THUỐC CHỮA ĐAU THẮT LƯNG

Tìm thấy 7,198 tài liệu liên quan tới từ khóa "THUỐC CHỮA ĐAU THẮT LƯNG":

ĐAU THẮT LƯNG KHÔNG ĐẶC HIỆU Ở NGƯỜI LỚN

ĐAU THẮT LƯNG KHÔNG ĐẶC HIỆU Ở NGƯỜI LỚN

TRANG 1 HỘI CHỨNG RUNG LẮC: CẨN THẬN KHI CHƠI ĐÙA VỚI TRẺ KHI CHƠI ĐÙA VỚI TRẺ, VIỆC THAY ĐỔI TƯ THẾ NHANH VÀ ĐỘT NGỘT CÓ THỂ LÀM TRẺ BỊ CHẢY MÁU NÃO, ĐỨT SỢI TRỤC THẦN KINH, PHÙ NÃO, TỔ[r]

2 Đọc thêm

Hiểu đúng để phòng ngừa bệnh xốp xương

HIỂU ĐÚNG ĐỂ PHÒNG NGỪA BỆNH XỐP XƯƠNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Xương của chúng ta có cấu tạo tương tự như các cột trụ bê tông cốt sắt, bao gồm 2 phần chính là khung hữu cơ và chất vô cơ. Nhờ cấu trúc này mà xương chúng ta khỏe mạnh và bền vững. Trong bệnh loãng xương có sự suy giảm mật độ xương và tổn thương vi cấu trúc của xương, tức là có sự hủy hoại của các cấu trúc hữu cơ và vô cơ của xương. Kết quả là sức mạnh của xương bị giảm, làm cho xương dễ bị gãy. Có tới 1/5 phụ nữ và 1/8 nam giới sau tuổi 50 bị xốp xương. Xốp xương là gì? Trong xương xuất hiện nhiều các hốc xương do các bè xương bị đứt gãy làm cho xương trở nên xốp hơn. Chính vì vậy mà bệnh còn có tên gọi là bệnh xốp xương. Các khoáng chất như canxi, phospho cũng bị rửa trôi đi, hàm lượng chất khoáng trong xương giảm đi, xương trở nên nhẹ hơn. Do vậy, bệnh có tên là loãng xương. Ai có nguy cơ xốp xương? Có 5 đối tượng có nguy cơ mắc bệnh xốp xương cao. Thứ nhất là những người có tiền sử gia đình có bố mẹ bị xốp xương. Thứ hai là người cao tuổi (cả nam và nữ trên 70 tuổi), nữ giới từ 55 tuổi trở lên, phụ nữ mãn kinh sớm, sinh trên 3 con. Thứ ba là những người thấp bé, nhẹ cân, có tư thế, dáng vóc bất thường, đặc biệt khi họ lại không được cung cấp đủ canxi và vitamin D, nghiện thuốc lá, rượu. Thứ tư là những người có nghề nghiệp tĩnh tại, không tập luyện thể dục thể thao.  Thứ năm là các bệnh nhân mắc một số bệnh lý có thể gây loãng xương như cường giáp, đái tháo đường, cắt buồng trứng, cắt dạ dày- ruột, suy thận. Đặc biệt, một số bệnh nhân phải sử dụng thuốc kéo dài mà một số thuốc có thể gây loãng xương như corticosteroid, thuốc lợi tiểu, thuốc chống động kinh.   Khi các bè xương bị đứt gãy làm xương trở nên xốp hơn. Cách nào nhận biết? Có 3 dấu hiệu lâm sàng gợi ý xốp xương là thay đổi hình dáng cơ thể, đau lưng và gãy xương. Thay đổi hình dáng cơ thể (gù, vẹo, giảm chiều cao). Biểu hiện đau lưng (đau thắt lưng cấp tính và đau thắt lưng mạn tính). Đau xuất hiện tự nhiên; sau chấn thương nhỏ, thường khỏi sau vài tuần. Đau thắt lưng mạn tính kèm theo biến dạng cột sống, biểu hiện bằng đau thắt lưng kéo dài, có những đợt đau cấp tính rồi lại khỏi, kèm theo các thay đổi tư thế cột sống như gù, vẹo cột sống. Có người cong gập lưng khiến cho các xương sườn cọ sát vào cánh chậu. Biểu hiện nặng nhất của xốp xương là gãy xương: lún xẹp thân đốt sống, gãy chỏm xương đùi, gãy đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu, phần lớn là ở phụ nữ. Lời khuyên của thầy thuốc Để phòng ngừa bệnh xốp xương, quan trọng là thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, hoạt động thể lực đều đặn và phơi nắng. Chế độ ăn uống: ăn đủ đạm, calori. Bạn cần khoảng 50gr protein mỗi ngày, tương đương với 1 lạng cá biển, 2 cốc sữa chua ít béo và 1 quả trứng. Cần hạn chế chất béo trong khẩu phần ăn vì cholesterol tăng phá hủy xương. Cần đảm bảo đủ canxi, vitamin D. Một ngày, cơ thể cần 1.000mg canxi (người ở độ tuổi từ 19 - 50), 400-800 đơn vị vitamin D và lượng nhỏ magiê, vitamin K hàng ngày để giúp xương chắc khỏe. Canxi có thể cung cấp từ thức ăn hay bổ sung từ sữa hay thuốc chứa canxi. Các thực phẩm hàng ngày như tôm, tép, cua, cá chứa nhiều canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Các loại rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, súp-lơ đều giàu canxi. Sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa (bơ, phomat, sữa chua...), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Nguồn vitamin D có thể từ phơi nắng, thức ăn và bổ sung. Thực phẩm giàu vitamin D như nấm tươi, sữa, trứng, cá hồi, trai, sò... Cần ăn rau quả là nguồn cung cấp magiê như rau lá xanh, các loại hạt và đậu. Thực phẩm giàu vitamin K là các loại rau có màu xanh đậm: súp-lơ xanh, bắp cải, cải xoắn. Nếu cần thiết, có thể bổ sung mỗi ngày 1 viên đa sinh tố chứa magiê, vitamin K, acid folic, vitamin B6 và B12. Ngoài ra, nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, lạc, vừng, bắp cải, tỏi... vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương. Về chế độ hoạt động thể lực, cần tập thể dục đều đặn. Tập thái cực quyền cũng làm tăng tính mềm dẻo cơ bắp, giảm nguy cơ ngã gãy xương. Ngoài ra, nên bỏ rượu, thuốc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X QUANG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN TRƯỢT ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X QUANG VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN TRƯỢT ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG

giảm chức năng ở bệnh nhân TĐS thắt lưng. Các triệu chứng được báo cáogồm đau thắt lưng và/hoặc đau thần kinh tọa, có nghĩa là không có sự khácbiệt với những đau lưng dô các nguyên nhân khác, các triệu chứng của TĐSthắt lưng thường nghèo nàn, mơ hồ và cần thiết phải có chụp X quang để xácđịnh TĐS[19].Năm 2008, Kalichman đã thực hiện nghiên cứu dựa trên việc thu thập tấtcả các cơ sở dữ liệu của Pubmed và Mediline từ 1950 đến 2007 về bệnh TĐSthắt lưng do hoái hóa nhằm đưa ra các phân tích về chẩn đoán và điều trị bảotồn với bệnh này. Tác giả đã đưa ra một số nhận định: nguyên nhân của TĐSdo thoái hóa là sự kết hợp của nhiều yếu tố như thoái hóa đốt sống, đĩa đệm,tổn thương hệ thống dây chằng..., bệnh chủ yếu gặp ở tuổi trên 50, trượt L4 –L5 là chủ yếu và đây là nguyên nhân chính dẫn đến hẹp ống sống. Trong TĐSdo thoái hóa thì chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò chính, X quang thường quyđể chẩn đoán xác định, ngoài ra những phương pháp tiên tiến hơn như chụpcắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ cũng cần thiết nếu có nghi ngờ cần làmchẩn đoán phân biệt và lập kế hoạch cho phẫu thuật[7].Năm 2010, tác giả Aono công bố kết quả nghiên cứu theo dõi dọc 12năm trên 142 phụ nữ ban dầu không có TĐS từ đó đưa ra những nhận định vềkhả năng tiến triển của TĐS thắt lưng[20].Bên cạnh đó còn rất nhiều nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực ngoại khoanhằm đánh giá hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật với bệnh TĐS thắtlưng như nghiên cứu của các tác giả Pasha (2012) [21], Gill (2012) [22],Kuang (2014)[16]...21Các nghiên cứu trong nước phần lớn mới chỉ tập trung vào lĩnh vựcngoại khoa, đánh giá hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật như nghiêncứu của Phan Trọng Hậu (2002)về chẩn đoán và điều tri bệnh trượt đốt sống
Xem thêm

Đọc thêm

ĐAU LƯNG: BỆNH THƯỜNG GẶP, DỄ CHỦ QUAN

ĐAU LƯNG: BỆNH THƯỜNG GẶP, DỄ CHỦ QUAN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Họ lạm dụng thuốc giảm đau hoặc duy trì những thói quen sinh hoạt xấu có thể làm cho tình hình bệnh trở nên trầm trọng hơn. Theo ước tính của Hiệp hội chuyên gia phẫu thuật thần kinh Mỹ, có khoảng 75 – 85% người Mỹ đều bị đau lưng ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Đau lưng có thể gặp ở tất cả các phần của lưng. Nhưng hay gặp nhất là đau thắt lưng, đó là tình trạng đau ở vị trí 1/3 dưới của lưng. Người bệnh có thể bị đau khu trú một nơi ở giữa cột sống hoặc các điểm cạnh cột sống thắt lưng. Đau nhiều khi lan tỏa sang hai bên. Đau thắt lưng cấp tính xảy ra đột ngột, dần dần hoặc dữ dội sau khi khiêng, nhấc vật nặng trong tư thế cúi lưng hay các tư thế sai khác, dù là làm việc nhẹ trong văn phòng. Khi tình trạng đau thắt lưng kéo dài trên 2 tháng thì được coi như mạn tính.   Đau lưng là một trong số những căn bệnh phổ biến nhất trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, đã có rất nhiều người không nhìn nhận bệnh đau lưng một cách đúng đắn (Ảnh: Internet) Bệnh đặc biệt phổ biến ở nhân viên văn phòng, tài xế, phi công, giáo viên, thợ may - những nghề nghiệp đòi hỏi phải ngồi hoặc đứng khom lưng trong thời gian dài. Khi cột sống bị tổn thương, các khối cơ phải kiêm luôn cả việc chống đỡ cho cột sống. Tư thế trên nếu duy trì trong thời gian dài sẽ làm giãn các dây chằng và mô mềm vùng thắt lưng, cơn đau xuất hiện. Đặc biệt, nếu không chú ý điều chỉnh tư thế xấu, lâu ngày sẽ làm biến dạng các đốt sống, lúc ấy đau sẽ xuất hiện thường xuyên và khó đáp ứng với các liệu pháp điều trị. Đau thắt lưng cũng có thể là triệu chứng của các bệnh thực thể, dẫn đến những biến chứng như: liệt thần kinh, teo cơ bắp chuối hay nhóm cơ trước ngoài của cẳng chân, loét da do mất cảm giác vùng thần kinh tổn thương, đau nhiều hay đau dai dẳng, có thể gây tàn phế. Lưng là bệ đỡ cho cơ thể bạn. Hầu hết các cơn đau lưng đều có thể điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu, bao gồm các bài luyện tập thể lực và căng cơ. Những trường hợp nặng sẽ cần tới phẫu thuật. Nhưng tất nhiên cũng có những cách giúp bạn phòng tránh đau lưng trước khi nó xảy ra như: uống đủ nước, duy trì cân nặng hợp lý, năng hoạt động, không hút thuốc lá. Một số người có nguy cơ đau lưng bẩm sinh. Ví dụ như họ có một đường cong nhẹ ở lưng, trường hợp này đôi khi rất phổ biến nhưng lại khó nhận ra, còn gọi là hiện tượng vẹo xương sống. Vì thế, nếu bạn bị đau lưng thì hãy liên hệ với bác sĩ để biết được chính xác nguyên nhân căn bệnh của mình, từ đó sẽ có cách điều trị hiệu quả.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Giảm đau bụng trong kỳ kinh nguyệt

GIẢM ĐAU BỤNG TRONG KỲ KINH NGUYỆT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý bình thường của các bạn nữ khi đến tuổi dậy thì. Trong những ngày có kinh, nhiều người chỉ có cảm giác hơi khó chịu ở bụng dưới, hơi cương tức ngực,… nhưng đối với một số người có triệu chứng đau tức bụng dưới, đôi khi đau quằn quại kèm theo đau thắt lưng, đau ngực, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa,… ảnh hưởng rất lớn đến công việc và sinh hoạt. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau bụng khi hành kinh, có thể do sự co thắt quá độ của tử cung, hàm lượng chất prostaglandin (PG) trong máu kinh nguyệt và nội mạc tử cung tăng cao, một số bệnh lý như: lạc nội mạc tử cung, u dưới niêm mạc tử cung, dính khoang tử cung…   Cơn đau bụng  kinh gây mệt mỏi, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt. Nếu đau bụng kinh diễn ra thường xuyên và kéo dài, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên Sản phụ khoa để khám xác định nguyên nhân và được tư vấn điều trị. Ngoài ra để làm giảm cơn đau bụng kinh có thể áp dụng một số biện pháp đơn giản sau: Vệ sinh kinh nguyệt đúng cách Vào những ngày có kinh mặc dù cơ thể có mệt mỏi nhưng vẫn cần phải tắm, thay rửa thường xuyên bằng nước sạch (mùa lạnh nên dùng nước ấm). Tuyệt đối không dùng nước múc ở ao, hồ, sông, suối. Thay băng vệ sinh (hoặc vải xô) 4 - 5 lần một ngày. Mỗi lần thay băng vệ sinh dùng nước nấu chín còn ấm thay rửa. Nếu dùng dung dịch vệ sinh phụ nữ chỉ nên dùng loại có thành phần diệt khuẩn, chiết xuất từ thảo dược, giữ độ cân bằng pH. Vận động nhẹ nhàng, tránh căng thẳng Trong thời gian có kinh, chị em không nên luyện tập thể thao hoặc lao động nặng, chỉ nên đi bộ và vận động nhẹ nhàng. Tránh căng thẳng, xúc động, nghỉ ngơi thoải mái. Chế độ ăn uống Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu để tránh đầy bụng. Tránh ăn các thức ăn chua, cay, nóng,… Không nên uống cà phê, chè đặc, nước có ga,... Chườm ấm Giữ ấm cơ thể và chườm ấm vùng bụng là biện pháp hiệu quả làm dịu cơn đau bụng kinh. Bạn có thể dùng túi chườm ấm, miếng khăn đã được làm nóng hoặc đơn giản là một chai nước nóng vừa đủ để chườm lên vùng bụng dưới. Hơi ấm sẽ làm giãn cơ, làm tử cung co bóp dễ dàng, cơn đau sẽ dịu dần. Dùng thuốc giảm đau Tuy thuốc giảm đau không thực sự tốt cho cơ thể, nhưng nếu cơn đau ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc bạn có thể dùng thuốc giảm đau. Có nhiều loại thuốc giảm đau bụng kinh có bán tại các nhà thuốc nhưng trước khi dùng bạn cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa về liều lượng và cách sử dụng. Dùng thuốc giảm đau chỉ là biện pháp tạm thời, bạn không nên sử dụng thường xuyên và kéo dài.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ LOW BACK PAIN

CHUYÊN ĐỀ LOW BACK PAIN

Đau thắt lưng là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng từ ngang đốt sống L1, đến ngang đãi đệm L5 – S1 (bao gồm cột sống thắt lưng và các tổ chức xung quanh) do nhiều nguyên nhân (bệnh lý đĩa đệm, cột sống, thần kinh, nội tạng…).Đau thắt lưng (ĐTL) kéo dài sau 3 tháng được định nghĩa là ĐTL mãn tính, vì hầu hết các mô liên kết bình thường sẽ lành trong vòng 612 tuần, trừ khi vẫn còn bất thường giải phẫu bệnh. Tốc độ sửa chữa mô chậm trong đĩa gian sống gần như vô mạch có thể làm suy giảm khả năng phục hồi của một số trường hợp đau dai dẳng của ĐTL mãn tính (ĐTLMT). Ước tính có khoảng 1520% bệnh nhân (BN) phát triển cơn đau kéo dài, và khoảng 28% bị đau mãn tính.
Xem thêm

31 Đọc thêm

de tai sang tao KHCN

DE TAI SANG TAO KHCN

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. CƠ SỞ THỰC TIỄN. Đau đầu là một trong những triệu chứng thường thấy nhất trong y học, chúng ảnh hưởng đến rất nhiều người trên thế giới, nếu bạn hỏi ai đó câu hỏi “bạn đã từng bị đau đầu chưa?”, chắc chắn không ai dám nói mình chưa từng bị đau bao giờ. Có những khi chỉ cần thay đổi thời tiết hay uống rượu bia, cà phê, hút thuốc lá cũng làm cho nhiều người bị đau đầu. Nhất là đối với những người làm việc văn phòng, việc ngồi máy tính quá nhiều cũng sẽ gây đau đầu mệt mỏi làm giảm hiệu quả công việc. Có những người đây là tình trạng tạm thời, hoặc là tự động qua đi, hoặc đơn giản khỏi bệnh sau khi dùng một viên thuốc giảm đau thông thường. Dù vậy nguyên nhân đau đầu đôi khi không đơn giản như chúng ta thường nghĩ. Đối với những người thường xuyên bị đau đầu, tác hại mà nó gây ra không nhỏ đến sinh hoạt, công việc hay cả những hoạt động giải trí đơn giản. Biết được dạng bệnh đau đầu và nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp nỗ lực điều trị và phòng ngừa bệnh sẽ hiệu quả. Để làm giảm đau đầu có nhiều cách như dùng thuốc giảm đau hay các liệu pháp ngoài tân dược khác như thư giãn, chườm đầu bằng đá lạnh hay xoa bóp lên các huyệt đạo trên vùng đầu. Một thói quen của rất nhiều người đó là khi bị đau đầu thì lập tức mua thuốc giảm đau uống để làm mất cơn đau. Nhưng ta thấy rằng nếu dùng thuốc giảm đau thường xuyên sẽ có những tác hại như kháng thuốc hay nhiều tác hại khác nữa mà ta không lường trước được, còn các liệu pháp như ở trên cũng có một phần tác dụng nhưng không mấy khả thi và các cơn đau đầu vẫn cứ tiếp diễn. Từ những thực trạng trên và qua tìm tòi nghiên cứu và thực tiễn cuộc sống tôi thấy rằng việc dùng lá đại bi có thể làm giảm cơn đau đầu và phòng tránh được bệnh đau đầu thường gặp. 2. MỤC ĐÍCH CỦA Ý TƯỞNG. Nghiên cứu và tìm ra cách làm giảm đau đầu và phòng tránh bệnh đau đầu hiệu quả, tiện lợi và an toàn. 3. NHIỆM VỤ. Tìm hiểu về bệnh đau đầu và các nguyên nhân gây bệnh. Tìm hiểu về cây đại bi và thành phần hoá học, hoạt tính sinh học của nó. Từ đó thấy được tác dụng mới của lá đại bi là giúp chữa bệnh đau đầu phòng tránh được bệnh đau đầu. Các cách làm để có thể sử dụng tốt công dụng của lá đại bi trong việc phòng tánh và làm giảm triệu chứng đau đầu một cách hiệu quả. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Ý TƯỞNG. - Phương pháp lí luận: Nghiên cứu tìm tòi các tài liệu liên quan đến lá đại bi của các báo chuyên ngành và của một số nhà khoa học trước đó. - Phương pháp thực tiễn: Quan sát điều tra, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn và dân gian trong việc sử dụng lá đại bi nhằm chữa và phòng tránh bệnh đau đầu. Sáng tạo cách làm một cách tiện dụng và hiệu quả. 5. ĐIỂM MỚI CỦA Ý TƯỞNG. - Ý tưởng đề cập đến một cách sử dụng lá đại bi trong việc phòng chống và làm giảm đau đầu một cách tiện lợi và hiệu quả mà các tài liệu y học chưa thấy đề cập đến. - Từ ý tưởng trên nảy sinh thêm về việc sáng tạo ra một sản phẩm gọi là mũ mát xa đầu có chiết xuất từ tinh dầu của lá đại bi. 6. CẤU TRÚC CỦA BẢN TRÌNH BÀY Ý TƯỞNG. Phần 1: Đặt vấn đề. 1. Cơ sở thực tiễn 2. Mục đích của ý tưởng. 3. Nhiệm vụ. 4. Phương pháp nghiên cứu. 5. Điểm mới 6. Cấu trúc của bản trình bày ý tưởng Phần 2: Nội dung. A.Tìm hiểu bệnh đau đầu và các nguyên nhân gây bệnh. B.Tìm hiểu về cây đại bi và thành phần hoá học của nó. C.Cách sử dụng lá đại bi nhằm phòng tránh và làm giảm cơn đau đầu. Phần 3: Kết luận. PHẦN II: NỘI DUNG A. TÌM HIỂU BỆNH ĐAU ĐẦU VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH. Đau đầu là một trong những triệu chứng thường thấy nhất trong y học. Nó xẩy ra hầu hết với tất cả mọi người và làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ và công việc của mỗi người, làm giảm chất lượng cuộc sống. Thậm chí với những người thường xuyên bị đau đầu, tác hại mà nó gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ. Bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt công việc hay cả những hoạt động giải trí đơn giản. Biết được dạng bệnh đau đầu mắc phải và nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp nỗ lực điều trị và phòng ngừa bệnh có hiệu quả. Trước hết chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về bệnh đau đầu: Đau đầu là gì? Đau đầu có nhiều dạng bệnh lý khác nhau, trong đó phổ biến nhất là đau nửa đầu (migraine). Các bệnh nhân thường miêu tả cơn đau nửa đầu thông qua các triệu chứng: đau một bên đầu (trái, phải, trước trán, sau gáy…), đau cả vùng đầu, các biểu hiện đi kèm như buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, sợ mùi hương, sợ tiếng ồn, rối loạn thị giác. Cơn đau thường kéo dài từ 2 – 4 giờ, thậm chí vài ba ngày mới hết. Triệu chứng •Chóng mặt, thấy hào quang trước mắt: Cơn đau nửa đầu có thể gây chóng mặt, nhìn đôi, hoặc mất thị lực. Do đó, những người bị đau nửa đầu thường cảm thấy bị mất cân bằng. So với đau đầu thông thường, cơn chóng mặt dễ xảy ra hơn ở người đau nửa đầu. Có người còn gặp tình trạng thấy ánh đèn leo lét hoặc một vệt sáng hay một điểm sáng mờ ảo và chúng di chuyển theo một đường cong liên tục chạy qua trước mắt. •Đau nhói một hoặc cả hai bên đầu: Đau có tính chất như mạch đập là một dấu hiệu điển hình của cơn đau nửa đầu. Cảm giác đau nhói thường cảm thấy ở một bên đầu. Một nghiên cứu ở những bệnh nhân đau nửa đầu cho thấy, có khoảng 50% bệnh nhân luôn có triệu chứng đau nhói ở một bên đầu. •Nôn hoặc buồn nôn: Theo một nghiên cứu ở Mỹ, có khoảng 73% bệnh nhân có triệu chứng buồn nôn và 29% có nôn. Những người thường xuyên có cảm giác buồn nôn khi đau đầu có liên quan đến cơn đau nửa đầu nặng hơn người không có triệu chứng này. •Dễ cáu gắt hoặc phấn khích: Thay đổi tâm trạng là một trong những dấu hiệu của chứng đau nửa đầu. Một số bệnh nhân cảm thấy chán nản hoặc đột nhiên xuống tinh thần không có lý do, trong khi một vài người khác lại cảm thấy hưng phấn một cách bất thường. •Tê hoặc ngứa ran: Một số người bị chứng đau nửa đầu có cảm giác tê, ngứa ran hoặc cảm giác như kim châm ở một bên của cơ thể, di chuyển từ đầu ngón tay qua cánh tay và trên khuôn mặt. Phân loại đau đầu Đau nửa đầu: Có căn nguyên từ thần kinh mạch máu, xuất hiện từng cơn ở một bên đầu với cảm giác da đầu căng và rát như bị bỏng kèm các triệu chứng ù tai, mờ mắt, buồn nôn, sợ tiếng ồn, ánh sáng… Khoảng 11% dân số trưởng thành trên thế giới đang phải gánh chịu các cơn đau nửa đầu, trong đó phụ nữ chiếm đến 3/4. Có nhiều nguyên nhân nhưng theo phân tích của các nhà khoa học, có mối liên hệ rõ rệt giữa những biến đổi ở não dẫn đến những hoạt động thần kinh bất thường gây ra những cơn đau nửa đầu mức độ vừa đến nặng. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra gốc tự do là một trong những tác nhân nguy hiểm nhất làm khởi phát chứng đau nửa đầu. Tại não, gốc tự do sinh ra liên tục, lắng đọng ở thành mạch máu, thúc đẩy quá trình xơ vữa, làm hẹp lòng động mạch cản trở máu dẫn oxy về nuôi não. Bên cạnh đó, gốc tự do và các hóa chất trung gian sinh ra trong quá trình chuyển hóa ở não làm gia tăng hoạt động bạch cầu, khởi phát quá trình viêm, sản sinh chất gây giãn mạch làm tổn thương nội mạc mạch máu, gây ra những cơn đau nửa đầu. Đau đầu từng cụm (cluster headache): Cũng có nguyên nhân từ thần kinh mạch máu, gặp chủ yếu ở nam giới tuổi trung niên và phần lớn có hút thuốc. Tuy nhiên, gần đây tỉ lệ nữ giới bị đau đầu từng cụm cũng đang dần tăng. Các cơn đau xuất hiện sau khi ngủ từ 1 đến 3 giờ, khi tỉnh dậy đã thấy đầu đau nặng. Cơn đau thành từng cụm, khu trú ở nửa đầu, đau nhiều ở sau mắt, lan ra trán và thái dương, kèm theo ngạt mũi, chảy nước mắt, buồn nôn… Đau đầu do căng thẳng: Ngày nay, nhịp sống nhanh và ồn ào tại nhiều thành phố lớn làm cho con người bị cuốn vào những lo toan cho gia đình, công việc, gần như không có nhiều thời gian cho chính bản thân mình. Đây là điều kiện thích hợp để nhiều loại bệnh đô thị xuất hiện, trong đó có chứng đau đầu căng thẳng. Đau đầu do căng thẳng có khá nhiều biểu hiện giống với bệnh đau nửa đầu. Bệnh đau đầu căng thẳng ít có tính chất thon thót mạch đập và thường tiến triển tăng dần, khác với kiểu khởi phát cơn đau nửa đầu (đến khá nhanh và bất ngờ). Thời gian cơn đau kéo dài, dao động khác nhau nhưng tính chất cơn đau ổn định và cường độ không dữ dội như đau nửa đầu. Đau đầu mạn tính hàng ngày (Chronic daily headache): Là dạng đau đầu kéo dài trên 15 ngày/ tháng, thường có bệnh lý kết hợp như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, cơn hoảng sợ, stress và lạm dụng thuốc. Hầu hết các trường hợp đau đầu này không phát hiện dấu hiệu bất thường trên ảnh chụp não. Nếu không được điều trị sẽ gây ra những rối loạn cơ thể như hồi hộp, mất ngủ, đau bao tử, ngoài ra còn xuất hiện triệu chứng trầm cảm như lo âu, thậm chí thay đổi tính cách. Nguyên nhân đau đầu •Đau đầu nguyên phát là chứng đau nửa đầu có nguyên nhân thường liên quan tới sự giãn của các mạch máu trong sọ và các hóa chất trung gian được tiết ra từ các sợi thần kinh nằm quanh đó. Người ta thấy rằng khi cơn đau xuất hiện, động mạch thái dương thường giãn rộng (động mạch thái dương là một nhánh động mạch nằm ngoài hộp sọ, ngay bên dưới da vùng thái dương). Khi động mạch này giãn nở, nó làm căng các sợi thần kinh nằm gần đó, các sợi thần kinh khi bị căng thì tiết ra các hóa chất có khả năng gây đau, viêm, và làm mạch máu thêm giãn nở, càng làm cơn đau nặng thêm. Chứng đau nửa đầu này thường không được chẩn đoán, hay chẩn đoán nhầm với đau đầu do căng thẳng, đau đầu do viêm xoang, thế nên khá nhiều người bị đau đầu kiểu này mà không được điều trị thích đáng. •Đau đầu thứ phát bao gồm các triệu chứng như viêm xoang, cao huyết áp cũng là nguyên nhân gây đau đầu thứ phát. Có rất nhiều nguyên nhân, từ nặng như: u não, chấn thương sọ não, viêm màng não, xuất huyết dưới màng nhện, đến mức độ nhẹ hơn (và thường gặp hơn): đau đầu do ngưng uống cà phê, đau đầu do cao huyết áp, viêm xoang, viêm xoang, viêm tai, viêm nướu răng. •Ngoài ra còn có các nguyên nhân: giảm hoạt động của tuyến giáp vì tuyến giáp không sản xuất đủ hoóc-môn giáp như bình thường; ngộ độc carbon monoxide (CO) thường xuyên. Bệnh Parkinson; do thuốc như: indomethacin, estrogen, progestin, thuốc ức chế kênh calcium (thường dùng điều trị tăng huyết áp), các thuốc ức chế việc tái hấp thu seretonin chọn lọc (thuốc điều trị trầm cảm). Lạm dụng thuốc giảm đau đầu nhanh, cụ thể dùng quá liều thuốc giảm đau có thể tạo nên tình trạng “kháng thuốc”, mất tác dụng của thuốc, cơn đau đầu không khống chế được nữa. Thiếu máu cơ tim (thường do bệnh lý mạch vành): thiếu máu cơ tim ngoài gây đau thắt ngực còn có thể gây đau đầu. Các nguyên nhân của đau đầu thứ phát còn có ung thư não, kể cả u nguyên phát ở não lẫn u di căn từ nơi khác đến như từ vú, từ phổi; máu tụ dưới màng cứng (màng cứng là một lớp màng bao bọc não bộ) sau khi chảy từ các tĩnh mạch não bị vỡ. Cơn tăng huyết áp ác tính cũng gây đau đầu (những cơn tăng huyết áp nhẹ hay trung bình thường không gây đau đầu. Hậu quả Không như các bệnh thông thường, những cơn đau nửa đầu đến bất thình lình như búa bổ, mắt mờ, mặt xám xanh, nhìn ánh đèn chói lại càng đau. Rồi xuất hiện cơn buồn nôn và có khi nôn mửa đến mật xanh, mật vàng... Những cơn đau nửa đầu đột ngột và kéo dài âm ỉ trong não khiến người bệnh có lúc chỉ “muốn bổ đầu mình ra”. Có trường hợp đau nhói nửa đầu, cơn đau càng giật mạnh theo nhịp thở khiến nhiều người phải “đo ván” hàng giờ đồng hồ trong phòng làm việc, dù uống thuốc giảm đau nhưng vẫn chẳng thấy ăn thua gì. Gặp tiếng ồn của xe cộ hay máy móc là đầu như muốn nổ tung. Sau mỗi đợt đau đầu như vậy, nạn nhân thường dễ dàng mệt mỏi, cáu kỉnh, dễ nhầm lẫn, thậm chí rơi vào trạng thái trầm cảm kéo dài... Đau nửa đầu Migraine là chứng thường gặp trong các bệnh đau đầu, nếu không được điều trị, cơn đau có thể kéo dài từ 2-4giờ, thậm chí có những trường hợp đến vài ba ngày. Những người bị đau nửa đầu không chỉ bị cơn đau hành hạ dẫn đến chất lượng sống giảm sút, mà lâu ngày, chứng bệnh còn dẫn đến những bệnh lý nguy hại khác cho sức khoẻ, như trầm cảm, đột quỵ, suy thoái võng mạc, mất thị lực và mù vĩnh viễn. Theo Tổ chức y tế Thế giới WHO, Migraine đang là vấn nạn lớn toàn cầu và là một trong 20 nguyên nhân hàng đầu gây thương tật cho con người. Cách điều trị và phòng ngừa Điều trị đau đầu là biện pháp can thiệp nhằm làm giảm cường độ, giảm thời gian, giảm tần suất xảy ra cơn đau, hạn chế các triệu chứng đi kèm. Điều trị đau đầu được chia thành hai phương pháp: Điều trị cắt cơn Với mục tiêu nhằm chấm dứt cơn đau ngay khi nó bắt đầu xảy ra, điều trị cắt cơn thường sử dụng 2 nhóm thuốc: thuốc không cần kê đơn và thuốc kê đơn. Khi đau đầu, nhất là những cơn đau dữ dội, đa phần mọi người có xu hướng sử dụng thuốc giảm đau nhanh. Thuốc giảm đau sẽ hiệu quả, giúp bệnh nhân thoát cảnh “nhức đầu bưng bưng” có khi chỉ trong 15-30 phút sau khi uống. Tuy nhiên, thuốc giảm đau cũng chính là “con dao hai lưỡi”, tiềm ẩn nhiều rủi ro gây nên các bệnh lý khác. Thực trạng đáng lo ngại là mọi người không đến gặp bác sĩ để chữa đúng căn nguyên bệnh, thay vào đó họ lại “tự kê đơn”, chủ động điều trị bằng các loại thuốc giảm đau thông thường được bán không kê toa tại các nhà thuốc. Lưu trữ các loại thuốc giảm đau trong tủ thuốc tại gia là trường hợp dễ dàng nhận thấy ở hầu hết các gia đình. Tiến sĩ J-A Zwart thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy đã chứng minh việc uống thuốc giảm đau bừa bãi trong một tháng để điều trị các cơn đau mãn tính làm tăng nguy cơ đau nửa đầu gấp 7,5 lần so với bình thường. Hiệp hội Đau nửa đầu CHLB Đức (DMG) cảnh báo dùng thuốc giảm đau nhanh, mạnh để giải quyết các cơn nhức đầu sẽ dẫn đến hội chứng đau đầu vì lệ thuộc thuốc. Để tránh phải lệ thuộc, các chuyên gia khuyên không nên dùng thuốc giảm đau đầu nhanh mỗi lần lâu hơn 3 ngày và mỗi tháng nhiều hơn 10 ngày. Phòng ngừa bằng chất chống gốc tự do và thay đổi lối sống Nhằm giúp giảm số lần xảy ra và mức độ nghiêm trọng của cơn đau, đồng thời hỗ trợ điều trị làm giảm triệu chứng của các cơn đau nửa đầu, gần đây, các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu và chiết xuất thành công các hoạt chất sinh học quý như Anthocyanin và Pterostilbene có trong Blueberry, có tác dụng chống lại gốc tự do, bảo vệ thành mạch máu não. Hai hoạt chất này có trọng lượng phân tử nhỏ, dễ dàng vượt qua hàng rào máu não vừa trung hòa gốc tự do, đồng thời kích hoạt các men chống gốc tự do tự nhiên của cơ thể. Từ đó, góp phần ngăn chặn quá trình xơ vữa mạch máu, chống lại quá trình viêm và nuôi dưỡng mạch máu não, giúp phòng và cải thiện hiệu quả bệnh đau nửa đầu. Trong thực tế cuộc sống có rất nhiều phương pháp ngoài tân dược để làm giảm đau đầu, nhưng ít ai biết đến cách dùng lá đại bi có tác dụng làm giảm triệu chứng đau đầu vừa hiệu quả vừa an toàn lại rất tiện ích. Vậy tại sao lá đại bi lại có thể chữa được bệnh đau đầu và kể cả phòng ngừa được bệnh đau đầu xảy ra? Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về cây đại bi: B. TÌM HIỂU VỀ CÂY ĐẠI BI VÀ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA NÓ. 1. TỔNG QUAN 1.1 Mô tả thực vật 1.1.1 Tên gọi Đại bi có tên khoa học là Blumea balsamifera (L.) DC, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Ở Việt Nam, đại bi còn có nhiều tên khác tùy thuộc vào vùng miền: băng phiến, hoa mai băng phiến, mai phiến, long não hương, mai hoa não, đại ngải, ngải phiến, từ bi xanh, từ bi (miền Nam), bỏ nạt, co nát (Thái), phặc phà (Tày)... Ở nước ngoài, đại bi được biết đến với tên: Sambong (Philippin),Ngai-comphor (Anh), camphrée (Pháp)... 1.1.2 Mô tả thực vật Đại bi là một cây nhỏ, cao từ 1-2 m, thân có khía rãnh phân cành ở ngọn. Lá mọc so le, phiến lá hình bầu dục, dài 8-30 cm, rộng 3-6 cm, gân lá chằng chịt thành mạng lưới rất rõ ở hai mặt lá, mặt trên có màu lục sẫm có ít lông, mặt dưới có màu trắng nhạt và có lông nhạt. Mép lá gần như nguyên hay xẻ thành răng cưa và ở gốc lá thường có 2, 4 hay 6 thùy nhỏ do phiến lá dưới bị xẻ quá sâu (hình 1.1). Vò lá ta sẽ thấy mùi thơm dễ chịu của băng phiến. Cụm hoa gồm nhiều đầu màu vàng, trên hoa có nhiều lông tơ, họp thành ngù ở kẽ lá và đầu cành, đầu có đường kính 8-10 mm, có cuống ngắn, lá bắc xếp thành nhiều hàng, không đều nhau, trong đầu có nhiều hoa cái ở xung quanh, phần giữa làhoa lưỡng tính, mào lông có màu gỉ sắt, tràng hoa cái hình ống có 3 răng, tràng hoalưỡng tính gần như có hình trụ, 5 răng, 5 nhị, bầu hình trụ, hơi có lông (hình 1.2). Quả bế, có chùm lông ở đỉnh. Toàn cây có lông trắng mềm và thơm như long não. Mùa hoa quả vào tháng 3-5. Hình 1.1 - Cây đại bi. Hình 1.2 - Hoa cây đại bi. 1.1.3 Phân bố sinh thái Cây đại bi phân bố ở nhiều nước như Trung Quốc, Việt Nam và các nước nhiệt đới Nam Á, từ Ấn Độ qua Malaysia, Inđônêxia, Philippin… Ở nước ta cây mọc hoang khắp nơi ở trung du, đồng bằng, thường gặp ven đường, quanh làng, trên các đồng cỏ... Cây đại bi thường mọc ở những đồi núi đã phát quang có nhiều ánh sáng, không thấy trong rừng sâu, thường mọc thành bãi khá rộng, vì chưa có sự khai thác nên chưa thống kê được trữ lượng. 1.1.4 Tính vị và công năng Ở Việt Nam theo kinh nghiệm dân gian, cây đại bi được dùng để chữa trị rất nhiều bệnh: cảm cúm, ho, viêm họng, long đờm, sổ mũi, đau răng, chân răng loét, đau ngực, đau bụng, đau dạ dày, trị co thắt, sản hậu, đau lưng, đau bụng sau khi sinh, đau bụng kinh, cảm mạo, đau dạ dày, đầy bụng chứng khó tiêu, tiêu chảy, dùng ngoài chữa vết thương, chấn thương, chữa đinh nhọt, viêm mủ da, ngứa da, tan máu bầm, chữa ngất hôn mê ... Lá cây đại bi có tính kháng khuẩn, chống nấm, giải nhiệt, hạ sốt và làm giảm đau. Ngoài ra thuốc đắp từ lá cây đại bi giã nhỏ còn được dùng để điều trị bệnh trĩ. Giã nhỏ lá cây, trộn chung với rượu còn được dùng để xoa bóp cho trường hợp đau cơ, đau khớp. Lá cây đại bi còn dùng để tắm cho em bé và phụ nữ sau khi sinh. Nước sắc từ lá và rễ dùng để giảm sốt và đau dạ dày. Ở Ấn Độ, người ta dùng đại bi làm thuốc chữa trạng thái tâm thần bị kích thích, chữa chứng mất ngủ và bệnh cao huyết áp. Liều dùng 6-12 g lá, 15-30 g rễ hoặc dùng toàn thân sắc uống. Dùng ngoài lấy lá giã hoặc nấu lấy nước tắm có thể làm thuốc ngâm rượu để xoa bóp chỗ đau... Ở Philippin, cây đại bi (Sambong) được biết đến như là thuốc lợi tiểu, dùng để điều trị sỏi thận, dùng giảm huyết áp, điều trị tiêu chảy, bệnh lỵ và còn làm thuốc long đờm. Lá của cây đại bi cũng được dùng như trà tại Philippin. Sau đây là một số bài thuốc theo đông y để chữa bệnh bằng cây đại bi: 5. Chữa viêm họng mãn tính, viêm amidan: Mai hoa phiến 1g, phèn chua phi khô 2,5g, hoàng bá đốt thành than 2,0 g, đăng tâm thảo đốt thành 3,0 g, tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 3-4 g thổi vào cổ họng. Chữa chứng phong cấm khẩu, hôn mê: Mai hoa phiến xát mạnh vào chân răng. Chữa ho: Lá đại bi 200 g, lá chanh 50 g, rễ cà gai leo 100 g, rễ thủy xương bồ 100 g, củ sả 100 g, trần bì 50 g, tất cả phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần để được 700 ml dung dịch, lọc, rồi thêm 300 ml xi rô để được 1 lít cao. Ngày uống 40 ml, chia làm 2 lần. Chữa cảm ngất không tỉnh, phong thấp hoặc bị thương đau nhứt, đau bụng lạnh da, đi ngoài: Dùng 20-30 g lá sắc uống hoặc dùng tinh dầu mỗi lần uống 6 giọt, uống 3-4 lần. Chữa bị thương sưng đau, lở ngứa: Dùng lá đại bi nấu nước ngâm rửa chỗ đau và giã nát lá đắp vào chỗ đau. Chữa cảm mạo, ho, nóng sốt: Dùng 5-12 g lá đại bi nấu nước uống. Có thể nấu nước xông, dùng riêng hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu. Dùng lá phối hợp với một số dược liệu khác có tinh dầu lá chanh, lá bưởi, lá sả mỗi thứ một nắm. Tất cả cho vào nồi nước đun sôi rồi xông. Khi xông cần ngồi nơi kín gió. Dùng khăn trùm kín cả người và nồi nước xông, hơi nước có chất thơm bốc lên làm ra mồ hôi. Xông xong dùng khăn lau khô hết mồ hôi, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu ngay, hoặc chữa ho theo cách sau: lá đại bi 200 g, lá chanh 50 g, rễ cà gai leo 100 g, rễ thuỷ xương bồ 100 g, củ sả 100g, trần bì 50 g, tất cả phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần để được 700 ml dung dịch, lọc, rồi thêm 300 ml xi rô để được 1 lít cao. Ngày uống 40 ml, chia làm 2 lần. Chữa bệnh đau chân răng thối loét: mai hoa băng phiến và phèn phi mỗi lượng bằng nhau rắc vào chỗ đau. Chữa long đờm: lá đại bi giã nát với lá câu đằng đắp. Chữa đau bụng kinh: dùng rễ đại bi 30 g, ích mẫu 15 g sắc uống. Chữa ghẻ: lá đại bi tươi và lá hồng bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát lấy nước đặc bôi. Chữa cảm cúm, nhức đầu: lá quýt và những loại lá thơm khác như sả, cúc tần, đại bi, hương nhu, lá bưởi, lá chanh..., đun nước uống và xông cho ra mồ hôi. Chữa cảm cúm bằng cách xông, nồi nước xông gồm: lá tre, lá bưởi, lá sả, cúc tần, hương nhu mỗi thứ 20 g, tỏi 2-3 nhánh, đập giập. Tùy theo hoàn cảnh sẵn có của từng nơi, có thể thay thế bằng nhiều loại lá thơm khác như bạc hà, chanh, tràm, bạch đàn, đại bi, long não. Tất cả nấu với nước đến sôi, rồi xông từ từ cho hơi nước tỏa khắp thân thể cho ra mồ hôi trong 5-10 phút. Nằm nghỉ, đắp chăn tránh gió lạnh. Chữa thấp khớp: đại bi (thân, rễ) khô 20 g, ké đầu ngựa 10 g, bạch chỉ 20 g, thiên niên kiện 20 g: sắc uống ngày 1 thang. 1.2 Một số nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học *) Cây đại bi được thu thập ở 3 tỉnh (Hà Giang, Hà Nội, Đắc Lắc) cho thấy thành phần chính: borneol 57,82%, β-caryophyllen 8,27%, Δ-cadinol 7,95%, và caryophyllen oxit 3,10% (thu hái ở Hà Giang); borneol 50,57%, camphor 18,71%, β-caryophyllen 10,06%, Δ-cadinol 3,14%, patchoulen 2,99%, và veridiflorol 2,01% (thu hái ở Hà Nội); camphor 70,05%, β-caryophyllen 10,54%, borneol 5,70% và carvacrol 5,70% (thu hái ở Đắc Lắc). *) Năm 1985, từ lá cây đại bi các nhà khoa học Thái Lan đã cô lập được hợp chất cryptomeridiol là thành phần chính của thuốc chống co thắt. *) Năm 1988, lá cây đại bi thu thập từ Jakarta, Indonesia, cô lập được 5 sesquiterpen có hoạt tính chống lại tế bào bạch cầu (L-1210), những sesquiterpen này có nồng độ ức chế (L-1210) từ 5-10 μg/ml. *) Năm 1992, nhóm các nhà khoa học Ấn Độ cô lập 3 flavonoid mới từ cao cloroform của cây đại bi: (2R,3R)-5’-metoxy-3,5,7,2’-tetrahydroxyflavon; (2S)- 5,7,2’,5’- tetrahydroxyflavon và 7,5’-dimeto 3,5,2’trihydroxyflavon. *) Năm 2000, từ cao hexan (9,6 g) các tác giả người Thái Lan thu được 4 hợp chất: borneol; 5-hydroxy-7-metoxychromon; 5-hydroxy-3,7,3’,4’-tetrametoxyflavon và (2R,3R)-3,5,3’-trihydroxy-7,4’-dimetoxydihydroflavonol, trong đó hợp chất 5- hydroxy-7-metoxychromon được xác nhận là hợp chất đầu tiên cô lập được từ cây đại bi. *) Năm 2003, các thử nghiệm về hoạt tính chống oxy hóa các cao thô của cây đại bi cho kết quả cao metanol > cao cloroform > cao eter dầu hỏa. Cao metanol chứa nhiều polyphenol nhất. Thử nghiệm cũng cho kết quả cao chứa nhiều polyphenol sẽ có hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Hoạt tính chống oxy hóa của các hợp chất cô lập được từ cây đại bi (nồng độ 5, 2 x10-5 M) cho thấy tamarixetin có hoạt tính mạnh nhất: tamarixetin > rhamnetin > BHT > luteolin > BHA > α-tocopherol > quercetin > 5,7,3’,5’-tetrahydroxylflavanon > blumeatin > dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter > dihydroquercetin-4’-metyl eter. *) Năm 2004, từ lá khô cây đại bi (189g), nhóm các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Malaysia đã cô lập được một flavonoid mới đó là 3-O-7’’-biluteolin (800 mg), cùng với 3,4’,5-trihydroxy-3’,7-dimetoxyflavanon (500 mg) và 3,4’,5- trihydroxy-7-metoxyflavanon (100 mg). *) Gốc tự do với hoạt tính oxi hóa cao là một trong những nguyên nhân gây nên những căn bệnh nghiêm trọng như lão hóa, tim mạch, ung thư, tiểu đường... Chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ tự nhiên được biết hiện nay α -tocopherol lại có hoạt tính thấp hơn chất oxy hóa tổng hợp BHA, BHT. Vì thế việc tìm kiếm các chất chống oxy hóa nguồn gốc từ tự nhiên có hoạt tính cao hơn α -tocopherol, BHA và BHT là một trong những vấn đề cần thiết. Năm 2004, các nhà khoa học thuộc trường đại học dược và trường đại học hóa ở Malaysia đã tiến hành khảo sát thành phần hóa học trên lá cây đại bi và đã cô lập được 11 flavonoid: velutin và dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter từ cao eter dầu, blumeatin và luteolin-7-metyl eter từ cao cloroform và ombuin, tamarixetin, rhamnetin, luteolin, luteolin-7-metyl eter, quercetin, 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanon, blumeatin và dihydroquercetin-4’- metyl eter từ cao metanol. Tiến hành thử nghiệm hoạt tính ức chế gốc tự do DPPH của 11 flavonoid trên cho kết quả khả quan như sau: quercetin > rhamnetin>luteolin> luteolin-7-metyl eter> l-ascorbic acid > blumeatin > BHA > 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanon > tamarixetin > BHT >α -tocopherol> dihydroquercetin-4’-metyl eter > dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter. *) Năm 2005, nhóm nghiên cứu chuyên ngành huyết học xã hội Mỹ, đã công bố kết quả về khả năng ngăn chặn các tế bào ung thư máu bởi dihydroflavonol chiết xuất từ cây đại bi. *) Năm 2005, nghiên cứu về khả năng ức chế enzym XO, trong điều trị bệnh gút, trên các cao của cây đại bi cho kết quả: cao metanol > cao cloroform > cao eter dầu. Những flavonoid cô lập từ cao metanol có khả năng ức chế enzym XO cao hơn acid ascorbic (vitamin C) nhưng thấp hơn allopurinol. *) Năm 2005, thử nghiệm trên cao thô từ của cây đại bi với khả năng ngăn ngừa gốc tự do superoxid cho kết quả cao metanol ức chế cao nhất (93,91 ± 1,37%), cao cloroform ức chế (84,58 ± 1,51%), còn cao eter dầu hỏa không có hoạt tính. Những flavonoid cô lập từ cây đại bi cũng được thử khả năng ngăn chặn gốc tự do superoxid, trong đó hoạt tính của quercetin > luteolin > 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanon > blumeatin > rhamnetin > tamarixetin > luteolin-7-metyl eter > dihydroquercetin-4’-metyl eter > dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter., kết quả cho thấy quercetin có hoạt tính cao nhất. Thử nghiệm này đưa đến kết luận là những flavonoid có nhiều nhóm hydroxyl có hoạt tính ngăn ngừa gốc tự do superoxit cao hơn những flavonoid chứa nhóm metyl. *) Năm 2005, nhóm tác giả Ragasa đã cô lập được các hợp chất icthyothereol acetat (a), cryptomertidiol (b), lutein và β-caroten từ lá cây đại bi. Thử nghiệm chỉ ra hợp chất (a) có hoạt tính cao hơn hợp chất (b) đối với các chủng nấm Aspergillus niger, Trichophyton mentagrophytes và Candida albicans. Cả hai hợp chất đều không có hoạt tính với các chủng nấm Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis và Escherichia coli. *) Năm 2005, các tác giả thuộc trường đại học Chiba (Nhật bản) đã cô lập được 2 ester sesquiterpenoid mới và 9 flavonoid từ cây đại bi. Thử nghiệm trên tế bào bạch cầu cho kết quả: hợp chất (VII) có hoạt tính (IC50=26,2 μM) trong khi hợp chất (VI) không có hoạt tính (IC50>70 μM). Hai sesquiterpenoid mới này đều không có hoạt tính ức chế plasmin (enzym phân giải protein, còn gọi là fibrolysin). Thử nghiệm hoạt tính ức chế plasmin trên 9 flavonoid cô lập được từ cây đại bi cho kết quả (hình 1.11). Flavonoid (XII) và (XIII) có hoạt tính ức chế plasmin cao nhất (IC50=1,5 và 2,3 μM). *) Năm 2009, thành phần hóa học cây đại bi được các nhà khoa học Bangladesh phân tích và cho kết quả ở bảng 1.1. Bảng 1.1- Thành phần hóa học của lá cây đại bi. STTThành phần hóa học%STTThành phần hóa học% 1α-Pinen0,4826Aromadendren2,91 2Camphen0,4727Patchoulen0,11 3β-Pinen1,1628α-Selinen0,32 41-Octen-3-ol0,7129γ-Muurolen0,31 5β-Myrcen0,0630δ-Cadinen0,26 66-Undecanol0,1131Epicedrol0,49 7Limonen0,1932Neocloven, dihydro0,10 8(E) Ocimen1,1633β-Elemen1,23 9Linalool1,3134Geranyl iso-valerat0,07 10Camphor0,1135Ledol7,12 11Borneol33,2236Germacren -D-4-ol0,22 12Cuminal0,0637Caryophyllen oxit4,07 13Perillaldehydre0,2238Guaiol3,44 14Neryl acetat0,439Globulol1,12 15Perillol0,09402(1H)-Naptalen, octahydro-4-5a-metyl-7- (1-metyletyl)0,61 16Acid acetic2,08411,1-Dimetyl adamantan0,86 17Thujopsen-134,4242γ-Eudesmol3,18 18Aromadendren, dehydro0,1243Tetracyclo [6,3,2,0,(2.5).0(18)1,80 19Guaina-3,9-dien0,75444,4-Demetyladamanlaer-2-ol1,10 20ρ-Selinen0,1845Cycloisolongifolen, 8,9-dehydro0,16 213-Adamantancacboxylic acid phenylester0,2846Carotol0,27 22Cyclobexen, 1-(2-metyl-2- cyclopentenyl)-1-0,147Aromadendren oxit0,17 23Dimetoxyduren3,5948Adamantan, cyclopropyleden0,11 24Caryophyllen8,2449Isopatchoulan0,13 25α-Caryophyllen1,1950Phytol4,63 Như vậy, chúng ta thấy rằng bệnh đau đầu có nhiều nguyên nhân và qua nghiên cứu của các nhà khoa học thấy rằng gốc tự do là một trong những tác nhân nguy hiểm nhất làm khởi phát chứng đau nửa đầu. Vậy để phòng ngừa và ngăn chặn bệnh đau đầu thì ta cần tìm được những chất chống gốc tự do và thay đổi lối sống. Qua nghiên cứu các thành phần của lá đại bi có những chất có khả năng ngăn ngừa gốc tự do để có thể làm giảm nhanh chóng bệnh đau đầu và lại rất tiện lợi. C. SỬ DỤNG LÁ ĐẠI BI NHẰM PHÒNG TRÁNH VÀ LÀM GIẢM CƠN ĐAU ĐẦU. PHƯƠNG PHÁP 1: Dùng sắc nước uống Do lá đại bi có các thành phần chống o xy hoá cao cũng như ức chế được gốc tự do, là nguyên nhân của các bệnh đau đầu và lão hoá cơ thể, nên việc dùng lá đại bi sắc nước uống nhằm cung cấp cho cơ thể các thành phần chống lão hoá và ức chế gốc tự do sẽ làm giảm nguy cơ đau đầu và một số bệnh khác. Cách dùng: Cách 1: Nấu lá tươi. - Lá đại bi tươi rửa sạch sắc nước uống hàng ngày. Cách 2: Dùng lá khô -Lá đại bi cắt nhỏ sấy khô để vào hộp bảo quản nơi khô ráo có thể uống hàng ngày như uống trà có tác dụng chống lão hoá, .... và làm giảm nguy cơ đau đầu. Cách 3: Dùng cao lá đại bi -Lá đại bi nấu thành cao, khi cần dùng cho một lượng vừa phải vào nước nóng rồi dùng như nước trà. PHƯƠNG PHÁP 2: Dùng đắp ngoài: Ta thấy rằng lá đại bi có chứa từ 0,2 đến 1,88 tinh dầu đại bi khi đắp lên trán hoặc trùm vào đầu, dưới tác dụng của nhiệt độ vừa phải làm cho các tinh dầu khuếch tán nhanh chóng và thẩm thấu vào da đầu làm co dãn các mạch máu, lưu thông khí huyết giúp giảm mệt mỏi căng thẳng và làm cắt nhanh các cơn đau đầu. -Dùng lá tươi: Lá cây đại bi giã nhỏ, để vào túi vải, làm nóng vừa phải rồi đắp lên trán hoặc trùm vào đầu. Có tác dụng làm giảm cơn đau, dễ chịu, giảm căng thẳng, ... -Dùng lá khô: Lá cây đại bi cắt nhỏ, sấy khô, cho vào túi vải mềm, đắp lên trán và đầu có tác dụng làm giảm các triệu chứng đau đầu, căng thẳng và rất tiện lợi trong việc sử dụng. Bởi vì sản phẩm có thể dễ dàng để vào túi đưa đi làm việc, khi cần có thể lấy ra sử dụng ngay. PHƯƠNG PHÁP 3: Dùng sản phẩm mũ mát xa đầu. SẢN PHẨM: Mũ mát xa đầu *) Hình thức: Sản phẩm có hình thức giống một chiếc mũ gồm có bốn lớp: lớp vỏ ngoài cùng bảo vệ, lớp tiếp theo là màng tạo nhiệt có tác dụng giúp cho tinh dầu đại bi khuếch tán nhanh hơn và thẩm thấu tốt vào da đầu; lớp thứ ba có thể cho tinh dầu đại bi hoặc lá đại bi vào; ngăn cách giữa lớp thứ 3 và 4 là các lỗ nhỏ giúp cho tinh dầu thẩm thấu qua dễ dàng; lớp thứ 4 là lớp bao trong cùng nó được cấu tạo có sự lồi lõm hình tròn và mềm mại có tác dụng mát xa da đầu tăng sự hấp thụ các tinh dầu đại bi và nhấn lên các huyệt đạo giúp thư giãn và làm điều hoà lưu thông các mạch máu nhằm làm giảm mệt mỏi căng thẳng, tăng cường máu lên não và giảm đau đầu nhanh chóng. (Có bản mô tả sản phẩm dự thi và hình vẽ kèm theo) PHẦN III: KẾT LUẬN 1. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI. Những người khi dùng lá đại bi sắc nước uống làm giảm được nguy cơ bệnh đau đầu và hạn chế được số lần bị đau đầu đáng kể. Ngoài ra việc sử dụng nước lá đại bi cũng như đắp lá đại bi lên đầu đã có tác dụng rõ rệt trong việc điều trị và làm giảm nhanh triệu chứng đau đầu. Như vậy đã hạn chế được việc lạm dụng thuốc giảm đau tràn lan mà nhiều người mắc phải. Bảo đảm sức khoẻ cộng đồng, tăng hiệu suất trong công việc cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống. Ý tưởng về mũ mát xa đầu được thực hiện có tính khả thi cao, dễ làm dễ sử dụng và rất tiện lợi. Đối với mũ mát xa đầu có thể dùng cho nhiều người nhất là những người làm việc văn phòng có thể để trong túi và sử dụng vào giờ giải lao khoảng 5 phút cũng làm giảm căng thẳng đau đầu trong những giờ làm việc giúp hiệu quả công việc được tốt hơn. 2. NHẬN ĐỊNH VỀ CÁCH ÁP DỤNG VÀ MỞ RỘNG Ý TƯỞNG Đề tài được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm thực tế cũng như ý tưởng sáng tạo của bản thân, nhưng vì là một người không phải chuyên môn thuộc lĩnh vực y học nên sẽ có rất nhiều điều thiếu sót, cũng như vấn đề đưa ra chưa thể giải quyết được một cách triệt để và sâu sắc. Bởi vậy tôi mong rằng từ những ý tưởng này các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu để biến ý tưởng thành công trình nghiên cứu thực sự và một sản phẩm độc dáo tiện lợi đáp ứng được nhu cầu của người dân và từ đó sẽ được áp dụng rộng rãi cho mọi người. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trong bài thi xin phép có sử dụng một số kiến thức chuyên môn đã được công bố để làm căn cứ cho ý tưởng sáng tạo có tính thuyết phục. 1.Các nguyên nhân của bệnh đau đầu. (otv.vn.com) 2.Tìm hiểu về thành phần hoá học của lá đại bi (text.123doc.org) 3.Các tài liệu chuyên ngành liên quan. BẢN MÔ TẢ Ý TƯỞNG, SẢN PHẨM DỰ THI A. THÔNG TIN CHUNG: 1. Tên sản phẩm: MŨ MÁT XA ĐẦU 2. Ngày tạo ra sản phẩm: Năm 2016 3. Thuộc lĩnh vực: Y HỌC 4. Người dự thi: Đoàn Thị Phương Nam. Sinh năm: 17-12-1981. Địa chỉ liên hệ: Xóm 3, xã Lạc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Số điện thoại: 0979954199E-mail: phuongnam1217@gmail.com B. PHẦN TÓM TẮT NỘI DUNG SẢN PHẨM: Tóm tắt những điểm chính yếu nhất của sản phẩm, bao gồm các nội dung sau: 1.Vấn đề sản phẩm giải quyết được: - Sản phẩm gọn, nhẹ, dễ sử dụng có thể sử dụng được nhiều nơi như ở nhà hay ở cơ quan lúc thư giãn hoặc giờ giải lao - Khi bị căng thẳng hoặc đau đầu thì có thể dùng mũ mát xa đầu thư giãn trong khoảng 5 phút thì sẽ hiệu quả nhanh chóng. 2.Mô tả tóm tắt nội dung của sản phẩm; Sản phẩm có hình thức giống một chiếc mũ gồm có bốn lớp: lớp vỏ ngoài cùng bảo vệ, lớp tiếp theo là màng tạo nhiệt có tác dụng giúp cho tinh dầu đại bi khuếch tán nhanh hơn và thẩm thấu tốt vào da đầu; lớp thứ ba có thể cho tinh dầu đại bi hoặc lá đại bi vào; ngăn cách giữa lớp thứ 3 và 4 là các lỗ nhỏ giúp cho tinh dầu thẩm thấu qua dễ dàng; lớp thứ 4 là lớp bao trong cùng nó được cấu tạo có sự lồi lõm hình tròn và mềm mại có tác dụng mát xa da đầu tăng sự hấp thụ các tinh dầu đại bi và nhấn lên các huyệt đạo giúp thư giãn và làm điều hoà lưu thông các mạch máu nhằm làm giảm mệt mỏi căng thẳng, tăng cường máu lên não và giảm đau đầu nhanh chóng. 3.Kết quả đạt được của sản phẩm; Nhờ có mũ mát xa đầu này có thể làm giảm căng thẳng mệt mỏi, giảm đau đầu và lại rất tiện dụng. 4.Khả năng áp dụng. Có thể áp dụng rộng rãi cho mọi người và trong nhiều hoàn cảnh và công việc khác nhau cũng có thể mang theo để sử dụng. C. PHẦN MÔ TẢ NỘI DUNG SẢN PHẨM: 1. Mục đích của sản phẩm dự thi: Tạo ra một sản phẩm tiện lợi để ứng dụng tính năng làm giảm và phòng tránh bệnh đau đầu của lá đại bi đã nghiên cứu ở trên. Giúp mọi người có thể thư giãn những khi làm việc căng thẳng nhất là những người làm văn phòng ngồi trước máy tính nhiều. 2. Giới thiệu sản phẩm dự thi: a. Ý tưởng sản phẩm: Sản phẩm được sáng tạo dựa trên công dụng ngăn ngừa bệnh đau đầu của lá đại bi Thực tiễn: có các loại máy mát xa chân, mát xa cơ thể thì tại sao lại không sản xuất ra máy mát xa đầu nhằm giảm những căng thẳng mệt mỏi trong cuộc sống và công việc hằng ngày. b. Nguyên tắc vận hành, hoạt động của sản phẩm: - Sản phẩm có hình thức giống một chiếc mũ gồm có bốn lớp: lớp vỏ ngoài cùng bảo vệ, lớp tiếp theo là màng tạo nhiệt có tác dụng giúp cho tinh dầu đại bi khuếch tán nhanh hơn và thẩm thấu tốt vào da đầu; lớp thứ ba có thể cho tinh dầu đại bi hoặc lá đại bi vào; ngăn cách giữa lớp thứ 3 và 4 là các lỗ nhỏ giúp cho tinh dầu thẩm thấu qua dễ dàng; lớp thứ 4 là lớp bao trong cùng nó được cấu tạo có sự lồi lõm hình tròn và mềm mại có tác dụng mát xa da đầu tăng sự hấp thụ các tinh dầu đại bi và nhấn lên các huyệt đạo giúp thư giãn và làm điều hoà lưu thông các mạch máu nhằm làm giảm mệt mỏi căng thẳng, tăng cường máu lên não và giảm đau đầu nhanh chóng. - Trên mũ có cấu tạo để lắp pin, có công tắc nhiệt điều chỉnh nhiệt độ phù hợp, công tắc điều khiển độ rung của lớp mát xa. - Khi ta đội mũ vào rồi thắt quai mũ, bật công tắc nhiệt tạo nhiệt độ phù hợp để tinh dầu đại bi khuếch tán, xoay công tắc điều chỉnh độ rung thích hợp nhằm mát xa nhẹ nhàng, khi đó các tinh dầu đại bi thẩm thấu tốt lên da đầu có tác dụng thư giãn và giảm cơn đau. - Khi không có tinh dầu đại bi ta cũng có thể thay bằng các tinh dầu khác như tinh dầu tràm hoặc tinh dầu hoa oải hương. c. Cách lắp ráp, lắp đặt sản phẩm: Sản phẩm được thiết kế giống mô hình sẽ dễ dàng cho việc sử dụng và rất tiện lợi. d. Nguyên vật liệu làm ra sản phẩm: Các nguyên liệu như: nhựa cao cấp, vải, một số các chi tiết khác lựa chọn phù hợp. 3. Đánh giá sản phẩm: a. Tính mới và tính sáng tạo: + Điểm sáng tạo: Sản phẩm mới có tính sáng tạo và đạt được những tác dụng lớn trong việc chữa và làm hạn chế bệnh đau đầu và cũng rất tiện ích. + Đánh giá: □Mới hoàn toàn so với những sản phẩm đã biết trước đây ở trong nước Có thể lý giải thêm: ……………….....………………………………………….…….…............…….. ……………….....………………………………………….…….…............……… b. Khả năng áp dụng: + Trình bày về khả năng áp dụng vào thực tiễn của sản phẩm: (Có thể áp dụng cho những đối tượng nào, ở địa phương nào …) Có thể áp dụng cho mọi người. + Đánh giá: (đánh dấu vào những ô thích hợp hoặc viết riêng) □ Áp dụng trong đời sống xã hội (giải quyết những vấn đề xã hội: y tế...) □ Có khả năng tiến tới sản xuất đại trà Có thể lý giải thêm: ……………….....………………………………………….…….…............……….. ……………….....………………………………………….…….…............……… c. Hiệu quả: (đánh dấu vào những ô thích hợp hoặc viết riêng) x. Dễ sử dụng, vận hành. x. Chi phí sản phẩm thấp, nguyên vật liệu dễ tìm. x. Sản phẩm có thể ứng dụng rộng rãi. Có thể lý giải thêm: ……………….....………………………………………….…….…............……….. ……………….....………………………………………….…….…............……… 4. Phụ lục minh hoạ: □ Bản vẽ, sơ đồ. Nghệ An, ngày 15 tháng 4 năm 2016 Tác giả Đoàn Thị Phương Nam
Xem thêm

22 Đọc thêm

Rau răm nên thuốc

RAU RĂM NÊN THUỐC

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Loại rau răm tươi, thân đỏ hơi ngả tím thường được dùng làm thuốc trị bệnh. Lá rau răm có tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm mát dễ chịu. Theo đông y, rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, kích thích tiêu hóa, sát trùng, tán hàn. Rau răm làm sáng mắt, ích trí, mạnh gân cốt, trị co gân (chuột rút), chữa dạ dày lạnh, đầy hơi, đau bụng, kém ăn, tiêu chảy. Rau này còn dùng chữa sốt, làm thuốc lợi tiểu, chống nôn, chữa bệnh ngoài da (hắc lào, sâu quảng), rắn cắn. Nhờ có vị cay, tính ấm, tiêu thực, kích thích tiêu hóa nên rau răm thường được dùng ăn cùng trứng vịt lộn, thịt bò, thịt gà, cháo trai, hến để giúp ngon miệng, làm ấm tì vị.   Rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, kích thích tiêu hóa, sát trùng, tán hàn (Ảnh: Internet) Tuy nhiên, ăn rau răm nhiều sinh nóng rét, giảm tinh khí, thương tổn đến tủy, suy yếu tình dục. Phụ nữ những ngày có kinh nguyệt không nên ăn rau răm vì dễ bị rong huyết. Rau răm không độc nhưng nếu dùng thường xuyên với số lượng nhiều sẽ làm giảm tình dục cả ở đàn ông lẫn đàn bà, phụ nữ có thể trở nên vô kinh. Do vậy, người tu hành thường sử dụng rau răm để tránh những cơn bốc dương. Dưới đây là các phương thuốc dân gian từ rau răm: - Mùa hè say nắng: Giã rau răm tươi, vắt cốt đun sôi uống. - Chữa kém ăn: Rau răm dùng theo gia vị hoặc sử dụng cả cây 10-20 g sắc uống sau bữa ăn. - Chữa đau bụng, đầy hơi, lạnh bụng, nôn mửa, say nắng, khát nước: Lấy nước ép rau răm tươi thân đỏ 25-30 ml/lần/ngày, uống 2 lần. - Chữa hắc lào, ghẻ lở, sâu quảng: Rau răm toàn cây ngâm rượu. Lấy rượu đó bôi hoặc giã nát xát, còn bã đắp rồi băng lại. - Chữa bỗng dưng đau tim không chịu nổi: Dùng rễ rau răm 50 g sắc rồi chế thêm một chén rượu vào uống, mỗi lần 1 chén. - Chữa tê bại, vết thương bầm tím sưng đau: Rau răm tươi giã nát trộn với long não hoặc dầu long não, xoa hoặc băng vào các nơi tê đau. - Chữa rắn cắn: Rau răm dùng tươi cả cây nhai nuốt (hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống), lấy lá đắp vào vết thương. Có thể lấy 20 ngọn rau răm tươi giã nát, vắt nước uống, bã đắp vết cắn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

PGS TS NGTHINGOCLAN DIEUTRIDAU

PGS TS NGTHINGOCLAN DIEUTRIDAU

ĐAU CỘT SỐNG THẮT LƯNGCHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊPGS.TS.BS. NGUYỄN THỊ NGỌC LANTRƯỞNG KHOA CƠ XƯƠNG KHỚP - BỆNH VIỆN BẠCH MAIGIẢNG VIÊN CAO CẤP- BỘ MÔN NỘI TỔNG HỢP - ĐẠI HỌC Y HÀ NỘINỘI DUNGĐAU CỘT SỐNG THẮT LƯNG1. ĐẠI CƯƠNG2. CHẨN ĐOAN3. ĐIỀU TRỊ4. TãM T¾T (Take-Home Message)TỶ LỆ ĐAU CỘT SỐNG THẮT LƯNGTỷ lệ đau cột sống thắt lưng trong nhân dân (1990)• 6,8% ở Bắc Mỹ, 12% ở Thụy Điển,• 13,7% ở Đan Mạch - 14% ở Vương quốc Anh,• 28,4% ở Canada,- và 33% ở BỉLoney P, Stratford P: The prevalence of low back pain in adults: Amethodological review of the literature. Physical Therapy 1999, 79(4):384396TỶ LỆ ĐAU CỘT SỐNG THẮT LƯNG NGÀY CÀNG GIA TĂNGMỹ: 1992: 3.9%2006: 10.2%(Pauline Anderson- Dec 19, 2012 Medscape Medical News - NeurologyHẬU QUẢ CỦA ĐAU CỘT SỐNG THẮT LƯNG
Xem thêm

70 Đọc thêm

Tráng dương nhờ trâu cổ

TRÁNG DƯƠNG NHỜ TRÂU CỔ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trâu cổ còn có tên khác là xộp, vẩy ốc, được trồng làm cảnh hoặc che mát. Bộ phận dùng làm thuốc là quả (còn gọi bị lệ thực, lương phấn quả, vương bất lưu hành); cành mang lá, quả non phơi khô (bị lệ lạc thạch đằng). Theo Đông y, quả có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tráng dương, cố tinh, lợi thấp, thông sữa. Thân và rễ vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, hoạt huyết, giải độc. Lá có vị hơi chua chát, tính mát, có tác dụng tiêu thũng giải độc.  Quả trâu cổ được dùng làm thuốc bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, kinh nguyệt không đều, viêm tinh hoàn, phong thấp, ung thũng, thoát giang (lòi dom), tắc tia sữa và đái ra dưỡng chấp. Thân và rễ dùng chữa phong thấp tê mỏi, sang độc ung nhọt. Lá chữa viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, đinh sang ngứa lở. Trâu cổ có tác dụng bổ khí huyết nên nhiều người dùng thay vị hoàng kỳ trong một số đơn thuốc.   Các bộ phận của cây trâu cổ đều được dùng làm thuốc trong Đông y Rượu bổ chữa di tinh liệt dương: cành và lá, quả non phơi khô 100g, đậu đen 50g. Xay thô 2 thứ và ngâm trong 250ml rượu trắng, ngâm 10 ngày, ngày uống 10 - 30ml. Thuốc sắc: vương bất lưu hành (quả trâu cổ) 12g, dây sàn sạt 12g. Sắc uống. Chữa di tinh liệt dương. Cao quả trâu cổ: quả chín thái nhỏ, nấu với nước, lọc bỏ bã, cô thành cao. Ngày uống 5 - 10g. Dùng chữa đau xương, đau người ở người già, làm thuốc bổ, điều kinh, giúp tiêu hóa. Chữa thấp khớp mạn tính: cành lá trâu cổ 20g, rễ cỏ xước 20g, phục linh 20g, rễ tầm xuân 20g, dây rung rúc 12g, thiên niên kiện 10g, rễ gấc 10g, lá lốt 10g, dây đau xương 10g, tang chi 10g. Sắc 2 lần, lấy khoảng 400ml, sau cô lại cho thật đặc. Hòa với rượu chia uống 3 lần trong ngày. Thanh nhiệt, giải khát: lấy quả chín, rửa sạch, giã nát hay xay nghiền bằng máy, cho vào túi vải, ép lấy nước. Nước để yên sẽ đông lại như thạch; thái dạng sợi, cho thêm đường, nước đá và hương liệu. Thuốc đắp: quả trâu cổ 40g, bồ công anh 15g, lá mua 15g. Sắc uống. Chữa tắc tia sữa, sưng vú, ít sữa. Kết hợp dùng: lấy lá bồ công anh giã nhỏ, cho ít dấm, chưng nóng chườm hay đắp ngoài.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Ý NGHĨA NHAN ĐỀ “THUỐC” LỖ TẤN

Ý NGHĨA NHAN ĐỀ “THUỐC” LỖ TẤN

Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao.Nhan đề này có nhiều nghĩa . -Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh , chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người . Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực , con cái dẫn đến cái chết của ông cụ. -Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn , đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần : căn bệnh gia trưởng , căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc . Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó . Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác .Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc , không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. -Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc , của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ . Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân . Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc , là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước ,cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng. Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại : nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu” loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Giáo trình dược lý học học viện y dược học cổ truyền việt nam

GIÁO TRÌNH DƯỢC LÝ HỌC HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Khái niệm về dược lý học Dược lý học đại cương Thuốc tác dụng trên thần kinh thực vật Thuốc tê Thuốc giãn cơ trung ương Thuốc ngủ rượu Thuốc giảm đau – gây ngủ Thuốc an thần Thuốc chữa động kinh Thuốc hạ sốt – giảm đau – chống viêm Thuốc chũa goute Thuốc kháng sinh Sulfamid Thuốc chữa lao Thuốc chữa phong Thuốc chống sốt rét Thuốc chống giun sán Thuốc chống amip Thuốc sát khuẩn – tẩy uế Thuốc trợ tim Thuốc chữa tăng huyết áp Thuốc chữa cơn đau thắt ngực Thuốc lợi niệu Thuốc điều chỉnh rối loạn tiêu hóa Thuốc điều chỉnh rối loạn hô hấp Thuốc chữa thiếu máu Thuốc tác dụng trên quá trình đông máu và tiêu fibrin Thuốc hạ glucose máu Thuốc hạ lipid máu Hormon và thuốc điều chỉnh rối loạn hormon Thuốc viên tránh thai Histamin và thuốc kháng histamin Vitamin Các điện giải chính Điều trị ngộ độc thuốc cấp tính Thuốc chống ung thư
Xem thêm

405 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CÂY LẠC TÂN PHỤ (ASTILBE RIVULARIS BUCH.-HAM. EX D. DON), HỌ SAXIFRAGACEAE

NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CÂY LẠC TÂN PHỤ (ASTILBE RIVULARIS BUCH.-HAM. EX D. DON), HỌ SAXIFRAGACEAE

ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Lạc tân phụ có tên khoa học là Astilbe rivularis Buch.-Ham. ex D. Don, thuộc họ Thường sơn hay Cỏ tai hổ (Saxifragaceae) [1],[9],[129]. Cây này phân bố ở Ấn Độ, Pakistan, Bhutan, Nepal, Thái Lan, Lào, Indonesia, Myanmar, nam Trung Quốc và Việt Nam [1],[9],[72],[89],[129],[144]. Theo kinh nghiệm dân gian của một số dân tộc ở châu Á (Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc): thân rễ, rễ của cây Lạc tân phụ được sử dụng làm thuốc chữa các chứng bệnh phong tê thấp nhức mỏi, chứng ngã sưng đau. Ngoài ra còn dùng chữa viêm dạ dày mạn tính, nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, lị, tiêu chảy, sa tử cung, chảy máu, vô sinh, thuốc bổ trong trường hợp cơ thể suy nhược, rối loạn kinh nguyệt,…[5],[34],[43],[51],[72],[89],[126],[142]. Toàn cây chữa viêm khớp, trúng gió, đau lưng, bong gân, sưng cơ [63],[68],[71-72], lá dùng làm sạch máu [70]. Ở Việt Nam, chi Astilbe mới biết có một loài duy nhất là A. rivularis, mọc hoang dại ở Lào Cai và một vài tỉnh Tây Bắc [1],[9],[18]. Người dân tộc vùng cao ở các tỉnh Lào Cai (Sa Pa) và Lai Châu cũng dùng rễ, thân rễ cây thuốc này để chữa các chứng bệnh đau nhức xương khớp, chứng ngã sưng đau,... Mặc dù vậy cho đến nay, ở nước ta chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về dược học, cũng như về thành phần hóa học của cây Lạc tân phụ. Mặt khác, việc sử dụng cây thuốc này theo kinh nghiệm dân gian để chữa các chứng bệnh trên cũng chưa được nghiên cứu chứng minh. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Nghiên cứu về thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Lạc tân phụ (Astilbe rivularis Buch.-Ham. ex D. Don, họ Saxifragaceae)” làm luận án tiến sĩ Dược học, chuyên ngành Dược học cổ truyền, với 3 mục tiêu sau: 1. Về thực vật học: Xác định tên khoa học, các đặc điểm hình thái quan trọng, khẳng định “tính đúng” của đối tượng nghiên cứu (Astilbe rivularis). 2. Về thành phần hóa học: Định tính, phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ phần trên mặt đất và dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. 3. Về tác dụng sinh học: Xác định độc tính cấp và một số tác dụng sinh học của cao chiết và một số hợp chất phân lập được từ phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. Để đạt 3 mục tiêu trên, Đề tài được tiến hành các nội dung sau:  Về thực vật - Mô tả đặc điểm thực vật, phân tích hoa, quả, hạt và xác định tên khoa học của mẫu nghiên cứu. - Xác định đặc điểm giải phẫu lá, thân, thân rễ, rễ của cây Lạc tân phụ.  Về hóa học - Định tính các nhóm chất hóa học có trong phần trên mặt đất và dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Chiết xuất, phân lập và nhận dạng cấu trúc một số hợp chất phân lập được từ phần trên mặt đất và dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ.  Về tác dụng sinh học - Xác định độc tính cấp cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Đánh giá tác dụng chống oxy hóa: khả năng dọn gốc tự do DPPH và dọn gốc tự do superoxyd (O 2 - ) của cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Xác định hoạt tính ức chế hoạt động enzym xanthin oxidase của cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Đánh giá tác dụng chống viêm cấp, viêm mạn; tác dụng giảm đau của cao chiết phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ. - Thử tác dụng làm tăng cường hấp thu glucose của một số hợp chất phân lập được từ phần dưới mặt đất của cây Lạc tân phụ.
Xem thêm

272 Đọc thêm

Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng với cây đại ngải

CHỮA CẢM MẠO, HO, SỐT NÓNG VỚI CÂY ĐẠI NGẢI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cây đại ngải còn có tên khác là đại bi, từ bi xanh, bơ nạt, người Tày gọi là phặc phả, người Thái gọi là co nát. Là loại cây nhỏ, cao khoảng 1 - 3m, thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lông. Lá mọc so le, phiến lá có lông, mép có răng cưa hay nguyên. Cụm hoa hình ngù ở nách lá hay ở ngọn, gồm nhiều đầu, trong mỗi đầu có nhiều hoa màu vàng. Quả bế có lông. Cây ra hoa tháng 3 - 5, có quả tháng 7 - 8. Toàn cây có lông mềm và tinh dầu thơm. Cây mọc hoang khắp nơi, nhiều nhất ở trung du và miền núi. Thu hái toàn cây vào mùa hạ và mùa thu, dùng tươi, hoặc phơi hay sấy khô. Theo y học cổ truyền, cây đại ngải có vị cay và đắng, mùi thơm nóng, tính ấm; có tác dụng khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ. Có công dụng trị thấp khớp, đòn ngã tổn thương, sản hậu đau lưng; đau bụng sau khi sinh, đau bụng kinh; cảm mạo,... Dùng ngoài chữa chấn thương, mụn nhọt, ghẻ ngứa, lấy lá giã đắp hoặc nấu nước tắm. Có thể làm thuốc ngâm rượu để xoa bóp chỗ đau. Một số bài thuốc thường dùng: Bài 1: Chữa ho do cảm mạo: Lá đại ngải 200g, củ sả 100g, trần bì 50g, lá chanh 50g, rễ thủy xương bồ 100g, rễ cà gai leo 100g. Tất cả rửa sạch, phơi khô, cắt nhỏ cho vào ấm đổ nước ngập sắc còn khoảng 200ml, cho nước thuốc ra, đổ thêm 300ml nước sắc còn 200ml, trộn lẫn 2 lần nước thuốc. Ngày uống 40ml, chia làm  3 lần, uống thuốc còn ấm.  Dùng liền 5 ngày.   Cây đại ngải Bài 2: Chữa đầy bụng, khó tiêu do thức ăn sống, lạnh: Lá đại ngải 30g tươi sắc với 500ml nước chia 2 lần uống trong ngày, uống 3 ngày. Bài 3: Hỗ trợ điều trị thấp khớp: Đại ngải (thân, rễ) khô 20g, thiên niên kiện 20g, ké đầu ngựa 10g, bạch chỉ 20g. Tất cả đổ 700ml nước sắc còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng 10 - 15 ngày. Bài 4: Ðau bụng kinh: Rễ đại ngải 30g, ích mẫu 15g, sắc uống. Đổ 800ml nước sắc còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày, uống trước chu kỳ kinh 10 ngày. Dùng liền 5 ngày. Bài 5: Chữa ghẻ nước: Lá đại ngải tươi, lá hồng bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt đặc bôi. Bài 6: Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng: Dùng 5 -12g lá đại ngải  tươi nấu nước uống. Có thể nấu nước xông cho ra mồ hôi, dùng riêng hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu như lá sả, bưởi, cam, tre... mỗi thứ một nắm cho vào nồi đổ ngập nước đun sôi để xông. Xông ở nơi kín gió trước, trong và sau khi xông phải lau khô mồ hôi… Có thể xông từ 2 - 3 lần trong 1 tuần khi dứt cảm cúm có sốt nhẹ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHỮA MỤN NHỌT SƯNG TẤY VỚI CÂY HOA GẠO

CHỮA MỤN NHỌT SƯNG TẤY VỚI CÂY HOA GẠO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cây hoa gạo rất quen thuộc đối với người dân nước ta, còn được gọi là mộc miên, cổ bối, ban chi hoa,… Là loại cây cao tới 15m hoặc hơn, cành mọc ngang với những gai hình nón, lá kép chân vịt với 5 - 8 lá chét hình mác hay hình trứng, dài chừng 9 - 15, rộng 4 - 5cm. Các bộ phận của cây như hoa, vỏ thân và rễ đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Theo Đông y, toàn bộ cây hoa gạo đều được sử dụng làm thuốc, vỏ cây gạo vị cay, tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết tiêu thũng… Hoa gạo vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc chỉ huyết; rễ gạo vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, chỉ huyết… Một số bài thuốc theo kinh nghiệm: Bài 1: Chữa suy nhược cơ thể do lao động nặng: Hoa gạo 500g, bí đao 500g, các vị thái nhỏ sao vàng hạ thổ, sắc với 2 lít nước  cho nhỏ lửa còn 800ml,  chia 4 lần, uống trong ngày, uống trước bữa ăn 30 phút. Bài 2: Chữa  đau lưng và đau gối mạn tính: Rễ gạo 60g, rửa sạch cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc còn 250ml nước chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 10 ngày. Bài 3: Sưng nề do chấn thương: Vỏ thân hoặc rễ cây gạo ngâm rượu xoa ngoài hoặc giã nát đắp vào vị trí tổn thương. Có thể dùng vỏ thân cây gạo 100g. Vỏ gạo cạo bỏ vỏ ngoài, băm nhỏ, giã nát, dùng dấm thanh và rượu cho vào sao rồi chườm hoặc đắp vào vết thương khi còn nóng.   Theo Đông y, toàn bộ cây hoa gạo đều được sử dụng làm thuốc (Ảnh: Internet) Bài 4: Chữa bong gân: Vỏ thân cây gạo, lá náng rửa sạch, giã nhuyễn, băng vào  tổn thương, ngày 2 lần. Hoặc vỏ cây gạo 16g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt 16g (sao vàng), sắc với 750ml nước, đun nhỏ lửa còn 250ml, chia uống 2 lần trong ngày, uống liền 3 ngày. Bài 5: Chữa ho có đờm do phế nhiệt: Hoa gạo 15g, rau diếp cá 15g, tang bạch bì 10g sắc với 750ml nước, đun nhỏ lửa còn  250ml, chia uống 2 lần trong ngày, dùng liền 5 ngày. Bài 6: Chữa rối loạn tiêu hóa do ăn đồ sống lạnh: Hoa gạo 30g, rửa sạch đổ 550ml nước đun nhỏ lửa, sắc kỹ còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày. Hoặc hoa gạo 15g, kim ngân hoa 15g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 15g rửa sạch đổ 550ml nước đun nhỏ lửa, sắc kỹ còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Bài 7: Chữa đau răng: Vỏ thân cây gạo 20g sắc đặc, ngậm nhiều lần trong ngày. Bài 8: Chữa mụn nhọt sưng tấy: Lấy hoa gạo tươi, giã nát đắp vào nơi có mụn nhọt đang sưng tấy. Ngày đắp 1 - 2 lần sẽ hết đau nhức, chóng khỏi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TRÁNH XA 10 LOẠI THUỐC ''''ĐẦU ĐỘC'''' THAI NHI

TRÁNH XA 10 LOẠI THUỐC ''''ĐẦU ĐỘC'''' THAI NHI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi mang bầu, chắc chắn mẹ đã được nhắc nhở là không được sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi. Tuy nhiên, khi mẹ mắc bệnh, cảm giác ốm yếu, mệt mỏi khiến mẹ vội tìm đến các loại thuốc mà quên đi sự an toàn của con. Trên thực tế, bà bầu vẫn có thể sử dụng thuốc nhưng đó là sau tuần thứ 8 thai kỳ và được sự cho phép của bác sĩ. Trong những tháng đầu mang thai, khi thai nhi bắt đầu hình thành tim, phổi, não… thì việc uống thuốc bừa bãi có thể khiến thai nhi bị dị tật. Dưới đây là top 10 loại thuốc mẹ không nên sử dụng trong suốt 9 tháng mang thai: Thuốc kháng dị ứng Hầu hết các loại thuốc kháng histamine - loại thuốc được sử dụng phổ biến trong điều trị dị ứng hiện nay - mẹ bầu nên tránh. Nếu mẹ đang bị dị ứng, hãy cố gắng sử dụng các phương pháp dân gian, vệ sinh cơ thể sạch sẽ, ở trong phòng điều hòa… để ngăn ngừa nguy cơ lây lan. Việc sử dụng thuốc kháng histamine có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hình thành và phát triển của thai nhi. Thuốc thông mũi Nghẹt mũi là căn bệnh thường thấy trong thai kỳ nhưng các loại thuốc chữa căn bệnh này đều không an toàn cho thai kỳ. Khi mẹ bị bệnh, hãy thử sử dụng nước muối sinh lý để vệ sinh và tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Thuốc kháng nấm Nấm là vấn đề thường gặp ở những phụ nữ mang thai, nhưng các chuyên gia khuyên bà bầu không nên dùng các loại thuốc kháng nấm khi không có sự chỉ định bác sĩ. Thuốc giảm đau Nếu đang bị đau đầu trong thai kỳ, mẹ không nên sử dụng bừa bãi các loại thuốc giảm đau như aspirin, acetaminophen và ibuprofen. Mẹ hãy cố gắng tìm các biện pháp thay thế như bấm huyệt, massage.   Nếu đang bị đau đầu trong thai kỳ, mẹ không nên sử dụng bừa bãi các loại thuốc giảm đau như aspirin, acetaminophen và ibuprofen. (ảnh minh họa) Thuốc trị mụn Hầu hết các loại thuốc trị mụn như Accutane và Retin-A không an toàn cho thai kỳ. Cách tốt nhất là mẹ nên đắp mặt nạ tự nhiên và chăm sóc da bằng mỹ phẩm tự nhiên, sẽ an toàn cho em bé hơn. Thuốc kháng sinh Hầu như không có loại kháng sinh nào an toàn cho thai phụ đặc biệt là các dòng Tetracycline và streptomycin. Trong trường hợp không còn cách chữa trị nào khác, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để tìm ra phương pháp điều trị tốt nhất. Thuốc an thần Các loại thuốc an thần như Librium và Valium có thành phần được cho là sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi, khiến em bé dễ bị dị tật. Thuốc chống co giật Một số loại thuốc chống co giật như Diazepam hoặc Clonazepam là cấm kỵ trong thai kỳ. Nếu bạn cần sử dụng loại thuốc này, phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Thuốc chống trầm cảm Thuốc chống trầm cảm có chứa thành phần ức chế MAO như Isocarboazid hoặc phenelzine không hề an toàn cho thai kỳ. Mẹ cũng cần biết rằng, trầm cảm khá phổ biến trong thai kỳ, vì vậy khi có dấu hiệu cần tham khảo ý kiến chuyên gia. Thảo dược Thảo dược có nguồn gốc từ thiên nhiên từng được cho là an toàn cho bà bầu thế nhưng có rất nhiều loại có thể gây nguy hiểm cho chị em. Một số loại thảo dược phổ biến mẹ nên tránh trong thai kỳ là: lô hội, quế, nhân sâm, hương thảo…
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI THUỐC TRỊ BỆNH NHA CHU VIÊM

BÀI THUỐC TRỊ BỆNH NHA CHU VIÊM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nha chu viêm là chứng bệnh với triệu chứng: sưng đau răng lợi, chân răng bị sưng làm mủ, miệng hôi, bản thân răng cũng bị hủy hoại hoặc bị ăn mòn, đen xám, dễ mẻ vỡ tự nhiên làm cho lợi và răng không bám vào nhau làm lung lay nghiêng ngả. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh tiến triển có thể đưa đến mất răng. Nguyên nhân gây bệnh là do vị hỏa tích kết hợp với phong nhiệt gây nên bệnh cấp tính thuộc chứng thực. Bệnh lâu ngày làm vị âm hư và thận âm hư, tân dịch suy giảm gây hư hỏa bốc lên thành bệnh mạn tính thuộc chứng hư. Sau đây là một số bài thuốc theo từng thể.   Thể cấp tính Chân răng đỏ sưng đau, ấn mạnh có thể ra mủ; nếu đau nặng có thể gây sốt, ăn kém, táo bón, có hạch ở dưới hàm. Phương pháp chữa: Sơ phong thanh nhiệt, tiêu thũng. Dùng một trong các bài: Bài 1: Ngưu bàng giải cơ thang gia giảm: ngưu bàng 12g, bạc hà 6g, hạ khô thảo 12g, xích thược 8g, sơn chi 12g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, tạo giác thích 20g, xuyên sơn giáp 6g. Sắc uống.   Ngưu bàng là vị thuốc trị nha chu viêm thể cấp tính (Ảnh: Internet) Bài 2: ngưu bàng tử 12g, bạc hà 8g, hạ khô thảo 16g, kim ngân hoa 16g, bồ công anh 20g, tạo giác thích 8g. Sắc uống. Bài 3: Thuốc dùng tại chỗ: Thuốc cam xanh: thanh đại 0,39g, ngũ bội tử 0,1g, bạch phàn 0,1g, mai hoa băng phiến vừa đủ 0,6g. Mỗi lần dùng 0,05g - 0,1g. Súc miệng sạch, dùng tăm bông chấm thuốc, bôi đều lên chỗ đau; giữ thuốc tại chỗ đau càng lâu càng tốt (bôi thuốc sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ). Kết hợp day bấm các huyệt: giáp xa, hạ quan, hợp cốc, nội đình. Thể mạn tính Chân răng đỏ, viêm ít, có mủ ở chân răng, đau ít, răng lung lay, miệng hôi, họng khô, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế sác. Phương pháp chữa: Dưỡng âm thanh nhiệt. Dùng một trong các bài: Bài 1: sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sa sâm 12g, quy bản 12g, bạch thược 8g, kỷ tử 12g, kim ngân hoa 16g, ngọc trúc 12g. Sắc uống. Bài 2: Trị nha tiên đơn: sinh địa 32g, hoàng liên 3g, chi tử 8g, thạch cao 20g, tri mẫu 6g, hoàng cầm 6g, thục địa 32g, huyền sâm 32g. Sắc uống. Kết hợp day bấm các huyệt giáp xa, hạ quan, hợp cốc, túc tam lý, thận du, thái khê, nội đình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Triệu chứng và các biện pháp điều trị bệnh zona thần kinh

TRIỆU CHỨNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH ZONA THẦN KINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chưa biết được chính xác nguyên nhân vì sao virus thủy đậu lại có thể tái hoạt động và gây ra bệnh zona. Một vài khả năng có thể xảy ra là: - Stress - Mệt mỏi - Hệ miễn dịch suy yếu (có thể là do tuổi tác, bệnh tật, thuốc men làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể để có thể giữ được virus thủy đậu trong trạng thái bất hoạt). - Ung thư - Các biện pháp điều trị bằng tia xạ - Làm tổn thương vùng da bị nổi ban Triệu chứng Ban đầu các chỗ phát bệnh thường đỏ sau đó chuyển thành những mảng mụn nước với cảm giác ngứa, nóng rát. Khoảng hai đến bốn tuần sau thì lành da. Bệnh zona có thể xảy ra bất cứ nơi nào trên cơ thể Các triệu chứng đầu tiên của bệnh zona xuất hiện 1-5 ngày trước khi phát ban. Ban đầu bệnh nhân có thể bị ngứa, ngứa râm ran, đau ở chỗ phát bệnh, về sau bệnh phát triển người bệnh cảm thấy sốt, ớn lạnh, đau đầu, khó chịu ở dạ dày.    Bệnh zona có thể xảy ra bất cứ nơi nào trên cơ thể Sự lây truyền Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thuỷ đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thuỷ đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác. Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa. Các biến chứng của bệnh Thường thì bệnh zona được chữa khỏi. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, mụn nước có thể bị nhiễm thêm một loại vi trùng sẽ gây ra viêm mô tế bào, đây là bệnh nhiễm trùng da. Nếu nhiễm trùng da xảy ra, vùng da trở nên đỏ hơn, nóng, sưng bóng lên và rất đau. Bạn cũng có thể thấy vệt màu đỏ xung quanh vết thương. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào trong số đó, bạn hãy liên hệ đến bác sĩ của bạn để được chăm sóc. Kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị trong những trường hợp này. Một biến chứng nữa cũng làm cho người bệnh lo lắng là khi bị zona ở mặt, đặc biệt ở trán và mũi. Trong những trường hợp này, zona có thể làm giảm thị lực. Nếu bạn bị zona ở trán hay ở mũi thì bạn cũng cần được chăm sóc y tế. Điều trị: Thuốc kháng virus Trong khi không có cách chữa bệnh zona, thuốc kháng virus có thể làm giảm sự tấn công của chúng. Điều trị kịp thời có thể làm cho quá trình phát triển của bệnh ngắn hơn và nhẹ hơn. Không những thế còn giảm một nửa nguy cơ mắc chứng đau thần kinh sau zona. Các bác sĩ khuyên bạn nên bắt đầu sử dụng thuốc kháng virus theo toa, khi có dấu hiệu đầu tiên của một phát ban bệnh zona. Thuốc hỗ trợ Thuốc giảm đau không cần kê toa và các loại kem chống ngứa như calamine, có thể làm giảm đau và ngứa zona. Nếu cơn đau nặng hoặc phát ban tập trung gần mắt hoặc tai, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay lập tức. Thuốc bổ sung, chẳng hạn như corticosteroid, có thể được quy định để giảm viêm. Chăm sóc tại nhà Để giúp các mụn nước nhanh khô, hãy đặt một khăn ướt lên chỗ phát ban, tập thể dục nhẹ nhàng hoặc tham gia một hoạt động yêu thích để làm cho bạn quên đi sự khó chịu của bệnh zona.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cải bắp - thuốc trị loét dạ dày hiệu quả

CẢI BẮP - THUỐC TRỊ LOÉT DẠ DÀY HIỆU QUẢ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cải bắp có nhiều loại: cải bắp trắng, cải bắp đỏ, su hào, cải hoa… Đây là loại rau rẻ tiền, dễ mua, dễ kiếm, thường được chế biến thành các món luộc, xào, nấu canh, trộn gỏi, muối dưa… và còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh trong y học cổ truyền. Giá trị dinh dưỡng và dược tính Cải bắp, bắp cải hay sú, tên khoa học là Brassica oleracea L.var.capitata L, thuộc họ cải (Brassicaceae), là loại rau ôn đới được nhập vào trồng ở nước ta từ lâu tại một số tỉnh phía Bắc – Đà Lạt, các huyện ngoại thành TP.HCM và vùng đồng bằng sông Cửu Long… Người ta đã xác định trong cải bắp tươi có: 90g% nước, 1,8g% protid, 5,4g% glucid, 1,6g% cellulose, 1,2g% chất trơ. Cải bắp cũng giàu về muối khoáng, nhất là canxi (48mg%), phốtpho (31mg%). Lượng vitamin C trong cải bắp chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần càrốt; 3,6 lần khoai tây, hành tây! Cải bắp được dùng làm thuốc ở châu Âu từ thời thượng cổ. Ngày nay người ta biết nhiều hơn về tác dụng chữa bệnh của loại rau này như: có thể dùng làm thuốc trị giun; đắp ngoài làm thuốc tẩy uế và làm liền sẹo các vết thương, mụn nhọt, các vết thương ác tính, đồng thời là loại thuốc trị sâu bọ tốt (ong, nhện…) Nó còn được dùng làm thuốc giảm đau trong bệnh thấp khớp, thống phong, đau thần kinh hông (lấy lá cải bắp ủi cho mềm, sau đó đắp lên các phần bị đau); giúp làm sạch đường hô hấp bằng cách dùng đắp (trị viêm họng khàn tiếng), hoặc uống trong (chữa ho, viêm sưng phổi). Cải bắp cũng là thuốc chống hoại huyết, trị lỵ và là nguồn cung cấp lưu huỳnh cho cơ thể. Nước sắc bắp cải dùng để lọc máu. Đặc biệt cải bắp còn là vị thuốc chống kích thích thần kinh và chứng mất ngủ rất tốt. Những người hay lo âu, học sinh sắp đi thi, người bị suy nhược thần kinh, mệt mỏi liên miên nên dùng cải bắp thường xuyên.   Nếu dùng tươi, vitamin U trong cải bắp có tác dụng chữa loét dạ dày. Nước cải bắp giúp khoẻ dạ dày Người ta còn sử dụng cải bắp để chữa đau dạ dày, xuất phát từ thông tin vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày – tá tràng, viêm dạ dày – ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị huỷ ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này. Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 – 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 – 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 - 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng 2 tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm. Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụng chữa bệnh như cải bắp. Theo GS.TS Võ Văn Chi, Chuyên gia cây thuốc Việt Nam, nguyên giảng viên đại học Y dược TP.HCM.
Xem thêm

1 Đọc thêm

TOA THUỐC TRỊ BỆNH ĐAU THẦN KINH TỌA

TOA THUỐC TRỊ BỆNH ĐAU THẦN KINH TỌA

Thuốc ngâm rượu trị bệnh thần kinh tọa. Căn bệnh này hay gặp ở lứa tuổi 3060, nhất là những người lao động chân tay nặng nhọc. Các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, balê, cử tạ... làm tăng nguy cơ xuất hiện và tái chứng đau thần kinh tọa. Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Dây thần kinh tọa chi phối các động tác của chân, góp phần làm nên các động tác đi lại, đứng ngồi của hai chân.
Xem thêm

2 Đọc thêm