NHỜ TÀI VĂN CHƯƠNG NGUYỄN HỮU DẬT ĐƯỢC THOÁT NẠN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NHỜ TÀI VĂN CHƯƠNG NGUYỄN HỮU DẬT ĐƯỢC THOÁT NẠN":

Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 7 - Văn nghị luận (Lớp 8)

SOẠN BÀI: VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 7 - VĂN NGHỊ LUẬN (LỚP 8)

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 7 – VĂN NGHỊ LUẬN (làm tại lớp) I. ĐỀ BÀI THAM KHẢO Đề 1: Tuổi trẻ là tương lai của đất nước. Đề 2: Văn học và tình thương. Đề 3: Hãy nó không với các tệ nạn. II. GỢI Ý DÀN BÀI Đề 1: a) Mở bài. Dẫn dắt vào đề bằng lời dạy của Bác Hồ. Nêu vai trò của tuổi trẻ với tương lai đất nước. b) Thân bài. - Tại sao nói “Tuổi trẻ là tương lai đất nước”? + Tuổi trẻ bao giờ cũng dồi dào sức khoẻ, có đủ nhiệt tình để cống hiến cho quê hương, đất nước. + Tuổi trẻ không bao giờ thiếu ước mơ và sự sáng tạo. + Có nhiệt huyết, sự táo bạo và sẵn sàng dấn thân để đến những nơi khó khăn và làm những việc khó. - Tuổi trẻ nước ta trong quá khứ đã cống hiến cho đất nước như thế nào? (kể về một số tấm gương mà em biết, như: Trạng Hiền, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Bá Khánh Trình,…). - Tuổi trẻ hôm nay cần làm gì để cống hiến cho đất nước? + Ra sức học tập. + Tham gia tích cực các hoạt động xã hội. + Thi đua lập thành tích trong mọi lĩnh vực của đời sống. + Chủ động tiếp nhận và gánh vác dần những công việc của thế hệ trước. … - Tuổi trẻ cũng cần khắc phục nhược điểm không có lợi cho bản thân và tương lai của đất nước (sự bồng bột, thói ỷ lại, thó ăn chơi sa đoạ,…). c) Kết bài. Tuổi trẻ phải ước mơ, phải khát khao cống hiến. Có như vậy, cuộc sống mới dồi dào ý nghĩa. Đề 2: a) Mở bài. Mối quan hệ giữa văn học và tình thương trong lịch sử văn học. b) Thân bài. - Tại sao văn học luôn gắn bó với tình thương? + Vì văn học là tâm hồn dân tộc. + Một trong những vẻ đẹp nhất của tâm hồn dân tộc ấy là tình thương yêu nhân loại. - Văn học gắn bó với tình thương như thế nào? + Văn học nói lên nỗi đau khổ của mọi kiếp người. + Văn học nói lên sự cảm thông đối với nỗi đau của họ và gợi tình thương yêu trong mỗi tâm hồn người đọc. + Văn học bồi dưỡng, làm đẹp tâm hồn con người. c) Kết bài. Tình yêu thương đã trở thành một phẩm chất và là thước đo cao quý của văn học. Nó cứu vớt, dìu dắt, nâng niu con người trong hiện tại và trên đường đến tương lai. Đề 3: a) Mở bài. - Những tệ nạ xã hội nào hiện đang rình rập và làm hại tới giới trẻ và tương lai của đất nước? - Thái độ của giới trẻ ra sao? b) Thân bài. - Tuổi trẻ hiện nay thường mắc vào các loại tệ nạn như thế nào? - Tác hại của các tệ nạn đối với mỗi cá nhân và xã hội? + Thiệt hại về vật chất. + Làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. + Bản thân mỗi cá nhân mất sức sản xuất. + Trở thành nỗi lo của xã hội. + Làm gia tăng các loại tệ nạn khác. … - Nhận thức của giới trẻ với các tệ nạn ra sao? + Còn mơ hồ. + Coi thường, thờ ơ, sống buông thả,… - Cần phải nhận thức vấn đề này ra sao? + Đây là một trong những con đường nhanh nhất làm phá tan mọi điều tốt đẹp nhất của mỗi con người. + Cần nhận thức đúng đắn, đồng thời góp ý, chỉ bảo mọi người cùng nhau “Nói không với các tệ nạn xã hội”. c) Kết bài. Khẳng định sự nguy hiểm của các tệ nạn. Đồng thời khẳng định quyết tâm tiêu trừ nó. Tham khảo một số bài viết: 1. Luận về nguyên lý văn chương Phàm việc gì cũng có nguyên lý. Nguyên lý tức là cái lẽ căn nguyên của việc ấy. Văn chương cũng vậy. Đặt nên câu thơ câu hát, viết ra bài luận, bài văn, thì gọi là văn chương. Song thử xem căn nguyên của văn chương ấy, bởi lẽ gì mà có, vì ở đâu mà sinh ra thì gọi là nguyên lý văn chương. Cha mẹ dạy con, giảng giải đều hơn lẽ thiệt, rạch ròi kẽ tóc chân tơ. Hai người tự tình biệt ly với nhau, ấm lạnh ngọt bùi, kể hết nỗi này kể sang nỗi khác. Người đàn bà lỡ bước, thở dài than vắn, phàn nàn những số phận hẩm hưu. Đứa mục đồng đi chăn trâu, nhân khi thích chí nghêu ngao vài tiếng giữa đồng, đó toàn là cái mầm của văn chương cả. Nói cho cùng thì một tiếng cười một tiếng khóc của đứa trẻ thơ, cũng là cái gốc văn chương. Người ta có tính tình, có tư tưởng, có ngôn ngữ văn tự, thì tự nhiên phải có văn chương. Tính tình người ta cảm xúc với ngoại vật, sinh ra khi mừng, khi giận, khi vui, khi buồn, khi xót xa, khi ham muốn. Các mối tình ấy chứa ở trong bụng, tất phải phát tiết ra nhời nói: đó tức là nguyên lý văn chương. Tư tưởng cái suy nghĩ tự trong óc biết phân biệt lẽ phải lẽ trái, biết phán đoán điều dở điều hay, biết suy xét đến những lý cao xa, mắt không trông thấy tai không nghe tiếng. Những điều nghĩ ra được lại muốn tỏ cho người khác biết, đó cũng là nguyên lý văn chương. Có tính tình, có tư tưởng, mà nếu không có ngôn ngữ văn tự thì cũng không thành văn chương được. Xem như giống súc vật có cảm giác, có tri thức, mà không có văn chương là bởi vì không có ngôn ngữ văn tự. Vậy ta phải nhờ có ngôn ngữ văn tự mới đạt được tính tình tư tưởng của ta, thì ngôn ngữ văn tự cũng là cái nguyên lý của văn chương. Nói rút lại thì sở dĩ có văn chương, một là bởi ở tính tình, hai là bởi ở tư tưởng, ba là bởi ở ngôn ngữ văn tự, đó là ba cái căn nguyên trước nhất. Có ba cái căn nguyên ấy, rồi những sự quan cảm ở bề ngoài đưa đến mới thành ra văn chương vậy. Quan cảm bề ngoài, thì lại do ở cảnh tượng của tạo hoá, do ở công việc của cuộc đời và ở cảnh ngộ của một mình. Cảnh tượng của tạo hoá hiển hiện ra trước mắt ta, nghìn hình muôn trạng, làm cho ta phải nhìn phải ngắm, phải nghĩ ngợi ngẩn ngơ. Ta cứ theo cái cảnh tượng ấy mà tả ra thì gọi là văn chương tả cảnh. Công việc của cuộc đời, xảy qua đến mắt ta, chạm đến tai ta, việc gần việc xa, việc nhớn việc nhỏ, có việc ta ghét, có việc ta ưa, làm cho ta phải khen phải chê, phải cười phải khóc. Ta cứ theo công việc đó mà ghi chép lại thì gọi là văn chương tự sự hay là nghị luận. Cảnh ngộ của một mình, khi gặp được cảnh sung sướng, khi gặp phải cảnh chua cay. Ta nhân cái cảnh ngộ đó, ta muốn giãi tỏ cái tình của ta thì gọi văn chương tự tình hay là thuật hoài. Văn chương tuy nhiều, nhưng đại ý thì bất ngoại ba điều ấy. Cứ như vậy thì văn chương cũng là một cái lẽ tự nhiên, phải có của trời phú bẩm cho người ta. Song người ta tuy có sẵn cái phú bẩm ấy, nhưng phi có tài cũng không tả được, mà có tài phi có học thì văn chương cũng không sao hay được. Văn chương khác nhau với nhời nói thường. Nhời nói thường thì gặp đâu nói đấy, miễn là nói cho xuôi nhời, cho người ta hiểu được ý mình thôi. Chớ văn chương thì phải nói cho có ý nhị, có văn hoa, phải xếp đặt cho ra nhời óng chuốt, ý tứ đầu đuôi phải quán xuyến với nhau, mới thành được văn chương. Người làm văn chương, cũng như một tay hoạ công. Hoạ công có khéo tay thì mới vẽ đúng được hình tượng, văn chương có tài tình mới tả đúng được tinh thần. Người có văn chương, lại như cây có hoa. Cây có bồi dưỡng được nhiều khí lực thì nở ra hoa mới được phổng pháp. Người có hàm súc được nhiều kiến thức tư tưởng thì tả ra văn mới được dồi dào. Bởi các lẽ ấy mà tài văn chương là tài hiếm có, mà khoa văn chương là khoa tối cao vậy. Phan Kế Bính 2. Suy nghĩ về việc học Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe ra thật là tầm thường cũ rích, tưởng như không ai để ý đến; nhưng cứ như những câu trả lời của các nhà học giả xưa nay thì có một câu vắn tắt mà có thể bao quát được toàn thể và công dụng sự học là: Học để làm người Theo câu nói ấy, có kẻ lại cãi rằng: Vậy thì không học không làm người được sao? Kìa như ông Hán Cao Tổ không học mà làm một ông vua anh hùng; ông Hoắc Quang không học mà làm được công nghiệp lớn. Bên Âu Tây, nhiều nhà đại chính trị đại sáng tạo, hoặc trọn đời ở trong các mỏ, các công xưởng mà làm được công việc to đó thì sao? Còn ở trên đời biết bao nhiêu người vào trường nọ, đậu bằng kia, đào mãi trong trăm ngàn bộ sách, miệng nói ra rành là chuyện văn hào đông tây, mà xét đến phẩm cách tính chất, có điều mất cả tư cách làm người nữa. Thế thì câu nói "học để làm người" không phải là không đúng sao? Phải, chỉ nói trông không là "học", thì có hơi không rõ ràng mà lẫn lộn như trên, nên trước phải hiểu cái "học làm người" này không phải như người mình thường gọi là "đi học". Theo lối thông thường người mình thì có ôm sách tới trường, có thầy dạy, có thi có đỗ, mới gọi là học. Nhưng cái học làm người này thì khác hẳn thế. Sao vậy? Cái học làm người này, nói về học khoá cần thiết thì người thông thường ai cũng có thể theo sức lực cùng bản năng của mình mà làm hết phận sự; mà nói đến chỗ cao diệu thì dầu thánh hiền hào kiệt cũng không ai dám tự phụ, rằng đã làm được hoàn toàn cực điểm. Bởi vì, đã là "người" thì ai cũng là người, mà nói đến sự làm người thì rất là mênh mông mà không có hạn lượng. Trăm năm ngắn ngủi, trẻ, lớn, già, chết không cái gì mới lạ. Song kẻ thì thánh hiền hào kiệt, kẻ thì ngu tiện dung phàm; người thì có công với nhân loại, muôn đời ai cũng hinh hương, người lại hại giống hại nòi, trăm miệng cũng đều thoá mạ. Không những thế mà thôi, làm một người về thời đại cổ, và làm một người ở thời đại nay khác nhau; làm người ở nước giàu mạnh với làm người ở nước hèn yếu khác nhau, suy ra đối với nước nhà mình và đối với thế giới nhân loại chung, nên làm người thế nào. Cảnh địa của người trăm chiều không đồng nhau thì cái cách làm người cho xứng đáng thích hợp cũng không phải cùng một cách. Những chuyện mấy bậc vĩ nhân đông tây xưa nay, biết bao nhiêu điều đủ làm gương cho người sau học theo mà người nào có chân tướng người nấy, mỗi người dạy cho người sau một việc; bắt chước được một việc thì dầu ai đọc thuộc trăm nghìn quyển sách cũng chẳng hơn chi. Cái trường học để "làm người" đó tức là cái cõi đời ta ở vậy. Bao nhiêu sự khốn khó ở đời, bao nhiêu sự kinh nghiệm người trước để lại đều là những bài dạy cho ta. "Làm người" ở đời đã khó như trên đã nói thì "học làm người" chắc không phải chuyện dễ. Trong cái trường học mông mênh kia, trắng vàng chen lộn, sự lành sự ác, điều dở điều hay không thiếu thứ gì; nên ai đã đem thân tòng học ở cái trường ấy thì cần phải có cặp mắt biết quan sát và cái não biết phán đoán để lựa những chuyện đáng làm theo, cùng những chuyện đáng chữa cãi. Cái mục đích chân chính của sự học là thế đó. Học như thế mới mong bổ ích cho đời, làm được một phần việc trong xã hội. Trái lại, nếu mới cặp sách đến trường mà trong não đã mơ tưởng đến chức kia hàm nọ, thấy người ta xuống ngựa lên xe, mà cũng ao ước cho được cửa cao nhà rộng, thì cái bả hư vinh, cái mồi phú quý ấy chắc không sao nhắc ta lên cái địa vị làm một người chân chính ở đời được. Vậy ai muốn khỏi cái tiếng hư sinh thì cần phải "học để làm người"; mà học để làm người không phải nhất định có cắp sách đến trường và thi đỗ bằng này bằng nọ, nhưng chính là noi gương kim cổ mà học theo, làm cho hết nghĩa vụ một người đối với nhân quần xã hội vậy (Báo Tiếng dân, số 282, ngày 17-5-1930).
Xem thêm

6 Đọc thêm

SACH CHUYEN KHAO 2011 2015

SACH CHUYEN KHAO 2011 2015

Engineering Geology for Society and TerritoryVol.1, DOI: 10.1007/978-3319-09300-0-28Book Chapter2015Engineering Geology for Society and TerritoryVol.1, DOI: 10.1007/978-3319-09300-0-28Book Chapter2015Publishing House of Natural Resources,Environment and Cartographypp. 303-327Đặng Hùng ThắngĐặng Hùng ThắngLê Dũng Mưu, Nguyễn Văn Hiền,Nguyễn Hữu ĐiểnNguyễn Hữu ĐiểnXác suất trên không gian MetricBook

1 Đọc thêm

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN TẬP 1

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN TẬP 1

Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng Hậu.Bài sách văn đại lược nói: dựng nghiệp Tây kỳ, bà Thái Nhâm, bà Thái Khương gâyPhước cả. Mở nền Đông lạc, bà Mã hậu, b Đăng hậu nối điềm lành. Đức tốt sánh đờixưa, tên hay để hậu báo. Kính nghĩ, Từ Tiết Tĩnh Thục Hiếu Từ Tống Hiển Phi điện hạ:Trăm nết có đủ, muôn thiện đều kiêm. Bao hàm rộng rãi trên sách Kiền nguyên, nộitrị có khuôn phép từ ngọc cư, ngọc hành(24) mở dấu tốt lành sinh ra con trưởngtruyền gia vững cơ đổ như thái sơn, bàn thạch. Cho nên nay được nhờ Phước thiêngliêng, mới chịu mệnh sáng, xưng dương đức tốt, để báo tốt lành cẩn tiến sách vàngdâng tôn hiệu là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiếu Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng Hậu, thờchung vào gian hữu nhị nhà Thái Miếu.Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Hậu, họ TốngBà vốn họ Hồ, sau khi vào cung, được cho họ là Tống, người huyện Hương Trà phủThừa Thiên, là con gái Chưởng doanh Hồ Văn Mai. Vào cung được chúa yêu chiều,cho làm Hữu Cung tần thứ 4. Sau đó được thăng Chiêu Nghi. Tính người nhân thuận,cung kính, trong cung đều được cảm hóa vì đức tính bà. Sinh được 2 trai: trưởng làTúc Tông Hoàng Đế(25) lúc sinh có hương lạ đầy nhà, thứ là Tứ, phong Luân Quốccông. Năm Bính Thân (1716, Lê Vĩnh Thịnh năm thứ 12), mùa xuân tháng 2, bà mất,thọ 37 tuổi, tặng Minh Phi, liệt vào hàng phu nhân, thụy là Từ Tuệ, táng lăng VĩnhThạnh (thuộc xã Trúc Lâm, huyện Hương Trà). Năm Giáp Tý (1744) Thế Tông HoàngĐế năm thứ 6, truy dâng tôn thụy là Từ Huệ Cung Thục Kính Phi, sau thêm 2 chữ "ÝĐức". Gia Long năm thứ 5 Bính Dần (1806) truy tôn là Từ Huệ Cung Thục Ý Đức KínhMHiếu Minh Hoàng Hậu. Bài sách văn đại lược rằng: Đón quẻ Kiền là quẻ Khôn sánhvới đế gọi là hậu. Lễ đặt bởi nghĩa, kính với người tôn, là để tỏ lễ nhà tôn miếu. Kínhnghĩ, Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Tống Kính Phi điện hạ: dáng đẹp nổi trâm cài hoagiắt, đức tốt như ngọc cư, ngọc hành. Thùy mị đề tiên phòng gương mẫu ưu cần giúpchúa như thơ Kê minh(26) chung đúc điềm Hoa chử(27) tốt lành, thịnh vượng về sauthơ Lân chỉ(28). Cho nên nay trên đội ơn thừa, mở mang nghiệp lớn. Bèn xét lẽ văn,
Xem thêm

221 Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 3 NĂM 2007 - CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN LẠNH

BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUÝ 3 NĂM 2007 - CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN LẠNH

Trụ sở chính của Công ty đặt tại 364 đường Cộng Hòa, Phường 13, Quận Tân Bình, TP HCM. Công tycó chi nhánh tại 41B Lý Thái Tổ, Hà Nội, Việt Nam.1.2Lónh vực kinh doanhHoạt động chính của Công ty là thiết kế, sản xuất và lắp đặt các hệ thống điều hòa nhiệt độ không khí,thiết bò máy tính, thiết bò viễn thông và đồ điện gia dụng, cung cấp các dòch vụ đào tạo về công nghệthông tin, sở hữu và cho thuê nhà văn phòng.2CHẾ ĐỘ VÀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY2.1Cơ sở của việc soạn lập các báo cáo tài chínhBáo cáo tài chính đã được soạn lập theo các Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và Hệ thống Kế toán ViệtNam. Báo cáo tài chính được soạn thảo dựa theo qui ước giá gốc và nguyên tắc dồn tích.Ảnh hưởng của việc áp dụng các Chuẩn mực mới này được trình bày trong các chính sách kế toán dướiđây. Theo các quy đònh hiện hành tại nước CHXHCN Việt Nam thì các Chuẩn mực này được áp dụngkể từ năm hiện hành về sau, không có điều chỉnh cho niên độ trước.2.2Niên độ kế toánNiên độ kế toán của Công ty bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 hàng năm.2.3
Xem thêm

117 Đọc thêm

CẢM HỨNG NHÂN ĐẠO CỦA NGUYỄN DU QUA BA ĐOẠN TRÍCH CỦA TRUYỆN KIỀU VÀ ĐỘC TIỂU THANH KÝ

CẢM HỨNG NHÂN ĐẠO CỦA NGUYỄN DU QUA BA ĐOẠN TRÍCH CỦA TRUYỆN KIỀU VÀ ĐỘC TIỂU THANH KÝ

Nếu như cảm hứng nhân bản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ngợi ca vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là cảm hứng bao trùm. Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là lòng thương. Bản chất của nó là chữ tâm đối với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, không những thế phải đồng cảm xót thương những số phận bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ chính đáng của con người. Nguyễn Du yêu thương con người đến tận cùng, vì vậy các tác phẩm của ông cũng nhân đạo đến tận cùng. Chỉ qua ba đoạn trích Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh ký trong SGK, người đọc cũng hiểu được phần nào tấm lòng nhân đạo của thi hào Nguyễn Du. Cảm thương cho những kiếp hồng nhan mà đa truân, tài tử mà đa cùng không phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởi Nguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình. Sắc đẹp khuynh thành và tài năng hiếm có của Thúy Kiều đã được Nguyễn Du đặc tả trong hai câu thơ: “Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” (Truyện Kiều) Còn Tiểu Thanh, một con người có thật sống cách Nguyễn Du 300 năm ở Trung Quốc cũng là một người con gái đẹp, có tài thơ, còn để lại tập di cảo Tiểu Thanh ký. Truyện kể lại rằng trước khi chết, Tiểu Thanh đã khóc vì nhìn bức chân dung của mình và nhận ra mình đẹp. Đau đớn biết bao nhiêu khi một người con gái còn rất trẻ khi sắp chết lại thấy mình đẹp. Thế nhưng chính Nguyễn Du lại thấm thía hơn ai hết rằng: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, rằng: “Có tài mà cậy chi tài – Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cuộc đời Thúy Kiều và Tiểu Thanh chính là minh chứng và cũng là nạn nhân của những bất công, phi lý của cuộc đời. Thúy Kiều tài sắc như vậy nên người nàng yêu cũng phải là một văn nhân “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người đã thề nguyền “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” và có vầng trăng trên trời làm chứng. Nhưng rồi tai họa ập đến với gia đình khiến Thúy Kiều đành phải hy sinh chữ tình vì chữ hiếu. Việc Kiều bán mình chuộc cha không phải vì nàng hành động theo đạo lý tam cương của Nho gia mà đó là đạo hiếu của kẻ làm con: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nhưng chỉ Nguyễn Du mới hiểu đến tận cùng bi kịch của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim. Nàng giờ sống mà như đã chết. Biết bao đau đớn khi Kiều nhận mình là kẻ phụ bạc: “Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” (Truyện Kiều) Màn trao duyên ấy chính là bi kịch đầu tiên mở ra quãng đời 15 năm “oan khổ lưu ly” của Thúy Kiều. Cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che” ngày xưa giờ đã thay bằng cuộc sống “Dập dìu lá gió cành chim – Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Thúy Kiều không tìm thấy chút vui thú nào trong cuộc sống “bướm lả ong lơi” ấy, mà tâm trạng thực của nàng là vui gượng, là sầu, buồn, cuối cùng đọng lại ở nỗi đau, một nỗi đau luôn dày vò, không thể giải tỏa. Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng cái “giật mình mình lại thương mình xót xa” của cô Kiều mới đáng quý biết chừng nào. Nếu không có những phút “giật mình” ấy thì nàng Kiều cũng tầm thường như một cô gái làng chơi mất hết nhân phẩm. Cái “giật mình” ấy chứng tỏ Thúy Kiều đã đau đớn biết bao nhiêu khi nhân phẩm bị nhơ bẩn, “Mặt sao dày gió dạn sương – Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”. Nàng phẫn uất, đay nghiến thực trạng phũ phàng, cuộc sống bị cầm tù trong một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát: “Đã cho lấy chữ hồng nhan Làm cho cho hại cho tàn cho cân Đã đày vào kiếp phong trần Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi” (Truyện Kiều) Người đọc dường như không phân biệt được đâu là lời của nhân vật, đâu là lời của nhà thơ vì Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng. Thúc Sinh xuất hiện trong cuộc đời Kiều không phải chỉ như một khách làng chơi mà còn như một người tình, một người chồng, một ân nhân. Chính Thúc Sinh đã chuộc nàng ra khỏi xanh và cưới nàng làm vợ lẽ. Nhưng mối duyên này ngắn ngủi. Thúc Sinh phải về quê báo tin “vườn cũ thêm hoa” với vợ cả là Hoạn Thư. Cảnh từ biệt của hai người không chỉ có buồn, có lưu luyến như các cuộc chia ly thong thường khác mà còn có dự cảm về một cuộc chia tay vĩnh viễn “Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” (Truyện Kiều) Những nỗi đoạn trường cứ bám lấy cuộc đời Thúy Kiều như một định mệnh, không cho nàng được sống thanh thảnh, vui vẻ, dù là ngắn ngủi. Tiểu Thanh cũng vậy. Nàng tài sắc là thế mà phải làm lẽ, sống trong sự dày vò của người vợ cả độc ác. Tiểu Thanh không giống Thúy Kiều, 16 tuổi đã phải dấn thân vào kiếp đoạn trường, nhưng cảnh sống bị cầm tù ở núi Cô Sơn, ngày ngày lo sợ bị người vợ cả hãm hại thì có khác gì cái chết. Một cái chết dần dần, mòn mỏi, và không kém phần đau đớn. Sau 300 chỉ có Nguyễn Du lặng lẽ viếng nàng bên khung của qua tập di cảo còn sót lại. Cảnh đẹp Tây Hồ cũng chịu số phận truân chuyên của giai nhân: “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn” (Độc Tiểu Thanh ký) Nguyễn Du xót thương cho số phận của “văn chương”, của “son phấn” cũng bị liên lụy vào nỗi đoạn trường bởi chúng mang cái mệnh của con người: “Chi phấn hữu thần liên tử hận Văn chương vô mệnh lụy phần dư” (Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương) (Độc Tiểu Thanh ký) Vẫn biết rằng “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nhưng đó vẫn là “nỗi hờn kim cổ” mà Nguyễn Du muốn chất vấn trời cao, hay chất vấn cuộc đời, song rốt cuộc vẫn không có lời giải đáp. Chỉ biết rằng đó là “phong vận kì oan” (nỗi oan lạ lùng) của những kẻ mang nết phong nhã. Hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng là cái án tiền định của những người như Thúy Kiều, Tiểu Thanh phải mang. Tiếng khóc của nàng Kiều trước mộ Đạm Tiên: “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều) cũng chính là tiếng khóc của nàng cho chính mình mai sau và là tiếng khóc cho những phận đàn bà nói chung. Rốt cuộc thì Đạm Tiên, Thúy Kiều hay Tiểu Thanh dù số phận có nhiều điểm khác nhau thì cũng là “cùng một lứa bên trời lân đận”. Nguyễn Du cũng tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với những người mắc nỗi oan lạ lùng vì vết phong nhã. Tố Như đau cho số phận của Tiểu Thanh cũng là tự thương cho chính những lận đận của mình, bởi vậy mới khao khát tri kỷ: “Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng) (Độc Tiểu Thanh ký) “Khấp” có nghĩa là khóc thầm, còn “khốc” là khóc lớn, khóc thành tiếng. Nguyễn Du cả đời khóc thương cho những bất hạnh của con người nhưng cuối cùng cũng chỉ mong được người đời sau khóc thầm. Đó là khao khát tri âm khiêm nhường của một con người rất hiểu đời. Đọc “Truyện Kiều” và “Độc Tiểu Thanh ký”, Nguyễn Du luôn hỏi trời về những đau khổ của con người nhưng thực tế trong tác phẩm, Nguyễn Du lại cho thấy nguyên nhân nhưng đau khổ của con người là do những thế lực thù địch chà đạp lên cuộc sống và quyền sống chính đáng của con người. Nếu không có chế độ phong kiến với sự thống trị của đồng tìền thì Kiều đâu có 15 năm lênh đênh trong bể đoạn trường, nếu không có chế độ đa thê thì Tiểu Thanh chắc cũng không có số phận bi kịch như thế. Nguyễn Du đau nỗi đau của con người, hiểu thấu được nguyên nhân của những bi kịch ấy nhưng Nguyễn Du bất lực bởi chính ông cũng là nạn nhân của những bể dâu cuộc đời. Nỗi đau của Nguyễn Du, sự cô đơn của Nguyễn Du, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đều xuất phát từ một trái tim nghệ sĩ lớn.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tài thuyết phục của Kiều qua đoạn trích "Trao duyên"

TÀI THUYẾT PHỤC CỦA KIỀU QUA ĐOẠN TRÍCH "TRAO DUYÊN"

Đời Kiều xoay quanh hai chữ tài và tình. “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương”, “tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Cái tài luôn đi với cái tình . Cái tài góp phần thể hiện cái tình của Kiều. Cái tài không ít lần giúp Kiều thoát khỏi những tình huống, những cảnh ngộ éo le. Nhưng cái tài cũng đôi khi mang tai họa đến cho nàng: “Chữ tài liền với chữ tai một vần” . Ngoài tài làm thơ, đánh đàn Kiều còn có tài ăn nói, tài thuyết phục. Nguyễn Du thể hiện khá thành công tài đàn của Kiều. Nhưng so với Bạch Cư Dị, Nguyễn Du cũng chưa phải là bậc cao thủ. Trong khi đó, có thể khẳng định Nguyễn Du thể hiện tài ăn nói, tài thuyết phục của Kiều thì ít ai sánh được. Chỉ cần đối chiếu cách ăn nói của Kiều trong Kim Vân Kiều truyện với cách ăn nói của Kiều trong Đoạn trường tân thanh đã thấy cách nhau một trời, một vực. Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân nói với Kim Trọng khi chàng ôm liều nàng: “Ô hay, sao chàng lại giở cái thói điên cuồng như vậy? Chàng nên nhớ rằng chúng ta chưa thành đại lễ kia mà!”. Trong khi đó Kiều của Nguyễn Du hết sức nhẹ nhàng: “Thưa rằng đừng lấy làm chơi Dẽ cho thưa hết một lời đã nao Vẻ chi một đóa yêu đào Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh...”. Chính cách ăn nói vừa nhẹ nhàng vừa có tình, có lý như vậy mà Kiều đã ngăn được cái “sóng tình dường đã xiêu xiêu” của chàng Kim. Trong tất cả những lần Kiều phải trổ tài thuyết phục, có lẽ trường hợp thuyết phục Thúy Vân nhận lời nối duyên với Kim Trọng là trường hợp khó khăn nhất. Thuyết phục bất cứ ai từ Vương ông đến Từ Hải, ngoài tình cảm hết sức chân thành Kiều còn tìm được điều hơn lẽ thiệt cho từng đối tượng. Với Vương ông: “ Sao bằng liều một thân con Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây” và “ Cũng đừng tính quẩn, lo quanh Tan nhà là một thiệt mình là hai” . Với Từ Hải : “Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào Sao bằng lộc trọng, quyền cao Công danh ai dứt lối nào cho qua ?” . Riêng trường hợp thuyết phục Thúy Vân chắp mối tơ thừa với Kim Trọng, Kiều không thể tìm được một điều lợi nào cho Vân cả. Hơn ai hết Kiều hiểu rằng bắt Thúy Vân phải chắp mối tơ thừa là Thúy Vân phải chịu hy sinh. “Lấy người yêu chi làm chồng” đó là điều chắc chắn Thúy Vân không hề mong muốn. Vậy nên Kiều khẩn khoản: “Cậy em, em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa... " Cậy là vừa nhờ cậy vừa tin cậy. Chịu lời là vừa nhận lời vừa phải chịu thiệt thòi, chịu hy sinh. Trong tất cả các trường hợp thuyết phục Kiều vừa nói vừa nài ép bằng được các đối tượng nghe theo lời khuyên của mình. Còn lần này Kiều có nài nhưng không ép. “ Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em” - mặc em có nghĩa là tùy em, do em quyết định. Nếu em thương chị mà chắp mối tơ thừa cho chị thì chị cảm ơn. Nhưng nếu em không chịu lời thì chị cũng không trách, không giận. Tất cả các trường hợp thuyết phục Kiều đều dùng lý lẽ. Riêng trường hợp này Kiều chủ yếu thuyết phục bằng tình cảm. Kiều phải đem cả tình máu mủ, ruột thịt để nhờ cậy: “ Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non". Nói đến như vậy, Thúy Vân còn nỡ nào từ chối! Suốt cả buổi trao duyên, Nguyễn Du chỉ để một mình Kiều nói. Thúy Vân chỉ im lặng lắng nghe. Ngay phản ứng nội tâm của Vân như thế nào Nguyễn Du cũng không hề đả động đến. Chẳng cần biết Vân có đồng ý hay không, Kiều vẫn cứ bàn giao tình duyên cho em: “ Chiếc thoa với bức tờ mây Duyên này thì giữ , vật này của chung”. Đây là lần thuyết phục duy nhất mà đối tượng bị thuyết phục không hề tỏ thái độ chấp nhận hay chối từ. Các lần khác, đối tượng bị thuyết phục đều phải chiều theo ý muốn của Kiều. Vương ông “phải lời ông cũng êm tai”, Từ Hải “thế công Từ mới chuyển sang thế hàng”. Vì sao Nguyễn Du không để cho Thúy Vân lên tiếng hoặc tỏ thái độ nhận lời hay từ chối? Phải chăng hơn ai hết Nguyễn Du hiểu rằng Kiều đã đẩy Vân vào một tình thế hết sức khó xử? Nhận lời thì quá ư đường đột vì đây là chuyện hệ trọng, chuyện trăm năm cần phải có sự cân nhắc, lựa chọn. Nhưng chối từ khi chị đưa cả tình máu mủ , ruột thịt để cầu xin như vậy chắc Thúy Vân cũng không nỡ. Vì thế, Vân chỉ biết im lặng. Đó chính là chỗ cao tay của thiên tài Nguyễn Du. Trong suốt Đoạn trường tân thanh, không chỉ mình Kiều có tài thuyết phục, các nhân vật khác như: Kim Trọng, Thúc Sinh, Hoạn Thư cũng rất có tài ăn nói. Nhờ tài ăn nói mà Kim Trọng đã làm xiêu lòng Kiều: “ Lặng nghe lời nói như ru Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng” . Đặc biệt là Hoạn Thư! Khi ra pháp trường, Hoạn Thư giỏi kêu ca khiến Kiều phải khen “khôn ngoan đến mức, nói năng phải lời”. Nhưng chưa có nhân vật nào được Nguyễn Du tập trung thể hiện tài ăn nói, thuyết phục như Thuý Kiều. Kiều nói năng gần như suốt cả câu chuyện và lần nào cũng chinh phục được đối tượng thuyết phục. Bản lĩnh và khí phách như Từ Hải cũng phải mềm lòng trước những lời lẽ ngọt ngào, dịu dàng của Kiều. Thể hiện được tài ăn nói của các nhân vật mà đặc biệt là tài ăn nói của Kiều là một thành công hết sức quan trọng của thiên tài Nguyễn Du. (st)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Kiến thức cơ bản truyện ngắn Làng

KIẾN THỨC CƠ BẢN TRUYỆN NGẮN LÀNG

Nhà văn Kim Lân có tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920. Quê Từ Sơn Bắc Ninh. Nhà nghèo chỉ học hết Tiểu học rồi phải bỏ học kiếm sống. Nhờ chịu khó quan sát và suy ngẫm, được đi nhiều nên tuy ít tuổi> chú bé Tài đã có vốn hiểu biết khá dầy dặn về phong tục tập quán trong cs vùng Kinh Bắc quê hương. > là chuẩn bị tốt để ông trở thành nhà văn sau này. Sở trường : viết truyện ngắn. Am hiểu và gắn bó với nông thôn và người nông dân. Đề tài : Tập trung viết về nông thôn và sinh hoạt của người nông dân. Ngòi bút của ông đặc biệt hấp dẫn khi viết về các sinh hoạt phong phú của nông thôn với các trò chơi như : Chọi gà, đánh vật, thả chim...qua đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân. Pcách : Tự nhiên, tinh tế, biết gạn chắt vẻ đẹp tâm hồn và những nét mới trong tâm hồn, tinh cảm của con người.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi học sinh giỏi ngữ văn lớp 9 tuyển chọn hay

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN LỚP 9 TUYỂN CHỌN HAY

Có ý kiến cho rằng câu thơ: Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung Là sản phẩm của cái tâm, còn câu thơ: Dưới trăng quyên đã gọi hè Đàu tường lửa lựu lập loè đơm bông Là sản phầm tài năng của Nguyễn Du được thể hiện qua Truyện Kiều. Em có đồng ý với ý kiến đó không? Tại sao? Gợi ý: Lời nhận định trên là đúng: Giải thích ngắn gọn: Tài, Tâm Câu thơ thứ nhất được viết lên nhờ cái tâm của giả. + Phận là thân phận, số phận. Theo quan niệm cũ số phận của con người được sung sướng hay đau khổ là do một thế lực huyền bí, thiêng liêng định đoạt. > Lời cảm thán cho số phận đàn bà đau khổ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bình luận ý kiến trên đây của nhà văn Nguyễn Tuân

BÌNH LUẬN Ý KIẾN TRÊN ĐÂY CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN

"Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp ”Bình luận ý kiến trên đây của nhà văn Nguyễn Tuân và bằng thực tê”cảm nhận văn học của mình hãy làm rõ những vân đề mà nhà văn đặt ra. BÀI LÀM Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Tìm hiểu, khám phá và sáng tạo không ngừng để mỗi dòng, mỗi chữ viết ra đều được chắt lọc tinh tế, độc đáo đủ sức thuyết phục lòng người và lắng đọng lại với thời gian, cuộc sống. Nhà văn Nguyễn Tuân khẳng định với những người viết văn trẻ "ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp” Văn chương là tiếng nói của tâm hồn - dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, văn chương cũng muốn đem cái đẹp vào cuộc sống. Thế giới bao la với muôn nghìn sự kiện luôn sôi động, văn học là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng là sự phản ánh có chọn lọc. Thế giới khách quan đưực nhìn qua thế giới chủ quan của tác giả, hiện thực sinh động được khái quát cụ thể, độc đáo trong tác phẩm văn chương. Nhà văn chân chính làm con ong miệt mài đi hút nhụy hoa, sương đêm lắng đọng để làm nên mật ngọt cho đời, và ngôn ngữ là phương diện thiết yếu giúp nhà văn sản sinh ra hương mật văn chương. Bông hoa kia, dù ngọt ngào hương sắc đến đâu, giọt sương đêm dù tinh sạch hơn cả khí trời, vẫn là vô dụng nếu chú ong không thể tạo mật thơm lành. Văn chương bắt nguồn từ lao động và qua lao động, con người sáng tạo ra ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp, qua cách nói, viết thư, trao đổi. Nhưng cuộc sống vốn vận động và phát triển không ngừng, không chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp ấy, ngôn ngữ được sử dụng đa dạng hơn, mang tính thẩm mĩ cao hơn, đó là ngôn ngữ văn chương. Tiếng nói tình cảm của con người mang nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, ngôn ngữ cũng biến hoá kì diệu khôn lường để đáp ứng nhu cầu bày tỏ ấy. Từ thủa xa xưa, khi chưa có chữ viết, dân gian ta sáng tạo nên dòng văn chương truyền miệng, và từ đó đến nay, những tác phẩm dân gian vẫn tồn lại. Thế mới biết sức sống của ngôn ngữ mãnh liệt đến nhường nào ! Lao động giúp con người tồn tại và lao động giúp con người sáng tạo ra ngôn ngữ để giao tiếp, bày tỏ cảm xúc. Những ngôn ngữ từ thủa mới khai sinh chỉ là một thứ tiếng nói thô sơ. Văn chương là một loại hình nghệ thuật ra đời giúp con người tìm đến với nhau. Nhà văn qua tác phẩm bày tỏ tâm tư, ước vọng với cuộc đời và con người trong xã hội. Ngôn ngữ của cuộc đời thường là một loại quặng con lẫn tạp chất. Nhà văn làm công việc của người tinh nguyện loại bỏ những chất thải để kết đúc lại thứ kim loại hoàn hảo hơn, đủ sức lóng lánh phản chiếu tâm hồn. Nhà văn Nguyễn Du là đứa con máu thịt của dân tộc Việt Nam, tác giả sinh ra, lớn lên trong lòng Tiếng Việt, ấp ủ, nuôi dưỡng “nỗi đau đời" để tạo nên tác phẩm “Truyện Kiều” bất diệt. Tác phẩm cũng là ngôn ngữ của nhân dân, thứ ngôn ngữ mà chúng ta kiểu và cảm thông sâu sắc. Đã mây thế kỉ trôi qua, “Truyện Kiều” vẫn được dánh giá là một viên ngọc toàn bích về nghệ thuật, không một vết xước, không chút bụi mờ ? Phải chăng Nguyền Du đã làm công việc gạn lọc ngôn ngữ đời -hường, tinh luyện, nâng niu từng chữ, từng câu để tạo nên vẻ đẹp tuyệt điệu đó. Nhưng dù có gạn lọc đến đâu, có đãi cát tìm vàng đi chăng nữa thì vốn liếng ấy cũng là ít ỏi so với một tác phẩm vĩ đại, cái tài, cái khổ luyện của Tố Như lào ở chỗ tác giả “không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ có sáng tạo”. Quả thật, nếu không làm được công việc đó, "Truyện Kiều” sẽ không được truyền tụng và hấp dẫn đến tận hôm nay, những năm cuối của thế kỉ XX. Hai trăm năm, Truyện Kiều vẫn khiến muôn thế hệ phải nhỏ từng giọt lệ xuống thương nàng Kiều. Ngôn ngữ Truyện Kiều đầy sức lay động, thuyết phục đến mức không thể nào thay thế được nữa. Nguyễn Du đã sử dụng và phát triển, sáng tạo ngôn ngữ có sức sống lâu bền nhất, hoàn hảo nhất. Từ một câu thơ chữ Hán của Thôi Hiệu, Nguyễn Du chuyển sang chữ Nôm đã trở nên đậm đà, gần gũi với dân tộc: Nhân diện bất tri hù xứ khứ Đào hoa y cựu tiếu đông phong. (Thôi Hiệu) Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. (Nguyễn Du) Câu thơ chữ Hán là tâm trạng của Thôi Hiệu irước cảnh cũ nhớ người mi vào tay Tố Nhưbỗng bồi hồi, xao xuyến tâm trạng chàng Kim nhớ thương người yêu. Tài năng của nhà thơ không chỉ là sự phát hiện sáng tạo ra cái mới mà còn là cách sử dụng tài tình, biến cái cũ thành cái mới mang sắc thái nhuần nhị hơn hiểu cảm hơn. Nhưng học tập không có nghĩa là “ăn bám vào ngôn ngữ của người khác". Cuộc sống, tình cảm của con người vốn phong phú, đa dạng, đi hỏi phải có nhiều cách biểu hiện khác nhau. Ngôn ngữ văn chương là tiếng nóí riêng của mỗi nhà văn về cuộc đời - nó phải chinh phục người đọc. Cùng một sự việc nhưng ở mỗi góc độ sẽ có cách nhìn khác nhau. Văn chương nếu chỉ là lập lại thì sẽ không tồn tại được lâu dài. Nhà văn phải sông cuộc sống với nhân dân, chia sẻ niềm vui, ước vọng với họ thì mới nói lên được tiếng nói của nhân dân. Cuộc đời là trường học của những nhà văn tâm huyết, cuộc đời sẽ giúp nhân văn tích luỹ được vốn sống, ngôn ngữ phong phú. Tư tưởng dù có vĩ đại bao nhiêu mà nghèo nàn biểu hiện thì cũng trở nên vô ích. Nội dung phải phù hợp với hình thức. Hai yếu tố thống nhất sẽ làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh, cũng như tư tưởng lớn được diễn đạt với một vốn ngôn ngữ đa dạng, hình thức thích hợp. Cùng một giọt nước mắt của nàng Kiều nhưng mỗi lần Kiều khóc, Tố Như lại có một cách diễn đạt khác nhau. Và cứ thế, từ đầu đến cuối tác phẩm, người đọc bị cuốn hút, say mê, bị dằn vặt bởi nổi đau nàng Kiều; mà mỗi lần đau mỗi lần cay đắng khác nhau, muôn hình muôn vẻ, phức tạp như chính cuộc sống thực. Cũng là niềm cô đơn làm Kiều trăn trở, day dứt thâu đêm, nhưng trong mỗi hoàn cảnh, sự cô quạnh đó nhuốm sắc thái thật riêng: Một mình mình biết một mình mình hay Câu thơ tám chữ với bốn lần lặp lại chữ “mình” sao chua xót, bẽ bàng đến thế ! Ngôn ngữ trong tay Nguyễn Du biến hoá diệu kì như vẻ đẹp tiếng Việi thâu tóm dưới đầu ngọn bút. Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình. Với những chữ “riêng" lập lại đến đôi ba lần. Tố Như làm người đọc phải giật mình đến thảng thốt vì thương cho phận nàng Kiều. Ngôn ngữ trong đoạn trường tân thanh chẳng những giàu mà lại đẹp đến mức diệu kì. Nếu Nguyễn Du không tích luỹ được cho mình một “ đội  quân từ ngữ” hoàn chỉnh đến thế thì truyện Kiều rất dễ làm người đọc nhàm chán biết bao. “ Giàu ngôn ngữ thì vẫn sẽ hay" nhưng ucó vốn mà không biết sử dụng thì chỉ như nhà giàu giữ của" Ngôn ngữ của cuộc đời thường vào tác phẩm phải là những dòng ngôn ngữ văn chương giàu tinh cảm, giàu sức biểu hiện. Có những từ là “nhãn tự" của thơ thì mới có những khổ thơ, bài thơ xuất thần, độc đáo. Nhà văn làm công việc chọn lựa ngôn từ sao cho từ nào đắc ý nhất, đúng chỗ của nó nhất. Khi miêu tả Thuý Kiều với đôi ba nét, Nguyễn Du đã báo trước sô phận của nàng. Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Những sinh vật vô tri làm sao có thể “ghen”, “hờn” trước nhan sắc con người. Hay phải chăng định mệnh trớ trêu đã để mắt tới người con gái tài sắc vẹn toàn ấy. Chỉ dùng một hai chữ thôi nhưng đủ sức diễn tả, dự báo cả cuộc đời nhân vật, thế chẳng là tài tình lắm sao! Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. (Độc Tiểu Thanh Kì) Tiếng “khấp” của người văn hào vĩ đại Việt Nam vẫn vang vọng hằng bao thế kỷ, đi giữa lòng người để nói về nỗi đau đời chất chứa trong tim. Nhà văn không sử dụng tiếng “khốc” mà lại là tiến "khấp" : tiếng nức nở trong tâm hồn, mặn xót, tái tê, nước mắt chảy ngược vào hồn nên ngàn năm còn thương, còn xót. Tố Như để lại cho đời sau một di sản tinh thần đồ sộ và phong phú, đọc văn của ông ta không thể lơi là khi sử dụng tiếng Việt. Ngôn ngữ làm nên văn chương và văn chương có sức mạnh xây dựng hay tàn phá. Phải trân trọng và biết sử dụng ngôn ngữ thì mới có thể sáng tác nên những tác phẩm hay, độc đáo. Văn chương là tâm gương phản ánh cuộc sống nhưng không có nghĩa là bê nguyên cuộc sống vào tác phẩm, mà văn chương là tái hiện và tái tạo cuộc sống. Nhà văn phải nói lên khát vọng của nhân dân, dự báo mọi điều đang đến và sẽ đến trong tương lai. Do đó, văn chương là loại hình nghệ thuật tuyệt vời nhất, đậm đà tình cảm nhất. Muốn văn chương thật gần gũi với quần chúng, nhà văn phải nói lên được khát vọng của họ với cuộc đời, sao cho mỗi tác phẩm đều đem đến cái đẹp cho cuộc đời. “Văn phải linh hoạt. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp”. Sự linh hoạt của văn chương tức là sự linh hoạt của nhà văn khi lao động, sáng tạo nghệ thuật, sao cho mỗi hình tượng nghệ thuật đều có sức trường tồn với thời gian.  Nếu là bê nguyên cuộc đời vào tác phẩm thì chẳng có gì đáng nói, mà nói phải là “người lạ mà quen biết” như Biêlinski đã từng nói. Nhà văn, nhà cảm nhận cuộc sống theo cách riêng của mình, đôi khi điều đó trải với quy luật nhưng lại phù hợp vđi tâm hồn người, nó được bạn đọc chấp nhận: Ngoài thềm rơi cái là đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng. (Trần Đăng Khoa) Với cảm nhận độc đáo của mình, Trần Đăng Khoa đã táo hạo nghe âm thanh (thính giác) bằng đôi mắt (thị giác). “Tiếng rơi rất mỏng” như vết cắn hết nhẹ nhàng của chiếc lá phiến diện “rơi nghiêng”: đêm sau chiến tranh không gian lại yên tĩnh đến thế ư ? Cách diễn đạt, sử dụng ngôn từ mới mẻ của mình đã làm nên một hiện tượng ngôn ngữ thật đep. Ngôn ngữ trong văn chương đa dạng, phức tạp như chính cuộc sống hằng ngày. Qua bàn tay tôi luyện của nhà văn, ngôn ngữ ấy làm nên sự phong phú của văn chương. Phương tiện diễn đạt quyết định cách thành hình của tác phẩm nhà văn phải rèn luyện, học hỏi không ngừng để ngôn ngữ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực và sắc bén trong tay mình. Lời khẳng định của Nguyễn Tuân là một lời khuyên đáng quý cho những người bước vào ngưỡng cửa viết văn và cả cho những ai yêu thích sự sáng tạo văn chương. Nhưng điều đó không có nghĩa là rơi vào chủ nghĩa hình tượng, bỏ quên nội dung tư tưởng tác phẩm, mà một tác phẩm hay là sự sẽ kết hợp hoàn hảo giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, sao cho đó là những bông hoa hương sắc vẹn toản. Và muốn nghiên cứu ngôn ngữ văn chương ta sẽ luôn nhớ đến lời khuyên của nhà vãn “Vang bóng một thời” “Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ... ” Nguyễn Thị Bích Ngọc PTTH Lý Tự Trọng, Cần Thơ Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

4 Đọc thêm

Văn hóa đọc là nền tảng của học vấn. Văn hào M. Go-rơ-ki có nói: “Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới”. Hãy bình luận.

VĂN HÓA ĐỌC LÀ NỀN TẢNG CỦA HỌC VẤN. VĂN HÀO M. GO-RƠ-KI CÓ NÓI: “SÁCH MỞ RỘNG RA TRƯỚC MẮT TÔI NHỮNG CHÂN TRỜI MỚI”. HÃY BÌNH LUẬN.

M.Go-rơ-ki là nhà văn người Nga vĩ đại. Tuổi thơ đầy bất hạnh: mồ côi bố mẹ, phải kiếm sống từ tuổi 13, làm đủ nghề lao động, trôi dạt, lang thang. Nhờ tự học mà trở thành một nhà văn vĩ đại của nước Nga M.Go-rơ-ki là nhà văn người Nga vĩ đại. Tuổi thơ đầy bất hạnh: mồ côi bố mẹ, phải kiếm sống từ tuổi 13, làm đủ nghề lao động, trôi dạt, lang thang. Nhờ tự học mà trở thành một nhà văn vĩ đại của nước Nga, một vãn hào lừng danh thế giới. Nhiều trang hổi kí của ông nói lên rất cảm động về chuyện đọc sách của ông thời thơ ấu và thời lang thang kiếm sống, sách đã gắn bó với "những trường đại học..."của ông. M.Go-rơ-ki từng viết:"Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới".Mỗi lần nhắc lại câu nói này, ta tưởng như ông đang tâm sự cùng ta, đang chỉ dẫn ta biết yêu sách và ham mê đọc sách.1.Loài người có ngôn ngữ và văn tự rồi mới có sách. Sách gắn liền với những chặng đường đi lên của nhân loại. Có sách là tấm đá với những nét khắc. Có sách được ghi trên những thẻ tre, những mai rùa, trên hàng nghìn tâm da cừu. Văn minh nhân loại sáng chế ra giấy, mực về sau là máy in bằng chữ con chì, ngày nay là máy in hiện đại. Sách là kho tàng trí tuệ nhân loại, là giá trị tinh thần vô giá của loài người được tích lũy, chọn lọc, phân tích, tổng hợp và lưu trữ cho mai hậu. Kinh Thánh, sách Phật, hộ sử thi Ramayana dài hàng chục vạn câu thơ... đã mây nghìn năm còn "mở rộng ra" trước mắt loài người. Sách thể hiện tài náng của tác giả, cho thấy bộ mặt tinh thần, bản sắc nền văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Sách có sức sống phi thường vượt mọi giới hạn về thời gian và không gian, làm cho các dân tộc, các chủng tộc xích lại gần nhau. Sách là sản phẩm kì diệu của con người trên đường đi tới văn minh.Sách rất cần thiết đối với mỗi người, "sách mở rộng" tầm mắt chúng ta "những chân trời mới lạ. Sách giúp mọi người phát triển trí tuệ, nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tâm hổn. Có sách dạy ta biết đọc, biết viết, biết tính toán. Có sách văn chương, có sách khoa học, có muôn nghìn thứ sách thể hiện trí tuệ con người. Sách giúp ta hiểu biết nhiều mặt về con người và xã hội, về lịch sử và địa lý ở mọi thời gian và không gian. Sách khoa học dạy ta mở mang trí tuệ, nâng cao tầm "khôn", để lao động, sáng tạo và phát minh. Trên con đường hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, sách khoa học kĩ thuật mở ra trước mắt thanh niên chúng ta những chân trời mới về toán học, tin học, sinh vật học, về y học,... về những kĩ thuật hiện đại. Sách văn chương nghệ thuật hướng thiện nhân tân, dạy cho ta biết yêu, biết ghét, đúng đạo lí, bồi đắp cái đẹp, cái cao cả nhân văn cho tâm hồn ta. Ta yêu một hài hát ru về "Công cha như núi Thái sơn...", ta suy ngẫm về một câu thơ Kiều: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", ta tự hào về tiếng nói của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: Như nước Đại Việt ta từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu.Nếu không có sách thì con người sẽ sống trong tối tăm dốt nát, chỉ là phường giá áo túi cơm. Nói rằng sách mà rộng ra trước mắt chúng ta những chân trời mới - đó là chân trời ước mơ và hy vọng. Con người đích thực là con người biết hướng về tương lai bằng niềm tin và ước mơ. Trong kháng chiến gian lao, nhân dân ta tin tưởng ngày thắng trận, xây dựng lại đất nước ta "mười lần đẹp hơn". Sách giúp ta tự khám phá mình, chiều sâu tâm hồn mình, để tự hoàn thiện nhân cách mình. Sách là nguồn mạch cho nhân vãn, của mọi phát minh, tiến bộ khoa học. Bác học cũng phải học và đọc sách là vậy. Mọi phát minh khoa học đều mang tính kế thừa. Công trình nối tiếp công trình, phát minh nối tiếp phát minh. Mọi nhà khoa học trở nên vĩ đại là nhờ "đứng trên vai những người khổng lồ" như Niu-tơn đã nói, nghĩa là nhờ sách mà thành đạt. Henry Fahre, nhà côn trùng học vĩ đại của nước Pháp trong thế kỷ XIX, trên con đường đến với toán học và khoa học đã nhờ đọc sách và tự học. Ồng mê toán học như mê thơ, và cũng tìm thây trong đại số, hình học nhiều cái đẹp không kém thơ. Ông bảo những con số có tài đức vạn năng, là chìa khóa mở cửa vũ trụ, là những năng lực chỉ huy không gian và thời gian, (dẫn theo Nguyễn Hiến Lê). Đọc truyện Bắt sấu rừng u Minh Hạ của Sơn Nam, ta nhìn thấy, cảm thấy và yêu thêm Cà Mau - miền đất mũi, một thiên nhiên giàu tiềm năng, sông nhiều tôm cá, rừng tràm nhiều chim quý, cá sấu, rắn rùa, con người thì cần cù, dũng cảm, tài ba, trọng nghĩa khinh tài,...M.Go-rơ-ki còn nói lên tác dụng kì diệu của sách đôi với mình: "Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khối con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất về sự thèm khát cuộc sống ấy". (Sách kể chuyện hay... sách ca hát).Nguyễn Trãi đã viết:Gia hữu cầm thư nhi bối lạc;Môn vô xu mũ cổ nhăn sơ.(Mạn thành - 2)Nghĩa là: Nhà có đèn sách thì vui con cái, cửa không có xe ngựa thì bạn bè xa. Đó là sự chiêm nghiệm về xây dựng một truyền thống học hành trong gia đình và thói đời phú quý. Lênin cũng có nói: "Không có sách thì không có trí thức; không có trí thức thì không có chủ nghĩa cộng sản".2. Sách quý như vậy, nhưng sách không tự đến với con người. Chỉ khi nào con người hiếu học, yêu sách, ham mê đọc sách và có phương pháp đọc sách thì sách mới thật sự trở thành người bạn, người thầy, người hướng dẫn, và sách mở rộng ra trước mắt người đọc những chân trời mới. Đọc sách để học tập nhiều điều hay lẽ phải, để học lập những kiến thức đem vận dụng vào cuộc sống thì mới có ích. Ngoài việc học thầy, học bạn, học trong thực tế, ta còn phải học trong sách. Câu nói của Go-rơ-ki đã hàm chứa điều tự học. Phải biết chọn sách mà đọc. Có hoa đẹp và hoa độc, có sách tốt và sách xấu, có sách nhảm nhí, có loại dâm thư,... Sách là món ăn tinh thần nên phải biết chọn sách tốt, sách hay mà đọc. Đọc sách để giải trí đã là quý; đọc sách để tự học, tự nghiên cứu càng quý hơn. Có người đọc sách là để khoe khoang lòe đời, theo lối "ăn sống nuốt đầu óc trở thành "hòm đựng sách" mà vô dụng. Viên Mai (đời Thanh) trong cuốn Tùy viên thi thoại có viết:"Tằm ăn lá dâu nhưng nhả ra tơ chứ không phải nhả ra lá dâu. Ong hút nhụy hoa mà gây thành mật chứ không phủi gây thành nhụy hoa. Đọc sách như ăn cơm vậy, kẻ "khéo ăn", tinh thần sẽ lớn lên, kẻ "không khéo ăn" sinh ra đờm, bướuĐộc giả phải trở thành người đồng sáng tạo với tác giả. Nghĩa là đọc sách với tinh thần chủ động, suy ngẫm nghiền ngẫm để chiếm lĩnh những kiến thức, những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, sâu sắc hàm chứa trong sách. Nói rằng, đọc sách là để hành động, để vươn tới ánh sáng là vậy.Các bậc vĩ nhân, danh nhân đã từng nêu cao những tâ’m gương về sống, làm việc, đọc sách. Vua Lê Thánh Tông, bậc minh quân đời Lê:Trống dời canh còn đọc sách Chiêng xế bóng chừa thôi chầu.Đó là đọc sách để lo việc nước. Còn thi thánh Đỗ Phủ thì đọc sách không biết mệt mỏi là để sáng tác nên những thần cú, những kiệt tác văn chương:Độc thư phú vạn quyển Hạ bút như hữu thần.Tóm lại, câu nói của M.Go-rđ-ki: "Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới" là một lời khuyên chí tình đối với mỗi chúng ta. Đất nước ta đang đổi mới và hòa nhập. Việc đọc sách phải gắn liền với việc học tập của thanh thiếu niên chúng ta ngày nay. Đọc sách để học ngoại ngữ. Đọc sách để trau dồi môn quốc văn. Đọc sách để học tập khoa học kĩ thuật. Học giỏi và đọc sách, say mê đọc sách và nghiên cứu để trở thành người lao động có văn hóa, có kỹ thuật đổ đem tài náng góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, hiện đại.                                                                          loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó

CÓ TÀI MÀ KHÔNG CÓ ĐỨC LÀ NGƯỜI VÔ DỤNG. CÓ ĐỨC MÀ KHÔNG CÓ TÀI LÀM VIỆC GÌ CŨNG KHÓ

Trong một cuộc nói chuyện với học sinh, Bác Hồ có dạy:Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó.Em hiểu thế nào về lời dạy trên. Dàn ý I. Mở bài - Một số thanh niên học sinh thường cố đạt mục đích duy nhất học hành cho thành tài, coi nhẹ việc rèn luyện đạo đức. Lại có người học chưa tốt không chịu cố gắng học tập, rèn luyện tài năng để sau này có thể phục vụ tốt cho xã hội. -  Để khuyên học sinh chú trọng trau dồi cả đức lẫn tài, Bác Hổ đã căn dặn “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm gì cũng khó”. -  Thế nào là tài, thế nào là đức, tại sao thanh niên phải có cả tài lẫn đức II. Thân bài 1. Giải nghĩa từ ngữ a) Có tài - Có kiến thức, kinh nghiệm, nâng lực hoàn thành công việc của mình hiệu quả cao. - Giải quyết mọi vấn đề với kết quả tốt nhờ có phương pháp hữu hiệu sáng tạo. b)   Có đức - Có đạo đức tác phong tốt có ý thức làm chủ, dũng cảm, trung thực mọi người. - Kính trên, nhường dưới, thương yêu, hết lòng giúp đỡ mọi người tận tụy phục vụ nhân dân... 2. Nội dung ý nghĩa câu nói a) Có tài mà không có đức là người vô dụng - Có tài mà không đem tài năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội thi khả năng đó chẳng ích lợi gì. - Nếu có tài mà hành động trái đạo đức thì chẳng những vô ích mà còn có hại, bởi tài cao mà không có đạo đức thì càng nguy hại cho xã hội. - Dẫn chứng: một học sinh giỏi nhưng vô kỉ luật, đạo đức kém, một quản lí có tài nhưng tham ô, một nhà bác học đem khoa học phục vụ che đích xấu xa. b) Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó - Chính tài năng giúp ta hoàn thành công việc. Nếu chỉ có đạo đức, dù mục đích tốt và tận lực làm, cũng khó làm nên. - Hữu đức nhưng vô tài thì việc không những không thành mà còn gây tai hại… Đó là một hình thức của bệnh duy ý chí. - Dẫn chứng: một học sinh hạnh kiểm tốt nhưng học hành yếu kém, một quản lí có nhiệt tình nhưng trình độ văn hoá, chuyên môn yếu kém thì sẽ sai lầm dẫn đến thất bại. Mối quan hệ giữa tài và đức - Có đạo đức, có tài năng mới trở thành con người toàn diện. - Đức thể hiện qua thái độ hành động đúng, mục đích hành động tốt. Tài thể hiện qua thành quả công việc cao. III. Kết bài - Thanh niên học sinh cần trau dồi cả đức lần tài để trò thành người công dân tốt góp phần xây dựng đất nước phồn vinh. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÁC GIẢ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

TÁC GIẢ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Lê-Mạc phân tranh cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam Tiểu sử Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào. Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi. Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình. Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542. Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, do đó học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử". Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên Nguyễn Thiến. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính ... Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công. Tác phẩm văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời. Tiên tri Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình". Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (có tài liệu viết là "khả dĩ dung thân") nghĩa là "Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài". Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể" (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê - Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản" (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: "Lê tồn Trịnh tại". Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương lọai chí: "Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở". La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài "Huyền cơ tham tạo hóa" (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa). Tiến sĩ thời nhà Hậu Lê Vũ Khâm Lân đã làm bia ở đền Trạng Trình và nói rằng danh tiếng Trạng : Như núi Thái sơn, sao Bắc Đẩu Nghìn năm sau như vẫn một ngày. Giai thoại Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Văn Đạt. Mẹ ông là Nhữ thị vốn tinh thông tướng số và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi. Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: "Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung". Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại ngay: "Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung". Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong làm bầy tôi (nguyệt chỉ bầy tôi). Lại một lần khác bà dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm câu hát "Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng". Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình hay được sẽ mất đầu về tội khi quân nên sửa lại: "Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng". Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi. Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên chỉ được ở cạnh bố. Tương truyền sau đó bà lấy một người họ Phùng và sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Sau chính Khắc Khoan trở thành học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bà Nhữ Thị vẫn không thoả chí vì họ Phùng không có chí làm vua. Mãi sau này bà Nhữ tình cờ gặp một trang nam nhi làng chài đang kéo lưới mà bà tiếc nuối vì cho rằng người này có số làm vua, còn tuổi mình đã cao. Người đó chính là Mạc Đăng Dung, vị vua khai triều của nhà Mạc. ( Sưu tầm )
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn bài Một trí khôn hơn trăm trí khôn

SOẠN BÀI MỘT TRÍ KHÔN HƠN TRĂM TRÍ KHÔN

Câu hỏi 1: Tìm những câu nói lên thái độ của Chồn coi thường Gà Rừng.Câu hỏi 2: Khi gặp nạn, Chồn như thế nào?Câu 3. Gà rừng nghĩ ra mẹo gì để thoát nạn?Câu hỏi 4: Thái độ của Chồn đối với Gà Rừng thay đối ra sao? Câu hỏi 1: Tìm những câu nói lên thái độ của Chồn coi thường Gà Rừng -  Hướng dẫn: Em đọc kĩ đoạn 1, tìm xem qua lời đối đáp giữa Chồn và Gà Rừng, câu nào thể hiện thái độ coi thường của Chồn đối với Gà Rừng. Tìm được những câu đó là em đã trả lời được câu hỏi. - Gợi ý: Đó là những câu: “ít.............. ? Mình............ ” Câu hỏi 2: Khi gặp nạn, Chồn như thế nào? -  Hướng dẫn: Em đọc kĩ đoạn 2, suy nghĩ xem hành động và trạng thái của Chồn như thế nào? Tìm được những ý đó là em đã tìm được nội dung câu trả lời. - Gợi ý: Khi gặp nạn thì Chồn tỏ ra “cuống quýt , buồn......... , sợ.......lúng túng, không nghĩ Câu 3. Gà rừng nghĩ ra mẹo gì để thoát nạn?    Hướng dẫn: Em đọc kĩ đoạn 3, suy nghĩ xem Gà Rừng đã dùng mẹo gì để đánh Lừa người thợ săn. Đó chính là nội dung trả lời cho câu hỏi trên. -  Gợi ý Gà Rừng đã nghĩ ra mẹo “giả vờ chết để đánh lừa người thợ săn” Câu hỏi 4:  Thái độ của Chồn đối với Gà Rừng thay đối ra sao? -  Hướng dẫn: Em đọc lại phần đầu của đoạn 3, suy nghĩ xem: từ chỗ coi thường Gà Rừng đến chỗ nghiêm túc thực hiện “mẹo” của Gà Rừng, em sẽ tìm được nội dung cho câu trả lời. - Gợi ỷ: Em có thể đặt tên truyện như sau: “Chỉ cần một trí khôn” hoặc “Giải nguy nhờ trí thông minh” hay “Đừng bao giờ coi thường người khác”, ...
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hãy Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều"

HÃY THUYẾT MINH VỀ TÁC GIẢ NGUYỄN DU VÀ "TRUYỆN KIỀU"

I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Tư Liệu Thuyết Minh Về Nguyễn Du NGUYỄN DU VÀ KIỆT TÁC “TRUYỆN KIỀU” Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1766 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ. Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ. Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì "Thanh hiên thi tập" gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất. Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề "Chánh học và tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu. Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: "Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam". Và ông kết luận: "Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc". Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du. Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐỘC TIỂU THANH KÍ ĐỂ THẤY ĐƯỢC TẤM LÒNG ĐỒNG CẢM SÂU SẮC CỦA NGUYỄN DU VỚI NÀNG TIỂU THANH CŨNG LÀ NHỮNG TÂM SỰ, SUY NGẪM VỀ CHÍNH CUỘC ĐỜI NHÀ THƠ.

PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐỘC TIỂU THANH KÍ ĐỂ THẤY ĐƯỢC TẤM LÒNG ĐỒNG CẢM SÂU SẮC CỦA NGUYỄN DU VỚI NÀNG TIỂU THANH CŨNG LÀ NHỮNG TÂM SỰ, SUY NGẪM VỀ CHÍNH CUỘC ĐỜI NHÀ THƠ.

Bài làm Trong gia tài thi ca phong phú của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, bộ phận thơ chữ Hán có vai trò khá đặc biệt. Đó là những bài mà Nguyễn Du có thể trực tiếp bộc lộ những tâm tư, tình cảm; bày tỏ những day dứt trăn trở của mình. Trong bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" những tâm sự ấy của Nguyễn Du lại có được sự tương đồng, gần gũi với cuộc đời, số phận tài sắc mà bất hạnh của Tiểu Thanh. Bởi vậy bài thơ là sự kết hợp hài hoà giữa nỗi thương người và sự thương mình, giữa sự xót thương cho kiếp người mệnh bạc và lòng trân trọng ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó cũng là một phương diện quan trọng, sâu sắc trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du. Trong thơ văn trung đại, không phải ít hình ảnh những người phụ nữ "tài hoa bạc mệnh", là nạn nhân của cái quy luật "hồng nhan đa truân". Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều đa tài là thế: Câu cẩm tú đàn anh họ Lý Nét đan thanh bậc chị chàng Vương" và: "Cờ tiên, rượu thánh ai đang Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm nhưng rồi rốt cuộc cũng chỉ bị nhốt nơi cung cấm mà nuối tiếc quá khứ, chán nản hiện tại và lo sợ cho tương lai. Tuy nhiên, phải nói rằng chỉ đến Nguyễn Du mới xuất hiện cả một lớp người mang trọn cái số kiếp bạc mệnh ấy: Kiều, Đạm Tiên, người ca nữ đất Long Thành.... Số phận của họ nằm trong mạch cảm hứng chung của Nguyễn Du và thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la ở ông. Bởi thế dễ hiểu vì sao cuộc đời Tiểu Thanh ư một người con gái xa về thời gian, cách về không gian lại nhận được sự cảm thông sâu sắc như thế từ nhà thơ. Tiểu Thanh cũng đầy đủ tài hoa, nhan sắc, nhất là tài hoa văn chương, thơ phú. Cuộc đời cuối cùng cũng vùi chôn trong nấm mồ khi đang độ xuân xanh tuổi trẻ. Phần tinh hoa để lại cho đời cũng tiêu tan chỉ vì cái lòng ghen tuông ích kỷ, tàn ác của người vợ cả. Sự biến đổi đau thương ấy của cuộc đời nàng như được hiện hữu trong cảnh vật : Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn Trong nguyên văn, Nguyễn Du dùng chữ "tận" như muốn xoá sạch mọi dấu vết của cảnh đẹp Tây Hồ, tô đậm thêm ấn tượng hoang vắng, tàn tạ của gò hoang. Sự biến đổi tang thương của cảnh gợi mối thương tâm đến người. Cảnh đẹp Tây Hồ giờ chỉ còn gò hoang cũng như tất cả những gì còn lại của Tiểu Thanh tài sắc chỉ là một mảnh giấy tàn, là phần dư cảo. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng đủ để nhà thơ một mình thương cảm, xót xa mà khóc cho đời hồng nhan. Tiểu Thanh trong đời thực 300 năm trước cũng như nàng Kiều, người ca nữ đất Long Thành đều phải hứng chịu: Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu (Truyện Kiều) Tài sắc của những con người ấy thì được ngợi ca là những giá trị tinh thần cao đẹp nhưng bản thân họ thì lại bị đày đoạ, chà đạp. Nguyễn Du với tấm lòng nhân đạo bao la sâu sắc của mình đó thể hiện một sự đồng cảm, xót thương hết sức chân thành với số phận Tiểu Thanh. Đây là một nét mới mẻ trong Chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Đối tượng mà Nguyễn Du thương cảm, quan tâm không chỉ là "thập loại chúng sinh" đói nghèo đau khổ. Rất nhiều tình cảm của ông hướng về những kẻ tài hoa. Chính số kiếp của Tiểu Thanh tạo nên cái mối hận ngàn năm để Nguyễn Du nhắc đến trong hai câu luận: Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang Mối hận ấy hỏi trời không thấu, hỏi đất không hay, chỉ có những kẻ cùng hội cùng thuyền là có thể cùng nhau than thở. Nguyễn Du tự nhận mình cũng mắc cái nỗi oan kỳ lạ vì nết phong nhó tài hoa. Nói cách khác sự đồng cảm lớn lao của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh có được bởi Nguyễn Du là người đồng cảnh. Lòng thương người khởi phát từ sự thương mình nên càng chân thực và sâu sắc. Đúng như Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyến từng nhận xét rằng: "Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là cái mối thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy". Quả thực cái sự vô tình, trớ trêu của tạo hoá với những kẻ tài năng đó trở thành mối hận của muôn đời và khắp chốn. Như vậy, tình thương của Nguyễn Du đối với Tiêủ Thanh là tình cảm của những người tuy xa cách về hoàn cảnh nhưng lại tương đồng trong cảnh ngộ. Từ nỗi thương mình mà xót xa cho người. Và từ sự thương cảm cho người lại tiếp tục gợi lên bao băn khoăn, day dứt cho kiếp mình. Bởi một lẽ, Tiểu Thanh rốt cuộc còn có được một Nguyễn Du tri âm tri kỷ rỏ lệ xót xa. ít hay nhiều linh hồn văn chương, nhan sắc, tài hoa "hữu thần" ấy còn có được sự an ủi. Nhưng còn Nguyễn Du, cũng là kẻ "tài tử đa cùng" lắm sự lận đận gian nan thì 300 năm sau biết còn ai trong thiên hạ tưởng nhớ, tiếc thương. Đó là cái tâm sự băn khoăn không thể có lời giải đáp mà chỉ nhờ qua trường hợp Tiểu Thanh, Nguyễn Du mới có cơ hội suy ngẫm và gửi gắm. Bài thơ có kết cấu đặc biệt: hai câu đầu là cảnh vật, sự kiện, còn 6 câu sau nặng một khối tình. Khối tình ấy xét riêng ra thì là sự xót xa cho số kiếp Tiểu Thanh và những băn khoăn về cuộc đời chính tác giả. Nhưng ở tầng sâu khái quát nó là nỗi niềm của cả một lớp kẻ sĩ tài hoa, tài tử mà nhân ái bao la.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghị luận "Độc Tiểu Thanh ký" của Nguyễn Du

NGHỊ LUẬN "ĐỘC TIỂU THANH KÝ" CỦA NGUYỄN DU

Bài 1: I.ĐẶT VẤN ĐỀ: 1. Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc, nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX – không chỉ nổi tiếng với “Truyện Kiều” mà ông còn là nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán điêu luyện. 2. “Thanh Hiên thi tập” là những sáng tác bằng chữ Hán thể hiện tình cảm sâu sắc của Nguyễn Du với thân phận con người – nạn nhân của chế độ phong kiến. 3. Trong đó, Đọc Tiểu Thanh ký là một trong những sáng tác đưọc nhiều người biết đến, thể hiện sâu sắc tư tưởng Nguyễn Du và làm người đọc xúc động vì tình cảm nhân đạo cao cả của nhà thơ. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: A. Định hướng phân tích: 1. Độc Tiểu Thanh ký có nghĩa là “độc tập Tiểu Thanh ký” của nàng Tiểu Thanh. Đó là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước ở đời Minh (Trung Hoa). Nàng là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì làm lẽ nên bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Buồn rầu, nàng sinh bệnh chết và để lại tập thơ. Nhưng vợ cả vẫn ghen nên đốt tập thơ, chĩ còn lại một số bài thơ tập hợp trong “phần dư”. Bản thân cuộc đời Tiểu Thanh cũng đã để lại niềm thuơng cảm sâu sắc cho Nguyễn Du. 2. Cảm hứng xuyên suốt toàn bài được diễn tả trong khuôn khổ cô đúc của thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Nguyễn Du khóc người cũng để tự thương mình. Dù là cảm xúc về một cuộc đời bất hạnh đã cách ba trăm năm, nhưng thực chất cũng là tâm sự của nhà thơ trước thời cuộc. B. Chi tiết: 1. Hai câu đề: Hai câu mở đầu của bài thơ giúp người đọc hình dung ra hình ảnh của nhà thơ trong giờ phút gặp gỡ với tiếng lòng của Tiểu Thanh : Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư (Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn) a) Hai câu thơ dịch đã thoát ý nguyên tác nên làm giảm đi phần nào hàm ý súc tích của câu thơ chữ Hán. Nguyễn Du không nhằm tả cảnh đẹp Tây Hồ mà chỉ mượn sự thay đổi của không gian để nói lên một cảm nhận về biến đổi của cuộc sống. Cách diễn đạt vừa tả thực vừa gợi ý nghĩa tưọng trưng. “Tây hồ hoa uyển” (vườn hoa Tây Hồ) gợi lại cuộc sống lặng lẽ của nàng Tiểu Thanh ở vưòn hoa cạnh Tây Hồ – một cảnh đẹp nổi tiếng của Trung Hoa. Nhưng hàm ý tượng trưng được xác lập trong mối quan hệ giữa “vườn hoa – gò hoang”. Dường như trong cảm quan Nguyễn Du, những biến thiên của trời đất đều dễ khiến ông xúc động. Đó là nỗi niềm “bãi bể nương dâu” ta đã từng biết ở Truyện Kiều. Nhìn hiện tại để nhớ về quá khứ, câu thơ trào dâng một nỗi đau xót ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩ vãng. b) Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ cô đơn, như thu mọi cảm xúc trong hai từ “độc điếu”. Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tập sách (nhất chỉ thư). Một mình đối diện với một tiếng lòng Tiểu Thanh 300 năm trước, câu thơ như thể hiện rõ cảm xúc trang trọng thành kính với di cảo của Tiểu Thanh. Đồng thời cũng thể hiện sự lắng sâu trầm tư trong dáng vẻ cô đơn. Cách đọc ấy cũng nói lên được sự đồng cảm của nhà thơ với Tiểu Thanh, “điếu” là bày tỏ sự xót thương với người xưa. Không phải là tiếng “thổn thức” như lời thơ dịch, mà nước mắt lặng lẽ thấm vào trong hồn nhà thơ. 2. Hai câu thực: Hai câu thực đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thuơng ngậm ngùi trong hai câu đề : Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư (Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương) a) Nhà thơ mượn hai hình ảnh “son phấn” và “văn chương” để diễn tả cho những đau đớn dày vò về thể xác và tinh thần của Tiểu Thanh gửi gắm vào những dòng thơ. Theo quan niệm xưa, “son phấn” – vật trang điểm của phụ nữ có tinh anh (thần) vì gắn với mục đích làm đẹp cho phụ nữ. Cả hai câu thơ cùng nhằm nhắc lại bi kịch trong cuộc đời Tiểu Thanh – một cuộc đời chỉ còn biết làm bạn với son phấn và văn chương để nguôi ngoai bất hạnh. b) Mượn vật thể để nói về người. Gắn với những vật vô tri vô giác là những từ ngữ chỉ cho tính cách, số phận con người như “thần” và “mệnh”. Lối nhân cách hóa thể hiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ về những bất hạnh của kiếp người qua số phận của Tiểu Thanh. Kết cục bi thảm của tiểu Thanh xuất phát từ sự ghen tuông, lòng đố kỵ tài năng của người đời. Dù chỉ là những đồ vật vô tri vô giác thì chúng cũng phải chịu số phận đáng thương như chủ nhân : son phấn bẽ bàng, văn chương đốt dở. Hai câu thơ đã gợi lên sự tàn nhẫn của bọn người vô nhân trước những con người tài hoa. Đồng thời, cũng thể hiện nhận thức của Nguyễn Du vốn rất nhạy cảm trước cuộc đời của khách “hồng nhan bạc phận”, gắn với quan niệm “tài mệnh tương đố” của Nho gia. Vật còn như thế, huống chi ngưòi! Vượt lên trên những ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh là cả tấm lòng giàu cảm thương của Nguyễn Du. 3. Hai câu luận: Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con người trong xã hội phong kiến : Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kỳ oan ngã tự cư (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang) a) Nỗi oan của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng nàng mà còn là kết cục chung của những người có tài từ “cổ” chí “kim”. Nhà thơ gọi đó là “hận sự”, một mối hận suốt đời nhắm mắt chưa yên. Trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ – những người có tài mà ông hằng ngưỡng mộ – và bao người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõ cuộc sống của những nạn nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức ủa nhà thơ với thời cuộc, đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du. b) Khóc người để thương mình, cảm xúc đồng điệu đã làm thành câu thơ bất hủ “phong vận kỳ oan ngã tự cư” (Ta tự cho mình cũng ở trong số những kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã). Ở đó là tình cảm chân thành đồng điệu của Nguyễn Du, cũng thể hiện tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo rất đẹp và rất sâu của ông. c) Không phải chỉ một lần nhà thơ nói lên điều này. Ông đã từng hóa thân vào nàng Kiều để khóc thay nhân vật, ông đã từng khẳng định một cách đầy ý thức “thuở nhỏ, ta tự cho là mình có tài”. Cách trông người mà ngẫm đến ta ấy, trong thi văn cổ điển Việt Nam trước ông có lẽ hiếm ai thể hiện sâu sắc như vậy. Tự đặt mình “đồng hội đồng thuyền” với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòng mình cùng nhân thế. Tâm sự chung của những ngưòi mắc “kỳ oan” đã đưọc bộc bạch trực tiếp mạnh mẽ trong tiếng nói riêng tư khiến người đọc cũng không khỏi ngậm ngùi. Tâm sự ấy không chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn là nỗi niềm của các nhà thơ thời bấy giờ. 4. Hai câu kết: Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế : Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hà hà nhân khấp Tố Như (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Ngưòi đời ai khóc Tố Như chăng) a) Khóc cho nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lệ chân thành của trái tim đồng điệu, dòng suy tưởng đã đưa nhà thơ đến ba trăm năm sau cùng một mối hồ nghi khó giải tỏa. Tiểu Thanh còn có tấm lòng tri kỷ của Nguyễn Du tìm đến để rửa những oan khiên bằng giọt nưóc mắt đồng cảm. Còn nhà thơ tự cảm thấy sự cô độc lẻ loi trong hiện tại. Câu hỏi người đời sau ẩn chứa một khát khao tìm gặp tấm lòng tri âm tri kỷ giữa cuộc đời. (Đó cũng là tâm trạng của Khuất Nguyên – “người đời say cả một mình ta tỉnh”, cách Nguyễn Du hai nghìn năm; của Đỗ Phủ, cách Nguyễn Du một nghìn năm : “Gian nan khổ hận phồn sương mấn”) b) Nhà thơ tự thể hiện mình bằng tên chữ “Tố Như” không phải mong “lưu danh thiên cổ” mà chỉ là tâm sự của một nỗi lòng tha thiết với cuộc đời. Câu thơ còn là tâm trạng bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc. Khóc ngưòi xưa, nhà thơ tự khóc cho chính mình, giọt lệ chảy quanh kết lại một bóng hình Nguyễn Du, lặng lẽ cô đơn khiến người đọc phải se lòng khi ngẫm đến những nỗi đau thấm thía và dày vò tinh thần của những ngưòi tài hoa phải sống trong bóng đêm hắc ám của một xã hội rẻ rúng tài năng. III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ: 1. Đã hơn hai trăm năm trôi qua, bài thơ của Nguyễn Du vẫn còn lưu giữ một tấm lòng với con người sâu sắc và chân thành. Đó là tình cảm không biên giới, vượt thời gian, xuất phát từ gốc rễ “thương người như thể thương thân” của dân tộc. 2. Không phải đợi đến ba trăm năm sau, ánh sáng của thời đại mới đã làm sáng mãi tên tuổi của Nguyễn Du trong lòng dân tộc, tên tuổi Tố Như đã làm vinh danh dân tộc Việt Nam. Cuộc sống đã đổi thay, nhiều niềm vui của dân tộc đang nhân lên trước cánh cửa vào thế kỷ XXI, thế nhưng chúng ta vẫn trân trọng và cảm thông nỗi buồn của Nguyễn Du – nỗi buồn thời đại quá khứ. Thời đại mới giải tỏa cho những bế tắc của Nguyễn Du và thời đại của ông, tiếp thu tinh thần nhân bản dân tộc ấy : Hỡi Người xưa của ta nay Khúc vui xin lại so dây cùng Người (Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu) Bài 2: Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, ông là nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX .Ông k không chỉ nổi tiếng với “Truyện Kiều” mà ông còn là nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán điêu luyện “Thanh Hiên thi tập” là một trong những sáng tác bằng chữ Hán thể hiện tình cảm sâu sắc của Nguyễn Du với thân phận con người (nạn nhân của chế độ phong kiến). Trong đó, Độc Tiểu Thanh ký là một trong những sáng tác đưọc nhiều người biết đến, thể hiện sâu sắc tư tưởng Nguyễn Du và làm người đọc xúc động vì tình cảm nhân đạo cao cả của nhà thơ. Độc Tiểu Thanh ký có nghĩa là “đọc tập Tiểu Thanh ” của nàng Tiểu Thanh. Đó là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du ba trăm năm trước ở đời Minh (Trung Hoa). Tương truyền Phùng Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc sống khoảng đầu thời Minh, nhiều ý kiến cho rằng nàng là người Dương Châu, con nhà gia thế, tên chữ là Phùng Huyền Huyền . Vốn thông minh nên từ nhỏ nàng đã thông hiẻu các môn nghệ thuật cầm kì thi hoạ, lại có phong tư lộng lẫy hơn người. Năm 16 tuổi, nàng được gả làm vợ lẽ cho Phùng Sinh, một công tử nhà gia thế. Vợ cả tình hay ghen lại cay độc, bắt nàng ra sống riêng trên Cô Sơn, gần Tây Hồ. Vì đau buồn, nàng sinh bệnh rồi qua đời khi mới tròn mười tám xuân xanh. Nhưng đau khổ muộn phiền được gửi gắm vào thơ nhưng phần lớn bị vợ cả đem đốt hết, may mắn còn một số bài sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt là Phần Dư. Thương xót, đồng cảm với số phận của người con gái tài tình mà bạc mệnh, Nguyễn Du viết ra bài thơ này. Những người phụ nữ có tài có sắc nhưng đường đời truân chuyên bất hạnh cũng là cảm hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du. Cảm hứng xuyên suốt toàn bài được diễn tả trong khuôn khổ cô đúc của thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Nguyễn Du khóc người cũng để tự thương mình. Dù là cảm xúc về một cuộc đời bất hạnh đã cách ba trăm năm, nhưng thực chất cũng là tâm sự của nhà thơ trước thời cuộc. Hai câu mở đầu của bài thơ giúp người đọc hình dung ra hình ảnh của nhà thơ trong giờ phút gặp gỡ với tiếng lòng của Tiểu Thanh : Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư (Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn) Hai câu thơ dịch đã thoát lên ý nguyên tác nên làm giảm đi phần nào hàm ý súc tích của câu thơ chữ Hán. Nguyễn Du không nhằm tả cảnh đẹp Tây Hồ mà chỉ mượn sự thay đổi của không gian để nói lên một cảm nhận về biến đổi của cuộc sống. Cách diễn đạt vừa tả thực vừa gợi ý nghĩa tưọng trưng. “Tây hồ hoa uyển” (vườn hoa Tây Hồ) gợi lại cuộc sống lặng lẽ của nàng Tiểu Thanh ở vưòn hoa cạnh Tây Hồ – một cảnh đẹp nổi tiếng của Trung Hoa. Nhưng hàm ý tượng trưng được xác lập trong mối quan hệ giữa “vườn hoa – gò hoang”. Dường như trong cảm quan Nguyễn Du, những biến thiên của trời đất đều dễ khiến ông xúc động. Đó là nỗi niềm “bãi bể nương dâu” ta đã từng biết ở Truyện Kiều. Nhìn hiện tại để nhớ về quá khứ, câu thơ trào dâng một nỗi đau xót ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩ vãng. Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ cô đơn, như thu mọi cảm xúc trong hai từ “độc điếu”. Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tập sách (nhất chỉ thư). Một mình đối diện với một tiếng lòng Tiểu Thanh ba trăm năm trước, câu thơ như thể hiện rõ cảm xúc trang trọng thành kính của Tiểu Thanh. Đồng thời cũng thể hiện sự lắng sâu trầm tư trong dáng vẻ cô đơn. Cách đọc ấy cũng nói lên được sự đồng cảm của nhà thơ với Tiểu Thanh, “điếu” là bày tỏ sự xót thương với người xưa. Không phải là tiếng “thổn thức” như lời thơ dịch, mà nước mắt lặng lẽ thấm vào trong hồn nhà thơ. Hai câu thực đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thuơng ngậm ngùi trong hai câu đề : Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư (Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương) Nhà thơ mượn hai hình ảnh “son phấn” và “văn chương” để diễn tả cho những đau đớn dày vò về thể xác và tinh thần của Tiểu Thanh gửi gắm vào những dòng thơ. Theo quan niệm xưa, “son phấn” – vật trang điểm của phụ nữ có tinh thần vì gắn với mục đích làm đẹp cho phụ nữ. Cả hai câu thơ cùng nhằm nhắc lại bi kịch trong cuộc đời Tiểu Thanh là một cuộc đời chỉ còn biết làm bạn với son phấn và văn chương để nguôi ngoai bất hạnh của mình . Mượn vật thể để nói về người. Gắn với những vật vô tri vô giác là những từ ngữ chỉ cho tính cách, số phận con người như “thần” và “mệnh”. Lối nhân cách hóa thể hiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ về những bất hạnh của kiếp người qua số phận của Tiểu Thanh. Kết cục bi thảm của tiểu Thanh xuất phát từ sự ghen tuông, lòng đố kỵ tài năng của người đời. Dù chỉ là những đồ vật vô tri vô giác thì chúng cũng phải chịu số phận đáng thương như chủ nhân : son phấn bẽ bàng, văn chương đốt dở. Hai câu thơ đã gợi lên sự tàn hẫn của bọn người vô nhân trước những con người tài hoa. Đồng thời, cũng thể hiện nhận thức của Nguyễn Du vốn rất nhạy cảm trước cuộc đời của khách “hồng nhan bạc phận”, gắn với quan niệm “tài mệnh tương đố” của Nho gia. Vật còn như thế, huống chi ngưòi! Vượt lên trên những ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh là cả tấm lòng giàu cảm thương của Nguyễn Du. Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con người trong xã hội phong kiến qua hai câu luận : Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kỳ oan ngã tự cư (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang) Nỗi oan của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng nàng mà còn là kết cục chung của những người có tài từ “cổ” chí “kim”. Nhà thơ gọi đó là “hận sự”, một mối hận suốt đời nhắm mắt chưa yên. Trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ – những người có tài mà ông hằng ngưỡng mộ và bao người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõ cuộc sống của những nạn nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức ủa nhà thơ với thời cuộc, đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du. Khóc người để thương mình, cảm xúc đồng điệu đã làm thành câu thơ bất hủ “phong vận kỳ oan ngã tự cư” (Ta tự cho mình cũng ở trong số những kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã). Ở đó là tình cảm chân thành đồng điệu của Nguyễn Du, cũng thể hiện tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo rất đẹp và rất sâu của ông. Không phải chỉ một lần nhà thơ nói lên điều này. Ông đã từng hóa thân vào nàng Kiều để khóc thay nhân vật, ông đã từng khẳng định một cách đầy ý thức “thuở nhỏ, ta tự cho là mình có tài”. Cách trông người mà ngẫm đến ta ấy, trong thi văn cổ điển Việt Nam trước ông có lẽ hiếm ai thể hiện sâu sắc như vậy. Tự đặt mình “đồng hội đồng thuyền” với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòng mình cùng nhân thế. Tâm sự chung của những ngưòi mắc “kỳ oan” đã đưọc bộc bạch trực tiếp mạnh mẽ trong tiếng nói riêng tư khiến người đọc cũng không khỏi ngậm ngùi. Tâm sự ấy không chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn là nỗi niềm của các nhà thơ thời bấy giờ. Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế : Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hà hà nhân khấp Tố Như (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Ngưòi đời ai khóc Tố Như chăng) Khóc cho nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lệ chân thành của trái tim đồng điệu, dòng suy tưởng đã đưa nhà thơ đến ba trăm năm sau cùng một mối hồ nghi khó giải tỏa. Tiểu Thanh còn có tấm lòng tri kỷ của Nguyễn Du tìm đến để rửa những oan khiên bằng giọt nưóc mắt đồng cảm. Còn nhà thơ tự cảm thấy sự cô độc lẻ loi trong hiện tại. Câu hỏi người đời sau ẩn chứa một khát khao tìm gặp tấm lòng tri âm tri kỷ giữa cuộc đời. (Đó cũng là tâm trạng của Khuất Nguyên – “người đời say cả một mình ta tỉnh”, cách Nguyễn Du hai nghìn năm; của Đỗ Phủ, cách Nguyễn Du một nghìn năm : “Gian nan khổ hận phồn sương mấn”) Nhà thơ tự thể hiện mình bằng tên chữ “Tố Như” không phải mong “lưu danh thiên cổ” mà chỉ là tâm sự của một nỗi lòng tha thiết với cuộc đời. Câu thơ còn là tâm trạng bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc. Khóc ngưòi xưa, nhà thơ tự khóc cho chính mình, giọt lệ chảy quanh kết lại một bóng hình Nguyễn Du, lặng lẽ cô đơn khiến người đọc phải se lòng khi ngẫm đến những nỗi đau thấm thía và dày vò tinh thần của những ngưòi tài hoa phải sống trong bóng đêm hắc ám của một xã hội rẻ rúng tài năng. Đã hơn ba trăm năm trôi qua, bài thơ của Nguyễn Du vẫn còn lưu giữ một tấm lòng với con người sâu sắc và chân thành. Đó là tình cảm không biên giới, vượt thời gian, xuất phát từ gốc rễ “thương người như thể thương thân” của dân tộc ta. Không phải đợi đến ba trăm năm sau, ánh sáng của thời đại mới đã làm sáng mãi tên tuổi của Nguyễn Du trong lòng dân tộc, tên tuổi Tố Như đã làm vinh danh dân tộc Việt Nam. Cuộc sống đã đổi thay, niềm vui của dân tộc đang nhân lên trước cánh cửa vào thế kỷ XXI, thế nhưng chúng ta vẫn trân trọng và cảm thông nỗi buồn của Nguyễn Du , nỗi buồn thời đại quá khứ. Thời đại mới giải tỏa cho những bế tắc của Nguyễn Du và thời đại của ông, tiếp thu tinh thần nhân bản dân tộc ấy .
Xem thêm

5 Đọc thêm

văn 6: cây bút thần

VĂN 6: CÂY BÚT THẦN

Nhờ tài thông minh, mưu trí B.. Nhờ lòng dũng cảm C.[r]

21 Đọc thêm

VĂN HỌC LÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO

VĂN HỌC LÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO

Vai trò của nhà văn với đời sống văn học Không có ong mật thì chẳng có mật ong. Và không có hoa thì ong cũng chẳng thể làm ra mật. Không có nhà văn thì không có tác phẩm, tất nhiên cũng không thể có đời sống văn học. Lại còn phải có hiện thực phong phú tạo nguồn sáng tạo cho nhà văn thì mới có thơ văn. Từ muốn mặn, phù sa, hương sắc cuộc đời… nhà văn sống hết mình với hiện thực phong phú ấy may ra mới có tác phẩm văn học. Viết về mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống hiện thực, Chế Lan Viên nói: “Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi, Còn một nửa cho mùa thu làm lấy. Cái xào xạc, hồn anh chính là xào xạc lá Nó không là anh, nhưng nó là mùa…” (“Sổ tay thơ – Đối thoại mới) Nhà văn phải khám phá và sáng tạo, không theo đuổi người. Không tô hồng cũng không bôi đen hoặc sao chép hiện thực. Nhà văn cũng không được lặp lại mình. “Văn chương quý bất tùy nhân hậu” (Hoàng Đình Kiên đời Tống”. Những nhân tố cần có đối với một nhà văn Một vạn học sinh đỗ tú tài, sau 5, 6 năm học tập ở đại học có thể đào tạo thành những kĩ sư, bác sĩ… nhưng rất ít hoặc không thể đào tạo thành nhà văn. Có một hiện tượng kỳ lạ là trong xã hội ta ngày nay sao mà nhiều “nhà thơ” thế. Thật ra đó là những “thi sĩ – vè”, “thi sĩ – con cóc”,… Lênin từng nói: “Trong lĩnh vực nghệ thuật, không có chỗ đứng cho kẻ trung bình”. Vậy nhà văn cần những nhân tố gì? – Phải có năng khiếu, có tài. – Phải có cái tâm đẹp. (chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” – Kiều) – Phải có vốn văn hóa rộng rãi (có học). Học vấn thấp hạn chế chẳng khác nào đất ít mầu mỡ, cây kém xanh tươi, hoa trái chẳng ra gì. – Phải có vốn sống như con ong giữa rừng hoa. Phải sống hết mình. – Phải có một lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp: sống và viết vì chủ nghĩa nhân văn. – Phải có tay nghề cao. Xuân Diệu gọi đó là “bếp núc làm thơ”. – Ngoài ra còn có một điều kiện khách quan ấy là môi trường sáng tác. Nhà văn phải được sống trong tự do, dân chủ, phải có vật chất tạm đủ (cơm áo không đùa với khách thơ) … – Với nhà văn, kiêng kị nhất là thói kiêu ngạo, xu nịnh bợ đỡ… Vì thế văn chương có ngôi thứ: kẻ làm thơ, nhà thơ, thi nhân, thi sĩ, thi hào, đại thi hào. Còn có loại “đẽo câu đục vần” được ngồi một chiếu riêng. Loại bồi bút thì bị độc giả khinh bỉ. Trong tập “Văn 10” tập 2 có viết: “Nhà văn phải có năng khiếu, có vốn văn hóa rộng rãi và có tư tưởng nghệ thuật độc đáo. Nói như thế là đúng nhưng chưa đủ. Quá trình sáng tạo Lao động nghệ thuật của nhà văn là một thứ lạo động đặc biệt. Phải có hứng, nếu không có hoặc chưa có cảm hứng thì chưa thể sáng tác. Mỗi nhà văn có một cách sáng tác riêng. Xuân Diệu làm thơ được “thiết kế” công phu chặt chẽ. Tố Hữu thì “câu thơ trước gọi câu thơ sau”. Hoàng Cầm làm thơ, có thể như có ai đọc chính tả cho chép lại. Ông sáng tác bài: “Lá Diêu Bông” vào quá nửa đêm mùa rét 1959. Khi cả nhà đang ngủ say, ông tỉnh giấc “chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như từ thời nào, xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng…” (“Về Kinh Bắc”, trang 160 – 161) Nhà thơ Chế Lan Viên qua đời còn để lại một núi “Phác thảo thơ – di bút”. Đọc hồi kí các nhà văn, nhà thơ danh tiếng, ta ngạc nhiên và vô cùng khâm phục về lao động sáng tạo của họ. Có câu thơ được viết hàng tháng. Có bài thơ hình thành nhiều năm. Có cuốn tiểu thuyết được sáng tác trong 1/10, 1/5 thế kỷ. Để có những “thiên cổ hùng văn”, “thiên cổ kì bút”, “Sách gối đầu giường cho thiên hạ” phải là những bậc thiên tài mới sáng tạo nên. Yêu văn học ta càng yêu kính và biết ơn nhà văn, nhà thơ. Tác phẩm của họ đã làm tâm hồn ta thêm giàu có. Văn chương là cái đẹp muôn đời. Văn chương, văn hiến, văn hóa là niềm tự hào của mỗi quốc gia.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TẠO LỚP ĐẮP CHỊU MÀI MÒN TRÊN NỀN THÉP CÁC BON BẰNG CÔNG NGHỆ HÀN PLASMA BỘT

NGHIÊN CỨU TẠO LỚP ĐẮP CHỊU MÀI MÒN TRÊN NỀN THÉP CÁC BON BẰNG CÔNG NGHỆ HÀN PLASMA BỘT

...BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI NGÔ HỮU MẠNH NGHIÊN CỨU TẠO LỚP ĐẮP CHỊU MÀI MÒN TRÊN NỀN THÉP CÁC BON BẰNG CÔNG NGHỆ HÀN PLASMA BỘT Chuyên ngành: Kỹ thuật Cơ... ể ứng ụng ông ngh hàn PTA vào thự tế s n xu t hƣa rõ ràng V vậy, t gi lựa họn ề tài Nghiên cứu tạo lớp đắp chịu mài mòn thép Các bon công nghệ hàn plasma bột nhằm tạo hế tạo phụ h i ạng hi... Đề tài Nghiên cứu tạo lớp đắp chịu mài mòn thép Các bon công nghệ hàn Plasma bột ƣ t gi nghi n ứu thự nghi m với hƣớng ẫn trự tiếp PGS.TS Bùi Văn Hạnh PGS.TS Nguyễn Thú Hà Bộ môn Hàn Công ngh
Xem thêm

133 Đọc thêm

Văn chương với cuộc đời.

VĂN CHƯƠNG VỚI CUỘC ĐỜI.

Quả thực văn chương luôn gắn bó với cuộc sống. Bắt nguồn từ cuộc sống, trước hết, văn chương là tấm gương phản chiếu cuộc sống. Đọc văn chương kim cổ đông tây, ta như được quay trở về với quá khứ của nhân loại từ thời hoang dại đến thế kỉ văn minh. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng nhận xét về văn chương như sau: Văn chương sẽ là hình dung của cuộc sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống  (Ý nghĩa văn chương). Quả thực văn chương luôn gắn bó với cuộc sống. Bắt nguồn từ cuộc sống, trước hết, văn chương là tấm gương phản chiếu cuộc sống. Đọc văn chương kim cổ đông tây, ta như được quay trở về với quá khứ của nhân loại từ thời hoang dại đến thế kỉ văn minh. Chỉ riêng văn học Việt Nam đã là những thước phim hoành tráng về cuộc sống mấy nghìn năm của dân tộc. Từ thuở các các vua Hùng dựng nước Văn Lang, công cuộc đấu tranh gian khổ để chinh phục thiên nhiên đã in dấu đậm nét trong thần thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh rồi công cuộc khai phá đất đai, mở mang bờ cõi đã đi vào những thần thoại như Thần Trụ Trời, Đi săn mặt đất... Cùng với công cuộc chinh phục thiên nhiên là công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Hình ảnh người anh hùng làng Gióng đánh tan giặc Ân trong thần thoại Thánh Gióng là những kì tích của cha ông. Cứ thế, các thời đại nối tiếp nhau qua đi, thời đại nào mà chẳng in dấu trong văn chương. Sông núi nước Nam là bản tuyên ngôn độc lập khẳng định vị thế và chủ quyền của dân tộc Đại Việt trong buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập. Hịch tướng sĩ là hồi kèn xung trận vang vọng núi sông trong cuộc quyết chiến với một tên đế quốc hùng mạnh bậc nhất của thế kỉ XIII, để bảo toàn giang sơn xã tắc. Bình Ngô đại cáo là khúc khải hoàn tráng lệ, hào hùng ngợi ca cả một dân tộc anh hùng trong chiến thắng lẫy lừng đánh tan ngoại xâm ở thế kỉ XV... Trong những năm của thế kỉ XX, hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc đã hiện diện sinh động trong thơ Tố Hữu, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm..., trong văn Kim Lân, Nguyên Ngọc, Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu. Ta hãy thử sống lại những giây phút gian khổ của chiến sĩ Điện Biên- những người đã làm nên một chiến thắng “chấn động địa cầu” tháng 5 năm 1954: Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng Chí không mòn! Những đồng chí thân chôn làm giá súng Đầu bịt lỗ châu mai Băng mình qua núi thép gai ào ào vũ bão Những đồng chí chèn lưng cứu pháo Nát thân nhắm mắt còn ôm (Tố Hữu) Hay cái giây phút hào hùng đánh Mĩ những năm 60- 70: Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng (Lê Anh Xuân) Bên cạnh những trang hào hùng của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, còn có những bức tranh chân thực về những cuộc sống bình dị đời thường. Một cảnh lao động đầy thơ mộng: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi (Ca dao) Một tâm trạng xao xuyến bồi hồi của một cậu học trò lần đầu tiên đến trường: Con đường này tôi đã quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học. (Thanh Tịnh) Những rung động tinh tế của con người trước thiên nhiên: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai (Nguyễn Trãi) Văn chương không chỉ là tấm gương phản chiếu đời sống, văn chương còn là ước mơ của con người về cuộc đời. Truvền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là ước mơ chiến thắng lũ lụt. Cổ tích Sự tích chú Cuội cung trăng là ước mơ có thứ thuốc thần tiên để cải tử hoàn sinh. Thạch Sanh, Sọ Dừa, Tấm Cám và một loạt các truyện cổ tích khác là ước mơ về cái đẹp, cái thiện, về sự chiến thắng của cái thiện chống cái ác. Em bé thông minh là ước mơ về tài trí của con người. . Kể cả những ước mơ nho nhỏ, những ước nguyện từ sâu thẳm bên trong tâm hồn con người cũng được văn chương nói hộ. Ta hãy lắng nghe tiếng lòng và khát khao hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa: Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng (Ca dao) Những ước vọng ấy có khi chỉ được bộc lộ bằng một lời than ngắn, có lúc lại là một câu chuyện dài đầy xúc động. Cuộc chia tay của những con búp bê là một ví dụ. Truvện là những trang văn thấm đầy nước mắt đau thương của hai đứa trẻ phải chia lìa vì sự tan vỡ của gia đình, ước mong thổn thức của hai đứa trẻ hay chính khát vọng mãnh liệt của nhà văn về quyền sống của trẻ em? Một khát vọng đầy tinh thần nhân bản có thể lay động tâm thức hàng triệu người. Và đây, nỗi sầu da diết, mênh mang sâu thẳm của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc lại làm bùng cháy lên trong ta niềm mong mỏi thiết tha về một thế giới không có chiến tranh để không còn nỗi sầu chia li oái oăm, nghịch chướng, chỉ có nụ cười và ánh mắt hạnh phúc của con người. Khát khao ấy đã từng là khát vọng cao đẹp của vị thân vương quý tộc nhà Trần trên đường phò giá: Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu (Trần Quang Khải) Và cũng là niềm vui tràn ngập trong tâm hồn hoàng đế Trần Nhân Tông trước cảnh thái bình của nhân dân: Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng Làm sao có thề kể hết những ước mơ đẹp về cuộc đời được gửi gắm vào trong những trang thơ văn. Văn chương là như thế đấy. Nó chính là cuộc đời. Nó đẹp như cuộc đời và đẹp hơn cả cuộc đời. Cuối cùng, xin được lấy lời của Hoài Thanh làm lời kết cho bài viết này: Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến mức nào. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề