TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO TRONG CHẤN THƯƠNG VÙNG GỐI DOCX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO TRONG CHẤN THƯƠNG VÙNG GỐI DOCX":

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị tổn thương động mạch lớn trong gãy xương, sai khớp chi dưới

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH LỚN TRONG GÃY XƯƠNG, SAI KHỚP CHI DƯỚI

ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương, vết thương mạch máu ở chi thểlà một cấp cứu ngoại khoa gặpcả trong thời bình cũng như thời chiến. Theo Dueck A. D., Kucey D.S. (2003) 52thìtổn thương này chiếm khoảng 0,2% tổng số các loại thương tích do tai nạn. Những động mạch lớn chịu trách nhiệm nuôi dưỡng chi dưới bao gồm độngmạch đùi, động mạch khoeo, động mạch chày trước và động mạch chày sau. Khinhững động mạch này bị tổn thương thường làm cho người bệnh bị sốc mất máu vàhoại tử chi do thiếu máu không hồi phục. Trong gãy xương, sai khớp ở chi thì tổn thương động mạch lớn khônghiếm gặp. Theobáo cáo của Attebery L.R. (1996) 42 có 41 trường hợp (3,8%) bị tổn thương động mạch trong tổng số 1041 gãy xương chi. Năm 2002, Phạm Quang Phúc 25 đã tổng kết cho biết vết thương động mạch đơn thuần hay gặpở chi trên nhưng tổn thương động mạch kết hợp gãy xương, sai khớp chi dướichiếm đa số. Nguyễn Hữu Ước và cộng sự (2007) 39 thống kê 70 tổn thươngđộng mạch kết hợp gãy xương, sai khớp thì ở chi dưới có 58 bệnh nhân. Hình thái tổn thương động mạch chủ yếu là đụng dập động mạch, đứt mấtđoạn hoặc co thắt mạch do đó trên lâm sàng các triệu chứng thường gặp là thiếumáu chi cấp tính và mất mạch ngoại vi, ít có chảy máu dữ dội. Chẩn đoán tổn thương động mạch trong những trường hợp gãy xương, saikhớp kín thường khó hơn. Nguyễn Sinh Hiền (2000) 9 cho biết trong chấn thươngkín vùng khớp gối có đến 70% số trường hợp bị tổn thương động mạch khoeo được chẩn đoán muộn sau 6 giờ. Moini M. (2007) 80 nhận xét thời gian trung bình từkhi bị tai nạn đến khi phẫu thuật của chấn thương kín động mạch khoeo là 32 giờ.Ngoài ra hội chứng khoang kèm theo với các triệu chứng thiếu máu ngoại vi cũnglà nguyên nhân bỏ sót tổn thương động mạch. Trong trường hợp đa chấn thương,dấu hiệu để chẩn đoán tổn thương động mạch bị che lấp bởi sốc, suy hô hấp hoặchôn mê. Điều trị tổn thương động mạch lớn trong gãy xương, sai khớp là nhanhchóng phục hồi lại lưu thông mạch máu, nắn chỉnh và cố định gãy xương, sai khớpcũng như xử trí nhiều tổn thương phức tạp khác. Nguyên tắc là như vậy nhưng trênthực tế vẫn còn có bệnh nhân tử vong hoặc phải cắt cụt chi. Thống kê của FrykbergE.R. (2005) 57, tỉ lệ cắt cụt chi của tổn thương động mạch kết hợp gãy xương là30%, của tổn thương động mạch đơn thuần là 5%. Dhage S. và cộng sự (2006) 51tổng kết trên 1574 trường hợp tổn thương động mạch khoeo trong gãy xương quanhkhớp gối có 5,8% tử vong, 16,7% cắt cụt chi; tỉ lệ cắt cụt chi tăng theo thời gianthiếu máu: 3% dưới 4 giờ, 12% dưới 6 giờ và 31% trên 8 giờ. Hiện nay việc chẩn đoán và xử trí tổn thương động mạch trong gãy xương,sai khớp đã có những bước tiến bộ quan trọng. Siêu âm Doppler mạch, chụp cắt lớp vi tính động mạch để giúp phát hiện sớm các tổn thương động mạch khi chưa có dấu hiệu lâm sàng điển hình. Nhiều kỹ thuật được ứng dụng trong phẫu thuật kếthợp với hồi sức tích cực, phòng chống đông máu và suy thận cấp đã mang lại hiệuquả đáng kể trong việc cứu tính mạng bệnh nhân, cứu chi và chức năng chi. Những năm gần đây, tại Việt Nam, thống kê của một số tác giả cho thấy cùngvới sự gia tăng của các loại tai nạn, số bệnh nhân bị chấn thương ngày càng nhiềutrong đó có tổn thương động mạch lớn trong gãy xương, sai khớp chi dưới. Xuấtphát từ tình hình thực tế trên, để góp phần chẩn đoán sớm, xử trí đúng loại tổnthương kết hợp phức tạp này giúp giảm tỉ lệ biến chứng, chúng tôi tiến hành đề tài:“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị tổn thương độngmạch lớn trong gãy xương, sai khớp chi dưới” nhằm hai mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình thái tổn thương độngmạch lớn trong gãy xương, sai khớp chi dưới; 2. Đánh giá kết quả điều trị tổn thương động mạch lớn trong gãy xương, saikhớp chi dưới.
Xem thêm

155 Đọc thêm

nhận xét đặc điểm lâm sàng, x-quang và kết quả điều trị phẫu thuật vỡ mâm chày ngoài do chấn thương tại bệnh viện hữu nghị việt- đức

NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT VỠ MÂM CHÀY NGOÀI DO CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT- ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gãy mâm chày (MC) là gãy nội khớp, nếu điều trị không tốt sẽ ảnh
hưởng đến chức năng vận động và để lại di chứng thoái hoá khớp gối sau này.
Tuỳ theo cơ chế chấn thương mà có thể gặp: Gãy MC ngoài, gãy MC trong
hoặc cả hai MC, trong đó gãy MC ngoài là phổ biến nhất. Theo Nguyễn Hữu
Tuyên (1997) tỷ lệ gãy MC ngoài chiếm 64,2% [
21].
Gãy MC ngoài còn hay phối hợp với các tổn thương dây chằng, sụn
chêm, động mạch (ĐM) khoeo vv…
Trong những năm gần đây ở Việt Nam số lượng vỡ MC tăng lên rất
nhiều do sự tăng lên của phương tiện giao thông và tai nạn giao thông.
Theo nhiều tác giả vỡ MC do tai nạn giao thông chiếm đến 80% [
7], [9],
[20], [21].
Về chẩn đoán: Trước đây chủ yếu dựa vào lâm sàng và X-quang thẳng
nghiêng. Hiện nay xu hướng chụp phim ở nhiều tư thế khác nhau: Phim thẳng
- nghiêng, phim chéo, phim chụp góc 10º. Cùng với một số phương pháp chẩn
đoán khác như siêu âm, doppler mạch, chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng
hưởng từ cho thấy rõ tổn thương phối hợp: Dây chằng, sụn chêm [
17].
Ngoài ra còn phương pháp nội soi khớp để chẩn đoán và phối hợp điều
trị [
22], [36], [69].
Việc điều trị ngoại khoa còn rất phức tạp, vì ngoài vấn đề phục hồi hình
thể giải phẫu, cần phải đảm bảo sự vững chắc cơ năng của khớp gối, đảm bảo
cho người bệnh vận động sớm thì mới đạt kết quả về chức năng tốt, tránh
cứng khớp gối.
Vỡ MC ngoài được điều trị bằng nhiều phương pháp
- Điều trị bảo tồn: Kéo nắn bó bột. - Kéo liên tục, cố định ngoài, cố định trong.
- Điều trị bằng phẫu thuật: Đang còn nhiều tranh luận.
Tất cả các phương pháp đều thống nhất đưa đến mục đích phục hồi lại
giải phẫu của khớp, cố định vững chắc để tập vận động sớm.
Ở Việt Nam, với phương tiện, kỹ thuật và trang thiết bị ở các tuyến còn
hạn chế, chưa đồng đều, nên tỷ lệ biến chứng còn cao.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét đặc điểm lâm
sàng, X-quang và kết quả điều trị phẫu thuật vỡ mâm chày ngoài do chấn
thương tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”


Nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang vỡ mâm chày ngoài.
2.
Đánh giá kết quả phẫu thuật vỡ mâm chày ngoài.
Xem thêm

104 Đọc thêm

TRẬT KHỚP CHI TRÊN TRONG CHẤN THƯƠNG

TRẬT KHỚP CHI TRÊN TRONG CHẤN THƯƠNG

TRẬT KHỚP CHI TRÊN TRONG CHẤN THƯƠNG
A. ĐẠI CƯƠNG TRẬT KHỚP

Trật khớp là sự di lệch hoàn toàn hay không hoàn toàn của các mặt khớp với nhau Trật khớp gặp mọi lứa tuổi,nhưng ở tuổi trẻ nhiều hơn

Nguyên nhân thường là do chấn thương trong cuộc sống hàng ngày ,ngoại lực tác động trực tiếp hay gián tiếp lên lên vùng khớp bị tổn thương.Trật khớp do bệnh lý hiếm thấy

Tổn thương cơ bản của trật khớp là đứt,rách,dản các dây chằng và bao khớp

Tổn thương phối hợp là gãy đầu xương gần khớp ,thần kinh ,mạch máu

Thăm khám kỹ không bỏ sót tổn thương các cơ quan khác di kèm(chấn thương sọ não,chấn thương bụng kín,chấn thương ngực....)

Phân loại trật khớp :

Theo vị trí trật của chỏm xuong và ổ khớp

Theo thời gian : Trật khớp cấp cứu khám trước 48 giờ

.Trật khớp đến sớm khám trước 3 tuần

.Trật khớp muộn khám sau 3 tuần

Theo thể lâm sàng:.Trật khớp kín

.Trật khớp hở

.Trật khớp khóa

.Trật khớp có tổn thương mạch máu,TK Theo X quang :.Trật hoàn toàn .Bán trật

.Gãy trật

Theo mức độ tái phát:.Trật khớp lần đầu

.Trật khớp tái diển .Trật khớp thường xuyên

Nguyên tắc chung điều trị trật khớp là nắn trật,bất động,tập vận động

Trật khớp là trường hợp ngoại khoa cấp cứu,cần được nắn trật càng sớm càng tốt,tùy tình trạng chấn thương có thể nắn trật tại chổ hay cơ sở y tế

Nếu nắn trật không được,bất động chuyển chuyên khoa để phục hồi vị trí giải phẩu của khớp

Bất động gián tiếp hoặc trực tiếp vị trí giải phẩu khớp

Thời gian bất động khớp bị trật trung bình khoảng từ 3 tuần đến 6 tuần

Tập vận động các khớp còn lại,nếu nắn trật thành công thì tập vận động khớp sau thời gian bất động

B. ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN

1. Bệnh sử: Khai thác kỹ cơ chế chấn thương,thường lực tác động kiểu đòn bẫy, chấn thương cơ quan khác.Người lớn tuổi thường có gãy xương đi kèm

2. Khám lâm sàng : Thăm khám tổng quát chú ý phát hiện tổn thương các cơ quan quan trọng khác

Khám tại chổ : Biến dạng trong trật khớp không thay đổi tư thế

Dấu ổ khớp rổng,sờ vào khớp cảm giác rổng

Dấu lò xo,làm ngược chiều biến dạng chi khi buông ra bật lại tư thế ban đầu,trường hợp gãy xương đi kèm có thể mất triệu chứng này

3. Cận lâm sàng : X quang thường qui,chụp đủ 2 tư thế

CT scan ,MRI,DSA.EMG những xét nghiệm cần thiết nếu có tổn thương phức tạp kèm theo

C.TRẬT KHỚP LỚN CHI TRÊN THƯỜNG GẶP

I.TRẬT KHỚP VAI

1. Đại cương :

Phổ biến nhất trong các loại trật khớp,chiếm khoảng 5060% trong tổng số trật khớp các loại

Là sự di lệch của chỏm xương cánh tay và ổ chảo xương vai Trật khớp vai ra trước thường gặp nhất(95%97%)

2. Nguyên nhân :

chấn thương do té ngã dang tay, đưa ra sau,chống bàn tay hay chống khuỷu,có khi mõm vai bị đập từ phía sau ngoài

3. Yếu tố nguy cơ :

Khớp vai là khớp có tầm vận động lớn nhất trong các khớp,rất dể bị trật khớp do cấu trúc giải phẩu chỏm xương cánh tay lớn so với đáy ổ chảo xương vai nông.Vì vậy,các thành phần xung quanh khớp vai như sụn viền ổ chảo,bao khớp,dây chằng ổ chảo cánh tay dưới,nhóm cơ dưới vai,trên gai,dưới gai,tròn bé.. .góp phần lớn làm vững khớp vai khi vận động và ngăn chặn trật khớp vai

4. Chẩn đoán :

4.1. Trật khớp vai ra trước

4.1.1 Lâm sàng

Khai thác bệnh sử,tìm hiểu cơ chế chấn thương Khám : .Nhìn Vai dạng,xoay ngoài,dấu nhát rìu,vai vuông . Ân chẩn ổ khớp rổng, đau,dấu lò xo .Cần thăm khám phát hiện tổn thương thần kinh ,mạch máu

4.1.2 Cận lâm sàng

X quang vai phát hiện chỏm xương cánh tay bị trật,nếu trật không hoàn toàn chú ý khe khớp rộng .Chụp trước khi nắn trật,xác định trật khớp,phát hiện gãy xương. Chụp sau nắn trật, xác dịnh nắn trật thành công và lọi trừ xương gãy do nắn

CT scan khớp vai phát hiện rỏ thêm trường hợp có gãy xương phức tạp

MRI khớp vai có giá trị chẩn đoán tổn thương phần mềm làm mất vững khớp vai

4.1.3 Tổn thương phối hợp

HillSack: Tổn thương lún chỏm,30%40% trong trường hợp trật ra trước,có thể phát hiện trên X quang thẳng với cánh tay xoay trong

Bankart: Tổn thương giựt sứt rìa trước dưới ổ chảo,khoảng 5% hoặc tổn thương giật sứt sụn viền bao khớp trước dưới vai,khoảng 90% bệnh nhân dưới 30 tuổi trật khớp vai ra trước

Gãy mấu động lớn: khoảng 10%,thương gặp trật khớp người lớn tuổi

4.2.Trật khớp vai ra sau :

4.2.1. Nguyên nhân : Lực chấn thương từ phía trước vai,cánh tay khép,xoay trong

4.2.2 .Lâm sàng : Gồ phía sau,vai giữ tư thế khép,xoay trong,mõm quạ nhô rỏ

4.2.3. Cận lâm sàng : X quang trước sau có thể bỏ sót 50%,dấu hiệu gợi ý

Dấu bóng đèn, không thấy mấu động lớn do chỏm xoay trong

Dấu rìa,khoảng cách từ mặt trong chỏm xương cánh tay đến rìa trước ổ chảo bị đảo ngược hoặc 2 thành phần trên chồng lên nhau

4.3. Trật khớp vai xuống dưới :

4.3.1. Nguyên nhân :Lực chấn thương dọc trục cánh tay dạng hoàn toàn hoặc dạng quá mức

4.3.2. Lâm sàng : Cánh tay luôn tư thế qua đầu,cẳng tay sấp,60% có tổn thương thần kinh,thường là thần kinh nách,rách chóp xoay hoặc gãy mấu động lớn khoảng 80%,tổn thương mạch máu khoảng 3%

4.3.3. Cận lâm sàng : X quang vai,chỏm xương cánh tay dưới mõm quạ hay dưới ổ chảo

5. Điều trị :

Người bệnh được nắn trật càng sớm càng tốt, được tư vấn trước những tai biến có thể xãy ra

Phương pháp nắn trật theo Hippocrate thường sử dụng nhất.Người bệnh nằm thấp,thả lỏng người,người nắn đứng bên vai trật nắm cẳng tay người bệnh kéo dọc trục cánh tay tăng dần lực kéo,dạng tay. Đồng thời, gót chân người nắn đặt vào hõm nách người bệnh,khi kéo chỏm xương cánh tay gần diện ổ chảo nhanh chóng khép cánh tay vào,nghe tiếng cụp là khớp vào đúng vị trí,người bệnh cảm giác khớp nhẹ nhàng,giảm đau.Nếu có người phụ nắn thì người phụ dùng khăn vải choàng qua nách người bệnh trước khi người nắn đặt gót chân vào nách và phối hợp người nắn kéo lên trên

Ngoài ra còn có những phương pháp khác như: Arlt,,Milch,Kocher,Stimson Nên tê ổ gãy khi nắn trật,chống chỉ định tê khi người bệnh có rối loạn đông máu

Đánh giá tình trạng toàn thân trước khi nắn, ưu tiên cấp cứu ngoại khoa khác

Bất động sau nắn,trung bình từ 1 tuần đến 3 tuần,khuyến khích vận động trong đai bất đai để tránh cứng khớp vai,không dạng và xoay ngoài vai.Bất động bằng băng thun, đai đeo tay,thường đai Desault ,tư thế bất thường khép vai,xoay trong nhẹ

Sau thời gian bất động,tập vận động vai tăng dần lấy lại tầm vận động khớp vai và sức cơ.Chơi thể thao nhẹ sau 3 tháng,bình thường sau 4 tháng

Mổ nắn trật khi nắn thất bại dù đến sớm( 5%10%) hoặc tổn thương phối hợp nặng nề,bất dộng sau mổ nắn trật

Thuốc phụ trợ giảm đau,giảm sưng sau nắn

Biến chứng Tổn thương thần kinh sau nắn thường là thần kinh nách, đo EMG sau 4 tuần,phục hồi sau 34 tháng.Tổn thương mạch máu hiếm gặp,thường có bệnh lý mạch máu trước đó,Gãy xương sau nắn,tổn thương phần mềm sau nắn.Do dó,cần làm đúng kỹ thuật khi nắn,không thô bạo,phối hợp tốt nhịp nhàng

6.Tiên lượng

Trật tái hồi khi vận động vận động sớm,không tuân thủ nguyên tắc điều trị,tổn thương phối hợp phần mềm nặng

Cứng khớp vai nếu không tập vai trong đai

II.TRẬT KHỚP KHUỶU

1. Đại cương

Trật khớp khuỷu chỉ đứng thứ 2 sau trật khớp vai,chiếm khoảng 20%25% trong các trật khớp

Đa số trật ra sau lên trên,trật khớp phức tạp có tổn thương khớp quay trụ trên Trật ra trước ít,thường có gãy mõm khuỷu

2. Nguyên nhân

Thường gặp té chống tay khuỷu duỗi hay gấp nhẹhẩ

3. Chẩn đoán

Trật khớp khuỷu gặp mọi lứa tuổi,trẽ tuổi nhiều hơn,nam nhiều hơn nử

3.1 Lâm sàng :

Trật ra sau nhiều(90%),mất cơ năng,sưng đau bầm, đầu trên 2 xương cẳng tay lên trên ra sau xương cánh tay,nếu sang bên thì trậ sau ngoài hay sau trong

Biến dạng khuỷu gấp nhẹ,không duỗi thẳng được

Dấu nhát rìu phía sau khuỷu khi nhìn nghiêng,sờ được đầu dưới xương cánh tay trước khuỷu,mất tam giác Nelaton

Dấu lò xo ,gập thụ động cẳng tay,khi buông ra cẳng tay bật mạnh lại Dấu ổ khớp rổng

Trật ra trước thường có gãy kèm mõm khuỷu,các dây chằng bị đứt(trừ dây chằng vòng),cơ nhị đầu,nhóm cơ bám trên lồi cầu bị đụng giập,rách

Thăm khám kỹ phát hiện tổn thương gãy xương ,tổn thương thần kinh trụ ,thần kinh giữa,thần kinh quay ít gặp,tổn thương động mạch cánh tay bị dập hay chèn èp

Trật khớp hở chú ý vết thương hở thấu khớp

3.2 Cận lâm sàng

X quang khớp khuỷu trước và sau nắn trật để xác định trật khớp, nắn đúng vị trí CT scan,MRI có giá trị xác định tổn thương phối hợp vùng khuỷu EMG trong trường hợp nghi ngờ tổn thương thần kinh

4. Điều trị

Nắn trật càng sớm càng tốt, dể nắn ít để biến chứng.Có thể nắn bằng khung nắn,treo tay hay bằng tay

Bất động bằng bột nên rạch dọc,nẹp bột 34 tuần,gấp khuỷu 90,ngữa cẳng tay Tập gồng cơ trong bột,sau thời gian bất động,bỏ bột,tập vận động khuỷu Mổ nắn trật nếu nắn trật thất bại ,trật khuỷu đến muộn,cố định bằng Kirschner Không xoa bóp khuỷu để tránh viêm cơ hóa cốt

Thuốc giảm đau ,giảm sưng...

5.Tiên lượng Thường tốt, ít khi trật lại

Cứng khuỷu, đơ khuỷu nếu trật khuỷu phức tạp,có nhiều tổn thương đi kèm

Tài liệu tham khảo:

1 Chấn thương chỉnh hình,Nguyễn Đức Phúc,2008

2 Bệnh học Chấn thương Chỉnh hình, ĐHYD TPHCM,năm 2008

3 Phác đồ Điều trị Bệnh Viện Chợ Rẫy,năm 2013

4 Campell”s Operative Orthopeadics,Vol 3,9th edition,pp 218722232010
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bạn biết gì về hội chứng lối thoát ngực?

BẠN BIẾT GÌ VỀ HỘI CHỨNG LỐI THOÁT NGỰC?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một số rối loạn xảy ra khi có sự chèn ép, chấn thương, kích thích thần kinh và mạch máu định khu, trong khu vực nằm giữa khoảng nền của cổ cho tới nách gọi là hội chứng lối thoát ngực (Thoracic Outlet Syndrome). Yếu tố nguy cơ thường gặp Nếu mạch máu và thần kinh trong khe nhỏ hẹp của lối thoát ngực bị chèn ép, sẽ bị kích thích gây ra hội chứng lối thoát ngực. Nguyên nhân có thể do xương đòn bị gãy; do bất thường của xương và mô mềm... làm hẹp lối thoát ngực gây ra. Bên cạnh đó có những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh là: rối loạn giấc ngủ; các khối u hoặc hạch bạch huyết lớn ở vùng ngực trên hay vùng nách; căng thẳng hoặc trầm cảm; tập các môn thể thao có động tác lặp đi lặp lại cánh tay hoặc chuyển động vai, như bóng chày, bơi, chơi golf, bóng chuyền, cử tạ, chấn thương do mang vác nặng trên vai; chấn thương cổ... Ba nhóm triệu chứng theo tổn thương thần kinh, mạch máu Một người bị hội chứng lối thoát ngực thường thấy các triệu chứng như sau: tự nhiên thấy đau cổ, đau vai, đau cánh tay, tê liệt hoặc suy giảm lưu lượng máu đến các khu vực bị ảnh hưởng. Tuy đau trong hội chứng lối thoát ngực dễ nhầm lẫn với cơn đau thắt ngực, nhưng có thể phân biệt được trong 2 trường hợp: Thứ nhất cơn đau trong hội chứng lối thoát ngực không xảy ra hay tăng lên khi đi, khác với đau trong cơn đau thắt ngực thì có xảy ra và đau tăng khi đi. Thứ hai, đau trong hội chứng lối thoát ngực thường tăng lên khi nâng cao cánh tay bị ảnh hưởng, còn cơn đau thắt ngực thì không tăng khi nâng cao cánh tay.   Hội chứng lối thoát ngực ảnh hưởng thần kinh: chiếm 95% số người mắc hội chứng, gặp nhiều ở phụ nữ trung niên (ảnh minh họa) Tổn thương trong hội chứng lối thoát ngực thường ảnh hưởng đến các dây thần kinh và các động tĩnh mạch, với ba nhóm triệu chứng như sau: Hội chứng lối thoát ngực ảnh hưởng thần kinh: chiếm 95% số người mắc hội chứng, gặp nhiều ở phụ nữ trung niên. Bệnh thường liên quan đến sự bất thường của xương và mô mềm trong vùng cổ dưới mà chèn ép và kích thích các dây thần kinh của đám rối thần kinh cánh tay, sự phối hợp của các dây thần kinh tạo chức năng vận động và cảm giác của cánh tay và bàn tay. Gây ra các triệu chứng: yếu hoặc tê bàn tay, giảm kích thước các cơ ở tay, thường xảy ra ở một bên của cơ thể; đau, ngứa, dị cảm, tê và yếu cổ, ngực, cánh tay. Cử động bàn tay trở nên vụng về, kém khéo léo. Hội chứng lối thoát ngực do ảnh hưởng tĩnh mạch: do tổn thương các tĩnh mạch lớn ở vùng cổ với các triệu chứng: phù bàn tay, ngón tay và cánh tay, cũng như cảm giác nặng và yếu cổ và cánh tay. Các tĩnh mạch của thành ngực trước có thể bị giãn. Hội chứng lối thoát ngực do ảnh hưởng động mạch: là loại ít gặp nhất, nhưng lại nặng nhất, gây ra bởi sự bất thường bẩm sinh của xương ở vùng cổ. Các triệu chứng bao gồm: lạnh ở bàn tay và ngón tay, tê, đau, hoặc những vết loét của các ngón tay và lưu thông máu kém ở cánh tay, bàn tay và ngón tay. Xét nghiệm về dẫn truyền thần kinh để đánh giá chức năng vận động và cảm giác các dây thần kinh; xét nghiệm về mạch máu; chụp Xquang để phát hiện các bất thường về xương sườn phụ hoặc bất thường cột sống cổ; chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ MRI cột sống để phát hiện chấn thương cột sống cổ, tổn thương mạch máu.   Một người bị hội chứng lối thoát ngực thường thấy các triệu chứng như sau: tự nhiên thấy đau cổ, đau vai, đau cánh tay, tê liệt hoặc suy giảm lưu lượng máu đến các khu vực bị ảnh hưởng. (Ảnh minh họa) Nếu không được chẩn đoán và điều trị, hội chứng lối thoát ngực có thể gây ra các biến chứng: thường xuyên đau và phù cánh tay (đặc biệt ở những bệnh nhân có hội chứng lối thoát ngực do ảnh hưởng tĩnh mạch); thiếu máu cục bộ ở ngón tay (đau do giảm tưới máu); hoại tử (do thiếu máu); huyết khối; nghẽn mạch phổi; tổn thương thần kinh vĩnh viễn. Điều trị ra sao? Điều trị bảo tồn bằng chương trình tập thể dục và vật lý trị liệu. Dùng thuốc kháng viêm không steroids để giảm đau. Dùng steroids chống viêm giảm chèn ép. Nếu điều trị bảo tồn không được thì phải phẫu thuật để điều trị. Mục tiêu của phẫu thuật là để loại bỏ các nguồn gây chèn ép các dây thần kinh ở cánh tay, cẳng tay và bàn tay (đám rối thần kinh cánh tay). Mổ cắt bỏ các xương sườn, các cơ bất thường hoặc các dải xơ. Can thiệp phẫu thuật được chỉ định cho các bệnh nhân mắc hội chứng lối thoát ngực ảnh hưởng các mạch máu và thần kinh nếu liệu pháp trị liệu thất bại. Hầu hết các bệnh nhân mắc hội chứng lối thoát ngực ảnh hưởng động mạch và tĩnh mạch cần điều trị phẫu thuật và thường có kết quả tốt. Phòng tránh cách nào? Ngoài nguyên nhân bẩm sinh do cấu tạo giải phẫu gây hội chứng lối thoát ngực, còn có nguyên nhân mắc phải có thể phòng tránh được bằng các biện pháp sau đây: Tránh các động tác lặp đi lặp lại nhiều với cường độ mạnh trong tập thể thao hay lao động. Chẩn đoán và điều trị sớm các khối u hoặc hạch bạch huyết ở vùng ngực trên hay vùng nách. Phòng tránh chấn thương vùng đầu cổ do tai nạn giao thông bằng cách đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông...
Xem thêm

2 Đọc thêm

TỔN THƯƠNG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

TỔN THƯƠNG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Tuù maựu dửụựi maứng cửựngTụ máu dưới màng cứng mãnPhân biệt tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứngXUẤT HUYẾT KHOANG DƯỚI NHỆNTăng đậm độ các khe, rãnh nãoEDHXUAÁTHUYEÁTTRONGNAÕO THAÁT(Intraventricularhemorrhage)DẬP NÃO (Contusion)-Do đập vào mặt trong hộp sọ, liềm-lềunão-Thái dươngtrán cạnh đường giữa-Dạng tổn thương:+dập phù não: hình giảm đậm độ

39 Đọc thêm

VTMM Y2

VTMM Y2

CHẨN ĐOÁN TỔN THƯƠNGMẠCH MÁU NGOẠI BIÊN♦Dựa vào:- Chẩn đoán xác định: BN có biểu hiện của cáctriệu chứng trên- Chẩn đoán nguyên nhân: vết thương hở, chấnthương hay tai biến y khoa.- Chẩn đoán độ nặng: thang điểm MESS và các tổnthương đi kèm (sọ não, ngực, bụng, xương…)TỔN THƯƠNG MỘT SỐMẠCH MÁU CHUYÊN BIỆT1. ĐM dưới đòn và ĐM nách:- Thường do vết thương gây ra. Nếu do chấnthương thì đó là 1 chấn thương rất mạnh, trực tiếpvào vùng vai.- Chấn thương động mạch thường kèm theo gãyxương sườn số 1, tổn thương đỉnh phổi và đámrối cánh tay- Khám: bắt mạch quay và mạch cánh tay cũng nhưđánh giá về vận động, cảm giác của tay bịthương.TỔN THƯƠNG MỘT SỐMẠCH MÁU CHUYÊN BIỆT2. ĐM cánh tay:- Chấn thương động mạch cánh tay thường đi kèm
Xem thêm

30 Đọc thêm

Nghiên cứu chẩn đoán và kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp tại Bệnh viện Việt Đức

NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG CỔ THẤP TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương cột sống là loại tổn thương phổ biến ở các nước đang và
đã phát triển. Tại Bắc Mỹ năm 2008 có 300.000 trường hợp chấn thương CSC
và tỷ lệ chấn thương mới mỗi năm là 20.000 trường hợp. Số tiền mà nước Mỹ
phải chi trả khoảng 9.7 tỷ USD hàng năm.[
71]. Châu Âu, hàng năm cũng có
khoảng trên 40.000 ca tử vong do chấn thương CSC liên quan đến tai nạn
giao thông.[
56]. Tỷ lệ chấn thương CSC tại Nga khoảng 49.0% trong chấn
thương cột sống nói chung và đều liên quan đến tai nạn xe máy[
64]
Ở nước ta, cùng với sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, tốc độ xây dựng và việc gia tăng các phương tiện có tốc độ cao ngày
càng nhiều, tuy nhiên cơ sở hạ tầng còn chưa phát triển theo kịp, ý thức sử
dụng các phương tiện bảo hộ cũng như sự tuân thủ luật lệ giao thông còn chưa
cao…là một trong nhiều nguyên nhân gây nên tai nạn lao động và tai nạn giao
thông ngày càng tăng.
Chấn thương CSC là một trong những chấn thương rất nặng của bệnh
lý chấn thương nói chung và cột sống nói riêng, là một trong những nguyên
nhân quan trọng dẫn tới tử vong hoặc di chứng tàn tật để lại gánh nặng cho
gia đình và xã hội. Tại Việt Nam, chấn thương CSC nói chung chiếm từ 2-
5% của bệnh lý chấn thương đầu mặt cổ, trong đó có khoảng 10% BN bị chấn
thương tủy cổ mà trên phim Xquang thường qui không phát hiện ra tổn
thương xương. Tỷ lệ tổn thương thần kinh do chấn thương CSC còn cao (60-
70%) [
24] [14], trong đó tổn thương tủy hoàn toàn không tiến triển sau điều
trị khoảng 50% [
28]. Theo Đoàn Hoài Linh (2004) nguyên nhân gây tổn
thương tủy sống chủ yếu là tai nạn lao động và tai nạn giao thông chiếm
tới 85.9%, trong đó nguyên nhân do tai nạn giao thông là 53,6% . Chấn thương CSC thấp là tổn thương từ C
3
- C
chiếm phần lớn
(86,6%) [
24]. Đây cũng chính là những tổn thương gây nên tổn thương tủy
nhiều nhất và để lại hậu quả nặng nề nhất, vì vậy trách nhiệm của người thầy
thuốc lâm sàng là làm giảm thiểu mức lan rộng của tổn thương tủy tạo điều
kiện tối ưu cho tủy phục hồi.
7
Việt Nam, trước những năm 1990, đa số các trường hợp chấn thương
CSC được điều trị bảo tồn: bất động bằng bột Minerve hoặc phương pháp kéo
liên tục Cruhfield, phần lớn BN tàn tật vĩnh viễn hoặc tử vong. Sau năm 1991,
một loạt các phương tiện hiện đại: chụp cắt lớp vi tính, chụp CHT được đưa
vào sử dụng và khai thác nên việc chẩn đoán chấn thương CSC chính xác hơn,
cùng với phát triển vượt bậc của ngành gây mê hồi sức nên việc điều trị bằng
phẫu thuật đã có hiệu quả rất lớn làm giảm thiểu thời gian nằm viện, giảm chi
phí điều trị, thuận lợi cho sự phục hồi và tái hòa nhập trở lại cộng đồng, đặc biệt
tỷ lệ tử vong của chấn thương CSC giảm từ 33% xuống 9,1% [
25].
Vấn đề đặt ra cho các bác sĩ lâm sàng trong lĩnh vực điều trị chấn thương
CSC là: Mổ hay không mổ, mổ khi nào và mổ như thế nào để giải quyết cùng
một lúc 2 mục tiêu: hạn chế tối đa sự lan rộng của tổn thương tủy và làm vững
cột sống. Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của chấn thương CSC thấp.
2. Đáng giá kết quả điều trị chấn thương CSC thấp bằng phẫu thuật.
Xem thêm

107 Đọc thêm

Các hình thái lâm sàng của tổn thương thể thủy tinh - dịch kính trong chấn thương

CÁC HÌNH THÁI LÂM SÀNG CỦA TỔN THƯƠNG THỂ THỦY TINH - DỊCH KÍNH TRONG CHẤN THƯƠNG

Đặt vấn đề

Chấn thương mắt là một cấp cứu rất thường gặp trong nh n khoa. ở Việt
Nam theo Phan Đức Khâm (1991) [10], tỷ lệ chấn thương mắt chiếm 10%-
15% các bệnh lý của mắt. Chấn thương mắt là nguyên nhân đứng hàng thứ ba
gây mù loà, sau bệnh đục thể thuỷ tinh (TTT) và glôcôm [11]. Theo Hoàng
Năng Trọng (2000) [18], di chứng của chấn thương mắt chiếm 12,4% trong số
nguyên nhân gây mù loà một mắt, trong đó tỷ lệ vết thương xuyên (VTX)
nh n cầu từ 25,3%- 69,3% các bệnh nhân được điều trị do chấn thương mắt
[15], đặc biệt là ở trẻ em và những người trong độ tuổi lao động chiếm từ
70%- 90%. Vết thương xuyên nh n cầu luôn chiếm tỷ lệ cao trong số trẻ em
nhập viện mà chủ yếu là vết thương phần trước nh n cầu 91,7% [TDT12].
Đục thể thuỷ tinh và dịch kính (TTT- DK) là hai tổn thương phối hợp
không phải là hiếm gặp trong bệnh cảnh lâm sàng phức tạp của chấn thương
nh n cầu đăc biệt là vết thương xuyên (68,5%) [19]. Tổn thương làm giảm thị
lực một cách trầm trọng tức thì và nhiều biến chứng cho mắt do hậu quả của
chấn thương còn tồn tại dai dẳng trong nh n cầu.
Tổn thương thể hiện với nhiều hình thái khác nhau, mỗi hình thái thường
liên quan đến một phương pháp điều trị riêng biệt, vì vậy mà mục tiêu của đề
tài này là tìm hiểu : Đặc điểm lâm sàng và các hình thái tổn thương TTT -
DK trong chấn thương nhằm rút ra biện pháp xử lý đặc thù tương xứng một
cách hữu hiệu cho người bệnh.
Xem thêm

43 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị gãy mỏm nha do chấn thương tại bệnh viện Việt Đức

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY MỎM NHA DO CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống cổ (CSC) là chấn thương rất nặng và hay gặp trên
toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở độ tuổi lao động. Tại Mỹ hàng năm có thêm
khoảng 20.000 trường hợp chấn thương CSC cùng với hàng trăm ngàn nạn
nhân đang phải sống cùng với những di chứng nặng nề sau chấn thương CSC
đã tiêu tốn của Mỹ một nguồn ngân sách khoảng 8 tỉ đôla[17], [63]
. Tại châu
Âu hàng năm cũng có 40.000 ca tử vong do tai nạn giao thông có liên quan
đến chấn thương CSC [36]. Ở nước ta hiện nay tỉ lệ chấn thương CSC ngày
càng tăng do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do tai nạn giao thông và tai nạn
lao động. Hậu qủa để lại nặng nề làm giảm chất lượng sống của người bệnh,
xã hội cũng mất đi một phần nhân lực đóng góp cho sự phát triển kinh tế của
đất nước.
Cột sống cổ chia làm hai tầng: cột sống cổ cao và cột sống cổ thấp. Cột
sống cổ cao gồm hai đốt sống C1 và C2, còn lại từ C3 đến C7 là cột sống cổ
thấp. Riêng ở C2, phía trước ở giữa mặt trên của thân đốt sống nhô lên một
cấu trúc xương gọi là mỏm nha.
Gãy mỏm nha là tổn thương thường gặp trong chấn thương cột sống cổ cao
vàthương tổn rất phức tạp, tỉ lệ tử vong cao. Theo Võ Văn Thành, Hà Kim
Trung trong chấn thương cột sống cổ cao, tỉ lệ gãy mỏm nha chiếm tới
46,15% [1], [4], [6]. Tuy tổn thương rất nặng và để lại nhiều di chứng tàn tật
nhưng triệu chứng lâm sàng ban đầu nghèo nàn, khó chẩn đoán và dễ bỏ sót
đặc biệt là tuyến đầu. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ để lại
nhiều biến chứng và di chứng của gãy mỏm nha là các tổn thương mất vững
như di lệch và khớp giả, hạn chế hoặc mất các cử động xoay của đầu. Lâu dần
có thể dẫn đến các thương tổn nặng khác có thể gây tử vong. Trước đây tại Việt Nam khi trang thiết bị chẩn đoán, phương tiện phẫu
thuật còn hạn chế nên đa số các trường hợp chấn thương cột sống cổ đều được
điều trị bảo tồn. Bất động bằng bột Minerve hoặc phương pháp kéo liên tục
Crutchfield dẫn đến phần lớn bệnh nhân tàn tật vĩnh viễn hoặc tử vong.
Những năm gần đây khi sự gia tăng nhanh chóng của nhiều phương tiện chẩn
đoán hiện đại như chụp cắt lớp vi tính(CT), chụp cộng hưởng từ hạt
nhân(MRI) đã góp phần không nhỏ trong việc phát hiện rõ, chính xác, giúp
phân loại cụ thể các tổn thương để từ đó có thái độ xử trí đúng đắn.
Từ tháng 5.2008 đến 5.2010 có 41 trường hợp gãy mỏm nha được điều
trị tại bệnh viện Việt Đức. Để giúp cho công tác chẩn đoán và điều trị gãy
mỏm nha đạt kết quả cao hơn trong tương lai
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị
gãy mỏm nha do chấn thương tại bệnh viện Việt Đức”
Với 2 mục tiêu sau:

1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của gãy mỏm nha.



2. Đánh giá kết quả điều trị gãy mỏm nha do chấn thương.
Xem thêm

79 Đọc thêm

Nghiên cứu hình thái lâm sàng, thăm dò chức năng tai và chụp cắt lớp vi tính chấn thương tai giữa

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI LÂM SÀNG, THĂM DÒ CHỨC NĂNG TAI VÀ CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH CHẤN THƯƠNG TAI GIỮA

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương tai giữa được biết đến rất sớm từ thời Hypocrate, nguyên
nhân chủ yếu là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt…,
chấn thương tai giữa là chấn thương làm tổn thương một hoặc nhiều cấu trúc
của tai giữa: vỡ xương chũm, vỡ các thành của hòm nhĩ, khung nhĩ, tổn
thương hệ thống xương con. Tuỳ theo nguyên nhân mà bệnh cảnh chấn
thương tai giữa có nhiều biểu hiện khác nhau, chấn thương tai giữa nằm trong
bệnh cảnh chấn thương xương thái dương, nhưng không phải mọi chấn
thương xương thái dương đều gây chấn thương tai giữa. Tỷ lệ chấn thương
xương thái dương hiện nay chiếm khoảng 1% trong các bệnh lý về tai [17]. Vì
vậy có thể gặp chấn thương tai giữa đơn thuần hoặc phối hợp với chấn thương
tai trong, tai ngoài, liệt VII ngoại biên, chấn thương sọ não… Chấn thương tai
giữa có thể để lại hậu quả nghiêm trọng như mất sức nghe, biến chứng viêm
màng não, rò dịch não tuỷ và đặc biệt gây liệt mặt do tổn thương ngoại biên
dây thần kinh số VII, ảnh hưởng đến sức lao động cũng như thẩm mỹ cho
người bệnh. [14]
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chuyên ngành nội soi và
chẩn đoán hình ảnh cho phép chúng ta đánh giá được mức độ, vị trí tổn
thương, cũng như sự can thiệp kịp thời của các phẫu thuật viên Tai Mũi Họng
có thể làm hạn chế các tai biến và di chứng do chấn thương xương thái dương
gây ra. Ngày nay do cơ chế mở cửa, kinh tế phát triển làm tăng các loại
phương tiện cao tốc, tuy nhiên cơ sở hạ tầng trong đó có đường bộ đặc biệt là
khu vực đô thị phát triển không tương xứng, vì vậy tai nạn giao thông đường
bộ rất thường gặp. Theo Nguyễn Xuân Hòa thì trong chấn thương vỡ xương
đá tai nạn giao thông chiếm 71,7%, [4], vì vậy khi tai nạn thường gây chấn
thương tai, trong đó chủ yếu là chấn thương tai giữa. Chấn thương tai giữa nếu không được can thiệp kịp thời sẽ để lại hậu quả rất nặng nề, mất sức nghe,
liệt VII ngoại biên, chóng mặt …. Ở nước ta từ trước đến nay chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu về chấn thương tai giữa. Vì thế chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính và thăm dò
chức năng tai trong chấn thương tai giữa.
2. Đối chiếu lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính, thăm dò chức năng để
đánh giá mức độ tổn thương tai giữa và đề xuất phương pháp can
thiệp thích hợp.
Xem thêm

96 Đọc thêm

Tìm hiểu Bệnh lý màng phổi

TÌM HIỂU BỆNH LÝ MÀNG PHỔI

Bệnh lý màng phổi

Bệnh lý màng phổi BỆNH LÝ MÀNG PHỔI ITRÀN KHÍ MÀNG PHỔI 1 Phân loại TKMP a. TKMP tự phát (Spontaneous Pneumothorax) i. Nguyên phát: (Primary spontaneous pneumothorax ) thường gặp ở bệnh nhân trẻ (2030 tuổi), nam cao gấp 78 lần nữ) ii. Thứ phát: (Secondary spontaneous pneumothorax) do bệnh lý tại phổi như COPD, lao, bệnh phổi mô kẽ lan tỏa….. b. TKMP chấn thương (Traumatic Pneumothorax) i. Tai nạn: vết thương, dao đâm, ii. Thủ thuật: sau khi chọc dịch màng phổi, sinh thiết màng phổi, đặt TM dưới đòn, thông khi xâm lấn 2 Vị trí đặt ống a. Đường bên: liên sườn 46 (nách giữa) b. Đường giữa: liên sườn 23 giữa xương đòn ( không bao giờ ½ trong đường trung đòn) Tam giác an toàn (vị trí đặt ống đường bên) Hội lồng ngực Anh 3 Một số biên chứng do đặt ống a. Chảy máu: động mạch liên sường, động mạch vú trong Bs Huỳnh Anh Tuấn –BV Lao và bệnh phổi Cần Thơ 1
Bệnh lý màng phổi b. Tổn thương cơ quan nội tạng c. Tổn th
Xem thêm

7 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân và kết quả điều trị chấn thương mũi xoang tại huế

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG MŨI XOANG TẠI HUẾ

1ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thương nói chung, chấn thương sọ mặt nói riêng là một vấn đề rất thường gặp và ngày càng có xu hướng gia tăng. Chấn thương mũi xoang nằm trong chấn thương vùng sọ mặt có vị trí quan trọng và chiếm tỉ lệ khá cao trong chấn thương tai mũi họng. Ở nước ta theo thống kê của nhiều tác giả thì chấn thương mũi xoang chiếm tỉ lệ từ 54,3% 71,5% trong các chấn thương tai mũi họng ( Phạm Khánh Hòa, Hoàng Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Thoa, Trương Tam Phong, Nguyễn Tư Thế ) 10,16, 22, 23,24,29t. Theo Muraoka ( Osaka Nhật Bản), chấn thương mũi xoang chiếm 75% trong chấn thương tai mũi họng 63. Chấn thương mũi xoang xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, thời chiến chấn thương thường do hỏa khí, thời bình chủ yếu do tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, đặc biệt là tai nạn giao thông chiếm tỉ lệ cao. Theo Karen Kalhoun 75% chấn thương mặt do tai nạn giao thông 33. Ở nước ta chấn thương mũi xoang do tai nạn giao thông chiếm từ 30,7% 62,4% 10,12,16,24, sau đó là tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, thể thao và các nguyên nhân khác. Ngày nay cùng với quá trình đô thị hóa, các công trình xây dựng phát triển, mật độ dân số ngày càng tăng, phương tiện giao thông hiện đại với tốc độ cao, số lượng xe máy tăng vọt với người điều khiển xe không đội mũ bảo hiểm, không làm chủ tốc độ khi tham gia giao thông, ngược lại hạ tầng cơ sở lại chưa theo kịp tốc độ ấy làm cho tỉ lệ các nguyên nhân gây chấn thương thay đổi và tính chất tổn thương cũng thay đổi và nặng nề hơn, phức tạp hơn. Điều trị chấn thương mũi xoang không chỉ là mối quan tâm của riêng thầy thuốc tai mũi họng mà cần phải có sự phối hợp đa chuyên khoa vì mối liên quan của mũi xoang với các cơ quan lân cận và thường bị đa chấn thương13,71. Việc ưu tiên hàng đầu là phải cứu sống bệnh nhân, sau đó là phục hồi chức năng và thẩm mỹ. Điều này không phải lúc nào cũng được thực hiện đúng mức ở các cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước, mà ngay cả nước ngoài cũng thường gặp, do đó hiệu quả điều trị chưa cao do các di chứng và biến chứng về chức năng và thẩm mỹ. 2Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp điện toán ( Computed Tomography Scan CT Scan) đã làm cho việc chẩn đoán chấn thương mũi xoang đạt được những bước tiến mới cho phép người thầy thuốc đánh giá tổn thương một cách chính xác hơn từ đó đưa ra phương pháp điều trị hợp lý, cách thức phẫu thuật và tiên lượng sau phẫu thuật tốt hơn, đồng thời áp dụng nhiều phương tiện điều trị đã làm cho việc điều trị chấn thương mũi xoang ngày càng hiệu quả hơn. Chính vì sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của chấn thương mũi xoang nên ở nước ta đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về chấn thương mũi xoang và đã có rất nhiều kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị. Tại Thừa Thiên Huế, tình hình chấn thương do tai nạn giao thông cũng là vấn đề đáng báo động như trên cả nước. Hàng ngày bệnh viện trung ương Huế phải tiếp nhận rất nhiều trường hợp chấn thương và số trường hợp chấn thương gia tăng hàng năm. Vì vậy để giải quyết tốt vấn đề chức năng và thẩm mỹ tránh di chứng về sau là rất cần thiết. Với mục đích trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài:” Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân và kết quả điều trị chấn thƣơng mũi xoang tại Huế ” với các mục tiêu sau: 1. Xác định đặc điểm tổn thương và tác nhân của chấn thương mũi xoang. 2. Đánh giá về kết quả điều trị chấn thương mũi xoang.
Xem thêm

75 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG NẸP VÍT TỰ TIÊU TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG NẸP VÍT TỰ TIÊU TRONG ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI

Chấn thương hàm mặt là một cấp cứu hay gặp trong cuộc sống hàng
ngày, gia tăng đáng kể trong những năm gần đây và có xu hướng ngày càng nặng và phức tạp: số đường gãy, di lệch nhiều hơn, phối hợp với các tổn thương phần mềm, mạch máu thần kinh, chấn thương sọ não hoặc chấn thương phối hợp với các bộ phận khác của cơ thể; nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông mà đặc biệt là tai nạn xe máy

116 Đọc thêm

Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị khuyết hổng vùng cẳng - bàn chân

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU VÀ ỨNG DỤNG VẠT ĐÙI TRƯỚC NGOÀI TRONG ĐIỀU TRỊ KHUYẾT HỔNG VÙNG CẲNG - BÀN CHÂN

ĐẶT VẤN ĐỀ
Khuyết hổng phần mềm (KHPM) vùng cẳng chân - bàn chân là tổn
thương thường gặp, do nhiều nguyên nhân như: tai nạn giao thông, tai nạn
lao động, sau cắt bỏ khối u phần mềm, sẹo co kéo, sẹo loét mạn tính….
Ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện giao thông cơ giới, tỷ lệ gặp
vết thương gây KHPM ở cẳng - bàn chân có xu hướng ngày càng gia tăng và
tính chất tổn thương thì nặng nề, phức tạp, đa dạng.
Điều trị KHPM ở vùng cẳng - bàn chân vẫn luôn là vấn đề khó khăn,
đặc biệt đối với các tổn thương rộng, sâu có kèm theo tổn thương xương,
khớp nhiễm khuẩn ở vùng 1/3 dưới cẳng chân, cổ - bàn chân.
Các phương pháp kinh điển như ghép da chỉ được thực hiện khi có
nền tổ chức hạt đẹp. Vạt xoay tại chỗ được sử dụng với các KHPM vừa và
nhỏ. Sử dụng vạt từ xa (chéo chân, trụ Filatov-Gillis) thì bệnh nhân phải chịu
nhiều cuộc phẫu thuật phức tạp, thời gian điều trị kéo dài, bất động gò bó,
đặc biệt về thẩm mỹ nên khó được người bệnh chấp nhận.
Điều trị bằng phương pháp hút áp lục âm (Vacuum Assisted Closure VAC)

có tác dụng: thu hẹp diện tích tổn thương, kích thích và thúc đẩy tổ
chức hạt phát triển nhanh, tạo môi trường tối ưu nuôi dưỡng gân, xương
và che phủ phương tiện kết xương, hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn vào
vết thương. Với KHPM rộng lộ gân, xương, khớp thì VAC thường được
sử dụng như một biện pháp để chuẩn bị cho phẫu thuật tạo hình cơ bản
tiếp theo.
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, nhờ sự phát triển của vi giải phẫu
học và vi phẫu thuật, nhiều vạt tổ chức có trục mạch nuôi được phát hiện và
sử dụng dưới dạng cuống mạch liền hoặc dạng tự do. Mỗi vạt đều có những
ưu nhược điểm riêng của chúng. Vạt tự do cũng chính là thành tựu đỉnh cao
của phẫu thuật tạo hình hiện đại. Vạt đùi trước ngoài (ĐTN) được Song Y. G. phát hiện vào năm 1984,
tác giả cho thấy vạt được cấp máu bởi nhánh mạch xuất phát từ động mạch
mũ đùi ngoài, xuyên vách giữa cơ thẳng đùi và cơ rộng ngoài ra da. Tuy
nhiên, các nghiên cứu sau này chỉ ra rằng ngoài các mạch xuyên vách, vạt
ĐTN còn được cấp máu bởi các mạch xuyên qua cơ rộng ngoài, hình thái và
tỷ lệ phân bố của các mạch xuyên còn thay đổi giữa các tác giả. Vạt ĐTN đã
được các tác giả như Koshima, Wei, Yildirim, Wong, … nghiên cứu về giải
phẫu và ứng dụng lâm sàng đều xác nhận: Vạt rất linh hoạt được sử dụng
dưới nhiều hình thức khác nhau như vạt da mỡ, da cân, da cơ, vạt siêu mỏng
và đáp ứng được nhiều dạng tổn khuyết phức tạp và đa dạng ở vùng cẳng -
bàn chân. Bên cạnh đó, vạt còn có ưu điểm như: cuống mạch dài, khá hằng
định, đường kính lớn; vị trí cho vạt thuận lợi, dễ lấy; vạt có thể lấy được kích
thước lớn; vạt có thần kinh cảm giác là nhánh thần kinh đùi bì ngoài; nơi lấy
vạt ít ảnh hưởng đến chức năng và thẩm mỹ.
Ở Việt Nam, vạt ĐTN được sử dụng từ năm 1998 tại Bệnh viện
TƯQĐ 108, đã có nghiên cứu về giải phẫu động mạch mũ đùi ngoài và một
số nghiên cứu sử dụng vạt ĐTN trong tạo hình vùng cổ, mặt. Tuy nhiên,
trong Chấn thương Chỉnh hình, việc sử dụng vạt ĐTN chưa rộng rãi, số
lượng các báo cáo còn ít, số lượng vạt sử dụng chưa nhiều.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nhằm tìm hiểu thêm về giải phẫu ứng
dụng, độ tin cậy và khả năng sử dụng của vạt, chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị
khuyết hổng vùng cẳng - bàn chân” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm giải phẫu mạch máu và phân bố các mạch xuyên da
của vạt đùi trước ngoài ở người Việt trưởng thành.
2. Đánh giá kết quả ứng dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị
khuyết hổng vùng cẳng - bàn chân.
Xem thêm

178 Đọc thêm

BỆNH LÝ CẤP CỨU BỤNGKHÔNG DO CHẤN THƯƠNGỞ TRẺ EM

BỆNH LÝ CẤP CỨU BỤNGKHÔNG DO CHẤN THƯƠNGỞ TRẺ EM

CHỈ ĐỊNH ASP- Tiền căn PT vùng bụng (TR?)- Nuốt dò vật-VFM (thủng tạng rỗng..)CHUẽP CAN QUANGChaồn ủoaựnẹieu trũSIÊU ÂM• Sonde: 5 -15 MhzKhoang bụng chậu• Doppler couleur -énergie :- phân tích tưới máu thành ruột- đôi khi khó: quấy khóc, nhu động ruột..KỸ THUẬT- Không cần nhòn bú- Không cần an thần- Cho bú nước đường hoặc sữa trong khi siêu âm- Có bố mẹ bên cạnh

94 Đọc thêm

Đề cương nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị tràn máu, tràn khí màng phổi trong chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TRÀN MÁU, TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TRONG CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG

Chấn thương ngực bao gồm chấn thương ngực kín và vết thương ngực hở. Chấn thương ngực (CTN) là cấp cứu ngoại khoa thường gặp. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội về giao thông, xây dựng,... tại các bệnh viện, bệnh nhân CTN cũng gia tăng cả về số lượng và mức độ trầm trọng của thương tổn. Thương tổn lồng ngực là một trong những thương tổn phức tạp, đe dọa tính mạng người bệnh, nguy cơ tử vong cao và để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí đúng và kịp thời.Việc chẩn đoán và điều trị đòi hỏi phải tiến hành khẩn trương trong điều kiện cấp cứu. Thái độ xử trí cấp cứu ban đầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cứu sống người bệnh. Một điều may mắn là mặc dù gặp với tỷ lệ cao nhưng phần lớn CVTLN không phải phẫu thuật mà chủ yếu được giải quyết bằng thủ thuật và điều trị nội(12 blunt), không đòi hỏi các trang thiết bị đặc dụng. Điều này có thể giải quyết được tại các bệnh viện tuyến dưới nơi còn khó khăn về trang thiết bị nếu nhân viên y tế được đào tạo hiểu biết về sinh lý bệnh, phương pháp chẩn đoán và điều trị. Ở các tuyến chuyên sâu hiện nay nhờ những tiến bộ trong cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, kỹ thuật mổ, gây mê hồi sức... đã cứu sống nhiều trường hợp có tổn thương phức tạp: tổn thương trong tim, tổn thương ĐMC ngực, khí phế quản...
Xem thêm

47 Đọc thêm

Nghiên cứu kết quả tái tạo dây chằng chéo trước bằng phẫu thuật nội soi sử dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon gấp bốn

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI SỬ DỤNG GÂN CƠ BÁN GÂN VÀ GÂN CƠ THON GẤP BỐN

Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của cácphương tiện giao thông cũng như hoạt động của nhiều môn thể thao mang tínhđối kháng cao , làm cho số lượng các loại chấn thương ngày càng gia tăng,trong đó chấn thương khớp gối là rất thường gặp, đặc biệt thương tổn dây chằng chéo trước và các thành phần trong khớp gối ,dưới tác động của một lực trong tư thếgấp gối hoặc xoay quá mức của xương chày.Dây chằng chéo trước có vai trò quan trọng trong việc giữ cho xương chày không bị trượt ra trước so với xương đùi khi vận động. Do đó, khi dây chằng bị thương tổn, khớp gối bị mất vững khiến người bệnh đi lại khó khăn. Tình trạng lỏng khớp kéo dài có thể gây nên các tổn thương thứ phát như rách sụn chêm, giãn các dây chằng, bao khớp và thoái hóa khớp 20, 93.Để phục hồi độ vững chắc của khớp gối và tránh các biến chứng trên thì chỉ định phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước là cần thiết . Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20,một số tác giả như Mayo Robson (1908) là một trong những người đầu tiên tiến hành điều trị đứt dây chằng chéo trước bằng khâu nối trực tiếp. Ivor Palmer (1930) đã viết tác phẩm đầu tiên về điều trị thương tổn dây chằng chéo trước bằng khâu nối lại dây chằng nhưng tỷ lệ thất bại lại quá cao. Kỹ thuật tái tạo dây chằng chéo trước cũng có nhiều phương pháp khác nhau được Kennet Jones, Ellison và Mac Intosh mô tả như tái tạo ngoài bao khớp hoặc trong bao khớp đã thay thế hoàn toàn cho phương pháp của Palmer và cho đến ngày nay các phương pháp này vẫn đang được sử dụng một cách hiệu quả.
Xem thêm

119 Đọc thêm

Đánh giá chẩn đoán và điều trị tổn thương động mạch ngoại vi trong chấn thương xương khớp tại bệnh viện Việt Đức 2007-201

ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH NGOẠI VI TRONG CHẤN THƯƠNG XƯƠNG KHỚP TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC 2007-201

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khái niệm tổn thương động mạch ngoại vi trong chấn thương xương
khớp dùng để chỉ các tổn thương động mạch (TTĐM) ở chi do nguyên nhân
chấn thương xương khớp gây ra không tính đến các vết thương mạch máu do
hỏa khí và bạch khí.

Theo xu hướng phát triển của xã hội, các phương tiện giao thông ngày
càng nhiều, tốc độ phát triển lớn, nhất là trong giai đoạn hiện nay đất nước
đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì tai nạn xảy ra trong giao thông, lao
động và sinh hoạt ngày một tăng và trầm trọng hơn. Tổn thương động mạch
trong chấn thương xương khớp cũng không nằm ngoài đặc điểm này, từ đây
đặt ra nhiều vấn đề trong trong chẩn đoán và điều trị.

Việc chẩn đoán và thái độ xử trí vết thương động mạch khá rõ ràng, kết
quả thường tốt, trong khi TTĐM trong chấn thương xương khớp còn nhiều
tồn tại cần giải quyết vì:
+ Hình thái tổn thương đa dạng: động mạch (ĐM) co thắt, tổn thương
lớp nội mạc, đụng giập (tổn thương lớp áo ngoài) hoặc đứt rời mạch máu…Từ
đó tiến triển gây huyết khối, thiếu máu ngoại vi khác nhau làm khó khăn cho
việc chẩn đoán sớm để có thể xử trí kịp thời mà trong TTĐM thời gian là yếu
tố quyết định sự thành bại của điều trị.
+ Bệnh nhân thường có các tổn thương toàn thân (sọ, ngực, bụng…) và
tại chỗ (xương, phần mềm…) phức tạp. Các tổn thương này gây mất máu,
sốc, thay đổi tri giác, co mạch ngoại vi, thay đổi màu sắc da, phù nề, nhiễm
trùng … làm sai lạc các triệu chứng của TTĐM, dễ bỏ sót chẩn đoán.
Chẩn đoán muộn, tổn thương phức tạp, xử trí không hợp lý dẫn đến mất
chức năng chi và tỷ lệ cắt cụt rất cao, từ 10 - 45% tùy từng tác giả, thậm chí tử vong [14], [17], [27], [32], [39]. Đây thực sự là một thách thức đối với các
phẫu thuật viên mạch máu và chấn thương chỉnh hình.
Tại các nước tiên tiến, việc chẩn đoán và điều trị TTĐM trong chấn
thương xương khớp có rất nhiều tiến bộ nhờ phương tiện vận chuyển tốt, các
thăm dò cận lâm sàng như siêu âm Doppler, chụp động mạch trước, trong và
sau mổ, nội soi mạch máu… có thể áp dụng ngay khi nghi ngờ tổn thương
động mạch cũng như có đủ các trang thiết bị hiện đại khác trong điều trị.
Ở Việt nam hiện nay, giao thông và phương tiện vận chuyển đã được
cải thiện, thời gian tới viện được rút ngắn thì vấn đề quan trọng là chẩn đoán
và xử trí sớm, đúng, nhằm tránh các hậu quả đáng tiếc: Mất chức năng và cắt
cụt chi, thậm chí tử vong.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
chẩn đoán và điều trị tổn thương động mạch ngoại vi trong chấn thương
xương khớp” nhằm mục đích:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tổn thương động mạch ngoại vi
trong chấn thương xương khớp.
2. Đánh giá kết quả sớm điều trị tổn thương động mạch ngoại vi trong chấn
thương xương khớp tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2007 - 2010.
Xem thêm

121 Đọc thêm

BỆNH LÍ ĐỘNG MẠCH VÙNG DƯỚI KHOEO

BỆNH LÍ ĐỘNG MẠCH VÙNG DƯỚI KHOEO

bài dịch các nghiên cứu về bệnh tắc nghẽn động mạch của các nhà khoa học nước ngoài về kĩ thuật PTA và đặt stent. đặt stent có thể cải thiện tình hình tắc nghẽn động mạch vùng dưới khoeo nhưng phương pháp này không triệt để vì sau khoảng trên 5 năm có thể bị tái hẹp trở lại.

5 Đọc thêm

Đánh giá kết quả nội soi khớp gối trong chẩn đoán và điều trị rách sụn chêm do chấn thương tại bệnh viện TWQĐ 108

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NỘI SOI KHỚP GỐI TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ RÁCH SỤN CHÊM DO CHẤN THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN TWQĐ 108

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, cùng với sự gia tăng các phương tiện giao thông và nhịp độ xây dựng ngày càng nhiều, phong trào tập luyện thể dục thể thao ngày càng phát triển, làm cho số lượng chấn thương khớp gối nói chung và thương tổn sụn chêm nói riêng rất hay thường gặp. Chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời có ý nghĩa rất lớn trong việc phục hồi vận động của khớp gối, cũng như tránh được những hậu quả không đáng có phát sinh từ thương tổn này như hạn chế vận động của khớp gối, teo cơ, thoái hoá khớp … Thương tổn sụn chêm do chấn thương thường gặp nhiều hơn so với các loại tổn thương sụn chêm do các nguyên nhân khác, chiếm 6875% 72. Việc xác định thương tổn sụn chêm trước đây bằng các nghiệm pháp thăm khám lâm sàng và chụp XQ thường khớp gối thì chưa khẳng định chính xác tổn thương, ngày nay với kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân có thể cho hình ảnh tổn thương chính xác nhưng đôi khi vẫn chưa cho được hình ảnh cụ thể. Nội soi khớp khắc phục hoàn toàn nhược điểm này, bằng kỹ thuật nội soi khớp người ta có thể quan sát, chẩn đoán vị trí, mức độ, hình thái tổn thương của sụn chêm và các thành phần trong khớp gối. Điều trị thương tổn sụn chêm khớp gối do chấn thương như “nắn lại” sụn bị rách hoặc bất động khớp gối sau chấn thương đã có những kết quả nhất định. Kết quả điều trị của phương pháp này phụ thuộc vào tính chất, hình thái và vị trí của đường rách, tuy nhiên nó có nhược điểm là thời gian bất động kéo dài sau chấn thương. Phương pháp điều trị phẫu thuật mở khớp gối để cắt sụn chêm bán phần hay toàn phần đã được áp dụng trong một thời gian dài với ưu điểm xử trí triệt để thương tổn nhưng cũng phải bất động sau mổ, thời gian điều trị kéo dài, nhiễm trùng khớp. Ngoài ra trong phẫu thuật mở khớp không thể quan sát sừng sau của sụn chêm nên dễ bỏ sót tổn thương. 2Phẫu thuật nội soi khớp gối lần đầu tiên được tiến hành trên thế giới vào ngày 9 tháng 3 năm 1955 do Watanabe.M thực hiện69. Từ đó phẫu thuật nội soi đã phát triển nhanh chóng, từng bước hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi như hiện nay nhờ vào những ưu điểm: không những chẩn đoán chính xác các thương tổn bên trong khớp gối, mà còn xử trí các thương tổn đó. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị của việc ứng dụng nội soi trong chẩn đoán và điều trị những thương tổn khớp gối. Các tác giả đều đi đến kết luận: những phẫu thuật thực hiện dưới nội soi chính xác hơn so với những phẫu thuật cùng loại theo phương pháp kinh điển. Bệnh nhân giảm được thời gian nằm viện và phục hồi chức năng sau mổ, nhanh chóng trở lại sinh hoạt và lao động bình thường17,42,48,53,57,73 Tại Việt Nam trước năm 1994, phẫu thuật rách sụn chêm khớp gối là phẫu thuật mở khớp, kết quả mang lại chưa cao và có nhiều biến chứng. Từ năm 1994 kỹ thuật nội soi khớp được ứng dụng nhưng do phương tiện còn thiếu nên cũng chỉ nhằm chẩn đoán. Những năm gần đây kỹ thuật này mới thật sự phát triển và đạt được những kết quả đáng khích lệ trong chẩn đoán và điều trị thương tổn khớp gối. Tuy nhiên việc nghiên cứu hình thái tổn thương sụn chêm là cần thiết nhằm đưa ra kỹ thuật điều trị hợp lý. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả nội soi khớp gối trong chẩn đoán và điều trị rách sụn chêm do chấn thương tại bệnh viện TWQĐ 108‟‟ Với hai mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu hình thái tổn thương sụn chêm do chấn thương. 2. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật cắt sụn chêm bằng nội soi khớp gối.
Xem thêm

100 Đọc thêm