HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ TUNISIE

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ TUNISIE":

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ KHI VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ KHI VIỆT NAM THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement FTA) đang trở thành xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Không nằm ngoài xu thế đó, những năm qua, Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều FTA, mở ra các cơ hội phát triển kinh tế xã hội. Cùng với dó, tiến trình hội nhập và sự tham gia ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào các tổ chức, diễn dàn quốc tế, đòi hỏi từng doanh nghiệp (DN) cần có chiến lược phù hợp để thích nghi với mỏi trường kinh doanh mới, đáp ứng những dòi hỏi của thị trường cạnh tranh quốc tế. Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) hiện là loại hình DN chiếm đa số và là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế. Sự thay đổi và vận động không ngừng của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập đã tạo nhiều cơ hội cho DNVVN mở rộng sản xuất và phát triển kinh doanh, đồng thời mang đến không ít khó khăn, thử thách. Nội dung bài viết tập trung nghiên cứu các cơ hội của DNVVN khi Việt Nam tham gia FTA,
nCao dẳng Công thương Tp. Hồ Chỉ Minh
nhận diện thách thức cốt lõi nhất mà DNVVN sẽ gặp phải, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm giúp DNVVN phát triển bền vũng, góp phần vào sự tăng trưởng chung cúa nền kinh tế.

1. Tổng quan về tham gia FTA của Việt

Nam

FTA là thỏa thuận ưu đãi giữa các bên tham gia ký kết về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, thuế quan. Thực hiện cam kết FTA, các nước phải tiến hành việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan theo lộ trình nhằm tiến tôi việc thành lập khu vực mậu dịch tự do. Việc hình thành các FTA đang là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập, phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài. Nhận thức rõ điều này, những năm qua, Việt Nam rất tích cực tham gia dàm phán, ký kết các FTA song phương và đa phương. Đến nay, Việt Nam đã chinh thức tham gia, ký kết và thực hiện 8 FTA. Các hiệp định giữa Việt Nam với các đối tác cho thấy, Việt Nam luôn chú động, tích cực tham gia đàm phán. Cụ thể là:

FTA Việt Nam EU được khởi động từ tháng 62012 tại Brussels (Bỉ), trải qua 10 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ, ngày 13102014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch ủy ban châu Âu (EC) Manuel Barroso đã có buổi thảo luận về kết thức đàm phán FTA này. Hiện hai bên đang tập trung xử lý một số vấn đề then chốt để hướng tới việc thực hiện các cam kết đạt yêu cầu chất lượng cao và cân bằng trong tất cả các lĩnh vực đàm phán mở cửa thị trường (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm công) cũng như các quy định và quy tắc quản lý (đặc biệt là sở hữu trí tuệ, bao gồm chỉ dẫn địa lý của hai bên; DN nhà nước và bảo hộ đầu tư...).

FTA Việt Nam Hàn Quốc được khởi động từ tháng 82012, sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, hai bên đã đi đến thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích. Nhân dịp Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ dối thoại ASEAN Hàn Quốc, ngày 10122014 tại Busan (Hàn Quốc), hai nước đã ký Biên bản thỏa thuận về kết thúc đàm phán FTA Việt Nam Hàn Quốc. Trong Hiệp định này, phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu dãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông nghiệp, thủy hải sản chủ lực, công nghiệp dệt, may, sản phẩm cơ khí và tạo cơ hội cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, hỗ trợ
kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực; phía Việt Nam dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công nghiệp, nguyên phụ liệu dệt, may, nhựa, linh kiện điện tử, xe tái và xe con, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sắt thép, dây cáp diện, góp phần da dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài nước.

FTA Việt Nam Liên minh Hải quan Nga Belarus Kazakhstan được khởi động vào tháng 32013. Sau 8 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên họp giữa kỳ ở cấp kỹ thuật, hai bên cũng đã thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cản bằng lợi ích, có tính đến diều kiện cụ thê cùa mỗi bên. Ngày 15122014, hai bên đã ký Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định. Theo đó, phía Liên minh Hải quan dã dành cho Việt Nam ưu đãi về các mặt hàng nông sản (bao gồm tất cả các mặt hàng thủy sản) và hàng công nghiệp, như dệt, may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến. Đồng thời, Việt Nam mở cửa thị trường theo lộ trinh cho Liên minh Hải quan đối với một sô sản phẩm chân nuôi, hàng công nghiệp, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, góp phần làm đa dạng hóa thêm thị trường tiêu dùng trong nước.

Cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Đồng thời, từ 01012015, Việt Nam
Bảng 1: Các hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương Việt Nam đã tham gia
TT Các hiệp định
1 Khu vực thương mại tự do ASEAN (ATFA)
2 Hiệp định khung hợp tác kinh tế ASEAN Trung Quốc (2002)
3 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN Trung Quốc (2004)
4 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN Hàn Quốc (2006)
5 Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN Nhật Bản (2008)
6 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam Nhật Bản (2008)
7 Hiệp định thành lập khu thương mại tự do ASEAN Australia New Zealand (2009)
8 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN Ấn Độ (2009)
9 FTA song phương Việt Nam Chi Lê (2011)

Nguồn: Bộ Công thương (năm 2013)
hoàn toàn mở cửa thị trường bán lẻ theo cam kết WTO; cắt giảm 1.720 dòng thuế từ mức thuế suất 5% về 0%, theo FTA ASEAN. Năm 2015 chỉ còn 7% dòng thuế, tương đương với khoảng trên 600 mặt hàng được xem là nhạy cảm chưa cắt giảm về 0%.

2. Cơ hội của DNVVN khi Việt Nam tham gia FTA

DNVVN có vị trí hết sức đặc biệt trong nền kinh tế các nước, kể cả đối với các quốc gia có trình độ phát triển cao. Trong giai đoạn hội nhập nhu hiện nay, vai trò của DNVVN lại càng quan trọng, thể hiện ở một sô nét cơ bản như sau:

DNVVN cung cấp lượng hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế. Bởi lẽ, DNVVN chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

DNVVN tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động. Thực tế những năm qua cho thấy, các DNVVN là nguồn tạo việc làm
của DNVVN trong giai đoạn hiện nay chính là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.

DNVVN góp phần vào sự năng động của nền kinh tê. DNVVN thưòng xuyên thay đổi để thích nghi với mỏi trưòng kinh doanh. Với quy mô nhỏ, cần ít vốn, DNVVN phát triển rộng khắp các địa bàn và các ngành, góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu kinh tế ở vùng nông thôn.

Việc tích cực tham gia đàm phán và ký kết các FTA đã mở ra nhiều cơ hội cho các DN Việt Nam nói chung và DNVVN nói riêng, đó là:

Thứ nhất, thị trưỏng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam được mở rộng. Đến năm 2020, vổi việc hoàn tất ký kết và triển khai 15 FTA, Việt Nam sẽ trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới kết nối rộng lớn với 56 nền kinh tế, trong đỏ có 18 thành viên APEC và
Bảng 2: Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường chủ yếu (%)
Quốc gia, Khu vực 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
ASEAN 17,7 16,7 16,7 16,5 15,3 14,3 14,1 15,2 13,9 12,7
Trung Quốc 9,9 8,1 7,5 7,7 9,5 10,7 12,0 11,2 10,0 9,9
Hàn Quốc 2.0 2,1 2,6 2,9 3,6 4,3 5.0 4,9 5.0 5,2
Nhật Bản 13,4 13,2 12,5 13,5 11,1 10,7 11.4 1T4 10,3 9,8
Hoa Kỳ 18,3 19,7 20,8 19,0 20,0 19,7 17,5 17,2 18,1 19,0
EU 17,0 17,8 18,7 17,4 16,5 15,8 17,1 177 184 18,6

Nguồn: Niên giám thống kê và Tình hình kinh tế xã hội năm 2014
cho lao động ở tất cả các ngành, nhất là đối với lao động chưa qua đào tạo.

DNVVN thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế, đồng thỏi khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ. Sự ra đời và phát triển
1,1 Hạnh Phạm, Doanh nghiệp Việt Nam trước vận hội và thách thức mới, http:tapchitaichinh.vn nghiencuutraodoitraodoi—binhluandoanhnghieptruocvanhoivathachthucmoi59202. html, ngày 16032015
hầu hết các trung tâm kinh tế thế giới, qua đó nâng cao hình ảnh quốc gia, vị thế quốc tế của Việt Nam. Chỉ riêng giai đoạn 2011 2013, Việt Nam đã thu hút được 3.568 dự án FDI cấp mới, với số vốn đăng ký là 49.997 triệu USD, vốn thực hiện là 32.960 triệu USD và tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động<1>... Hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào 3 chuỗi giá trị có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu: chuỗi giá trị lương thực và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng lượng
Xem thêm

6 Đọc thêm

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT-MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

Qúa trình quốc tế hoá đã tạo nên những quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, tạo ra những thay đổi lớn lao trên thế giới. Trong bức toàn cảnh đó, hoạt động thương mại quốc tế đã và đang nổi lên như một vấn đề trọng tâm. Mặc dù thương mại quốc tế ra đời từ cách đây rất lâu song chưa bao giờ lịch sử lại chứng kiến tác động to lớn của nó trên phạm vi toàn cầu như hiện nay. Nó có thể biến một nước nghèo nàn, lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển, đồng thời có thể làm cho một quốc gia độc lập trở nên bị phụ thuộc... Ngày nay, khi không một quốc gia nào có thể phát triển tách biệt khỏi quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới, thương mại quốc tế lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Thương mại quốc tế với xu thế tự do hoá trên toàn cầu chính là cái nôi sản sinh ra các Hiệp định Thương mại đa phương ,khu vực và song phương. Đặc biệt, Hiệp định Thương mại song phương đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia.
Trong các Hiệp định Thương mại Việt Nam ký kết với hơn 60 nước trên thế giới, Hiệp định song phương Việt-Mỹ gồm 150 trang, được xem là có quy mô lớn nhất. Đây cũng là một Hiệp định toàn diện nhất từ trước đến nay giữa Mỹ và các nước đang phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp Mỹ rất lạc quan về bản Hiệp định này với niềm tin tưởng rằng Hiệp định sẽ mang lại cho họ những cơ hội chưa từng có trong việc tiếp cận với thị trường Việt Nam.Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ đã mở ra một chương mới trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. Đây là cơ sở pháp lý ban đầu để hai bên buôn bán, quan hệ trực tiếp với nhau. Song đây cũng là một cuộc chơi mà cơ hội và thách thức đan xen phức tạp. Các doanh nghiệp non trẻ Việt Nam liệu có thể thích ứng ngay được với thị trường Mỹ hay không? Hơn nữa, thương trường là chiến trường, khi cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau đang ngày càng trở nên gay gắt nhằm chiếm lĩnh thị trường Mỹ thì các doanh nghiệp Việt Nam lại càng phải đối đầu với nhiều thách thức hơn.
Xem thêm

28 Đọc thêm

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT-MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

Qúa trình quốc tế hoá đã tạo nên những quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, tạo ra những thay đổi lớn lao trên thế giới. Trong bức toàn cảnh đó, hoạt động thương mại quốc tế đã và đang nổi lên như một vấn đề trọng tâm. Mặc dù thương mại quốc tế ra đời từ cách đây rất lâu song chưa bao giờ lịch sử lại chứng kiến tác động to lớn của nó trên phạm vi toàn cầu như hiện nay. Nó có thể biến một nước nghèo nàn, lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển, đồng thời có thể làm cho một quốc gia độc lập trở nên bị phụ thuộc... Ngày nay, khi không một quốc gia nào có thể phát triển tách biệt khỏi quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới, thương mại quốc tế lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Thương mại quốc tế với xu thế tự do hoá trên toàn cầu chính là cái nôi sản sinh ra các Hiệp định Thương mại đa phương ,khu vực và song phương. Đặc biệt, Hiệp định Thương mại song phương đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia.
Trong các Hiệp định Thương mại Việt Nam ký kết với hơn 60 nước trên thế giới, Hiệp định song phương Việt-Mỹ gồm 150 trang, được xem là có quy mô lớn nhất. Đây cũng là một Hiệp định toàn diện nhất từ trước đến nay giữa Mỹ và các nước đang phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp Mỹ rất lạc quan về bản Hiệp định này với niềm tin tưởng rằng Hiệp định sẽ mang lại cho họ những cơ hội chưa từng có trong việc tiếp cận với thị trường Việt Nam.Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ đã mở ra một chương mới trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. Đây là cơ sở pháp lý ban đầu để hai bên buôn bán, quan hệ trực tiếp với nhau. Song đây cũng là một cuộc chơi mà cơ hội và thách thức đan xen phức tạp. Các doanh nghiệp non trẻ Việt Nam liệu có thể thích ứng ngay được với thị trường Mỹ hay không?
Xem thêm

31 Đọc thêm

Cơ hội và thách thức của cách doanh nghiệp việt nam trước hiệp định thương mại việt mỹ

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁCH DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ

Cơ hội và thách thức của cách doanh nghiệp việt nam trước hiệp định thương mại việt mỹ Cơ hội và thách thức của cách doanh nghiệp việt nam trước hiệp định thương mại việt mỹ Cơ hội và thách thức của cách doanh nghiệp việt nam trước hiệp định thương mại việt mỹ Cơ hội và thách thức của cách doanh nghiệp việt nam trước hiệp định thương mại việt mỹ Cơ hội và thách thức của cách doanh nghiệp việt nam trước hiệp định thương mại việt mỹ

17 Đọc thêm

Dự báo kết quả đàm phán hiệp định thương mại xuyên thái bình dương (tpp) trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Cơ hội và thách thức với việt nam

DỰ BÁO KẾT QUẢ ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆT NAM

DỰ BÁO KẾT QUẢ ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ.
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VÀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) 4
1.1 Thương mại dịch vụ 4
1.1.1 Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ 4
1.1.2 Thương mại dịch vụ 5
1.1.3 Cách tiếp cận với tự do hóa thương mại dịch vụ trong các hiệp định thương mại tự do 8
1.2 Khái quát về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 10
1.2.1 Lịch sử hình thành và diễn biến đàm phán Hiệp định TPP 10
1.2.2 Những nội dung cơ bản của Hiệp định TPP 16
1.3 Tự do hóa thương mại dịch vụ trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 21
1.3.1 Cách tiếp cận với tự do hóa thương mại dịch vụ trong Hiệp định TPP 21
1.3.2 Mục tiêu của các nước tham gia Hiệp định TPP trong lĩnh vực thương mại dịch vụ 23
CHƯƠNG 2: CAM KẾT VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VÀ DỰ BÁO CHO HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) 25
2.1 Thực trạng cam kết về thương mại dịch vụ trong một số hiệp định thương mại tự do của các nước tham gia đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 25
2.1.1 Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Australia – New Zealand (AANZFTA) 25
2.1.2 Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc – Hoa Kỳ (KORUS) 36
2.2 Dự báo kết quả đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong lĩnh vực thương mại dịch vụ 46
2.2.1 Các nghĩa vụ cơ bản của Hiệp định TPP 47
2.2.2 Các cam kết cụ thể về các ngành dịch vụ 50
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ KHUYẾN NGHỊ VỚI VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) 54
3.1 Những cơ hội với Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ khi kí kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 54
3.1.1 Cơ hội khai thác từ thị trường các nước đối tác TPP 54
3.1.2 Cơ hội khai thác tại thị trường trong nước 55
3.2 Những thách thức với Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ khi kí kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 57
3.2.1 Thách thức tại thị trường các nước đối tác TPP 57
3.2.2 Thách thức tại thị trường nội địa 57
3.3 Một số khuyến nghị để tham gia hiệu quả Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong lĩnh vực thương mại dịch vụ 59
3.3.1 Một số khuyến nghị trong thời gian đàm phán Hiệp định TPP 59
3.3.2 Một số khuyến nghị sau khi kí kết để triển khai hiệu quả Hiệp định TPP 63
KẾT LUẬN 73
Chính vì vậy việc nghiên cứu dự báo kết quả đàm phán Hiệp định TPP trong lĩnh vực thương mại dịch vụ và đánh giá những tác động của Hiệp định đối với thương mại dịch vụ của Việt Nam là cần thiết. Do đó, em đã lựa chọn đề tài khóa luận “ Dự báo kết quả đàm phán Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Cơ hội và thách thức với Việt Nam
Dự báo kết quả đàm phán hiệp định thương mại xuyên thái bình dương (tpp) trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Cơ hội và thách thức với việt nam
Xem thêm

81 Đọc thêm

Hiệp định thương mại việt nam hoa kì

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HOA KÌ

Hiệp định thương mại việt nam hoa kì

44 Đọc thêm

Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM NHẰM ĐÁP ỨNG CÁC CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HOA KỲ

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đã trở thành tất yếu khách quan của quá trình phát triển thế giới. Ngày nay xu hướng tự do hoá thương mại đã và đang được tiếp tục mở rộng ở mọi tầng nấc : song phương, đa phương và khu vực. Dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay đòi hỏi các nước phải nỗ lực tập trung vào cải cách kinh tế, đổi mới chính sách và luật pháp cho phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới, nắm bắt những cơ hội của quá trình hội nhập mang lại đồng thời đáp ứng được những khó khăn, thách thức tạo ra trong quá trình hội nhập.
Ngày 13 tháng 7 năm 2000, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã được kí kết, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình bình thường hoá quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước. Đây là hiệp định toàn diện nhất mà Việt Nam từng kí kết và chứa đựng các lộ trình và kế hoạch chi tiết cần cải cách. Hiệp định có tác động đến tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, trong đó có lĩnh vực bảo hiểm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Hiệp định thương mại Việt Nam –EU (EVFTA) Những cơ hội và thách thức

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –EU (EVFTA) NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

Hiệp định thương mại Việt Nam –EU (EVFTA) Những cơ hội và thách thức

29 Đọc thêm

Đề án kinh tế thương mại: Thực trạng và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang thị trường Mỹ

ĐỀ ÁN KINH TẾ THƯƠNG MẠI: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ NỘI THẤT SANG THỊ TRƯỜNG MỸ

Việc chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam ngày 321994 và tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam vào ngày 1171995 đã đánh dấu một mốc cực kỳ quan trọng trong quan hệ ngoại giao nói chung và quan hệ thương mại nói riêng giữa chính phủ hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ.
Sau khi bình thường hoá quan hệ, hai nước đã ký kết một số hiệp định, thoả thuận về kinh tế và thương mại như: Hiệp định quyền tác giả, Hiệp định về hoạt động của cơ quan đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC), Hiệp định bảo lãnh khung và Hiệp định khuyến khích dự án đầu tư giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Eximbank), Hiệp định thương mại song phương, Hiệp định hợp tác về khoa học và công nghệ, Hiệp định dệt may, Hiệp định hàng không.
Trong số đó, quan trọng nhất là Hiệp định thương mại song phương (BTA). Đây là một hiệp định có tính quy mô toàn diện nhất mà ta từng ký với các nước từ trước tới nay, nó bao gồm những cam kết không chỉ thuộc lĩnh vực thương mại hàng hoá mà cả thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp định đó gúp phần vào việc bình thường hoá quan hệ hoàn toàn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, mở ra cho các doanh nghiệp của cả hai nước những cơ hội mới về thương mại và đầu tư.
Xem thêm

34 Đọc thêm

Tiểu luận Ngân hàng quốc tế : CÁC NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN NGÂN HÀNG QUỐC TẾ : CÁC NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

CÁC NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (hay còn gọi là BTA) có hiệu lực từ ngày 11122001. Nội dung chính của BTA bao gồm các quy định và nguyên tắc giám sát hoạt động thương mại giữa hai quốc gia. Chương 3 của Hiệp định phác thảo những nguyên tắc và quy định áp dụng cho lĩnh vực thương mại dịch vụ.

27 Đọc thêm

Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

HIỆP ĐỊNH VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI (TBT)

Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
 Hiệp định TBT là tên gọi tắt của Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, quy định các quy tắc về xây dựng, chấp nhận và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp.
 Hiệp định quy định nghĩa vụ của các thành viên WTO nhằm đảm bảo các quy chuẩn kỹ thuật trên và không tạo ra những cản trở không cần thiết đối với thương mại.

Hiệp định TBT ra đời là kết quả của vòng đàm phán Tokyo và có hiệu lực từ ngày 01011980
Đến năm 1994, Hiệp định thành lập WTO đã hợp nhất Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại mới, chặt chẽ hơn và mang tính đa biên (gọi tắt là Hiệp định TBT) vào hệ thống hiệp định của WTO. Hiệp định TBT có hiệu lực từ ngày 01011995.

Phát triển kinh tế thông qua thúc đẩy và thuận lợi hoá thương mại.
Loại bỏ các rào cản kỹ thuật thông qua việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp theo tiêu chuẩn và quy định quốc tế.
Thúc đẩy việc hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc thực hiện các nghĩa vụ mà hiệp định đặt ra.
Hiệp định không ngăn cản các nước áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn cuộc sống của con người, động thực vật và bảo vệ môi trường, chống những hành vi gian lận thương mại, đảm bảo an ninh quốc gia.
 Các quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ thuật bắt buộc áp dụng đối với các bên tham gia.
 Các tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được chấp nhận bởi một tổ chức đã được công nhận nhưng không có giá trị áp dụng bắt buộc.
 Các thủ tục đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hóa đối với các quy địnhtiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure).
Bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng khỏi các sản phẩm kém chất lượng, không đảm bảo an toàn.
Bảo vệ đời sống của động thực vật.
Bảo vệ môi trường.
Ngăn chặn các thông tin không chính xác.
Các mục đích khác liên quan đến các quy định về chất lượng, hài hòa hóa...
Hiệp định TBT cũng đề cập đến các chi phí mà nhà xuất khẩu phải chịu để đưa sản phẩm của mình đạt được sự phù hợp với các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của hiệp định như: chi phí kiểm tra, chứng nhận hay chi phí về phòng thí nghiệm và chi phí cho các tổ chức cấp giấy chứng nhận, chi phí về thông tin cũng như chi phí nhà sản xuất phải chi trả, các chi phí bất thường do những khó khăn trong việc điều chỉnh chi phí khi phải tiếp cận với các quy định, tiêu chuẩn kỹ thật mới được ban hành,....

 Chương trình hỗ trợ kỹ thuật thuộc hiệp định TBT bao gồm 2 hoạt động chủ yếu là cung cấp dịch vụ tư vấn kinh tế, luật và đào tạo trong quá trình thực thi hiệp định.
 Hỗ trợ kỹ thuật được thực hiện trực tiếp giữa nước phát triển với nước đang và chậm phát triển, hoặc được thực hiện thông qua chương trình hợp tác kỹ thuật của Ban thư ký WTO.
 Các yêu cầu về hỗ trợ kỹ thuật của các nước chậm phát triển luôn được ưu tiên hơn so với các yêu cầu của các nước đang phát triển.
 Việt Nam được kết nạp vào WTO ngày 07112006 và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này từ ngày 11012007.
 Đối với Hiệp định TBT là một trong những hiệp định đa phương được Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ và toàn diện Hiệp định kể từ thời điểm gia nhập WTO.

1. Trưởng ban: là đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ;
2. Phó trưởng ban: là đại diện lãnh đạo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng;
3. Thành viên thư ký: Giám đốc Văn phòng TBT Việt Nam
4. Các thành viên khác: là đại diện lãnh đạo cấp Vụ hoặc tương đương của 13 Bộ 
Xem thêm

44 Đọc thêm

CAM NANG PHIEU CHUNG NHAN XUAT XU

CAM NANG PHIEU CHUNG NHAN XUAT XU

Việt Nam đang trên con đường hội nhập
quốc tế, nước ta đã tham gia đầy đủ định
chế kinh tế toàn cầu, chúng ta đã gia nhập
WTO, tham gia các Hiệp định thương mại
tự do ASEAN với các nước.
Khai thác chính sách ưu đãi thuế quan của
các nước dành cho Việt Nam là mục tiêu
hàng đầu của các doanh nghiệp xuất khẩu.
Để giúp các doanh nghiệp hiểu rõ về CO,
VCCI xin giới thiệu cuốn sách “ Cẩm nang
CO”. Cuốn sách này tập hợp những vướng
mắc thường gặp của doanh nghiệp về quy
tắc xuất xứ ưu đãi theo Chế độ ưu đãi thuế
quan phổ cập (GSP), các Hiệp định Thương
mại tự do được ký giữa Việt Nam và các
nước, quy trình, trình tự, thủ tục cấp CO,
hướng dẫn cách khai các mẫu CO...
Với những thông tin thiết thực được trình
bày rõ ràng, dễ hiểu, thuận tiện cho các
C
Xem thêm

222 Đọc thêm

Tiểu luận kinh tế vĩ mô Thực trạng cán cân thanh toán Việt Nam từ năm 2009 đến nay

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY

Tiểu luận kinh tế vĩ mô Thực trạng cán cân thanh toán Việt Nam từ năm 2009 đến nay

Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung, quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, kể từ khi Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986. Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996; ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư song và đa phương khác.
Xem thêm

28 Đọc thêm

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization, viết tắt WTO) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sỹ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại.

79 Đọc thêm

CÁC GIẢI PHÁP CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

CÁC GIẢI PHÁP CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TransPacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương. Hiệp định này được ký kết ngày 362005, có hiệu lực từ 2852006 giữa 4 nước Singapore , Chile, New Zealand, Brunei (vì vậy Hiệp định này còn gọi là P4).

13 Đọc thêm

TÀI LIỆU ĐỀ TÀI "NHỮNG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT KINH TẾ CHỊU TÁC ĐỘNG MẠNH MẼ NHẤT SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC WTO? GIẢI THÍCH. NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG CHUẨN BỊ GÌ ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI TÌNH HÌNH MỚI ĐÓ?" DOCX

TÀI LIỆU ĐỀ TÀI "NHỮNG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT KINH TẾ CHỊU TÁC ĐỘNG MẠNH MẼ NHẤT SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC WTO? GIẢI THÍCH. NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG CHUẨN BỊ GÌ ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI TÌNH HÌNH MỚI ĐÓ?" DOCX

Sự ra đời khái niệm “kinh doanh” theo Luật Doanh nghiệp 1999, sự tồn tại khái niệm “kinh tế” trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, cũng như khái niệm “thương mại” theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 đã tạo ra sự nhận thức khác biệt trong cách hiểu về “thương mại” so với Luật Thương mại 1997. Phạm vi điều chỉnh rộng hẹp của khái niệm thương mại trong hệ thống pháp luật nêu trên đã tạo ra sự mâu thuẫn, chồng chéo trong việc áp dụng các quy định pháp luật về luật nội dung (Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989) cũng như luật tố tụng (Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003). Đặc biệt, điều này còn ảnh hưởng đến quá trình Việt Nam thích ứng với các quy định và tập quán thương mại quốc tế. Có thể nói đây là một trong những trở ngại lớn của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là việc thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Việc xác định phạm vi điều chỉnh theo diện hẹp của Luật Thương mại 1997 trên thực tế đã phát sinh nhiều vấn đề, không chỉ trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại mà còn ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp thương mại, tiếp sau đó là việc công nhận và cho thi hành các bản án, phán quyết của trọng tài nước ngoài. Thực tế cho thấy nhiều bản án của toà án và phán quyết của trọng tài nước ngoài, đặc biệt là các vụ tranh chấp liên quan đến đầu tư, xây dựng… đã không được thực thi ở Việt Nam do nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại. Điển hình là vụ tranh chấp hợp đồng giữa hai công ty xây dựng đối với hợp đồng được ký kết năm 1995 về việc xây dựng khu nghỉ mát tại miền Trung Việt Nam. Tranh chấp được đưa ra Trọng tài tại Queensland, Australia và phán quyết trọng tài được đưa ra theo hướng có lợi cho Công ty Tyco và sau đó được chuyển sang Việt Nam để đề nghị công nhận và cho thi hành. Ngày 23/5/2002, Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh công nhận phán quyết trọng tài. Một trong các cơ sở chính được Công ty Leighton đưa ra để không công nhận và thi hành phán quyết trọng tài là quan hệ hợp đồng liên quan đến vụ tranh chấp là quan hệ xây dựng và quan hệ này không phải là quan hệ thương mại theo các quy định của Luật Thương mại 1997. Tháng 1/2003, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử lại vụ việc và bác quyết định của Tòa sơ thẩm bởi lẽ các giao dịch trong hợp đồng 1995 liên quan đến hoạt động xây dựng nhưng hoạt động xây dựng này lại không có bản chất thương mại theo pháp luật Việt Nam thời điểm đó cũng như theo Luật Thương mại 1997 và do vậy, phán quyết trọng tài không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Việt Nam với hiệp định TPP

VIỆT NAM VỚI HIỆP ĐỊNH TPP

Việt Nam với hiệp định TPP I. Giới thiệu chung
1. TPP là gì?
TPP, viết tắt của từ TransPacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương)
Là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
2. Thành viên
• 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản
+ Chiếm 37,7% GDP của cả thế giới,
+ 11,1% về dân số,
+ 24,9% diện tích thế giới,
+ 19,3% về xuất khẩu,
+ 21,1% về nhập khẩu trên toàn thế giới
Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác đang có ý định tham gia vào TPP.
TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New Zealand và Brunei vào năm 2009, trước khi Hòa Kỳ quyết định tham gia và dẫn đầu
3. Mục tiêu chính của TPP
+ Xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên.
+ Thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động.
+ Mỹ muốn TPP sẽ là điểm chốt mới của họ tại Châu Á sau nhiều năm Mỹ đã lún quá sâu vào khu vực Trung Đông.
+ Ngoài ra, nhiều học giả còn cho rằng Mỹ muốn sử dụng TPP để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá nhanh của Trung Quốc.
Trung Quốc đã có lúc thể hiện ý định muốn tham gia TPP, nhưng nhiều điều khoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hội tham gia vào.

4. Quá trình hình thành và phát triển
2002 New Zealand, Singapore và Chile bàn thảo Pacific Three Closer Economic Partnership (p3 CEP)
042005 Brunei tham gia và thỏa thuận được đổi tên thành Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TransPacific ......
Xem thêm

14 Đọc thêm

PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH HÀNG THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG HOA KỲ HIỆN NAY

PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH HÀNG THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG HOA KỲ HIỆN NAY

2.TÌNH HÌNH CẠNH TRANH HÀNG THUỶ SẢN CUA VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ Kể từ khi hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực thì thị trưòng Hoa Kỳ đã trở thành thị t[r]

11 Đọc thêm

GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I:GiỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO VÀ QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM………………………………...

4
1.1Giới thiệu chung về WTO……………………………………………………….4
1.1.1Mục tiêu, nhiệm vụ và chức năng…………………………………….. 4
1.1.2Cơ cấu tổ chức…………………………………………………………6
1.1.3Các nguyên tắc cơ bản………………………………………………...8
1.1.4Các hiệp định của WTO……………………………………………….
12
1.2Tóm tắt quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO…………………………..
1.2.1. Sự cần thiết của việc gia nhập WTO……………………………………...
1.2.2. Quá trình đàm phán và ký kết…………………………………………….
1.2.3. Các cam kết chủ yếu và lộ trình thực hiện………………………………..
13
13
15
17

CHƯƠNG II:ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM…………………………………………

22
2.1Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam……………………………………………………………………………...

23
2.2

2.3
2.4

2.5Tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam…………………………………………………………………...

Tác động của việc gia nhập WTO đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác ……..

Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong bối cảnh tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các liên kết kinh tế mới…………………………….

Một số giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức………………...


33

39


44

47
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI MỞ ĐẦU
Trở thành thành viên của WTO và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do mang lại cho Việt Nam cả những cơ hội và thách thức to lớn. Thực hiện các cam kết đối với WTO làm nảy sinh các vấn đề xã hội khi tiến hành cải cách và tự do hóa thương mại. Các ngành công nghiệp trong nước cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình điều chỉnh do sức ép cạnh tranh. Cũng giống như các quốc gia khác, việc thực hiện các nghĩa vụ khi gia nhập WTO của Việt Nam đang có những tác động sâu sắc đến kinh tế và xã hội nói chung.
Để đảm bảo quá trình gia nhập WTO của Việt Nam mang lại sự phát triển kinh tế cân bằng và bền vững, cần thiết phải có đánh giá tác động của việc gia nhập này cũng như đề ra các chính sách và khuyến nghị hành động nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực. Đây cũng là những nội dung cốt lõi mà bài luận của nhóm muốn hướng tới.











CHƯƠNG I:
GiỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO VÀ QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM
1.1.Giới thiệu chung về WTO
WTO có tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization). Tổ chức này được thành lập và hoạt động từ 01/01/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch.
Tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan - GATT 1947 (chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá) và là kết quả trực tiếp của Vòng đàm phán Uruguay (bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư).
Tính đến ngày 27/7/2015, tổ chức này có 162 thành viên. Thành viên của WTO là các quốc gia(ví dụ Hoa Kỳ, Việt Nam…) hoặc các vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương (ví dụ EU, Đài Loan, Hồng Kông…).
1.1.1.Mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ
Nhiệm vụ của WTO
- Thúc đẩy việc thực hiện các Hiệp định và cam kết đã đạt được trong khuôn khổ WTO (và cả những cam kết trong tương lai, nếu có).
-Tạo diễn đàn để các thành viên tiếp tục đàm phán, ký kết những Hiệp định, cam kết mới về tự do hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại.
-Giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên WTO.
-Rà soát định kỳ các chính sách thương mại của các thành viên.
Mục tiêu:
-Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường;
-Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới;
-Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.
Chức năng:
-Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.
-Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO.
-Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên.
-Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO (Phụ lục 3) đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên.
-Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu.
1.1.2.Cơ cấu tổ chức
Hội nghị bộ trưởng:
Hội nghị bộ trưởng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên của WTO. Hội nghị bộ trưởng họp hai năm một lần. Hội nghị bộ trưởng là cơ quan quyền lực cao nhất của WTO. Hội nghị bộ trưởng sẽ thực thi các chức năng của WTO và thực hiện hiện những hành động cần thiết để thực thi các chức năng này.
Ðại hội đồng:
Ðại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết. Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng thì chức năng của Hội nghị bộ trưởng sẽ do Ðại hội đồng đảm nhiệm. Như vậy, có thể hiểu Ðại hội đồng là cơ quan quyết định tối cao của WTO trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng.
Khi cần thiết, Ðại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan giải quyết tranh chấp hoặc Cơ quan rà soát chính sách thương mại
Như vậy, các hoạt động hàng ngày trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội nghị bộ trưởng thuộc trách nhiệm giải quyết của 3 cơ quan:
Ðại hội đồng;
Cơ quan giải quyết tranh chấp;
Cơ quan rà soát chính sách thương mại.
Các hội đồng; các uỷ ban; các nhóm công tác:
Các hội đồng:
Các hội đồng trực thuộc Ðại hội đồng, hoạt động theo sự chỉ đạo chung của Ðại hội đồng. Các hội đồng cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO. Ðại hội đồng có các hội đồng sau:
Hội đồng thương mại hàng hoá
Hội đồng thương mại dịch vụ
Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
Chức năng của các hội đồng là giám sát việc thực hiện các hiệp định liên quan đến lĩnh vực của mình. Các hội đồng sẽ nhóm họp khi cần thiết. Các hội đồng này thành lập ra các cơ quan cấp dưới theo yêu cầu.
Các uỷ ban:
Hội nghị bộ trưởng thành lập ra các uỷ ban. Các uỷ ban cũng bao gồm các đại diện của tất cả các thành viên của WTO. Các uỷ ban này đảm nhiệm các chức năng được quy định trong các hiệp định của WTO hoặc các chức năng do Ðại hội đồng giao cho.
Tuy cũng trực thuộc Ðại hội đồng nhưng thẩm quyền hoạt động của các uỷ ban hẹp hơn so với các hội đồng. Ðại hội đồng có các uỷ ban sau:
Uỷ ban về thương mại và môi trường;
Uỷ ban về thương mại và phát triển;
Uỷ ban về hiệp định thương mại khu vực;
Uỷ ban về các hạn chế nhằm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế;
Uỷ ban về ngân sách, tài chính và quản trị;
Các nhóm công tác:
Các nhóm công tác cũng trực thuộc Ðại hội đồng nhưng cấp độ nhỏ hơn và hẹp hơn so với các uỷ ban. Ðại hội đồng có nhóm công tác sau:
Nhóm công tác về gia nhập tổ chức;
Nhóm công tác về quan hệ giữa thương mại và đầu tư;
Nhóm công tác về tác động qua lại giữa thương mại và chính sách cạnh tranh;
Nhóm công tác về minh bạch trong chi tiêu chính phủ;
Nhóm công tác về thương mại, nợ và tài chính;
Nhóm công tác về thương mại và chuyển giao công nghệ.
Ban thư ký của WTO:
Ban thư ký của WTO đặt tại Geneva. Ban thư ký có khoảng 550 nhân viên. Nhân viên của Ban thư ký do Ban thư ký tuyển dụng qua thi tuyển. Ðiều kiện trước tiên là phải thông thạo 3 ngoại ngữ là ngôn ngữ chính thức của WTO là Anh, Pháp, Tây Ban Nha.
Ðứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc. Tổng giám đốc của WTO do Hội nghị bộ trưởng bổ nhiệm, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, điều kiện phục vụ và thời hạn phục vụ của Tổng giám đốc. Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 4 năm.Tổng giám đốc sẽ bổ nhiệm các thành viên của Ban thư ký. Dưới Tổng giám đốc là các Phó tổng giám đốc. Các vụ chức năng của Ban thư ký trực thuộc Tổng giám đốc hoặc một Phó tổng giám đốc.
1.1.3.Các nguyên tắc cơ bản
Nguyên tắc 1: Thương mại không phân biệt đối xử:
Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia.
Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN):
Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất". Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất". Và như vậy, kết quả là không phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào.
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT):
"Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa.
Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước.
Nguyên tắc 2: Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán):
Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép...).
Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ...
Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cách khác, đối với nhiều nước, khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước.
Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từng bước. Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan được thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện.
Nguyên tắc 3: Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch:
Ðây là nguyên tắc quan trọng của WTO. Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ.
Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện. Ðây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán.
Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau:
Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:
Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau. Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan. Ðây gọi là các mức thuế suất ràng buộc.
Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra.
Về các biện pháp phi thuế quan:
Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch. Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự do thương mại. Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt.
Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình. Ðồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại.
Nguyên tắc 4: Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn:
Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ. Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp...hoặc các biện pháp bảo hộ khác.
Ðể thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá...
Nguyên tắc 5: Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển nhất:
Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển. Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau.
Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/ 4 số nước thành viên của WTO. Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên.
Ðể thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO.
Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình. Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn.
1.1.4.Các hiệp định của WTO
Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được kí kết tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO:
Phụ lục 1
-Phụ lục 1A - Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hoá
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994
Hiệp định Nông nghiệp
Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật
Hiệp định về Hàng dệt may
Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại
Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMs)
Hiệp định Chống bán phá giá (thực thi điều VI của GATT)
Hiệp định Xác định trị giá tính thuế hải quan (thực thi điều VII của GATT 1994)
Hiệp định về Giám định hàng hóa trước khi gửi hàng (PSI)
Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ
Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng
Hiệp định về Biện pháp tự vệ
-Phụ lục 1B - Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
-Phụ lục 1C - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Xem thêm

48 Đọc thêm

TRÌNH BÀY ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC NƯỚC

TRÌNH BÀY ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC NƯỚC

Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo qui định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết với các nước
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư pháp quốc tế
Bài tập học kỳ Tư pháp quốc tế có đáp án.


Đề bài: Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo qui định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết với các nước? Thực tiễn thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế giữa Việt Nam với các nước kí kết điều ước quốc tế về vấn đề này.


1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm UTTPQT

Ủy thác tư pháp quốc tế là hình thức tương trợ tư pháp của các quốc gia có chủ quyền. UTTPQT do quốc gia được uỷ thác thực hiện bao gồm các hoạt động tiến hành hành vi tố tụng riêng biệt đã được pháp luật của nước đó quy định: tống đạt giấy tờ; khám xét, thu giữ và chuyển giao các vật chứng; tiến hành giám định lấy lời khai của các bị cáo, người làm chứng, người giám định, các bên đương sự và những người khác; xem xét vật chứng tại phiên toà, thi hành các quyết định, dẫn độ người phạm tội, điều tra hình sự, chuyển giao tài liệu và cung cấp các tin khác.

UTTPQT được tiến hành thông qua văn bản uỷ thác. Văn bản uỷ thác thường nêu các điểm: 1) Tên cơ quan uỷ thác. 2) Tên cơ quan được uỷ thác. 3) Tên công việc uỷ thác. 4) Họ tên, quốc tịch, nghề nghiệp, nơi cư trú hay tạm trú của các bên đương sự, bị can, bị cáo và những người khác có liên quan đến việc uỷ thác tư pháp. UTTPQT được quy định trong các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí về các vấn đề dân sự, hình sự giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới.

1.2 Những qui định của pháp luật Việt Nam về UTTPQT

Pháp luật Việt Nam qui định về UTTPQT trong hai văn bản qui phạm pháp luật chính đó là trong Bộ Luật tố tụng dân sự tại Phần 9 Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong trong tố tụng dân sự (Điều 405 đến 418) cụ thể UTTPQT về dân sự được qui định tại Chương 36 Tương trợ tư pháp trong trong tố tụng dân sự (Điều 414 đến 418) và qui định trong Luật tương trợ tư pháp 2008.

Trong hai văn bản qui phạm pháp luật này đều có qui định những nội dung chính của UTTPQT đó là:

Nguyên tắc tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự

Thực hiện ủy thác tư pháp

Thủ tục thực hiện việc ủy thác tư pháp

Văn bản ủy thác tư pháp

Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận

2. ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUI ĐỊNH CHUNG CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC NƯỚC

2.1 Các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam kí kết với các nước về UTTPQT

a. Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, thương mại

) Các Hiệp định đã ký

Hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dân sự với các nước được thực hiện trên cơ sở các Hiệp định Tương trợ tư pháp (và pháp lý) được ký kết giữa Nhà nước ta với nước ngoài. Tính đến thời điểm hiện nay, trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, Việt Nam đã ký 26 Hiệp định TTTP với các nước (trong đó có 15 Hiệp định điều chỉnh TTTP về dân sự, thương mại); đã và đang chuẩn bị đàm phán 18 Hiệp định TTTP trên các lĩnh vực, đã và đang chuẩn bị rà soát, sửa đổi, hiện đại hóa 04 Hiệp định đã ký với các nước XHCN trước đây. Cụ thể về 26 Hiệp định TTTP đã ký như sau:

12 Hiệp định TTTP với phạm vi rộng, điều chỉnh TTTP trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, hình sự và dẫn độ: đó là các Hiệp định với Liên Xô cũ (10121981), Tiệp khắc (12101982), Cu Ba (30111984), Hunggari (18011985), Bungari (03101986), Ba Lan (2231993), CHDCND Lào (0671998), Nga (2581998), Ucraina (1642000), Mông Cổ (1742000), Bêlarút (1492000), CHDCND Triều Tiên (045200)1;

03 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dân sự và thương mại: với CH Pháp (24021999), Trung Quốc (19101998) và Angeri (14 42010);

02 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực hình sự: với Angeri (1442010)2 và Hàn quốc (92003).3

01 Hiệp định ASEAN về TTTP trong lĩnh vực hình sự.

02 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dẫn độ: với Hàn Quốc (92003) và Angeri (1442010).4

05 Hiệp định quy định riêng về TTTP trên lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù với các nước: Vương quốc Anh và Bắc Ailen (1292008)5, với Australia (1292008), Hàn quốc (2952009), Thái Lan (1972010)6, Ấn Độ (đã đàm phán xong và hoàn thành thủ tục ký tắt ngày 1962009).

01 Hiệp định về TTTP trong lĩnh vực hình sự giữa các nước ASEAN (Việt Nam phê chuẩn năm 2008)

Ngoài ra, trong lĩnh vực hợp tác về hình sự, trong đó có hợp tác phòng chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, hợp tác phòng chống ma túy, Việt Nam đã ký kết, tham gia rất nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương. Có thể kể đến việc ngay từ năm 1997, Việt Nam đã tham gia ký 03 Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý của Liên Hợp Quốc (Công ước 1961, 1971 và 1988); đã ký nhiều Hiệp định, Thoả thuận hợp tác quốc tế về phòng chống ma tuý và Hiệp định có liên quan đến phòng chống ma tuý với các nước trong khu vực và trên thế giới; 01 Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Việt Nam tham gia ký ngày 13122000).

). Các Hiệp định đang được đàm phán chuẩn bị đàm phán:

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển khai việc đàm phán và ký kết mới 06 Hiệp định TTTP về dân sự, thương mại với các nước Anh, Hàn Quốc, Campuchia, Kazakhtan, Ấn Độ.

) Các Hiệp định đang được rà soát và sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa:

Đa phần các Hiệp định TTTP với các nước trước đây thuộc hệ thống XHCN được Nhà nước Việt Nam ký vào những năm 80, khi thể chế về TTTP của nước ta còn rất sơ sài. Cùng với sự phát triển của thể chế về tư pháp quốc tế trong đó đặc biệt là về TTTP, nhu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa hoặc thay mới (nếu cần thiết) các Hiệp định đã ký trước đây là rất cần thiết để đảm bảo sự tương thích giữa các Hiệp định đó với Luật Tương trợ tư pháp, các Hiệp định đa phương về TTTP cũng như phù hợp với thực tiễn triển khai công tác tương trợ tư pháp.

Vào đầu năm 2010, Bộ Tư pháp đã tiến hành đàm phán với Cộng hoà Séc về việc sửa đổi Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHXHCN Tiệp Khắc ký ngày 12 tháng 10 năm 1982, đã được Cộng hòa Séc và Cộng hòa Xlôvakia kế thừa.

Hiện nay Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển khai việc rà soát, hiện đại hóa các Hiệp định TTTP đã ký với các nước XHCN cũ, trước mắt là với 03 nước Ba Lan, Xlovakia, Hungari.

2.2 Nội dung chủ yêu của các điều ước quốc tế về UTTPQT mà Việt Nam kí kết với các nước

Nội dung các hoạt động UTTPQT giữa Việt Nam với các nước có nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan hệ song phương cũng như ý chí của các bên kí kết. Tuy nhiên có thể thấy nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam kí kết với các nước bao hàm 4 phần chính sau:

Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự.

Triệu tập người làm chứng, người giám định.

Thu thập, cung cấp chứng cứ.

Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.

Các vấn đề mà các quốc gia chủ yếu thực hiện UTTPQT nằm ở 2 giai đoạn:

Giai đoạn điều tra: các hoạt động UTTPQT thực hiện việc tống đạt giấy tờ đến các đương sự, lấy lời khai, giám định, thu thập chứng cứ, xác nhận tư cách chủ thể của các bên, xác định tình trạng nhân thân, tài sản của đương sự ở nước ngoài.

Giai đoạn công nhận, thi hành quyết định, bản án dân sự của nhau, cơ quan tư pháp cần xác minh làm rõ thông tin liên quan đến một số vụ việc.

Cần phân biệt hai loại UTTPQT đó là:

Các UTTP do tòa án nước ngoài yêu cầu tòa án Việt Nam thực hiện: đây chủ yếu là các ủy thác về tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự trong vụ kiện truy nhận cha và cấp dưỡng nuôi con hoặc yêu cầu tòa án Việt Nam thực hiện giám định nhóm máu trong các vụ việc xác định cha cho con, ủy thác tống đạt giấy tờ liên quan đến các vụ ly hôn. Ngoài ra thì ủy thác tống đạt giấy tờ về vụ kiện thương mại cũng là loại mới và phát sinh ngày càng nhiều.

Các UTTP do tòa án Việt Nam yêu cầu tòa án nước ngoài hoặc đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thực hiện: các ủy thác này chủ yếu là tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài trong vụ kiện ly hôn do tòa án Việt Nam yêu cầu hoặc ủy thác tống đạt giấy tờ lấy lời khai đối với bị đơn là công dân nước ngoài trong các vụ án ly hôn. Ngoài ra, phía Việt Nam cũng ủy thác về việc lấy lời khai của đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài trong các vụ kiện về dân sự do tòa án trong nước xét xử.

a. Nhận xét chung

Có thể nhận thấy rằng các Hiệp định TTTP đã ký trong thời gian qua hoặc đang trong quá trình đàm phán đều có nội dung phù hợp với các quy định của Hiến pháp, Luật TTTP và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế, các điều ước đa phương trong cùng lĩnh vực; việc đàm phán, ký kết được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, nguyên tắc quy định tại Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.

b. Phạm vi điều chỉnh và nội dung chính của các Hiệp định TTTP

Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký với các nước XHCN trước đây là loại điều ước song phương có phạm vi rất rộng, bao gồm cả các vấn đề bảo hộ pháp lý, những quy phạm xung đột thống nhất để giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền, công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên Hiệp định được ký kết gần đây và các dự thảo Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại đang được đàm phán mới có phạm vi hẹp hơn, được xây dựng theo nguyên tắc điều chỉnh các vấn đề mang tính nguyên tắc, thủ tục tương trợ tư pháp và dẫn chiếu đến luật tố tụng và nội dung của quốc gia ký kết. Xu hướng ký kết Hiệp định TTTP theo từng lĩnh vực chuyên ngành (hoặc chỉ chuyên về hình sự, dẫn độ, hoặc chuyên về tố tụng dân sự), không quy định xen kẽ, lồng ghép nhiều lĩnh vực với nhau, đang được các quốc gia và các tổ chức quốc tế ngày càng chú trọng. Dự thảo Hiệp định loại này có ưu thế là đơn giản và dễ thống nhất. Đây cũng là mô hình các Hiệp định TTTP mà ta đã ký với Trung Quốc, Pháp, Angiêri, hay Dự thảo Hiệp định đang và sẽ được đàm phán với Vương quốc Anh, Hàn quốc, Kadắcxtan, Ấn Độ v.v…

Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại quy định trong các dự thảo Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và các nước phù hợp với Điều 10 Luật TTTP, bao gồm tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ và các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự

3. THỰC TIỆN THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KÍ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ NÀY (bài học kì mục tài liệu bài tập)

Mặc dù Luật tương trợ tư pháp có hiệu lực thi hành từ 172008, nhưng đây cũng chỉ mới là luật khung, chỉ đưa ra các nguyên tắc về UTTP, mà chưa có hướng dẫn cụ thể để thực hiện. Do đó, để bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự, TAND TP HCM và Bộ Tư pháp căn cứ trên một số nguyên tắc và văn bản luật thống nhất về UTTP làm căn cứ giải quyết án. Theo đó, đối với đương sự là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì hồ sơ UTTP gửi cho Tòa án có thẩm quyền của nước tiếp nhận UTTP thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam; đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam thì hồ sơ UTTP gửi cho Đại sứ quán Việt Nam ở nước tiếp nhận UTTP thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP HCM trong hầu hết trường hợp UTTP là không có kết quả; không nhận được sự trả lời của đương sự liên quan, không có hồi âm của Bộ Tư pháp và Đại sứ quán Việt Nam đã thực hiện việc chuyển hồ sơ UTTP… Vì vậy, hồ sơ vụ việc dân sự chỉ có bản lưu của hồ sơ UTTP đã gửi đi, các biên nhận của bưu điện về việc đã chuyển hồ sơ của Tòa án cho Bộ Tư pháp… Tòa án lấy đó làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.

Đối với các vụ án hôn nhân gia đình, bị đơn thường là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, công dân nước ngoài, hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đang định cư ở nước ngoài. Với các vụ án dân sự yếu tố nước ngoài thường là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài. Các vụ kinh doanh thương mại thì công ty chính ở nước ngoài. Các vụ lao động thì chủ doanh nghiệp là người nước ngoài đã trở về nước mà không thanh toán các khoản tiền cho người lao động. Việc UTTP để ghi lời khai của người đang ở những nước mà Việt Nam chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp thì hầu như không có kết quả

Các vụ án này thường thời hạn xét xử không đảm bảo, việc kéo dài và bế tắc khi không có kết quả ủy thác sẽ làm người trong nước thiệt thòi. Nếu họ đi bước nữa thì cuộc sống hôn nhân tự nhiên trái pháp luật, do đó các quyền lợi về vợ chồng không được đảm bảo… Đối với án xử xong, nếu có đương sự trong nước kháng cáo thì hồ sơ không thể chuyển ngay để Tòa phúc thẩm giải quyết mà phải chờ kết quả ủy thác bản án đối với người đang ở nước ngoài, kéo dài thời gian thêm thời gian giải quyết vụ án…


Ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP HCM, cho biết TAND TP HCM đã có nhiều công văn đề nghị TAND Tối cao, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao có hướng dẫn thực hiện thủ tục UTTP nhưng đến nay vẫn chưa chuyển biến.
Xem thêm

10 Đọc thêm