HORMONE HARMAN KÍCH THÍCH CHẤT TRUYỀN TIN HÓA HỌC TUẦN HOÀN THEO MÁU TỪ NƠI SINH ĐẾN NỚI TIẾP NHẬN ĐÍCH PHÁT HUY TÁC DỤNG SINH HỌC CAO ĐƯỢC ĐIỀU HÒA FEED BACK

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HORMONE HARMAN KÍCH THÍCH CHẤT TRUYỀN TIN HÓA HỌC TUẦN HOÀN THEO MÁU TỪ NƠI SINH ĐẾN NỚI TIẾP NHẬN ĐÍCH PHÁT HUY TÁC DỤNG SINH HỌC CAO ĐƯỢC ĐIỀU HÒA FEED BACK":

ĐIỀU TRỊ SINH HỌC VÀ ỨNG DỤNG CỦA CÁC YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG HỆ TẠO MÁU TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

ĐIỀU TRỊ SINH HỌC VÀ ỨNG DỤNG CỦA CÁC YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG HỆ TẠO MÁU TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Trong những năm gần đây, ngoài 4 phương pháp cơ bản điều trị ung thư là: Phẫu thuật, xạ trị, hoá trị và nội tiết thì phương pháp điều trị thứ 5 điều trị sinh học đã ra đời. Điều trị nhằm thay đổi đáp ứng sinh học là sử dụng các thuốc hoặc biện pháp sinh học tự nhiên làm thay đổi sự tương tác qua lại giữa vật chủ và khối u, gây nên tác dụng chống khối u. Cơ chế tác dụng của các thuốc cũng như các biện pháp điều trị sinh học rất đa dạng, song có thể tóm lại trong 2 phương thức: – Trực tiếp chống lại khối u bằng cách tác động vào quá trình phát triển và chuyển dạng hoặc khả năng di căn của tế bào – Gián tiếp chống lại khối u bằng cách kích hoạt các tế bào trong hệ miễn dịch, các tế bào đó sẽ phát huy tác dụng chống u 4.1 Các thuốc sinh học 4.1.1 Các cytokin Cytokin là một loại protein được sản xuất và tiết ra ở tế bào. Đây là lọai protein có vai trò quan trọng trong sự phát triển của các tế bào hệ tạo máu và hệ lympho. Về chức năng ngoài tác dụng kích thích sự phát triển các tế bào có các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt, các cytokin còn có vai trò trong việc chống tăng sinh, gây biệt hoá và các tác dụng hoạt hoá chức năng. Có thể chia thành 3 nhóm cytokin như sau: – Nhóm 1: Gồm 18 interleukin ký hiệu từ IL1 IL18. Nhóm này chủ yếu đóng vai trònhư là chất trung gian điều hoà hoạt động các tế bào, đó là những chất kích thích miễn dịch hoặc điều hoà sinh máu. – Nhóm 2: Gồm các cytokin kích thích phát triển tế bào nguồn sinh máu : G CSF, M CSF, GM CSF, Epo Một số đặc điểm chung của cytokin Sản xuất lượng rất nhỏ nhưng tác dụng rất lớn, ở đậm độ 1010 – 1015 vẫn có tác dụng Cytokin chỉ được sản xuất từ các tế bào đã kích thích, không được sản xuất từ tế bào đang nghỉ Hầu hết cytokin hoạt động qua con đường receptor trên bề mặt tế bào. Nhờ các receptor đặc hiệu mà cytokin hoạt động được ở cả trong nội bào và truyền tin vào nội bào.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG “ĐAU” TRONG LÂM SÀNG

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG “ĐAU” TRONG LÂM SÀNG

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG “ĐAU” TRONG LÂM SÀNG   CHUYÊN ĐỀ : THĂM DÒ CHỨC NĂNG 1. Khái niệm đau 1.1 Định nghĩa Hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế (International Association for the Study of Pain IASP) đã định nghĩa: Đau là một cảm giác khó chịu, xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương của các mô tế bào. Đau là kinh nghiệm được lượng giá bởi nhận thức chủ quan tùy theo từng người, từng cảm giác về mỗi loại đau, là dấu hiệu của bệnh tật và phải tìm ra nguyên nhân để chữa Như vậy đau vừa có tính thực thể, là một cảm giác báo hiệu một tổn thương thực thể tại chỗ, lại vừa mang tính chủ quan tâm lý, bao gồm cả những chứng đau tưởng tượng, đau không có căn nguyên hay gặp trên lâm sàng. 1.2 Các cơ sở của cảm giác đau: 1.2.1. Cơ sở sinh học: Cơ sở sinh học của cảm giác đau bao gồm cơ sở giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, nó cho phép giải mã được tính chất, thời gian, cường độ và vị trí của cảm giác đau. Cảm giác đau xuất hiện tại vị trí tổn thương là một phản xạ tích cực để cơ thể phản xạ đáp ứng lại nhằm loại trừ tác nhân gây đau. 1.2.2. Cơ sở tâm lý: Yếu tố cảm xúc: Cảm xúc có tác dụng trực tiếp lên cảm giác đau làm đau có thể tăng lên hay giảm đi. Nếu cảm xúc vui vẻ, thoải mái có thể làm đau giảm đi, ngược lại nếu cảm xúc khó chịu, bực dọc, buồn chán... có thể làm đau tăng thêm. Thậm chí trong một số trường hợp, yếu tố cảm xúc còn được xác định là một nguyên nhân gây đau, ví dụ ở người bị bệnh mạch vành nếu bị cảm xúc mạnh có thể dẫn đến bị lên cơn đau thắt ngực cấp tính. Ngược lại, đau lại có tác động trở lại cảm xúc, nó gây nên trạng thái lo lắng, hoảng hốt, cáu gắt... Yếu tố nhận thức: Nhận thức đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng lên quá trình tiếp nhận cảm giác nói chung và cảm giác đau nói riêng Yếu tố hành vi thái độ: Bao gồm toàn bộ những biểu hiện bằng lời nói và không bằng lời nói có thể quan sát được ở bệnh nhân đau như than phiền, điệu bộ, tư thế giảm đau, mất khả năng duy trì hành vi bình thường. Những biểu hiện này phụ thuộc vào môi trường gia đình và văn hóa dân tộc, chuẩn mực xã hội, tuổi và giới của cá thể. Những phản ứng của người xung quanh có thể ảnh hưởng đến nhân cách ứng xử của bệnh nhân đau và góp phần vào tình trạng duy trì đau của họ. Các thụ cảm thể nhận cảm đau có tính không thích nghi: với đa số các loại thụ cảm thể, khi bị kích thích tác động liên tục thì có hiện tượng thích nghi với kích thích đó, khi đó những kích thích sau phải có cường độ lớn hơn thì mới có đáp ứng bằng với kích thích trước đó. Ngược lại, khi kích thích đau tác động liên tục thì các thụ cảm thể nhận cảm đau ngày càng bị hoạt hóa. Do đó ngưỡng đau ngày càng giảm và làm tăng cảm giác đau. Tính không thích nghi của các thụ cảm thể nhận cảm đau có ý nghĩa quan trọng ở chỗ nó kiên trì thông báo cho trung tâm biết những tổn thương gây đau đang tồn tại. Ngưỡng đau là cường độ kích thích nhỏ nhất có thể gây ra được cảm giác đau. 2.1.2. Các chất trung gian hóa học: Cơ chế nhận cảm đau của các thụ cảm thể chưa được biết rõ ràng. Có thể các tác nhân gây đau đã kích thích các tế bào tại chỗ giải phóng ra các chất trung gian hóa học như các kinin (bradykinin, serotonin, histamin), một số prostaglandin, chất P... Các chất trung gian này sẽ tác động lên thụ cảm thể nhận cảm đau làm khử cực các thụ cảm thể này và gây ra cảm giác đau. 2.2. Sự dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại vi vào tủy sống. Sự dẫn truyền cảm giác từ ngoại vi vào tủy sống do thân tế bào neuron thứ nhất nằm ở hạch gai rễ sau đảm nhiệm. 2.3. Đường dẫn truyền cảm giác đau từ tủy sống lên não. Đường dẫn truyền cảm giác đau, nhiệt và xúc giác thô đi từ rễ sau vào sừng sau tủy sống, ở đó các axon của neurone thứ nhất kết thúc và tiếp xúc với neurone thứ hai trong sừng sau tủy sống theo các lớp khác nhau. Các sợi trục của neurone thứ hai này chạy qua mép xám trước và bắt chéo sang cột bên phía đối diện rồi đi lên đồi thị tạo thành bó gai thị. Bó gai thị chia thành 3 bó nhỏ + Bó tân gai thị: dẫn truyền lên các nhân đặc hiệu nằm ở phía sau đồi thị, cho cảm giác và vị trí. + Bó cựu gai thị: dẫn truyền lên các nhân không đặc hiệu và lên vỏ não một cách phân tán. + Bó gai lưới thị: bó này có các nhánh qua thể lưới rồi từ thể lưới lên các nhân không đặc hiệu ở đồi thị có vai trò hoạt hóa vỏ não. 2.4. Trung tâm nhận cảm đau. Đồi thị (thalamus) là trung tâm nhận cảm đau trung ương, có các tế bào thuộc neurone cảm giác thứ ba. Từ neurone thứ ba ở đồi thị cho các sợi họp thành bó thị vỏ đi tới vỏ não hồi sau trung tâm (hồi đỉnh lên vùng SI và SII) và thùy đỉnh để phân tích và ra quyết định đáp ứng: Vùng SI phân tích đau ở mức độ tinh vi. Vùng SII phân biệt về vị trí, cường độ, tần số kích thích (gây hiệu ứng vỏ não). 2.5. Đường dẫn truyền xuống chống đau. Thông tin đau được hình thành ở chất keo Rolando do đường dẫn truyền xuống từ thân não, cầu não và não giữa kiểm soát. Các neurone ở thân não sẽ tiết ra serotonin gây ức chế các neurone dẫn truyền đau của tủy làm giảm hoặc mất đau. Mặt khác nếu tiêm một lượng nhỏ morphin vào nhân của đường đan Magnus hoặc các cấu trúc nằm kề chất xám quanh tủy sống cũng sẽ làm giảm đau, như vậy morphin có thể hoạt hoá chính hệ thống dẫn truyền xuống này để ức chế đau. Tuy nhiên không phải chỉ có một hệ thống dẫn truyền xuống duy nhất mà còn có nhiều hệ thống khác cũng làm ức chế đau mà cách tác dụng không giống morphin. Những nghiên cứu gần đây đã nói đến các chất trung gian hóa học không phải opi như noradrenalin hoặc dopamin do não chi phối cũng làm giảm các chứng đau. 2.6. Đặc điểm đau nội tạng. Khác với cảm giác đau da có vị trí khu trú rõ ràng, còn triệu chứng đau nội tạng thì mơ hồ và âm ỉ, đôi khi thành cơn do bản chất là đau co thắt. Đau nội tạng thường biểu hiện bằng đau xuất chiếu và kết hợp với các rối loạn của hệ thần kinh thực vật. 2.7. Vai trò của hệ thần kinh giao cảm. Ngoài các chứng đau nội tạng, một số chứng đau như đau do chấn thương cũng có sự tham gia các các yếu tố giao cảm, gây nên các hiện tượng rối loạn điều hòa vận mạch, ra mồ hôi, thay đổi nhiệt độ da, rối loạn dinh dưỡng da, giảm vận động… làm cho đau càng trầm trọng hơn. 4.3. Phân loại đau theo khu trú 4.3.1. Đau cục bộ (local pain). Là khi khu trú đau cảm thấy trùng với khu trú quá trình bệnh lý. Chẳng hạn, trong viêm dây thần kinh, đau cảm thấy suốt dọc dây thần kinh, tương ứng đúng với vị trí giải phẫu của dây thần kinh đó. 4.3.2. Đau xuất chiếu (referred pain). Là khu trú đau không trùng với khu trú của kích thích tại chỗ trong hệ cảm giác. Ví dụ, trong chấn thương hoặc u ở vùng đầu gần trung tâm của thân thần kinh, cảm giác đau lại xuất hiện ở vùng phân bố của đầu ngoại vi xa trung tâm của dây thần kinh đó. Như trong chấn thương thần kinh trụ ở vùng khớp khuỷu lại thấy đau ở ngón tay IV và V; kích thích các rễ sau cảm giác của tủy sống gây đau xuất chiếu (đau bắn tia) ở các chi hoặc vành đai quanh thân mà rễ thần kinh đó chi phối. Một ví dụ nữa là hiện tượng đau “chi ma” ở người bị cắt cụt chi, sự kích thích những dây thần kinh bị cắt đứt ở mỏm cụt gây một cảm giác ảo, đau ở bộ phận ngoại vi của chi mà thực tế không còn nữa.
Xem thêm

Đọc thêm

báo cáo về hệ tuần hoàn máu

báo cáo về hệ tuần hoàn máu

Đảm bảo mối quan hệ của môi trường trong và đảm bảo phân phối chất dinh dưỡng, thu thập các chất cặn bã. Ngoài ra ở một số động vật bậc cao hệ này còn dùng để: + Vận chuyển hocmon từ các tuyến nội tiết đến các cơ quan mà hocmon tác dụng. + Điều hòa thân nhiệt. Cùng với hệ thần kinh, hệ tuần hoàn cũng có vai trò trong việc điều chỉnh tính thống nhất của cơ thể.Dịch tuần hoàn: là máu,hoặc hỗn hợp máu + dịch mô Tim C¸c m¹ch m¸u: + Đéng m¹ch + TÜnh m¹ch + Mao m¹ch HÖ b¹ch huyÕt + C¸c cÊu tróc sinh b¹ch cÇu  H¹ch b¹ch huyÕt  M« d¹ng b¹ch huyÕt + M¹ch b¹ch huyÕt II- CẤU TẠO CHUNG -- Dịch tuần hoàn: là mỏu,hoặc hỗn hợp mỏu + dịch mụ - Tim - Các mạch máu: + Động mạch + Tĩnh mạch + Mao mạch - Hệ bạch huyết + Các cấu trúc sinh bạch cầu Hạch bạch huyết Mô dạng bạch huyết + Mạch bạch huyết 1. Máu Máu thuộc loại mô liên kết . Trong máu chứa các tế bào máu, các mảnh tế bào và huyết tương. Máu lưu thông trong tim và các mạch máu. Máu chiếm khoảng 8% khối lượng cơ thể. a) Chức năng của máu Chức năng Vận chuyển - Vận chuyển khí (CO2 và O2) - Vận chuyển chất dinh dưỡng, các chất điện giải và nước từ đường tiêu hoá đến các mô bào và các chất thải từ các mô bào đến thận cho quá trình lọc nước tiểu. - Vận chuyển vitamin D, axit lacộtic, hormon…
Xem thêm

Đọc thêm

HỆ NỘI TIẾT THUYẾT TRÌNH

HỆ NỘI TIẾT THUYẾT TRÌNH

Hormone kích thích tuyến vú ProlactinHormone kích thích nang trứng hormone tạo hoàng thểLH• Tuyến yên sau chứa 2 hormone:– Hormone chống bài niệu ADH– Hormone Oxytocin: gây co cơ trơn tử cung và tuyến vú.Chức năng sinh lý của tuyến yêntrước.• Tác dụng kích thích tế bào tuyến đích, nhưtuyến giáp, vỏ thượng thận, buồng trứng, tinhhoàn và tuyến vú. Riêng có hormone phát triểncơ thể GH không có tác dụng trên tuyến đích,nhưng tạo ra tác dụng trên hầu hết các tế bàocủa các mô của cơ thể.• Tác dụng của GH phát triển cơ thể. Tác dụngchuyển hóa của GH: Protein, Lipid,Glucid; kíchthích sụn và xương phát triển.• Hormone kích thích tuyến giáp TSH: quan trọngnhất là gây giải phóng hormone giáp T3 và T4 vàomáu. Kích thích TB giáp tăng kích thước và tăngsản xuất hormone tuyến giáp,…• Hormone hướng vỏ thượng thận ACTH: kích thíchcác TB lớp bó và lớp dưới của vỏ thượng thận, nólàm tăng hoạt động bài tiết của TB. Gây tăng sinh
Xem thêm

21 Đọc thêm

Kỹ thuật trồng chuối Tiêu.

Kỹ thuật trồng chuối Tiêu.

Chuối Tiêu Musa acuminata (AAA Group), là một loài thực vật thuộc họ Chuối (Musaceae), phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Á, theo y học cổ truyền và hiện đại thì chuối Tiêu có khả năng trị được nhiều bệnh tật. Trong tiếng Việt, chuối Tiêu còn được gọi với nhiều tên khác như chuối già, ba thư, bản Tiêu, đởm bình Tiêu, nha Tiêu, vô nhĩ văn tuyết (Hòa hán dược khảo), cam Tiêu (Biệt lục), thiên thư (Sử ký chú), thiệt danh hương Tiêu (Cương mục thập di), thủy Tiêu (Gia hựu bản thảo đồ kinh), ưu đàm hoa (Phạn ngữ), hương Tiêu, cam Tiêu, nha Tiêu, Tiêu tử, Tiêu quả,... I Đặc điểm sinh học. Chuối Tiêu thuộc loại cây thảo, cao từ 5 m đến 6 m, sống lâu năm, thân cây tròn, mềm, thẳng, có bẹ lá. Cuống hình tròn có khuyết rãnh, lá to, dài. Trái nằm trên buồng, có từ 6 − 8 nải, mỗi nải khoảng 12 trái. Trái nhỏ, dài, mùi thơm. Khi chín, vỏ vẫn màu xanh nhưng khi chín mùi thì màu vàng. Quả chuối có vị ngọt, tính rất lạnh (Tính hàn), không độc. Thành phần hoá học chủ yếu có chứa Protein, tinh bột, chất béo, các loại đường, calci, phốtpho, kali, kẽm, vitamin A, C, E, chất gôm, vitamin B11, cụ thể là: Trong 100g phần ăn được, có bột đường (27,7g), chất đạm (1,1g), nước (74,1g), sinh tố C (9 mg), B1 (0,03 mg), B2 (0,04 mg), Caroten (359 Unit), Calcium (11 mg), Magnéium (42 mg), Kalium (279 mg), Sắt (0,56mong), 8,6% Fructos, 4,7% Glucos, 13,7% Sacaros. Đặc biệt trong chuối Tiêu có nhiều Pectin, là 1 Glucid không có giá trị về mặt năng lượng nhưng là chất giúp cho sự tiêu hóa hấp thu tốt, chống nhiễm trùng đường ruột. Chuối Tiêu cung cấp nhiều năng lượng nhất (Trên dưới 100 Calori100g nạc chuối chín tươi) vì chuối chứa nhiều bột đường nhất. II Công dụng. Chuối Tiêu không chỉ cung cấp nguồn Vitamin dồi dào cho cơ thể mà chuối Tiêu còn đem lại sự mịn màng cho làn da và sự khỏe mạnh cho đôi mắt, đồng thời chuối có tác dụng hạ huyết áp. Người huyết áp cao dùng thường xuyên rất tốt. Ăn chuối Tiêu thường xuyên còn có thể đề phòng được bệnh rụng tóc, vỏ chuối Tiêu cũng là một vị thuốc. Chuối Tiêu có tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng, giải độc. Chủ yếu dùng cho bệnh nhân thể nóng, khát nước, táo bón, chảy máu trĩ, cao huyết áp,... Ngoài ra, loại quả này có tác dụng kích thích hệ miễn dịch, tạo ra INF (Chất có tác dụng tiêu diệt các tế bào khác thường sinh ra bệnh ung thư). Chuối Tiêu còn có tác dụng giúp giảm béo vì có hàm lượng tinh bột cao nên dễ gây no bụng. Khi tinh bột được hấp thu vào cơ thể và chuyển hóa thành đường cần một khoảng thời gian nhất định, nên năng lượng không bị tích trữ trong cơ thể quá nhiều. Chính vì lí do này, chuối Tiêu đã được các nhà dinh dưỡng xếp vào nhóm thực phẩm giảm béo hiệu quả. Giảm lượng cholesterol trong máu, trong thân cây chuối Tiêu có một chất có thể khống chế được cholesterol trong máu. Chuối Tiêu còn chữa bệnh cao huyết áp do người bị cao huyết áp trong cơ thể thường thừa Natri nhưng lại thiếu Kali. Trong chuối Tiêu lại có nhiều Kali. Chuối Tiêu giúp điều trị loét đường tiêu hóa, trong quả chứa một chất có tác dụng kích thích sản sinh các tế bào niêm mạc dạ dày để bảo vệ thành dạ dày nên hạn chế được khả năng chảy máu dạ dày. Chuối Tiêu còn điều trị bệnh mẩn ngứa da và cắt cơn ho, thực tế đã chứng minh vỏ của quả chuối Tiêu có một hợp chất khống chế được vi khuẩn và nấm gây ngứa da, trị mụn cơm.
Xem thêm

Đọc thêm

Top việc "lạ đời" mẹ bầu thường làm để dễ sinh con

TOP VIỆC "LẠ ĐỜI" MẸ BẦU THƯỜNG LÀM ĐỂ DỄ SINH CON

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Với những mẹ bầu đã gần đến ngày dự sinh hoặc quá ngày dự sinh sẽ vô cùng sốt ruột cho ca sinh nở của mình và chắc chắn ai cũng muốn sinh con một cách nhẹ nhàng, dễ dàng nhất. Vì vậy họ đã tìm đến những phương pháp kích thích sinh nở và dưới đây là những việc cực lạ lùng nhưng rất nhiều mẹ đã thực hiện để có ca sinh được dễ dàng hơn. Đi bộ chân cao chân thấp   Mặc dù tư thế này thật buồn cười nhưng rất nhiều mẹ đã được bác sĩ khuyên nên đi bộ với một chân trên vỉa hè và một chân dưới lòng đường hoặc leo cầu thang. Hành động này được cho là sẽ giúp em bé di chuyển vào ống sinh nở dễ dàng, đúng vị trí, giúp mẹ bầu sinh con dễ hơn. Massage vùng nhạy cảm Chia sẻ trên một diễn đàn dành cho mẹ và bé, một bà mẹ Mỹ kể: “Trước ngày sinh nở, tôi và chồng có một chuyến đi chơi phải vận động nhiều nên khi về nhà, chân tay tôi mỏi rã rời. Tôi đã nhờ chồng massage lòng bàn chân tay và có phải vì hành động này đã kích thích cơn đau chuyển dạ. Ngay đêm hôm đó tôi đau đẻ và sáng hôm sau con gái chào đời.” Việc massage những bộ phận nhạy cảm như lòng bàn chân, tay hay ngực được cho là giúp kích thích các cơn co tử cung và khiến mẹ dễ đi vào ca sinh nở. Ăn đồ cay nóng   Nếu như những thực phẩm cay nóng được khuyên nên kiêng trong suốt thai kỳ thì nhiều mẹ lại thực hiện chế độ ăn này để giúp kích thích sinh nở. Những thực phẩm được truyền tai nhau có công dụng kích thích sinh con là cà tím, ớt cay, dứa… Làm "chuyện ấy" Đây là việc đã được khoa học chứng minh có tác dụng giúp kích thích những cơn đau chuyển dạ cho mẹ bầu do trong tinh trùng nam giới có chứa chất prostaglandin giúp làm mềm cổ tử cung là kích thích chuyển dạ. Tuy nhiên khi làm chuyện ấy để kích thích sinh nở, các cặp đôi cần chú ý đến tư thế “yêu” để mẹ bầu được thoải mái, không ảnh hưởng đến thai nhi. Đi chơi công viên   Nghe có vẻ không có gì liên quan nhưng theo chia sẻ của một bà mẹ Mỹ, những trò chơi ở công viên như bập bênh, cầu trượt… có tác dụng giúp mẹ bầu dễ dàng đi vào cơn chuyển dạ và chính cô đã sinh con dễ dàng theo cách này. Trên thực tế, có thể những chuyển động trong các trò chơi này sẽ khiến thai nhi chuyển động nhiều trong bụng mẹ và dễ dàng lọt vào vị trí sinh nở hơn. Ngồi xổm Vị trí ngồi xổm sẽ giúp thai nhi đi vào đúng ống sinh và dễ dàng chào đời. Mẹ cũng có thể ngồi trên quả bóng tập thể thao cũng có tác dụng tương tự. Thổi bóng   Việc làm này nghe cũng không có gì liên quan đến sinh nở, tuy nhiên rất nhiều mẹ đã rỉ tai nhau rằng khi mẹ bầu thổi bóng sẽ kích thích các cơ co thắt và dẫn đến những cơn đau chuyển dạ. Vì vậy nếu mẹ đã quá ngày dự sinh, hãy mua bóng về để thổi và trang trí phòng cho em bé sắp chào đời.
Xem thêm

2 Đọc thêm

đề cương sinh học lớp 8 học kì 1

đề cương sinh học lớp 8 học kì 1

Các em có thể ôn lại lý thuyết và xem hướng dẫn: giải bài tập SGK sinh 8 1. Phản xạ là gì? Cho một số ví dụ ? Phản xạ là phản ứng của cơ thể thông qua hệ thần kinh trả lời các kích thích của môi trường. Ví dụ: Thức ăn chạm vào lưỡi thì tiết nước bọt Ánh sáng chiếu vào mắt nhắm lại. 2. Cung phản xạ là gì? Vòng phản xạ là gì? Phân biệt? Cung phản xạ: là con đường mà luồng xung thần kinh từ cơ quan thụ cảm qua trung ương thần kinh đến cơ quan phản ứng. Vòng phản xạ: luồng xung thần kinh và và đường phản hồi tạo nên vòng phản xạ. Phân biệt: Cung phản xạ Vòng phản xạ – Chi phối một phản ứng – Mang nhiều tính năng – Thời gian ngắn – Chi phối nhiều phản ứng – Có thể có sự tham gia của ý thức – thời gian kéo dài 3. Cấu tạo và chức năng của nơron? Cấu tạo: bao gồm thân, nhân, sợi trục, sợi nhánh, bao mielin và cúc ximap. Chức năng: Cảm ứng và dẫn truyền. 4. Bộ xương người được chia thành các phần nào? chức năng bộ xương người? Đặc điểm của từng loại khớp? Bộ xương người chia thành 3 phần: Xương đầu, xương thân và xương chi. Các xương liên hệ nhau bởi khớp xương. Chức năng bộ xương: nâng đỡ, bảo vệ cơ thể, là nơi bám của các cơ. Đặc điểm của từng loại khớp: + Khớp bất động: là loại khớp không thể cử động được. + Khớp bán động là loại khớp cử động hạn chế. + Khớp động: Là loại khớp cử động dễ dàng nhờ hai đầu xương có sụn bao đầu khớp nằm trong bao chứa dịch khớp. 5. Trình bày cấu tạo và chức năng của xương dài? Các phần của xương Cấu tạo Chức năng Đầu xương – Sụn bọc đầu xương – Mô xương xốp: gồm các nan xương – Giảm ma sát – Phân tán lực + Tạo các ô chứa tuỷ đỏ Thân xương – Màng xương – Mô xương cứng – Khoang xương – Giúp xương to ra về bề ngang – Chịu lực – Chứa tuỷ đỏ ở trẻ em và tuỷ vàng ở người lớn 6. Thành phần hoá học của xương? Xương to ra do đâu? Dài ra do đâu? Thành phần hoá học của xương bao gồm hai phần chính: Cốt giao: làm cho xương có tính mềm dẻo Muối khoáng: Làm cho xương bền chắc. Xương to ra là do sự phân chia tế bào ở màng xương Xương dài ra là do sự phân chia tế bào ở lớp sụn tăng trưởng. 7.Trình bày cấu tạo và tính chất của cơ? Thế nào là sự co cơ? Ý nghĩa? Cấu tạo: Mỗi bắp cơ gồm nhiều bó cơ, mỗi bó cơ gồm nhiều tế bào cơ. Tế bào cơ được cấu tạo từ các tơ cơ gồm tơ cơ mảnh và tơ cơ dày. Tính chất: Tính chất cơ bản của cơ là co và giãn. Cơ co khi có sự kích thích từ môi trường ngoài. Sự co cơ là khi tơ cơ mảnh xuyên sâu vào vùng phân bố của tơ cơ dày làm cho cơ ngắn lại. Ý nghĩa: Làm cho xương cử động dẫn đến sự vận động của cơ thể. 8. Phân tích những đặc điểm của bộ xương và hệ cơ người thích nghi với tư thế đứng thẳng và lao động? Hộp sọ phát triển Lồng ngực nở rộng sang hai bên. Cột sống cong ở 4 chổ Xương chậu nở, xương đùi lớn. Cơ mông, cơ đùi, cơ bắp chân phát triển. Bàn chân hình vòm, xương gót chân phát triễn. Chi trên có các khớp linh hoạt, ngón cái đối diện với các ngón còn lại. Cơ vận động cánh tay, cẳng tay, bàn tay và đặc biệt cơ vận động ngón cái phát triển. 9. Máu gồm những thành phần cấu tạo nào? Nêu chức năng của hồng cầu và huyết tương? Máu gồm huyết tương (55%) và các tế bào máu (45%). Các tế bào máu bao gồm: Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Vai trò của huyết tương Duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch Vận chuyển các chất dinh dưỡng, các chất cần thiết khác và các chất thải. Vai trò của hồng cầu : Vận chuyển oxy và cacbonic 10. Môi trường trong cơ thể gồm những thành phần nào? Vai trò của môi trường trong cơ thể ? Môi trường trong cơ thể gồm: Máu, nước mô và bạch huyết. Môi trường trong cơ thể giúp tế bào thường xuyên liên hệ với môi trường ngoài trong quá trình trao đổi chất. 11. Miễn dịch là gì? Thế nào là miễn dịch tự nhiên và miễn dịch nhân tạo? Miễn dịch là khả năng cơ thể không bị mắc một bệnh nào đó Miễn dịch tự nhiên: là hiện tượng cơ thể không mắc một số bệnh hoặc không mắc lại bệnh đã từng nhiễm. Miễn dịch nhân tạo: Là khi người được tiêm vacxin phòng bệnh nào đó thì không mắc bệnh. Tiểu cầu đã tham gia bảo vệ cơ thể chống mất mau như thế nào? Ý nghĩa của sự đông máu? Khi mạch máu bị đứt, tiểu cầu vỡ giải phóng enzym ra huyết tương để hình thành các tơ máu >một búi tơ máu to ôm giữ các tế bào thành một khối máu đông bịt kín vết thương. Ý nghĩa: Hạn chế chảy máu và chống mất máu cho cơ thể. 12.Các nhóm máu ở người? Nguyên tắc truyền máu? Ở người có các nhóm máu sau: + Nhóm máu O + Nhóm máu A + Nhóm máu B + Nhóm máu AB Nguyên tắc truyền máu: Khi truyền máu cần chú ý: + Xét nghiệm để lựa chọn loại máu truyền cho phù hợp ( Kháng nguyên trong hồng cầu của người cho và kháng thể trong huyết tương của người nhận) + Tránh nhận máu đã nhiễm các tác nhân gây bệnh. 13. Mô tả đường đi của máu trong vòng tuần hoàn lớn và nhỏ? Vai trò? Vòng tuần hoàn nhỏ: máu đỏ thẩm đi từ tâm thất phải đi theo động mạch phổi đến phổi, thải CO2 và nhận O2, máu trở thành máu đỏ tươi theo tĩnh mạch phổi trở về tâm nhĩ trái. Vòng tuần hoàn lớn: Máu đỏ tươi từ tâm thất trái theo động mạch chủ đến các cơ quan. Cung cấp O2 và chất dinh dưỡng, nhận CO2 và chất bã, máu trở thành máu đỏ thẩm theo tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới trở về tâm nhĩ phải. Vai trò: thực hiện chu trình luân chuyển môi trường trong cơ thể và tham gia bảo vệ cơ thể. 14. Chu kì co giãn của tim? Tim co giãn theo chu kỳ, mỗi chu kỳ gồm 3 pha: Pha nhĩ co, pha thất co, pha giãn chung. sự phối hợp hoạt động của các thành phần cấu tạo tim qua ba pha làm cho máu được bơm theo một chiều từ tâm nhĩ vào tâm thất và từ tâm thất vào động mạch. 15.Cấu tạo tim? Tim được cấu tạo bởi các cơ tim và mô liên kết, tạo thành các ngăn tim và các van tim (van nhĩ thất, van động mạch) Các ngăn tim co Nơi máu được bơm tới Tâm nhĩ trái co Tâm thất trái Tâm nhĩ phải co Tâm thất phải Tâm thất trái co Vòng tuần hoàn lớn Tâm thất phải co Vòng tuần hoàn nhỏ 16. Cấu tạo của mạch máu? Các loại mạch máu Cấu tạo Chức năng Động mạch – Thành gồm 3 lớp với lớp mô liên kết và lớp cơ trơn dày – Lòng hẹp hơn lòng tĩnh mạch Dẫn máu từ tim đến các cơ quan với vận tốc cao và áp lực lớn Tĩnh mạch – Thành cũng có 3 lớp nhưng lớp mô LK và cơ trơn mỏng hơn động mạch – Lòng rộng hơn ĐM – Có van một chiều ở TM chủ dưới Dẫn máu từ khắp các tế bào của cơ thể về tim với vận tốc và áp lực nhỏ. Mao mạch – Nhỏ phân nhánh nhiều – Thành mỏng chỉ gồm một lớp biểu bì. – Lòng hẹp Toả rộng đến từng tế bào của các mô, tạo điều kiện cho sự trao đổi chất với các tế bào. 17. Sự vận chuyển máu qua hệ mạch: Nhờ 1 sức đẩy do tim tạo ra (tâm thất co). Sức đẩy này tạo nên một áp lực trong mạch máu, gọi là huyết áp ( huyết áp tối đa khi tâm thất co và tối thiểu khi tâm thất dãn) và vận tốc máu trong mạch. 18.Vệ sinh tim mạch: Cần khắc phục và hạn chế các nguyên nhân làm tăng nhịp tim và huyết áp không mong muốn Tiêm phòng các bệnh có hại cho tim Hạn chế các thức ăn có hại cho tim mạch Cần rèn luyện tim mạch thường xuyên, đều đặn, vừa sức bằng các hình thức thể dục, thể thao
Xem thêm

Đọc thêm

ĐIỂM DANH NHỮNG SAI LẦM KHIẾN BÀ BẦU DỄ SINH NON

ĐIỂM DANH NHỮNG SAI LẦM KHIẾN BÀ BẦU DỄ SINH NON

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mẹ bầu sinh non. Dưới đây là những nguyên nhân thường gặp nhất. Nhiễm trùng nước ối Nhiễm trùng ối là khi vi khuẩn xâm nhập từ âm đạo lên tử cung và ảnh hưởng trực tiếp đến nước ối gây nhiễm trùng. Khi nước ối bị nhiễm trùng sẽ có màu xanh đục và mùi hôi. Lúc này bé sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm trùng trong tử cung… Nguyên nhân có thể do mẹ bị viêm nhiễm đường sinh dục trước hoặc trong thời kỳ mang thai, không được điều trị dứt điểm đúng cách khiến vi khuẩn có thể xâm nhập, gây viêm màng ối, khiến màng ối có thể vỡ ra trong bất kỳ thời gian nào của thai kỳ. Bé sinh trong tình trạng vỡ ối non, nhiễm trùng ối rất khó cứu sống. Nhiễm trùng ối còn gây ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của sản phụ. Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất khiến thai phụ dễ bị sinh non và gặp những biến chứng nguy hiểm với cả mẹ bầu và thai nhi.   Nhiễm trùng nước ối là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất khiến thai phụ dễ bị sinh non. (Ảnh minh họa). Bất thường nhau thai Bất thường ở nhau thai cũng được cho là nguyên nhân khá phổ biến gây sinh non. Một số vấn đề xấu ở nhau thai là nhau thai thấp, bong nhau non. Khi mắc các chứng bệnh này, sản phụ cần được nhập viện để các bác sĩ theo dõi cẩn thận, đồng thời có thể mổ đẻ khẩn cấp trong trường hợp nguy kịch. Cổ tử cung bất thường Trong một số trường hợp, cổ tử cung của mẹ bầu có thể giãn nở sớm trước 37 tuần thai, khiến mẹ bị vỡ ối sớm và sinh non. Tuy nhiên, giãn tử cung sớm có thể được phát hiện qua siêu âm thai. Vì vậy để ngăn ngừa nguy cơ này, mẹ bầu cần khám thai theo đúng lịch định kỳ bác sĩ chỉ định. Đa thai Các bà mẹ mang bầu song thai hoặc đa thai cũng có nguy cơ sinh non cao bởi trọng lượng của các thai nhi quá lớn sẽ gây áp lực lên tử cung và không thể tránh khỏi nguy cơ sinh non.   Thai nhi bị dị tật bẩm sinh cũng dễ sinh non. (Ảnh minh họa). Nước ối quá ít hoặc quá nhiều Khi ở trong bụng mẹ, thai nhi sẽ được bảo vệ và nuôi dưỡng bởi bọc ối. Tuy nhiên, quá nhiều hoặc quá ít nước ối đều không tốt và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm đặc biệt là sinh non. Thai nhi bất thường Nếu thai nhi gặp những bất thường như khuyết tật ống thần kinh, rối loạn chuyển hóa hoặc bất cứ dị tật bẩm sinh nào… đều có nguy cơ khiến mẹ sinh non. Vì vậy những người mẹ có thai nhi bất thường cần được theo dõi chặt chẽ tại các cơ sở y tế. Ngoài ra trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày mẹ bầu cũng sẽ rất dễ sinh non nếu mắc phải những thói quen xấu sau đây: Ăn quá nhiều Không phải cứ mang thai là bạn có thể thích ăn bao nhiêu tùy ý vì cho rằng sẽ tốt cho thai nhi. Sự thật là ăn uống mất kiểm soát dễ dẫn đến béo phì và khiến bà bầu dễ mắc chứng tiền sản giật hay đái tháo đường khi mang thai. Hai căn bệnh này đều là những nhân tố gia tăng nguy cơ sinh non nhanh nhất cho bất cứ mẹ bầu nào. Hút thuốc Hút thuốc (gồm cả hút chủ động hay thụ động) rất có hại cho sức khỏe con người. Với bà bầu, độ nguy hiểm của thuốc lá lại càng tăng lên gấp bội. Khi hút thuốc, cơ thể sẽ hấp thụ khoảng 4000 chất hóa học, trong đó có nicotin và carbon monoxide - hai hợp chất đặc biệt có hại cho thai nhi. Nicotine sẽ thu hẹp các mạch máu phụ trách vận chuyển oxy và chất dinh dưỡng trong cơ thể, bao gồm cả mạch máu trong dây rốn. Trong khi đó, carbon monoxide bám dính lấy các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy đến thai nhi làm gia tăng nguy cơ sinh non cho mẹ bầu. Vệ sinh răng miệng không tốt Các nghiên cứu đã cho thấy khi mắc các bệnh truyền nhiễm răng miệng, cơ thể sẽ tiết ra hormone kích thích quá trình sinh đẻ của bà bầu. Bất cứ căn bệnh nào liên quan đến đường miệng như sâu răng, viêm lợi hay loét miệng đều có thể dẫn đến hiện tượng sinh non. Vậy nên, bạn cần chăm sóc răng miệng cẩn thận để đảm bảo cho con mình được sinh ra khỏe mạnh, đủ ngày đủ tháng.   Tập thể dục quá nhiều Cũng giống như việc ăn uống, khi mang thai bạn cần duy trì một chế độ tập luyện hợp lý để mang đến lợi ích tốt nhất cho cơ thể. Tập thể dục vừa phải sẽ giúp mẹ bầu tránh mắc nhiều bệnh thai kỳ, ví dụ như đái tháo đường. Tuy nhiên, tập quá sức sẽ khiến bụng bạn bị đè nén, có hại cho thai nhi. Bị stress Tình trạng stress ở mẹ bầu sẽ làm giảm khả năng vận chuyển chất dinh dưỡng của nhau thai. Mẹ bầu sẽ có cảm giác đói thường xuyên hơn nhưng các chất dinh dưỡng lại không được truyền cho thai nhi một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu cân, chậm phát triển ở bào thai và thậm chí khiến mẹ bầu sinh bé sớm hơn so với dự định. Uống rượu bia và dùng chất có cồn Dùng rượu bia khi mang thai sẽ cực kỳ nguy hiểm cho thai nhi. Uống rượu bia dù chỉ một ngụm nhỏ, chất cồn trong cơ thể mẹ sẽ được truyền đến bào thai. Không giống như cơ thể người lớn có thể đào thải chất độc hại qua gan, bào thai vẫn đang trong quá trình hình thành, chưa thể xử lý các chất độc. Không chỉ có hại cho sự phát triển của bào thai, chất cồn trong rượu bia sẽ là tác nhân gia tăng nguy cơ sinh non cho mẹ bầu. Uống quá nhiều cà phê Caffeine có trong cà phê và nhiều thực phẩm khác như sô-cô-la, nước có ga và nhiều đồ uống khác cũng góp phần khiến cho em bé của bạn ra ngoài sớm hơn so với dự định. Caffeine là chất kích thích làm tăng nhịp tim và các triệu chứng ợ nóng, ợ chua. Trong quá trình mang thai, cơ thể sẽ tiêu thụ caffeine chậm hơn so với bình thường, khiến chất này dồn ứ trong máu. Quá nhiều caffeine trong cơ thể (nhất là trong 3 tháng đầu) sẽ làm tăng nguy cơ sinh non hay thậm chí sảy thai.
Xem thêm

3 Đọc thêm

8 BỘ PHẬN ĐƯỢC TĂNG CÂN KHI MẸ CÓ BẦU

8 BỘ PHẬN ĐƯỢC TĂNG CÂN KHI MẸ CÓ BẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 9 tháng mang thai, thông thường các mẹ sẽ tăng từ 11-14kg, có những mẹ tăng cân vượt chuẩn đến 25kg. Những tưởng sau sinh nở, cân nặng sẽ về nguyên được mức ban đầu nhưng hầu hết chị em đều gặp rắc rối với việc giảm cân sau sinh. Vậy số cân nặng khi mang bầu tăng lên được phân bổ như thế nào và tại sao chúng ta lại không thể eo thon như ngày còn son sau sinh? Chuyên gia khoa sản, tiến sĩ Jennifer Wider sẽ trả lời cho chúng ta biết sự pahan bổ cân nặng khi mang thai và có những bộ phận sẽ không thể giảm cân ngay được sau ca sinh. Em bé: Khoảng 3,4kg   Em bé sinh đủ ngày tháng thường có cân nặng từ 2,5-3,5kg. Trong số 13,5kg cân nặng tăng lên trong thai kỳ sẽ chỉ có khoảng 3,4kg là trọng lượng của em bé. Số cân nặng này mẹ sẽ giảm đi được ngay sau khi bé chào đời. Nhau thai: 1kg Nhau thai kết nối với thai nhi để cung cấp dinh dưỡng trong suốt thai kỳ và sẽ theo bé ra khỏi cơ thể mẹ sau sinh. Lượng máu: 1,8kg Khi mang thai, cơ thể sẽ sản xuất thêm rấy nhiều máu để giúp thai nhi phát triển và cơ thể mẹ được khỏe mạnh. Sau sinh, số cân nặng này cũng mất đi theo. Tử cung: 0,9kg 9 tháng bầu bí, tử cung của mẹ sẽ nặng hơn bình thường khoảng 15 lần. Khi em bé ra khỏi bụng mẹ, tử cung sẽ mất khoảng 6-8 tuần để co lại. Ngực: 0,9kg Một tin tốt lành là khi mang thai, kích thước hai bầu ngực của mẹ cũng tăng trọng lượng. Nguyên nhân là do hormone progesterone khi mang thai sẽ kích thích sự tăng trưởng của các mô ngực để mẹ sẵn sàng cho hành trình nuôi con bằng sữa mẹ. Số cân nặng này sẽ không giảm cho đến khi mẹ cai sữa cho bé.   Ngực mẹ bầu cũng tăng đến 1kg để chuẩn bị cho hành trình nuôi con bằng sữa mẹ. (ảnh minh họa) Chất lỏng: 1,8kg Nguyên nhân là do cơ thể giữ nước và sau sinh số cân nặng này cũng biến mất theo. Chất béo: 3,2kg Khi mang thai đương nhiên cân nặng sẽ tăng vì cơ thể lưu trữ thêm chất béo. Việc này sẽ giúp cơ thể mẹ cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho con. Số cân nặng này sẽ không thể giảm ngay sau sinh mà mẹ phải mất một thời gian tập luyện, có chế độ ăn uống hợp lý, khoa học và cho con bú đều đặn mới có thể giảm được. Ối: 0,9kg Đây là chất lỏng giúp nuôi dưỡng và bảo vệ em bé trong tử cung. Lượng cân nặng này cũng sẽ theo bé đi ra sau khi sinh nở.
Xem thêm

2 Đọc thêm

HOA TAM THẤT - VỊ THUỐC HẠ HUYẾT ÁP

HOA TAM THẤT - VỊ THUỐC HẠ HUYẾT ÁP

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo dược thư cổ, hoa tam thất vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt), bình can (điều hòa chức năng của tạng can), giáng áp (hạ huyết áp) và an thần, trấn tĩnh, thường được dùng để chữa các chứng và bệnh như tăng huyết áp, huyễn vựng (hoa mắt, chóng mặt trong hội chứng rối loạn tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não...), nhĩ minh, nhĩ lung (tai ù, tai điếc), viêm hầu họng cấp tính... Với y học hiện đại, hoa tam thất có thành phần chính là hoạt chất của nhân sâm Rb1, Rb2, có vị ngọt, mát và có tác dụng làm giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, giúp tăng cường tuần hoàn máu. Thanh nhiệt: hoa tam thất có tác dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt); Bình can: (điều hòa chức năng của tạng can); Bổ huyết (chống thiếu máu), cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết; Chống viêm tấy, giảm đau, chữa trường hợp viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương; Tốt cho hệ thần kinh như tác dụng an thần, trấn tĩnh, dễ ngủ và ngủ sâu giấc (chữa các chứng mất ngủ, ngủ hay mơ và nghiến răng); Chữa tăng huyết áp bởi hoa tam thất có tác dụng giáng áp (hạ huyết áp); Phòng ngừa các biến chứng tim mạch, tai biến mạch máu não, ngăn ngừa chứng lú lẫn ở người già; Làm tăng lực cụ thể như giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, rất tốt cho người ăn uống kém, lao động quá sức, hay ra mồ hôi trộm; Ngăn ngừa, phòng chống bệnh như là kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, tăng sức đề kháng giúp cơ thể phòng chống bệnh tật về lâu dài, sử dụng thường xuyên sẽ nâng cao tuổi thọ.   Hoa tam thất khô Ngoài ra, còn có khả năng ngăn ngừa, phòng chống bệnh ung thư, cụ thể là tác dụng ức chế sự hình thành và phát triển của khối u; Chữa các bệnh do thiếu máu lên não nhờ khả năng làm tăng cường máu lên não chữa các chứng bệnh đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, choáng; Chữa nhĩ minh, nhĩ lung tức là chữa các chứng bệnh tai ù, tai điếc. Rất tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc gan, hạ men gan; Điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên rất tốt với người gan nhiễm mỡ. Chữa tiểu đường: hạ đường huyết, giúp bệnh nhân tiểu đường mạnh khỏe và giảm các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra. Làm đẹp, giảm béo: chống lão hóa, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên làm giảm béo tốt, nhất là béo bụng, béo đùi; Tác dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt), giải độc gan, hỗ trợ chữa và phòng chống mụn, nám da, giúp cho làn da sáng đẹp. Song còn tác dụng lợi sữa cho phụ nữ sau sinh. Cách sử dụng hoa tam thất trong trị liệu rất đơn giản: Mỗi ngày dùng từ 2 - 3g, pha vào nước sôi uống như trà đến khi hết vị ngọt đắng thì hãy thay ấm khác.
Xem thêm

1 Đọc thêm

CÁC PHẢN ỨNG TRUYỀN MÁU VÀ CÁCH XỬ TRÍ

CÁC PHẢN ỨNG TRUYỀN MÁU VÀ CÁCH XỬ TRÍ

CÁC PHẢN ỨNG TRUYỀN MÁU VÀ CÁCH XỬ TRÍMáu và các chế phẩm, cũng như các loại thuốc khác và các phươngpháp điều trị khác, đều có các tác dụng có lợi và tác dụng phụ không có lợicho người bệnh. Thực hiện tốt an toàn truyền máu bao gồm nắm vữngnhững lợi ích mà truyền máu mang lại đồng thời hiểu rõ những nguy cơ dotruyền máu có thể gây ra.An toàn truyền máu là một quy trình khép kín gồm nhiều giai đoạntrong đó truyền máu lâm sàng đứng ở vị trí cuối cùng nhưng rất quan trọng.Ngân hàng máu phải đảm bảo cung cấp cho các bệnh viện các sản phẩm máuan toàn, có chất lượng. Các bác sĩ lâm sàng tại các bệnh viện có trách nhiệmchỉ định điều trị đúng và hợp lý máu & các chế phẩm, truyền máu và các chếphẩm đúng nguyên tắc và đúng quy trình, xử trí kịp thời và chính xác các taibiến truyền máu.Các tác dụng không có lợi của truyền máu thường được chia thành hainhóm lớn: nhóm các phản ứng truyền máu máng tính chất cấp tính hay sớm,tức thời và nhóm các tai biến truyền máu muộn:A. Sớm :1. Mang tính miễn dịch :- Phản ứng truyền máu gây tan máu cấp tính- Phản ứng sốt do truyền máu không gây tan máu- Phản ứng kiểu dị ứng- Phản ứng kiểu phản vệ- Tổn thương phổi cấp do truyền máu ( Transfusion RelatedAcute Lung Injury – TRALI)2. Không mang tính miễn dịch:- Nhiễm khuẩn- Quá tải tuần hoàn- Tan máu do các nguyên nhân không phải miễn dịch- Truyền máu khối lượng lớn- Rối loạn chuyển hoáB. Muộn
Xem thêm

8 Đọc thêm

SINH LÝ NƠRON SINH LÝ HỌC

SINH LÝ NƠRON SINH LÝ HỌC

BÀI 15. SINH LÝ NƠRON Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng: 1. Trình bày được đặc điểm cấu trúc chức năng của nơron. 2. Trình bày được các biểu hiện điện của nơron. 3. Trình bày được đặc điểm dẫn truyền xung động trên sợi trục và qua synap. Nơron (tế bào thần kinh) là đơn vị cấu trúc (không liên tục mà tiếp xúc với nơron khác), là đơn vị chức năng (phát, truyền và nhận xung động), đơn vị dinh dưỡng (phần nào bị tách rời khỏi nơron thì thoái hoá) và là đơn vị bệnh lý (cái chết của một nơron không kéo theo cái chết của các nơron khác) của hệ thần kinh. Hệ thống thần kinh của người có hơn 2.1010 nơron. Nơron có hình thái rất đa dạng và khác nhau về kích thước. Nơron có những phần chính là thân, sợi trục và sợi gai (hình 15.1) Hình 15.1. Sơ đồ cấu trúc nơron 1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC – CHỨC NĂNG CỦA NƠRON 1.1. Cấu trúc của nơron. 1.1.1. Thân nơron có hình dáng kích thước rất khác nhau. Ngoài nhân và các bào quan (lưới nội bào có hạt, ty thể, bộ máy Golgi … ), trong thân nơron còn có các xơ thần kinh và các ông siêu vi, các chất vùi (giọt lipid, hạt glycogen, sắc tố). Thân chứa nhiều ARN (tạo thành các thể Nissl), tập hợp các thân nơron tạo nên chất xám của hệ thần kinh. Trên màng của thân có các protein cảm thụ đặc hiệu (receptor) với chất truyền đạt thần kinh tương ứng. 1.1.2. Sợi trục. Mỗi nơron chỉ có một sợi trục xuất phát từ thân nơron dài từ vài micromét đến vài chục centimét. Sợi trục có thể có nhánh ngang đi tới tế bào thần kinh, tế bào cơ hoặc tế bào tuyến. Đầu tận cùng sợi trục chia nhánh nhỏ dần và tận cùng bằng các cúc tận cùng. Trong cúc tận cùng có các bọc nhỏ chứa chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitter). Trong sợi trục không có lưới nội bào có hạt và ribosom nhưng có nhiều xơ thần kinh, ống siêu vi, ty thể, lưới nội bào trơn. Có hai loại sợi trục là sợi không myelin và sợi có myelin. Các tế bào Schwann bao bọc quanh sợi trục, cuộn thành nhiều lớp tạo thành vỏ Schwann. Giữa các lớp cuộn có chứa chất lipoprotein là myelin. Lớp này có tính cách điện. Bao myelin không liên tục, bị đứt quãng ở eo Ranvier (cách nhau 1 – 1,5 milimét trên sợi trục). Sợi có myelin có trong chất trắng của các trung tâm thần kinh và ở các dây thần kinh ngoại biên. Có một số sợi không có chất myelin; các sợi này là các sợi không có myelin hay sợi xám. 1.1.3. Sợi gai. Sợi gai (đuôi gai) là các tua bào tương ngắn, phân nhánh ở gần thân và lan ra xung quanh thân nơron. Trừ nơron của hạch gai chỉ có một sợi gai, các nơron có nhiều sợi gai. 1.1.4. Synap. Synap là chỗ tiếp nối giữa sợi trục của một nơron với một tế bào thần kinh khác hoặc với một tế bào đáp ứng khác (cơ, tuyến). Synap gồm màng trước synap (màng của các cúc tận cùng của sợi trục), khe synap rộng khoảng 10 – 40 nanomét và màng sau synap (màng của tế bào thần kinh, tế bào cơ hoặc tế bào tuyến). Tận cùng trước synap có nhiều hình dạng khác nhau nhưng phần lớn giống như những cúc hình tròn hoặc hình trứng nên được gọi là cúc tận cùng. Bên trong các cúc tận cùng có các bọc nhỏ và ty thể. Các bọc nhỏ chứa chất truyền đạt thần kinh là những chất khi được giải phóng vào khe synap sẽ kích thích hoặc ức chế nơron sau synap tùy theo receptor có trên màng sau synap. Các ty thể sản xuất ATP cần cho quá trình tổng hợp chất truyền đạt thần kinh. 1.2. Các chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitter). Hiện nay, người ta xác định được khoảng hơn 40 chất hoá học được coi là chất truyền đạt ở synap. Các chất này được chia thành hai nhóm: Nhóm có phân tử nhỏ và nhóm có phân tử lớn. 1.2.1. Nhóm có phân tử nhỏ là những chất có tác dụng lên receptor tương ứng trong thời gian cực ngắn, gây ra các đáp ứng cấp của hệ thần kinh (dẫn truyền tín hiệu cảm giác và dẫn truyền tín hiệu vận động). Hầu hết các chất này được tổng hợp ở cytosol của cúc tận cùng rồi được hấp thu theo cơ chế tích cực vào các bọc nhỏ. Mỗi loại nơron chỉ tổng hợp và giải phóng một chất dẫn truyền có phân tử nhỏ. Phần lớn các chất này ảnh hưởng lên các kênh ion (làm tăng hoặc giảm hoạt động kênh), chỉ có một vài chất là tác động lên enzym. Các chất điển hình trong nhóm này là acetylcholin, noradrenalin, dopamin, gamma amino butyric acid (GABA), serotonin, glycin. Acetylcholin được sản xuất ở các nơron trong nhiều vùng của vỏ não, một số nhân nền não, nơron trước hạch của hệ thần kinh tự chủ, nơron sau hạch của hệ phó giao cảm … Acetylcholin có tác dụng kích thích nơron sau, trừ ở tận cùng phó giao cảm là có tác dụng ức chế. Noradrenalin được tổng hợp ở các nơron trong não và vùng dưới đồi. Noradrenalin của sợi sau hạch giao cảm hoạt hóa các receptor ở một số nơi và ức chế receptor ở một số nơi khác. Dopamin được các nơron của chất đen và các nhân nền giải phóng, có tác dụng gây ức chế (ưu phân cực màng sau synap) nếu gắn với receptor D2. GABA được bài tiết ở các cúc tận cùng trong tủy sống, tiểu não, nhân nền và ở nhiều vùng của vỏ não, có tác dụng ức chế. Serotonin do các nhân ở não giữa và một số vùng khác của não, sừng sau tủy sống và vùng dưới đồi sản xuất. Serotonin có tác dụng ức chế đường dẫn truyền cảm giác đau ở tủy sống, có vai trò trong hoạt động cảm xúc và giấc ngủ. Glycin có tác dụng làm mở kênh clo nên gây ức chế. Sau khi hòa màng với màng trước synap và giải phóng chất truyền đạt, các bọc nhỏ trở thành một phần của màng trước synap. Sau vài giây đến vài phút, phần màng này lại lõm vào trong rồi khép kín lại để trở thành bọc mới. Bọc mới vẫn có các protein vận chuyển cần thiết để đưa các phân tử mới được tổng hợp vào bên trong bọc. 1.2.2. Nhóm có phân tử lớn gồm các chất có bản chất là peptid nên còn được gọi là các peptid thần kinh. Các chất này có tác dụng chậm. Các peptid thần kinh là một phần của những phân tử protein lớn do ribosom trong thân nơron tổng hợp. Các phân tử protein này được vận chuyển ngay vào mạng lưới nội bào. Mạng lưới nội bào và bộ máy Golgi phân cắt chúng thành những mảnh nhỏ hơn, tạo thành các peptid não hoặc thành các tiền chất của chúng. Sau đấy, bộ máy Golgi đưa các chất này vào các bọc chứa và các bọc này lại được đưa ra bào tương rồi được vận chuyển tới đầu sợi trục với tốc độ vài centimét ngày. Mỗi loại nơron có thể tổng hợp và giải phóng một hay nhiều peptid não khác nhau. Tại các cúc tận cùng, các peptid não được giải phóng giống như hiện tượng xảy ra với các chất truyền đạt có phân tử nhỏ nhưng các bọc không được tái sử dụng. Lượng peptid não được giải phóng ít hơn nhưng tác dụng của chúng lại mạnh hơn hàng nghìn lần so với chất truyền đạt có phân tử nhỏ. Tốc độ tạo thành các peptid não cũng chậm hơn rất nhiều so với các chất truyền đạt có phân tử nhỏ. Các peptid não thường gây các tác dụng kéo dài như đóng kênh calci, làm thay đổi bộ máy chuyển hoá của tế bào, hoạt hoá hoặc bất hoạt gen và tác dụng lâu dài lên receptor (có thể vài ngày đến vài năm). Chức năng của các peptid còn chưa được biết hết. Một số chất điển hình của nhóm này là endorphin, vasopressin, encephalin, chất P, neurotensin, gastrin ... 1.2.3. Chuyển hoá chất truyền đạt thần kinh. Sau khi đã phát huy tác dụng, các chất truyền đạt trung gian bị khử hoạt nhanh chóng nhờ vậy nơron sau không bị kích thích kéo dài. Các chất có phân tử nhỏ bị khử hoạt trong vòng vài phần nghìn giây, tùy theo từng chất có thể theo ba con đường: Khuếch tán khỏi khe synap vào các dịch xung quanh. Được tái hấp thu tích cực vào cúc tận cùng và được sử dụng lại, thường xảy ra với noradrenalin ở các cúc tận cùng của hệ giao cảm. Bị enzym đặc hiệu phân giải ngay tại khe synap. Ví dụ, acetylcholin bị acetylcholinesterase (gắn với collagen và glycosaminoglycan lấp đầy khe synap) phân giải thành ion acetat và cholin; một phân tử cholinesterase có thể thủy phân 10 phân tử acetylcholin trong 11000 giây. Noradrenalin bị enzym monoamin oxidase ở các tận cùng thần kinh và catecholOmethyltransferase có ở mọi mô phân giải. Các chất có phân tử lớn chủ yếu khuếch tán ra các mô xung quanh rồi bị phá hủy trong vài phút cho đến vài giờ nhờ các enzym đặc hiệu hoặc không đặc hiệu. 2. HƯNG PHẤN Ở NƠRON. 2.1. Đặc điểm hưng phấn của nơron. Giống như mọi tế bào sống khác, nơron có tính hưng phấn mà một trong các biểu hiện là sự xuất hiện điện thế hoạt động do sự khử cực màng tế bào. Sự phân cực của màng trong trạng thái nghỉ (điện thế nghỉ) và sự khử cực màng trong trạng thái hưng phấn (điện thế hoạt động) là hậu quả của sự thay đổi tính thấm đối với các ion natri và kali (xem Bài 4. Điện thế màng, điện thế hoạt động). Khi hưng phấn, chuyển hóa của nơron tăng: Nhu cầu oxy tăng, sản xuất nhiều NH3, tăng tạo acetylcholin và glutamin … So với các tế bào khác, nơron có tính hưng phấn cao hơn rất nhiều tức là ngưỡng kích thích của nơron rất thấp. Các kích thích có thể là từ môi trường bên ngoài (ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, áp suất …), từ bên trong cơ thể (thay đổi áp suất khí trong máu, áp suất lên thành mạch …); thậm chí có những nơron đều đặn tự phát xung động một cách nhịp nhàng (ví dụ, nơron ở trung tâm hô hấp). Nơron có hoạt tính chức năng cao tức là có khả năng đáp ứng với các kích thích nhịp nhàng có tần số cao. Với một kích thích có cường độ bằng hoặc cao hơn ngưỡng thì điện thế được dẫn truyền đến các vùng khác ngoài điểm kích thích và tại chỗ xuất phát của sợi trục xuất hiện điện thế hoạt động. Điện thế hoạt động được dẫn truyền dọc theo sợi trục tới các nhánh tận cùng rồi tới các cúc tận cùng và gây giải phóng chất truyền đạt thần kinh. 2.2. Sự dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục nơron Một khi đã được tạo ra tại một điểm bất kỳ trên màng nơron, điện thế hoạt động sẽ kích thích các điểm lân cận và làm cho nó được lan truyền ra toàn bộ màng. Đây là quy luật “tất cả hoặc không” được áp dụng cho mọi mô có tính hưng phấn. Sự dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục có những đặc điểm sau: Xung động chỉ được dẫn truyền trên nơron nguyên vẹn về mặt chức năng. Trên sợi trục, xung động được dẫn truyền theo cả hai hướng. Hướng đi tới các nhánh tận cùng của sợi trục là hướng thuận, hướng đi tới các đuôi gai của chính nơron ấy là chiều nghịch. Cường độ kích thích càng lớn thì tần số xung động xuất hiện trên sợi trục càng cao chứ không phải là biên độ xung động tăng. Do đó, mặc dù nơron hưng phấn theo định luật “tất cả hoặc không” nhưng hệ thần kinh vẫn nhận biết được kích thích là mạnh hay yếu. Trong một bó sợi trục, xung động chỉ được dẫn truyền theo chiều dọc của sợi có xung động, không lan tỏa ra các sợi lân cận. Do đó, thông tin thần kinh được truyền chính xác tới nơi cần phải đến. Tốc độ dẫn truyền tỷ lệ thuận với đường kính sợi trục (xem bảng 15.1). Ở sợi không myelin, xung động được dẫn truyền từ điểm hưng phấn sang hai điểm liền kề ở hai bên và cứ thế dọc theo chiều dài của sợi trục (hình 15.2). Tính thấm với ion natri tại điểm bị kích thích tăng lên đột ngột. Tại điểm bị kích thích (có khử cực), dòng điện từ màng hướng vào trong còn ở nơi không bị khử cực thì dòng điện hướng ra ngoài. Khi đi qua nơi màng chưa bị khử cực, dòng điện làm tính thấm với natri tại chỗ ấy tăng, ion natri ồ ạt đi vào và làm khử cực tại nơi ấy. Các dòng điện tại các điểm mới bị khử cực lại gây ra các dòng điện tại chỗ lan sang các điểm lân cận. Như vậy xung động điện được truyền theo cả hai hướng. Tốc độ dẫn truyền trên sợi không myelin tỷ lệ với căn bậc hai của đường kính sợi (khoảng 0,5 métgiây ở những sợi có đường kính rất nhỏ), chậm hơn tốc độ dẫn truyền trên sợi có myelin. Ở sợi có myelin (hình 15.3). Màng tế bào Schwann chứa chất sphingomyelin bao quanh sợi trục làm nhiều lớp. Sphingomyelin có tính cách điện tốt, ngăn cản sự khuếch tán của các ion. Các tế bào Schwann dài chừng 1 milimét và không liên tục, giữa các tế bào Schwann có khoảng trống không có chất myelin được gọi là eo Ranvier. Tại eo Ranvier, tính thấm của màng với ion cao hơn màng của một số sợi không myelin tới 500 lần. Điện thế hoạt động được truyền nhảy cách từ eo Ranvier này sang eo Ranvier kế tiếp dọc theo chiều dài sợi trục. Dẫn truyền theo lối nhảy cách có hai ưu điểm. Thứ nhất là có tốc độ dẫn truyền nhanh hơn rất nhiều so với sợi không myelin cùng kích thước. Tốc độ dẫn truyền trên sợi có myelin tỷ lệ thuận với đường kính của sợi, có thể đạt tới 130 métgiây ở các sợi có đường kính lớn. Thứ hai là tiết kiệm được nhiều năng lượng cho nơron vì sự khử cực đòi hỏi năng lượng chỉ xảy ra ở các eo Ranvier, lượng ion qua lại màng ít hơn so với lối dẫn truyền liên tiếp đến hàng trăm lần nên ít tốn năng lượng để tái vận chuyển ion qua màng. Dựa vào sự có bao myelin hay không và tốc độ dẫn truyền trên sợi trục, người ta phân chia các sợi theo bảng dưới đây (bảng15.1). Bảng 15.1. Phân loại sợi theo tốc độ dẫn truyền Loại sợi Chức năng Đường kính (m) Tốc độ truyền (métgiây) A Sợi cảm giác ở suốt cơ, thị giác, sợi vận động cơ vân. 15 (9 – 20) 70 – 120 A Sợi truyền xúc giác (da) 8 30 – 70 A Sợi vận động ở suốt cơ 5 15 45 A Dẫn truyền cảm giác nhiệt và đau “nhanh” (da) 3 5 30 B Sợi trước gạch giao cảm 3 3 15 C Dẫn truyền cảm giác đau “chậm”, sợi sau hạch giao cảm (không có myelin) 1 (0,5 – 2) 0,5 2 3. DẪN TRUYỀN QUA SYNAP (hình 15.4) 3.1. Sự dẫn truyền ở tuyệt đại đa số synap trong hệ thần kinh trung ương là thông qua các chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitter). Các chất truyền đạt được tổng hợp ở các tận cùng thần kinh, được chứa trong các bọc nhỏ ở cúc tận cùng và được giải phóng vào khe synap bởi cơ chế xuất bào (exocytosis) khi điện thế hoạt động lan tới cúc tận cùng. Chất truyền đạt khuếch tán trong khe synap và tới gắn vào các receptor (thụ thể) đặc hiệu ở màng sau synap. Màng sau synap có các receptor kích thích và receptor ức chế. Hình 15.4. Sơ đồ cơ chế dẫn truyền qua synap 3.2. Sự giải phóng chất truyền đạt ở cúc tận cùng. Màng cúc tận cùng có nhiều kênh calci đóng mở theo điện thế. Điện thế hoạt động tới cúc tận cùng làm mở các kênh calci ở màng cúc tận cùng, ion calci đi vào trong tế bào. Nồng độ ion calci trong tế bào cao làm các bọc nhỏ gắn vào các vị trí gắn và hòa màng với màng trước synap, chất truyền đạt chứa trong bọc được giải phóng vào khe synap. Chất truyền đạt khuếch tán trong khe synap và tới gắn vào các receptor tương ứng gây hiệu ứng ở đây. Lượng ion calci vào tế bào càng nhiều thì lượng chất truyền đạt được giải phóng càng lớn. 3.3. Tác dụng của chất truyền đạt lên nơron sau synap Màng của nơron sau synap có chứa các receptor là các protein cảm thụ. Các protein này có hai phần: Phần gắn với chất truyền đạt là phần thò ra ngoài màng phía khe synap và phần protein vào bên trong nơron. Có hai loại protein xuyên vào bên trong nơron: Một là loại kênh được hoạt hóa hóa học còn loại kia là một enzym làm thay đổi chuyển hóa tế bào. Các kênh được hoạt hóa khi receptor gắn với chất truyền đạt. Có ba loại kênh là kênh natri cho natri vào tế bào, kênh kali cho kali đi ra ngoài tế bào và kênh clo cho ion clo đi vào tế bào. Kênh natri mở gây khử cực và hưng phấn ở nơron; chất truyền đạt làm mở kênh natri được gọi là chất truyền đạt kích thích. Kênh kali và kênh clo mở làm lượng kali đi ra ngoài tăng và lượng clo vào trong tăng, gây ưu phân cực ở màng (mặt trong âm hơn nữa so với mặt ngoài) nên nơron sau bị ức chế; chất truyền đạt làm mở hai kênh này được gọi là chất truyền đạt ức chế. Các chất gây kích thích (ví dụ, acetylcholin, glutamat, noradrenalin …) là các chất khi gắn vào receptor đặc hiệu ở màng sau synap làm mở kênh natri. Các kênh này mở ra làm các ion natri vào tế bào, gây khử cực ở màng sau synap và tạo ra điện thế hoạt động sau synap. Các chất gây ức chế (ví dụ glycin, GABA …) là các chất khi gắn vào receptor đặc hiệu làm đóng các kênh natri, hoặc làm mở kênh kali hoặc kênh clo nên gây ưu phân cực ở màng sau synap và tạo ra điện thế ức chế sau synap, làm cho nơron sau synap khó khử cực, đòi hỏi kích thích phải có cường độ mạnh hơn mới đủ để gây hưng phấn ở nơron này. Các receptor là enzym bị hoạt hóa gây ra các hiệu ứng khác nhau lên nơron sau synap. Hiệu ứng thứ nhất là hoạt hóa bộ máy chuyển hóa của nơron, tạo ra nhiều AMP vòng và chất này xúc tác các phản ứng trong nơron. Hiệu ứng thứ hai là hoạt hóa hệ gen làm tăng tổng hợp receptor. Hiệu ứng thứ ba là hoạt hóa các protein kinase trong tế bào làm giảm tổng hợp receptor. Những thay đổi trên có thể làm thay đổi tính đáp ứng của nơron trong nhiều phút, nhiều giờ, thậm chí tới hàng năm. Những chất truyền đạt gây ra các hiệu ứng trên còn được gọi là các chất điều hòa (modulator) synap. Có lẽ các chất này có vai trò đối với trí nhớ. Các xung động theo chiều nghịch về thân tế bào, tới các đuôi gai thì bị tắt, không kích thích được nơron khác vì ở đuôi gai không có chất trung gian truyền đạt thần kinh. 3.4. Chậm synap và mỏi synap 3.4.1. Chậm synap. Quá trình thông tin được truyền qua synap phải qua nhiều bước: Đưa các bọc nhỏ xuống, màng của bọc hòa màng với màng của cúc tận cùng, chất truyền đạt được giải phóng và khuếch tán trong khe synap, chất truyền đạt gắn với receptor ở màng sau synap, các kênh mở ra để các dòng ion đi qua gây khử cực màng sau synap. Tuy mỗi bước rất ngắn nhưng cả quá trình vẫn đòi hỏi một thời gian nhất định bởi vậy tốc độ dẫn truyền qua synap chậm hơn tốc độ dẫn truyền trên sợi trục. Đây là hiện tượng chậm synap. 3.4.2. Mỏi synap. Nếu có nhiều kích thích liên tục, kéo dài qua synap thì lượng chất truyền đạt được sản xuất ra không kịp bù lại lượng đã tiêu hao; khi đó xung động không được dẫn truyền qua synap nữa hoặc được dẫn truyền kém đi rất nhiều. Đó là hiện tượng mỏi synap. Trong lúc có mỏi synap, nếu kích thích vào nơron trước và nơron sau synap thì vẫn thấy có biểu hiện hưng phấn, chứng tỏ nơron không bị mỏi. 3.5. Một số yếu tố ảnh hưởng lên dẫn truyền ở synap Ion calci: Ion calci làm các bọc nhỏ dễ di chuyển tới màng cúc tận cùng và dễ vỡ nên làm tăng dẫn truyền qua synap. Ion magiê có tác dụng ngược lại. pH: Nơron rất nhạy cảm với sự thay đổi pH trong dịch kẽ. Nhiễm kiềm làm tăng tính hưng phấn của nơron. Ví dụ, khi pH máu động mạch tăng lên đến 7,8 – 8,0 thì thường xuất hiện co giật do tăng tính hưng phấn nơron; cơn động kinh dễ xuất hiện khi bệnh nhân động kinh tăng thở và bị nhiễm kiềm hô hấp. Ngược lại, nhiễm toan làm giảm tính hưng phấn của nơron. Người bị toan huyết do đái tháo đường, bị urê huyết cao thường bị hôn mê khi pH giảm xuống dưới 7,0. Thiếu oxy: Chỉ cần thiếu oxy trong vài giây cũng làm cho nơron bị mất tính hưng phấn. Điều này thường xảy ra khi tuần hoàn não bị gián đoạn tạm thời, bệnh nhân bị mất tri giác sau 3 – 5 giây thiếu máu. Thuốc: Có một số thuốc như cafein, theophyllin, theobromin làm tăng tính hưng phấn do làm giảm ngưỡng kích thích. Có thuốc làm tăng tính hưng phấn do ức chế chất truyền đạt ức chế như strychnin. Phần lớn các thuốc mê làm tăng ngưỡng kích thích do đó làm giảm sự dẫn truyền qua synap ở nhiều nơi. Các thuốc mê tan trong mỡ có thể làm thay đổi tính thấm của màng khiến màng kém đáp ứng. Một số chất tranh chấp với chất truyền đạt trung gian, chiếm các receptor đặc hiệu ở màng sau synap (ví dụ, chất curare chiếm các receptor của acetylcholin ở synap thần kinh – cơ; atropin chiếm các receptor ở hậu hạch phó giao cảm, hexamethionum chiếm các receptor ở hậu hạch giao cảm) và do đó phong bế synap. 3.6. Dẫn truyền điện qua synap. Ở một vài nơi (ví dụ; ở võng mạc, ở hành khứu), dẫn truyền qua synap được thực hiện nhờ sự dẫn điện thụ động phụ thuộc vào trương lực điện. Giữa các tế bào này có nối kết lỏng lẻo, cho phép dòng điện từ tế bào này được truyền sang tế bào khác. Khoảng cách giữa hai tế bào ở chỗ nối kết chỉ là 2 nanomét. Tại chỗ nối kết có các cầu nối được tạo bởi các protein thuộc màng là connexin. Sáu phân tử connexin tạo thành một kênh nước. Kênh ở một tế bào nối với kênh của tế bào kia tạo thành chỗ nối kết lỏng lẻo, cho phép các phân tử nhỏ và các ion đi từ tế bào này sang tế bào kia, làm cho bào tương của chúng liên tục nhau. Khi điện thế hoạt động trên màng một tế bào lan đến chỗ kết nối, dòng điện đi qua chỗ nối để sang tế bào kia. Tại chỗ này, dòng điện có thể đi theo cả hai chiều bởi vậy tế bào có thể được coi như nơron trước hoặc nơron sau hạch. Kiểu kết nối này ít gặp trong hệ thần kinh trung ương nhưng có vai trò quan trọng đối với sự co cơ tim và cơ tạng. Do điện thế hoạt động được lan truyền nhanh từ tế bào này sang tế bào khác trong một tạng nên kiểu nối kết này làm cho mô hoạt động như một hợp bào . 4. HIỆN TƯỢNG CỘNG KÍCH THÍCH SAU SYNAP Một tế bào thần kinh đồng thời nhận hàng ngàn thông tin kích thích và ức chế. Các thông tin này được tổng hợp lại nhờ quá trình “cộng kích thích”. Cúc tận cùng rất nhỏ và mỗi lần chỉ có một vài bọc giải phóng hoá chất; lượng chất truyền đạt trung gian này không đủ gây hưng phấn ở màng sau synap. Tuy nhiên, thời gian tác dụng lên màng sau synap tương đối dài nên nếu có thêm chất truyền đạt trung gian được giải phóng vào khe synap vào lúc tác dụng lần trước chưa tắt hẳn thì kích thích sau có thể “cộng” với kích thích trước và đủ để gây tác dụng. 4.1. Cộng kích thích theo không gian. Nếu chỉ có một cúc tận cùng giải phóng chất truyền đạt thì hầu như không bao giờ gây được hưng phấn ở nơron sau vì lượng này chỉ đủ để gây ra một điện thế kích thích không quá 0,5 – 1mV trong khi cần phải 10 – 20 mV mới đạt tới ngưỡng kích thích. Tuy nhiên, thường có nhiều cúc tận cùng bị kích thích đồng thời và thậm chí khi các cúc tận cùng này giải phóng chất truyền đạt trên một vùng rộng của màng sau synap thì tác dụng của các cúc có thể được “cộng” lại, đủ để gây ra hưng phấn ở màng sau synap. Sở dĩ được như vậy là do điện thế được phân bố đồng đều trên màng nơron và tính dẫn điện của nơron rất tốt nên sự thay đổi điện thế ở một điểm trên thân nơron sẽ dẫn đến một sự thay đổi điện thế gần đúng như thế ở bất kỳ điểm nào khác trong tế bào. Do vậy, khi có nhiều kích thích đồng thời xảy ra tại các điểm khác nhau trên một diện lớn của cùng một màng sau synap thì các điện thế riêng lẻ được “cộng” lại và nếu đủ lớn, đạt tới ngưỡng kích thích thì gây ra điện thế hoạt động ở đoạn phát sinh sợi trục. Các đuôi gai cũng có vai trò quan trọng trong hiện tượng cộng kích thích trong không gian vì chúng tỏa rộng nên nhận được nhiều tín hiệu ở xung quanh thân nơron; hơn nữa, phần lớn các tận cùng trước synap tiếp xúc với đuôi gai nên phần lớn kích thích tới nơron là được truyền qua các đuôi gai. 4.2. Cộng kích thích theo thời gian. Chất truyền đạt do một cúc tận cùng giải phóng chỉ có tác dụng lên kênh ion trong khoảng 1 miligiây trong khi điện thế kích thích sau synap lại dài tới 15 miligiây nên trong thời gian đó, nếu có một lần mở thứ hai trên kênh này thì điện thế sau synap sẽ tăng thêm một mức. Vì vậy, tần số kích thích càng cao thì hiệu ứng lên điện thế sau synap càng lớn. Nếu các điện thế kích thích sau synap xuất hiện liên tiếp nhau và đủ nhanh ở cùng một cúc tận cùng thì chúng có thể được “cộng” lại để làm nơron sau synap hưng phấn. Đây là hiện tượng cộng kích thích theo thời gian. 5. HIỆN TƯỢNG ỨC CHẾ TRƯỚC SYNAP Nơi phát sinh điện thế hoạt động là chỗ xuất phát của sợi trục. Ngưỡng để tạo ra điện thế hoạt động ở nơi này là vào khoảng – 65 mV. Trong trường hợp có một điện thế kích thích và một điện thế ức chế tác động đồng thời lên cùng một nơron thì hai điện thế này triệt tiêu nhau hoàn toàn hoặc một phần. Nếu một nơron đang bị kích thích lại nhận một tín hiệu ức chế từ một nơron khác tới thì điện thế sau synap của nó có thể bị giảm xuống thấp hơn ngưỡng kích thích và hưng phấn của nó bị dập tắt. Mức độ hưng phấn hay ức chế của nơron là tổng đại số của các điện thế kích thích và điện thế ức chế tới nó trong cùng một thời điểm. Tổng các điện thế kích thích và ức chế lên nơron trong một thời điểm là điện thế tổng. Nếu điện thế tổng ở màng sau synap đủ lớn để làm khử cực chỗ xuất phát của sợi trục thì điện thế hoạt động xuất hiện. Nhiều khi điện thế kích thích lên màng sau vẫn gây được hưng phấn mặc dù chưa đạt đến ngưỡng kích thích bình thường. Trong trường hợp này, điện thế của màng gần ngưỡng kích thích hơn lúc bình thường nên tín hiệu từ một nguồn khác tới dễ gây hưng phấn hơn. Hiện tượng này được gọi là sự thuận hóa hay sự thích nghi của nơron. Các tín hiệu trong hệ thần kinh thường gây thuận hóa ở một nhóm lớn nơron giúp cơ thể đáp ứng nhanh và dễ dàng đối với các tín hiệu từ một nguồn thứ hai đi tới. Lượng chất truyền đạt trung gian được giải phóng bị giảm nếu có ức chế trước synap. Chất GABA là chất truyền đạt điển hình có tác dụng ức chế này. Nơron chứa GABA tiếp xúc với nơron khác qua synap trục – trục. GABA làm giảm lượng ion calci đi vào cúc tận cùng của nơron trước synap trong lúc đang có dẫn truyền. Trong ức chế trước synap, tính hưng phấn của nơron sau synap không bị giảm. Như vậy, ức chế trước synap chỉ ức chế một kích thích nhất định chứ không ảnh hưởng lên kích thích từ các synap khác tới. Màng sau synap cũng có thể bị ức chế bởi GABA. Có nhiều loại receptor với GABA ở màng sau synap. Receptor GABAA gắn với GABA làm mở kênh clo nên làm giảm điện thế hoạt động khiến calci vào tế bào ít đi dẫn đến lượng chất truyền đạt được giải phóng ít đi. Receptor GABAB gắn với GABA hoạt hoá protein G; protein này mở kênh kali nên gây ưu phân cực ở màng sau synap hoặc ức chế kênh calci. Tổng điện thế ức chế sau synap làm tăng phân cực nên làm tăng ngưỡng, cản trở khử cực ở chỗ này. Bởi vậy, trái với ức chế trước synap, ức chế sau synap làm giảm tác dụng của mọi kích thích tới nơron. Sự dẫn truyền xung động ở synap thần kinh cơ và ở các synap trong hệ thần kinh tự chủ được mô tả kỹ hơn trong các Bài 18 và 20. 6. DẪN TRUYỀN XUNG ĐỘNG TRONG MỘT HỆ THỐNG NƠRON Hệ thần kinh trung ương được tạo nên từ vô vàn đám nơron riêng biệt, từ một vài cho đến rất nhiều nơron. Mỗi đám hay tập hợp nơron có những đặc điểm tổ chức riêng khiến chúng xử lý thông tin theo cách riêng và làm cho hệ thần kinh thực hiện được các chức năng rất đa dạng của mình. Dưới đây là các nguyên lý hoạt động chung của các tập hợp nơron. 6.1. Truyền tiếp tín hiệu trong một tập hợp thần kinh. Trong một tập hợp nơron có những “sợi vào” và những “sợi ra”. Mỗi sợi lại có hàng trăm hàng nghìn nhánh; mỗi nhánh lại chia thành hàng nghìn tận cùng tạo synap với các đuôi gai, sợi trục, thân của nơron khác. Các đuôi gai của một nơron cũng chia nhánh tỏa ra một vùng rộng xung quanh thân. Vùng chịu kích thích của một nơron được gọi là trường chịu kích thích của nơron đó. Các nơron càng ở xa thì càng nhận được ít tận cùng đi tới nó. Phải có nhiều cúc tận cùng đồng thời giải phóng hoặc giải phóng nhanh liên tiếp chất truyền đạt mới gây hưng phấn lên nơron sau nên những nơron ở xa cũng nhận kích thích song chưa đủ mức tới ngưỡng để hưng phấn. Tuy chưa hưng phấn nhưng các nơron này có điện thế màng gần ngưỡng kích thích hơn trước và trở nên dễ bị kích thích (hiện tượng thuận hóa của nơron). Từ điều này, chúng ta thấy một sợi vào có vùng bị kích thích (còn gọi là vùng tới ngưỡng) và vùng dễ bị kích thích (vùng được thuận hóa hay vùng dưới ngưỡng). Với sợi của nơron ức chế cũng có trường ức chế, vùng ức chế tương tự như các vùng của nơron kích thích. 6.2. Truyền theo cách phân kỳ. Hiện tượng phân kỳ là hiện tượng tín hiệu thần kinh đi tới gây ra hưng phấn một số lượng nơron lớn hơn rất nhiều so với số sợi đi tới (hình 15.6. A, B) Phân kỳ khuếch đại. Trên đường dẫn truyền, cứ qua mỗi chặng thì số nơron bị kích thích lại nhiều lên. Ví dụ điển hình là truyền tín hiệu của bó tháp, một tế bào tháp trên vỏ não có thể kích thích tới 10.000 sợi cơ vân. Phân kỳ thành nhiều đường hơn. Từ tập hợp nơron, tín hiệu được truyền ra theo hai hướng riêng rẽ. Ví dụ, thông tin cảm giác trong tủy sống đi theo hai đường, một đường lên tiểu não, một đường tới phần thấp của não và vỏ não (hình 15.6). 6.3. Truyền theo cách hội tụ. Các tín hiệu thần kinh từ nhiều nguồn chỉ tới kích thích một nơron (hình 15.6. C,D). Các nhánh tận của một nơron tận cùng trên một nơron khác. Nhờ đó, có nhiều tận cùng kích thích đồng thời lên nơron để gây hưng phấn theo “cộng kích thích trong không gian”. Các nhánh tận của nhiều nguồn khác nhau tận cùng trên một nơron. Ví dụ, nơron trung gian trong tủy sống nhận tín hiệu từ ngoại vi, từ các sợi liên đốt tủy, từ vỏ não, từ não; những tín hiệu từ các nơron trung gian lại hội tụ lên nơron vận động ở sừng trước tủy để chi phối cơ. Dẫn truyền theo cách hội tụ cho phép cộng kích thích từ nhiều nguồn khác nhau và đáp ứng cuối cùng là hiệu quả của tổng đại số các kích thích các loại. Đây là một trong những phương thức quan trọng của hệ thần kinh trong xử lý thông tin, tạo thành cái gọi là “con đường chung cuối cùng”. 6.4. Kích thích và ức chế đồng thời. Đôi khi, tín hiệu tới một tập hợp nơron gây tín hiệu kích thích đi ra theo một hướng đồng thời gây ra tín hiệu ức chế đi theo hướng khác. Ví dụ, một nhóm nơron ở tủy truyền xung động kích thích gây ra động tác duỗi cẳng chân đồng thời lại phát xung động ức chế các cơ mặt sau đùi để khỏi cản trở động tác duỗi. Đây là sự phân bố thần kinh đối lập. Một mặt, tín hiệu kích thích nơron vận động, mặt khác lại kích thích nơron trung gian và nơron trung gian này ức chế con đường ra thứ hai của mạng. Mạng vừa gây hưng phấn vừa gây ức chế này có vai trò quan trọng, tránh cho nhiều phần của hệ thần kinh phải hoạt động quá mức. Câu hỏi tự lượng giá 1. Trình bày đặc điểm tính hưng phấn của nơron. 2. Trình bày đặc điểm dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi trục. 3. Mô tả sự dẫn truyền điện thế hoạt động trên sợi có myelin và không có myelin. 4. Mô tả sự dẫn truyền xung động qua synap. 5. So sánh đặc điểm của nhóm chất truyền đạt thần kinh có phân tử nhỏ và phân tử lớn. 6. Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự dẫn truyền xung động qua synap. 7. Mô tả hiện tượng cộng kích thích theo không gian và cộng kích thích theo thời gian. 8. Mô tả cơ chế kích thích ở màng sau synap. 9. Mô tả cơ chế gây ức chế ở màng sau synap. 10. Giải thích hiện tượng chậm synap và hiện tượng mỏi synap.
Xem thêm

Đọc thêm

10 "kẻ thù" khiến bạn bị đau đầu

10 "KẺ THÙ" KHIẾN BẠN BỊ ĐAU ĐẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Điều này không phải là đơn giản, nếu bạn nghĩ đơn giản rằng, bạn chỉ cần uống thuốc giảm đau là hoàn toàn sai. Bạn phải biết nguyên nhân dẫn đến những cơn đau đầu để đối phó, điều trị kịp thời. Theo các chuyên gia, dưới đây là 10 thủ phạm có thể gây nên đầu đau: Thư giãn cuối tuần Bạn làm việc tích cực từ thứ hai đến thứ 6 và đến ngày thứ 7 bạn được nghỉ ngơi, vui chơi thoải mái. Đây là thời điểm có thể bạn bị đau đầu. Đau đầu có thể xảy ra sau khi nghỉ ngơi của môi trường làm việc căng thẳng. Lý do cho đau đầu trong thời gian giải lao là do mức độ căng thẳng đi xuống làm giảm mức độ hormone căng thẳng trong cơ thể của chúng ta. Quá trình này giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh - sứ giả hóa học của hệ thần kinh. Các chất hóa học này tiếp tục gửi ra các xung động tới các mạch máu mà làm cho nó phát hành hóa chất gây đau do co thắt và giãn nở liên tục. Mùi hương đậm đặc Những mùi đậm đặc thậm chí là mùi dễ chịu, cũng có thể là nguyên nhân gây ra chứng đau nửa đầu ở nhiều người, bởi mùi hương có thể gây kích thích hệ thần kinh. Những loại mùi có thể gây ra chứng đau nửa đầu gồm có sơn, nước hoa và một số loại hoa… Phụ kiện của tóc Cách trang điểm cho tóc cũng có thể là nguyên nhân khiến bạn đau đầu. Buộc tóc cao, chặt có thể làm căng các mô liên kết trong da đầu. Đeo băng đô, tết bím, đội mũ chật cũng gây ra hậu quả tương tự. Do đó, bạn hãy để tóc tự nhiên. Điều này có thể giúp bạn nhanh chóng giảm đau.   Căng thẳng dễ khiến bạn bị đau đầu (Ảnh minh họa) Căng thẳng Stress là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của đau đầu. Nhức đầu do căng thẳng gây ra thậm chí có thể dẫn đến chứng đau nửa đầu. Khi bạn căng thẳng, các cơ xung quanh cổ và vai làm hạn chế dòng chảy của máu trong khu vực đó và gây ra đau đớn dữ dội và chóng mặt. Ngủ không đủ giấc Một giấc ngủ ngon sẽ giúp bạn tập trung đảm bảo tốt các hoạt động trong ngày. Giấc ngủ cũng rất quan trọng cho các hoạt động đúng đắn của các cơ bắp và các mô khác nhau trong não. Khi giấc ngủ bình thường của bạn bị xáo trộn, mệt mỏi có thể phát sinh do thiếu ngủ. Điều này gây ra co thắt ở đầu, cơ cổ và dẫn đến đau đầu. Những người bị rối loạn giấc ngủ khác có thể có nguy cơ cao bị đau đầu. Thay đổi hormone Nhiều phụ nữ kinh nghiệm đau đầu nghiêm trọng khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt của họ. Lý do cho nhức đầu là biến động hàm lượng hoóc môn trong cơ thể. Nhức đầu xảy ra khi mức độ estrogen xuống thấp, xuống trước khi hành kinh, ảnh hưởng đến mức độ serotonin trong cơ thể của bạn. Bỏ bữa Đau đầu do bị đói thường không rõ ràng. Nếu bạn bỏ bữa, có thể đầu bạn sẽ bị đau trước khi bạn nhận ra mình đang đói. Nguyên nhân là do lượng đường trong máu giảm. Tuy nhiên, không phải vì thế mà bạn tìm cách khắc phục cơn đau đầu loại này bằng cách ăn một thanh kẹo. Do đó bạn không bao giờ bỏ bữa.   Hút thuốc có thể gây ra đau đầu không chỉ cho người hút thuốc lá mà còn ảnh hưởng những người xung quanh (Ảnh minh họa) Hút thuốc Hút thuốc có thể gây ra đau đầu không chỉ cho người hút thuốc lá mà còn ảnh hưởng những người xung quanh. Hút thuốc có chứa nicotine thu hẹp các mạch máu trong não. Những cơn đau đầu do thuốc lá gây ra chủ yếu là nhức đầu chùm và đau nửa đầu. Caffein Một lượng nhỏ caffein có thể giúp chế ngự cơn đau đầu, nhưng quá nhiều lại gây phản tác dụng. Do đó để tránh bị đau đầu bạn nên giảm nhu cầu và giảm lượng cà phê mỗi ngày. Ánh sáng chói Đèn sáng hoặc nhấp nháy có thể gây ra đau đầu. Điều này là bởi vì đèn sáng và nhấp nháy thúc đẩy mức truyền dẫn thần kinh trong não trở nên nhạy cảm hơn và gây ra đau đầu. Các nguyên nhân phổ biến nhất của đau đầu do ánh sáng chủ yếu là do ánh sáng mặt trời. Ngoài ra, nhhững người không vận động thường xuyên có nguy cơ đau đầu nhiều hơn những người thường xuyên tập luyện. Hãy dành 20-30 phút để luyện tập mỗi ngày, 5 ngày/ tuần để giảm căng thẳng, giúp tăng cường máu lên não và khả năng hấp thụ chất gây kích thích endorphins tạo cảm giác dễ chịu. Tuy nhiên cần tham khảo ý kiến bác sỹ để lựa chọn những bài tập phù hợp.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 8 môn Sinh năm 2014

Đề thi học kì 2 lớp 8 môn Sinh năm 2014

Đề thi học kì 2 môn Sinh Lớp 8 Năm 2014 - Đề 1 I. Trắc nghiệm ( 3.điểm):   Câu 1: Chọn đáp án đúng nhất ( mỗi câu 0.25 điểm ) 1/ Trong nước tiểu chính thức ở người có GLUCÔZO thì có thể kết luận người đó bị bệnh gì  : A.  . Dư insulin   .                                          B. Đái tháo đường . C . Sỏi thận  .                                                  D. Sỏi bóng đái . 2/ Giúp da không bị khô cứng và không ngấm nước là chức năng :  A. Tuyến nhờn   .                                     B.Các tế bào sống  .             C. Tuyến mồ hôi .                                    D.Các tế bào mỡ .   3/ Cơ sở khoa học của việc không nên ăn thức ăn ôi thiu và nhiễm độc hại : A. Hạn chế tác hại của các vi sinh vật gây bệnh  . B . Tránh cho thận làm việc quá nhiều và hạn chế khả năng tạo sỏi . C.  Hạn chế tác hại của những chất độc  . D. Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tạo thành nước tiểu được liên tục . 4 / Làm cho tim đập nhanh ,mạnh co lại là chất  : A.  Glucagol .                                                     B. Ađrênalin . C. Insulin.                                                            D. Axêtincolin Câu 2(2đ): Điền các từ hay cụm từ thích hợp vào chổ trống để ở nội dung sau ( mỗi câu đúng được 0.25 điểm .) Tai được chia ra : Tai ngoài , Tai giữa ,Tai trong .  – Tai ngoài gồm (1) ..... có nhiệm vụ hứng sóng âm (2 )  .....  hướng sóng âm .tai ngoài được giới hạn với tai giữa bởi  (3)   .....  “ có đường kính khoảng 1cm ” .      -  Tai giữa là một khoang xương , trong đó có (4)  ..... gồm xương búa , (5)  ..... và  (6) ..... khớp với nhau. Xương búa được gắn trong màng nhĩ , xương bàn đạp áp vào một màng giới hạn  tai giữa với tai trong “gọi là màng cửa bầu dục –  có diện tích nhỏ hơn màng nhĩ  18 – 20 lần ” . - Khoang tai giữa thông với   hầu nhờ có (7) ..... nên  đảm bảo (8) ..... màng nhĩ được cân bằng .                                                                                     II. Tự luận ( 7 điểm): Câu 3 :So sánh tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết ?(3.5 . Đ) Câu 4 : Nêu tính chất của hooc môn ? (0.5. Đ ) . Câu 5: Phân biệt bệnh ba zơ đô  với bệnh biếu cổ do thiếu iot? (3 điểm ) . Đáp án đề thi học kì 2 môn Sinh Lớp 8 Năm 2014 - Đề 1 I. Trắc nghiệm (3đ): Câu 1( 2 điểm ) ,  ( mỗi câu 0.5 điểm ) : 1 2 3 4 B A A B Câu 2 ( 2 điểm ) , ( mỗi câu đúng được 0.25 điểm ): 1 –  Vành tai  . 2 – Ống tai . 3 – Màng nhĩ . 4 – Chuỗi xương tai . 5 – Xương đe . 6 – Xương bàn đạp . 7 – Vòi nhĩ  . 8 –  Áp suất hai bên .   II .Tự luận ( 7đ): Câu 3 :   Mỗi ý được  0. 25 điểm ) :   Tuyến nội tiết Tuyến ngoại tiết   Giống nhau Các tế bào tuyến tạo ra các sản phẩm  tiết Các tế bào tuyến tạo ra các sản phẩm  tiết 0.5 đ Khác nhau Ống  dẫn Sản phẩm tiết : các chất dịch . Lượng chất tiết : nhiều . Hoạt tính : không có .    Mạch máu , bào quan, không ống dẫn . Sản phẩm tiết :  hooc môn  . Lượng chất tiết : ít . Hoạt tính : mạnh 0.5 đ   0.5 đ 0.5 đ 0.5 đ Cấu tạo Con đường đi của sản phẩm tiết Sản phẩm tiết theo ống dẫn tí các cơ quan động . Chất tiết ngấm thẳng vào máu đi tới cơ quan đích . 0.5 đ   Ví dụ Tuyến mồ hôi , tuyến nước bọt , tuyến lệ , tuyến gan , tuyến ruột . Tuyến  yên , tuyến giáp , tuyến tụy , tuyến sinh dục , tuyến trên thận , tuyến cận giáp , tuyến tùng , tuyến ức .  0.5 đ    Câu 4  Tính chất của hooc môn Tính đặc hiệu của hooc môn .  Hoạt tính sinh học cao.   0.25 đ 0.25 đ    Câu 5:  bệnh ba zơ đô bệnh biếu cổ do thiếu iot   -Không do thiếu Iot trong máu   -Tuyến yên tiết HM TSH bình thường -CT sinh ra chất cóa tác dụng giống TSH -Tuyến giáp tiết nhiều HM tiroxin   -Quá trình TDC diển ra mạnh  -Tim đập nhanh,mạnh,sút cân ,lồi mắt Còn giống nhau là -Bệnh đều do tuyến giáp tăng cương hoạt động => Phì đại tuyến giáp   -Trong máu thiếu Iôt -Tuyến yên tiết nhiều hoocmom TSH -Tự cơ thể hok sinh ra chất  cóa tác dụng giống TSH   -HM Tiroxin của tuyến giáp tiết ra ít -Quá trình TDC diển ra mạnk -Hok bị rối loạn nhịp   0.5 đ   0.5 đ   0.5 đ     0.5 đ   0.5 đ   0.25 đ   0.25 đ   Đề thi học kì 2 môn Sinh Lớp 8 Năm 2014 - Đề 2 I. Trắc nghiệm ( 4  .điểm):   Câu 1: Chọn đáp án đúng nhất ( mỗi câu 0.5 điểm ) 1/ Trong một ngày ,lượng máu lọc qua cầu thận ở một người trưởng thành khoảng : A.  . 1800 lít .                                          B. 1200 lít . C . 1000 lít  .                                            D. 1440 lít . 2/ Ở người , cơ tham gia vào hoạt động thải nước tiểu theo ý muốn là :  A. Cơ vân củ thành quản bào quan   .               B.Cơ vân thắt ống đái .             C. Cơ trơn thắt ống đái                                    D.Cơ trơn của thành quản bào quan.   3/ Không nên nhịn tiểu lâu và nên đi tiểu đi tiểu đúng  lúc sẽ : A. Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tạo thành nước tiểu được liên tục và hạn chế khả  năng tạo sỏi thận . B. Hạn chế được các vi sinh vật gây bệnh  . C.  Hạn chế  khả năng tạo sỏi thận . D. Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tạo thành nước tiểu được liên tục . 4 / Màu da phụ thuộc vào các yếu tố  : A.  Cấu tạo của lớp tế bào biểu bì  .        B. Các  hạt sắc tố có trong tế bào biểu bì . C. Màu sắc và cấu tạo tế bào biểu bì .    D. Màu sắc của  tế bào biểu bì (vàng nhạt ) Câu 2(2đ): Điền các từ hay cụm từ thích hợp vào chổ trống để ở nội dung sau ( mỗi câu đúng được 0.25 điểm .) A .Trụ não tiếp liền với tủy sống ở phía dưới . Nằm giữa trụ não và đại não là (1) ..... Trụ não gồm : (2) ..... , (3) ..... .Não giữa gồm (4)..... ở mặt trước và (5) .....  ở mặt sau .Phía trên trụ não là : (6).....   B . Cũng như tủy sống , trụ não gồm chất trắng (ngoài)và chất xám (trong) . Chức năng chủ yếu  của trụ não là điều khiển , (7)..... , đặc biệt  là (8) .....  do các nhân xám đảm nhiệm .                                                                                         II. Tự luận ( 6 điểm): Câu 3 : Mô tả cấu tạo của cầu mắt nói chung và màng lưới nói riêng ?(4 Đ) Câu 4 : Nêu rõ hậu quả của bệnh đau mắt hột và cách phòng tránh ? (1Đ ) . Câu 5: Nêu vai trò của hooc môn ? (1 điểm ) . Đáp án đề thi học kì 2 môn Sinh Lớp 8 Năm 2014 - Đề 2 I. Trắc nghiệm (4đ): Câu 1( 2 điểm ) ,  ( mỗi câu 0.5 điểm ) : 1 2 3 4 D B A B Câu 2 ( 2 điểm ) , ( mỗi câu đúng được 0.25 điểm ): A .   1 –  Não trung gian   . 2 – Não giữa   .       3 – Cầu não . 4 – Não giữa . 5 – Cuống não . 6 – Củ não sinh tư .  7 – Tiểu não . B .   7 – Điều hòa hoạt động củ các nội quan .        8- Hoạt động tuần hoàn, hô hấp ,tiêu hóa  II .Tự luận ( 6đ): Câu 3 :   Mỗi ý được  0. 25 điểm ) : Cấu tạo của cầu mắt -         Màng  giác : 1.      Màng  giác : Trong xuất giúp ánh sáng . 2.       Màng cứng : Bảo vệ phần bên trong của cơ thể. 3.        Màng  mạch : Nhiều mạch máu nuôi dưỡng cầu mắt . Con ngươi điều khiển ánh sáng vào cầu mắt . 4.      Màng lưới : Chứa nhiều tế bào nón và tế bào que tiếp nhận kích thích ánh sáng .       Môi trường trong xuất :  Thủy dịch  Dịch thủy tinh Thể thủy tinh Các bộ phận hỗ trợ : lông  my , lông mày , mi mắt , tuyến lệ (bảo vệ mắt không bị khô )   0.25 đ 0.25 đ   0.25 đ   0.25 đ   0.25 đ     0.25 đ     0. 25đ   Màng lưới  Tế bào nón : Tiếp nhận ánh sáng mạnh , màu sắc . Mỗi tế bào liên hệ với một tế bào thần kinh thị giác qua một tế bào 2 cực .  Tế bào que : Tiếp nhận ánh sáng yếu . Nhiều tế bào que liên hệ với một tế bào thần kinh thị giác qua một tế bào hai cực .  Điểm  vàng : Tập trung tế bào nón . Điểm mù : Là nơi đi ra củ các dây thần kinh thị giác .  Thể thủy tinh : Có khẳ năng điều tiết phồng lên hay dẹp xuống để nhìn rõ vật ở xa hay cũng như ở gần . 0.25 đ         0.25đ   0.25 đ 0.25đ     0 . 25đ    Câu 4: Hậu quả của bệnh đau mắt hột Khi hột vỡ ra làm thành sẹo lông quặn đục mang giác mù lòa.   0.5 đ       Cách phòng tránh Không dụi tay bẩn ,rửa bằng nước ấm pha muối loãng .Nhỏ thuốc mắt . 0.5 đ Câu 5 : Câu 5: Vai trò của hooc môn  - Duy trì tính ổn định của môi trường bên trong cơ thể.  - Điều hòa các quá trình sinh lí diễn ra bình thường dẫn đến các rối loạn trong hoạt động nội tiết thường dẫn đến tình trạng bệnh lí.   0.5 đ     0.5 đ Tuyensinh247.com sẽ tiếp tục cập nhật nhiều đề thi kì 2 của các trường THCS các em nhớ lưu lại link và thường xuyên theo dõi nhé!  Xem Thêm:  Theo GV Trần Thị Ánh Tuyết -
Xem thêm

Đọc thêm

Triệu chứng học nội khoa: Chương III nội hô hấp

Triệu chứng học nội khoa: Chương III nội hô hấp

Chương III Triệu chứng học bộ máy hô hấp HO VÀ ĐỜM A ĐẠI CƯƠNG Một biểu hiện khách quan về bệnh lý của hô hấp là ho. Tuỳ theo nguyên nhân sinh bệnh và những thay đổi giải phẩu bệnh lý trên đường hô hấp do những nguyên nhân đó gây ra. Các chất có bị tống ra ngoài đường hô hấp có thể sau khi ho có thể khác nhau: đờm, máu, mủ. Tính chất của ho và xét nghiệm các bệnh phẩm của khạc nhổ đều có giá trị gợi ý và chẩn đoán bệnh. I. HO 1. Định nghĩa Ho là một động tác thở ra mạnh và đột ngột, gồm có ba thời kỳ: Hít vào sâu và nhanh. Bắt đầu thở ra nhanh mạnh, có sự tham gia của các cơ thở ra cố. Lúc đó thanh môn đóng lại, làm áp lực tăng cao trong lồng ngực. Thanh môn mở ra đột ngột, không khí bị ép trong phổi được tống ra ngoài gây ho. 2. Sinh bệnh học. Người ta có thể chủ động ho, nhưng trong đa số trường hợp ho xảy ra ngoài ý muốn, và động tác này có tính chất phản xạ. Cung phản xạ gồm: 2.1. Đường dẫn truyền kích thích. Nơi kích thích: Trên đường hô hấp. + Khoảng liên phễu. + Chạc phân chia khí quản. + Khí quản – phế quản. + Màng phổi, trung thất. + Họng, chống lưỡi. Ngoài đường hô hấp. + Oáng tai. + Miệng, ngoài da, gan, tử cung (ít gặp). Thần kinh dẫn truyền: các kích thích được dây X dẫn truyền đến trung tâm ho. 2.2. Trung tâm ho. Hiện nay người ta cho rằng trung tâmho ở hành tuỷ vùng sân não thất 4. 2.3. Đường dẫn truyền vận động. Các dây thần kinh điều khiển động tác thở ra: dây X, liên sườn, dây sống, thần kinh hoành, dẫn truyền những xung động từ hành tuỷ và gây ho.
Xem thêm

Đọc thêm

THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA

THUYẾT THẦN KINH NỘI TIẾT và LÃO HOÁ DA

Luận điểm trung tâm trong học thuyểt của Dilman là sự nhạy cảm vùng dưới đồi đối với sự phản hồi âm tính, chủ yếu từ các hormone tuyến yên và các tuyến đích, giảm theo độ tuổi, kết quả là hoạt động của vùng dưới đồi tăng lên làm phá vỡ trạng thái cân bằng nội môi và phát sinh bệnh tật. Khi chúng nhiều tuổi hơn, vùng dưới đồi mất khả năng điều hoà hoạt động của toàn bộ cac hormone trong cơ thể một cách chính xác và các thụ thể tiếp nhận hormone này trong vùng dưới đồi cũng thiếu nhạy cảm với chúng. Theo dó, khi chúng ta già quá trình tiết của rất nhiều hormone bị suy sụp và tác động của nó cũng bị suy giảm do sự suy giảm của thụ thể. Học thuyết thần kinh nội tiết giải thích nguyên nhân của các bệnh chủ yếu của qúa trình lão hoá, gây ra trên 85% ca tử vong và ốm yếu tàn tật ở những người ở tuổi trung mien và người già. Các bệnh này bao gồm béo phì, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, ung thư, rối loạn tự miễn, suy giảm miễn dịch và hyperadaptosis. Hai bệnh khác –suy giảm và mãn kinh mặc dù không tránh được, cũng xảy ra đều đặn cùng với tuổi già. (Mãn kinh theo Dilman là một bệnh,, bởi vì ông mô tả bệnh lá bất kỳ những vi phạm thường xuyên đến cái bất biến bên trong cơ thể)
Xem thêm

Đọc thêm

Báo động đột quỵ não trẻ hóa ở tuổi thanh niên

BÁO ĐỘNG ĐỘT QUỴ NÃO TRẺ HÓA Ở TUỔI THANH NIÊN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nếu như trước đây, đột quỵ não (hay tai biến mạch máu não) là bệnh lý thường xuất hiện ở người cao tuổi (50-60 tuổi) thì nay, các chuyên gia cảnh báo, độ tuổi mắc căn bệnh ngày ngày càng trẻ hóa, thậm chí ở độ tuổi 20. Tại hội thảo “Phòng và điều trị thiếu mãu não ở người cao tuổi” do báo điện tử Kiến thức, Truyền hình An Viên phối hợp với Công ty CP Dược Trung Ương Mediplantex tổ chức, ThS. Hoàng Khánh Toàn, Trưởng khoa Đông y (BV 108) cho biết, các bác sĩ đã từng điều trị cho những bệnh nhân (BN) rất trẻ, tuổi đời từ 20-30 đã bị đột quỵ não, chứng tỏ bệnh đang có xu hướng trẻ hóa dần. Lý giải điều này, ThS. Toàn cho rằng, khi đời sống vật chất được nâng cao, tình trạng ăn uống quá nhiều chất béo có hàm lượng Cholesterol cao, dẫn đến xơ vữa động mạch ở người trẻ là xu hướng rất dễ gặp. Bên cạnh đó, áp lực cuộc sống hối hả, stress một trong những yếu tố làm cho tình trạng co thắt mạch máu não xảy ra thường xuyên. Chính vì thế nhiều người trẻ cũng không tránh được nguy cơ bị tai biến. Tai biến mạch máu não là căn bệnh rất nguy hiểm, có nguy cơ tử vong cao thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư, đứng hàng đầu về tỷ lệ tàn tật. Tỷ lệ tử vong từ 20-30%, số chống chọi được với bệnh chỉ khoảng 30-40%, còn lại có thể liệt giường liệt chiếu. Thiếu máu não là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm, trong đó có tai biến mạch máu não. Tình trạng thiếu máu não trong thời gian dài sẽ dẫn tới tai biến mạch máu não, để lại những di chứng nặng nề. Khi thiếu máu não, người bệnh có thể bị rối loạn cảm xúc, chóng mặt, nhức đầu, ù tai, mất ngủ, suy giảm trí nhớ… gây cho người bệnh nhiều khó khăn trong công việc và sinh hoạt. Ở người cao tuổi, theo quá trình lão hóa cùng tuổi tác, những thay đổi ở hệ tim mạch ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe. 80% các trường hợp thiếu máu não là do sự lão hóa mạch máu và xơ vữa động mạch làm cho mạch máu dày và cứng dần lên, lòng mạch hẹp lại, giảm lưu lượng máu tuần hoàn lên não. Ngoài ra, các nguyên nhân khác có thể kể đến là các bệnh lý tim mạch như suy tim, bệnh van tim, loạn nhịp tim, rối loạn huyết áp, thoái hóa cột sống cổ chèn ép vào động mạch sống nền…   Nếu như trước đây, đột quỵ não (hay tai biến mạch máu não) là bệnh lý thường xuất hiện ở người cao tuổi (50-60 tuổi) thì nay, các chuyên gia cảnh báo, độ tuổi mắc căn bệnh ngày ngày càng trẻ hóa, thậm chí ở độ tuổi 20. (Ảnh minh họa) PGS.TS Nguyễn Minh Hiện, Trưởng khoa Đột quỵ não, Bệnh viện 103 cho biết, não bộ của người chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ thể nhưng tiêu thụ ôxy và máu chiếm khoảng 20% tổng lượng cơ thể. Trung bình tuần hoàn máu não khoảng 55ml trên 100 gam chất não trong một phút. Não được cung cấp bởi 2 cặp động mạch: động mạch đốt sống thân nền và động mạch cảnh trong. Sau khi 2 cặp động mạch hợp nhau thành đa giác ở đáy não chia ra các động mạch não trước, não giữa, não sau để cung cáp máu cho tổ chức não. Vì vậy, khái niệm bệnh thiếu máu não rất đa dạng. Nếu người bệnh bị đột quỵ não, sẽ gặp 2 loại: chảy máu não và thiếu não cục bộ (còn gọi là nhồi máu não hoặc nhũn não). Còn nếu lượng máu cung cấp cho não từ 30 đến 50 ml thì gọi là thiểu năng tuần hoàn não, chưa gây nên tổn thương thần kinh khu trú…. Phòng đột quỵ não cách nào? PGS.TS Nguyễn Minh Hiện khuyến cáo, để phòng ngừa đột quỵ não người dân nên tăng cường tập luyện thể dục thể thao vừa sức và có chế độ dinh dưỡng khoa học, hạn chế mỡ động vật, tăng cường đạm thực vật, rau và hoa quả. Giảm lượng cholesterol máu, phòng chống xơ vữa động mạch, điều trị một số bệnh lý cột sống cổ. Theo ThS. Hoàng Khánh Toàn, ngoài việc giữ đời sống tinh thần thoải mái, nghỉ ngơi đầy đủ, đảm bảo giấc ngủ, tránh những đồ ăn thức uống có tính kích thích, người dân có thể sử dụng những Đông dược thành phẩm có tác dụng cải thiện tuần hoàn não nhưng cần tham khảo ý kiến bác sĩ. Đối với các nhân viên văn phòng, tình trạng thiểu năng tuần hoàn máu rất dễ gặp phải. Cần thực hiện vệ sinh lao động một cách hợp lý nghĩa là không nên làm việc với máy tính trong phòng lạnh một thời gian quá dài, khi thay đổi tư thế thì nên xoa ấm vùng cổ và từ từ thay đổi tư thế, tránh thay đổi đột ngột. Trong sinh hoạt hàng ngày, nên trọng dụng những loại trà thuốc như trà nhân sâm, trà linh chi, trà gừng... Trong dinh dưỡng học cổ truyền có rất nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng cải thiện tuần hoàn não. Về nguyên tắc nên ăn uống đủ chất cân bằng, trọng dụng các rau quả tươi trong đó nên dùng nhiều các thức ăn như não động vật, tủy sống, bạch quả, hoàng kỳ, nhân sâm, kỳ tử và các gia vị như nhục quế, đại hồi, gừng tươi... ví như, nếu bị huyết áp thấp - một trong những nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn não thì mỗi sáng thức dậy nên uống một cốc trà gừng pha với đường hoặc mật ong hoặc một cốc trà có hãm 3 lát nhân sâm. Triệu chứng báo trước của đột quỵ thường gặp là thấy choáng váng, đau đầu, chóng mặt. Tự nhiên bị mờ hoặc mù đột ngột một hoặc cả 2 mắt. Nói ngọng, nói khó, méo miệng. Tê, yếu một chân, một tay hoặc một nửa người. Cách sơ cứu ban đầu có thể cho bệnh nhân nằm cao đầu, quay mặt về một bên để tránh chất nôn trào ngược. Không được đánh, cạo gió và cho uống bất cứ loại thuốc nào. Nếu ngừng thở hoặc ngừng tim thì phải ép tim ngoài lồng ngực và hô hấp nhân tạo. Nhanh chóng gọi cấp cứu để đưa bệnh nhân đến bệnh viện gần nhất….
Xem thêm

2 Đọc thêm

bài giản xử lý nước sơ bộ

BÀI GIẢN XỬ LÝ NƯỚC SƠ BỘ

Quy trình xử lý nước thải Nước thải từ các nguồn của nhà máy được dẫn vào bể tiếp nhận, có đặt thiết bị lược rác thô. Phần bùn thô được tách ra khỏi nước thải. Sau khi chảy qua bể tiếp nhận, nước thải được cho chảy qua bể tách mỡ (đối với các hệ thống có yêu cầu). Nước thải được bơm chìm nước thải bơm lên thiết bị lược rác tinh tách các chất thải rắn có kích thước nhỏ trước khi tự chảy xuống bể điều hòa. Phần bùn tinh cũng được tách ra. Bể điều hòa có nhiệm vụ điều hòa lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải trước khi đưa vào các công trình đơn vị phía sau. Thiết bị thổi khí được cấp vào bể nhằm xáo trộn để tránh hiện tượng kỵ khí. Nước thải từ bể điều hòa được bơm lên bể keo tụ tạo bông, đồng thời tiến hành châm PAC (chất trợ keo tụ) và Polymer (chất trợ tạo bông lắng) nhằm thực hiện quá trình keo tụ  tạo bông: liên kết và kích thích liên kết các chất keo trong nước thải để tạo ra các phần tử lớn hơn từ các phần tử nhỏ mà các thiết bị lọc thô và lọc tinh không xử lý được. Các phần tử lớn hơn sau quá trình keo tụ, tạo bông trong nước thải sẽ được lắng và loại thải thành bùn. Sau đó nước thải tự chảy qua hệ thống tuyển nổi, tại đây hỗn hợp khí và nước thải được hòa trộn tạo thành các bọt mịn dưới áp suất khí quyển, các bọt khí tách ra khỏi nước đồng thời kéo theo các váng dầu nổi và một số cặn lơ lửng. Lượng dầu mỡ và cặn lơ lửng được tách khỏi nước thải nhờ thiết bị gạt tự động được dẫn về bể chứa bùn. Bể tuyển nổi kết hợp quá trình tuyển nổi và keo tụ đạt hiệu quả loại bỏ cao. Đồng thời, hiệu quả loại bỏ photpho của toàn hệ thống cũng được cải thiện nhờ công trình này. Nước thải được dẫn tiếp qua bể xử lý kỵ khí. Nước thải có nồng độ ô nhiễm cao sẽ tiếp xúc với lớp bùn kỵ khí và toàn bộ các quá trình sinh hóa sẽ diễn ra trong lớp bùn này, bao gồm quá trình thủy phân, axit hóa, acetate hóa, tạo thành khí methane, và các sản phẩm cuối cùng khác. Nước thải sau khi ra khỏi bể bùn hoạt tính dính bám chảy tràn qua bể lắng. Tại đây, quá trình lắng tách pha xảy và giữ lại phần bùn (vi sinh vật). Bùn sau khi lắng được bơm tuần hoàn về bể kỵ khí và thiếu khí nhằm duy trì nồng độ vi sinh vật trong bể. Phần bùn dư được bơm về bể chứa bùn. Toàn bộ lượng bùn đã qua xử lý được lưu trữ (ép bùn) và đơn vị có chức năng thu gom xử lý.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Trắc nghiệm sinh lý bệnh miễn dịch

TRẮC NGHIỆM SINH LÝ BỆNH MIỄN DỊCH

SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô) SINH LÝ BỆNH – MIỄN DỊCH 1. Câu thể hiện vai trò đúng nhất của sinh lý bệnh học trong y học a) Sinh lý bệnh học giúp giải thích các cơ chế bệnh lý b) Sinh lý bệnh học giúp y học hiện đại phát triển c) Sinh lý bệnh học giúp điều trị và phòng bệnh d) Sinh lý bệnh học giúp phân biệt đâu là duy vật biện chứng, đâu là duy tâm siêu hình trong hóa y học 2. Biểu hiện cận lâm sàng của một tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa a) HCO3,  H+ và  pH máu b) PCO2 ,  H+ và  pH máu c) HCO3,  H+ và pH máu d) PCO2 ,  H+ và pH máu 3. Cơ chế điều hòa chuyển hóa nước – điện giải tức khắc chủ yếu dựa vào a) Hormon ADH và Adosterol b) Kích thích trung tâm khát tạo cảm giác khát c) Khuynh độ thẩm thấu và tính chất sinh học của thành mạch d) Tăng hoặc giảm tái hấp thu điện giải ở ống thận 4. Trong các bệnh lý gây vỡ hồng cầu sau đây, bệnh lý nào là bệnh do rối loạn gen cấu trúc tổng hợp Hb a) Bệnh hồng cầu hình liềm b) Bệnh hồng cầu hình cầu c) Thiếu men G6PD d) Bệnh Thalassemie 5. Thành phần nào khi hoạt hóa sẽ làm thay đổi Setpoint a) Chất gây sốt nội sinh b) Chất gây sốt ngoại sinh c) Acid arachidonic d) AMP vòng 6. Trọng lượng tế bào cơ tim tăng là do hậu quả của a) Tăng nhịp tim b) Dãn rộng buồng tim c) Dãn cơ tim d) Phì đại tế bào cơ tim 7. Cơ thể sẽ thích nghi như thế nào trong suy hô hấp cấp tính a) Thận tăng tiết erythropoietine b) Tăng sinh hông cầu c) Thở nhanh và sâu d) Tăng cường độ tổ chức (mô)
Xem thêm

9 Đọc thêm

Nghiên cứu vai trò của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin (GmARF) ở đậu tương và strigolactone ở Arabisopsis trong chịu hạn và mặn.

Nghiên cứu vai trò của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin (GmARF) ở đậu tương và strigolactone ở Arabisopsis trong chịu hạn và mặn.

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự gia tăng dân số nhanh chóng làm cho vấn đề an ninh lương thực trở thành vấn đề chính của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng (http://data.worldbank.org). Thêm vào đó, sản lượng lương thực cũng đang bị tổn hại nghiêm trọng bởi ảnh hưởng của hiện tượng biến đối khí hậu, dẫn tới hậu quả là nền sản xuất nông nghiệp bền vững bị đe dọa bởi các nhân tố như hạn, ngập úng, dịch bệnh, sói mòn đất và ô nhiễm môi trường (Nikos and Bruinsma, 2012). Trước thực trạng đó, việc tăng cường sự hiểu biết về đáp ứng với các điều kiện bất lợi ở thực vật sẽ tạo cơ sở cho việc chọn tạo các giống cây trồng mới có khả năng chống chịu với các nhân tố bất lợi nêu trên. Trong quá trình thích ứng để chống chịu với điều kiện bất lợi ở thực vật, sự biểu hiện và các cơ chế điều hòa mức độ biểu hiện của gen có vai trò quan trọng. Do đó, chúng tôi tiến hành đặt nền móng cho nghiên cứu về một số nhóm gen mới chưa từng được công bố bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước, đặc biệt là trên đối tượng đậu tương (Glycine max) cũng như cây mô hình Arabidopsis thaliana. Sinh học phân tử và DNA tái tổ hợp đã chỉ ra rằng, sự biểu hiện của gen ở sinh vật nhân chuẩn được điều khiển bởi rất nhiều nhân tố, trong đó không thể không nhắc tới sự điều hòa chặt chẽ của các nhân tố phiên mã. Sử dụng các công cụ và phần mềm tin sinh học để tìm kiếm, phân tích, đánh giá; kết hợp với các kỹ thuật công nghệ tiên tiến hiện đại, chúng tôi đã xác định hướng nghiên cứu về các yếu tố phiên mã liên quan đến đặc tính chống chịu điều kiện bất lợi phi sinh học như hạn, mặn. Điển hình như trong luận án này, chúng tôi tập trung phân tích tác động của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin (auxin response factor, ARF). Bên cạnh đó, các loại hormone thực vật đã được biết đến với vai trò quan trọng đối với sự điều hòa các quá trình sinh lý của thực vật. Vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu nhằm phát hiện các gen tham gia vào quá trình sinh tổng hợp, trao đổi và truyền tin của strigolactone (SL), một nhóm hormone mới của thực vật, trong điều kiện hạn và mặn. Để giải quyết vấn đề đặt ra, chúng tôi đồng thời tiến hành nghiên cứu đề tài trên cây mô hình Arabidopsis thaliana và cây trồng quan trọng là đậu tương với đề tài “ Nghiên cứu vai trò của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin (GmARF) ở đậu tương và strigolactone ở Arabisopsis trong chịu hạn và mặn”. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Xác định được các gen tiềm năng mã hóa các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin ở đậu tương (GmARF) phục vụ công tác chọn tạo giống cây trồng mới có khả năng chống chịu điều kiện hạn bằng công nghệ gen. - Đánh giá vai trò của SL trong sự đáp ứng với điều kiện hạn và mặn ở mức độ kiểu hình và mức độ phân tử. 3. Nội dung nghiên cứu của đề tài 3.1. Nghiên cứu vai trò của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin trong điều kiện hạn ở đậu tương - Xác định gen, cấu trúc phân bố, đặc điểm cấu trúc protein suy diễn và phân tích phát sinh chủng loại của các yếu tố phiên mã đáp ứng auxin ở đậu tương (GmARF). - Xác định mức độ biểu hiện của các gen GmARF trong các mô, cơ quan khác nhau ở điều kiện bình thường và điều kiện hạn sử dụng phương pháp RTqPCR, các dữ liệu microarray và trình tự phiên mã sẵn có. 3.2. Nghiên cứu vai trò của strigolactone trong điều kiện hạn, mặn ở Arabidopsis - Xác định vai trò của strigolactone trong việc đáp ứng với điều kiện hạn và mặn trong cây mô hình Arabidopsis thaliana. - Phân tích sự biểu hiện của các gene liên quan đến strigolactone trên cây A. thaliana trong các điều kiện bất lợi. - Đánh giá sự nhạy cảm với ABA trên cây A. thaliana đột biến sinh tổng hợp và truyền dẫn tín hiệu strigolactone nhằm xác định mối tương quan giữa ABA và strigolactone.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề