THẾ NÀO LÀ BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "THẾ NÀO LÀ BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN":

CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

Ch ơng IICác biện pháp tHUế QUANphi thuế quantrong chính sách ngoại th ơng của NhậtBảnNh chúng ta đã biết Nhật Bản là một quần đảo với diện tích là 372.815km2. Mặc dù diện tích lớn hơn diện tích nớc ta (khoảng 15%), song Nhật Bản lạilà một nớc nghèo tài nguyên thiên nhiên. Rừng núi chiếm 2/3 diện tích cả nớc,_______________________________________________________________________13Khoá luận tốt nghiệpdiện tích đất trồng trọt đợc chỉ chiếm 15%. Khoáng sản và các tài nguyên thiênnhiên khác hầu nh không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các nguyênliệu cơ bản nh đồng, chì, kẽm, nhôm.... Nhật Bản đều phải phụ thuộc vào nhậpkhẩu từ nớc ngoài. Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền kinh tế đấtnớc. Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là con ngời.Trong điều kiện khó khăn nh thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế củamình để mở rộng hoạt động thơng mại quốc tế, coi ngoại thơng là nhiệm vụ sốngcòn của đất nớc. Vì vậy, chính sách ngoại thơng , cụ thể là chính sách xuất khẩuvà nhập khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thơng hết sức quan trọng.Trong chơng này chúng ta sẽ lần lợt xem xét nghiên cứu các chính sáchthuế quan và sự phát triển của ngoại thơng Nhật bản trong những năm gần đây.I. chính sách thuế quan của Nhật Bản1. Các loại thuế1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu,do đó số tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong trờng hợp giá hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản xuấttrong nớc không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhợc điểm là cơquan tính thuế sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập khẩu
Xem thêm

74 Đọc thêm

PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ HÀNG RÀO THƯƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN

PHÁP LUẬT CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ HÀNG RÀO THƯƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN

nhiên, hai thuật ngữ trên không phải là một, tùy theo các cách hiểu khác nhau. NếuWTO cho rằng các NTM nhƣ hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu, các quy định về vệsinh… cũng đồng thời đƣợc hiểu là NTB; thì Tổ chức quốc tế về hợp tác kinh tế vàphát triển (OECD) lại cho rằng NTM là các biện pháp mang tính chính sách, tácđộng tới việc hạn chế thƣơng mại, mà không phân biệt tính hợp pháp của các biệnpháp này, còn NTB đƣợc xem là những công cụ cản trở thƣơng mại và những côngcụ này vi phạm quy định của WTO. Tuy nhiên, OECD cũng thừa nhận rằng trongnhiều trƣờng hợp NTM có thể chuyển hóa thành NTB. Trong phạm vi luận vănnày, NTM đƣợc đề cập tới nhƣ một hoặc một số biện pháp cụ thể (nhƣ cấp phépnhập khẩu, biện pháp kiểm dịch…), còn NTB đƣợc đề cập tới nhƣ là tập hợp cácNTM có tính chất gây cản trở thƣơng mại, hoặc NTM và NTB có thể sử dụng thaythế nhau với cùng một ý nghĩa. Các hàng rào và biện pháp phi thuế quan đƣợc đềcập ở đây là các biện pháp chung, áp dụng đối với tất cả các lĩnh vực nông nghiệpvà công nghiệp…Về mặt lịch sử, một số biện pháp phi thuế quan đã xuất hiện trƣớc Chiếntranh thế giới thứ nhất [60, tr. 4] và hầu nhƣ chỉ áp dụng đối với các sản phẩmnông nghiệp. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ trƣớc trở đi đã xuất hiện thêm mộtsố biện pháp bảo hộ mới nhƣ hạn ngạch, cấp phép, và một số biện pháp mang tínhchất bảo vệ nhƣ quy định về sức khỏe, an toàn và vệ sinh.Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các biện pháp bảo hộ đã có bƣớc pháttriển đáng kể do các vòng đàm phán Hiệp định GATT đã quá tập trung vào việcđàm phán cắt giảm hàng rào thuế quan mà gần nhƣ bỏ ngỏ hàng rào phi thuế quan.Cho tới Vòng đàm phán Kenedy từ 1964-1967, sự quan tâm tới hàng rào thƣơngmại phi thuế quan đã trở lại vì các biện pháp phi thuế quan này rất phát triển trongthập kỷ 60 của thế kỷ trƣớc. Cũng từ đây, ngƣời ta đã nhận ra rằng các biện phápphi thuế quan thậm chí có ảnh hƣởng tiêu cực tới thƣơng mại lớn hơn cả các biệnpháp thuế quan. Tới Vòng đàm phán Urugoay, NTB đã thu hút sự chú ý trong lầnđàm phán thứ nhất trong những năm từ 1986-1994. Trong suốt quá trình đàm phán,
Xem thêm

21 Đọc thêm

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN

2.1.1. Khái quát chung về việc sử dụng hàng rào phi thuế quanCùng với việc tham gia các FTA, các dòng thuế ngày càng giảm và hàng rào thuếquan không còn nhiều ý nghĩa. Đây cũng là xu hướng chung trong quan hệ thương mạigiữa các nước trên thế giới. Báo cáo năm 2012 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)về chủ đề “Thương mại và chính sách công: Cần giám sát chặt chẽ hơn các biện pháp phithuế quan trong thế kỷ 21" cảnh báo xu hướng sử dụng các biện pháp phi thuế quan đểbảo hộ mậu dịch đang gia tăng trong thương mại quốc tế. Báo cáo công bố ngày 20/7 nêurõ các biện pháp phi thuế quan (NTM) - như các tiêu chuẩn, quy chế đối với hàng côngnghiệp và nông sản - tác động đến hoạt động thương mại thậm chí còn lớn hơn cả thuếquan, làm nảy sinh các thách thức mới và rắc rối lớn hơn trong hợp tác quốc tế trong thếkỷ 21.Mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình một hàng rào kỹ thuật hợp pháp, nhằm đảmbảo cung ứng các hàng hóa đạt yêu cầu chất lượng. Một trong những hàng rào hiệu quảnhất mà nhiều quốc gia phát triển hiện đang áp dụng hiệu quả chính là việc thiết lập cáctiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Việc thiết lập các hàng rào tiêu chuẩn về môi trường,an toàn thực phẩm và vệ sinh dịch tễ thông qua các biện pháp kiểm tra, kiểm định hoặckiểm dịch động thực vật vừa không vi phạm các cam kết của các hiệp định quốc tế màcòn giúp bảo hộ tốt ngành sản xuất nội địa. Các biện pháp liên quan tới môi trường là mộtxu hướng mới trong thương mại quốc tế. Có thể xem xét xây dựng cơ sở pháp lý để ápdụng nhãn sinh thái là một tiêu chuẩn, không chỉ giúp người tiêu dùng nhận thức về sảnphẩm, tác động đối với môi trường mà còn là một hàng rào giúp bảo hộ ngành sản xuấttrong nước. Xu thế hội nhập quốc tế sẽ ngày càng khẳng định giá trị của tài sản trí tuệ, vìvậy bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng sẽ là một hàng rào bảo hộ rất tốt đối với hàng hóa nhậpkhẩu vào trong nước. Trong các thành viên của WTO, Hoa Kỳ và EU là 2 nước và khuvực áp dụng các rào cản kỹ thuật nhiều nhất. Quy định và tiêu chuẩn hàng hóa tại cácnước đang phát triển tiếp tục được hoàn thiện, thể hiện qua sự phong phú về các biệnpháp TBT được công bố và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nhóm quốc gia.Theo Trung tâm Thương mại Quốc tế ITC, ngành nông sản – thực phẩm đặc biệt
Xem thêm

7 Đọc thêm

TIỂU LUẬN NHỮNG GIẢI PHÁP VƯỢT QUA HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VN VÀO THỊ TRƯỜNG EU VÀ MỸ

TIỂU LUẬN NHỮNG GIẢI PHÁP VƯỢT QUA HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VN VÀO THỊ TRƯỜNG EU VÀ MỸ

II.1.2. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các thị trườngII.1.2.1. Đối với thị trường EUTừ những năm 1980, sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã xuấthiện trên thị trường EU dưới một nhãn hiệu chung là Seaprodex. Ngay từ nhữngnăm đầu thâm nhập thị trường EU, sản phẩm thủy sản được xuất khẩu chung vớicác sản phẩm nông sản khác với số lượng ít nhưng đã gây được cảm tình củangười tiêu dùng châu Âu. Vào năm 1985, 1986, Công ty xuất nhập khẩu thuỷsản Việt Nam SEAPRODEX đã được trao tặng danh hiệu “ Nhãn hiệu sản phẩmthủy sản uy tín”.Nhận thức được rằng, quá trình tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, đặc biệt làtiêu thụ với giá trị gia tăng thông qua xuất khẩu, là động lực bảo đảm cho sựtăng trưởng và phát triển của các hoạt động sản xuất khai thác và nuôi trồng, bêncạnh việc giữ vững các thị trường truyền thống, ngành thuỷ sản đã chủ trươngtích cực đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, trong đó EU là một trong những lựachọn hàng đầu. Do đây là một thị trường lớn, ổn định, giá tốt nhưng có đòi hỏirất cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là sau những vụ ngộđộc thực phẩm, nên để thu được thành công ở thị trường này, ngành đã xác địnhkhông ngừng nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm là nhiệm vụ quantrọng hàng đầu trong chiến lược xúc tiến thâm nhập thị trường. Ngành đã hướngdẫn các doanh nghiệp phấn đầu liên tục nhiền năm để tạo nên những bướcchuyển biến tích cực theo hướng này. Từ Bộ Thuỷ sản đến các doanh nghiệp đãthực hiện hàng loạt biện pháp, từ cải thiện hệ thống thể chế, hoàn thiện văn bảnquy phạm pháp luật, nâng cao năng lực các cơ quan thẩm quyền, đổi mới cáchtiếp cận trong quản lý chất lượng, an toàn sản phẩm, cho đến đầu tư đổi mớicông nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cấp điềukiện sản xuất nhằm thoả mãn các điều tương đồng với các nước nhập khẩu về hệ21thống pháp lý, năng lực của cơ quan thực thi pháp lý và điều kiện sản xuất của
Xem thêm

42 Đọc thêm

Power Point Đề bài 4: Bình luận hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN trong lĩnh vực du lịch

POWER POINT ĐỀ BÀI 4: BÌNH LUẬN HOẠT ĐỘNG TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA ASEAN TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH

Tự do thương mại là sự nới lỏng của nhà nước hay chính phủ trong lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.Nội dung của tự do thương mại hoá dịch vụ là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động thương mại dịch vụ quốc tế cả bề rộng và bề sâu. Các biện pháp ở đây là điều chỉnh theo hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp trên cơ sở các thoả thuận song phương và đa phương với các quốc gia.
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 1 1. Chính sách kinh tế đối ngoại: khái niệm, chức năng, vai trò. 2 2. Chính sách thương mại quốc tế: khái niệm, nội dung, công cụbiện pháp 5 3. Chính sách đầu tư quốc tế: khái niệm, công cụbiện pháp 8 4. Chính sách tỷ giá hối đoái: khái niệm, công cụbiện pháp 10 5. Các xu hướng cơ bản chi phối chính sách kinh tế đối ngoại của các quốc gia 11 6. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thường được các quốc gia sử dụng: nội dung, xu hướng điều chỉnh trong quá trình hội nhập ktqt và cho ví dụ minh họa 14 7. Các biện pháp để khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được các quốc gia sử dụng: nội dung và cho ví dụ minh họa 15 8. Chính sách thương mại quốc tế của singapore: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 19 9. Chính sách đầu tư quốc tế của singapore: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 21 10. Chính sách thương mại quốc tế của malaysia: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 26 11. Chính sách đầu tư quốc tế của malaysia: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 30 1. CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI: KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG, VAI TRÒ. a) Khái niệm: là hệ thống các quan điểm, mục tiêu (1), nguyên tắc công cụ và biện pháp do Nhà nước hoạch định và thực hiện để điều chỉnh các hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khối liên kết kinh tế trong một thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu (2) phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, vùng, lãnh thổ, khối liên kết đó. Phân tích:  Quan điểm: phụ thuộc vào kinh tế chính trị của mỗi quốc gia. Nước VN: đơn đảng >> chính sách dựa trên quan điểm của Đảng  Mục tiêu (1): mục tiêu ngắn hạn, cụ thể, trực tiếp của chính sách – chỉ thuộc lĩnh vực đó  Nguyên tắc: bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền không can thiêp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia, giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đã chọn  Công cụ, biện pháp: nhà nước xây dựng và thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại như công cụ thuế quan, phi thuế quan, công cụ lãi suất…  Mục tiêu (2): mục tiêu dài hạn, mục tiêu tông quát, là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Ví dụ: chính sách khoáng sản: mục tiêu cụ thể chính sách là khai thác hiệu quả khoáng sản, thúc đẩy hoạt động XNK. Nhưng mục tiêu chung: ko gây ô nhiễm môi trường, thất thoát ngân sách, cạn kiệt tài nguyên. Các bộ phận cấu thành của chính sách KTĐN: 1. Chính sách TMQT 2. Chính sách ĐTQT 3. Chính sách tỷ giá hối đoái 4. Chính sách KTĐN khác b) Chức năng: • Chức năng kích thích: với chức năng này chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia chủ động và mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, thu hút ngày càng nhiều các nguồn lực từ bên ngoài như vốn, công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến nhằm phát triển kinh tế quốc dân. Ví dụ: Các quốc gia thường thực hiện việc xúc tiến xuất khẩu như hỗ trợ việc nghiên cứu thị trường, cung cấp các thông tin tạo điều kiện cho việc tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế hoặc hỗ trợ việc đổi mới công nghệ để đẩy mạnh xuất khẩu. Hỗ trợ lãi suất, vốn từ ngân sách cho hoạt động xuất nhập khẩu. Chính sách thu hút đầu tư quốc tế như thông qua chính sách đầu tư hỗ trợ thuế sử dụng tài nguyên, chính phủ hỗ trợ vốn để doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia… • Chức năng bảo hộ: với chức năng này, chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có khả năng đứng vững và vươn lên trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường sức cạnh tranh với các hàng hóa dịch vụ từ bên ngoài vào, tạo thêm việc làm và đạt tới quy mô tối ưu cho các ngành kinh tế, đáp ứng cho yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia. Ví dụ: trong chính sách TMQT có sử dụng công cụ hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩul, bảo vệ doanh nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu hoặc các ngành công nghiệp non trẻ trong nước • Chức năng phối hợp và điều chỉnh: với chức năng này, chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước thích ứng với sự biến đổi và vận động mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, tham gia tích cực vào quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, thiết lập cơ chế điều chỉnh thích hợp trong điều kiện tỷ giá hối đoái thường xuyên thay đổi, tác động vào cán cân thanh toán quốc tế theo chiều hướng có lợi cho mỗi quốc gia. Ví dụ: Chính sách tỷ giá hối đoái có thể kết hợp với chính sách tiền tệ nhằm quản lý lượng ngoại tệ trong nước đồng thời quản lý tỷ giá hối đoái ở mức mong muốn. c) Vai trò: • Tạo cơ hội việc phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong nước và thu hút nguôn lực ngoài nước vào việc phát triển các ngành và các lĩnh vực có hiệu quả cao của nền kinh tế quốc dân, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển như nguồn vốn, nguồn công nghệ, sức lao động có trình độ cao và sự hạn hẹp của thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới. • Tạo khả năng cho việc phát triển nhân công lao động quốc tế: giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, bảo đảm đầu vào và đầu ra cho nền kinh tế trong nước một cách ổn định và phù hợp với tốc độ phát triển cao của những thập kỷ gần đây, tạo thuận lợi cho việc hình thành các tập đoàn kinh doanh tầm cỡ quốc gia. Hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Có thể thực hiện qua trình chuyên môn hóa sâu rộng hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác đối với đối tác nước ngoài. • Phục vụ cho việc xây dựng các ngành công nghiệp mới có trình độ công nghiệp cao, phát triển các hình thức kinh doanh đa dạng và phong phú, tạo lập các khu vực có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng nhanh GDP cũng như tăng nhanh tích lũy và tiêu dùng. Các lĩnh vực kinh tế mới với trình độ công nghệ vá sức cạnh tranh ngày càng cao, phát huy tốt hơn lợi ích của các quốc gia. • Góp phần vào việc tăng cường sứ mạnh và tiềm lực quốc phòng an ninh, phát triển quan hệ cả về kinh tế cũng như chính trị, ngoại giao, khoa học công nghệ giữa các quốc gia và các dân tộc trên cơ sở độc lập, bình đẳng giữ vững chủ quyền và các bên cùng có lợi. 2. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, CÔNG CỤBIỆN PHÁP a) Khái niệm: Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với định hướng chiến lược, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế–xã hội của quốc gia đó. b) Nội dung: Chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia bao gồm nhiều bộ phận khác nhau và có liên quan hữu cơ với nhau. Đó là: • Chính sách mặt hàng: Trong đó bao gồm danh mục các mặt hàng được chú trọng trong việc xuất nhập khẩu, sao cho phù hợp với trình độ phát triển và đặc điểm của nền kinh tế đất nước cũng như những mặt hang cần hạn chế hoặc phải cấm xuất–nhập khẩu, trong một thời gian nhất định, do những đòi hỏi khách quan của chiến lược phát triển kinh tế–xã hội và yêu cầu của việc đảm bảo an ninh, an toàn xã hội. • Chính sách thị trường: Bao gồm định hướng và các biện pháp mở rộng thị trường, xâm nhập thị trường mới, xây dựng thị trường trọng điểm, các biện pháp có đi có lại giữa các quốc gia mang tính chất song phương hoặc đa phương, việc tham gia vào các hiệp định thương mại và thuế quan trong phạm vi khu vực hay toàn cầu nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển phục vụ cho các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế–xã hội. • Chính sách hỗ trợ bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động mét cách gián tiếp đến hoạt động thương mại quốc tế như chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách giá cả và tỷ giá hối đoái, cũng như chính sách sử dụng các đòn bẩy kinh tế…Các chính sách này có thể gây tác động thúc đẩy hay điều chỉnh sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế. c) Công cụbiện pháp: Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia, người ta sử dụng các công cụ chủ yếu sau: Công cụ thuế quan và công cụ phi thuế quan.  Công cụ thuế quan Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất hay nhập khẩu của mỗi quốc gia.Thuế quan bao gồm: Thuế quan xuất khẩu và thuế quan nhập khẩu. • Thuế quan xuất khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu. • Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá nhập khẩu. Bên cạnh thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu còn có một số loại thuế quan đặc thù: Hạn ngạch thuế quan: là một biện pháp quản lý xuất nhập khẩu với 2 mức thuế xuất nhập khẩu; hàng hoá trong hạn ngạch mức thuế quan thấp, hàng hoá ngoài hạn ngạch chịu mức thuế quan cao hơn. Thuế đối kháng: là loại thuế đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp. Thuế chống bán phá giá: Là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để ngăn chặn, đối phó với hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra còn một số loại thuế khác như: Thuế tối huệ quốc, thuế phi tối huệ quốc, thuế thời vụ... Trong bối cảnh xu hướng khu vực hóa toàn cầu hóa, việc sử dụng công cụ thuế xuất nhập khẩu bị hạn chế. Dấu mốc quan trọng là Việt Nam gia nhập TPP, cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế nhập khẩu. Tuy nhiên có một số mặt hàng cam kết xóa bỏ thuế luôn như dệt may, giày dép, gạo, có một số mặt hàng sẽ xóa bỏ thuế trong vòng vài năm sau như ô tô (xóa bỏ thuế vào năm thứ 13 đối với các loại ô tô mới) sắt thép, xăng dầu (chủ yếu xóa bỏ thuế vào năm thứ 11)… Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 515 năm sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực. Một số nhóm mặt hàng quan trọng như than đá, dầu mỏ và một số loại quặng, khoáng sản được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu.  Công cụ phi thuế quan • Hạn ngạch: là những quyết định của nhà nước về lượng hàng hoá lớn nhất đuợc phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ một thị trường hoặc một khu vực cụ thể trong một thời gian nhất định. • Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định của nhà nước hay các tổ chức về tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định về an toàn lao động, bao bì đóng gói cũng như các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định một tỷ lệ nguyên vật liệu nhất định trong nước để sản xuất một loại hàng hoá nào đó…đựơc sử dụng để bảo vệ môi trường sinh thái và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong TMQT. . • Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là yêu cầu của nước nhập khẩu đối với nước xuất khẩu phải cắt giảm lượng hàng hoá xúât khẩu một cách tự nguyện nhằm hạn chế việc gây thiệt hại về lợi ích cho các nhà sản xuất nội địa tại nước nhập khẩu. • Trợ cấp xuất khẩu: Trợ cấp xuất khẩu là biện pháp mà chính phủ các quốc gia xây dựng và hoàn thiện nhằm thúc đẩy hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu phát triển, khai thác tốt hơn lợi thế của quốc gia. Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hàng rào phi thuế quan gây cản trở đối với hoạt động thương mại. Những biện pháp phi thuế phổ thông (như giấy phép, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh kiểm dịch...) cần được chuẩn mực hoá theo các quy định chung của WTO hoặc các các thông lệ quốc tế và khu vực khác.
Xem thêm

42 Đọc thêm

GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU CHƯƠNG I:GiỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO VÀ QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM………………………………... 4 1.1Giới thiệu chung về WTO……………………………………………………….4 1.1.1Mục tiêu, nhiệm vụ và chức năng…………………………………….. 4 1.1.2Cơ cấu tổ chức…………………………………………………………6 1.1.3Các nguyên tắc cơ bản………………………………………………...8 1.1.4Các hiệp định của WTO………………………………………………. 12 1.2Tóm tắt quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO………………………….. 1.2.1. Sự cần thiết của việc gia nhập WTO……………………………………... 1.2.2. Quá trình đàm phán và ký kết……………………………………………. 1.2.3. Các cam kết chủ yếu và lộ trình thực hiện……………………………….. 13 13 15 17 CHƯƠNG II:ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM………………………………………… 22 2.1Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam……………………………………………………………………………... 23 2.2 2.3 2.4 2.5Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam…………………………………………………………………... Tác động của việc gia nhập WTO đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác …….. Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong bối cảnh tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các liên kết kinh tế mới……………………………. Một số giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức………………... 33 39 44 47 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI MỞ ĐẦU Trở thành thành viên của WTO và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do mang lại cho Việt Nam cả những cơ hội và thách thức to lớn. Thực hiện các cam kết đối với WTO làm nảy sinh các vấn đề xã hội khi tiến hành cải cách và tự do hóa thương mại. Các ngành công nghiệp trong nước cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình điều chỉnh do sức ép cạnh tranh. Cũng giống như các quốc gia khác, việc thực hiện các nghĩa vụ khi gia nhập WTO của Việt Nam đang có những tác động sâu sắc đến kinh tế và xã hội nói chung. Để đảm bảo quá trình gia nhập WTO của Việt Nam mang lại sự phát triển kinh tế cân bằng và bền vững, cần thiết phải có đánh giá tác động của việc gia nhập này cũng như đề ra các chính sách và khuyến nghị hành động nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực. Đây cũng là những nội dung cốt lõi mà bài luận của nhóm muốn hướng tới. CHƯƠNG I: GiỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO VÀ QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM 1.1.Giới thiệu chung về WTO WTO có tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization). Tổ chức này được thành lập và hoạt động từ 01/01/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch. Tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan - GATT 1947 (chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá) và là kết quả trực tiếp của Vòng đàm phán Uruguay (bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư). Tính đến ngày 27/7/2015, tổ chức này có 162 thành viên. Thành viên của WTO là các quốc gia(ví dụ Hoa Kỳ, Việt Nam…) hoặc các vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương (ví dụ EU, Đài Loan, Hồng Kông…). 1.1.1.Mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ Nhiệm vụ của WTO - Thúc đẩy việc thực hiện các Hiệp định và cam kết đã đạt được trong khuôn khổ WTO (và cả những cam kết trong tương lai, nếu có). -Tạo diễn đàn để các thành viên tiếp tục đàm phán, ký kết những Hiệp định, cam kết mới về tự do hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại. -Giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên WTO. -Rà soát định kỳ các chính sách thương mại của các thành viên. Mục tiêu: -Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường; -Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới; -Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng. Chức năng: -Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ. -Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO. -Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên. -Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO (Phụ lục 3) đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên. -Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu. 1.1.2.Cơ cấu tổ chức Hội nghị bộ trưởng: Hội nghị bộ trưởng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên của WTO. Hội nghị bộ trưởng họp hai năm một lần. Hội nghị bộ trưởng là cơ quan quyền lực cao nhất của WTO. Hội nghị bộ trưởng sẽ thực thi các chức năng của WTO và thực hiện hiện những hành động cần thiết để thực thi các chức năng này. Ðại hội đồng: Ðại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết. Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng thì chức năng của Hội nghị bộ trưởng sẽ do Ðại hội đồng đảm nhiệm. Như vậy, có thể hiểu Ðại hội đồng là cơ quan quyết định tối cao của WTO trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng. Khi cần thiết, Ðại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan giải quyết tranh chấp hoặc Cơ quan rà soát chính sách thương mại Như vậy, các hoạt động hàng ngày trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội nghị bộ trưởng thuộc trách nhiệm giải quyết của 3 cơ quan: Ðại hội đồng; Cơ quan giải quyết tranh chấp; Cơ quan rà soát chính sách thương mại. Các hội đồng; các uỷ ban; các nhóm công tác: Các hội đồng: Các hội đồng trực thuộc Ðại hội đồng, hoạt động theo sự chỉ đạo chung của Ðại hội đồng. Các hội đồng cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO. Ðại hội đồng có các hội đồng sau: Hội đồng thương mại hàng hoá Hội đồng thương mại dịch vụ Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Chức năng của các hội đồng là giám sát việc thực hiện các hiệp định liên quan đến lĩnh vực của mình. Các hội đồng sẽ nhóm họp khi cần thiết. Các hội đồng này thành lập ra các cơ quan cấp dưới theo yêu cầu. Các uỷ ban: Hội nghị bộ trưởng thành lập ra các uỷ ban. Các uỷ ban cũng bao gồm các đại diện của tất cả các thành viên của WTO. Các uỷ ban này đảm nhiệm các chức năng được quy định trong các hiệp định của WTO hoặc các chức năng do Ðại hội đồng giao cho. Tuy cũng trực thuộc Ðại hội đồng nhưng thẩm quyền hoạt động của các uỷ ban hẹp hơn so với các hội đồng. Ðại hội đồng có các uỷ ban sau: Uỷ ban về thương mại và môi trường; Uỷ ban về thương mại và phát triển; Uỷ ban về hiệp định thương mại khu vực; Uỷ ban về các hạn chế nhằm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế; Uỷ ban về ngân sách, tài chính và quản trị; Các nhóm công tác: Các nhóm công tác cũng trực thuộc Ðại hội đồng nhưng cấp độ nhỏ hơn và hẹp hơn so với các uỷ ban. Ðại hội đồng có nhóm công tác sau: Nhóm công tác về gia nhập tổ chức; Nhóm công tác về quan hệ giữa thương mại và đầu tư; Nhóm công tác về tác động qua lại giữa thương mại và chính sách cạnh tranh; Nhóm công tác về minh bạch trong chi tiêu chính phủ; Nhóm công tác về thương mại, nợ và tài chính; Nhóm công tác về thương mại và chuyển giao công nghệ. Ban thư ký của WTO: Ban thư ký của WTO đặt tại Geneva. Ban thư ký có khoảng 550 nhân viên. Nhân viên của Ban thư ký do Ban thư ký tuyển dụng qua thi tuyển. Ðiều kiện trước tiên là phải thông thạo 3 ngoại ngữ là ngôn ngữ chính thức của WTO là Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Ðứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc. Tổng giám đốc của WTO do Hội nghị bộ trưởng bổ nhiệm, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, điều kiện phục vụ và thời hạn phục vụ của Tổng giám đốc. Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 4 năm.Tổng giám đốc sẽ bổ nhiệm các thành viên của Ban thư ký. Dưới Tổng giám đốc là các Phó tổng giám đốc. Các vụ chức năng của Ban thư ký trực thuộc Tổng giám đốc hoặc một Phó tổng giám đốc. 1.1.3.Các nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc 1: Thương mại không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN): Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình. Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất". Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất". Và như vậy, kết quả là không phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào. Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): "Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa. Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau. Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước. Nguyên tắc 2: Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán): Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép...). Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ... Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cách khác, đối với nhiều nước, khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước. Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từng bước. Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan được thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện. Nguyên tắc 3: Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch: Ðây là nguyên tắc quan trọng của WTO. Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ. Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện. Ðây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau: Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan: Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau. Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan. Ðây gọi là các mức thuế suất ràng buộc. Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra. Về các biện pháp phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch. Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự do thương mại. Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt. Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình. Ðồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại. Nguyên tắc 4: Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn: Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ. Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp...hoặc các biện pháp bảo hộ khác. Ðể thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá... Nguyên tắc 5: Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển nhất: Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển. Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau. Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/ 4 số nước thành viên của WTO. Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên. Ðể thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO. Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình. Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn. 1.1.4.Các hiệp định của WTO Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được kí kết tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO: Phụ lục 1 -Phụ lục 1A - Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hoá Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 Hiệp định Nông nghiệp Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật Hiệp định về Hàng dệt may Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMs) Hiệp định Chống bán phá giá (thực thi điều VI của GATT) Hiệp định Xác định trị giá tính thuế hải quan (thực thi điều VII của GATT 1994) Hiệp định về Giám định hàng hóa trước khi gửi hàng (PSI) Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng Hiệp định về Biện pháp tự vệ -Phụ lục 1B - Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) -Phụ lục 1C - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Xem thêm

48 Đọc thêm

So sánh phạm vi, mức độ và cách thức thực hiện sự tự do di chuyển hàng hóa trong liên minh châu Âu

SO SÁNH PHẠM VI, MỨC ĐỘ VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN SỰ TỰ DO DI CHUYỂN HÀNG HÓA TRONG LIÊN MINH CHÂU ÂU

So sánh phạm vi, mức độ và cách thức thực hiện sự tự do di chuyển hàng hóa trong Liên minh châu Âu với tự do hóa thương mại hàng hóa trong ASEAN Chuyên mục Bài tập học kỳ, Pháp luật liên minh châu Âu Bài tập học kỳ Pháp luật liên minh châu Âu 8 điểm. ĐẶT VẤN ĐỀ. Toàn cầu hóa đang là xu thế của nền kinh tế thế giới, kéo theo đó để hợp tác thương mại phát triển, thì tự do hóa thương mại dần trở thành hướng đi của các quốc gia. Không nằm ngoài quy luật đó, ASEAN và EU cũng tiến hành tự do hóa thương mại là một trong những trị cột quan trọng của mình. Trong phạm vi bài viết này em xin tìm hiểu vấn đề này thông qua việc “So sánh phạm vi, mức độ và cách thức thực hiện sự tự do di chuyển hàng hóa trong Liên minh châu Âu với tự do hóa thương mại hàng hóa trong ASEAN” GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1.Phạm vi tự do di chuyển hàng hóa trong EU (TDDCHH) và tự do hóa thương mại hàng hóa ( TDHTMHH) trong ASEAN Ta thấy Cả ASEAN và EU đều tiến hành tự do hóa thương mại hàng hóa trên các lĩnh vực, đó là: “tự do hóa thuế quan; các biện pháp phi thuế quan, tự do hóa trong các quy định về xuất xứ hàng hóa”. Sự giống nhau này trong phạm vi tự do này xuất phát từ mục đích mà ASEAN hướng tới là “ xây dựng một khu vực thương mại tự do” mà tại đó “ các rào cản thương mại được dỡ bỏ”. Trong khi đó EU lại hướng tới việc “xây dựng và vận hành thị trường chung Châu Âu nhằm xoá bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải quan (xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế) để tự do lưu thông hàng hoá”. Trong tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa. Thuế quan và các biện pháp phi thuế quan có thể nói là hai rào cản lớn và cơ bản. Do vậy, để có thể đạt được mục đích của mình, lẽ dĩ nhiên trước hết ASEAN và EU phải tiến hành giảm bớt tiến tới xóa bỏ những rào cản này. Tuy nhiên: Đối với liên minh Châu âu EU. “ Hàng hóa” ( goods) theo quy định tại Điều 34,35 TFEU 2009 được hiểu là “ các sản phẩm có thể định giá bằng tiền, có thể định hình và là đối tượng của một giao dịch thương mại. Hàng hóa này có thể là hàng hóa có xuất xứ từ một quốc gia thành viên hoặc hoặc hàng hóa từ nước thứ ba được tự do lưu thông tại các quốc gia thành viên”. Trong khi đó ở ASEAN theo quy định tại Hiệp định về thương mại hàng hóa ATIGA thì “hàng hóa là đối tượng của tự do hóa thương mại hàng hóa là tất cả hàng hóa thuộc Biểu thuế quan hài hòa ASEAN ( AHTN).” Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, trong Liên minh Châu âu, hàng hóa được tự do di chuyển giữa các nước thành viên không được quy định một cách cụ thể đó là các loại hàng hóa gì mà thay vào đó, Liên minh châu âu đưa ra một quy định chung về hàng hóa. Ngược lại đó, ở ASEAN hàng hóa là đối tượng của tự do hóa thương mại được quy định một cách cụ thể trong biểu Thuế quân hài hòa ASEAN và các nước thành viên trong ASEAN sẽ thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa theo Biểu thuế quan này. Do đó về phạm vi TDDCHH EU theo hướng mở hơn so với TDHTMHH trong ASEAN.Điều này là hợp lí, vì xét quá trình hình thành và tiềm lực kinh tế, quy mô thành viên lớn với sự hội tụ của các đầu tàu trong nền kinh tế thế giới hiện nay, EU có nhiều cơ hội, điều kiện để mở rộng các lĩnh vực tự do hóa hơn ASEAN 2. Mức độ TDDCHH trong Liên minh châu Âu với TDHTMHH trong ASEAN Nếu như về phạm vi tiến hành tự do hóa EU tỏ ra có ưu thế hơn thì xét về mức độ tự do trong từng lĩnh vực trọng điểm, ASEAN và EU lại bộc lộ mức độ tự do hóa khác nhau. Thứ nhất, khi xét về mức độ tự do hóa trong lĩnh vực thuế quan, thì ASEAN đã tiến hành thành công việc cắt giảm thuế quan xuống 05% với tuyệt đại đa số các loại hàng hóa. Song, với mục tiêu tự do hóa hoàn toàn thuế quan, ATIGA tiếp tục đưa ra chương trình cắt giảm thuế quan nhằm hoàn thành AFTA. Theo quy định của ATIGA, các quốc gia thành viên sẽ xóa bỏ thuế quan (mức thuế 0%), đồng thời xóa bỏ hạn ngạch thuế quan đối với tất cả các sản phẩm trong quan hệ thương mại nội khối vào năm 2010 đối với ASEAN 6 và linh hoạt tới năm 2018. Trong khi đó đối với Liên minh Châu Âu xóa bỏ những nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ có giá trị tương đương được áp dụng đối với những hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu trong hai trường hơp: Hàng hóa có xuất xứ từ một quốc gia thành viên và thêm trường hợp khác so với ASEAN là hàng hóa từ nước thứ ba được tự do lưu thông tại các quốc gia thành viên nếu hàng hóa được nhập khẩu đó đã tuân thủ các nghĩa vụ thuế và biện pháp có giá trị tương đương hay đã được nộp tại quốc gia đó và hàng hóa không thuộc trường hợp được khấu trừ toàn bộ hoặc một phần các nghĩa vụ thuế hoặc các nghĩa vụ tương đương. Ở đây, không thể đánh giá được mức độ TDHTMHH ở ASEAN với mức độ TDDCHH trong EU là hơn hay kém, bởi chúng đều có những ưu điểm riêng. Theo đó ASEAN đã tiến hành xóa bỏ thuế quan với mức thuế 0% đối với tất cả hàng hóa nội khối, điều này thể hiện mức độ tự do hóa hàng hóa sâu sắc của ASEAN tăng cường việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia thành viên. Trong khi đó đối với EU, mặc dù EU không áp dụng việc cắt giảm hoàn toàn thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu giữa các quốc gia thành viên, mà EU quy định một số trường hợp hàng hóa được khấu trừ toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ thuế hoặc nghĩa vụ tương đương, nhưng EU lại có những chính sách cắt giảm thuế và nghĩa vụ có giá trị tương đương cho hàng hóa của nước thứ ba lưu thông ở các quốc gia thành viên, có thể nói đây là một trong những quy định giúp hàng hóa của các nước được tự do lưu thông trên thị trường nội địa Châu Âu và thu hút sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới với EU. Điều mà ASEAN vẫn chưa có khả năng làm được tốt như vậy. Thứ hai, đối với các biện pháp phi thuế quan thì việc xóa bỏ các hạn chế về số lượng đều được ASEAN và EU áp dụng. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng lại khác nhau. Ở EU “hạn chế về số lương được định nghĩa là sự giới hạn về số lượng đối với các hàng hóa nhập khẩu”. Theo đó, Điều 34, Điều 35 TFEU 2009 quy định các quốc gia thành viên không được phép đưa ra những quy định nhằm hạn chế về số lượng hoặc các biện pháp có giá trị tương đương đối với hàng hóa nhập khẩu giữa các nước EU với nhau hoặc hàng hóa xuất khẩu từ một nước EU ra bên ngoài, trừ một số trường hợp ngoại lệ nhất định. Đối với ASEAN theo Điều 2 ATIGA“Hạn chế số lượng nghĩa là các lệnh cấm hoặc hạn chế thương mại với các Quốc gia Thành viên khác, có thể thông qua hạn ngạch, giấy phép hoặc các biện pháp khác với tác dụng tương tự, bao gồm các biện pháp và yêu cầu hành chính làm hạn chế thương mại” Điều 41 ATIGA quy định các quốc gia thành viên không được thông qua hoặc duy trì bất kì biện pháp hạn chế về số lượng nào đối với hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu ( trừ trường hơp quy định tại ĐIều 8, 9, 10 liên quan tới an ninh, sức khỏe con người...). Như vậy, có thể thấy, cả EU và ASEAN đều tiến hành việc dỡ bỏ hạn chế về số lượng hàng hóa, tuy nhiên, EU vẫn quy định một số ngoại lệ mang hướng “ mở” hơn so với ASEAN như quy định về việc một biện pháp sẽ không bị coi vào trường hợp của ĐIều 34.35 TFEU nếu chỉ những biện pháp hạn chế mà biện pháp đó tạo ra đối với hoạt động thương mại là không đáng kể và những hàng hóa này vẫn có thể đưa vào thị trường với những cách khác nhau. Thể hiện việc tạo điều kiện và cơ hội cho hàng hóa của các quốc gia thành viên được lưu thông một cách tự do và thuân lợi. Thứ ba, Về quy tắc xuất xứ hàng hóa Khoản 1, Điều 22 ATIGA đã quy định: “Các sản phẩm mà thuế quan của quốc gia thành viên xuất khẩu đã đạt hoặc ở mức 20% hoặc thấp hơn, và đáp ứng được các quy định về quy tắc xuất xứ như được quy định tại Chương 3 (về quy tắc xuất xứ), sẽ tự động được hưởng cam kết thuế quan của quốc gia thành viên nhập khẩu”. Như vậy, các nước ASEAN đã đưa ra được một quy tắc thống nhất cơ bản để được hưởng ưu đãi thương mại trong AFTA là phải có xuất xứ ASEAN. Trong khi đó. “Quy định của Eu về xuất xứ hàng hóa có liên quan tới Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU. Theo đó: So với ưu đãi mà các nước và khu vực khác dành cho các nước đang phát triển, mức ưu đãi của EU vào loại thấp nhất. Trong hệ thống GSP của EU qui định khuyến khích tăng thêm mức ưu đãi 10%, 20%, 35% đối với hàng nông sản và 15%, 25% và 35% đối với hàng công nghệ phẩm.Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng GSP, như: khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hóa sản xuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng GSP. Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn. EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% .EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước có thành phần xuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP thì các thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan”. Nếu so sánh với các quy định về quy tắc xuất xứ của Liên minh châu Âu thì Quy tắc xuất xứ theo quy định của ATIGA (do được ban hành muộn hơn) là khá hiện đại, cụ thể,chi tiết và tương thích với các tiến trình tự do hoá thương mại của ASEAN 3.Cách thức thực hiện. Về cơ bản, đặc điểm chung dễ nhận thấy nhất của TDDCHH trong EU và TDHTMHH của ASEAN về cách thức thực hiện đó là cùng tiến hành đàm phán ký kết các hiệp định tạo cơ sở pháp lý ràng buộc các bên cùng thực hiện. Cụ thể như trong ASEAN đã tiến hành ký kết các hiệp định CEPT và ATIGA. Còn trong Liên Minh Châu Âu đã tiến hành kí kết và thực hiện theo các quy định của TFEU năm 2009. Xét về tổng quan, cả ASEAN và EU đều đưa ra các phương thức giống nhau để tiến hành tự do hóa thương mại đó mà cụ thể là xóa bỏ các rào cản thương mại. nhưng xét về tính chất thì không hoàn toàn giống nhau. Đối với hoạt động cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan: Nếu như các quốc gia ASEAN thống nhất trong ATIGA thực hiện theo cơ chế phân chia các loại hàng hóa thành 08 danh mục cắt giảm thuế quan khác nhau, với các lộ trình cắt giảm, xóa bỏ thuế quan chi tiết, linh hoạt hơn so với Hiệp định CEPT (Điều 19) nhằm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn thuế quan (mức thuế 0%) đối với tất cả các sản phẩm trong quan hệ nội khối vào năm 2010 đối với ASEAN 6 và vào năm 2015, linh hoạt tới năm 2018 với CLMV. Trên cơ sở tuân thủ lộ trình chung được vạch sẵn, mỗi quốc gia thành viên sẽ xây dựng lộ trình cắt giảm thuế quan chi tiết của mình phù hợp. Các quốc gia thành viên cũng có quyền lựa chọn kênh cắt giảm thuế nhanh hoặc kênh cắt giảm thông thường. Xét một cách tổng quát, hình thức tiến hành hoạt động tự do hóa TMHH trong ASEAN được quy định tương đối linh hoạt và mở, thể hiện ưu đãi đối với quốc gia kém phát triển hơn trong khu vực như: kéo dài thời gian thực hiện lộ trình, được hỗ trợ nhiều hơn về kỹ thuật, giảm bớt một số nghĩa vụ…. Ngoài ra, cách thức thực hiện cắt giảmxóa bỏ thuế quan của AEC cũng tương đối đơn giản, hàng hóa căn cứ theo mức thuế suất hiện tại sẽ được cắt giảm dần từng bước giữa nhóm các danh mục hàng hóa khác nhau để đạt mức thuế xuất xác định (0– 5% đối với CEPT và ATIGA là 0%). Trong khi đó, Ở EU lại tiến hành xóa bỏ những nghĩa vụ thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu có xuất xứ từ một quốc gia thành viên hoặc từ nước thứ ba được tự do lưu thông tại quốc gia thành viên. Ở đây, EU đã tiến hành cắt bỏ theo hướng khác hoàn toàn so với ASEAN, EU quy định các trường hợp cụ thể, và họ không tiến hành xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các loại hàng hóa như ASEAN. Đối với các rào cản phi thuế quan: Cách thức thực hiện hoạt động này ở ASEAN cũng được CEPT, ATIGA quy định tương đối uyển chuyển với các bước tiến hành cụ thể, ưu tiên các quốc gia CLMV được kéo dài lộ trình xóa bỏ các rào cản phi thuế quan trong danh sách đã được xác định (thông qua việc Hội đồng AFTA chấp thuận bảng tự kê khai xóa bỏ của quốc gia thành viên hoặc Ủy ban điều phối thực hiện ATIGA rà soát và xác định). Trong khi đó đối với EU Các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch không nhiều, nhưng lại sử dụng khá nhiều biện pháp phi quan thuế. Mặc dù thuế quan của EU thấp hơn so với các cường quốc kinh tế lớn và có xu hướng giảm, nhưng EU vẫn là một thị trường bảo hộ rất chặt chẽ vì hàng rào phi quan thuế (rào cản kỹ thuật) rất nghiêm ngặt. Do vậy, hàng xuất khẩu muốn vào được thị trường này thì phải vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU. Rào cản kỹ thuật chính là qui chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động. Vì vậy để hàng hóa muốn thâm nhập và di chuyển được vào thị trường EU, hàng hóa cần phải đáp ứng được các tiêu chuẩn này. Ngoài ra, ở EU cũng áp dụng Nguyên tắc Công nhận lẫn nhau được áp dụng đối với những sản phẩm không thuộc đối tượng được điều chỉnh bởi các văn bản hài hòa hóa pháp luật của cộng đồng hoặc những phương diện của sản phẩm không được quy định trong những văn bản này. Với ngoại lệ duy nhất quy định tại Điều 36 TFEU. Trong khi đó ở ASEAN không ghi nhận nguyên tắc này, điều này thể hiện sự công nhận việc tự do di chuyển hàng hóa đối với các hàng hóa được sản xuất và lưu thông hợp pháp trên thị trường một quốc gia thành viên khác dù hàng hóa đó sản xuất theo những tiêu chuẩn và điều kiện kĩ thuật khác với tiêu chuẩn và điều kiện mà hàng hóa tương tự trong nước phải tuân theo. Quy định này của EU là hợp lí bởi không phải bất kì một quốc gia thành viên nào cũng có điều kiện một cách đầy đủ để áp dụng đối với sản xuất các hàng hóa tương đương như thành viên khác vì mỗi quốc gia có một trình độ phát triển kinh tế khác nhau. Và điều này ASEAN nên học hỏi EU. KẾT THÚC VẤN ĐỀ. Thông qua bài viết trên ta thấy rằng, Trong quá trình so sánh về phạm vi, mức độ, cách thức thực hiện TDDCHH trong EU và TDHTMHH trong ASEAN đã giúp mọi người có cái nhìn tổng quan hơn về sự tương đồng và khác biệt đối với tự do hàng hóa trong thương mại của ASEAN và EU.
Xem thêm

9 Đọc thêm

TÌM HIỂU VỀ ASEAN VÀ QUA TRÌNH RA NHAP CỦA VN

TÌM HIỂU VỀ ASEAN VÀ QUA TRÌNH RA NHAP CỦA VN

nông sản chưa chế biến có yêu cầu bảo hộ cao như: các loại thịt, trứng, gia cầm,động vật sống, thóc, gạo lức, đường mía… các mặt hàng này hiện đang được ápdụng các biện pháp phi thuế quan như quản lý theo hạn ngạch, quản lý của Bộchuyên ngành….Để làm căn cứ điều chỉnh cơ cấu trong nước và định hướng cho các doanh nghiệpxây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp, năm 1997, Chính phủ Việt Nam phê duyệtLịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể thực hiện AFTA/CEPT 1996-2006. Tiếp đó,theo công văn số 5408/VPCP-TCQT ngày 11/12/2000, Chính phủ thông qua Lịchtrình cắt giảm thuế quan tổng thể giai đoạn 2001-2006. Dựa trên các Lộ trình này,hàng năm Chính phủ đưa ra Danh mục hàng hóa và thuế suất của VN thực hiệnCEPT (gọi tắt là Danh mục CEPT hoặc Nghị định CEPT).(b) Thực hiện giảm thuếDựa theo sự phân loại danh mục hàng hoá như trên, tiến trình cắt giảm thuế củaViệt Nam đã được tiến hành như sau: Trong hai năm đầu 1996, 1997 Việt Namchưa thực hiện việc cắt giảm thuế mà chỉ đưa 875 danh mục các mặt hàng đã cóthuế nhập khẩu từ 0-5% vào danh sách giảm thuế, đáp ứng một cách tự nhiên yêucầu giảm thuế nhanh của Hiệp định CEPT, còn chương trình giảm thuế bìnhthường chỉ được bắt đầu thực hiện kể từ 1/1/1998. Các bước đi thận trọng nàygiúp cho Việt Nam có thêm thời gian cải tiến hệ thống thuế nội địa nhằm đảm bảonguồn thu ngân sách và góp phần bảo hộ các nền kinh tế còn non trẻ của chúng ta.Như vậy, từ năm 1998 Việt Nam mới thực hiện những bước cắt giảm thuế đầu tiêntheo Nghị định 15/1998/NĐ-CP ngày 12/3/1998. Theo Nghị định này trong năm1998 chúng ta đã đưa thêm 1.161 mặt hàng vào danh mục giảm thuế. Sang năm1999 theo Nghị định 14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1999 Việt Nam đã nâng danh mụccác mặt hàng giảm thuế lên đến 3.590 mặt hàng. Và trong năm 2000, Chính phủđã ban hành Nghị định 09/2000/NĐ-CP ngày 21/03/2000 về danh mục các mặthàng giảm thuế theo chương trình CEPT.Theo nghị định này, trong năm 2000, Nhà nước Việt Nam đưa thêm 640 dòng thuế
Xem thêm

8 Đọc thêm

TIỂU LUẬN HẠN NGẠCH NHẬP KHẨU VÀ 1 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẬP KHẨU LIỆU CÓ CÒN PHÙ HỢP

TIỂU LUẬN HẠN NGẠCH NHẬP KHẨU VÀ 1 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẬP KHẨU LIỆU CÓ CÒN PHÙ HỢP

pháp này, thay vào đó ta nên sử dụng các biện pháp phi thuế quan mới phù hợp với thônglệ quốc tế mà vẫn có tác động bảo hộ tích cực hơn phù hợp với thông lệ quốc tế.Sau đây là một số đề xuất về các biện pháp phi thuế quan (NTM) Việt Nam nên sửdụng để bảo hộ.1. Quan điểm chung về việc sử dụng các NTMa) Sử dụng các biện pháp phi thuế quan phải phù hợp với thực trạng kinh tế xã hội trongnớc và hội nhập quốc tế.Cơ sở chính để hoạch định chính sách thơng mại của mỗi nớc dựa trên những yếu tốnh: kinh tế ổn định hay không ổn định, đang phát triển hay chậm phát triển, điều kiệnchính trị, điều kiện tự nhiên, trình độ nguồn nhân lực, v.v Do đó mọi quy định về hạnchế nhập khẩu phi thuế đều phải xuất phát từ thực trạng kinh tế trong nớc và mang nhữngmục tiêu cụ thể nhất định nh: khuyến khích phát triển những ngành có tiềm năng, bảo vệquyền lợi của một số nhóm có lợi ích chung, hạn chế tiêu dùng một số loại hàng hoáWTO và các tổ chức thơng mại khác đều thừa nhận phơng thức duy nhất để bảo hộsản xuất là thuế quan, song cũng chấp nhận các ngoại lệ cho phép các thành viên đợc duytrì một số biện pháp phi thuế nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, môi trờngsinh thái Ngoài ra các tổ chức này cũng có những quy định linh hoạt để các thành viênđang và chậm phát triển duy trì các biện pháp phi thuế không phù hợp trong một thờigian nhất định.Điều đó cho thấy Việt Nam cần nắm vững và sử dụng linh hoạt các biện pháp phithuế quan để bảo hộ sản xuất trong nớc cho phù hợp với thông lệ quốc tế.b) Chỉ áp dụng NTM trong một số lĩnh vực có chọn lọcViệt Nam là một trong số các quốc gia kém phát triển, đang chuyển đổi từ nền kinhtế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng, do đó các doanh nghiệp, đặc biệt làcác doanh nghiệp quốc doanh còn mang nặng t tởng trông chờ ỷ lại. Tình trạng vận độnghành lang, gây sức ép để đợc Nhà nớc bảo hộ còn diễn ra khá phổ biến. Để nâng cao khảnăng cạnh tranh của nền kinh tế, chúng ta cần ràng buộc mức độ bảo hộ cả về quy mô vàthời gian đối với các ngành, các doanh nghiệp.Việc xây dựng các NTM do đó xuất phát từ những nhận thức sau:- Bảo hộ thông qua các NTM là một hình thức di chuyển nguồn lực, cải biến cơ cấu
Xem thêm

14 Đọc thêm

RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM

RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM

hai quốc gia có rất nhiều nét tương đồng và đều rất tích cực phát triển sảnxuất hàng dệt may.- Về thời gian : Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu tác động của các ràocản phi thuế quan của Hoa Kỳ đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam từ năm2008 (năm Hoa Kỳ tuyên bố tham gia TPP) đến năm 20146Chƣơng 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀRÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu- Các nghiên cứu về rào cản phi thuế quan trong thương mại củaHoa KỳBáo cáo của USAID (2013) với tiêu đề “Non-tariff barrier to trade indeveloping countries” do Ban thư ký UNCTAD đã đưa ra các vấn đề liênquan đến các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt quan trọng đối với nhữngnước đang phát triển. Nâng cao hiểu biết về các biện pháp phi thuế quan sẽgiúp các chính phủ xây dựng các chính sách ứng phó thích hợp và huy độngđược các nguồn lực kỹ thuật và tài chính cần thiết kịp thời, giúp cải thiệnchính sách thương mại của các quốc gia hiệu quả hơn. Bài viết phân tích quytắc xuất xứ ưu đãi sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến với giá nhập khẩu, xuất khẩu, vàphúc lợi kinh tế Mỹ trong tương lai gần.David Hanson (2010) trong bài nghiên cứu “Limit to the free trade:Non-Tariff Barriers in the European Union, Japan and United States” đã đưara những thông tin cơ bản về chính sách thương mại của Hoa kỳ, những vấnđề cần quan tâm trong thương mại của Hoa Kỳ từ năm 2000 đến 2008.Luận văn sẽ dựa trên những phân tích của các bài viết trên đề đưa ra cơsở khoa học cho luận văn về rào cản trong thương mại mà Hoa Kỳ sử dụng.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Một số giải pháp giúp Việt Nam chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một mốc quan trọng trong quá trình chuyển đổi của đất nước từ nền kinh tế với cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra những triển vọng to lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của các thành phần kinh tế nước ta. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, thị trường mở rộng cho hàng hoá của Việt Nam, tạo điều kiện để các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi, triển vọng to lớn, hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít rào cản về thuế quan cũng như phi thuế quan, trong đó các vụ kiện chống bán phá giá càng ngày càng gây thêm nhiều khó khăn cho việc thâm nhập thị trường quốc tế của các mặt hàng vốn là thế mạnh của chúng ta. Trên thực tế, hàng hoá Việt Nam xuất khẩu cũng đang trở thành đối tượng của các vụ kiện chống bán phá giá ở nhiều thị trường như: Hoa Kỳ, EU, Canada, Mexico, Peru, ... Hàng hoá bị kiện là những sản phẩm mà chúng ta có thế mạnh xuất khẩu ( thuỷ sản, giày dép, gạo ). Nhưng những mặt hàng chúng ta xuất khẩu với số lượng chưa đáng kể cũng đã bị kiện ( đèn huỳnh quang, ván lướt sóng.,.). Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần được trang bị những hiểu biết cơ bản về thực tế các vụ kiện chống bán phá giá để từ đó có biện pháp phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại. Làm thế nào để ứng phó có hiệu quả đối với các vụ kiện chống bán phá giá đang là một vấn đề hết sức mới mẻ, bỡ ngỡ của các doanh nghiệp Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Chỉ ra những quy định trong luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và WTO. Phân tích thực trạng áp dụng luật chống bán phá giá đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, dự báo các tình huống có thể xảy ra và hành động ứng phó của Việt Nam. Đưa ra các giải pháp để ngăn ngừa và giảm tối thiểu thiệt hại cho các doanh nghiệp và ngành hàng kinh tế Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề chốngsss bán phá giá hàng hoá. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các quy định về chống bán phá giá của Hoa Kỳ. Thực trạng áp dụng biện pháp chống bán phá giá hàng Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ với trường hợp cụ thể là vụ kiện chống bán phá giá cá da trơn và tôm. Thời gian nghiên cứu : từ sau hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ ( từ 2001 đến nay) Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng , phân tích tổng hợp và so sánh số liệu. Kết cấu bài viết: Ngoài phần mở đầu và kết luận bài viết gồm 3 phần chính: Chương I: Tổng quan về bán phá giá hàng hoá trong Thương mại quốc tế. Chương II: Thực trạng và bài học kinh nghiệm ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Chương III: Một số giải pháp chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá hàng Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Đây là một vấn đề tương đối mới mẻ, có ít tài liệu nghiên cứu và trở thành đề tài nổi cộm trong thời gian gần đây. Bài viết của em chỉ mang tính tổng hợp dựa trên phân tích diễn biến hàng hoá Việt Nam đang bị kiện bán phá giá ở thị trường Hoa Kỳ nên chắc chắn còn sơ sài và nhiều thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy giáo Th.s Vũ Thành Hưởng và các chuyên viên thuộc ban nghiên cứu các vụ kiện chống bán phá giá thuộc Cục quản lý cạnh tranh Bộ công thương để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

81 Đọc thêm

Tiểu luận marketing quốc tế NHỮNG cơ hội và THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THAM GIA AEC

TIỂU LUẬN MARKETING QUỐC TẾ NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THAM GIA AEC

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 4 I. NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THAM GIA AEC 5 1.1 Tổng quan về AEC 5 1.1.1 Sơ lược về AEC 5 1.1.2 Mục đích thành lập AEC 5 1.1.3 Các biện pháp thực hiện 6 1.1.4 Quá trình thực hiện 6 1.1.5 Các đặc điểm của AEC 7 1.2 Một số cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia AEC 11 1.2.1 Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với một thị trường mở, bình đẳng và rộng lớn qua việc cắt giảm thuế và các hàng rào phi thuế quan 12 1.2.2 Các cơ hội khi AEC mở ra sự tự do cho quá trình luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn và con người 13 1.2.2.1 Đối với việc tự do lưu thông hàng hóa 13 1.2.2.2 Đối với việc tự do hóa dịch vụ 16 1.2.2.3 Đối với việc tự do hóa luồng vốn 16 1.2.2.4 Đối với việc tự do hóa lực lượng lao động 17 1.2.3 Cơ hội mở rộng và đẩy mạnh xuất khẩu 17 1.2.3.1 Tăng trưởng xuất khẩu 17 1.2.3.2 Thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo chiều hướng tích cực 18 1.2.3.3 Mở rộng thị phần của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường có liên quan 1.2.3.4 Tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu Việt Nam 18 1.3 Một số thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia AEC 19 1.3.1 Bất lợi khi xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên 19 1.3.2 Nhận thức và hiểu biết về AEC của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp..20 1.3.3 Các khó khăn về lợi thế so sánh của các doanh nghiệp Việt Nam 20 1.3.4 Sự cạnh tranh từ các nước trong khu vực về xuất khẩu 21 1.3.5 Sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu 22 1.3.6 Các vấn đề khác 23 II. CÁC GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 24 2.1 Vấn đề về đổi mới nền Kinh tế và nâng cao nhận thức, hiểu biết cho các doanh nghiệp Việt Nam 2.1.1 Về mặt chính phủ 24 2.1.2 Về phía doanh nghiệp 25 2.2 Vấn đề về thay đổi lợi thế so sánh, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 26 2.2.1 Thay đổi lợi thế so sánh 26 2.2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 27 2.3. Vấn đề về pháp luật và các chính sách , công tác dự báo của Nhà nước. 2.3.1 Các chính sách minh bạch, thống nhất……………………………………28 2.3.2 Đầu tư, nghiên cứu cho công tác dự báo………………………………….28 KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Xem thêm

30 Đọc thêm

SÁCH SÁNG THẾ ĐƯỢC CẤU TRÚC NHƯ THẾ NÀO

SÁCH SÁNG THẾ ĐƯỢC CẤU TRÚC NHƯ THẾ NÀO

(Big-Bang), và nhiều người xem thuyết này là đáng tôn trọng về mặt khoa học, vàít nhất là hòa hợp với những gì chúng ta biết từ sách St. Nhưng nó là chưa quantrọng; chúng ta không quan tâm so sánh thuyết khoa học với các dữ liệu Kinhthánh. Điều nên được nói là rằng lịch sử chưa bắt đầu ngay sau khi Chúa tạo thànhcon người. Con người sống và có nhiều kinh nghiệm, nhưng chưa để lại dấu vếtnào về việc này. Lịch sử khởi đầu khi con người lưu lại, bằng viết ra hoặc truyềnkhẩu, các vụ việc linh động. Các thế hệ sau đó phân tích các ghi chép này hoặc cácđồ tạo tác, nhằm xây dựng lịch sử của một thời kỳ. Lẽ tất nhiên, không gì đượctruyền lại cho chúng ta từ các “khởi đầu” được ghi lại trong St 1-11.Thời “tiền sử” là đơn thuần một từ ngữ qui ước được sử dụng bởi các học giảKinh Thánh, để nói lên bản chất đặc thù của các sự kiện được kể trong St 1-11.Chúng không phải là lịch sử như chúng ta hiểu từ ngữ lịch sử hiện nay. Nói đúnghơn, chúng là sự giải thích của thực tại: bản chất của tương quan giữa Chúa và thếgiới, nhất là mọi sinh vật (con người là đỉnh cao nhất), sự thất bại của con người đểđáp trả việc Chúa trao ban sự sống, chẳng hạn qua trình thuật trận đại hồng thủy,và câu chuyện tháp Baben. Chính khi trình thuật bắt đầu nói về các thị trấn cổ, vàviệc Ápraham di cư đến vùng đất Canaan, thì con người bắt đầu đi vào một thờikỳ, vốn phải chịu một sự kiểm soát lịch sử nào đó.Các từ ngữ khác đã được sử dụng để mô tả bản chất của các sự kiện được kểtrong St 1-11, chẳng hạn các trình thuật huyền thoại hoặc tưởng tượng. Các từ ngữnày có thể gây sốc cho những ai đã có thành kiến về những gì được kể trong cácchương ấy. Thường có một phản ứng: bạn sẽ nói rằng điều được kể ở đây là khôngcó thật, hoặc là không có tính lịch sử. Không phải tất cả đâu; người ta không nóiđiều ấy. Điều người ta nói là rằng lịch sử và sự thật là không phải các từ ngữ đồngnghĩa. Còn có các loại sự thật khác bên ngoài lịch sử nữa. Chắc chắn đó là điều màchúng ta đều đồng ý với nhau. Điều gì là “sự thật” của một ẩn dụ, của một dụngôn, của một thánh vịnh, của một bài tình ca, của một truyện ngắn? Người ta cóthể kể ra nhiều lắm. Phận sự đầu tiên của một người đọc Kinh thánh là biết rõ thể
Xem thêm

5 Đọc thêm

TƯỜNG LỬA HOẠT ĐỘNG THẾ NÀO

TƯỜNG LỬA HOẠT ĐỘNG THẾ NÀO

Tường lửa hoạt động thế nào?Các chuyên gia đều thống nhất rằng có ba loại phần mềm “xương sống” để thiết lập bảo mậtcho máy tính cá nhân: chống virus, tường lửa và quản lí mật khẩu. Tuy vậy dù vô cùng quantrọng, tường lửa thường ít được ghi nhớ nhất.Sự nhạt nhòa của tường lửa trong con mắt người dùng là kết quả từ việc bản thân Windows đãtích hợp sẵn tường lửa, vì thế ngày càng ít nhu cầu tìm tới tùy chọn của bên thứ 3. Tuy nhiên,với những ai quan tâm tới cách thức cách thức tự bảo vệ mình cũng như muốn biết về hoạtđộng của tường lửa thì đây là bài viết mà bạn đừng nên bỏ quaBuổi đầu của tường lửaCụm từ “tường lửa” bắt nguồn từ những bức tường trong đời thực được xây nên để chống lửa.Chúng vẫn còn tồn tại trong các tòa nhà ngày nay, khi có lửa cháy, bức tường sẽ ngăn chặnngọn lửa thoát khỏi khu vực nguy hiểm và tàn phá phần còn lại của tòa nhà. Các chuyên giacông nghệ đã áp dụng cụm từ này vào những năm cuối 1980 để mô tả bất cứ phần mềm hoặcphần cứng nào có khả năng bảo vệ hệ thống hoặc mạng lưới từ hiểm họa Internet. Sau khiMorris Worm (2/1/1988) - mã độc đầu tiên phát tán qua internet, có khả năng gây tổn hạinghiêm trọng tới hệ thống, lẽ dĩ nhiên các cá nhân và tổ chức bắt đầu tìm cách bảo vệ bảnthân từ những phần mềm độc hại tương tự.Các loại tường lửa thông dụng hiện nay.Bộ lọc gói tin - Packet FilterTường lửa đầu tiên chỉ có thể đọc được phần đầu của gói tin (packet header) như địa chỉnguồn và địa chỉ đích. Hành động sau đó thực hiện dựa vào các thông tin thu được. Loại nàythường hiệu quả và nhanh chóng nhưng dễ bị tổn thương. Ví dụ các cuộc tấn công theophương thức giả mạo có thể chống lại bộ lọc gói hiệu quả. Các phiên bản nâng cấp của packetfilter lưu dữ liệu của gói tin trong bộ nhớ và có thể thay đổi hành vi dựa trên sự kiện xảy ratrên mạng lưới. Chúng cũng được gọi riêng là tường lửa theo trạng thái (stateful) và tường lửađộng (dynamic).1
Xem thêm

3 Đọc thêm

Thảo luận về các hiệp định thương mại ưu đãi

THẢO LUẬN VỀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI ƯU ĐÃI

MỤC LỤC PHẦN I : CÁC KHÁI NIỆM......................................................................................... 3 I. Hội nhập kinh tế............................................................................................................ 3 II.Hiệp định thương mại ưu đãi........................................................................................ 4 PHẦN II : CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI ƯU ĐÃI............................................. 5 I. Liên minh thuế quan...................................................................................................... 6 II. Khu vực mậu dịch tự do............................................................................................... 7 III. Sự tương đồng và khác biệt giữa khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan ... 12 PHẦN III : LIỆU CÁC ƯU ĐÃI THƯƠNG MẠI CÓ HẤP DẪN?........................... 13 1, Cơ hội............................................................................................................................ 13 2, Thách thức.....................................................................................................................15 3, Giải pháp........................................................................................................................17 PHẦN I . CÁC KHÁI NIỆM I. Hội nhập kinh tế (liên kết kinh tế) : Cho tới nay khung khái niệm về các cấp độ hội nhập hay liên kết kinh tế mà nhà kinh tế học người Hungary Béla Balassa (1928 – 1991) đưa ra trong công trình “Lý thuyết về hội nhập kinh tế” năm 1961 vẫn được các nghiên cứu về hội nhập kinh tế sử dụng như là khung khái niệm chung trong quá trình phân tích những vấn đề hội nhập kinh tế, cho dù công trình đi theo hướng của những người mở đường như Viner (1950) và Meade (1955). Công trình của ông trình bày năm hình thức liên kết và hội nhập kinh tế khu vực xét theo cấp độ cam kết tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế từ “nông” tới “sâu”. 1. Hiệp định Thương mại ưu đãi (Preferential Trade ArrangementPTA): Các bên tham gia thỏa thuận hạ thấp một phần hàng rào thương mại hàng hóa cho nhau và duy trì hàng rào đó với các bên thứ ba không tham gia thỏa thuận. 2. Khu vực Thương mại Tự do (Free Trade AreaFTA): Các bên tham gia thỏa thuận xóa bỏ hầu hết hàng rào thương mại, thuế quan và phi thuế quan cho nhau nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan riêng của mỗi bên đối với các nước ngoài FTA. 3. Liên minh Thuế quan (Custom UnionCU): Các bên tham gia hình thành FTA và có chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài liên minh. 4. Thị trường Chung (Common MarketCM): Các nước tham gia hình thành Liên minh Thuế quan đồng thời cho phép sự dịch chuyển tự do của các nhân tố sản xuất là vốn và lao động.
Xem thêm

18 Đọc thêm

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP SẢN XUẤT XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP SẢN XUẤT XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

sách thông qua các khoản thuế nội địa.- Thông qua chính sách thuế từng thời kỳ, tổ chức thực hiện thu thuếxuất khẩu, nhập khẩu nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước đồngthời thực hiện chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế .Với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, vai trò của thuế quan đối vớinguồn thu ngân sách ngày càng giảm, nhưng đối với các nước đang phát17triển như Việt Nam chúng ta thì thuế xuất khẩu, nhập khẩu đặc biệt là thuếnhập khẩu vẫn là nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia.Thuế hải quan còn có vai trò điều tiết cơ chế xuất nhập khẩu nhằmhạn chế hoặc khuyến khích việc xuất khẩu đối với từng loại hàng hóa trong18Việc thu thập thống kê thương mại chính xác và kịp thời sẽ góp phầntích cực cho Đảng, Nhà nước và Chính phủ hoạch định chính sách và giảipháp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.Riêng đối với hoạt động NSXXK; với chủ trương của Đảng và Nhànhững giai đoạn nhất định bằng việc nâng cao hoặc hạ thấp thuế suất đánhnước trong giai đoạn hiện nay là khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu,vào hàng hóa đó khi nhập khẩu. Tuy nhiên trong tiến trình hội nhập, thựcthực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản
Xem thêm

48 Đọc thêm

Thế nào là ứng xử có văn hóa?

THẾ NÀO LÀ ỨNG XỬ CÓ VĂN HÓA?

Có lần nào đó , đang đi trên đường , Anh ( chị ) chợt nhìn thấy một cảnh tượng ngộ nghĩnh : Hai người đàn ông đi xe đạp chẳng may đụng vào nhau , cả hai người ngã chổng kềnh . Sau đó , cả hai cùng đứng dậy , mỗi người nhìn thoáng vào cái xe của mình rồi cùng gật đầu chào và lên xe đi tiếp . Anh / chị nghĩ gì về câu chuyện đó ? 1/ Đặt vấn đề - Kể lại câu chuyện nhỏ theo đề bài . - Nên nghĩ như thế nào ? 2/ Giải quyết vấn đề : * Một chuyện tưởng buồn mà thành vui : - Thật không hay khi phải chứng kiến một tai nạn giao thông dù nhỏ vào một buổi sáng đẹp trời , làm buổi sáng ấy bớt đẹp đi. - Nhưng thật bất ngờ , tình huống lại được giải quyết một cách nhanh chóng và giản dị như vậy , như chưa hề có chuyện gì xảy ra. - Tuy nhiên , điều bất ngờ quan trọng nhất trong chuyện này là từ hai người nói trên . Tại sao họ không có một lời phân bua hay to tiếng nào ? Có lẻ họ đã nghĩ như thế này chăng : + Thôi đó là chuyện nhỏ , chẳng qua là việc không may . Mình không hề muốn và chắc người kia cũng vậy . + Hình như người kia có lỗi , mà cũng có thể là do tại mình . Giá như mình cẩn thận hơn một chút. + Mình đang vội , mất thì giờ vào một việc như thế này thì có ích gì ? - Cuối cùng điều đáng vui nhất là : Tuy có lẻ là những ngưòi lao động bình thường nhưng có cách xử sự thật văn hoá . Văn hoá là thế đấy . Đâu cần phải bằng này, cấp nọ , đâu cần phải ăn mặc đúng thời trang , đi xe sang trọng .. .; Đây mới là văn hoá đích thực , bởi nó đã thành thói quen , nếp ứng xử thường trực. * Từ câu chuyện nhỏ nghĩ về những chuyện lớn hơn : + Thường vẫn gặp trên đường những tình huống như vậy nhưng cách ứng xử thì khác hẳn. + Nhẹ nhất là người ta đứng lại cãi vả , mắng mỏ nhau , ai cũng tự cho mình là đúng nhằm thoả mãn sự kiêu căng cho rằng mình là người có lí . Nặng hơn thì xông vào đánh nhau . Như có một chi tiết trong chuyện ngắn của Nguyễn Khải : Một anh thanh niên đã thúc xe vào đuôi xe người ta , còn nói : “Tiên sư cái anh già” . + Một cách ứng xử đã trở thành quen mắt trong xã hội ta ngày nay : người ta sẵn sàng gây gỗ , dùng vũ lực với nhau chỉ vì những va chạm rất nhỏ , những câu nói tình cờ , đôi khi chỉ vì tiếng cười hay ánh mắt … Không ít những trường hợp dẫn đến những kết quả đáng buồn , thậm chí là bi kịch đáng tiếc . - Có những thứ văn hoá mang tên là văn hoá ứng xử : + Mỗi con người ngày nay đều là một con người xã hội , con người sống giữa xã hội luôn luôn có quan hệ vừa lỏng lẻo vừa bền chặt với mọi người trong xã hội , mỗi việc làm , mỗi cách ứng xử của mình đều có tác động đến người khác + Ứng xử như hai người nói trong câu chuyện trên là cách ứng xử đẹp , đáng để nêu thành gương tốt . Ở đời đâu phải chuyện nào cần cần phải hơn thua rằng mình có lí hay không ? Ở đời đâu phải lúc nào cũng dở luật này, lệ nọ với nhau ? Còn có tình người, còn có mối quan hệ cộng đồng . Nhường nhau một bước , nhường nhau một lời có thiệt gì đâu ? + Từ hành vi này suy rộng ra . Còn bao nhiêu tình huống đòi hỏi cách ứng xử có văn hoá : biết nhường đường cho người khác ; biết đứng lên nhường ghế cho người già ; cho phụ nữ , trẻ em , biết xin lỗi , biết nói lời cảmơn , biết dừng lại trước đèn đỏ nơi giao lộ , không xả rác , không gây ồn ào nơi công cộng … Xã hội sẽ trở nên thân ái hơn , đâu phaỉ chỉ có thêm nhiều công viên , nhiều cao ốc mà chính là cách ứng xử có văn hoá như vậy . Xã hội càng phát triển những cách ứng xử như vậy càng được coi trọng. 3/ Kết thúc vấn đề : - Trong sự giao lưu ngày càng mở rộng với thế giới , nếp ứng xử góp phần nâng cao vị trí của đất nước trước mắt mọi người. - Người nước ngoài muốn tìm hiểu văn hoá nước ta . Họ có thể đánh giá qua một câu chuyện nhỏ gặp trên đường phố. (Sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO VIỆC GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2007

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO VIỆC GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2007

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có vai trò to lớn và tác động mạnh mẽ đến các quốc gia dân tộc bởi vì WTO là một tổ chức rộng lớn nó bao gồm nhiều quốc gia ở khắp các Châu Lục và vùng lãnh thổ. Cho nên khi đã là thành viên của WTO các nước có điều kiện phát triển ổn định, có sự tin cậy lẫn nhau theo quy tắc trung. Đồng thời WTO còn là trọng tài giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn trong Thương mại, làm giảm bớt sự bất bình đẳng trong quan hệ thương mại, làm giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan (hàng rào thuế quan là đánh thuế cao để hàng hoá các nước không vào được, hàng rào phi thuế quan là đề ra các quy định để hàng hoá không vào được). WTO tạo ra sự lựa chọn hơn về đối tác, số lượng, chất lượng hàng hoá (cho phép các thành viên có nhiều sự lựa chọn) WTO khuyến khích Chính phủ thành viên hoạt động tốt hơn. Vì khi vào WTO thì Chính phủ các nước thành viên phải tham gia các cuộc họp của tổ chức này, từ đó sẽ phải vươn lên hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu trong nước của mình và các thành viên trong WTO.
Xem thêm

58 Đọc thêm

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG PHÂN BỔ HẠN NGẠCH Ở NƯỚC TA

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG PHÂN BỔ HẠN NGẠCH Ở NƯỚC TA

Mục lụcLời nói đầu3Phần I 4Phần cơ sở lý luận4I. Hạn ngạch nhập khẩu (Import quota).41. Khái niệm. 42. Nhà nước áp dụng biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch chủ yếu là nhằm một sốmục đích.53. Các mặt hàng được cấp hạn ngạch nhập khẩu.74. So sánh tác động của hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan tới thương mại, dịch vụ.II. Hạn ngạch xuất khẩu (export quota).8191. Khái niệm. 192. Mục đích của Nhà nước khi áp dụng hạn ngạch xuất khẩu.

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề