ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ PHÁP LUẬT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ PHÁP LUẬT":

Phân tích môi trường marketing ảnh hưởng đến ngành điện tử

Phân tích môi trường marketing ảnh hưởng đến ngành điện tử

MỤC LỤC 1 Lời mở đầu 3 I Tổng quan về môi trường Marketing 4 1. Môi trường marketing là gì? 4 2. Phân loại môi trường 4 II Tổng quan về ngành điện tử Việt Nam 5 PHẦN B: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 7 I Phân tích môi trường vĩ mô 7 1. Môi trường dân số 7 2. Môi trường kinh tế 13 3. Môi trường chính trị pháp luật 20 3. Môi trường văn hoá xã hội 25 5. Môi trường khoa học công nghệ 33 3. Môi trường tự nhiên 38 II. Phân tích môi trường vi mô 45 1. Nhà cung ứng 45 2. Doanh nghiệp 52 3. Đối thủ cạnh tranh 57 4. Các trung gian Marketing 64 5. Khách hàng 69 6. Công chúng trực tiếp 76 KẾT LUẬN CHUNG 82 Tài liệu tham khảo 84
Xem thêm

Đọc thêm

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta và đề xuất ý kiến nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta và đề xuất ý kiến nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu Bài tập học kỳ Luật Tài chính 8,5đ Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tài chính Hội nhập với thế giới là một một xu hướng chung của bất kì các quốc gia nào trong thời kì hiện nay, một trong những phương thức để hội nhập với kinh tế toàn cầu đó là xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xư hướng chung đó của toàn thế giới, chúng ta cũng không ngừng nỗ lực để phát triển nền kinh tế đất nước. Luật Thuế xuất nhập khẩu năm 2005 ra đời đã kịp thời điều chỉnh những quan hệ trong quá trình thu và quản lí hàng hóa xuất nhập khẩu. Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu”. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ NHẬP KHẨU 1. Một số nét về thuế nhập khẩu a. Khái niệm về thuế nhập khẩu Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhập khẩu tùy thuộc và từng góc độ tiếp cận như : Xét về phương diện kinh tế, thuế Nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hoá qua biên giới một nước. Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu. Ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thuế nhaaph khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào hành vi dịch chuyển hàng hóa qua biên giới của một quốc gia b. Đặc trưng của thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có 3 đặc trưng dễ nhận thấy nhất như sau: Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hoá được phép vận chuyển qua biên giới. Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu. Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu. c. Vai trò thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có 3 vai trò lớn sau đây: Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Thuế Nhập khẩu không chỉ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn có tác động tới số lượng và cơ cấu các nguồn thu từ các sắc thuế khác có liên quan. Trong mối quan hệ hữu cơ với các sắc thuế khác, thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách từ những hình thức thuế gắn với hoạt động kinh doanh, thương mại như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp… Điều tiết hoạt động kinh tế. Thuế Nhập khẩu là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà nước đối với nền kinh tế. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước điều chỉnh quá trình phân bổ và phân bổ lại các nguồn lực của nền kinh tế. Với việc tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hóa trong thương mại quốc tế, thuế nhập khẩu điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và như vậy tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất. Thuế Nhập khẩu là công cụ hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu đánh thuế ở mức khác nhau đối với từng loại hàng hóa nhập khẩu, từ đó điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và từ đó tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực cho các ngành sản xuất. 2. Pháp luật về thuế nhập khẩu a. Khái niệm về pháp luật thuế nhập khẩu: Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu phát sinh giữa nhà nước với người nộp thuế b.Nội dung pháp luật thuế nhập khẩu b1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu Gồm người nộp thuế là tổ chức,cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu( điều 4 luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu) và người thu thuế là Nhà Nước trong đó có những cơ quan đại diện cho nhà nước để thu thuế nhập khẩu như cơ quan hải quan và một số cơ quan chức năng khác. b2. Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu Gồm: Các quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu Các sự kiện pháp lí b3. Căn cứ xác định nghĩa vụ thuế nhập khẩu Đối với những mặt hàng áp dụng thuế suất theo tỉ lệ phần trăm (%), căn cứ tính thuế là: Số lượng,đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu Thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với hàng hóa nhập khẩu Đối với những mặt hàng nhập khẩu ấp dụng thuế tuyệt đối Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan Mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vi hàng hóa nhập khẩu b4.Phương pháp tính thuế Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x giá tính thuế x thuế suất(%) của từng mặt hàng ghi trong biểu thuế tại thời điểm tính. Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối: Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị từng mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x mức thuế tuyệt đối quy định trên 1 đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính b5. Đồng tiền tính thuế nhập khẩu; đồng Việt Nam, trong trường hợp được phép nộp bằng ngoại tệ thì phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. b6. Trình tự, thủ tục nộp thuế nhập khẩu 1: Kê khai thuế và tính thuế nhập khẩu 2. Nộp thuế và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu II. TÌNH HÌNH THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA Luật thuế Xuất khẩu,thuế Nhập Khẩu đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1993 và 1998). Tuy nhiên, luật này đã bộc lộ nhiều bất cập, quy định không hợp lý dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách và ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Để khắc phục, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 đã ra đời. Bên cạnh đó là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đạo luật này đã khắc phục được nhiều bấp cập của Luật Thuế xuất khẩu, thuế Nhập Khẩu 1991. Trong quá trình thực thi từ 112006 đến nay, đạo luật này đã thể hiện nhiều ưu điểm, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Từ khi Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chính sách thuế, góp phần thúc đẩy hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Trong điều kiện quốc tế hóa nền kinh tế, Việt Nam gia nhập WTO, chính sách về thuế Nhập khẩu ngày càng được mở rộng, mức độ mở cửa thị trường ngày càng cao đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu. Pháp luật thuế nhập khẩu đã phản ảnh chủ trương mở rộng kinh tế quốc tế, mở rộng ngoại giao của nước ta. Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, có các ưu đãi thuế quan, xác định giá tính thuế phù hợp với pháp luật quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Từ đó, thúc đẩy quan hệ ngoại giao với các quốc gia liên quan. Nguồn thu từ thuế Nhập khẩu là một nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước. Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, tính từ 112011 đến 3132111, thu ngân sách nhà nước của ngành hải quan ước đạt 44.000 tỷ đồng, tăng khoảng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 ra đời đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao sự minh bạch trong hoạt động hải quan, theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy vậy vẫn còn một số hạn chế trong việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như sau: Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu chưa thật sự triệt để, pháp luật thuế có nhiều chỗ còn lỏng lẻo tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế luồn lách. Việc kê khai thuế, nộp thuế còn mất nhiều thời gian và còn quá nhiều uẩn khúc. Còn nhiều cán bộ thuế chưa có đủ năng lực và trách nhiệm trong bộ máy quản lý thuế nhập khẩu…. III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Những nhân tố chung ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế nhập khẩu nói riêng Pháp luật thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng chung với các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế ở Việt Nam như: Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước; Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới;Chính sách phát triển chung của nhà nước; Nhu cầu của Ngân sách a. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn đó. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chỉ là tấm gương phản chiếu thực trạng tình hình kinh tế và xã hội trong nước và quốc tế mà thôi. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích chung của từng quốc gia với lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, từng cá nhân và hộ gia đình, chính sách thuế xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ có thể sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ; mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc và mục tiêu tự do hóa thương mại. . Tình hình kinh tế Hiện nay nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đây bình quân đầu người tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức ổn định, đời sống của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như thất nghiệp, sản xuất suy giảm, hàng hóa sản xuất ngày càng kém cạnh tranh với hàng nước ngoài. Đặc biệt, trong những năm gần đây, hàng hóa tiêu dùng, hàng điện tử của các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngày càng tràn lan trên thị trong nước hàng nội địa gần như không có khả năng cạnh tranh, không còn chỗ đứng trên chính thị trường quốc gia của mình. Vì vậy, Thuế nhập khẩu đã ra đời với chức năng cơ bản của một loại thuế và quan trọng hơn nó còn có vai trò đặc thù đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa ngoại nhập. Vai trò này xuất phát từ nguồn gốc của hàng hóa, hàng nhập khẩu sẽ có giá cả cao hơn do phải chịu một mức thuế nhất định khi nhập khẩu qua các cửa khẩu, cảng biển trong khi hàng hóa trong nước lại không phải chịu phần thuế nhập khẩu này ( trừ những nguyên liệu, linh kiện phải nhập từ nước ngoài về).Vì vậy, Chính phủ xem việc đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để góp phần đảm bảo sức cạnh tranh cho hàng hoa strong nước, hanjc hế được phần nào sự độc chiếm thị trường của hàng ngoại nhập . Tình hình trính trị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Hiện nay tình hình chính trị nước ta tương đối ổn định, không xảy ra các cuộc chiến tranh, khủng bổ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thành phần chống phá Nhà nước, những người có hành động phản Đảng và những thế lực thù địch bên ngoài nên phải hết sức đề phòng. Trong thời gian qua, một số vụ tham nhũng, hối lộ đang diễn ra một cách phức tạp nổi cộm như vụ án Dương Chí Dũng với sự nhũng tay của không ít các quan chức cấp cao nhà nước đã gây ra những chấn động lớn đối với cục diện chính trị, kinh tế trong nước. Đặc biệt, gần đây, Trung Quốc đã sử dụng nhiều chiêu trò để thao túng thị trường nông sản trong nước gây ra những bất lợi nhất định đối với quá trình hội nhập kinh tế nước ta. Chính vì vậy, bên cạnh chính sách duy trì nền chính trị trong nước ổn định, Đảng và nhà nước ta cần siết chặt hơn nữa công tác quản lý hàng hóa nhập vào trong nước, tránh để trường hợp lợi dụng chính sách hội nhập để thực hiện âm mưu về chính trị, thao túng thị trường trong nước gây nên nhiều bất lợi cho quốc gia. b. Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới Trên thế giới xu hướng chung là các nước cùng liên minh thành lập lên những liên minh kinh tế thế giới để cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Theo đó các nước thành viên sẽ có những thỏa thuận tạo lên khung pháp lý mà muốn tham gia thì quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí đó. Trên thực tế, luật thuế nhập khẩu của mỗi quốc gia sẽ phán ánh tình trạng hội nhập của quốc gia đó và vì vậy nó chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của các điều ước quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, pháp luật thuế nhập khẩu ở mỗi nước( trong đó có cả Việt Nam) được xây dựng và hoàn thiện theo hướng cơ bản sau: Chuyển hóa các cam kết quốc tế thành các quy định pháp luật trong nước bằng cách đưa vào luật những quy định mới hoặc sửa đổi, điều chỉnh những quy định đã có cho tương thích với các quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia đó đã hoặc sẽ tham gia. Thừa nhận các quy định quốc tế để áp dụng, sau đó sửa đổi luật pháp cho phù hợp với các quy định quốc tế( Ở Việt Nam hiện nay, giải pháp này được goi là “nội luật hóa” các điều ước quốc tế). Những chính sách trên đã có tác động lớn tới pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam và dẫn tới những thay đổi trong pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam.Ở Việt Nam,những thay đổi lớn lao và quan trọng trong chính sách thuế xuất nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của AFTA). Ngày 7112006 Việt Nam gia nhập WTO và trở thành thành viên chính thức của WTO từ ngày 1112007. Trước khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật như ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005,…để tương thích với các quy chế của WTO. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật bổ sung, hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật thời hậu WTO. Và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ, nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ. Hầu hết những thay đổi này đều được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn. Như vậy có thể nói, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến nội dung và thực thi chính sách thuế nhập khẩu ở Việt Nam c. Chính sách phát triển chung của nhà nước Dựa trên bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới,Đảng ta đề ra đường lối hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kì. Đảng và nhà nước đã đưa ra hai xu hướng để phát triển kinh tế đất nước đó là:Bảo hộ mậu dịch, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước. Xu hướng thứ hai là tự do hóa thương mại, cắt giảm tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan của xu hướng tự do hóa thương mại. Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”. Để phù hợp với xu thế chung của thế giới,Việt Nam là lần lượt trở thành quốc gia thành viên của WTO, APEC, IMF, ASEAN…Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương. Tuy vậy việc trở thành thành viên của các liên minh kinh tế thế giới, việc kí kết những hiệp ước song phương, đa phương cũng lại trở thành một thách thức lớn cho Việt Nam vì Việt Nam phải cắt giảm quá nhiều loại thuế nhập khẩu đưa tới việc giá thành của những hàng hóa nhập khẩu đó giảm xuống trong khi đó chất lượng lại tốt hơn hàng hóa của Việt nam nên hàng hóa sản xuất trong nước không thể cạnh tranh được. Chính vì thế, để đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ về tập quán quốc tế về thuế quan và thương mại,ể bảo vệ được hàng hóa trong nước pháp luật thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam đã quy định việc áp dụng các biện pháp về thuế tự bảo vệ( nhằm bảo hộ các hàng hóa trong nước do bị cạnh tranh không chính đáng với hàng hóa cùng lọai được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam); áp dụng thuế chống bán phá giá( đối với hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam thấp hơn giá thông thường trong giao dịch thương mại; áp dụng thuế chống trợ cấp (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được trợ cấp từ nước xuất khẩu) và áp dụng thuế chống phân biệt đối xử (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt nam được xuất xứ từ nước ngoài mà trước đó đã có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Việt Nam). Đây là biện pháp quan trọng để bảo hộ nền sản xuất trong nước và tạo được nguồn thu đáng kể cho Ngân Sách Nhà nước từ việc “nhập khẩu” hàng hóa d. Nhu cầu thu Ngân Sách Nhà Nước về thuế nhập khẩu. Ngân sách nhà nước được hình thành để Nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội đồng thời tạo ra các hàng hóa, dịch vụ công cộng phục vụ cho người dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN trong đó có thuế nhập khẩu. Cũng giống như các quốc gia đang phát triển khác, bên cạnh vai trò bảo hộ hàng hóa, dịch vụ trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài thì ở nước ta, thuế nhập khẩu cũng giữ vai trò quan trọng cho ngân sách nhà nước. Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã ban hành và điều chỉnh các quy định pháp luật về thuế nhập khẩu cho phù hợp với từng giai đoạn nhất định của đất nước. Cụ thể, nhằm hạn chế tiêu dùng đối với một số hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, Nhà nước tăng thuế suất thuế nhập khẩu; đồng thời, để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước, pháp luật thuế nhập khẩu đã có các quy định hạn chế việc nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa mang tính chất tiêu dùng xa xỉ như ô tô, thuốc lá, rượu ngoại... Sự hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với hàng hóa nhập khẩu. Những số liệu về tỷ trọng của số thu hải quan so với tổng thu ngân sách nhà nước đã thể hiện được sự quan trọng của thuế nhập khẩu. Tiêu biểu, theo số liệu từ phòng thuế xuất nhập khẩu chỉ riêng tại Cục Hải quan Quảng Ninh, tính tới ngày 3032014, Hải quan Quảng Ninh đã thu nộp ngân sách nhà nước đạt 4,734 tỷ đồng, đạt 25,3% kế hoạch Bộ Tài chính giao cho, tăng 62% so với cùng kì năm 2013. Trong đó, đặc biệt là thu từ xăng dầu nhập khẩu. Cụ thể, số thu từ nhóm mặt hàng này đã đạt 2,985 tỷ đồng, chiếm 63% tổng thu toàn Cục; tăng 57% (tương đương 1,087 tỷ đồng) so với cùng kì 2013. Yếu tố tác động tới việc tăng kim ngạch, số thu từ nhóm mặt hàng xăng dầu nhập khẩu được lí giải là do mức thuế suất thuế nhập khẩu nhóm hàng này tăng hơn 4% so với mức thuế suất cùng kì 2013, lượng xăng dầu nhập là 453.000 tấn, tăng 23% (tương đương 87.000 tấn), kim ngạch tăng 14% (tương đương 54 triệu USD) so với năm 2013. Trước áp lực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4% với lộ trình thực hiện sau 5 đến 7 năm. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu – một trong những loại hình thuế gián thu quan trọng, đang đặt ra những thử thách mới cho việc xây dựng chính sách thuế gián thu, đó là làm sao tiếp tục bảo hộ sản xuất trong nước, tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước, không quá ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Thực tế đã cho thấy, khi thuế nhập khẩu bị cắt giảm, giá cả của một số nhóm hàng hóa như máy móc, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài cũng bị giảm theo. Do nhu cầu trong nước vẫn không giảm và có thể còn tăng lên nên những sản phẩm trong nước có cơ hội tăng lên về số lượng và giảm giá thành. Hệ quả này thúc đẩy nhu cầu mua sắm, tiêu dùng hàng hóa trong nước và làm tăng thu ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân,… Bên cạnh đó, ngoài việc bù đắp cho ngân sách bằng khoản thu của các loại thuế khác, việc cắt giảm thuế nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng nếu không muốn bị loại ra khỏi cuộc chơi. Như vậy, có thể thấy, với nhu cầu của ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các khoản chi tiêu phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển của đất nước, Nhà nước bằng quyền lực của mình đã có những tác động không nhỏ tới các chính sách cũng như các quy định về pháp luật thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng. 2. Các yếu tố mang tính đặc thù ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam a. Ý thức của người tham gia nộp thuế nhập khẩu Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi Luật thuế nhập khẩu. Ý thức của người nộp thuế tốt thì việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu sẽ tốt và ngược lại. Nhưng trên thực tế, việc thực thi pháp luật thuế còn gặp nhiều bất cập và một lý do là do ý thức của người nộp thuế chưa được tốt. Trên thực tế, người nộp thuế đã luôn có những hành vi gian lận thuế nhập khẩu như: Khai báo không trung thực về giá tính thuế nhập khẩu,các chủ thể nộp thuế thường không khai báo chính xác mà khai giá nhập khẩu thấp hơn hoặc khai thấp về chất lượng hàng những chủ thể nộp thuế thường khai chất lượng hàng thấp hơn so với thực tế nhằm trốn thuế nhập khẩu… Gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam cam kết giảm thuế. Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế suất thấp hơn… Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu Mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập, trị giá hải quan ảnh hưởng đến công tác kiểm tra của hải quan. Một số kiểu lách luật khác…. Chính những hành vi gian lận trên đã có ảnh hưởng xấu tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Pháp Luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam vốn dĩ vẫn chưa được hoàn thiện và còn nhiều kẽ hở khiến cho việc người nộp thuế tìm ra những vết nứt để luồn lách khiến cho pháp luật thuế nhập khẩu đã hổng nay còn hổng hơn. Trong khi đó bộ máy quản lý pháp luật thuế nhập khẩu cũng vẫn chưa được hoàn thiện. Vậy nên có thể nói việc thực hiện pháp luât thuế nhập khẩu có tốt hay không phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của người đi nộp thuế. Nếu người nộp thuế có ý thức tự giác trong việc nộp thuế, sẵn sàng đóng góp ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế nhập khẩu thì dù có còn lỗ hổng thì việc thực thi và quản lý pháp luật thuế nhập khẩu vẫn sẽ trở nên rất dễ dàng ở Việt Nam. a. Sự quản lý, trình độ quản lý của bộ máy quản lý thuế nhập khẩu Trong những năm vừa qua, Nhà nước ta đã chăm lo nhiều đến công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, phẩm chất đạo đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ quản lí thuế, tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho công tác quản lí thuế, đổi mới cơ cấu tổ chức ngành thuế cho phù hợp, đổi mới cải cách thủ tục hành chính,… Nói chung, Nhà nước thực hiện các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực quản lí của cả bộ máy quản lí thuế để tiến đến việc ban hành các quy định mới trong pháp luật thuế như: quản lí thuế thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp; quản lí thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ, thực hiện quản lí thuế hiện đại theo chuẩn mực chung. Nhờ đó mà năng lực quản lý của cán bộ thuế ngày càng được bồi dưỡng và đạt được hiểu quả cao trong công tác. Việc thực thi pháp luật thuế trở nên đúng mực, dễ thực hiện hơn. Tuy vậy cũng không thể không kể tới một số không nhỏ cán bộ công chức còn chưa có năng lực thực sự, thêm vào đó là bộ máy quản lý thuế nhập khẩu còn cồng kềnh, chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến những kẻ hở để những nhà nhập khẩu có thể lách luật nên công tác tự khai tự nộp thuế nhập khẩu ở nước ta vẫn chưa thể thực hiện được b. Cơ sở vật chất Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động nhập khẩu cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Không thể phủ nhận là cơ sở vật chất của ngành hải quan đang ngày càng được hoàn thiện. Hiện nay, chúng ta đang triển khai mô hình thực hiện hải quan điện tử theo Quyết định 1032009QĐTTg, Thông tư 2222009TTBTC. Mô hình này đã đạt được những thành tựu nhất định. Đối với 13 cục hải quan tỉnh, thành phố, số doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện tử đã đạt 43.168 doanh nghiệp; số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đạt 1,58 triệu tờ khai, chiếm tỷ lệ 70%; kim ngạch thực hiện hải quan điện tử đạt 116,7 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 70,3% . Hải quan điện tử mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp như giảm chi phí thủ tục, thời gian…, giảm việc sách nhiễu, tiêu cực. Số chi cục thực hiện hải quan điện tử cũng đã đạt 80 chi cục, chiếm tỷ lệ 95%. Việc này giúp cho hoạt động kiểm tra, giám sát nhập khẩu được dễ dàng, thuận tiện hơn, giúp cho pháp luật thuế nhập khẩu có thể được thực hiện một cách triệt để hơn. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bất cập, thiếu thốn, là yếu tố trở ngại cho việc thực thi thuế nhập khẩu như:Phương tiện, trang thiết bị trợ giúp cho cán bộ hải quan vẫn còn lạc hậu, gây ra nhiều khó khăn, đặc biệt là trong công tác chống buôn lậu ; Nơi làm việc cho cán bộ công chức tại trụ sở Cục hải quan Thành phố cũng như tại các Chi cục cửa khẩu có nhiều khó khăn do mặt bằng làm việc chật hẹp. Tại các cửa khẩu Hải quan không có đất để xây dựng trụ sở mà phải lệ thuộc vào cơ quan chủ quản trên địa bàn (Cảng biển, sân bay, bưu điện…) nên rất khó khăn, bị động trong triển khai nghiệp vụ. Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị, công nghệ thông tin cũ, không đồng bộ, phần mềm quản lý chưa hoàn thiện nhưng chưa được trang bị mới, nâng cấp, chưa được trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết như: camera quan sát, máy soi, máy phát hiện ma túy… Chính những khó khăn này đã gây ra những cản trở tới việc quản lý, giám sát các hoạt động thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta. c. Nhu cầu của người tiêu dùng Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Bởi lẽ có “cầu” thì mới có “cung”. Tuy Việt Nam vừa thoát khỏi danh sách những nước nghèo trên thế giới nhưng ở Việt Nam lại có tâm lí “sính hàng ngoại”. Tuy nhiên trước đây do thuế suất những mặt hàng nhập rất cao nên những mặt hàng nhập khẩu chỉ đến được tay giới thượng và đương nhiên tính về mặt bằng chung thì nhu cầu về hàng nhập khẩu cũng không lớn. Phải cho đến mấy năm gần đây, khi mà kinh tế của nước ta bắt đầu có bước phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, họ đã có nhu cầu nhiều hơn được sử dụng những mặt hàng nhập khẩu với chất lượng tốt, thêm vào đó thuế suất các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng giảm,nó đã làm cho nhu cầu của người dân về hàng nhập tăng lên. Như vậy phần nào nó cũng có ảnh hưởng gián tiếp tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu bởi lẽ khi người dân có nhu cầu, những nhà nhập khẩu sẽ tìm cách để cung ứng được cho khách hàng. Từ đó, những nhà nhập khẩu sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi việc áp dụng thuế nhập khẩu ở nước ta. Còn vấn đề thực thi thế nào(trung thực hay gian lận) lại phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của các nhà nhập khẩu. d. Những yếu tố khác chi phối pháp luật thuế nhập khẩu. Ngoài những vấn đề nêu trên, Thuế nhập khẩu Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố khác như những Hiệp định, các văn bản kí kết của Việt Nam với các quốc gia khác. Tính đến giai đoạn hiện tại, Việt Nam đã ký kết gần 50 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia, vùng lãnh thổ. Nội dung thỏa thuận trong các Hiệp định có những phần đã thể hiện tại các văn bản pháp luật trong nước nhưng còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nội luật hóa, khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ trong ngành thuế cũng gặp nhiều khó khăn. Thực hiện các cam kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thực chất liên quan đến quyền lực của Nhà nước về thuế trước xu thế toàn cầu hóa.Quan hệ pháp luật thuế không chỉ chịu tác động của quá trình hội nhập mà còn chịu tác động của quá trình tái cơ cấu các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia.Chính những tác động này ảnh hưởng đến chính sách thuế và hệ thống pháp luật thuế. Nếu không có chính sách và lộ trình, bước đi cụ thể, tác động của hội nhập có thể ảnh hưởng đến quyền tự quyết và quyền chính trị quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần đưa ra những đường lối, chính sách đúng đắn và hệ thống pháp luật thuế phải trên cơ sở đường lối, chính sách mà Đảng, Nhà nước đưa ra. Yếu tố liên quan đến việc xây dựng và ban hành pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn của nhà lập pháp còn chưa cao, cơ quan lập pháp thể hiện ý chí chủ quan của mình, các văn bản pháp luật liên quan tuy nhiều nhưng chống chéo. Yếu tố liên quan đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật thuế chưa cao, trình độ nhận thức của người nộp IV. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN PHÁP LÝ NHẰM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA 1. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật . Thứ nhất : Cần bổ sung thêm một số quy định chi tiết và cụ thể hơn nữa nhằm tạo một hành lang pháp lý đầy đủ và thống nhất cho hoạt động nhập khẩu, đây là giải pháp đòi hỏi phải có tính đồng bộ nhằm tránh việc mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định của Luật và văn bản dưới luật. Trên cơ sở các cam kết của quá trình hội nhập, chúng ta phải nội luật hóa, từ đó xây dựng một hệ thống pháp luật tương thích với những quy tắc chung trong thương mại quốc tế, hướng đến một hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp và có tính khả thi. Thứ hai: Pháp luật thuế nhập khẩu phải xây dựng một hàng rào bảo hộ thuế quan hợp lý. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế điển hình là việc chúng ta gia nhập WTO đòi hỏi chúng ta phải cắt giảm hàng rào thuế quan, do đó cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng các loại thuế nhập khẩu bổ sung như thuế nhập khẩu để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa. Trong luật thuế xuất nhập khẩu 2005 thì những quy định về các loại thuế này chỉ mang tính hình thức, quy định cho có chứ chưa làm rõ và chưa phát huy được vai trò của các loại thuế này. Trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay, khi vai trò của thuế nhập khẩu buộc phải giảm dần theo các cam kết quốc tế thì việc nâng cao vai trò của các loại thuế nhập khẩu bổ sung là vô cùng cần thiết. Thứ ba: Về cách quy định thuế suất thuế nhập khẩu: theo quy định của luật thì “thuế suất thông thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng do chính phủ quy định”. Theo cách tư duy ngôn ngữ của người Việt thì quy định này dễ gây hiểu sang hướng thuế suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, tức là thuế suất thông thường tối đã bằng 70% thuế suất ưu đãi chứ không phải là 170% theo cách hiểu của nhà làm luật. Do vậy luật nên đổi lại cách diễn đạt cho phù hợp và dễ hiểu, nhằm giúp những người không nghiên cứu sâu về luật có được cách hiểu đúng nhất khi đọc luật thuế xuất, nhập khẩu năm 2005. Thứ tư: Về thời hạn nộp thuế: hiện nay luật đưa ra hai tiêu chí để xác định thời hạn nộp thuế là thời hạn xác định theo mặt hàng nhập khẩu và thời hạn xác định theo sự chấp hành pháp luật thuế của chủ thể nộp thuế. Theo em, luật chỉ nên lấy một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế. Như vậy sẽ vừa phù hợp với Luật hải quan đã sửa đổi, bổ sung năm 2005, vừa khuyến khích sự chủ động, tự giác tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế. Nếu dựa trên mặt hàng nộp thuế để xác định thời hạn nộp thuế vô hình chung đã đánh đồng những người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật với những người không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tạo những kẽ hở cho những doanh nghiệp “ma” lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước để trục lợi, trốn thuế. Thứ năm: Về thuế suất: hiện nay thuế suất thông thường được Bộ tài chính quy định áp dụng thống nhất ở mức bằng 150% thuế suất ưu đãi. Quy định này mang nặng tính duy ý chí và vô hình lấn át cả quy định của luật (luật cho phép dao động ở mức 100% đến 170%). Như vậy Bộ tài chính cần có những quy định cụ thể, trường hợp nào áp dụng thuế suất là bao nhiêu nhằm khắc phục sự cứng nhắc trong áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan cho từng trường hợp riêng lẻ nào. 2. Cải cách thủ tục hải quan theo hướng giản đơn, thông thoáng, hiệu quả, hợp lý. Thứ nhất: đối với những cải cách trong thủ tục hải quan: hiện nay ngành hải quan đang nỗ lực trong việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan, đây là dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động nhập khẩu được thực hiện một cách nhanh gọn, hiệu quả. Song một số quy định của Luật tuy rất tiến bộ nhưng lại chưa phù hợp với thực tế. Theo những quy định của pháp luật thuế và hải quan kể từ năm 2006 chính thức thực hiện quy trình thủ tục hải quan thực hiện kĩ thuật quản lí rủi ro. Quản lý thủ tục hải quan phải hướng tới áp dụng phương pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ số để phù hợp với xu hướng chung của thế giới, hạn chế được những khâu rườm rà trong việc kê khai thủ tục. Cùng với đó, phương thức quản lý này cũng giảm được đáng kể tình trạng khai lậu, trốn thuế, góp phần giảm thiểu đáng kể các khâu trong quá trình thu thuế, khai thuế và nộp thuế ở các cửa khẩu. Công tác này nếu dược thực hiện nghiêm túc sẽ đem lại kết quả cao trong công tác hải quan, quản lí và kiểm soát một cách chặt chẽ, sát thực tế nhất. Thứ hai, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan như Tổng cục hải quan phải kết hợp với Bộ tài chính cải cách và phổ biến cách thức quản lý mới. Chúng ta cần đơn giản hóa bộ hồ sơ hải quan, cụ thể là bỏ bớt một số giấy tờ như giấy giới thiệu, tờ khai trị giá, bộ hồ sơ copy, hợp đồng thương mại. Đặc biệt, nhóm hàng gia công yêu cầu nộp bảng khai nguyên vật liệu cho doanh nghiệp tự cung ứng trong nước là không thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta cần cải cách mạnh mẽ khung pháp lý quản lý hàng nhập khẩu theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch đồng thời tăng cường hiện đại hóa ngành hải quan thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hải quan. 3. Nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và chất lượng đội ngũ cán bộ hải quan. Cần đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật giúp các cán bộ hải quan hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Đề cập đến vấn đề này tại Hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2011, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Ban chỉ đạo 127 Trung ương phải khẩn trương tổng hợp và đề xuất bổ sung các phương tiện cụ thể để đáp ứng tốt hơn cho công tác chống buôn lậu trong thời gian tới. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng: “Về phương tiện và trang thiết bị, cần có danh mục và đề xuất phương án cụ thể. Trên cơ sở danh mục, đề xuất cụ thể đó, Chính phủ sẽ có chính sách để tập trung trong 1 số năm đẩy mạnh trang thiết bị cũng như công tác đào tạo cho các đồng chí để chúng ta có thể đáp ứng được yêu cầu”. Đi đôi với việc cải cách thủ tục hành chính, chúng ta cần đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu vì nếu như có một hệ thống pháp luật khoa học, đúng đắn nhưng người thực hiện không làm đúng, làm tốt nhiệm vụ của mình thì cũng không thể mang lại hiệu quả cao được. Theo đó, chúng ta cần lựa chọn công chức có đạo đức, trình độ để bố trí vào những bộ phận cụ thể, có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cán bộ hải quan để nâng cao trình độ nghiệp vụ của họ đồng thời xử lí nghiêm minh công chức vi phạm pháp luật thuế nhập khẩu. Bên cạnh đó cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu vì công tác thanh tra, kiểm tra có tác dụng bảo đảm việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu đúng đắn hơn, phát hiện những thiếu sót, hạn chế của chính sách để từ đó có thể khắc phục kịp thời, đồng thời tránh tình trạng quan liêu, cửa quyền hay lợi dụng quyền hạn để làm trái pháp luật của một số cán bộ công chức nhà nước. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy có thể nói có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay. Những nhân tố trên là nhân tố thúc đẩy pháp luật thuế nhập khẩu ngày một hoàn thiện hơn. Qua đó có thể thấy, pháp luật thuế nhập khẩu vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được lấp đầy, sửa đổi, bổ sung hơn nữa .
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích chiến lược công ty may 10

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CÔNG TY MAY 10

CHỦ ĐỀ: MAY MẶC I. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 1. KINH TẾ Khi gia nhập WTO Việt Nam có điều kiện hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thu hút đầu tư nước ngoài. Nhưng đổi lại Việt Nam phải cam kết mở cửa thị trường, giảm thuế và các hàng rào bảo hộ khác, minh bạch hoá chính sách. Và điều đó gây không ít khó khăn cho các DN trong nghành may mặc. Khi Việt nam mở cửa thị trường bán lẻ cho các DN nước ngoài thì sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng lớn. Đặc biệt là cơ chế giám sát hàng dệt may của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may của VN và nguy cơ tự khởi kiện điều tra chống bán phá giá. Chính vì thế ngành dệt may VN ngày càng gặp khó khăn đối với thị trường nước ngoài. Thu nhập của người dân VN ngày càng cao, thu nhập bình quân đầu người cũng gia tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Với hơn 87 triệu dân thị trường nội địa là một thị trường có sức tiêu thụ hàng may mặc lớn, đầy tiềm năng mà các DN Việt Nam do mải xuất khẩu đã lãng quên trong thời gian qua.Khi quyết định đầu tư nước ngoài doanh nghiệp phải có quyết định đúng đắn nên đầu tư vào thị trường nước nào. Thị trường nào sẽ tạo cơ hội và thị trường nào sẽ gây khó khăn cho ta. Khi đầu tư doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về việc nghiên cứu khách hàng, xác định các thị trường tiềm năng, và rất khó để lấy được lòng tin của khách hàng. Kinh tế nước ta phát triển không đồng đều do vậy thu nhập của người dân cũng khác nhau dẫn đến sức mua sản phẩm của công ty cũng không cao với mọi khách hàng do sản phẩm của May 10 là sản phẩm có chất lượng cao. May 10 phải đa dạng hoá sản phẩm để có thể thu hút được mọi khách hàng. Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế do vậy nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp và May 10 cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của nó. như chúng ta đã biết lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá mọi mặt hàng lên, khi đó mọi nguyên liệu đầu vào để sản xuất đều tăng dẫn đến các sản phẩm của doanh nghiệp đều phải tăng theo, điều này sẽ khiến khách hàng e ngại khi mua sản phẩm của công ty...Để có thể giữ chân được khách hàng thì doanh nghiệp phải có những biện pháp thích hợp để xử lý. Cơ sở hạ tầng nước ta còn yếu kém do vậy có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Việc vận chuyển hàng hoá đến khách hàng sẽ không được thuận tiện, cũng như việc nhập hàng từ nhà cung ứng cũng vậy, hoặc là việc vận chuyển hàng hoá giữa các chi nhánh với nhau cũng gặp khó khăn...do giao thông không thuận tiện, đường xá kém chất lượng, tắc đường,.. Bên cạnh đó các yếu tố về tự nhiên cũng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, mặc dù mức độ ảnh hưởng của nó không lớn như các doanh nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm.. Để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên,các doanh nghiệp phải tính đến các yếu tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt động phân tích, dự báo của bản thân doanh nghiệp và đánh giá của các cơ quan chuyên môn. Các biện pháp thường được doanh nghiệp sử dụng : dự phòng, san bằng, tiên đoán và các biện pháp khác 2. VĂN HÓA VN có hơn 87 triệu dân, mỗi năm tăng lên khoảng 1 triệu dân, mật độ dân số ngày càng cao, cơ cấu dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi lao động lớn. Do đố VN là một thị trường có nguồn lao động dồi dào, nhân công rẻ và cũng là thị trường tiêu thụ hàng hoá đầy hứa hẹn đối với hàng dệt may. Điều này đã làm May 10 chú trọng hơn đối với thị trừong trong nước với hệ thống phân phối khá rộng có mặt ở hầu hết khắp các địa phương. Tốc độ đô thị hoá cùng với sự phát triển hạ tầng văn hoá xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền... đã làm cho diện mạo người dân và đời sống tinh thần của họ ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Mức sống văn hoá, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hoá của người dân các vùng đô thị hoá, nhìn trên tổng thể, được nâng lên.Điều đó sẽ khiến mọi người biết đến việc sử dụng những sản phẩm tốt, có thương hiệu rõ ràng. Đó chính là điệu kiện thuận lợi cho May 10 phát triển sản phẩm của mình. 3. KHOA HỌC KỸ THUẬT Trong những năm qua thi trường công nghệ Việt Nam phát triển khá mạnh tuy nhiên doanh nghiệp ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào công nghệ may nên thị trường cho ngành dệt còn tương đối nhỏ tuy vậy với chiến lược phát triển và chủ động trong việc cung cấp nguyên phụ liệu có thể trong vài năm tới thi trường công nghệ thiết bị ngành dệt sẽ bùng nổ và tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp nước ngoài tham gia vào hoạt động kinh doanh. Khi đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng có cơ hội mua được loại thiết bị phục vụ cho quá trình đổi mới công nghệ. Nếu công nghệ không được cải tiến dần dần thì sẽ có nguy cơ bị tụt hậu. 4. CHÍNH TRỊ PHÁP LUẬT Kinh tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau. Một nước có nền kinh tế tốt, phát triển mạnh thị chính trị cung sẽ mạnh. Mặt khác nếu chính trị có sự bất ổn thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của quốc gia đó. Đối với Việt Nam là một nước có nền chính trị ổn định, các DN thuộc mọi thành phần kinh tế có thể yên tâm làm ăn với nhiều nước trên thế giới, thông qua việc gia nhập tổ chức WTO năm 2006. Vì ngành dệt may là ngành mang lại nhiều việc làm, là ngành mà VN có lợi thế cạnh tranh, có nhiều tiềm năng xuất khẩu mang lại ngoại tệ cho đất nước nên chính phủ có nhiều khuyến khích phát triển đối với ngành này, hạn chế những rào cản. Đây cũng là tác động tích cực đối với công ty may May 10. Khi May 10 muốn đầu tư vào thị trường nước ngoài thì phải xem xét về tình hình chính trị của nước đó. Không thể đầu tư vào một nước có nền chính trị bất ổn được. Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư.Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các quan hệ quốc tế. Để đưa ra được những quyết định hợp lí trong quản trị doanh nghiệp, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển
Xem thêm

10 Đọc thêm

Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên giống biên giới Maiki

Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên giống biên giới Maiki

Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông biến giới Maiki Đề bài: Tháng 91945, Minotta trao trả nền độc lập cho nhân dân các vùng lãnh thổ thuộc địa của Minotta là X, Y, Z, Bêta và Gamma. Tháng 121945, ba nước X, Y, Z quyết định hợp nhất và ký Hiệp định về việc thành lập Liên bang Anpha gồm 3 bang là X, Y, Z nhằm mục đích tăng cường sức mạnh chính trị và phát triển kinh tế. Điều 2 Hiệp định thành lập Liên bang khẳng định “Anpha với tư cách là Nhà nước liên bang là chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật quốc tế của Anpha”. Tháng 91980, bang X ký kết Hiệp định về phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông biên giới Maiki với quốc gia Bêta. Quốc hội của bang X đã thông qua Hiệp định và Quốc hội của Bêta đã phê duyệt Hiệp định. Theo quy định của Hiệp định, Hiệp định có hiệu lực ngày 1621981. Tháng 21981. Anpha gửi Công hàm cho Bê ta khẳng định hiệp định ký kết không đúng thẩm quyền theo pháp luật của Anpha vì vậy Hiệp định vô hiệu theo quy định của Luật Quốc tế. Tuy nhiên Bê ta khẳng định X đã ký kết Hiệp định với tư cách một bang của Anpha. X cũng khẳng định, X có đủ thẩm quyền ký kết Hiệp định vì theo quy định của Hiến pháp liên bang Anpha “Các bang thuộc liên bang có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch” Hãy xác định hiệu lực của Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông biến giới Maiki? Cho biết các cơ sở pháp lý để xác định hiệu lực đó và giải thích? Bài làm Thứ nhất, có thể khẳng định Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông Maiki giữa bang X và quốc gia Bêta bị vô hiệu. Ba nước X, Y, Z quyết định hợp nhất và ký Hiệp định về việc thành lập Liên bang Anpha gồm 3 bang là X, Y, Z nhằm mục đích tăng cường sức mạnh chính trị và phát triển kinh tế. Có thể thấy, X, Y, Z là 3 bang cấu thành nên Liên bang Anpha. Tình hình an ninh, chính trị, kinh tế của mỗi bang đều ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình của Liên bang. Vì vậy, trước những vấn đề liên quan trực tiếp đến tình hình chung, Liên bang Anpha hoàn toàn có quyền được tham gia quyết định Theo dữ kiện của đề bài, Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch được tiến hành tại sông biên giới Maiki. Đây được coi là biên giới tự nhiên thuộc biên giới trên bộ theo quy định của Luật Quốc tế. Theo đó, quy chế qua lại của người, phương tiện, hàng hóa hoạt động ở khu vực biên giới, quy chế sử dụng nguồn nước, sử dụng sông suối biên giới, khai thác tài nguyên ở vùng biên giới… đều thuộc chế độ pháp lý của biên giới quốc gia. Cũng căn cứ vào pháp luật Quốc tế, về nguyên tắc, những vấn đề biên giới lãnh thổ là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước cấp trung ương . Quy định trên xuất phát từ tầm quan trọng của biên giới đối với vấn đề an ninh chính trị, kinh tế, xã hội…của một quốc gia. Điều 2 Hiệp định thành lập Liên bang khẳng định “Anpha với tư cách là Nhà nước liên bang là chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật quốc tế của Anpha”. Như vậy, Liên bang Anpha hoàn toàn có đầy đủ điều kiện để tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế, cụ thể là Liên bang Anpha hoàn toàn có tư cách chủ thể để tham gia kí kết Hiệp định. Việc bang X viện dẫn quy định của Hiến pháp liên bang Anpha “Các bang thuộc liên bang có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch” là không chính xác. Nếu như đây là một hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch bình thường và được thực hiện ở một khu vực khác ngoài khu vực biên giới lãnh thổ thì bang X hoàn toàn có thẩm quyền ký kết theo quy định của Hiến pháp Liên bang. Tuy nhiên, Hiệp định trên lại được ký kết và thống nhất thực hiện tại khu vực sông biên giới giữa bang X và quốc gia Bêta – khu vực hết sức nhạy cảm có khả năng ảnh hưởng đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội của toàn liên bang. Cho dù hiệp định trên có hay không có khả năng ảnh hưởng đến tình hình chính trị, an ninh, xã hội thì việc bang X tự ý kí với quốc gia Bêta mà không thông qua Liên bang Anpha là hoàn toàn sai thẩm quyền. Như vậy, Hiệp định phân định vùng đánh bắt các và khai thác hoạt động du lịch trên sông Maika giữa bang X và quốc gia Bê ta không có hiệu lực do sai về thẩm quyền kí kết và nội dung kí kết theo quy định của Luật quốc tế. Thứ hai, căn cứ pháp lý dùng để xác định hiệu lực ở đây có thể căn cứ vào nguyên tắc chung của luật Quốc tế và Hiến pháp Liên Bang. Điều 2 Hiến pháp quy định “Anpha với tư cách là Nhà nước liên bang là chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật quốc tế của Anpha”. Như vậy, Liên bang có tư cách tham gia mọi quan hệ quốc tế liên quan đến Anpha Hiến pháp Liên bang cũng quy định: “Các bang thuộc liên bang có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch” Như vậy, các bang chỉ có quyền tự mình tham gia kí kết các thỏa thuận quốc tế trong các lĩnh vực trên, còn đối với những vấn đề liên quan đến biên giới quốc gia thì bang X không có quyền tự quyết định mà không thông qua Liên bang. Bên cạnh đó nguyên tắc chung đối với quy chế pháp lý của viên giới quốc gia trong luật quốc tế cũng quy định, việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quy chế này thuộc thẩm quyển của cơ quan nhà nước cấp trung ương và các vấn đề liên quan đến phân định biên giới luôn được thực hiện giữa hai quốc gia thông qua một hiệp định , cụ thể ở đây là Liên bang Anpha sẽ là chủ thể đứng ra kí kết và thực hiện các vấn đề trên.
Xem thêm

Đọc thêm

trình tự giải quyết một vụ tranh chấp đất đai dẫn đến khiếu kiện tại thị trấn mèo vạc, huyện mèo vạc, tỉnh hà giang tiểu luận chuyên viên chính

trình tự giải quyết một vụ tranh chấp đất đai dẫn đến khiếu kiện tại thị trấn mèo vạc, huyện mèo vạc, tỉnh hà giang tiểu luận chuyên viên chính

Đất đai là tài sản Quốc gia, là tại nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, nơi phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hoá xã hội, quốc phòng an ninh . Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, gìn giữ và bảo vệ được vốn đất đai như ngày hôm nay. Trong những năm gần đây, vấn đề đất đai, nhà ở, việc xây dựng và kinh doanh luôn được nhiều người quan tâm. Đây là lĩnh vực thiết thực nhất trong cuộc sống của mỗi người dân và có ảnh hưởng rất lớn đến đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong lĩnh vực này đã xảy ra những hiện tượng thiếu tích cực như: Tranh chấp đất đai, sử dụng đất sai mục đích, lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép không đúng quy hoạch...Đó là những hạn chế còn tồn tại và đang là vấn đề nóng của toàn xã hội. Đề cập đến đất đai là vấn đề nhạy cảm, cần thiết và tác động đến nhiều mặt của cuộc sống, nhưng hiện nay đang bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả và làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, đe dọa ổn định xã hội (Theo thống kê, trong tất cả các vụ việc khiếu kiện có đến 70% số vụ liên quan đến đất đai). Đây là vấn đề có tính chất phức tạp làm ảnh hưởng đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của các địa phương trong cả nước.Trước tình hình đó Đảng, Nhà nước, Chính phủ cùng các bộ, ngành, địa phương đã tích cực giải quyết những tồn tại trên bằng việc cụ thể hoá những quy định có tính thống nhất cao trong những văn bản quy phạm pháp luật như Luật đất đai năm 2003 đã được kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá XI thông qua, các Nghị định, Thông tư có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng đất đai.
Xem thêm

Đọc thêm

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

đất đai, tài chính ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản ở cơ sở… Đây là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu phát sinh tình hình và gia tăng về khiếu nại,tố cáo. Bên cạnh đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn nhiều hạnchế, bất cập, hiệu quả chưa cao. Nhiều nơi số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáocủa công dân gia tăng, thậm chí có nơi tình hình khiếu kiện diễn biến hết sứcphức tạp, bức xúc làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự nông thôn. Trong nhữngnăm gần đây, có rất nhiều vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai. Nhiều trườnghợp khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất để thực hiệncác dự án phát triển kinh tế - xã hội, như đòi được bồi thường đất ở, nâng giábồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí nơi tái định cư, giải quyết việc làm khi bị thuhồi đất; đòi lại và đòi phân chia quyền sử dụng đất, tranh chấp đất đai, nhà ở.Ngoài ra, có một số vụ khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách xãhội, xử lý thi hành kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.2Trước thực tiễn đó, nhận thức được tầm quan trọng của công tác giảiquyết khiếu nại, tố cáo của công dân góp phần vào ổn định an ninh, chính trịvà phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương huyện Thuận Thành, tôi mạnh dạnchọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”1.2. Mục tiêu1.2.1. Mục tiêu chungTừ nghiên cứu tình hình thực tiễn, kết hợp với những lý luận Luận vănđưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại, hạn chế để nâng cao hiệu quả trongviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện ThuậnThành, tỉnh Bắc Ninh.1.2.2. Mục tiêu cụ thể- Làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn về hiệu quả đối với
Xem thêm

118 Đọc thêm

LSNN PL a Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến Trung Quốc

LSNN PL a Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến Trung Quốc

a 1. Khái quát về nhà nước phong kiến Trung Quốc Trên cơ sở mô hình các quốc gia cổ đại phương Đông, Trung Quốc vào thế kỉ cuối công nguyên do sự phát triển của sản xuất, xã hội phân hóa giai cấp nên chế độ phong kiến ở đây đã hình thành sớm. Nhà Tần đã khởi đầu xây dựng chính quyền phong kiến, hoàng đế có quyền quyệt đối. Kinh tế phong kiến Trung Quốc chủ yếu là nông nghiệp phát triển thăng trầm theo sự hưng thịnh của các vương triều. Cuối thời Minh – Thanh đã xuất hiện mầm mống quan hệ sản xuất TBCN nhưng nó không phát triển được. Trên cơ sở những điều kiện kinh tế xã hội mới, kế thừa truyền thống của nền văn hóa cổ đại, nhân dân Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu văn hóa rực rỡ. Nhà nước và pháp luật hình thành phát triển với quy mô lớn. Trải qua các triều đại Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trong mỗi triều đại, tuy có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước song ngay từ đầu và trong suốt quá trình tồn tại luôn là chính thể quân chủ chuyên chế và qua mỗi triều đại lại ngày được hoàn thiện. Cùng với đó là sự phát triển của tư tưởng nho giáo luôn được các giai cấp thống trị Trung Quốc sử dụng như một tư tưởng để xây dựng nhà nước và pháp luật. Nho giáo (儒教), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết lý và học thuyết chính trị do Đức Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho sĩ hay nho sinh.
Xem thêm

Đọc thêm

Tầm nhìn về môi trường xanh của Lý Quang Diệu

Tầm nhìn về môi trường xanh của Lý Quang Diệu

Xây dựng tầm nhìn cho nhà lãnh đạo là quá trình hình thành một hình ảnh tinh thần để thiết lập mục tiêu, lập kế hoạch, và giải quyết vấn đề để chèo lái tổ chức đi đến tương lai. Và hơn thế nữa, mỗi nhà lãnh đạo, mỗi nhà chính trị đều có trong mình một tầm nhìn lớn để đưa đất nước đi lên với mục tiêu cụ thể. Ở mỗi thời kỳ, trên thế giới luôn có những nhà chính trị kiệt xuất với một tầm nhìn thật rộng và thật sâu băng cách nào đó hình thành trong họ để khẳng định năng lực của mình..địa thế của chính bản thân…và quan trọng hơn nữa là khẳng định được tầm ảnh hưởng của một quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Cố thủ tướng Lý Quang Diệu đã ảnh hưởng lớn tới việc hoạch định chính sách đối ngoại của Singapore nên âm vang tư duy của ông Lý trong từng bài phát biểu và phỏng vấn về chính sách đối ngoại thực hiện bởi các nhà lãnh đạo thế hệ thứ hai và thứ ba. Là thủ tướng đầu tiên của nước Cộng Hòa Singapore, Lý Quang Diệu đã đưa ra các chính sách cụ thể trên các lĩnh vực an ninh – quốc phòng, kinh tế và chính trị xã hội. Trong 31 năm giữ cương vị thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu luôn chú trọng yếu tố pháp luật, phúc lợi xã hội, đào tạo nhân tài trong chiến lược phát triển đất nước. Bằng tài năng và tầm nhìn, cố thủ tướng đã đưa Singapore từ một hòn đảo nhỏ không tài nguyên thành một trong những quốc gia phát triển nhất thế giới. Di sản chính trị mà thủ tướng đầu tiên của đảo quốc sư tử để lại luôn khiến những nhà lãnh đạo kế cận của Singapore phải học hỏi.
Xem thêm

Đọc thêm

phân tích môi trường vi mô của công ty TH True milk

PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VI MÔ CỦA CÔNG TY TH TRUE MILK

... VỀ CÔNG TY TH TRUE MILK PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TH TRUE MILK GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY 2.CÁC LOẠI SẢN PHẨM ILK M E U R T H T Y T G N Ô GIỚI THIỆU VỀ C Tên đầy đủ Địa Công ty. .. hương dâu II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ VĂN HÓA- XÃ HỘI CHÍNH TRỊ PHÁP LuẬT Môi trường vĩ mô doanh nghiệp Là yếu tố bên ảnh hưởng tới hoạt động kết th c doanh nghiệp KINH TẾ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỰ... Công ty cổ phần TH True Milk Xã Nghi Sơn- huyện Nghi Đàntỉnh Nghệ An Điện thoại, Fax 038 963 090 - Fax: 038 963 091 Website Website: www.thmilk.vn CÁC LOẠI SẢN PHẨM SỮA CỦA TH TRUE MILK • Sữa tươi
Xem thêm

17 Đọc thêm

Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến Việt Nam

Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến Việt Nam

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Âm dương gia với tư cách là sản phẩm của “Bách gia tranh minh” thì Pháp gia là một trong sáu học phái lớn nhất, có tầm ảnh hưởng đến toàn xã hội Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc. Pháp gia và học thuyết của trường phái này có lịch sử phát triển khá độc đáo trong quá trình hình thành nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Hoa cổ đại. Vai trò của học thuyết Pháp gia không chỉ ở việc Tần Thủy Hoàng đã áp dụng thành công học thuyết này trên đất Tần để kết thúc cục diện Xuân Thu – Chiến Quốc, mà còn tiếp tục tác động đến xã hội phong kiến Trung Hoa và các nước phương Đông đồng văn, trong đó có Việt Nam. Sở dĩ như vậy là vì nội dung tư tưởng biến pháp, cách dựng luật, những phương thuật dùng người; các biện pháp để cải tạo xã hội, phương pháp xây dựng nhà nước mạnh, cách thức phát triển kinh tế - xã hội… trong đường lối trị nước là điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của bất kỳ triều đại phong kiến nào. Với giá trị to lớn đó, Pháp gia đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả cũng như các nhà hoạt động chính trị từ trước đến nay trên thế giới. Ở Việt Nam, trong 70 năm qua kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, việc nghiên cứu về Pháp gia và tư tưởng trị nước của trường phái này luôn được các học giả quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tế những nghiên cứu về vị thế và vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại được đề cập còn khá mờ nhạt, đặc biệt là sự tiếp thu những giá trị lý luận trong học thuyết đó cho việc thiết lập thể chế, kiến tạo xã hội và hình thành nên một hệ thống pháp luật đồng bộ cho xã hội phong kiến Việt Nam như thế nào, cho đến nay vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Chính vì vậy, việc trình bày một cách có hệ thống nhằm lý giải nguyên nhân ra đời của Pháp gia và những nội dung căn bản về tư tưởng chính trị - xã hội của nó cũng như những tác động của hệ tư tưởng này đến đời sống chính trị - xã hội phong kiến nước ta là một việc làm có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Về lý luận, những kết quả nghiên cứu mới sẽ góp phần làm rõ thêm diện mạo của trường Pháp gia trong lịch sử triết học chính trị, chỉ ra những giá trị và đóng góp của nó cho kho tàng văn hóa của phương Đông nói riêng, của toàn nhân loại nói chung. Về thực tiễn, do nhu cầu quản lý xã hội không thể thiếu pháp luật trong bất kỳ thời đại nào cũng như cách thức vận dụng những nội dung phù hợp của tư tưởng pháp trị, cho nên việc tìm hiểu mức độ ảnh hưởng, cách thức ảnh hưởng của Pháp gia trong lịch sử cũng như ngày nay là việc làm có ý nghĩa. Trải qua 70 năm chính thể mới của chúng ta, đặc biệt là sau 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Đó là đổi mới, hoàn thiện Hiến pháp cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đáp ứng nhu cầu về luật pháp để "đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận… tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [31, tr.103]. Để hoàn thiện mục tiêu trên, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực đời sống chính trị - xã hội, đặc biệt là hệ thống chính trị XHCN, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Do đó, việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng và học thuyết chính trị - xã hội trong lịch sử có vai trò rất quan trọng, trong đó có những giá trị tiến bộ của học thuyết Pháp gia. Để góp phần thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, với tinh thần “ôn cố nhi tri tân” cũng như “tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại” [30, tr.115], chúng tôi mạnh dạn lựa chọn “Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ Triết học của mình. 2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án * Mục đích: Làm rõ vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại và ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị trong học thuyết này đến chế độ phong kiến Trung Hoa, Việt Nam trên một số phương diện tiêu biểu.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ TRÊN CƠ SỞ CƠ SỞ HẠ TẦNG KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ TRÊN CƠ SỞ CƠ SỞ HẠ TẦNG KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

Trong xã hội có giai cấp mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được thể hiện tập trung ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng sẽ giúp ta có thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận thức, xem xét và vận dụng vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay. Là quan hệ cơ bản, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm. Tuy nhiªn, trong khi khẳng định những thành quả to lớn c¶ trong nhận thức và giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổi tích cực trong thực tiễn do chúng mang lại, chúng ta vẫn còn những khiếm khuyết, lệch lạc trên cả lĩnh vực nhận thức và tổ chức thực hiện. Bên cạnh hiện tượng trì trệ trong đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, cũng có tình trạng nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc khác muốn đẩy thật nhanh quá trình đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, tuyệt đối hóa đổi mới kinh tế hoặc tuyệt đối hóa đổi mới chính trị, tách rời hai quá trình này gây ra hậu quả xấu cho đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị .Thậm chí đi lệch hướng xã hội chủ nghĩa. Sự lệch lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm chủ quan duy ý chí. Song qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức về mối quan hệ này của Đảng càng được xác định rõ hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và tình hình thế giới. Vì vậy, hiện nay việc vận dụng quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào làm rõ mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, từ đó tìm ra những mâu thuẫn cơ bản nhất và giải quyết chúng một cách đúng đắn, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta là vấn đề bức thiết hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 2020 NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 2020

HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 2020 NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 2020

HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 2020 Chủ nhiệm đề tài: Th.S Trần Mạnh Hùng Khoa Quản trị kinh doanh Email: tmhunguneti.edu.vn Điện thoại: 0913005691 1. Phần mở đầu Ở Việt Nam, thu hút vốn đầu tư nước ngoài luôn là một kênh quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo việc làm trực tiếp cho người lao động và hàng triệu việc làm gián tiếp khác, là yếu tố thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao phương thức quản lý kinh doanh, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong từng ngành... Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại nước ta hiện vẫn còn một số hạn chế, như: Hệ thống pháp luật còn nhiều quy định chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu nhất quán; tính cạnh tranh của môi trường đầu tư ở Việt Nam chưa cao so với nhiều nước trong khu vực…Chính vì vậy, việc hoàn thiện và kịp thời điều chỉnh các yếu tố của môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập sâu của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực và thế giới là rất cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thực tiễn. Để góp phần thực hiện mục tiêu trên, các tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2016 2020” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Trường. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các kết quả đạt được trong thu hút FDI của Việt Nam trong những năm gần đây nhờ những chính sách vĩ mô của các cơ quan quản lý nhà nước, làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những năm tới khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế của khu vực và thế giới bằng những cam kết song phương và đa phương đã được ký kết trong thời gian qua. Để thực hiện đề tài, tác giả lấy phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: Phương pháp so sánh, liên hệ; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp thống kê; Phương pháp chuyên gia, Phương pháp nghiên cứu tài liệu… 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Môi trường đầu tư với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại môi trường đầu tư Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phát triển kinh tế 4 Môi trường đầu tư có các đặc điểm: Tính tổng hợp, tính hai chiều, tính động, tính mở, tính hệ thống Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư: Theo chức năng quản lý nhà nước có: Nhóm yếu tố Chính phủ có ảnh hưởng mạnh, nhóm yếu tố Chính phủ ảnh hưởng yếu; Theo kênh các yếu tố tác động đến hoạt động đầu tư có: Các nhân tố tác động đến chi phí, các nhân tố tác động đến rủi ro, các nhân tố tác động đến cạnh tranh; Theo yếu tố cấu thành có: Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị pháp luật, nhân tố văn hóa, nhân tố tự nhiên…; Theo cấp quản lý có: Môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường tỉnh; Theo các giai đoạn hình thành và hoạt động đầu tư có: Nhóm yếu tố tiếp cận thị trường đầu tư, nhóm nhân tố liên quan đến quá trình hoạt động, nhóm yếu tố liên quan đến quá trình kết thúc hoạt động đầu tư; Theo nguyên nhân tạo ra dòng chảy đầu tư có: Nhân tố đẩy, nhân tố kéo; Theo hình thái vật chất: Môi trường cứng, môi trường mềm. 3.1.2. Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư Môi trường đầu tư được tạo bởi các yếu tố chính là: Môi trường kinh tế, môi trường chính trị pháp luật, môi trường văn hóa, môi trường tự nhiên 3.1.3. Tác động của môi trường đầu tư đến thu hút vốn đầu tư Môi trường đầu tư có ảnh hưởng đến dòng chảy FDI thông qua tác động của môi trường đầu tư đến chi phí, rủi ro và rào cản cạnh tranh của cơ hội đầu tư. Chi phí, rủi ro và rào cản cạnh tranh phi lý bị giảm trừ sẽ tạo cơ hội và động lực cho doanh nghiệp đầu tư. 3.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình cải thiện môi trường đầu tư Quá trình cải thiện môi trường đầu tư luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố làm cho quá trình này diễn ra thuận lợi hay khó khăn, nhanh chóng hay chậm trễ. Các nhân tố chủ yếu bao gồm: Nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia; Xu hướng tự do hóa, toàn cầu hóa; Xu hướng phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới; Các công ty xuyên quốc gia; Chính sách và khả năng của nhà đầu tư nước ngoài 3.2. Môi trường đầu tư với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 3.2.1. Môi trường tự nhiên Nước ta có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc thu hút đầu tư nước ngoài như có nhiều sông và bờ biển dài nên thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa dịch vụ, các nguồn tài nguyên phục vụ cho việc khai thác, chế biến cũng khá phong phú 3.2.2. Môi trường chính trị pháp luật Chính trị nước ta tiếp tục có sự ổn định, được quốc tế đánh giá cao, đó là tiền đề để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm bỏ vốn đầu tư. Pháp luật ngày càng được bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện của nước ta và phù hợp với thông lệ quốc tế thông qua các cam kết quốc tế. Công cuộc cải cách hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư kinh doanh đang được đẩy mạnh theo hướng tích cực. 3.2.3. Môi trường kinh tế Kinh tế của nước ta dù còn nhiều khó khăn nhưng các năm qua nhờ có đường lối đúng đắn nên vẫn duy trì mức tăng trưởng khá cao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới, đó là thuận tiện cho việc thu hút vốn đầu tư 3.2.4. Môi trường cơ sở hạ tầng Nhờ có chính sách hợp lý trong việc kết hợp vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài nên cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện hơn, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh 3.2.5. Môi trường lao động Với đặc điểm là nước có đông dân và cơ cấu dân với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao (tỷ lệ dân số vàng) là điều kiện thuận lợi để thu hút vào làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới. 3.3. Đánh giá quá trình cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 3.3.1. Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia Trong nhiều năm qua, chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc cải thiện vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, thứ hạng của chúng ta vẫn còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Đó là một khó khăn, cản trở tới việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà chúng ta cần khắc phục trong thời gian tới 3.3.2. Rủi ro kinh doanh Nhờ có chính sách hợp lý và khá ổn định trong thời gian qua nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã ngày càng phát triển, đó là nền tảng quan trọng để nước ta ngày càng trở lên hấp dẫn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn cho sự phát triển bền vững, việc thực thi các chính sách còn nhiều bất cập, chưa hoàn toàn minh bạch, đó là những khó khăn dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh cần khắc phục 3.3.3. Chỉ số tham nhũng Do chính sách pháp luật còn thiếu đồng bộ và chưa chặt chẽ nên tạo kẽ hở trong hoạt động đầu tư kinh doanh. Đồng thời công cuộc cải cách hành chính vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu minh bạch dẫn đến những chi phí không chính thức còn cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp 3.3.4. Cơ sở hạ tầng Mặc dù cơ sở hạ tầng của nước ta ngày được cải thiện, song vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu của hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động logistics còn chưa tốt, dẫn đến chi phí cao và thời gian thực thi các hoạt động kinh doanh kéo dài. Đó là những hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới 3.3.5. Quy hoạch và thẩm định các dự án đầu tư Đây là một trong những điểm yếu căn bản trong việc nâng cao hiệu quả của thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua. Việc quy hoạch vùng, quy hoạch ngành của chúng ta còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ nên chưa tạo ra được mạng lưới công nghiệp hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan Việc thẩm định các dự án đầu tư có sự phân cấp cho các địa phương nhưng do năng lực yếu kém và lợi ích cục bộ nên nhiều dự án được cấp phép nhưng đã gây ra tình trạng xấu tới môi trường, ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân, làm cho một bộ phận người dân bị ảnh hưởng tới sức khỏe và buộc phải có những ý kiến phản đối. Đây là vấn đề quan trọng, không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế mà còn liên quan cả về chính trị. 3.4. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới 3.4.1. Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô Nhà nước cần tiếp tục tái cơ cấu kinh tế và tái cấu trúc doanh nghiệp để tạo ra sự phát triển cao và ổn định, làm nền tảng cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đáp ứng với nhu cầu mở rộng và phát triển doanh nghiệp 3.4.2. Nâng cao chất lượng quy hoạch Việc quy hoạch phải có tầm nhìn xa, căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo sự liên kết vùng, liên kết các doanh nghiệp sao cho phù hợp với lợi thế của ngành và của địa phương 3.4.3. Tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị và hoàn thiện hệ thống pháp luật Môi trường chính trị cần phải ổn định để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư kinh doanh lâu dài. Thể chế chính trị phải tiếp tục được hoàn thiện theo hướng vừa chặt chẽ nhưng lại thông thoáng, rõ ràng, thực hiện minh bạch để hạn chế những tiêu cực phát sinh. Công cuộc cải cách hành chính cần phải tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết các thủ tục hành chính, hạn chế việc tiếp xúc giữa người thụ lý giải quyết các vấn đề của nhà đầu tư và người đầu tư 3.4.4. Tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng Cần đa dạng hóa kênh huy động vốn để cải thiện đường xá, cầu cống, cảng biển, sông ngòi cũng như hệ thống viễn thông, hệ thống cung cấp điện, nước…để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai các dự án đầu tư một cách có hiệu quả. 3.4.5. Nâng cao chất lượng nhân lực Cần chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nhân lực phục vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Muốn vậy cần tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người học nhằm chọn ngành, nghề và cơ sở đào tạo phù hợp. Các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống các trường đào tạo nghề cần phải được quy hoạch lại để đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo. Cần tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các trường đào tạo và các doanh nghiệp trong quá trình đào tạo theo yêu cầu 4. Kết luận Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả đã khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa môi trường đầu tư với việc thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đã phân tích làm rõ thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua, đánh giá những thành công và hạn chế trong việc cải thiện môi trường đầu tư, từ đó đưa ra một số đề xuất cơ bản nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới khi nước ta ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua việc thực thi các hiệp định song phương và đa phương. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Tuệ Anh (2013), Báo cáo “Đánh giá hiệu quả điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, Hà Nội. 2. Phạm Văn Hùng (2008), Tác động của minh bạch hoá hoạt động kinh tế đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Đề tài cấp Bộ, Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. Nguyễn Mại (2012), Năm bài học đối với đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Hà Nội. 4. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội. 5. Bùi Huy Nhượng (2006), Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề án tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

Đề án tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

Hệ thống chính trị của nước ta hiện nay có 4 cấp. Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ của Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Để các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đề ra được hiện thực hóa trong cuộc sống, Đảng phải có một đội ngũ cán bộ có năng lực tổ chức thực tiễn để đưa được chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn đó vào cuộc sống, mới khơi dậy được phong trào cách mạng quần chúng rộng lớn, mới biến lý luận thành thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận động phát triển không ngừng nên năng lực tổ chức thực tiễn cũng phải không ngừng được nâng lên cho phù họp với sự biến đổi của thực tiễn. Nếu không nâng cao được năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ ở các cấp thì cũng khó mà nâng cao được năng lực lãnh đạo nói chung cho cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ mới.Đối với huyện MINH TÂM, trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đã có bước phát triển về chất lượng và đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc hiện thực hóa và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước cũng như chủ trương, chính sách của tỉnh, huyện. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn bộc lộ những yếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ trước những yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới. Vì vậy, một số cán bộ cấp cơ sở gặp khó khăn, lúng túng, thậm chí va vấp, vi phạm trong thực thi nhiệm vụ. Bên cạnh đó, trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ cấp cơ sở suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vi phạm dân chủ, tham nhũng, lãng phí... bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo pháp luật. Những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
Xem thêm

Đọc thêm

XÂY DỰNG đội NGŨ cán bộ CHỦ CHỐT xã, THỊ TRẤN của HUYỆN HOÀI đức, THÀNH PHỐ hà nội

XÂY DỰNG đội NGŨ cán bộ CHỦ CHỐT xã, THỊ TRẤN của HUYỆN HOÀI đức, THÀNH PHỐ hà nội

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai các công nhân và nhân dân lao động, người lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng CNXH hiện nay. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công đó là cán bộ và công tác cán bộ được Đảng ta coi trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “ Mu«n việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng vµ thùc hiÖn đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi, không có cán bộ tốt thì dù có đường lối, chính sách đúng cũng khó có thể biến thành hiện thực được. Với ý nghĩa như vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở (xã, phường, thị trấn) vững mạnh hiện nay là một việc làm có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ họ là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở tại cơ sở; đồng thời họ là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, thường xuyên phản ánh kịp thời các ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Sau khi thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, nhất là từ năm 2001 trở lại đây, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ huyện Hoài Đức đã quán triệt tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhµ nước, vận dụng linh hoạt các Nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, huyện Hoài Đức đã có những bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội. Đời sống của nhân dân được cải thiện, dân trí được nâng lên rõ rệt, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hệ thống chính trị được chăm lo củng cố kiện toàn. Dưới sự lãnh đạo của huyện uỷ Hoài Đức, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của huyện đã có sự phát triển trưởng thành cả về phẩm chất, trình độ và năng lực, góp phần quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vẫn bộc lộ những yếu kém, bất cập về trình độ, năng lực. Bên cạnh đó, một bộ phận bị tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường nên đã có những biểu hiện suy thoái về phẩm chất, đạo đức, quan liêu, hách dịch, lãng phí... Những yếu kém đó đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nay. Xuất phát từ quan điểm của Đảng và yêu cầu của tình hình thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của huyện Hoài Đức cho thấy việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn của huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” là có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo lí luận đề tài tính phù hợp của hệ thống pháp luật việt nam

Báo cáo lí luận đề tài tính phù hợp của hệ thống pháp luật việt nam

I.Khái niệm của “ Tính phù hợp với các điều kiện xã hội”:Hiệu quả của hệ thống pháp luật không thể đánh giá thông qua việc nó ghi nhận “càng nhiều càng tốt” những ước muốn hướng thiện của nhà lập pháp. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là hệ thống pháp luật phù hợp với đời sống xã hội trong phạm vi điều chỉnh của nó. Một mặt, nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính trị. Mặt khác nó phải phù hợp với các yếu tố khác như lịch sử, đạo đức, tập quán, phong tục, tâm lý dân tộc, trình độ dân trí của quốc gia, đồng thời phải có tính khả thi.Ví dụ: Trong phần thừa kế của Bộ Luật Dân Sự có quy định về việc thừa kế theo di chúc mà những chủ thể pháp luật quy định mà nội dung di chúc để lại không phù hợp thì lúc này luật sẽ điều chỉnh lại sau cho có sự phù hợp hài hòa giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật này ( Điều 669_ Bộ Luật Dân Sự 2005 ).
Xem thêm

Đọc thêm

TIEU LUAN CHINH TRI HOC CÁCH MẠNG KHOA HỌC TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

TIEU LUAN CHINH TRI HOC CÁCH MẠNG KHOA HỌC TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

… phải được nhất quán trong từng chính sách phát triển, từng bước đi và trongsuốt quá trình phát huy dân chủ, giữ vững và tăng cường khối đại đoàn kết toàndân tộc, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xem vừalà động lực vừa là mục tiêu phát triển. Vì vậy cần phát triển kinh tế theo mô hìnhkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kết hợp đổi mới kinh tế với đổimới hệ thống chính trị Để đạt được mục tiêu đó, ổn định chính trị dưới sự lãnhđạo của Đảng trở thành tiền đề, điều kiện tiên quyết. Bởi nhờ nó, nguồn lực đấtnước được tập trung cao nhất cho phát triển và sự phát triển đạt được mục đíchnhân văn chân chính vì con người, cho con người, phân hoá, phân tầng xã hội,xung đột giữa các nhóm lợi ích được kiểm soát …11Thực tiễn qua hơn 20 năm đổi mới đất nước đã cho thấy sự đúng đắncủa chủ trương trên đây của Đảng. Nhờ môi trường chính trị tiến bộ và ổn định,nhờ môi trường xã hội cho phát triển thuận lợi mà nội lực đất nước được khơidậy và phát huy, ngoại lực được tiếp nhận hiệu quả, đầu tư nước ngoài ngàycàng tăng bởi theo đánh giá của nhiều tổ chức, Việt Nam là điểm đến lý tưởngcho khách du lịch quốc tế, là địa điểm đầu tư an toàn. Có thể khẳng định, sự ổnđịnh chính trị, xã hội chính là tài sản vô giá của Việt Nam .Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ vững ổn địnhchính trị, tạo lập môi trường xã hội thuận lợi để đẩy nhanh nhịp độ phát triển củađất nước theo hướng bền vững. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác địnhmục tiêu và phương hướng tổng quát trong giai đoạn 2006-2010 là “nâng caonăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc,đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động tất cả mọi nguồn lực cho côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại; chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị, xã hội;
Xem thêm

Đọc thêm

Quyền lục chính trị và cầm quyền tìm hiểu về các đảng trên thể giới tiểu luận cao học

Quyền lục chính trị và cầm quyền tìm hiểu về các đảng trên thể giới tiểu luận cao học

MỞ ĐẦU Mỹ là quốc gia với sự ra đời sớm của nền chính trị, hiến pháp Mỹ được xem là bản hiến pháp đầu tiên và thành công nhất trên thế giới. Nền chính trị theo thể chế cộng hòa tổng thống, là một quốc gia có sức mạnh cả về kinh tế lẫn chính trị, với tham vọng bá chủ thế giới, Mỹ đã có sự ảnh hưởng mạnh mẽ tới không chỉ các nước trong khu vực mà cả ảnh hưởng tới các nước trên thế giới. Vậy điều gì đã tạo nên một nước Mỹ hùng mạnh đến như vậy? Đó phải chăng là sự tham gia của các Đảng chính trị của Mỹ trong nền chính trị của đất nước này.Với một đất nước mà có thế mạnh về kinh tế, quân sự, xã hội, chính sách đối ngoại. Mỹ là quốc gia đa đảng về chính trị, có các đảng lớn và ra đời sớm nhất thế giới, do đa đảng chính trị buộc các đảng phải có hướng đi riêng đôi khi là sự công kích nhưng lại tạo ra cơ chế kiểm soát lẫn nhau trọng tâm của các đảng là nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho đất nước phát triển Với việc học tập và nghiên cứu môn học Các đảng chính trị trên thế giới em rất quan tâm tới các Đảng chính trị của Mỹ hiện tại và những vấn đề của các đảng đó đặc biệt là đảng cộng hòa và đảng dân chủ chọn đề tài tiểu luận của em là “ Đảng chính trị Mỹ” để em có thể hiểu rõ được những vấn đề trên. Như đã nói Mỹ là quốc gia có tầm ảnh hưởng quan trọng không chỉ đối với các nước trong khu vực mà còn ở trên toàn thế giới. Vì vậy Mỹ nói chung và các vấn đề chính trị và các đảng chính trị tại Mỹ đã thu hút được sự chú ý tìm hiểu và nghiên cứu của nhiều người. Kết cẩu của bài làm Bài làm gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần nội dung của bài tập gồm có ba phần : Phần I:Một số điểm khái quát chung về đất nước Mỹ Phần II :Thể chế chính trị Mỹ Phần III : Đảng Dân chủ và đảng cộng hòa
Xem thêm

Đọc thêm

Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế Chuyên mục Bài tập cá nhân, Tư pháp quốc tế Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình.. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do nhiều nguyên nhân. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển . Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều HTPL đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một QHPL nào đó. Trong phạm vi bài viết này, em xin làm rõ vấn đề: “Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế ?”. II. NỘI DUNG 1, Khái niệm xung đột pháp luật trong TPQT Hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài được gọi là hiện tượng xung đột pháp luật. 2. Nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật: Quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài không được điều chỉnh bằng quy phạm thực chất thống nhất. Việc xây dựng và hình thành các quy phạm thực chất thống nhất của các quốc gia khác nhau là rất cần thiết, nó làm giảm hoặc thậm chí triệt tiêu sự khác biệt trong luật pháp của các quốc gia và có tính chất đơn giản hóa và hữu hiệu hóa trong điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế. Trong những trường hợp nhất định nếu cứ áp dụng luật trong nước để điều chỉnh thì rất khó giải quyết và thậm chí có trường hợp không thể giải quyết nổi, trong khí đó các điều ước quốc tế mà trong đó có các quy phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết cũng như các bên tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế sẽ chiếu theo đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay các quy phạm đó. Nó cũng loại trừ việc phải chọn luật và áp dụng luật nước ngoài nữa, mà áp dụng ngay các quy phạm điều ước đó. Có thể nói, quy phạm thực chất đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế những xung đột pháp luật giữa các nước, nó là căn cứ pháp lý chung để các quốc gia làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Chính vì vậy, khi các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài không được điều chỉnh bằng quy phạm thực chất sẽ dẫn đến những xung đột pháp luật giữa các quốc gia. Có sự khác nhau về nội dung trong pháp luật của các nước; hoặc có sự khác nhau trong việc giải thích và áp dụng những quy định giống nhau về mặt hình thức. Sự phát triển về mặt kinh tế, chính trị, xã hội tạo ra những khác biệt trong quy định của pháp luật các nước, hay nói cách khác chính những sự khác biệt này các quốc gia sẽ phải xây dựng cho mình hệ thống pháp luật phù hợp với những quan hệ đó nhằm điều chỉnh xã hội. Ví dụ: tuổi kết hôn, theo luật pháp Việt Nam là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì mới có quyền kết hôn. Trong khi tại Pháp độ tuổi này là 18 không phân biệt nam hay nữ. Như vậy nếu một công dân nam Việt Nam 19 tuổi muốn kết hôn cùng 1 công dân nữ Pháp 18 tuổi, họ có thể đăng ký kết hôn tại Pháp, nhưng khi có tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân diễn ra tại Việt Nam thì mối quan hệ hôn nhân này có thể không được toà án Việt Nam công nhận. Trong ví dụ trên, mặc dù cùng điều chỉnh nhóm quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân nhưng giữa pháp luật Việt nam và Pháp về tuổi kết hôn, nhưng nội dung trong quy định lại có sự khác nhau trong việc xác định độ tuổi có quyền kết hôn. Có thể nói, mặc dù cùng điều chỉnh chung một vấn đề nhưng nội dung trong pháp luật của các nước có quy định khác nhau, chính điều này đã tạo nên xung đột pháp luật giữa các nước. Một trong những nguyên nhân khác gây nên xung đột pháp luật giữa các quốc gia đó là sự khác nhau trong việc giải thích và áp dụng những quy định giống nhau về mặt hình thức. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, sự giao lưu giữa các quốc gia trong khu vực cũng như hội nhập quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển, các nước có sự hợp tác về nhiều lĩnh vực khác nhau điều này giúp các nước giao lưu, học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm, những tiến bộ về tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Do vậy, mặc dù có sự khác nhau về những yếu tố nội dung nhưng do tiếp thu những tiến bộ của kĩ thuật lập pháp giữa các nước vẫn có những quy định giống nhau về mặt hình thức. Tuy nhiên, trong việc giải thích và áp dụng luật các nước lại có những quan điểm, cách thức khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh. Chính những yếu tố này đã tạo nên xung đột pháp luật giữa các nước trong việc giải quyết các vấn đề trong Tư pháp quốc tế. Do sự khác biệt giữa các nước về kinh tế, chính trị, xã hội: theo quan điểm của triết học Mác – Leenin, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Do đó, đối với mỗi quốc gia sự phát triển kinh tế là khác nhau chính vì vậy dẫn đến các yếu tố về hệ thống pháp luật, chính trị là khác nhau; các nước đều có những quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo... là khác nhau do đó cũng có sự khác biệt trong sự vận động của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế phát triển kéo theo cả một hệ thống pháp luật được xây dựng hoàn thiện, phát triền và ngược lại nếu nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển thì hệ thống pháp luật cũng có những yếu kém, hạn chế nhất định. sự dung hòa trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ tư pháp quốc tế có thể được giải quyết nếu các nước có sự phát triển tương đương về mặt kinh tế, xã hội. Chính những sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo ra một rào cản trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết chung một vấn đề phát sinh giữa các nước. III. KẾT LUẬN Sự hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại, nhất là trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay. Tìm hiêủ về nguyên nhân xảy ra xung đột góp phần lựa phương pháp giải quyết phù hợp. Việt Nam, một quốc gia đang trên đà phát triển cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Xét về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, TPQT ở các quốc gia khác nhau còn có nhiều sự khác biệt, điều này tạo ra những rào cản, hạn chế sự giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia. Do đó, TPQT Việt Nam cần không ngừng củng cố và hoàn thiện hơn nữa, nhất là với việc xây dựng ra một phương pháp giải quyết XĐPL khách quan, hợp lý.
Xem thêm

Đọc thêm

Hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

Hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

Hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế Xung đột pháp luật là một vấn đề quan trọng trong Tư pháp Quốc tế. là cơ sở để hình thành nên những phương pháp giải quyết xung đột pháp luật hay phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Việc biết được nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột phấp luật trong Tư pháp Quốc tế là khá cấp thiết. Bài viết dưới đây em xin trình bày đề tài “Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong Tư pháp Quốc tế.” Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế nhất định mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật có sự khác nhau. Hiện tượng xung đột pháp luật trong Tư pháp Quốc tế xuất phát do mỗi một quốc gia trên thế giới có các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử…, từ đó hình thành nên một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thông pháp luật đó khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau. Xung đột pháp luật xảy ra trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, tất yếu các quan hệ đó đã liên đới tới điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và vấn đề “lựa chọn” một hệ thống điều chỉnh là rất cần thiết. Trong điều kiện hiện nay khi mà nền kinh tế chính trị các quốc gia ngày càng phát triển, đòi hỏi các nước phải có quan hệ mật thiết với nhau. Và lúc đó, việc bảo hộ cho công dân nước nước mình tại nước ngoài cũng như trong nước sẽ là một vấn đề cần phải được đặt lên hàng đầu. Đặc biệt, các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là những quan hệ luôn có tính chất vượt ra khỏi biên giới của quốc gia hay nói cách khác nó luôn luôn liên quan đến một hoặc nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mỗi quốc gia có một chế độ chính trị, văn hóa và trình độ phát triển khác nhau kể cả có cùng chế độ chính trị, vì vậy khó khăn nằm ở chỗ hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng sẽ khác nhau khi quy định về cùng một vấn đề. Chẳng hạn như vấn đề độ tuổi kết hôn của công dân. Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nữ công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn với nam – 20 tuổi, nữ 18 tuổi). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật. Không thể có xung đột pháp luật trong các quan hệ về hình sự, hành chính, vì các hệ thống pháp luật này mang tính chất tuyệt đối về lãnh thổ. Nghĩa là, các đạo luật thuộc những lĩnh vực trên, được ban hành để bảo vệ an ninh và trật tự công cộng của quốc gia, nên tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đều phải thi hành, dù họ mang quốc tịch của quốc gia nào. Như vậy, trong quan hệ hình sự, hành chính, không có trường hợp nào được áp dụng luật nước ngoài để điều chỉnh. Trong các ngành luật khác Tư pháp Quốc tế, không có hiện tượng xung đột pháp luật bởi khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của chúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọn luật để áp dụng vì các quy phạp pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối về mặt lãnh thổ. Chỉ khi các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu về chọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất. Ngoài ra, xung đột pháp luật cũng có thể xảy ra ở các nhàn nước liên bang khi ở giữa cá bang (hoặc các nước Cộng hòa ở Liên Xô cũ) pháp luật cũng quy định khác nhau. Nhưng ở đó lại có cách giải quyết khác bởi ở đấy đều có luật toàn liên bang và lại có cả các cơ quan có thẩm quyền giải quyết ở mức toàn liên bang. Mọi xung đột pháp luật giữa các bang sẽ giải quyết bằng luật chung của cả liên bang và do các cơ quan của liên bang ra quyết định. Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do những nguyên nhân về điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý… Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển. Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một quy phạm pháp luật nào đó. Do vậy, việc hiểu rõ nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế sẽ cho chúng ta một cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong tư pháp quốc tế về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức trong nước cũng như nước ngoài tham gia vào các quan hệ pháp luật tư pháp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội đất nước ngày càng phát triển.
Xem thêm

Đọc thêm

trình bày các yếu tố tác động đến pháp luật trong hành chính nhà nước

trình bày các yếu tố tác động đến pháp luật trong hành chính nhà nước

Câu 1: Trình bày các yếu tố tác động đến pháp luật trong hành chính nhà nước? 1.Kinh tế: Cơ sở kinh tế quy định nội dung của pháp luật. Khi chế độ kinh tế có những thay đổi thì sớm muộn cũng kéo theo sự thay đổi của pháp luật. Bởi vì pháp luật là hình thức ghi nhận sự biến đổi của các quan hệ kinh tế, phản ánh trình độ phát triển của kinh tế. Tuy nhiên, pháp luật nói chung và pháp luật trong hành chính nói riêng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với nền kinh tế theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực. Khi pháp luật phản ánh chính xác, kịp thời sự vận động của các quan hệ kinh tế nó sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, khi không thỏa mãn điều kiện trên, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế. 2.Chính tri: Chính trị và pháp luật đều là những bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc và có mối quan hệ qua lại với nhau. Đường lối chính trị của nhà nước giữ vai trò chi phối đối với pháp luật. Nói khác đi, pháp luật có nhiệm vụ phải thể chế hóa các chủ trương, quan điểm chính trị của nhà nước. Đặc biệt, pháp luật trong hành chính nhà nước là pháp luật của quyền lực hành pháp, nơi thể hiện đậm đặc và trực tiếp nhất quyền lực chính tn nên cũng chính là nơi phản ánh quyền lực chính trị một cách rõ nét nhất.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề