vốn huy động một cách có hiệu quả. Phương thức chi trả này khó có thể duy trì một cách liên tục. 2.1.3.3 Phương thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác Ngoài hai phương thức trên thì doanh nghiệp cũng có thể có cách chi trả cổ tức khác ngoài tiền mặt và cổ phiếu. Đó có thể là trái phiếu hoặc chứng khoán khác của công ty hay thậm chí có thể là tài sản của chính công ty. Thông thường các doanh nghiệp chỉ thực hiện phương thức này khi doanh nghiệp thật sự gặp khó khăn về tiền mặt. Tuy nhiên chỉ trong một thời gian ngắn chứ không phải là lâm vào tình trạng kiệt quệ về tài chính. Tóm lại trên thực tế phương thức này rất hiếm gặp. 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định một chính sách cổ tức Về mặt lý thuyết, khi các nhà quản trị cân nhắc lựa chọn một chính sách cổ tức cho công ty mình thì họ phải xem xét các yếu tố cơ bản sau: 2.1.4.1 Các hạn chế pháp lý Khi ấn định chính sách cổ tức của mình thì các doanh nghiệp đều phải cân nhắc các hạn chế sau như các nguyên tắc về mặt pháp lý như: Hạn chế suy yếu vốn 10 Tức là doanh nghiệp không thể dùng vốn để chi trả cổ tức.Tùy theo định nghĩa về vốn mà mức hạn chế của các doanh nghiệp khác nhau, vì vốn có thể chỉ bao gồm mệnh giá cổ phần thường hoặc có thể bao gồm mệnh giá cổ phần thường và thặng dư vốn. Hạn chế lợi nhuận ròng Tức là cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và thời gian qua, nhằm ngăn cản các chủ sở hữu thường rút đầu tư ban đầu và làm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp. Hạn chế mất khả năng thanh toán: Tức là không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (nợ nhiều hơn tài sản), nhằm đảm bảo quyền ưu tiên của chủ nợ đối với tài sản của doanh nghiệp. 2.1.4.2 Các điều khoản hạn chế Các điều khoản hạn chế thường tác động nhiều đến chính sách cổ tức hơn các hạn chế pháp lý như vừa trình bày. Các điều khoản này nằm trong các giao kèo trái phiếu, điều khoản vay, thỏa thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản, và các thỏa thuận cổ phần ưu đãi. Về cơ bản, các hạn chế này giới hạn tổng mức cổ tức của một doanh nghiệp có thể chi trả. Đôi khi, các điều khoản này có thể quy định không thể chi trả cổ tức cho đến khi nào lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được một mức ấn định nào đó. Ngoài ra, các yêu cầu về quỹ dự trữ (để thanh toán nợ), quy định rằng một phần nào đó của dòng tiền của doanh nghiệp phải được dành để tài trợ, đôi khi cũng hạn chế việc chi trả cổ tức. Việc chi trả cổ tức cũng bị ngăn cấm nếu vốn luân chuyển hay tỷ lệ nợ hiện hành của doanh nghiệp không cao hơn một mức định sẵn nào đó. 2.1.4.3 Các ảnh hưởng của thuế Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong một thế giới không có thuế thì các nhà đầu tư sẽ bàng quan với việc nhận cổ tức hay lãi vốn. Nhưng trong thực tế, thu nhập từ cổ tức bị đánh thuế cao hơn nhiều so với thu nhập từ lãi vốn. Ngoài ra, thu 11 nhập cổ tức bị đánh thuế ngay (trong năm hiện hành), còn thu nhập lãi vốn có thể hoãn đến các năm sau. Vì thế sẽ rất logic khi rút ra kết luận là các nhà đầu tư có thể không thích nhận cổ tức. Điều này sẽ được phản ánh trong giá cổ phiếu. Những yếu tố khác không đổi, giá cổ phiếu của các công ty trả cổ tức sẽ thấp hơn giá cổ phiếu của các công ty giữ lại thu nhập để tái đầu tư. Khi quyết định chi trả cổ tức, doanh nghiệp sẽ cân nhắc đến sự chênh lệch giữa thuế suất đánh trên thu nhập lãi vốn và thu nhập cổ tức. Rõ ràng các yếu tố vừa trình bày có xu hướng như khuyến khích doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận nhiều. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận nhiều với mục đích bảo vệ các cổ đông khỏi phải chi trả thuế thu nhập cá nhân trên cổ tức sẽ đi ngược lại mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. 2.1.4.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản Chi trả cổ tức là dòng tiền đi ra. Vì vậy, khả năng thanh khoản của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức. Ngay cả khi một doanh nghiệp có một thành tích quá khứ tái đầu tư lợi nhuận cao, đưa đến một số dư lợi nhuận giữ lại lớn, có thể doanh nghiệp này không có khả năng chi trả cổ tức nếu không có đủ tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là tiền mặt. Khả năng thanh khoản thường trở thành một vấn đề trong giai đoạn kinh tế suy yếu dài hạn, khi cả lợi nhuận và dòng tiền đều sụt giảm. Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng có nhiều các cơ hội đầu tư sinh lợi cũng thường thấy khó khi phải vừa duy trì đủ thanh khoản vừa chi trả cổ tức cùng một lúc. 2.1.4.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn Doanh nghiệp lớn, có uy tín, dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng và các nguồn vốn bên ngoài thì càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức bởi khả năng thanh khoản linh hoạt và tận dụng các cơ hội đầu tư. Ngược lại, đối với các doanh nghiệp nhỏ, chỉ có vốn cổ phần, khó tiếp cận vốn bên ngoài thì khi có cơ hội đầu tư mới thuận lợi, thường việc chi trả cổ tức không nhất quán với mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. 2.1.4.6 Ổn định thu nhập 12 Hầu hết các doanh nghiệp lớn, có cổ phần được nắm giữ rộng rãi thường do dự đối với việc hạ thấp chi trả cổ tức, ngay cả những lúc gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính. Vì vậy, một doanh nghiệp có một lịch sử lợi nhuận ổn định thường sẵn lòng chi trả cổ tức cao hơn một doanh nghiệp có thu nhập không ổn định. Một doanh nghiệp có các dòng tiền tương đối ổn định qua nhiều năm có thể tự tin về tương lai hơn, và thường phản ánh sự tin tưởng này trong việc cho trả cổ tức cao hơn. 2.1.4.7 Triển vọng tăng trưởng Một doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu vốn lớn để tài trợ các cơ hội đầu tư hấp dẫn của mình. Thay vì chi trả cổ tức nhiều và sau đó cố gắng bán cổ phần mới để huy động vốn cổ phần cần thiết, doanh nghiệp thuộc loại này thường giữ lại một phần lớn lợi nhuận và tránh bán cổ phần mới ra công chúng vừa tốn kém vừa bất tiện. 2.1.4.8 Lạm phát Trong một môi trường lạm phát, vốn phát sinh từ khấu hao thường không đủ để thay thế tài sản của một doanh nghiệp khi các tài sản này cũ kỹ, lạc hậu. Trong trường hợp này, một doanh nghiệp có thể buộc phải giữ lại một tỷ lệ lợi nhuận cao hơn để duy trì năng lực hoạt động cho tài sản của mình. Lạm phát cũng có một tác động trên nhu cầu vốn luân chuyển của doanh nghiệp. Trong một môi trường giá cả tăng, số tiền thực tế đầu tư vào kho hàng và các khoản phải thu có chiều hướng tăng để hỗ trợ cho cùng một khối lượng hiện vật kinh doanh. Như vậy, lạm phát có thể buộc một doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để duy trì vị thế vốn luân chuyển giống như trước khi có lạm phát. 2.1.4.9 Các ưu tiên của cổ đông Một doanh nghiệp được kiểm soát chặt chẽ với tương đối ít cổ đông thì ban điều hành có thể ấn định mức cổ tức theo ưu tiên của các cổ đông (tức là mục tiêu, sở thích của cổ đông). Còn các doanh nghiệp có số lượng cổ đông lớn, rộng rãi thì không thể tính đến các ưu tiên của cổ đông khi quyết định chi trả cổ tức mà chỉ có thể xem xét các yếu tố cơ hội đầu tư, nhu cầu dòng tiền, tiếp cận thị trường tài chính 13 và các yếu tố liên quan khác. “Hiệu ứng khách hàng” cho thấy các nhà đầu tư sẽ lựa chọn các công ty có chính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu của mình. 2.1.4.10 Bảo vệ chống loãng giá Việc quyết định giữ lại lợi nhuận, chi trả cổ tức có thể còn phụ thuộc vào các quyết định tài trợ, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp. Rủi ro loãng giá, tức quyền lợi của chủ sở hữu theo phần trăm bị loãng, xuất hiện khi doanh nghiệp phát hành cổ phần mới vì có thể có cổ đông không mua hoặc không thể mua theo tỷ lệ tương ứng. Vì vậy, có vài doanh nghiệp lựa chọn chi trả cổ tức thấp để tránh rủi ro loãng giá (vì tránh được phát hành cổ phần mới do cần vốn). 2.1.5 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM Tranh luận về chính sách cổ tức tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp, có 3 trường phái khác nhau: Trường phái hữu khuynh bảo thủ tin rằng một gia tăng trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp; Trường phái tả khuynh cấp tiến tin rằng một gia tăng trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp; Trường phái trung dung lại cho rằng chính sách cổ tức không tác động gì đến giá trị doanh nghiệp. Mỗi tranh luận của các trường phái đều có những giá trị khoa học đáng trân trọng. 2.1.5.1 Các giả định của lý thuyết MM Theo lý thuyết đoạt giải Nobel kinh tế của Miller và Modigliani (1961) thì chính sách cổ tức hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp, mà giá trị doanh nghiệp lại tùy thuộc vào các quyết định đầu tư. Nhưng kết luận này của MM được gắn với các giả định của một thị trường vốn hiệu quả và hoàn hảo: Không có thuế: Theo giả định này, các nhà đầu tư không bận tâm về việc họ sẽ nhận được thu nhập cổ tức hay thu nhập lãi vốn. Không có chi phí giao dịch: Giả định này ngụ ý rằng các nhà đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp chi trả ít hoặc không chi trả cổ tức có thể bán lại (không có phí tổn) bất cứ số cổ phần nào mà họ muốn bán để chuyển đổi lãi vốn thành thu nhập thường xuyên. 14 Không có chi phí phát hành: Nếu các doanh nghiệp không phải chi trả các chi phí phát hành cho việc phát hành chứng khoán mới, họ có thể nhận được vốn cổ phần cần thiết cùng với chi phí, không kể họ giữ lại lợi nhuận hay chi trả cổ tức. Đôi khi việc chi trả cổ tức đưa đến nhu cầu bán cổ phần mới theo định kỳ. Chính sách đầu tư và tài trợ cố định: Nghĩa là cho dù doanh nghiệp có dư tiền thì cũng không thể đem số tiền đó đi đầu tư thêm mà chỉ có thể mua lại cổ phần hoặc chia cổ tức mà thôi. Hoặc doanh nghiệp thiếu tiền thì doanh nghiệp cũng không thể đi vay thêm được mà chỉ có thể phát hành thêm cổ phần để tài trợ cho dự án mới của mình. 2.1.5.2 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM MM khẳng định rằng các thay đổi quan sát được trong giá trị doanh nghiệp là kết quả của các quyết định cổ tức thật ra là do nội dung hàm chứa thông tin hay các tác động phát tín hiệu của chính sách cổ tức. Có nghĩa là các thay đổi trong chi trả cổ tức tiêu biểu một tín hiệu cho các nhà đầu tư về đánh giá của ban điều hành về lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Ví dụ, một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt các thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp. MM cũng còn dựa vào lập luận hiệu ứng khách hàng để bảo vệ cho kết luận của mình. Theo đó, doanh nghiệp thay đổi chính sách cổ tức có thể mất một số cổ đông qua các doanh nghiệp khác có cổ tức hấp dẫn hơn. Do đó, giá cổ phần sụt giảm tạm thời. Nhưng các nhà đầu tư khác thích chính sách cổ tức mới sẽ cho rằng cổ phần của doanh nghiệp bị bán dưới giá và sẽ mua thêm cổ phần. Trong thế giới MM, các giao dịch này diễn ra tức khắc và không có tổn phí, kết quả là giá trị cổ phần giữ nguyên không đổi. Lý thuyết về chính sách cổ tức cho ta thấy hai điều: Một là, nếu không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài – tức công ty không thể huy động vốn bằng cách đi vay hay tăng vốn chủ sở hữu (một điều kiện rất vô lý, không tồn tại trong thực tế) – thì chính sách cổ tức sẽ phát huy tác dụng làm tăng giá trị của công ty chỉ khi công ty có cơ hội đầu tư mới có suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI) lớn hơn suất sinh lợi hiện hành, tức lớn hơn tỷ suất sinh lợi mà cổ đông đòi 15 hỏi. Nói cách khác, chính quyết định đầu tư chứ không phải chính sách cổ tức có tác động đến giá trị của vốn chủ sở hữu. Hai là, nếu tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài thì chính sách cổ tức sẽ chẳng có tác động gì đến giá trị của công ty. Nói cách khác, chính sách cổ tức khi đó sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Kết luận chung là chính sách cổ tức, về mặt lý thuyết, là chẳng có ý nghĩa gì cả nhưng thực tế thì không như vậy. 2.1.6 Lý thuyết chi phí đại diện Lý thuyết đại diện chính thức ra đời vào đầu những năm 1970, nhưng những khái niệm liên quan đến nó đã có một lịch sử lâu dài và đa dạng. Một vài nhà nghiên cứu đáng chú ý trong giai đoạn đầu phôi thai của lý thuyết đại diện những năm 1970 là: Armen Alchian, Harold Demsetz, Michael Jensen, William Meckling và S.A.Ross. Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ này được công bố; và được biết đến như một phần lý thuyết quan trọng trong toàn bộ lý thuyết về doanh nghiệp hiện đại. Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người làm công (người đại diện) làm việc vì lợi ích cao nhất cho người tuyển dụng (người chủ) khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này. Lý thuyết này kết luận rằng dưới những điều kiện thông tin không hoàn hảo (không đầy đủ và không rõ ràng), đặc điểm của hầu hết các thị trường, hai vấn đề về đại diện sẽ xuất hiện là: lựa chọn bất lợi và mối nguy đạo đức. Lựa chọn bất lợi là trường hợp người chủ không thể biết chắc liệu người đại diện cho mình có đủ khả năng thực hiện công việc mà họ được trả tiền để làm hay không, hay liệu khả năng làm việc của người đại diện có tương xứng với số tiền họ trả hay không. Mối nguy đạo đức là trường hợp người chủ không chắc chắn liệu người đại diện có nỗ lực tối đa cho công việc được giao hay không, hay liệu họ có trục lợi cá nhân khi họ là người biết rõ những thông tin mà không phải cổ đông ông chủ nào cũng biết. 16 Chi phí đại diện là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả (ví dụ một khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyến khích họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông). Lý thuyết đại diện định nghĩa chi phí đại diện là tổng của các loại chi phí: chi phí giám sát (monitoring cost) để giám sát hoạt động của người đại diện, như là chi phí kiểm toán; chi phí ràng buộc (bonding cost) để thiết lập một bộ máy có thể tối thiểu những hành vi quản trị không mong muốn, như là bổ nhiệm những thành viên bên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của công ty; và mất mát phụ trội (residual loss) hay chi phí cơ hội khi các cổ đông thuê người đại diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đại diện lạm dụng quyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quy định đối với quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từ những biện pháp kiểm soát hoạt động của người đại diện. 2.2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu tổ chức” (The Link between Dividend Policy and Institutional Ownership) của Short, Zhang và Keasey (2002) xem xét mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu tổ chức của 211 công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán Luân Đôn. Nhóm tác giả sử dụng phân tích hồi quy OLS thông qua 4 mô hình: The Full Adjustment Model, The Partial Adjustment Model (Lintner, 1956), The Waud Model (1966), và The Earnings Trend Model (Fama and Babiak, 1968) với mẫu là 211 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Luân Đôn từ năm 1988 đến năm 1992, mẫu đã loại trừ các công ty tài chính, dầu khí, công ty tư nhân, công ty thiếu dữ liệu. Mô hình nghiên cứu như sau: Dti – D(t1)i = α + r(Eti – E(t1)i) + rI(Eti – E(t1)i)Inst + rM(Eti – E(t1)i)MDum + μti (The Full Adjustment Model). Dti – D(t1)i = α + crEti + crIEti Inst + crMEti MDum cD(t1)i + μti (The Partial Adjustment Model) 17 Dti – D(t1)i = ad + cdrEti + cdrIEti Inst + cdrMEti MDum + (1– d – c)D(t1)i + (1 – d)(1 – c) D(t2)i – μti (The Waud Model) Dti – D(t1)i = α + rcEti + rj(1 – c) E(t1)i + rjI(1 – c) E(t1)i Inst + rjM(1 – c) E(t1)i MDum cD(t1)i + μti (The Earnings Trend Model) Trong đó : Dit : Cổ tức của công ty i trong thời gian t Eit : Thu nhập trên mỗi cổ phần của công ty i trong thời gian t INST : Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức nắm giữ 5% trở lên MDum : Tỷ lệ sở hữu của Thành viên Hội Đồng Quản Trị c : Tốc độ tăng của hệ số điều chỉnh Kết quả cho thấy có mối tương quan dương giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và quyền sở hữu tổ chức. Hơn nữa, nó còn làm tăng thu nhập. Còn giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và quyền sở hữu quản lý có mối tương quan âm. Kết quả của mô hình FAM cho thấy rằng hệ số r và rI dương và có ý nghĩa thống kê. Kết quả phù hợp với giải thuyết có mối quan hệ dương giữa tỷ lệ chi trả cố tức và quyền sở hữu tổ chức. Hệ số rM âm cho thấy tương quan âm giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và quyền sở hữu tổ chức. Hệ số c của Dt1 âm, còn hệ số cr và crI dương và có ý nghĩa thống kê trong mô hình PAM. Kết quả , một lần nữa cho thấy các công ty có tỷ lệ sở hữu tổ chức trên 5% có tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn. Mô hình PAM cho thấy mối quan hệ giữa quyền sở hữu quản lý và tỷ lệ chi trả cổ tức không đáng kể như mong đợi. Kết quả của mô hình WM cho thấy hệ số c và d của Dt1 và Dt2, hệ số cdr và cdrI đều dương, hệ số cdrM âm. Có nghĩa là tỷ lệ sở hữu tổ chức trên trung bình sẽ làm tăng tỷ lệ chi trả cổ tức. Ngược lại, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý trên trung bình sẽ làm giảm tỷ lệ chi trả cổ tức. 18 Kết quả từ mô hình ETM cho thấy ngoài việc cấu trúc sở hữu tổ chức tương quan dương với tỷ lệ chi trả cổ tức mà còn tương quan dương với thu nhập của công ty. Tóm lại, cả 4 mô hình đều cho thấy tác động dương giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và cấu trúc sở hữu tổ chức, tác động âm giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và cấu trúc sở hữu quản lý. Hơn nữa kết quả từ mô hình ETM cho thấy có sự ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tổ chức lên thu nhập của công ty. Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu và chính sách cổ tức của doanh nghiệp : Bằng chứng từ thị trường Chứng khoán Athens” (“The relationship between Ownership Structure and Corporate Dividend Policy – Evidence from the Athens Stocks Exchange”) của Karathanassis và Chrysanthopoulou (2005) xem xét khả năng giải thích của 3 mô hình The Full Adjustment Model và The Partial Adjustment Model và The Earnings Trend Model được sửa đổi để kết hợp với các yếu tố đại diện cấu trúc sở hữu bởi nhà đầu tư tổ chức và Thành viên Hội đồng Quản trị. Tác giả cũng dựa trên 3 mô hình cổ tức như Short, Zhang và Keasey (2002) với mẫu là 55 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens từ năm 1996 đến năm 1998 , loại trừ các công ty trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính, công ty sở hữu công cộng, công ty thiếu dữ liệu. Mô hình nghiên cứu : Dti – D(t1)i = α + r(Eti – E(t1)i) + rINST(Eti – E(t1)i)INST + rMAN(Eti – E(t1)i)MAN + uti (The Full Adjustment Model). Dti – D(t1)i = α + crEti + crINSTEti INST + crMANEti MAN – cD(t1)I + uti (The Partial Adjustment Model). Dti – D(t1)i = α + crEti + rλ(1c)E(t1)I + rλINST (1 c)E(t1)i INST + rλMANEt(1c) E(t1)i MAN – cD(t1)I + uti (The Waud Model). 19 Trong đó : Dit : Cổ tức của công ty i trong thời gian t Eit : Thu nhập trên mỗi cổ phần của công ty i trong thời gian t INST : Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức nắm giữ 3% trở lên Man : Tỷ lệ sở hữu của Thành viên Hội Đồng Quản Trị Bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu này cho thấy tồn tại mối tương quan dương giữa cấu trúc sở hữu tổ chức và chính sách cổ tức, đồng thời có mối tương quan âm giữa cấu trúc sở hữu quản lý. Hay như trong bài nghiên cứu của Chen và cộng sự (2005) nghiên cứu xem có sự tác động của cấu trúc sở hữu tập trung lên thành quả và giá trị công ty hay không? Và liệu nó có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức hay không? Kết quả cho thấy có mối tương quan âm giữa cấu trúc sở hữu tập trung và chính sách cổ tức và sự tác động của cấu trúc sở hữu của Thành viên Hội Đồng Quản Trị tương đối thấp. Bài nghiên cứu “Cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức, thực nghiệm từ thị trường chứng khoán Tunisian” (Ownership Structure and Dividend Policy Edidence from the Tunisian Stock Market) của Kouki và Guizani (2009) nhằm xác định ảnh hưởng của các cổ đông trên mức cổ tức chi trả. Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã sử dụng mẫu là 29 công ty trên thị trường chứng khoán Tunisian trong giai đoạn 19952001. Dựa trên những dự đoán của lý thuyết tài chính và những nghiên cứu trước đó, tác giả sử dụng mô hình thực nghiệm dưới đây: DIVit = ci + b1iFCFit + + b2iLevit + b3iQit + b4iSizeit + + b5iInstit + b6iEtait + b7iMajit + εit Trong đó : DIV : Cổ tức trên mỗi cổ phiếu FCF : Dòng tiền tự do Lev : Hệ số đòn bẩy tài chính Q (Tobin’s Q) : Tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách Size : Quy mô công ty 20 Inst : Tỷ lệ phần trăm sở hữu của nhà đầu tư tổ chức (ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư…) Eta : Tỷ lệ phần trăm sở hữu của nhà nước Maj : Tỷ lệ phần trăm sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất, biến giả bằng 1 nếu tỷ lệ sở hữu là 5 cổ đông lớn nhất và bằng 0 nếu ngược lại Nhóm tác giả thực hiện hồi quy trên 5 mô hình: Mô hình 1 : DIV = f (FCF, Lev, Q, SIZE, INST, ETA, MAJ) Mô hình 2 : DIV = f (FCF, Lev, Q, INST, ETA, MAJ) Mô hình 3 : DIV = f (FCF, Q, INST, ETA, MAJ) Mô hình 4 : DIV = f (FCF, Lev, Q, INST, MAJ) Mô hình 5 : DIV = f (FCF, Q, SIZE, INST) Kết quả cho thấy có một mối tương quan âm giữa quyền sở hữu tổ chức và cổ tức trên mỗi cổ phiếu, và giữa sở hữu nhà nước và mức cổ tức chia cho cổ đông. Tác giả cũng tìm thấy rằng quyền sở hữu trong năm cổ đông lớn nhất càng cao thì cổ tức được chi trả cao hơn. Kết quả hồi quy được tiến hành vào năm mô hình cho thấy một hiệu ứng mạnh mẽ của dòng tiền tự do trên chính sách cổ tức. Tiền mặt càng nhiều thì cổ tức trên mỗi cổ phiếu càng cao. Bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy rằng, quy mô doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức. Các doanh nghiệp lớn ít có khả năng chi trả cổ tức. Hơn nữa, chúng ta thấy rằng các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư tốt sẽ có nhiều khả năng để trả cổ tức. Tóm lại, nghiên cứu của 2 tác giả đã cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu tổ chức, nhà nước, quản lý và chính sách cổ tức. Nhóm tác giả chỉ ra rằng chính sách cổ tức không phải là không liên quan như lập luận của MM (1961). Bài nghiên cứu “Cấu trúc quyền sở hữu và chính sách cổ tức: Bằng chứng thực nghiệm từ Iran” (Ownership Structure and Dividend policy: Evidence from Iran”) của Mehrani, Moradi và Eskandar (2011) cũng xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu và chính sách cổ tức, những bài nghiên cứu trước là ở các nước phát triển, còn Iran là một quốc gia đang phát triển, do vậy thị trường chứng khoán còn khá mới mẻ và có những đặc điểm khác với quốc gia phát triển. Vì vậy, để đạt 21 được mục tiêu nghiên cứu xem mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc quyền sở hữu ở Iran có gì khác so với các quốc gia phát triển, nhóm tác giả sử dụng mẫu là 427 công ty trên Thị trường Chứng khoán Tehran từ năm 2000 đến năm 2007. Nhóm tác giả dựa trên 4 mô hình, mô hình của Lintner (1956) (The Full Adjustment Model và The Partial Adjustment Model), Mô hình Waud (1966) và Mô hình của Fama và Babiak (1968) (Earnings Trend Model). Mô hình 1 : Dti – D(t1)i = α + r (Eti – E(t1)i) + ri(Eti – E(t1)i) × INST+ rc(Eti – E(t1)i) × CONC + rM(Eti – E(t1)i) × M + rsSIZE+ rL LEV+ r MMTBV + rO FCF +ε Mô hình 2 : Dti – D(t1)i = α + crEti + crIEti × INST + crC Eti × CONC+ crM Eti ×M – c D(t1)i + rS SIZE+ rL LEV+ rM MTBV + rF FCF + ε Mô hình 3 : Dti – D(t1)i = αd + cdrEti+ cdrI Eti× INST+ cdrC Eti× CONC+ cdrM Eti × M + (1– d – c) D(t1)i – (1– d)(1– c) D(t2)i + rS SIZE+ rL LEV+ rM MTBV + rO FCF + ε Mô hình 4 : Dti – D(t1)i = α + rc Eti + rj(1c) E(t1)i + rjI (1c) E(t1)i × INST+rjc(1c) E(t1)i × CONC + rjM (1c) E(t1)i × M– c E(t1)i + rs SIZE+ rL LEV+ rM MTBV + rOFCF +ε Trong đó : Dti – D(t1)i : Sự thay đổi số tiền chi trả cổ tức công ty i trong thời gian t E : Lợi nhuận ròng. INST : Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi các tổ chức vào đầu năm. CONC : Tổng bình phương của tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi các tổ chức vào đầu năm M : Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi Ban Giám đốc vào đầu năm SIZE : Quy mô công ty (SIZE = Ln(Tổng tài sản)) LEV : Đòn bẩy (LEV = Tổng nợ dài hạnTổng tài sản) MTBV : Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách FCF : Dòng tiền tự do (FCF = Chi phí vốn – Dòng tiền hoạt động) 22 Nhóm tác giả thực hiện hồi quy 4 mô hình trên, kết quả cho thấy có mối tương quan âm giữa cấu trúc sở hữu tổ chức và chính sách cổ tức, sự hiện điện của nhà đầu tư tổ chức làm giảm cổ tức. Đây là tín hiệu tốt cho công ty trong việc giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư. Giữa chính sách cổ tức và quyền sở hữu tập trung có mối tương quan dương với nhau. Còn cấu trúc sở hữu bởi Ban Giám đốc không ảnh hưởng đáng kể đến chính sách cổ tức vì Ban Giám đốc chỉ nắm giữ một tỷ lệ cổ phần rất nhỏ. Biến SIZE tương quan dương với chính sách cổ tức, các công ty lớn thì chi trả cổ tức cao. Biến MTBV và FCF cũng tương quan dương với chính sách cổ tức, và LEV tương quan âm với chính sách cổ tức. Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức: Một nghiên cứu thực nghiệm” (“The Relationship between Ownership Structure and Dividend Policy: An Empirical Investigation”) của Shubiri, Taleb và Zoued (2012). Mẫu được chọn là 56 công ty công nghiệp ở Jordan được niêm yết trên Sàn Chứng khoán Amman trong giai đoạn 2005 – 2009. Nhóm tác giả phân tích hồi quy qua mô hình sau: Div = c0+ b1FCF + b2Lev + b3Q + b4 Size + b5 Inst + b6Maj +ε Trong đó : Div: Cổ tức trên mỗi cổ phiếu FCF : Dòng tiền tự do (FCF = Lãi ròng + Khấu hao + Chi phí lãi vay) Q : Cơ hội tăng trưởng trong tương lai (Q= MVBV) Size : Quy mô công ty (Size = Ln(Tổng tài sản) Inst : Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi nhà đầu tư tổ chức Maj : Là biến giả, bằng 1 nếu cổ phiếu được nắm giữ bởi 5 cổ đông lớn nhất và bằng 0 nếu ngược lại Tác giả thực hiện hồi quy OLS từng năm và hồi quy cho dữ liệu bảng từ năm 2005 2009. Và kết quả cho thấy có mối tương quan âm giữa quyền sở hữu tổ chức và cổ tức trên mỗi cổ phiếu và mối tương quan dương giữa tỷ lệ cổ phiếu được sở hữu bởi 5 cổ đông lớn nhất và cổ tức trên mỗi cổ phiếu, FCF có tác động mạnh đến 23 chính sách cổ tức, SIZE tương quan âm cho thấy các Doanh nghiệp lớn chi trả cổ tức thấp và các công ty có đòn bẩy cao cũng có xu hướng chi trả cổ tức thấp. Và bài nghiên cứu “The Effect of Ownership Structure on Dividends Policy in Jordanian Companies” của AlGharaibeh, Zurigat, AlHarahsheh (2013) cũng xem xét tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức. Nhóm tác giả phân tích hồi quy dữ liệu bảng cho 35 công ty Jordan trong giai đoạn 2005 – 2010. Mô hình hồi quy như sau : Dti – D(t1)i = α0 + α1(Eti – E(t1)i) + α2(Eti – E(t1)i) Dinst + α3(Eti – E(t1)i) Dman+ α4SIZE + α5LEV+ α6MTBV +α7FCF + μti (Mô hình The Full Adjustment Model – FAM) Dti – D(t1)i = α0 + cα1Eti + cα2Eti Dinst + α3Eti Dman c D(t1)i + α4SIZE + α5LEV+ α6MTBV +α7FCF + μti (Mô hình The Partial Adjustment Model – PAM) Theo kết quả của mô hình nghiên cứu thực nghiệm được phân tích bởi nhóm tác giả thì tỷ lệ cổ phiếu được nắm giữ bởi nhà đầu tư tổ chức tương quan dương với chính sách cổ tức và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của nhà quản lý tương quan âm với chính sách cổ tức. Cùng một phương pháp nghiên cứu với bài nghiên cứu trên, tôi cũng nghiên cứu thực nghiệm với các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP HCM để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra ở phần một. Bảng 2.1 : Tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây Năm nghiên cứu Tên tác giả Mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu tổ chức và chính sách cổ tức Mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu quản lý chính sách cổ tức Mức ý nghĩa thống kê 2002 Short, Zhang và Keasey 2005 Karathanassis và Chrysanthopoulou Tương quan Tương quan kê kê 2009 Kouki và Guizani Tương quan âm Tương quan dương Có ý nghĩa thống kê 2011 Mehrani, Moradi và Eskandar Tương quan âm Không có mối tương quan Có ý nghĩa thống kê 2012 Shubiri, Taleb và Zoued Tương quan âm Tương quan dưong Có ý nghĩa thống kê 2013 AlGharaibeh, Zurigat, Al Harahsheh Tương quan dương Tương quan âm Có ý nghĩa thống kê 24 Nguồn: Tổng hợp của tác giả 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3.1 Xây dựng giả thuyết Đã có nhiều bài nghiên cứu trước đây tìm hiểu về tác động của cấu trúc quyền sở hữu đến chính sách cổ tức. Tuy nhiên các kết quả đạt được là không giống nhau giữ
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI TẬP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ SỐ (197)

BÀI TẬP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ SỐ (197)

Kết luận: Nếu phân bổ chi phí như giai đoạn 2 của David thì loại HD sẽ lãi là 3.923,17USD, còn loại PD lãi 221.105,38 USD.3. Phân tích thông tin mới thu thập được và đánh giá ý nghĩa ứng dụng của nó vớiđối với quản lý của Khoa. Dựa vào thông tin đó thì quản lý của Khoa có thể cónhững quyết định nào khác với các quyết định mà quản lý sẽ tiến hành nếu chỉ dựavào thông tin mà hệ thống phân bổ cũ cung cấp.Những thông tin được nghiên cứu cho thấy chính xác loại điều trị PD có thu nhập ròngcao hơn rất nhiều so với loại điều trị HD. Như vậy, lợi nhuận của khoa chủ yếu là do loạiđiều trị PD mang lại.Nếu nhà quản lý vẫn phân bổ chi phí theo tiêu thức chi phí tỷ lệ với phí điều trị thì nhàquản trị sẽ lầm tưởng rằng loại điều trị HD mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với PD.Và như vậy, có thể có quyết định sai lầm khi gia tăng bệnh nhân điều trị HD và cắt giảmbớt bệnh nhân điều trị PD. Nếu quyết định như vậy thì sẽ đến một thời điểm khoa sẽ bị lỗvà khoa cũng không biết chính xác nguyên nhân là do loại điều trị nào gây lên, ảnh hưởngđến hoạt động của Khoa.Như vậy, chi phí phân bổ theo phương pháp ABC giúp nhà quản trị có quyết định chiếnlược đúng đắn trong hoạt động kinh doanh của Khoa.s4. Theo bạn cần thực hiện những cải tiến gì để xây dựng hệ thống ABC cho Khoa- Các cấp lãnh đạo cấp cao ủng hộ- Xây dựng đội ngũ đa chức năng bao gồm chuyên môn về marketing, có kiến thức vềviệc điều trị bệnh thận và nhà kế toán có kỹ năng tốt.- Xem xét và nghiên cứu để xây dựng lên các tiêu thức phân bổ phù hợp cho các loại chiphí.- Đầu tư kinh phí cho nghiên cứu hệ thống ABC cho Khoa.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Bài giảng trong lớp.
Xem thêm

5 Đọc thêm

XÁC ĐỊNH HẠN MỨC TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HẠN MỨC KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP

XÁC ĐỊNH HẠN MỨC TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HẠN MỨC KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP

TCTD khác13. Hạn mức vay ngắn hạn tạiHM tín dụng Ngân hàng khác cấp30 tỷ đồng50,000BIDVNhư vậy cách tính hạn mức của BIDV có một số điểm khác như sau:- Việc tính nhu cầu vốn được xác định bắt đầu từ lợi nhuận trước thuế vàlãi vay (EBIT), EBIT được xác định dựa vào các tỷ lệ của những nămtrước đó và có điều chỉnh lại, thông thường tỷ lệ này ngang bằng với-những năm trước.Khi xác định nhu cầu vốn đã loại trừ phần lãi vay ra khỏi chi phí cần-thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Vòng quay vốn lưu động dựa vào các năm trước có điều chỉnh, tuynhiên vòng quay vốn lưu động của các năm trước được tính dựa vào tàisản lưu động bình quân giữa đầu kỳ và cuối kỳ kế toán nên có thể xảy ra-việc thiếu hạn mức cho khách hàng.Khi xác định hạn mức vay vốn tại BIDV thì chỉ loại trừ dư nợ cuối kỳ
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích kỹ thuật từ trong đầu tư chứng khoán

Phân tích kỹ thuật từ trong đầu tư chứng khoán

Phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán EPS EARNINGS PER SHARE LÃI CƠ BẢN TRÊN 1 CỔ PHIẾU EPS và PE có ý nghĩa thế nào trong đầu tư? Tôi muốn biết PE và EPS là chữ viết tắt của thuật ngữ gì, và các thuật ngữ này có ý nghĩa như thế nào trong đầu tư chứng khoán. Trả lời: EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu. Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức: EPS = (Thu nhập ròng cổ tức cổ phiếu ưu đãi) lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông. Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ. Có thể làm giảm EPS dựa trên công thức cũ bằng cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông. EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ PE. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên. Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH GIAN LẬN CÔNG TY CỔ PHẦN KHÍ HÓA LỎNG MIỀN BẮC

PHÂN TÍCH GIAN LẬN CÔNG TY CỔ PHẦN KHÍ HÓA LỎNG MIỀN BẮC

1Lợi nhuận sau thuế thu nhậpdoanh nghiệp1032.2483.1465259.535199.94956.529Biểu đồ tăng trưởng doanh thu của công tyNhìn vào biểu đồ ta thấy, doanh thu thuần của công ty tăng khá đều đặn.So sánh Doanh thu và các loại lợi nhuận:-Tỷ lệ gia tăng từ doanh thu đến lợi nhuận gộp phụ thuộc vào hoạt động sản xuất vàchính sách định giá và phát triển thị trường, Từ năm 2007 đến 2011 doanh thu tăng lênđến 428.472% trong khi đó lợi nhuận gốp tăng lên 267.681%, đây là một thành côngtrong hoạt động sản xuất và chinh sách định giá thị trường vì việc gia tăng tỷ lệ giá vốnhàng bán mặc dù tăng nhưng không bằng doanh thu.-Tỷ lệ gia tăng lợi nhuận gộp đến lợi nhuận hoạt động phụ thuộc vào hiệu quả khác thácquy mô và kiểm soát chi phí. Qua 5 năm thì lợi nhuận gộp tăng 267.681% trong khi đólợi nhuận hoạt động tăng lên 1141.518 % đây cũng là một thành công trong việc khai tháchiệu quả quy mô và kiểm soát chi phí
Xem thêm

33 Đọc thêm

HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH VINH

HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH VINH

1.Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội trong những năm qua ở Việt Nam, hệ thống Ngân hàng thương mại cũng chuyển mình và có những bước phát triển vượt bậc, là một trong những kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của Ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm hơn ½ tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng từ ½ đến 2/3 tổng thu nhập của Ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, …Và rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn và phức tạp nhất. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng.. Rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ gây nên những tổn thất về tài chính mà còn gây nên những thiệt hại to lớn về uy tín ngân hàng, làm giảm sút niềm tin của công chúng đối với cả hệ thống Ngân hàng. Do tính chất lây truyền của nó, rủi ro tín dụng có thể là đầu mối của những cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế xã hội. Thực tế hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian qua cho thấy: Mặc dù nghiệp vụ tín dụng – một khoản mục mang lại lợi nhuận lớn nhất trong kinh doanh ngân hàng, nguồn thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại một tỷ lệ chủ yếu trong lợi nhuận ròng, được trích hình thành nên các quỹ dự trữ và chi trả cổ tức cho các cổ đông của Ngân hàng. Nhưng hiệu quả hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu còn ở mức cao so với khu vực và thế giới, xu hướng phát triển không bền vững. Trong thời gian từ đầu năm 2008 kéo dài đến hết năm 2009 và đến hết năm 2013 thì tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) nói riêng tăng cao vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Vậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam? - Đây là một vấn đề đang được Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đặc biệt quan tâm.
Xem thêm

76 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ AN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ AN

Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện và nâng cao chất lượng là yêu cầu tất yếu. NHTM với tư cách là một thành viên tham gia vào hoạt động của nền kinh tế, là một đơn vị hạch toán độc lập, vận động theo xu hướng chung của các quy luật kinh tế. Hoạt động của NHTM rất đa dạng nhưng hoạt động chủ yếu và đem lại lợi nhuận nhiều nhất là hoạt động tín dụng. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và tín dụng trung dài hạn nói riêng là vấn đề quan trọng, cần thiết đối với bất kỳ một NHTM nào để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, nợ xấu đang là khó khăn lớn của toàn ngành ngân hàng hiện nay. Thực tế hoạt động tín dụng trung dài hạn còn đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề hiệu quả tín dụng trung dài hạn còn thấp, rủi ro cao, nợ xấu nhiều, dư nợ tín dụng trung dài hạn trong các NHTM thường chiếm tỷ lệ chưa đạt so với yêu cầu. Điều đó nói lên rằng vốn đầu tư cho chiều sâu chưa đáp ứng được đòi hỏi bức thiết ngày càng tăng của nền kinh tế. Ngoài ra, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao, cho vay ra nhưng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế nói chung và của hệ thống NH nói riêng. Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề, sau một thời gian thực tập, nghiên cứu và học tập tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Nghệ An em chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Nghệ An” làm chuyên đề thực tập.
Xem thêm

72 Đọc thêm

BÀI TẬP TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SỐ (159)

BÀI TẬP TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SỐ (159)

Kế toán tài chínhCổ tức công bố và đã chiaThu nhập giữ lại ngày31/128561,1401,2631,26332,00936,05539,81837,484b. Lợi nhuận giữ lại tuy gia tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng của lợi nhuận giữ lại giảm dầntừ năm 3 đến năm 5; và từ năm 5 đến năm 6, lợi nhuận giữ lại giảm xuống. Ta có thểgiải thích như thế nào cho những thay đổi này?- Năm 3 đến năm thứ 5 tăng lợi nhuận giữ lại là do tỷ lệ thu nhập ròng hàng nămgiảm đi nhưng vẫn là số dương, khi đó doanh nghiệp hoạt động vẫn có lợi nhuận.
Xem thêm

11 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ QUÝ 2 NĂM 2012 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ QUÝ 2 NĂM 2012 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM

- Có thời hạn thanh tốn trên 1 năm (hoặc trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh) được phân loại là nợ dài hạn;- Tài sản thừa chờ xử lý được phân loại là nợ ngắn hạn;- Thuế thu nhập hỗn lại được phân loại là nợ dài hạn.10. Ngun tắc ghi nhận chi phí phải trả, trích trước chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hành sản phẩm, trích quỹ dựphòng trợ cấp mất việc làm:Các khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được trích trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ để đảmbảo khi chi phí phát sinh thực tế khơng gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo ngun tácphù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi các chi phí đó phát sinh, nếu có chênh lệch với số đã trích, kế tốn tiến hànhghi bổ sung hoặc ghi giảm chi phí tương ứng với phần chênh lệch.Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi được Hội đồng quản trị phê duyệt được trích các quỹ theo Điều lệCơng ty và các quy định pháp lý hiện hành, sẽ phân chia cho các bên dựa trên tỷ lệ vốn góp.11. Ngun tắc ghi nhận vốn chủ sở hữu:Ngun tắc ghi nhận vốn đầu tư của chủ sở hữu:Vốn đầu tư của chủ sở hữu được ghi nhận theo số vốn thực góp của chủ sở hữu.Thặng dư vốn cổ phần được ghi nhận theo số chênh lệch lớn hơn giữa giá thực tế phát hành và mệnh giá cổ phiếu khiphát hành cổ phiếu lần đầu, phát hành bổ sung hoặc tái phát hành cổ phiếu quỹ.Cổ tức phải trả cho các cổ đơng được ghi nhận là khoản phải trả trong Bảng Cân đối kế tốn của Cơng ty sau khi cóthơng báo chia cổ tức của Hội đồng quản trị cơng ty.Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi được Hội đồng quản trị phê duyệt được trích các quỹ theo Điều lệCơng ty và các quy định pháp lý hiện hành, sẽ phân chia cho các bên dựa trên tỷ lệ vốn góp.12. Ngun tắc và phương pháp ghi nhận Doanh thu:Ngun tắc và phương pháp ghi nhận doanh thu bán hàng:Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:- Phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hố đã được chuyển giao cho người mua;- Cơng ty khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hố như là người sở hữu hoặc quyền kiểm sốt hàng hố;- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;- Cơng ty đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.Các thuyết minh này là bộ phận hợp thành các Báo cáo tài chính.
Xem thêm

25 Đọc thêm

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NGÀY 10-04-2009 - CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG CÂY TRỒNG MIỀN NAM

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NGÀY 10-04-2009 - CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG CÂY TRỒNG MIỀN NAM

Lợi nhụân chưa phân phốiCổ tức 15% vốn điều lệ4.197.135.03415.000.000.0004. Thông qua phương án chi trả thù lao cho HĐQT & BKS năm 2009 như sau :− Tổng thù lao chi trả cho HĐQT & BKS năm 2009 dự toán là : 30,370 tỷ đồng lợi nhuận sauthuế kế hoạch * 2% = 607,4 triệu đồng.− Phương thức tạm ứng hàng tháng : 70%. Mức thưởng phạt căn cứ theo tỷ lệ % lợi nhuậnsau thuế tăng hoặc giảm so với lợi nhuận kế hoạch sau thuế theo quy định :9 Nếu lợi nhuận sau thuế vượt hơn so với lợi nhuận kế họach thì mỗi khung vượt trongkhoảng 10% của lợi nhuận kế hoạch thì tiền thù lao được thưởng thêm 1% phần lợinhuận vượt.9 Nếu lợi nhuận sau thuế giảm hơn so với lợi nhuận kế hoạch thì mỗi khung giảmtrong khoảng 10% của lợi nhuận kế hoạch thì tiền thù lao bị phạt thêm 1% phần lợinhuận giảm.− Thù lao cho các thành viên HĐQT & BKS kiêm nhiệm được hạch toán vào chi phí. Thùlao cho các thành viên HĐQT & BKS không kiêm nhiệm được trích từ lợi nhuận sauthuế.5. Thông qua việc ủy quyền cho BKS lựa chọn đơn vị kiểm toán độc lập, có đủ năng lực,trung thực để thực hiện việc kiểm toán báo cáo tài chính Công ty trong năm 2009.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 3 NĂM 2009 - CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ TẠO BIẾN THẾ VÀ VẬT LIỆU ĐIỆN HÀ NỘI

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 3 NĂM 2009 - CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ TẠO BIẾN THẾ VÀ VẬT LIỆU ĐIỆN HÀ NỘI

và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu lần đầu, phát hành bổ sung hoặc tái phát hành cổ phiếu quỹ.- Vốn khác của chủ sở hữu đợc ghi theo giá trị còn lại giữa giá trị hợp lý của các tài sản mà doanh nghiệpđợc các tổ chức, cá nhân khác tặng, biếu, sau khi trừ đi các khoản thuế phải nộp (nếu có) liên quan đến các tàisản đợc biếu tặng này; và khoản bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.- Nguyên tắc ghi nhận lợi nhuận cha phân phối: là số lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp sau khi trừchi phí thuế TNDN của năm nay và các khoản điều chỉnh do áp dụng hồi tố thay đổi chính sách. Lợi nhuận sauthuế cha phân phối có thể đợc chia cho các nhà đầu t dựa trên tỷ lệ vốn góp sau khi đợc Hội đồng quản trịphê duyệt và sau khi đ trích lập các quỹ dự phòng theo Điều lệ Công ty và các quy định của pháp luật Việt Nam11 - Nguyên tắc và phơng pháp ghi nhận doanh thu- Doanh thu bán hàng: doanh thu đợc ghi nhận khi phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với việc sở hữu hànghoá đó đợc chuyển giao cho ngời mua và không còn tồn tại yếu tố không chắc chắn đáng kể liên quan đến việcthanh toán tiền, chi phí kèm theo hoặc khả năng hàng bán bị trả lại.- Doanh thu cung cấp dịch vụ: đợc ghi nhận khi không còn những yếu tố không chắc chắn đáng kể liênquan đến việc thanh toán tiền hoặc chi phí kèm theo. Trờng hợp dịch vụ đợc thực hiện trong nhiều kỳ kế toánthì việc xác định doanh thu trong từng kỳ đợc thực hiện căn cứ vào tỷ lệ hoàn thành dịch vụ tại ngày cuối kỳ.- Doanh thu hoạt động tài chính: Doanh thu phát sinh từ tiền l i, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận đợc chiavà các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác đợc ghi nhận khi thoả m n đồng thời 2 điều kiện: có khả năngthu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch đó và doanh thu đợc xác định tơng đối chắc chắn- Doanh thu hợp đồng xây dựng12 - Nguyên tắc và phơng pháp ghi nhận chi phí tài chính:- Chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu t tài chính- Chi phí cho vay hoặc đi vay vốn- Các khoản lỗ do thay đổi tỷ giá hối đoái của các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến ngoại tệ- Dự phòng giảm giá đầu t chứng khoán- Các khoản trên đợc ghi nhận theo tổng số phát sinh trong kỳ, không bù trừ với doanh thu hoạt động tài chính13 - Nguyên tắc và phơng pháp ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, chi phí thuế thu nhậpdoanh nghiệp ho n lạiTài sản thuế và các khoản thuế phải nộp cho năm hiện hành và các năm trớc đợc xác định bằng số tiền dựkiến phải nộp cho (hoặc đợc thu hồi) từ cơ quan thuế, dựa trên các mức thuế suất và các luật thuế có hiệu lực đếnngày kết thúc kỳ kế toán năm.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Tóm tắt lý thuyết tài chính doanh nghiệp 2

Tóm tắt lý thuyết tài chính doanh nghiệp 2

Tóm tắt lý thuyGiả định Quyết định đầu tư tách rời quyết định tài trợ. Không có thuế, chi phí phá sản, CP giao dịch Thị trường thanh khoản tốt, không bị thao túng. Thông tin có sẵn và miễn phí NĐT cho vay và đi vay với cùng lãi suất DN vay. Tất cả NĐT đều có kỳ vọng thuần nhất. Các DN có cùng điều kiện hoạt động có cùng rủi ro. RD < RE : cổ đông đòi hỏi suất sinh lợi cao hơn trái chủ Điều chinh cấu trúc vốn không tốn chi phí. Nguyên tắc hoạt động Quy luật bảo tồn giá trị: cấu trúc vốn khác nhau không ảnh hưởng đến GTDN nếu không ảnh hưởng đến lựa chọn của NĐT (các giả định ở trên đảm bảo điều này). Mua bán song hành: các NĐT có thể sử dụng đòn bẩy cá nhân thay cho đòn bẩy của DN, do đó giá trị DN sử dụng đòn bẩy và không sử dụng sẽ bằng nhau do arbitrage. (1) Thu nhập sau thuế của trái chủ = 1 TP (2) Thu nhập sau thuế của cổ đông = (1 – TPE) (1 – TC) > Hệ thống thuế ảnh hưởng đến lựa chọn cấu trúc vốn Khi bắt đầu vay nợ, R¬E tăng chậm và RD gần như không đổi > RA giảm . Khi nợ cao: ¬E tăng nhanh và RD bắt đầu tăng > RA tăng. Thông tin bất cân xứng giữa giám đốc và nhà đầu tư. Ý nghĩa Định đề 1: Đòn bẩy tài chính không làm tăng giá cổ phần vì: (1) EPS tăng: do đòn bẩy không ảnh hưởng đến lợi nhuận dự kiến và số lượng cổ phần giảm khi sử dụng đòn bẩy (2) RE tăng: RE = RA + (DE) x (RA – RD), RA không đổi do lợi nhuận dự kiến không đổi > kỳ vọng suất sinh lợi của NĐT không đổi và D tăng, E giảm Định đề 2: Đánh đổi rủi ro – Lợi nhuận: Khi sử dụng đòn bẩy làm RE tăng nhưng rủi ro của cổ đông cũng tăng theo do β_E=β_A+(DE) 〖(β〗_A β_D). > Cổ đông sẽ đòi hỏi TSSL cao hơn khi sử dụng đòn bẩy. DN sẽ không thể tăng nợ lên 100%: do (1) hệ thống thuế khác nhau giữa trái chủ và cổ đông và (2) có chi phí phá sản. Thuế ấn định tổng lượng nợ toàn thị trường > không có cấu trúc vốn tối ưu cho từng DN riêng lẻ > giá trị DN độc lập với cấu trúc vốn DN có lợi ích khi điều chỉnh (thuế, lãi vay) đòn bẩy về đòn bẩy mục tiêu. Giải thích được đòn bẩy khác nhau giữa các ngành DN có suất sinh lời cao + tỷ lệ tăng trưởng tốt > Ưu tiên dùng nợ. Một số lưu ý Nếu định đề 1 MM đúng chỉ công thức WACC mới có giá trị sử dụng. MM1 đúng hoặc MM1 sai và lợi nhuận hoạt động độc lập cấu trúc vốn thì tối đa giá trị thị trường = tối thiếu hóa chi phí sử dụng vốn. Nhược điểm: không giải thích được một số trường hợp DN thành công nhưng không dùng nợ. Nhược điểm: không giải thích được sự khác nhau trong tỉ lệ nợ giữa các ngành 5 trò chơi khi kiệt quệ tài chính Nội dung Chuyển dịch rủi ro Tìm kiếm rủi ro trong miền lỗ (chấp nhận các dự án có suất sinh lời và rủi ro thua lỗ cao) Từ chối đóng góp vào cổ phần Cổ đông không muốn đầu tư vào các dự án có NPV cao do phần lớn lợi nhuận sẽ được chi trả cho chủ nợ. ết chương 13>21
Xem thêm

Đọc thêm

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN (NUÔI LƯƠN (Monopterus albus)) CÓ BÙN VÀ MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN KHÔNG BÙN Ở CẦN THƠ

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN (NUÔI LƯƠN (Monopterus albus)) CÓ BÙN VÀ MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN KHÔNG BÙN Ở CẦN THƠ

Đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi lươn (Monopterus albus) có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ” được thực hiện từ tháng 032015 đến tháng 072015. Đề tài đã khảo sát 60 hộ nuôi lươn thuộc quận Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ, huyện Thới Lai của Cần Thơ. Các thông tin thu thập gồm thông tin kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và thuận lợi, khó khăn của mô hình nuôi lươn. Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi lươn không bùn có ít năm kinh nghiệm hơn hộ nuôi lươn có bùn. Diện tích nuôi trung bình các hộ nuôi lươn có bùn là 162,4 ± 147,4 m2hộ cao hơn đáng kể (p < 0,05) so với hộ nuôi lươn không bùn là 67,6 ± 41,9 m2hộ. Cả hai mô hình nuôi lươn con giống chủ yếu có nguồn gốc là mua nên tỷ lệ hao hụt rất cao và thường xảy ra ở tháng nuôi đầu. Tỷ lệ sống của mô hình nuôi lươn có bùn là 59,3% thấp hơn so với mô hình nuôi lươn không bùn có tỷ lệ sống là 66,0%. Hệ số thức ăn của mô hình nuôi lươn không bùn là 4,7, trong khi đó ở mô hình nuôi lươn có bùn chỉ là 4,3. Bệnh thường gặp ở cả hai mô hình là bệnh xuất huyết đường ruột do chưa có các loại thuốc đặc trị dành riêng cho lươn. Thời gian nuôi của mô hình nuôi lươn không bùn là 5,8 ± 1,5 tháng ngắn hơn mô hình nuôi lươn có bùn 7,4 ± 1,0 tháng nên mô hình này có thể nuôi 02 vụnăm. Năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn không bùn là 8,62 ± 5,48 kgm2 khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) với mô hình nuôi lươn có bùn là 8,66 ± 2,11 kgm2. Tổng chi phí của mô hình nuôi lươn có bùn là 914.684 ± 236.090 đồngm2vụ lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với mô hình nuôi lươn không bùn là 664.952 ± 367.713 đồngm2vụ. Lợi nhuận trung bình của hộ nuôi lươn có bùn là 134.023 ± 171.127 đồngm2vụ thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với hộ nuôi lươn không bùn là 411.995 ± 522.005 đồngm2vụ. Tỷ suất lợi nhuận thu được của hộ nuôi lươn không bùn là 0,67 ± 0,80 % cao hơn đáng kể (p < 0,05) so với tỷ suất lợi nhuận của mô hình có bùn là 0,17 ± 0,22 %. Các yếu tố như mật độ thả nuôi, lượng thức ăn và thời gian nuôi có ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ.
Xem thêm

Đọc thêm

XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ

mà nhóm đưa ra, bằng cách tính xác xuất của tỷ lệ lợi nhuận trung bình mỗi n m sau100 lần mô phỏng và được bảng kết quả dưới đâyBảng “Đánh giá tỷ lệ lợi nhuận trung bình mỗi năm”Dựa vào bảng trên, cho thấy việc đầu tư vào danh mục này là khả quan bởi vìxác suất thu được lợi nhuận trung bình mỗi n m là khá cao (Đề án Quản trị danh mục đầu tư).10ẾT U NQua quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy rằng để đáp ứng yêu cầu đềtài, cần phải có một quá trình tính toán cũng như là cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựachọn một danh mục đầu tư với mục tiêu tối ưu lợi nhuân. Và nhờ vào một quá trìnhlàm việc như vậy, nhóm chúng tôi đã đạt được kết quả ngoài mong đợi.Với việc lựa chọn ba cổ phiếu như trên, bao gồm VNM, OPC, DPM, chúng tôiđã mô phỏng và dự đoán được khoản lợi nhuận đáng kể cho việc đầu tư vào danh mụcnày. Hơn thế n a, với kết quả mà chúng tôi tính toán được, khả n ng hoàncho khách hàng trong khoảng thời gianvốnn m là hoàn toàn có thể xảy ra, vào bất kỳ
Xem thêm

14 Đọc thêm

Bài thảo luận kinh tế lượng

Bài thảo luận kinh tế lượng

1.1 Đặt vấn đề: Phát triển kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân hiện nay. Việc lập mô hình kinh tế lượng về sự phụ thuộc của chỉ số chung về phát triển kinh tế với chỉ số về chất lượng lao động và chỉ số năng lực công nghệ có thể cho ta xác định được mức độ tác động của các yếu tố tới sự phát triển kinh tế. 1.2 Các chỉ tiêu: Ba chỉ tiêu đặc trưng cho phát triển kinh tế là năng suất lao động (tính theo giá trị tăng thêm). thu nhập bình quân 1 lao động và tỷ suất lợi nhuận (tỷ số giữa lợi nhuận và tổng chi phí sản xuất). Mỗi chỉ tiêu trên được tính về một chỉ số riêng biệt tương ứng và sau đó tính bình quân thành chỉ số chung về phát triển kinh tế (Y) cột 1 Nguồn số liệu Một chỉ tiêu về chất lượng lao động (là tỷ lệ giữa lao động có trình độ cao đẳng. đại học trở lên và tổng số lao động làm việc). sau tính thành chỉ số về chất lượng lao động tương ứng (X1) cột 2 Nguồn số liệu. Năm chỉ tiêu đặc trưng cho công nghệ: chia thành 3 nhóm: nhóm các chỉ tiêu phản ánh đổi mới công nghệ gồm vốn đầu tư bình quân một lao động và điểm đánh giá về trình độ công nghệ; nhóm chỉ tiêu phản ánh chuyển giao công nghệ gồm giá trị tài sản cố định bình quân một lao động và tỷ lệ vốn đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với tổng số đầu tư của các loại hình doanh nghiệp và chỉ tiêu phản ánh công nghệ thông tin được tính bằng số điểm bình quân đánh giá về công nghệ thông tin. Các chỉ tiêu trên được tính thành các chỉ số riêng biệt tương ứng. sau tính bình quân để được các chỉ số sáng tạo công nghệ. chuyển giao công nghệ và công nghệ thông tin. Cuối cùng bình quân ba chỉ số này được chỉ số năng lực công nghệ (X2) cột 3 Nguồn số liệu.
Xem thêm

Đọc thêm

Lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp Nhà nước

Lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp Nhà nước

Trong những năm gần đây, trước xu hướng hội nhập và phát triển của kinh tế thế giới, Việt Nam cũng đã mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế với rất nhiều nước trong khu vực và thế giới. Đi cùng vơi sự mở cửa của nền kinh tế là sự thay đổi của khung pháp chế. Hiện nay, pháp luật Việt Nam đang cố gắng tạo ra sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Nhà nước không còn bao cấp cho các doanh nghiệp nhà nước như trước đây nữa. Việc này tạo ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp tự chủ trong nền kinh tế, nhưng cũng lại đặt ra rất nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp nhà nước. Để tồn tại và ổn định được trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải có sự chuyển mình, phải nâng cao tính tự chủ, năng động để tìm ra phương thức kinh doanh có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao, từ đó mới có đủ sức để cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.Kết quả kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh đích thực tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó liên quan chặt chẽ đến chi phí bỏ ra và lợi nhuận sẽ đạt được, do đó nếu xác định đúng đắn kết quả kinh doanh sẽ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp đánh giá đúng tình hình sản xuất kinh doanh và quản lý được tốt hơn, từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất giúp cho doanh nghiệp nâng cao được lợi nhuận.Cùng với việc xác định kết quả kinh doanh, phân phối lợi nhuận cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp. Việc phân phối sử dụng đúng đắn, hợp lý lợi nhuận sẽ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, đảm bảo lợi ích kinh tế của Nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động.Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, việc xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận cũng còn nhiều bất hợp lý gây nên các hiện tượng “lãi giả lỗ thật” hoặc “lỗ giả lãi thật”, việc sử dụng các quỹ vốn còn nhiều tuỳ tiện chưa theo đúng mục đích. Xuất phát từ những nhận thức trên tôi đã đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài: Lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp Nhà nước , làm đề tài cho bài luận văn tốt nghiệp của mình.Nội dung luận văn ,ngoài mở đầu và kết luận, gồm 3 phần :Phần I : Một số vấn đề lý luận về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp thương mại Nhà nước Phần II : Tình hình thực hiện lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của Công ty Viễn Thông quân đội.PHẦN III: Nhận xét đánh giá một số ý kiến đề xuất về phương hướng và biện pháp chủ yếu góp phần tăng lợi nhuận ở Công ty Viễn Thông quân độiVới bài luận văn này, em rất mong muốn được góp một số ý kiến nhỏ bé của mình vào những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với Công ty Viễn Thông quân đội.Tuy nhiên, với vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm làm việc chưa nhiều nên bài viết này của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy nên, em rất mong có được sự góp ý, giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn: PGS .TS. Lê Thế Tường cùng các thầy cô giáo và các bạn.
Xem thêm

Đọc thêm

Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần SARA Việt Nam

Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần SARA Việt Nam

Trang bìa i Lời cam đoan ii Mục lục iii Danh mục viết tắt vi Danh mục bảng biểu vii Lời mở đầu 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN 4 1.1. Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận 4 1.1.1. Khái niệm lợi nhuận 4 1.1.2. Vai trò của lợi nhuận 6 1.2. Phương pháp xác định lợi nhuận 9 1.2.1. Phương pháp trực tiếp 9 1.2.2. Phương pháp sản lượng hoà vốn 10 1.2.3. Phương pháp tính lợi nhuận theo hoạt động 12 1.3. Tỷ suất lợi nhuận 15 1.3.1. Tỷ suất lợi nhuận doanh trên doanh thu thu hay hệ số lãi ròng 15 1.3.2. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản 16 1.3.3. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh 17 1.3.4. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời ròng của tài sản(ROA) 18 1.3.5. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu 18 1.4. Sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp 19 1.4.1. Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 19 1.4.2. Xuất phát từ cơ chế thị trường 19 1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp 21 1.5.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm 22 1.5.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chi phí 25 1.6. Giải pháp phấn đấu tăng lợi nhuận doanh nghiệp 27 1.6.1. Tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm 27 1.6.2. Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả 28 1.6.3. Đầu tư để nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ 28 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SARA VIỆT NAM 30 2.1. Giới thiệu khái quát về công ty Cổ phần SARA Việt Nam 30 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần SARA Việt Nam…………. 30 2.1.2. Tổ chức nhân sự và bộ máy quản lý 32 2.1.3. Tổ chức bộ máy Tài chính – Kế toán 37 2.1.4. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 38 2.1.5. Thị trường tiêu thụ và vị thế cạnh tranh 40 2.1.6. Lực lượng lao động 41 2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh và thực hiện lợi nhuận tại công ty Cổ phần SARA Việt Nam 42 2.2.1. Đánh giá tình hình kinh tế xã hội và môi trường kinh doanh của công ty 42 2.2.2. Đánh giá sơ bộ tình hình tài chính công ty 44 2.2.3. Tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty 54 2.2.4. Tình hình thực hiện chi phí 58 2.2.5. Tình hình hiệu quả sử dụng vốn 62 2.2.6. Nhận xét tình hình thực hiện lợi nhuận 65 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHẤN ĐẦU TĂNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SARA VIỆT NAM 67 3.1. Định hướng phát triển công ty cổ phần SARA trong thời gian tới 67 3.1.1. Tình hình kinh tế xã hội năm 2012 và diễn biến đầu năm 2013…………….. 67 3.1.2. Định hướng phát triển kinh doanh năm 2013 và các năm tới 68 3.2. Một số giải pháp phấn đấu tăng lợi nhuận tại công ty cổ phần SARA Việt Nam 70 3.2.1. Tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 70 3.2.2. Tăng cường công tác quản lý chi phí 71 3.2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 74 3.2.4. Tăng cường công tác tìm kiếm hợp đồng mới 75 3.2.5. Tăng cường mở rộng liên doanh, liên kết với các công ty trong và ngoài nước 75 3.2.6. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 76 3.2.7. Nâng cao chất lượng nhân lực 76 3.3. Một số kiến nghị tạo tiền đề thực hiện các giải pháp trên 77 KẾT LUẬN 79
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề