LƯU Ý KHI CHO TRẺ ĂN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LƯU Ý KHI CHO TRẺ ĂN":

Lưu ý nhỏ cho mẹ khi chế biến đồ ăn dặm cho trẻ

LƯU Ý NHỎ CHO MẸ KHI CHẾ BIẾN ĐỒ ĂN DẶM CHO TRẺ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhu cầu dinh dưỡng của bé luôn thay đổi theo từng chu kì phát triển. Lúc mới sinh ra, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quan trọng, nhưng chỉ vài tháng sau đó sẽ đến giai đoạn sữa mẹ không đủ thỏa mãn bé. Giai đoạn này thường đến khi bé từ khoảng 4 đến 6 tháng tuổi. Đây chính là thời điểm đa số các bé sẵn sàng cho việc ăn dặm. Các mẹ không nên quá vội vàng khi cho trẻ ăn dặm quá sớm, hãy đợi đến khi con thực sự sẵn sàng. Nếu cho bé ăn sớm quá sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bé như: bé dễ bị đầy bụng, khó tiêu, biếng ăn, và lâu dài sẽ có nguy cơ bị thiếu hụt dinh dưỡng, dẫn đến bé bị suy dinh dưỡng, chậm lớn… Chuyển sang giai đoạn ăn dặm là một mốc thời gian quan trọng cho cả mẹ và bé. Để các mẹ có thể giúp bé có một giai đoạn ăn dặm hiệu quả, các mẹ cần lưu ý một vài điều dưới đây khi chế biến và bảo quản thực phẩm ăn dặm cho bé. Các loại thực phẩm tốt cho giai đoạn ăn dặm của trẻ Quy trình chế biến đồ ăn dặm tại nhà   Bước 1: khi bắt đầu làm đồ ăn dặm cho trẻ, các mẹ cần phải gọt sạch vỏ các loại rau củ, cắt bỏ phần mỡ của thịt. Khi nấu gà thì cần bỏ hết phần da gà.   Bước 2: Khi nấu có thể hấp hay dùng lò vi sóng, nhưng đảm bảo thực phẩm cần được nấu chín. Không nên nấu quá đặc hoặc quá lỏng, các mẹ cần cân bằng tốt lượng nước dùng.   Bước 3: Đồ ăn của trẻ cần phải được xay nhuyễn và mịn, do đó mẹ có thể sử dụng máy xay sinh tố cho thuận tiện. Nếu cho trẻ ăn cá thì cần loại bỏ hết xương để bé không bị hóc. Cách bảo quản thực phẩm ăn dặm cho bé   Với các đồ ăn đã đã được xay nhuyễn, các mẹ có thể để trong hộp có ngăn như khay đá và cho vào ngăn lạnh. Phía ngoài hộp mẹ nên bọc lại bằng nilon. Làm theo cách này đồ ăn có thể được bảo quản tối đa trong vòng 30 ngày.   Thực phẩm ăn dặm của bé cũng có thể được bảo quản trong các hộp nhựa hoặc lọ thủy tinh. Nếu để trong ngăn mát thì khoảng 2 ngày, còn ngăn đá sẽ để được khoảng 1 tháng. Trên mỗi hộp bảo quane, mẹ nên ghi chú loại thực ăn và hạn sử dụng.   Khi cho trẻ ăn đồ ăn trong tủ lạnh, mẹ nên lấy ra bát, sau đó đặt vào lò vi sóng hâm nóng hoặc cho lên bếp đun lại. Trước khi cho bé ăn, mẹ nên kiểm tra xem nhiệt độ thức ăn có vừa với trẻ hay không, tránh để bé bị bỏng. Với đồ ăn đã lấy ra bát cho trẻ ăn, nếu bé không ăn hết thì mẹ nên bỏ đi, không nên lưu trữ lại vì rất dễ gây bệnh. Bài liên quan: Mẹo bảo quản thực phẩm ăn dặm tươi lâu 3 loại cá giúp con thông minh nhất do chuyên gia TQ chọn Cách cho trẻ sơ sinh ăn phomai đúng chuẩn ít mẹ biết Lỗi phản tác dụng khi mẹ cho bé ăn chuối sai cách
Xem thêm

2 Đọc thêm

Chuyên đề Y dược học: MỘT SỐ LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI SỬ DỤNG SỮA VÀ CHO TRẺ ĂN SỮA CHUA TỐT, ĐÚNG CÁCH

CHUYÊN ĐỀ Y DƯỢC HỌC: MỘT SỐ LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI SỬ DỤNG SỮA VÀ CHO TRẺ ĂN SỮA CHUA TỐT, ĐÚNG CÁCH

1.MỘT SỐ LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI SỬ DỤNG SỮA Sữa là thực phẩm hàm chứa nhiều nguồn dinh dưỡng. Ngày nay, nhiều người đã biết chú trọng sữa và ưu tiên dùng sữa hằng ngày. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu và biết sử dụng sữa đúng cách. Hãy lưu ý 12 sai lầm dưới đây.2.CHO TRẺ ĂN SỮA CHUA TỐT, ĐÚNG CÁCHSữa chua là nguồn thực phẩm rất tốt cho trẻ. Tuy nhiên, các mẹ cần cho bé ăn sữa chua đúng cách và vừa đủ, không phải cho bé ăn bao nhiêu và ăn lúc nào cũng được. Dưới đây là mốt cách giúp các mẹ cho con ăn sữ cho vừa tốt và vừa đúng cách. Là những nội dung của tài lệu: Chuyên đề Y dược học:MỘT SỐ LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI SỬ DỤNG SỮA VÀ CHO TRẺ ĂN SỮA CHUA TỐT, ĐÚNG CÁCH TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CÙNG QUÝ BẠN ĐỌC
Xem thêm

13 Đọc thêm

BUỔI SÁNG ĂN GÌ...THÌ CON BÉO KHỎE?

BUỔI SÁNG ĂN GÌ...THÌ CON BÉO KHỎE?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bữa sáng rất quan trọng đối với sức khỏe con người, không chỉ người lớn mà còn cả với trẻ nhỏ. Khi trẻ lớn lên, cơ thể bắt đầu phụ thuộc vào thức ăn dặm nhiều hơn là sữa (thường vào khoảng hơn 1 năm tuổi) thì bữa ăn sáng lúc này là cơ hội tuyệt vời nhất để mẹ bổ sung chất dinh dưỡng cho con. Trẻ nhỏ thường sẵn sàng cho bữa ăn sáng hơn bất cứ khoảng thời gian nào trong ngày vì chúng đã phải ngủ một giấc dài vào ban đêm. Một bữa sáng cho trẻ phải đảm bảo giàu dinh dưỡng và cân bằng giữa các loại khoáng chất, protein, chất xơ, vitamin…Một số thực phẩm nêu qua tưởng như không hề phù hợp với “truyền thống” ăn sáng của người Việt tuy nhiên lại cực kỳ bổ dưỡng và khiến bé yêu thích thú. Do đó, mẹ đừng ngại ngần tạo cho trẻ thói quen mới, ăn những thực phẩm khoa học vào bữa sáng. Xin “điểm danh” giúp mẹ những loại thực phẩm lý tưởng nhất cho bữa sáng của bé. Yến mạch “Cơn sốt” yến mạch chưa bao giờ nguội trong cộng đồng các bà mẹ Việt hiện đại đang nuôi con nhỏ. Ăn yến mạch không chỉ giúp trẻ thông mình mà còn rất tốt trong việc giảm cholestorel trong máu, tăng cường hệ miễn dịch và ngừa ung thư. Chỉ mất 15 phút nấu yến mạch cán mỏng mỗi sáng là mẹ đã có một bát cháo yến mạch hoặc yến mạch trộn sữa công thức (sữa tươi) ngon lành cho bữa sáng của con. Mẹ lưu ý không nên sử dụng yến mạch ăn liền cho trẻ dưới 1 năm tuổi vì loại này có chứa rất nhiều đường. Mẹ có thể tham khảo cách nấu món Cháo yến mạch bí đỏ tại đây. Sữa chua Trong thành phần sữa chua, các chất đạm, chất béo có sẵn trong sữa đã được tiêu hóa một phần, rút ngắn thời gian hấp thu trong hệ thống tiêu hóa. Đường lactoza đã được lên men dễ hấp thu, làm giảm lượng đường tồn đọng lại ở hệ tiêu hóa tránh được tiêu chảy, giúp cho cơ thể hấp thu canxi và một số khoáng chất khác dễ dàng hơn. Một cốc sữa chua trộn hoa quả vào buổi sáng sẽ là gợi ý tuyệt vời cho bé tràn đầy năng lượng trong ngày. Tuy nhiên, do các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động rất mạnh nên cũng rất dễ làm hỏng men răng, nhất là răng trẻ nhỏ.Mẹ lưu ý khi cho trẻ ăn sữa chua xong nên uống vài thìa nước lọc tráng miệng. Mẹ có thể tham khảo cách làm Sữa chua từ sữa mẹ tại đây. Chuối   Chuối có vị ngọt tự nhiên trẻ rất ưa thích (ảnh minh họa) Không có gì tốt hơn một quả chuối cho bữa sáng. Với nguồn kali và chất xơ dồi dào, chuối được đánh giá là một loại quả hàng đầu của tự nhiên. Bên cạnh đó, trong chuối còn có hàm lượng vitamin C, vitamin B2, B6 dồi dào giúp cung cấp năng lượng hoàn thiện cho bé một ngày vui chơi lành mạnh. Đối với trẻ bị rối loạn tiêu hoá, chuối còn là phương thuốc “vàng”, bởi khả năng giúp ổn định lại các chức năng đường ruột, loại bỏ các vi khuẩn có hại, giữ lại vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Ăn chuối vào bữa sáng sẽ giúp trẻ no lâu và tránh được cảm giác đói khi trống tan trường chưa điểm. Chuối là một loại quả khá bình dân và được bày bán rộng rãi. Trẻ sơ sinh mới tập ăn dặm thường rất thích chuối bởi vị ngọt thơm tự nhiên và mềm xốp của thức quả này. Không như những loại hoa quả khác, chuối rất an toàn và vô cùng tiện lợi. Không cần đến dao cũng chẳng phải rửa quả, mẹ chỉ cần dùng tay bóc vỏ là có thể cho bé yêu thưởng thức ngay lập tức. Mẹ cũng có thể tham khảo cách làm món Súp chuối cà chua cho trẻ tại đây. Trứng Trừng có chứa nguồn protein và vitamin D dồi dào, là thực phẩm lý tưởng cho ngày mới tràn đầy năng lượng. Nếu trước đây, trứng thường được các chuyên gia khuyên là nên hạn chế ăn nhiều vì lượng cholesterol cao (chiếm tới 60%) thì một nghiên cứu mới của Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ cho biết lượng cholesterol trong trứng ít ảnh hưởng đến lượng cholesterol trong máu.   Ăn lòng đỏ trừng luộc buổi sáng rất tốt cho trẻ (ảnh minh họa) Trẻ sơ sinh thường dễ bị dị ứng với lòng trắng trứng, tuy nhiên, lòng đỏ lại rất an toàn và là món ăn cực tốt cho bữa sáng. Luộc kỹ trứng, tách riêng lấy phần lòng đỏ, nghiền nát cho bé ăn hoặc trộn cùng với cháo. Tuy nhiên mẹ nên lưu ý, chỉ nấu hoặc kết hợp trứng cho trẻ ăn cùng những món quen thuộc, không nên dùng cùng món mới. Như vậy, khi có phản ứng không tốt xảy ra, mẹ có thế dễ dàng xác định được nguyên nhân. Mẹ có thể tham khảo món Trứng hấp tôm cho bé tại đây. Dưa hấu Dưa hấu là món ăn tuyệt vời giúp cung cấp nước và độ ẩm cơ thể cho trẻ vào buổi sáng. Thông tin thú vị hơn: dưa hấu có chứa rất nhiều lycopene – một loại vi chất được tìm thấy nhiều ở hoa quả màu đỏ và rau xanh, giúp tăng cường thị thức, tim mạch và ngừa ung thư. Một uống nước dưa hấu ép buổi sáng sẽ giúp bé thoải mái suốt cả ngày dài.   Không gì giúp bé sảng khoái hơn một cốc nước ép dưa hấu mát lạnh buổi sáng (ảnh minh họa) Vừng Trộn thêm vừng vào cháo của trẻ mỗi sáng sẽ biến món ăn của trẻ trở thành một khẩu phần ăn cực giàu omega 3. Chỉ hai thìa cà phê vừng mỗi ngày là đã đủ cho nhu cầu omega 3 của trẻ trong cả một ngày. Thêm vào đó, vừng còn nổi tiếng với khả năng nhuận tràng, chống táo bón cho trẻ. Tuy nhiên mẹ lưu ý, vừng nguyên hạt có thể sẽ không được dạ dày của trẻ tiêu hóa mà cứ thế “đi ra ngoài”. Xay hoặc giã nhỏ vừng trước khi cho trẻ ăn sẽ là một “mẹo” cực hay dành cho mẹ. Bánh mì nguyên hạt Thức ăn giàu carbonhydrate cho bữa sáng là vô cùng tốt. Tuy nhiên, cho trẻ ăn loại thức ăn chứa carbonhydrate nào cũng rất quan trọng. Nguyên tắc là: thức ăn có chứa ngũ cốc nguyên hạt như bánh mì nguyên hạt đều tốt hơn cả so với bột mì đã được xay nhuyễn bởi chúng chứa nhiều chất xơ hơn. Một lát bánh mì nguyên hạt với bơ đậu phộng hoặc trứng là bữa sáng cực ngon và rất lý tưởng cho bé.   Món ăn "truyền thống" nhưng cực giàu dinh dưỡng (ảnh minh họa) Sữa tươi hoặc sữa công thức Sữa là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu cho mỗi bữa sáng. Tuy nhiên, mẹ lưu ý, trẻ chỉ uống một cốc sữa buổi sáng sẽ vẫn không đủ năng lượng cho cả ngày học tập ở trường. Đặc biệt nếu trẻ chưa đủ 1 tuổi, sữa vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các chất dinh dưỡng và vitamin thiết yếu cho trẻ. Nếu bé đã ăn dặm buổi sáng, mẹ vẫn cần cho con bú thêm sữa mẹ hoặc sữa công thức ngay sau đó.  Ngoài ra, mẹ có thể tham khảo cách làm Sữa ngô từ sữa công thức tại đây.
Xem thêm

3 Đọc thêm

SAI LẦM CẦN TRÁNH CHO BỮA SÁNG CỦA TRẺ NHỎ

SAI LẦM CẦN TRÁNH CHO BỮA SÁNG CỦA TRẺ NHỎ

làm hỏng men răng, nhất là răng trẻ nhỏ, người mẹ lưu ý khi cho trẻ ăn sữa chuaxong nên cho trẻ uống thêm vài muỗng nước lọc tráng miệng.Trong thành phần sữa chua, các chất đạm, chất béo có sẵn trong sữa đã được tiêuhóa một phần, rút ngắn thời gian hấp thu trong hệ thống tiêu hóa. Đường lactoseđã được lên men nên dễ hấp thu, làm giảm lượng đường tồn đọng lại ở hệ tiêu hóatránh được tiêu chảy, giúp cho cơ thể hấp thu canxi và một số khoáng chất khác dễdàng hơn.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bắt đầu tập ăn dặm bằng bột gì?

BẮT ĐẦU TẬP ĂN DẶM BẰNG BỘT GÌ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hỏi: Bé nhà em còn 2 tuần nữa là được 5 tháng tuổi. Em định bụng sẽ tập cho bé ăn dặm nhưng thiếu kinh nghiệm nên chưa biết cho bé ăn bột ăn dặm ngọt hay mặn. Mẹ chồng em thì khuyên nên cho bé ăn bột mặn sẽ chắc xương, chóng sởn, mau lớn. Em băn khoăn mãi việc này. Xin Eva tư vấn giúp em. Câu hỏi của độc giả gửi từ địa chỉ email: tuyetngoc_vu...@...   Chọn đúng loại bột ăn dặm giúp bé ngon miệng hơn. (Ảnh minh họa). Trả lời: Trước tiên, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Eva.vn Trên thị trường có rất nhiều loại bột ăn dặm (cả ngọt lẫn mặn) cho bé. Quan trọng là bạn chọn được loại phù hợp với khẩu vị của bé để bé hứng thú với việc ăn uống và ngon miệng. Thông thường, nên tập cho bé làm quen với bột ăn dặm ngọt trước sẽ tốt hơn cho hệ tiêu hóa của bé. Có thể cho bé ăn bột ngọt được chế biến sẵn; cũng có thể cho bé ăn bột gạo nấu với loại sữa mà bé đang ‘tu ti’ theo tỉ lệ 5% (5g bột trong 100ml nước). Các loại bột ngọt có vị gần giống với sữa mẹ và sữa ngoài khiến bé sẽ thích thú hơn. Khi bé mới tập ăn dặm, điều quan trọng nhất là tập cho bé thói quen ăn đúng giờ giấc, cách ăn bằng thìa, ngồi một chỗ và làm quen với các loại thức ăn khác ngoài sữa mẹ. Ban đầu, bạn chỉ nên cho bé ăn mấy muỗng/thìa cafe bột/cháo xay một ngày. Khi tập cho bé ăn dặm, bạn cần lưu ý: - Cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới. - Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợp với khẩu vị của trẻ. - Khi chế biến đảm bảo thức ăn mềm dễ nhai và dễ nuốt. - Tăng đậm độ năng lượng của thức ăn bổ sung: Có thể thêm dầu, mỡ hoặc vừng (mè), lạc (đậu phộng) hoặc bổ sung bột men tiêu hóa làm cho bát bột vừa thơm, vừa béo, mềm, trẻ dễ nuốt; lại cung cấp thêm năng lượng giúp trẻ mau lớn. - Không nên cho trẻ ăn bột ngọt (mì chính) vì không có chất dinh dưỡng lại không có lợi. Ngoài ra, những điều nên tránh khi cho bé ăn dặm, bạn có thể tham khảo tại đây
Xem thêm

1 Đọc thêm

10 lý do mẹ nên cho con ăn ổi mỗi ngày

10 LÝ DO MẸ NÊN CHO CON ĂN ỔI MỖI NGÀY

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những ngày vào hè, trên đường phố hay ngoài chợ cóc, không khó để mẹ nhìn thấy những gánh ổi bóng bẩy, thơm nức mũi mỗi khi đi qua. Đừng nghĩ rằng ăn ổi nóng, cứng hay gây táo bón cho trẻ. Thức quà quê rẻ tiền này không những thơm ngon mà còn là “siêu thực phẩm” rất tốt cho sức khoẻ. “Mỗi ngày ăn một quả ổi, bệnh tật không còn hỏi thăm” từ lâu đã là câu nói quen thuộc của các bà mẹ ở cả châu Á và châu Âu.  Vì sao lại như vậy? Xin liệt kê cho mẹ: 10 lý do nên cho con ăn ổi mỗi ngày 1. Cải thiện khả năng miễn dịch của trẻ Ổi là một trong những thức quả có lượng vitamin C khổng lồ, thậm chí nhiều gấp 4 lần quả cam. Đây có thể là thông tin khiến nhiều bà mẹ “ngã ngửa”. Tuy nhiên, đấy là sự thật. Vitamin C có liên kết chặt chẽ với khả năng miễn dịch và bảo vệ trẻ chống lại nhiễm trùng cùng các mầm bệnh. 2. Trị táo bón Ăn ổi không hề gây táo bón cho trẻ mà thậm chí còn trị táo bón. Ăn 1 quả ổi có thể đáp ứng 12% lượng chất xơ cơ thể trẻ cần trong một ngày. Ăn ổi hàng ngày đương nhiên giúp trẻ tăng chất xơ trong cơ thể và giảm táo bón hiệu quả.   Ổi là một trong những thức quả có lượng vitamin C khổng lồ, thậm chí nhiều gấp 4 lần quả cam.  3. Tốt cho não bộ trẻ Ôi có chứa rất nhiều Axit Folic, vitamin B9 – những loại vitamin và khoáng chất hàng đầu giúp phát triển hệ thần kinh và bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi rối loạn thần kinh. Ngoài ra, viamin B3 và B6 có trong ổi còn giúp cải thiện lưu thông máu đến não và thư giãn các dây thần kinh của trẻ. 4. Chống béo phì cho trẻ Trẻ béo phì rất nên ăn ổi. Có lẽ đây là một “bí mật” rất đáng giá cho những mẹ đang lo âu với chuyện con mình thừa cân khá nhiều. Ổi có tác dụng chống béo phì cực kỳ tốt. Nó là món luôn được các bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng khuyến khích trong chế độ ăn kiêng, vì là món “quà vặt” ngon lành và tốt cho sức khỏe. 5. Cải thiện thị lực Mặc dù, ổi không phả giàu Vitamin A như cà rốt, nhưng thức quả này vẫn luôn nằm trong ‘top’ những loại quả giàu vitamin A. Vitamin A giúp giữ cho đôi mắt của trẻ luôn trong tình trạng tốt cũng như giúp cải thiện thị lực của trẻ, nhất là những em bé đang bị “bao vây” bởi quá nhiều tivi, sách truyện, iPhone, iPad… 6. Hỗ trợ trẻ tiêu chảy Do ổi chứa rất nhiều tác nhân làm se (hợp chất hóa học có xu hướng làm co rút các thành phần khác trong cơ thể) nên có tác dụng hỗ trợ đường ruột yếu ớt khi bị tiêu chảy. Những tác nhân làm se này có tính kiềm tự nhiên và thêm chức năng kháng khuẩn, nhờ đó có tác dụng chữa tiêu chảy và ức chế sự tăng trưởng của các loại vi sinh vật gây hại trong đường ruột. Tuy nhiên, lưu ý là đừng lạm dụng. Khi trẻ bị tiêu chảy, mẹ có thể ép ổi thành nước, cho trẻ uống từng chút (mỗi lần vài ngụm) suốt trong ngày.   Khi trẻ bị tiêu chảy, mẹ có thể ép ổi thành nước, cho trẻ uống từng chút (mỗi lần vài ngụm) suốt trong ngày. 7. Giảm nguy cơ ung thư Chất lycopene có trong ổi đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cơ thể kích hoạt phát triển ung thư. Có bằng chứng rõ ràng cho thấy dịch chiết từ ổi có thể ngăn ung thư tuyến tiền liệt ở bé trai và ung thư vú ở bé gái. 8. Tốt cho trẻ bị tiểu đường Tác dụng chống bệnh tiểu đường của ổi đã được đề cập từ lâu trong y học Trung Quốc. Một nghiên cứu cho thấy, uống nước ép ổi giúp giảm đáng kể lượng đường huyết trong máu. 9. Bảo vệ tim Nếu muốn chăm sóc cho hệ tim mạch của con thật tốt, đứng quên cho bé ăn ổi. Ổi giúp cải thiện sự cân nằng natri và kali trong cơ thể, giúp giảm mức cholesterol xấu rất hiệu quả. 10. Giúp trẻ thư giãn Magiê có trong ổi giúp thư giãn các dây thần kinh và cơ bắp. Với những em bé hay bị căng thẳng, quấy khóc, ăn ổi để thư giãn chắc chắn là một ý tưởng tốt. Cách cho con ăn và chế biến ổi cho trẻ nhỏ Tuy ổi có nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe nhưng mẹ cũng cần có vài lưu ý: - Trẻ trên 1 tuổi mới nên làm quen với ổi.  - Chỉ nên cho trẻ ăn ở mức hạn chế, tối đa nửa trái cho mỗi lần ăn, một ngày chỉ ăn 1-2 lần cách nhau. Nếu ép nước, cũng chỉ cho trẻ uống một ly nước ép mỗi ngày. - Không nên cho trẻ ăn những quả ổi non vì còn nhiều vị mà nên chọn cho trẻ những quả ổi chín, mềm, ăn vào có vị ngọt thanh. - Luôn bỏ hạt ổi rồi mới cho con ăn, vì hạt ổi khó tiêu, gây trở ngại cho hệ tiêu hóa của trẻ.    Các bước làm ổi ép cho trẻ nhỏ
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÍ KÍP CHO MẸ CÓ CON ĂN DẶM LẦN ĐẦU

BÍ KÍP CHO MẸ CÓ CON ĂN DẶM LẦN ĐẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các chuyên gia về nhi khoa đã có những khuyến cáo về độ tuổi ăn dặm nên bắt đầu từ 6 tháng trở lên, các mẹ không nên cho trẻ ăn dặm quá sớm vì có thể ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của con. Tuy nhiên, mỗi bé lại có đặc điểm và tốc độ phát triển khác nhau. Nhiều bà mẹ lần đầu cho con ăn dặm đã phân vân không biết đâu là thời điểm thích hợp để cho con ăn dặm và bữa ăn dặm cần đáp ứng những tiêu chí nào? Dưới đây là bí kíp giúp các bà mẹ trẻ chuẩn bị bữa ăn dặm ngon miệng, đủ dinh dưỡng cho con, đồng thời bắt đầu tập cho bé thói quen “giờ ăn là giờ vui”. Dấu hiệu “Con muốn ăn dặm mẹ ơi” Thời điểm cho bé ăn dặm cần cân nhắc về cân nặng, giới tính của trẻ. Theo tiêu chuẩn của WHO thì: - Trẻ gái 6 tháng tuổi: nặng 7,3 kg, cao 65.7 cm - Trẻ trai 6 tháng tuổi: nặng 7.9 kg, cao 67,6 cm Ngoài ra có 1 số dấu hiệu nhận biết thời điểm bé có nhu cầu ăn bữa bổ sung như: - Sau khi bú mẹ, bé vẫn khóc và muốn bú thêm - Hay thức dậy nửa đêm để đòi bú trong khi trước đó bé ngủ ngoan. - Khi thấy mọi người ăn, bé tỏ ra thích thú, mắt theo dõi tập trung động tác lấy thức ăn, nhai, nuốt thức ăn của người lớn, tay chân khua khoắng muốn với cầm thức ăn. Bữa ăn cân bằng dinh dưỡng Mẹ nên cho bé ăn làm nhiều bữa nhỏ, đồng thời lưu ý nguồn protein trong thức ăn phải có đủ axit amin cần thiết. Khi mẹ cho bé bú, chất béo có trong sữa mẹ đã cung cấp 50% năng lượng cho bé. Chế độ ăn bổ sung thường có độ đậm năng lượng thấp do nguồn thức ăn nghèo chất béo. Đó chính là lý do vì sao, cần bổ sung chất béo ( dầu,mỡ) vào chế độ ăn cho bé.   Chế độ ăn bổ sung thường có độ đậm năng lượng thấp do nguồn thức ăn nghèo chất béo. Đó chính là lý do vì sao, cần bổ sung chất béo ( dầu,mỡ) vào chế độ ăn cho bé. (ảnh minh hoạ) Ngoài ra, bữa ăn của bé cần có đủ vitamin và khoáng chất. Tùy theo chế độ ăn của bà mẹ mà hàm lượng vitamin cần thiết trong sữa mẹ thay đổi, do đó chế độ ăn của bà mẹ mang thai và cho con bú cần phải đảm bảo dinh dưỡng. - Khi xát trắng gạo chúng ta vô tình đã loại bỏ nhiều vitamin vì vậy nên bổ sung bột đậu xanh và thịt lợn nạc vì chúng có nhiều vitamin. Không ít trường hợp trẻ mắc các bệnh lý do người mẹ thực hiện chế độ kiêng kem sau sinh, làm nguồn sữa mẹ thiếu vitamin B1. - Lòng đỏ trứng, các loại củ quả có màu vàng đậm, rau xanh là nguồn cung cấp vitamin A và caroten quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Thiếu vitamin A sẽ dẫn đến khô mắt, gây mù lòa, suy dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh. - Rau xanh và hoa quả tươi còn cung cấp vitamin C cho cơ thể trẻ, đồng thời hỗ trợ quá trình hấp thu chất sắt. - Mặt khác, để phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ, gia đình cần kết hợp giữa chế độ ăn bổ sung và tắm nắng hợp lý cho bé. - Sữa mẹ cung cấp rất nhiều chất khoáng cần thiết đối với sự phát triển của trẻ như sắt, canxi có hàm lượng thích hợp và dễ hấp thụ. Ngược lại, chất sắt ở mỗi loại thực phẩm khác nhau sẽ có mức độ hấp thu khác nhau. Các loại thịt động vật, gia cầm có lượng chất sắt hấp thu cao nhất, rồi đến các loại đậu, đỗ, ngũ cốc. Đủ năng lượng Khi trẻ bú mẹ nguồn năng lượng bé nhận được chính là các chất béo có trong sữa mẹ. Khi mẹ cho bé ăn bột gạo nguyên chất thì bé chỉ có thể nhận được 3-5% năng lượng chất béo. Để đảm bảo bé có thể nhận đủ năng lượng thì thức ăn của bé phải đảm bảo về mặt chất lượng, tức là có đủ 4 nhóm: đạm, chất béo, vitamin, chất khoáng. Trong quá trình chế biến bữa ăn cho bé, mẹ cần lưu ý bổ sung thêm các nguồn thực phẩm  như thịt nạc, trứng, cá, tôm để thay đổi khẩu vị và cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết. Độ đậm, đặc thích hợp Ngay từ khi sinh ra, bé chỉ làm quen với một loại thức ăn duy nhất là sữa mẹ và đây là loại thức ăn ở dạng lỏng. Khi lần đầu chuẩn bị bữa ăn phụ cho bé, các mẹ lưu ý trong khâu chế biến thức ăn của trẻ nên bắt đầu từ thể lỏng rồi chuyển sang dạng sền sệt sau đó mới đặc dần. Bên cạnh đó, để bát bột nấu cho trẻ đạt tiêu chuẩn, mẹ cần tìm hiểu về mối quan hệ giữa độ đậm đặc và độ đậm năng lượng. Bột của trẻ lúc mới nấu, nhiệt độ nóng nhưng khi nguội dần sẽ càng đặc lại. Nếu pha thêm nước để đạt độ lỏng thích hợp  thì sẽ làm giảm độ năng lượng.  Vì vậy, để tăng độ đậm năng lượng và giảm độ đặc thì nên chia nhỏ các bữa ăn của trẻ, đồng thời bổ sung dầu mỡ trong quá trình chế biến dầu mỡ. Đa dạng hóa bữa ăn Mỗi bé có một khẩu vị và thói quen ăn uống khác nhau không ai giống ai. Các mẹ cần dành thời gian để quan sát, tìm hiểu sở thích của bé để có thực đơn chế biến phù hợp giúp bé luôn có cảm giác ngon miệng, thích thú để giờ ăn là giờ vui ngay từ những tháng đầu bé học nuốt, học nhai và sẽ ảnh hưởng đến thói quen dinh dưỡng về sau của trẻ. Ngoài các bữa bột bổ sung, mẹ có thể cho bé ăn bánh biscuit có bổ sung vitamin, calcium, DHA... thỏa mãn nhu cầu  muốn nhai, cắn khi bé mọc những chiếc răng đầu tiên.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những thực phẩm “cấm kị” cho trẻ sơ sinh

NHỮNG THỰC PHẨM “CẤM KỊ” CHO TRẺ SƠ SINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trẻ dưới 1 tuổi vẫn đang trong quá trình hình thành đầy đủ và hoàn thiện dần các chức năng của từng bộ phận trên cơ thể. Chính vì vậy, các mẹ cần chọn lọc những thực phẩm phù hợp với trẻ và nên tránh những loại thực phẩm sau đây: Muối Mẹ không nên thêm muối vào bất cứ thức ăn nào dành cho bé, vì nó không tốt cho thận của bé lúc này. Không sử dụng viên súp hay nước chấm vì chúng chứa hàm lượng muối cao. Hãy lưu ý điều này khi nấu ăn cho gia đình và cho trẻ.   Trẻ dưới 1 tuổi chưa cần nêm muối vào cháo, bột (ảnh minh hoạ) Đường Không nên dùng các loại thực phẩm nhiều đường như bánh quy, kẹo hay nước ngọt vì có thể gây sâu răng ở trẻ. Sử dụng chuối nghiền, sữa mẹ hoặc sữa công thức để làm ngọt thức ăn cho trẻ nếu cần thiết. Mật ong Mật ong chứa vi khuẩn gây độc tố cho đường ruột của bé. Điều này có thể dẫn đến tình trạng ngộ độc ở trẻ sơ sinh. Mật ong cũng là một dạng đường có thể gây sâu răng cho trẻ. Vì vậy, không nên dùng mật ong cho trẻ dưới một tuổi.   Mật ong được nhiều chuyên gia khuyến cáo không nên cho trẻ sơ sinh ăn (ảnh minh hoạ) Các loại hạt Trẻ dưới 5 tuổi không nên cho ăn các loại hạt, nhất là đậu phộng. Bên cạnh đó, đậu  phộng cũng là loại thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ nhỏ. Thức ăn hàm lượng chất béo thấp Chất béo cung cấp rất nhiều năng lượng và các vitamin cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trẻ dưới 2 tuổi nên bổ sung các loại thức ăn như sữa nguyên chất, sữa chua và pho mát hơn là các loại thực phẩm ít chất béo. Chất béo bão hòa Không nên cho trẻ ăn thức ăn chứa chất béo bão hòa hay chất béo có hại như khoai tây chiên, bánh mý kẹp và bánh ngọt. Một số loại cá Các mẹ cần tránh những loại cá có hàm lượng thủy ngân nhất định như cá mập, cá kiếm, cá marlin,… bởi chúng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thần kinh của trẻ. Hải sản có vỏ Không nên cho trẻ ăn các loại hải sản này vì có thể tăng nguy cơ ngộ độc ở trẻ. Trứng sống hoặc chưa chín Trẻ dưới 6 tháng tuổi có thể cho ăn trứng nhưng phải đảm bảo trứng được luộc chín cho đến khi cả lòng trắng và lòng đỏ rắn lại.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Củ cải ăn dặm: ‘nhân sâm’ giá rẻ cho bé

CỦ CẢI ĂN DẶM: ‘NHÂN SÂM’ GIÁ RẺ CHO BÉ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Củ cải giàu vitamin C, canxi, một ít chất xơ và protein. Thêm vào đó, củ cải chứa chất ngọt tự nhiên, giúp món cháo của bé thêm thơm ngon đậm đà. Điều này hẳn mẹ nào cũng rõ. Vậy nhưng chẳng phải tự nhiên mà người Trung Quốc coi củ cải như một loại “nhân sâm” giá rẻ. Mẹ sẽ ngạc nhiên trước những lợi ích bất ngờ của củ cải đối với sức khỏe của con. Lý do bé nên ăn củ cải Chữa ho, tiêu đờm: Trong củ cải hàm chứa một lượng chất cay nhất định. Điều này làm cho củ cải có một vị cay tự nhiên. Đối với những bé mùa đông hay bị tắc mũi, ho, đờm, mẹ có thể dùng củ cải để giải quyết những vấn đề nhức đầu này. Củ cải sẽ giúp loại bỏ chất nhầy trong cổ họng bé, giúp trẻ làm dịu cổ họng và đặc biệt hữu ích với những bé đang bị cảm lạnh. Hỗ trợ tiêu hóa: Củ cải có tác dụng làm sạch tự nhiên cho hệ tiêu hóa, giúp phá vỡ và loại bỏ các thức ăn , độc tố khó tiêu trì trệ trong dạ dày trẻ. Ngăn ngừa nhiễm virus: Vì có hàm lượng vitamin C rất cao, củ cải giúp trẻ tăng sức đề kháng và tránh lây nhiễm virus.   Củ cải ít calo, phù hợp với trẻ dễ béo phì (ảnh minh họa) Thời điểm cho bé ăn củ cải Mẹ có thể bắt đầu cho trẻ ăn củ cải vào giai đoạn 7-8 tháng. Củ cải mọc dưới đất nên khá lành và ít nhiễm thuốc sâu. Tuy nhiên mẹ cần lưu ý, với bất cứ loại thực phẩm nào, khi cho trẻ tập ăn đều chỉ nên ăn ít một, không ồ ạt và quan sát phản ứng của con. Cách chọn củ cải cho bé Cải cải cho bé mẹ nên lựa những củ còn tươi, không bị chuyển màu, thâm dập, cầm chắc tay. Nên bảo quản củ cải ở nơi thoáng mát trong phòng hoặc trong ngăn mát tủ lạnh. Chỉ nên cắt củ cải trước khi bạn chế biến. Với củ cải đã được gọt vỏ, thái lát, mẹ nên để chúng trong một bát nước lọc, đặt vào ngăn mát tủ lạnh. Thời gian an toàn không quá 2 ngày. Một số lưu ý khi chế biến củ cải ăn dặm Củ cải có thể gọt vỏ, luộc hoặc hấp cho bé ăn nguyên miếng hạt lựu mềm. Ngoài ra mẹ có thể cho vào cháo thịt của bé hay ninh hỗn hợp củ cải, hành tây, khoai tây, su hào để lấy nước ngọt nấu cháo cho con. Tuy nhiên, mẹ nên lưu ý hạn chế ninh nấu cà rốt cùng củ cải. Cà rốt nấu chung với củ cải thường rất thơm ngon, ngọt nước bé thích mê, Vậy nhưng sự kết hợp này không có lợi cho con về mặt dinh dưỡng. Trong cà rốt có chứa enzyme có thể phá hủy vitamin C. Do đó, lượng vitamin C trong củ cải cũng sẽ bị phá hủy hoàn toàn khi ăn kèm với cà rốt. Ngoài ra, mẹ có thể tham khảo cách làm dưới đây với món củ cải: 1. Củ cải nghiền   Củ cải nghiền nhuyễn cho trẻ tập ăn dặm (ảnh minh họa) Củ cải được rửa sach, gọt vỏ, thái hạt lựu, sau đó bỏ vào nồi hấp cho đến khi củ cải chín mềm là được. Tiếp đến, mẹ dùng thìa hoặc máy xay dầm nhuyễn củ cải (có thể thêm chút nước lọc để hỗn hợp bớt đặc) trước khi cho bé thưởng thức. 2. Cháo củ cải thịt nạc   Cháo củ cải nấu thịt trẻ thích mê (ảnh minh họa) Củ cải rửa sạch, gọt vỏ thái hạt lựu. Thịt heo nạc xay khoảng 50 gram. Đun gạo với nước thành cháo có độ đặc vừa ý. Sau đó mẹ cho củ cải và thịt nạc vào khuấy đều. Đợi thêm 10 phút cho củ cải chín thì tắt bếp, cho một thìa dầu ăn rồi múc ra cho trẻ ăn nóng. Có thể xay lợn cợn cho phù hợp với khả năng ăn của bé. 3. Củ cải xào trứng mềm Củ cải rửa sạch, gọt vỏ thái sợi dài, mỏng. Cho một ít dầu ăn hoặc dầu oliu vào chảo, xào mềm củ cải. Đến khi củ cải chuyển trong, đập 1 lòng đỏ trứng gà vào xào cùng. Củ cải trứng chín cho ra để bé ăn kèm cháo trắng hoặc ăn không để tập nhai. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Xử trí đúng cách khi bị ngộ độc thực phẩm

XỬ TRÍ ĐÚNG CÁCH KHI BỊ NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngộ độc thực phẩm là biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống những thức ăn nhiễm độc, nhiễm khuẩn, thức ăn bị biến chất ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia. Vậy khi bị ngộ độc thực phẩm cần phải xử trí như thế nào cho đúng cách? Người bị ngộ độc thường có biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, chóng mặt, sốt, đau bụng… gây hại tới sức khỏe, khiến cơ thể mệt mỏi, nếu không có biện pháp xử lý kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Do đó, khi nhận thấy những biểu hiện ngộ độc như trên cần biết cách xử trí kịp thời: Nếu có các biểu hiện ngộ độc xảy ra sau khi ăn thức ăn gây ngộ độc trước 6 giờ thì cần làm cho người bị ngộ độc nôn ra hết thức ăn đã ăn vào, bằng cách: Dùng lông gà ngoáy họng, uống nước mùn thớt, uống nước muối (2 thìa canh muối pha với 1 cốc nước ấm) hoặc uống đầy nước rồi móc họng để kích thích gây nôn. Tuy nhiên, khi sơ cứu bằng cách gây nôn cho trẻ, cần phải lưu ý móc họng trẻ cho khéo, tránh làm xây xát họng trẻ. Phải để trẻ nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang một bên rồi móc họng để trẻ nôn thức ăn ra. Không để trẻ nằm ngửa và nôn vì như vậy có thể gây sặc lên mũi, xuống phổi và rất dễ dẫn đến tử vong. Trong quá trình gây nôn, phải luôn dùng khăn để lau chùi. Móc sạch thức ăn trẻ nôn ra rồi dùng khăn mềm lau sạch miệng trẻ.   Khi có dấu hiệu ngộ độc thực phẩm, cần nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế để được xử trí đúng cách. (Ảnh: M. H) Với trường hợp ngộ độc xảy ra sau khi ăn phải thức ăn gây độc sau 6 giờ, lúc này chất độc đã bị hấp thu một phần vào cơ thể, thì cần xử trí bằng cách: Dùng chất trung hòa: Nếu người bị ngộ độc do những chất axit có thể dùng những chất kiềm chủ yếu như: nước xà phòng 1%, nước magiê ôxit 4%, cứ cách 5 phút cho người bệnh uống 15ml. Tuy nhiên, tuyệt đối không được dùng thuốc muối để tránh hình thành CO2 làm thủng dạ dày cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày. Nếu người bị ngộ độc do chất kiềm thì cho uống dung dịch axit nhẹ như: dấm, nước quả chua…. Dùng chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như: Dùng bột mì, bột gạo, sữa, lòng trắng trứng gà, nước cháo… để ngăn cản sự hấp thu của dạ dày, ruột đối với chất độc. Dùng chất kết tủa: Nếu bị ngộ độc kim loại (chì, thủy ngân…) có thể dùng lòng trắng trứng, sữa hoặc 4 -10g natri sunfat. Dùng chất giải độc: Với người bị ngộ độc kim loại nặng, axit… có thể uống kết hợp với chất độc thành chất không độc như: Uống hỗn hợp than bột, magiê ôxit. Lưu ý: Khi có biểu hiện ngộ độc thực phẩm, sau khi xử trí đúng cách tại nhà, nơi làm việc cần nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế để được bác sĩ đưa ra phác đồ cấp cứu điều trị, phù hợp, kịp thời.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Lỗi phản tác dụng khi mẹ cho bé ăn chuối sai cách

LỖI PHẢN TÁC DỤNG KHI MẸ CHO BÉ ĂN CHUỐI SAI CÁCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Từ lâu chuối vẫn được coi là trái cây có nguồn dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Đối với trẻ em, chất xơ của chuối có tác dụng làm cho ruột hoạt động đều hạn chế biếng ăn ở trẻ, rất có lợi cho hệ miễn dịch của bé. Với nguồn kali và chất xơ dồi dào, chuối được đánh giá là một loại quả hàng đầu của tự nhiên. Bên cạnh đó, trong chuối còn có hàm lượng vitamin C, vitamin B2, B6 dồi dào giúp cung cấp năng lượng hoàn thiện cho bé một ngày vui chơi lành mạnh. Tuy nhiên, nhiều mẹ vẫn không biết nên cho trẻ ăn chuối ra sao cho đúng. Dưới đây sẽ là lời giải đáp cho một số thắc mắc của mẹ khi cho trẻ ăn chuối. 4 tháng tuổi bắt đầu có thể ăn chuối Chuối là loại hoa quả rất tốt cho các bé tuổi ăn dặm. Do đó khi các bé được khoảng 4 tháng tuổi, tuy nhiên khi mới bắt đầu cho trẻ tập ăn chuối, các mẹ chỉ nên cho con ăn với số lượng vừa phải để có thể thăm dò phản ứng của trẻ, chớ nên "tống" một lúc sẽ khiến bé khó tiếp nhận. Với độ tuổi ăn dặm, các mẹ có thể chế biến một số món chuối cho trẻ như chuối nghiền trộn sữa, bột chuối, bánh trứng chuối, chuối nướng... Không nên chọn các những quả có vỏ vàng "đẹp không tì vết" Nhiều mẹ tin rằng khi mua chuối nên chọn các nải chín đều, vàng ươm thì sẽ ngon. Nhưng thực tế, các loại quả chuối như vậy rất có thể đã được người bán dấm bằng thuốc nên sẽ vừa kém ngon vừa dễ hỏng nếu không kịp ăn nhanh. Các mẹ nên chọn những nải chuối chín lác đác, nghĩa là quả chín, quả xanh và màu thì không được đẹp cho lắm. Chuối như vậy là chuối chín tự nhiên nên khi ăn không bao giờ có vị chát, khó chịu như chuối ngâm bằng hóa chất Trung Quốc. Trong trường hợp các mẹ mua nhiều một lúc mà không ăn hết thì cẩn phải biết bảo quản đúng cách để tránh cho chuối bị hỏng.  Nếu có tủ lạnh, mẹ hãy gói quả chuối trong giấy báo hoặc túi nhựa có khóa kéo rồi đặt vào ngăn mát. Chuối sẽ tươi lâu hơn và không bị thâm vỏ. Nếu không có tủ lạnh, mẹ chỉ nên mua chuối vừa chín tới, cuống vẫn còn xanh, vỏ không có vết thâm, trầy; sau đó treo nải chuối lên móc, đặt ở nơi thoáng khí, tránh ánh sáng mặt trời hoặc lửa nóng. Trẻ ăn quá nhiều chuối có khả năng bị tê liệt tạm thời và nhịp tim không đều Chuối là một trong những hoa quả giàu dinh dưỡng, tuy nhiên, các mẹ cần biết khi cho trẻ ăn chuối quá nhiều một ngày cũng không tốt đâu nhé. Bởi chuối có chứa nhiều mangan và kali, do đó nếu bé ăn quá nhiều chuối có thể gây ra tình trạng tăng kali trong máu. Khi ấy, bé có thể gặp các triệu chứng bao gồm yếu cơ, tê liệt tạm thời và nhịp tim không đều.   Bởi chuối có chứa nhiều mangan và kali, do đó nếu bé ăn quá nhiều chuối có thể gây ra tình trạng tăng kali trong máu (Ảnh minh họa) Đặc biệt, hàng ngày bé nhà bạn đã ăn rất nhiều các loại thực phẩm bổ sung vitamin khác mà còn ăn nhiều  chuối sẽ khiến dư thừa hàm lượng vitamin và khoáng chất quá cao. Điều này có thể gây khó khăn rất lớn cho quá trình tiêu hóa. Kết quả khiến bé bị đầy hơi và đau dạ dày. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Maryland Medical Center, thì lượng chuối trẻ nên ăn mỗi ngày theo từng độ tuổi là: - Trẻ sơ sinh sơ sinh đến 6 tháng tuổi: 500 mg - Trẻ sơ sinh 7 tháng đến 12 tháng: 700 mg - Trẻ em 1 tuổi: 1.000 mg - Trẻ em 2-5 tuổi: 1.400 mg -Trẻ em 6-9 tuổi: 1.600 mg - Trẻ em trên 10 tuổi: 2.000 mg Chuối cũng kỵ với một số thực phẩm khác Mẹ cần biết chuối có kỵ với một số thực phẩm sau: - Chuối hột kỵ mật ong, đường: chướng bụng - Chuối tiêu kỵ khoai môn: đau bụng - Chuối và khoai tây: trên mặt sẽ nổi những đốm nhỏ Khi trẻ bị đau đầu ăn chuối sẽ làm tăng lưu lượng máu lên não không tốt cho trẻ Chuối là thực phẩm có nhiều lợi ích cho trẻ, nhưng không phải lúc nào mẹ cũng có thể cho con ăn. Mẹ nên chú ý các trường hợp sau đây: Khi trẻ đang đói: Trong quả chuối có chứa rất nhiều magiê và vitamin C. Chuối có tác dụng trong quá trình thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động tốt. Nhưng sẽ phản tác dụng khi mẹ cho bé dùng chuối làm thực ăn khi đói, lúc này hàm lượng magiê sẽ tăng đột ngột trong máu, làm mất sự cân bằng của tim mạch, gây tổn hại cho sức khỏe của bé. Ngoài ra, trong chuối có hàm lượng vitamin C cao, nên vitamin C khi được vào cơ thế lúc đói cũng sẽ gây tổn hại cho dạ dày của bạn. Do đó, khi con kêu đói, các mẹ đừng dại cho con ăn ngay một quả chuối. Khi trẻ đang bị táo bón: Rất nhiều mẹ cho rằng ăn chuối có thể giúp nhuận tràng, nên khi thấy con bị táo bón vẫn cho con ăn chuối thường xuyên.  Tuy nhiên, chuối không những không giải quyết được chứng táo bón mà ngược lại còn khiến táo bọn nặng hơn. Các mẹ nên biết rằng chuối thuộc loại hoa quả nhiệt đới, chuối mà chúng ta ăn đều đã được xử lý bằng một số hóa chất bảo quản giúp thúc đẩy quá trình chuối chín nhanh. Những chất này là nguyên nhân khiến cho táo bón nặng thêm. Do vậy, các bé có chức năng dạ dày kém không nên ăn nhiều chuối. Khi trẻ bị đau đầu: Khi trẻ bị đau đầu, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn chuối bởi các tyramine, phenyethyamine, axit amin trong chuối làm giãn các mạch máu và và làm tăng lưu lượng máu lên não nên không tốt cho trẻ. Khi trẻ đang bị tiêu chảy: Khi trẻ đang bị tiêu chảy, mẹ không nên cho con ăn nhiều chuối, nếu không ăn thì càng tốt, bởi vì trong chuối có một lượng chất xơ mềm, oligosaccarid_ chất làm cho bệnh tiêu chảy nặng hơn.  Một số lưu ý khác khi cho trẻ ăn chuối - khi cho bé ăn mẹ cần nạo sạch phần xơ vỏ bám ở thịt chuối - Không nên cho trẻ ăn chuối hột khi bé chưa được 8 tháng - Không nên cho trẻ ăn chuối chưa chín - Những quả chuối có dấu hiệu bị hỏng, các mẹ không nên tiếc quả mà tiếp tục cho trẻ ăn
Xem thêm

3 Đọc thêm

Vua dinh dưỡng phô mai: Cảnh báo mẹ!

VUA DINH DƯỠNG PHÔ MAI: CẢNH BÁO MẸ!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Phô mai từ trước đến nay được công nhận không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới là “vua dinh dưỡng” bởi rất giàu năng lượng và các chất dinh dưỡng tốt cho sự phát triển của trẻ, đồng thời lại là món ăn dễ dàng kết hợp với các loại thực phẩm khác kích thích trẻ thèm ăn, thêm phần ngon miệng và dễ tiêu hóa. Tuy nhiên nếu cho con ăn quá  nhiều loại “vua dinh dưỡng” cũng không tốt cho sự tiêu hóa của trẻ. 1. Phô mai thì có "chất" gì? * Ưu Chất đạm: Lượng đạm trong phô mai rất cao, chiếm gần 25% tổng giá trị dinh dưỡng nên phô mai là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho khẩu phần ăn, tương đương với thịt, cá, trứng,… Giàu canxi: Theo nghiên cứu của các chuyên gia lượng canxi có trong phô mai nhiều gấp 100 lần có trong các loại thịt. Do đó phô mai cũng đóng vai trò bổ sung canxi rất tốt cho trẻ Chất béo và năng lượng: So với các loại thực phẩm cùng nhóm, phô mai có lượng chất béo nhiều gấp 3 lần vì vậy năng lượng cung cấp cũng nhiều hơn gấp đôi. Một miếng phô mai tam giác nặng trung bình 15gr có giá trị dinh dưỡng tương đương với 100ml sữa tươi đấy nhé. * Nhược Nhiều cholesterol và rất ít chất sắt: “Vua dinh dưỡng” cũng có nhược điểm các mẹ nhé. Giàu cholesterol không có lợi cho sức khỏe. Nghèo chất sắt cũng vậy. Vì vậy cho trẻ ăn liên tục, ép trẻ ăn phô mai hàng ngày cũng là điều không tốt chút nào.   Mẹ không nên lạm dụng cho trẻ ăn phô mai (ảnh minh họa) 2. Lưu ý khi cho bé ăn Phô mai Chính vì rất giàu dinh dưỡng như vậy nên mẹ cần lưu ý những điểm sau khi cho trẻ ăn phô mai: - Mấy tháng thì bé ăn được phô mai Do phô mai, bơ và các thực phẩm cùng loại được sản xuất từ sữa bò, có khá nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm nên cho bé làm quen với phô mai. Các chuyên gia dinh dưỡng ở Anh thì cho rằng, khoảng 6 tháng tuổi là bé có thể ăn được phô mai. Nhưng một số chuyên gia ở Mỹ lại gợi ý, cha mẹ chỉ nên cho bé làm quen với món ăn này khi bé được khoảng 8 tháng tuổi. Ngoài ra, một số ít cho rằng, do phô mai thuộc nhóm sản phẩm từ sữa bò nên chỉ an toàn cho bé 1 tuổi trở lên (vì khả năng gây dị ứng cho nhóm bé có cơ địa mẫn cảm với sữa bò). - Phô mai không thể thay thế thịt, cá để nấu bột, cháo cho bé Mặc dù phô mai được mệnh danh là “vua dinh dưỡng” rất nhiều chất đạm, chất béo và canxi nhưng lại không hàm chứa nhiều loại vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Vì thế mẹ chỉ nên cho con ăn phô mai như một bữa ăn phụ chứ không thể thay thế hoàn toàn  sữa, thịt, cá,… để nấu bột, nấu cháo cho bé.  Vì thế, mẹ nên cho con ăn Phô mai như một bữa phụ, hoặc kết hợp với các sản phẩm khác như: phết vào bánh mì, trộn vào bột, cháo… để vừa bổ sung thêm năng lượng, vừa có các vitamin, chất khoáng từ nguồn thực phẩm khác trong bát cháo. - Không thể kết hợp phô mai bừa bãi Mẹ đặc biệt lưu ý đừng kết hợp phô mai với các thực phẩm khác như cua, lươn, rau mồng tơi hay rau dền vì sẽ khiến bé dễ bị đau bụng. Nhóm thực phẩm có thể kết hợp với phô mai kích thích sự ngon miệng cho bé là khoai tây, cà rốt, thịt bò, thịt gà,… - Không nên cho bé ăn phô mai trước bữa ăn Vì phô mai giàu chất dinh dưỡng nên nếu mẹ cho bé ăn ngay trước bữa ăn bé sẽ no và bỏ bữa ăn chính. Ăn phô mai trước khi đi ngủ cũng thường khiến bé đầy bụng và khó ngủ hơn.  - Bảo quản phô mai như thế nào? Phômai có thể được dự trữ trong ngăn mát của tủ lạnh. Không nên dùng túi nilon để bọc những viên phômai đang ăn dở vì chất béo trong phômai có thể dính vào những hóa chất độc hại có trong túi nilon. Mẹ cũng có thể tham khảo cách tự làm phô mai tươi cho con tại đây. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cho trẻ ăn dặm: Đừng sợ hải sản!

CHO TRẺ ĂN DẶM: ĐỪNG SỢ HẢI SẢN!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hải sản là nguồn thức phẩm đa dạng dưỡng chất dành cho trẻ nhỏ, tuy nhiên nhiều mẹ lo ngại trong dám cho trẻ ăn vì sợ con sẽ bị dị ứng hoặc ngộ độc. Thực tế, các mẹ nên biết rằng nếu mẹ cho bé ăn không đúng cách mới là nguyên nhân chủ yếu gây ra các biến chứng như dị ứng, tiêu chảy, ngộ độc…  Để giải đáp các lo lắng của các mẹ, dưới đây là đôi điều các mẹ cần biết khi cho trẻ tiếp xúc với món ăn quý giá này. Hải sản - món quà từ biển cả dành cho bé Axit béo omega-3 là một trong những dưỡng chất thiết yếu được tìm thấy nhiều trong hải sản. Theo các chuyên gia, đây là một loại dưỡng chất quan trọng góp phần vào sự phát triển não bộ của trẻ sơ sinh. Không chỉ tốt cho trí não, axit béo omega -3 còn rất nhiều tác dụng cho trẻ: - Tăng cường miễn dịch: Các axit béo tuyệt vời trong hải sản rất tốt cho hệ miễn dịch của trẻ nhỏ.  - Phòng chống chàm: Omega-3 giúp giảm viêm ở tất cả các bộ phận trên cơ thể, bao gồm cả da. Cho bé làm quen với thịt cá hồi hoặc cá ngừ trắng trước 9 tháng tuổi có thể bảo vệ bé khỏi chứng dị ứng da - Tốt cho phổi, cải thiện bệnh hen suyễn: Trong nhiều công trình nghiên cứu, cá được chứng minh là một loại thực phẩm giúp bảo vệ phổi - Tốt cho mắt: Trong các loại tôm, cua, rất giàu vitamin A, có tác dụng cải thiện tầm nhìn - Duy trì độ chắc khỏe cho xương: Trong hải sản giàu hàm lượng canxi, rất tốt việc đảm bảo sức khỏe của hệ xương. 7 tháng tuổi có thể bắt đầu cho trẻ ăn hải sản Hải sản là một trong những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ, do đó các mẹ không nên cho bé tiếp xúc với loại đồ ăn này quá sơm. Theo các chuyên gia, trừ các loại hải sản có vỏ, bạn có thể cho bé ăn cá ở dạng bột sệt hoặc nghiền nhuyễn từ 7 tháng tuổi khi bé đã bắt đầu ăn dặm. Tuy nhiên các mẹ cũng cần lưu ý rằng, khi mới đầu cho trẻ ăn, mẹ chỉ nên dùng một số lượng nhỏ để bé có thể thích nghi. Với những bé cơ địa kém hay dị ứng thì các mẹ càng phải cẩn trọng hơn. Khi cho bé ăn, các mẹ nên chú ý quan sát biểu hiện của bé, nếu nhận thấy dấu hiệu bất thường thì nên ngừng lại và cho bé đi kiểm tra, tránh dẫn đến tình trạng nặng.   Khi trẻ được 7 tháng tuổi, mẹ có thể bổ sung thêm hải sản vào thức ăn dặm của bé (Ảnh minh họa) Không phải loại hải sản nào cũng là sự chọn thông minh cho trẻ Hải sản tốt cho trẻ: - Cá biển (cá hồi, ca ngừ, cá thu nhỏ…): chứa nhiều omega-3, tốt cho sự phát triển của trẻ. - Cua: Rất giàu vitamin nhóm B, khoáng chất, folate và đặc biệt là lượng protein trong cua hơn hẳn các loại thịt cá khác. Thế nên cua rất tốt cho sự phát triển của con cả về thể chất lẫn trí não - Các loại hải sản có vỏ như hàu, ngao, hến, trai… chứa nhiều kẽm, một vi chất quan trọng với trẻ. - Tôm: Chứa nhiều đạm và canxi nên "siêu" tốt cho sự phát triển của bé Ngoài các hải sản có lợi trên, các mẹ cần tránh cho trẻ ăn cá mập, cá kình, cá kiếm, cá thu lớn…bởi đây là những loại cá chứa hàm lượng thủy ngân cao, không tốt cho trẻ. Tùy theo tháng tuổi mà lượng hải sản dành cho bé sẽ khác nhau Hải sản rất giàu dinh dưỡng, nhiều đạm, vì thế cho trẻ ăn quá nhiều hay quá ít đều không tốt. Nếu ăn quá nhiều có thể gây mất cân bằng dinh dưỡng và tích trữ kim loại nặng trong cơ thể. Tùy theo độ tuổi mà lượng ăn của bé khác nhau, nhưng chỉ nên ăn 3 – 4 bữa/tuần. - Trẻ 7-12 tháng: mỗi bữa có thể ăn 20-30g thịt của cá, tôm (đã bỏ xương, vỏ) nấu với bột, cháo, mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3-4 bữa/tuần.  - Trẻ 1-3 tuổi: mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún, súp…, mỗi bữa ăn 30- 40 g thịt hải sản.  - Trẻ từ 4 tuổi trở lên: có thể ăn 1-2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50 – 60g thịt của hải sản, nếu ăn ghẹ có thể ăn ½ con/bữa, tôm to có thể ăn 1 – 2 con/bữa (100g cả vỏ). Cách chế biến hải sản cho trẻ ăn dặm Ở độ tuổi ăn dặm, cách tốt nhât để chế biến hải sản cho trẻ dễ ăn là lọc lấy thịt, xay hoặc nghiền nhỏ, sau đó nấu chung với thức ăn dặm (bột, cháo) của bé. Nếu là cá đồng nhiều xương, mẹ nên luộc chín cá rồi gỡ xương; cá biển nạc có thể xay sống như xay thịt rồi cho vào nấu bột, nấu cháo cho bé; với cua đồng thì giã lọc lấy nước để nấu bột, cháo. Với các loại hải sản có vỏ thì luộc chín lấy nước nấu cháo, bột, thịt xay băm nhỏ cho vào cháo, bột. Trong quá trình chế biến, các mẹ cần đảm bảo nấu chín, tránh để cho trẻ ăn hải sản chưa được chín. Các mẹ có thể tìm hiểu một số món ăn dặm hải sản dành cho bé như: cháo tôm, cháo ngao mồng tơi, cháo cua bông cải, cháo cá thu, súp ghẹ… Nên chọn hải sản tươi ngon cho bé Khi chế biến bất cứ một món ăn nào cho trẻ, mức độ an toàn là điều mà các mẹ nên quan tâm đầu tiên, không nên vì cảm tính cá nhân gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bé. Khi chọn hải sản hay các loại đồ ăn khác, mẹ nên chọn loại tươi ngon, có nguồn gốc rõ ràng, tránh các loại ôi, chết…   Để đảm bảo an toàn cho bé, mẹ nên chọn hải sản tươi ngon (Ảnh minh họa) Để chọn được các loại cua, cá,... tươi, mẹ nên tham khảo cách chọn như sau: -  Các loại cá: mắt cá trong suốt, toàn thân sáng bóng là tươi ngon -  Tôm: vỏ và thịt gắn liền nhau, thân tôm nguyên vẹn, sáng bóng và có tính đàn hồi -   Cua, ngao: có vỏ ngoài sáng, thân chắc Một vài lưu ý khác khi cho trẻ ăn hải sản - Không nên cho trẻ ăn hoa quả ngay sau khi ăn hải sản: Những chất dinh dưỡng phong phú như đạm, canxi chứa trong tôm, cá sẽ bị giảm đi rất nhiều nếu kết hợp với các loại quả như hồng, nho, ... Nó không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp thụ protein, canxi trong hải sản của cơ thể mà lượng tannin trong trái cây kết hợp với protein và canxi này tạo thành canxi không hòa tan kích thích đường tiêu hóa, và thậm chí sẽ gây ra các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, nôn mửa. - Nếu trong gia đình có tiền sử bị dị ứng với hải sản, mẹ nên cho bé ăn thực phẩm này muộn hơn một chút. Khi cho con ăn cần hết sức từ từ từng chút một để xem bé có phản ứng dị ứng không. - Khi cho trẻ ăn hải sản, uyệt đối không cho bé thử những loại hải sản lạ. - Không nên cho trẻ ăn nhiều những món hải sản chiên bởi khi chiên, dầu mỡ sẽ bão hòa lượng chất béo không no khiến hàm lượng chất dinh dưỡng suy giảm và sản sinh ra peroxit lipid có hại cho sức khỏe.
Xem thêm

3 Đọc thêm

"Mối nguy" khi nêm muối vào cháo ăn dặm

"MỐI NGUY" KHI NÊM MUỐI VÀO CHÁO ĂN DẶM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Việc chế biến đồ ăn cho trẻ có nên thêm muối, nước mắm hay mì chính không luôn là vấn đề gây tranh luận, thậm chí xung đột trong các gia đình Việt. Một số bà mẹ khi chế biến thức ăn cho con thường cố nêm nếm thêm chút muối hoặc nước mắm nhằm mục đích tăng hương vị cho món ăn và giúp bé ngon miệng hơn. Số khác lại kịch liệt phản đối việc cho trẻ ăn muối khi chưa được 1 tuổi. Cơ thể con người cần muối để hoạt động và muối là chất mà cơ thể không tự tái sản xuất. Do đó, việc nêm muối vào khẩu phần ăn hàng ngày là điều cần thiết. Tuy nhiên, các chuyên gia hàng đầu về sức khỏe trẻ em vẫn luôn khuyên các bà mẹ không nên cho con ăn muối. Vì sao?   Không phải cứ cho muối mặn như người lớn trẻ mới ăn được (ảnh minh họa) Trẻ sơ sinh ăn muối sẽ nguy hại đến thận và tim mạch, não bộ. Khi mẹ bắt đầu cho con ăn dặm, thường là vào thời điểm 6 tháng tuổi, thận của trẻ vẫn chưa hoàn thiện để tiêu hóa lượng muối ăn vào. Mặt khác, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc trẻ ăn quá nhiều muối sẽ càng có nguy cơ cao mắc các bệnh về tim mạch, não và cao huyết áp sau này. Ta có thể hiểu như sau: Khi trẻ ăn, cơ thể sẽ tiếp nhận những chất dinh dưỡng cần thiết. Chất thải và các chất không tiêu sẽ được truyền vào máu. Lúc này, thận sẽ có nhiệm vụ lọc. Cơ thể trẻ là một bộ máy còn non nớt và thận lại là một trong những bộ phận mỏng manh nhất. Khi bị làm việc quá tải, thận sẽ rất dễ không lọc hết được lượng muối trẻ tiếp nhận vào. Từ đó, muối đọng lại trong máu tích tụ lâu dần sẽ gây tổn hại cơ thể và não bộ. Muối “ẩn” trong các loại thực phẩm trẻ ăn hàng ngày Cho muối vào thức ăn của trẻ ăn dặm không chỉ nguy hại mà còn là không cần thiết. Muối có tác dụng tạo vị ngon cho món ăn, bảo quản thức ăn được lâu và một số loại thực phẩm khi chế biến lại không thể thiếu muối. Do đó, khi sản xuất, các hãng thực phẩm cũng đã cho rất nhiều muối vào sản phẩm của mình. Có thể kể đến một số loại thực phẩm chế biến sẵn như: pho mát, thịt nguội, xúc xích, mì ăn liền, ngũ cốc ăn liền, sốt salat, bánh mì, hải sản đông lạnh, bột ca cao, đậu phụ, bơ, snack, bánh qui… Lượng muối trẻ sơ sinh cần là vô cùng nhỏ (không nhiều hơn 1gram một ngày cho đến 12 tháng tuổi). Đối với những trẻ bú mẹ, trong sữa mẹ đã có thành phần muối phù hợp với bé. Sữa công thức cũng được bổ sung một lượng muối có tỷ lệ y hệt sữa mẹ. Do đó, với trẻ sơ sinh dưới 1 năm tuổi, khi sữa vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu, lượng muối trẻ nhận được mỗi ngày qua sữa là hoàn toàn đủ cho hoạt động của cơ thể. Liệu con có thể chịu được thức ăn nhạt “vô vị”? Mẹ nếm thử thức ăn của bé sẽ cảm thấy “vô vị” bởi vị giác của chúng ta đã quen với việc phải có muối. Tuy nhiên với trẻ nhỏ, vị giác của các con chỉ như “tờ giấy trắng” không hề biết rằng thức ăn sẽ “có thể” ngon hơn nếu có muối. Từ đó, khó có khả năng trẻ đòi ăn muối nếu chính người lớn chúng ta không tự tạo thói quen cho trẻ. Mặt khác, thức ăn “không muối” không có nghĩa rằng chúng “không hương vị”. Mẹ hoàn toàn có thể sử dụng các gia vị tự nhiên khác để thay thế muối cho con như tỏi, gừng, quế, bạc hà, vani, hạt tiêu, hành, hẹ… Chỉ một lưu ý nhỏ: mẹ hãy chú ý quan sát phản ứng cơ thể con mỗi khi cho bé làm quen với một loại gia vị mới nhé.
Xem thêm

1 Đọc thêm

THỰC HƯ CHUYỆN CHO DẦU ĂN VÀO CHÁO

THỰC HƯ CHUYỆN CHO DẦU ĂN VÀO CHÁO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một độc giả chia sẻ băn khoăn về việc có nên cho dầu ăn vào cháo: "Sơ ri nhà em mới được 7 tháng tuổi. Từ một tháng trước em đã bắt đầu cho con ăn dặm. 2 tuần đầu con tập ăn bột mặn, sau đó chuyển ngay sang ăn cháo xay. Một bữa, em cứ nấu chung cho con gạo tẻ, 1 loại thịt nạc, 1 loại rau củ. Khi cháo chín thì lây ra xay nhuyễn, trộn thêm 1 thìa dầu ăn là cho bé ăn luôn. Trộm vía con ăn rất ngoan và hào hứng". Tuy nhiên, độc nghiệp của độc giả này lại cho rằng: "Người lớn ăn cơm, có ai lại trộn dầu ăn vào cơm không, mà sao các bà các mẹ thi nhau trộn dầu ăn vào cháo của con? Đồ ăn hàng ngày đã đủ lượng dầu mỡ cho con rồi. Ăn cháo cho thêm dầu như chan canh thế kia chỉ khiến con ngấy với biếng ăn. Rõ là ngớ ngẩn" Trao đổi với chúng tôi, bác sĩ Nguyễn Thị Thu Hậu (Trưởng khoa dinh dưỡng, bệnh viện Nhi đồng 2) cho biết: “Việc cho dầu ăn vào cháo, bột của trẻ là bắt buộc chứ không phải là nên hay không nên. Dầu ăn giúp trẻ phát triển, tăng cân, nếu trong chế độ ăn mà không có dầu ăn thì nguy cơ sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng”. Theo bác sĩ Hậu, khi dùng dầu ăn cho trẻ nên dùng đa dạng, không chỉ dùng một loại duy nhất. Phụ huynh không phải cứ thấy quảng cáo trên tivi là bắt ép trẻ phải ăn loại dầu đó, vì có những loại khó ăn. Cho nên, phụ huynh cần lựa chọn loại dầu phù hợp, chú ý dùng các loại dầu một cách cân đối nhất.   Phụ huynh cần lựa chọn loại dầu phù hợp, chú ý dùng các loại dầu một cách cân đối nhất. (ảnh minh hoạ) Khi trẻ ăn dặm, dầu ăn được cho vào cháo hoặc bột, trong một bát cháo có thể cho một muỗng dầu ăn từ 7ml-10ml. “Với các loại dầu ăn cooking (dầu dùng cho chiên xào) thì cho ngay từ đầu hoặc trong khi nấu. Còn loại dầu ăn ghi trên nhãn không chiên, xào hoặc ghi là dầu trộn salad, dầu có chất béo không no như dầu cá hồi, dầu oliu sẽ cho sau khi nấu xong, đã nhấc xuống khỏi bếp”, bác sĩ Hậu lưu ý. Theo các bác sĩ khác, dầu ăn có tác dụng cung cấp năng lượng cho cơ thể, cung cấp các vitamin E, K, đồng thời giúp hòa tan các vitamin như A,D,E,L hấp thụ vào cơ thể. Mỗi bữa ăn của trẻ cần đủ 4 nhóm thức ăn bao gồm: nhóm đường bột ngũ cốc, nhóm chất béo, nhóm chất đạm và và nhóm rau xanh, vitamin, chất khoáng. Với sức khỏe của trẻ, nhóm chất béo có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng. Axit béo sẽ giúp hòa tan vitamin, cung cấp năng lượng, Omega 3 cho não. Khi cho trẻ dùng bất cứ loại dầu ăn nào cũng cần ăn từ ít rồi tăng dần để xem có thích hợp hay không, trẻ có muốn ăn hay không. Khi bảo quản dầu ăn cũng cần chú ý để nơi thoáng, khô ráo, sau khi dùng xong phải đậy nắp kín. Khi chọn dầu ăn cần chú ý hạn sử dụng, chọn sản phẩm uy tín, tránh mua các sản phẩm không rõ nguồn gốc, rẻ tiền.
Xem thêm

1 Đọc thêm

KHÔNG CHO BÉ ĂN BỐC VÌ BẨN, QUÁ “XƯA”!

KHÔNG CHO BÉ ĂN BỐC VÌ BẨN, QUÁ “XƯA”!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Từ trước đến nay, các bà các mẹ vẫn luôn cố gắng xúc cơm cháo cho con càng lâu càng tốt và hạn chế để bé chạm tay vào đồ ăn vì sợ bẩn, sợ phải dọn dẹp. Thậm chí, bất kể khi nào trẻ với tay cầm vào đồ ăn, bé luôn nhận được tiếng quát nạt hay phải nghe tiếng hét “thất thanh” của mẹ và người lớn. Tuy nhiên ngày nay, khi khoa học phát triển và những nghiên cứu mới về trẻ em được thực hiện, các bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng và các nhà khoa học, nhà tâm lý trẻ em đều khẳng định rằng: Cho con ăn bốc hóa ra lại vô cùng “khỏe mẹ, lợi con”. Lợi ích bất ngờ của ăn bốc Chúng ta đều biết, mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt. Có bé rất thích ăn dặm, thích ăn bột và không muốn ăn cứng. Có bé lại chỉ thích nhai nhằn và rất ghét đồ nhuyễn. Có trẻ khi ăn ngồi yên và rất ngoan. Có bé lại liên tục hò hét, đòi cầm đồ chơi, đòi túm lấy thìa khi mẹ xúc cháo…. Do đó, mẹ cần phải dựa theo bản năng làm mẹ của bản thân để “đọc” con mình và lựa chọn cho bé phương pháp ăn hợp lý nhất. Tuy nhiên, theo thông thường, bắt đầu từ khoảng tháng thứ 8,9 trẻ sơ sinh bắt đầu có xu hướng quan tâm đến thức ăn của mình và rất thích cầm nắm thức ăn, với tay vào bát cháo/ bột của mình. Thời điểm này, thay vì ngăn cản con, mẹ nên thoải mái để bé cầm nắm thức ăn.   Trẻ được ăn bốc sẽ tự tin hơn (ảnh minh họa) Giai đoạn 8,9 tháng là thời điểm bé mọc răng lần đầu và trở nên rất thích nghiền, nhai. Để con tự ăn bốc thức ăn mềm nguyên miếng vào thời điểm này là mẹ đã tận dụng đúng “khung giờ vàng” trong giai đoạn phát triển của con để dạy bé tập nhai và tập ăn thô. Những trẻ được ăn bốc vào thời điểm này thường biết ăn cơm sớm hơn các bạn cùng tháng tuổi. Thêm vào đó, giai đoạn 8,9 tháng cũng là “thời điểm vàng” để bé tập luyện kỹ năng cầm theo dạng “gọng kìm”, tức là sử dụng hai ngón tay: ngón cái và ngón trỏ để cầm nắm đồ vật. Ăn bốc chính là một phương pháp hữu hiệu để bé học cách cầm hai ngón và kết hợp kỹ năng tay – mắt – miệng. Những bé được ăn bốc vào thời điểm này thường biết cầm nắm khéo léo hơn những trẻ cùng tháng tuổi. Một ưu điểm nữa không thể không kể đến: ăn bốc giúp trẻ phát huy trí não, tạo điều kiện cho bé tìm hiểu kết cấu, hình dạng của từng loại thức ăn. Nhận thức về thế giới xung quanh của bé cũng vì thế mà nhanh hơn các trẻ cùng tháng tuổi. Trẻ chưa đủ răng hoặc chưa mọc răng vào giai đoạn này liệu có thể ăn bốc? Nếu băn khoăn về chuyện nhai nghiền của con, mẹ nên biết rằng với phương pháp ăn dặm BLW (Baby Led Weaning – Ăn dặm bé tự chỉ huy) hiện đang được nhiều bà mẹ trên thế giới ưa chuộng – trẻ thậm chí còn ăn bốc nguyên miếng từ tháng thứ 6. Trên thực tế, trẻ sơ sinh không cần nhai bằng răng. Bé hoàn toàn có thể nghiền, xé thực phẩm nhờ nướu của mình. Tuy nhiên, mẹ cũng nên đảm bảo chỉ cho bé ăn bốc những thực phẩm đủ mềm và dễ nuốt hoặc đơn giản là khi vào miệng sẽ dễ dàng tan ra. Vậy thực phẩm nào hợp lý để cho trẻ tập ăn bốc, xin mách mẹ danh sách thức ăn lý tưởng xếp theo trình tự từ dễ đến khó:   Đồ ăn bốc cho bé cần 2 yêu cầu chính là đủ mềm và đủ vừa miệng (ảnh minh họa) - Rau hấp: thanh cà rốt hoặc khoai lang, khoai tây, súp lơ xanh. - Trái cây chín mềm: chuối, bơ hoặc xoài, dưa hấu, thanh long.- Tinh bột: cơm nát nắm thành ngón tay cái hoặc mì nui luộc nhừ, trộn cùng pho mát. - Viên đậu phụ tươi cắt nhỏ- Quả trứng luộc cắt làm tư (Nếu với trẻ 8,9 tháng có thể bị dị ứng lòng trắng trứng, mẹ chỉ nên cho bé ăn lòng đỏ. - Thịt cá quả phi lê hấp.- Lườn gà xé nhỏ- Viên thịt heo, tôm băm nhừ hấp chín. - Bánh qui ăn dặm tùy tháng tuổi. Những lưu ý thêm cho bé tập ăn bốc - Trẻ tập ăn bốc thường không ăn nhiều. Mẹ cần đảm bảo con vẫn ăn đủ lượng cháo/bột và sữa cần thiết trong một ngày. - Bé sẽ muốn ngửi, nếm, bóp nát hay cầm ném, vứt thức ăn…Đấy hoàn toàn là điều bình thường và là quyền của con. Mẹ nên tôn trọng và đừng cố hướng dẫn trẻ cách cầm hay cách ăn. - Đảm bảo vệ sinh là yêu cầu số một mẹ cần chú ý. Nếu bé ăn trên bàn ăn, hãy lau dọn bàn ăn thật sạch sẽ. Nếu bé ăn bốc dưới đất, hãy chuẩn bị cho con một khay hoặc mâm đựng thức ăn. - Luôn ngồi cạnh bé khi con ăn bốc để đảm bảo an toàn và xử lỷ kịp thời khi bé bị hóc hay nghẹn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Muốn con thông minh phải ăn nhiều chất sắt

MUỐN CON THÔNG MINH PHẢI ĂN NHIỀU CHẤT SẮT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các bé sơ sinh khi ra đời đều có một nguồn dự trữ sắt dồi dào, thường đủ cho nhu cầu của bé trong vòng 4-6 tháng. Sữa mẹ và sữa công thức chứa lượng sắt cần thiết cho nhu cầu của bé, nhưng sữa mẹ giúp bé hấp thụ dưỡng chất này tốt hơn. Sau 4-6 tháng, khi trẻ bắt đầu tập ăn những thức ăn rắn cũng là lúc mẹ nên bổ sung các thực phẩm chứa sắt cho con. Ngũ cốc chính là thực phẩm cung cấp dồi dào chất sắt nhất dành cho bé. Tầm quan trọng của chất sắt Sắt là nhân tố quan trọng để cơ thể sản xuất hemoglobin, giúp hồng cầu vận chuyển oxy đến các mô và cơ quan trong cơ thể. Thiếu sắt có thể dẫn đến thiếu máu, làm giảm khả năng vận động thông thường ở trẻ như đi, nói. Alan Greene, bác sĩ nhi khoa của DrGreene.com nhận định rằng trẻ bị thiếu máu khả năng mắc bệnh cao hơn so với những đứa trẻ khác. Da thường nhợt nhạt, chán ăn, giảm khả năng tập trung và học tập. Thức phẩm chứa hàm lượng sắt cao nhất Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng ngũ cốc tăng cường là thực phẩm tăng cường chất sắt tốt nhất cho trẻ sơ sinh. Không chỉ chứa hàm lượng sắt cao mà ngũ cốc rất có lợi cho hệ tiêu hóa của trẻ. Chỉ với khoảng ¾ cốc có thể cung cấp cho trẻ 18mg sắt mỗi ngày.   Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng ngũ cốc tăng cường chất sắt là thực phẩm tốt nhất cho trẻ sơ sinh (Ảnh minh họa) Hay trong mỗi khẩu phần bột yến mạch cung cấp 11mg sắt, đáp ứng nhu cầu hàng ngày của trẻ từ 7-12 tháng tuổi. Các sản phẩm ngũ cốc chứa hàm lượng sắt khác nhau, vì vậy trước khi mua cho bé, các mẹ cần kiểm tra kỹ để xác định lượng sắt trong mỗi loại. Các thực phẩm chứa sắt khác Gan gà cũng là một trong những thực phẩm chứa sắt tốt cho bé. Trong gan gà cũng chứa lượng sắt khá cao, trung bình khoảng 11mg trong mỗi khẩu phần. Các loại thịt không có lợi cho hệ tiêu hóa của bé giai đoạn này, vì vậy các mẹ cần xay nhuyễn gan trước khi cho bé ăn. Đậu nghiền, đậu lăng, cải bó xôi hay lòng đỏ trứng cũng là nguồn cung cấp chất sắt tương đối cho bé. Lưu ý trứng có thể gây dị ứng, vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sỹ trước khi cho bé ăn loại thực phẩm này. Lưu ý Khi bé không hấp thụ được các loại thực phẩm giàu chất sắt, cứ sau nửa thìa thức ăn, bạn có thể bổ sung 1 chút sữa mẹ hoặc sữa công thức cho bé. Mặc dù các loại trái cây có múi không khuyến khích cho trẻ dưới 12 tháng tuổi, nhưng một số loại thực phẩm giàu vitamin C như mơ, cà chua, dâu tây, dưa và bông cải xanh lại giúp tăng khả năng hấp thu sắt ở trẻ. Để đảm bảo sức khỏe cho bé  trong những năm đầu đời, mẹ nên bổ sung những thực phẩm giàu sắt cho bé  và đưa con đi xét nghiệm máu thường xuyên nhằm phát hiện kịp thời tình trạng thiếu sắt trong cơ thể.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Lỗi "khổ lắm nói mãi" khi nêm muối vào cháo, bột của trẻ

LỖI "KHỔ LẮM NÓI MÃI" KHI NÊM MUỐI VÀO CHÁO, BỘT CỦA TRẺ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ở trẻ mới ăn dặm, bé hoàn toàn chưa biết phân biệt mặn nhạt là gì. Khẩu vị của bé hoàn toàn phụ thuộc vào khẩu vị của người lớn. Các bà mẹ thường có thói quen nếm thức ăn cho trẻ, và cứ nghĩ rằng trẻ em cũng giống mình, phải vừa miệng thì trẻ ăn mới ngon. Tuy nhiên, quan niệm này tiềm ẩn nguy cơ lâu dài cho sức khỏe của trẻ. Thêm muối vào thức ăn dặm – Hại thận Nồng độ muối cũng như nhiều nguyên tố hóa học khác được giữ ở mức tương đối cân bằng nhờ vào hoạt động của hệ thần kinh, nội tiết, tiết niệu và tiêu hóa. Vì thế, nếu trẻ bị thiếu muối ít, cơ thể sẽ tự thích ứng bằng cách làm giảm đào thải natri qua nước tiểu và mồ hôi. Cơ thể cũng sẽ có cảm giác thèm ăn mặn hơn nên sẽ sớm có được lượng muối cần thiết trong cơ thể. Việc cho muối vào cháo của trẻ có thể gây ảnh hưởng đến thận. Chức năng thận của trẻ 7 tháng tuổi rất non nớt và việc nạp quá nhiều muối có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng. Nếu ăn muối quá nhiều khiến thận làm việc nhiều, lâu dài dễ đưa đến cao huyết áp, tổn hại thận. Thận của bé chưa hoàn thiện về mặt chức năng, việc dùng mắm, muối có thể là gánh nặng cho thận, chưa kể thận chưa đủ khả năng xử lý được lượng muối lớn trong cơ thể, có thể gây ứ đọng muối dẫn đến cao huyết áp, phù thũng, rối loạn nhịp tim,… Ngoài ra, cũng có những bằng chứng cho thấy ăn nhiều muối trong giai đoạn ăn dặm sẽ gây tổn thương não bộ. Khi mẹ nêm muối/mắm khi nấu bột, cháo sẽ tập cho bé thói quen ăn nhiều muối khi trẻ lớn hơn. Hậu quả là bé sẽ phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp, tim mạch trong tương lai.   Chức năng thận của trẻ 7 tháng tuổi rất non nớt và việc nạp quá nhiều muối có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng ở thận (Ảnh minh họa) Bé dưới 1 tuổi có thực sự cần muối? Natri và Clo, thành phần chủ yếu của muối, là hai nguyên tố có vai trò hết sức quan trọng trong cân bằng thể dịch trong cơ thể, sự tồn tại và hoạt động bình thường của tất cả các tế bào, hoạt động chức năng của tất cả các cơ quan và bộ phận trong cơ thể. Điều này có nghĩa rằng dù là bé mới sinh hay đã lớn đều cần muối. Tuy nhiên, tùy vào từng độ tuổi mà lượng muối khác nhau. Cụ thể: - Trẻ từ 6 tháng tuổi đến 1 tuổi nhu cầu muối khoảng 1g. - Trẻ trên 1 tuổi cần khoảng 2g. - Trẻ 1-3 tuổi: 1,5g/ngày. - Trẻ 4-8 tuổi: 1,9g/ngày. - Trẻ 9-13 tuổi: 2,2g/ngày. - Trẻ 14-18 tuổi: 2,3g/ngày. Mẹ cần chú ý cho muối vào cháo của trẻ với lượng vừa phải phù hợp với từng độ tuổi. Bởi ở các thực phẩm tự nhiên như ngũ cốc, hoa quả, thịt gia cầm, cá, trứng, rau tươi đều có 1 lượng muối nhất định. Với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 1 tuổi, lượng muối trong các thực phẩm này hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu muối của cơ thể trẻ. Với các công ty lớn và các nhãn hàng có uy tín, hàm lượng muối trong các loại bột ngũ cốc ăn dặm thường được tính toán phù hợp với nhu cầu của trẻ. Với các loại rau đông lạnh, phô mai, nước sốt, khoai tây chiên, thịt nguội… đa phần đều bổ sung muối, nếu không nói là có hàm lượng muối cao, thì không nên cho trẻ 7 tháng tuổi ăn. Do đó, khi dùng bất cứ thực phẩm công nghiệp nào cho bé, mẹ cần đọc lượng muối ghi trên bao bì sản phẩm. Từ đó, mẹ gia giảm gia vị sao cho phù hợp nhưng vẫn luôn nhớ phải nhạt. Cho bé ăn mặn lâu ngày sẽ tạo thói quen không tốt. Cần hạn chế sự lệ thuộc vào độ mặn của thức ăn cho bé. Một số lưu ý khác cho các mẹ khi nấu cháo ăn dặm cho trẻ: - Khi mẹ nếm bột/cháo của bé thấy vừa miệng mẹ có nghĩa là bột/cháo đó là mặn so với bé. Vì vậy, mẹ nêm lượng nước mắm vừa phải, ăn thấy hơi nhạt một chút là vừa cho bé. - Nên cho bé ăn cả phần cái và phần nước trong bột/cháo mới cung cấp đủ dưỡng chất cho bé. Không nên chỉ ninh nhừ bột/cháo rồi gạn lấy phần nước cho bé uống. - Có thể cho một lượng phô mai phù hợp vào bát bột/cháo của bé thay thế cho nước mắm/muối. Vì phomai cũng có vị mặn. Nên cho phomai vào bát bột của bé sau khi cho dầu ăn. Như vậy, bát bột/cháo của bé cũng sẽ thơm, ngon, ngậy và không quá nhạt. - Không nên dùng nước hầm xương nấu cháo cho trẻ. Mặc dù, nước hầm xương cũng chứa nhiều chất béo nhưng đó chỉ là chất béo động vật, khó tiêu hóa. Nếu trẻ ăn quá nhiều sẽ dẫn đến bị tiêu chảy. Cho muối vào cháo cho trẻ không hề tốt cho các mẹ vẫn nghĩ. Vì vậy, đối với trẻ ở lứa tuổi mới ăn dặm mẹ nên cho trẻ ăn nhạt, như vậy sẽ tránh được thói quen ăn mặn sau này, phòng ngừa được các bệnh về tim mạch trong tương lai.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NHỮNG THỰC PHẨM 90% MẸ CHO CON ĂN SAI CÁCH

NHỮNG THỰC PHẨM 90% MẸ CHO CON ĂN SAI CÁCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay, do kinh tế phát triển, đời sống được cải thiện nên ngoài các thực phẩm phổ biến như cháo, thịt, cá...cho con hàng ngày, hầu hết các mẹ đều có thói quen bổ sung thêm cho con những loại thực phẩm dinh dưỡng khác như sữa chua, váng sữa hay phô mai, hoa quả…Tuy nhiên, cho con ăn thế nào, liều lượng ra sao để bé có thể hấp thụ được tốt nhất thì không phải bà mẹ nào cũng biết. Dưới đây là một số lưu ý loại thực phẩm mẹ cho con ăn sai cách,ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ của trẻ. Phomai có nhiều chất dinh dưỡng nên cứ con ăn thoải mái? Phô mai là một trong những món ăn mới đây rất được mẹ Việt chuộng vì độ thơm ngon và hàm lượng dinh dưỡng tuyệt vời. Các bác sĩ dinh dưỡng khuyên mẹ có thể cho bé sử dụng phô mai từ khi bé bắt đầu bước vào tuổi ăn dặm (tức là 6 tháng tuổi) nhưng nên cho bé ăn từ từ từng ít một và thăm dò phản ứng của con.  Tuy nhiên vẫn có rất nhiều trường hợp mẹ có thói quen cho phô mai vào cháo của con “vô tội vạ” mà không nghĩ đến những hậu quả sau đó.   Cho trẻ ăn quá nhiều phomai sẽ không có lợi cho sức khỏe (Ảnh minh họa) Việc trẻ ăn quá nhiều phomai không tốt một chút nào cho sức khỏe của con. Mẹ nên biết rằng lượng chất béo trong phô mai khá nhiều do đó khi nấu ăn cho bé mẹ nên gia giảm lượng dầu ăn. Mẹ đặc biệt lưu ý đừng kết hợp phô mai với các thực phẩm khác như cua, lươn, rau mồng tơi hay rau dền vì sẽ khiến bé dễ bị đau bụng. Nhóm thực phẩm có thể kết hợp với phô mai kích thích sự ngon miệng cho bé là khoai tây, cà rốt, thịt bò, thịt gà,… Bên cạnh đó, mẹ cần lưu ý rằng phomai tuy có chứa nhiều chất đạm, chất béo và canxi nhưng lại không hàm chứa nhiều loại vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Chính vì vậy, mẹ chỉ nên cho con ăn phomai như một bữa phụ chứ không thể thay thế hoàn toàn  sữa, thịt, cá,… để nấu bột, nấu cháo cho bé. Cho con sử dụng váng sữa như một sản phẩm thay thế sữa và sữa mẹ? Theo các chuyên gia dinh dưỡng, váng sữa là thực phẩm dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe của trẻ nhưng không phải người mẹ nào cũng có đủ kiến thức về sản phẩm này để cho bé sử dụng một cách hiệu quả. Một số phụ huynh sợ con ăn váng sữa sẽ bị béo phì nên cấm bé dù trẻ rất thích, số khác lại cho con ăn tùy tiện, bất cứ khi nào trẻ thèm và đòi đều cho ăn khiến trẻ ăn nhiều quá, ăn vào các thời điểm không thích hợp như buổi tối, ngay sau khi vừa ăn bữa chính. Váng sữa rất giàu chất béo, nhiều năng lượng nên bố mẹ không nên cho trẻ ăn vào ngay trước hay gần đến bữa chính vì sẽ khiến bé ngang dạ, không muốn ăn gì nữa, cũng không nên ăn vào tối sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ.  HIện nay có rất nhiều mẹ cho con ăn váng sữa như một sản phẩm thay thế sữa và sữa mẹ. Tuy nhiên việc thay thế này không hề có lợi cho sự phát triển của bé. Vì váng sữa không chứa đủ các chất dinh dưỡng như trong sữa mẹ, đặc biệt là hàm lượng đạm trong váng sữa thấp. Nếu dùng váng sữa thay cho sữa mẹ, bé sẽ bị thiếu chất đạm, dẫn đến suy dinh dưỡng, thiếu máu… do thiếu các vi chất dinh dưỡng. Do đó, các mẹ chỉ nên sử dụng váng sữa như thực phẩm bổ sung cho bé.  Cho trẻ ăn sữa chua vào buổi tối sẽ không có tác dụng? Khi nhắc đến các thực phẩm mẹ cho con ăn sai cách thì không thể không kể đến sữa chua.Sữa chua luôn được các mẹ tin cậy bởi tác dụng của nó đem lại cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên có nhiều mẹ vẫn còn có những hiểu lầm sai hại khi cho trẻ ăn loại thực phẩm dinh dưỡng này. Các mẹ nghĩ rằng cho trẻ ăn sữa chua buổi tối sẽ chẳng hấp thụ được gì lại phí tiền, tuy nhiên theo các bác sĩ dinh dưỡng thì các mẹ cần thay đổi ngay suy nghĩ này. Không cho trẻ ăn sữa chua buổi tối là mẹ đã bỏ qua thời điểm vàng giúp con tận dụng tối đa lượng canxi có trong sữa chua. Sau khi ăn tối khoảng 30 phút đến 2 tiếng, đây sẽ là thời điểm ăn sữa chua tốt nhất. Tuy nhiên, theo các bác sỹ thì để tối đa hóa hiệu quả của canxi trong sữa chua, tốt nhất là mẹ nên cho bé ăn sữa chua vào bữa tối trước khi đi ngủ. Không những vậy, nhiều mẹ còn cho ăn sữa chua hâm nóng bởi nghĩ rằng ăn như vậy sẽ tránh cho con bị viêm họng do lạnh. Tuy nhiên theo các bác sĩ chuyên gia, đây là một việc làm cấm kị khi cho trẻ ăn sữa chua. Tác dụng chủ yếu của sữa chua là do nó chứa các vi khuẩn có ích, giúp tăng cường sự tiêu hóa ở trẻ do đó khi hâm trong lò vi sóng, nếu ở nhiệt độ cao có thể giết chết các vi khuẩn có ích này, khiến sữa chua sẽ không còn tác dụng nữa. Muốn con hấp thu tốt mọi dưỡng chất trong sữa chua và không bị viêm họng do lạnh thì cách tốt nhất là mẹ lấy sữa chua ra khỏi tủ lạnh khoảng 45 phút trước khi ăn hoặc mẹ có thể ngâm sữa chua với công thức: 2 sôi 1 lạnh. Đó chỉ là 2 trong số ít rất nhiều các hiểu lầm của mẹ khi cho trẻ ăn sữa chua, để tìm hiểu thêm chi tiết, các mẹ có thể tham khảo bài viết này Hiểu lầm tai hại của mẹ khi cho trẻ ăn sữa chua. Cho trẻ ăn hoa quả tráng miệng sau bữa ăn là hợp lý? Hoa quả có rất nhiều vitamin, trẻ ăn hoa quả rất tốt cho sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu cho con ăn không đúng cách, mẹ sẽ gây ra tình trạng lãng phí cả tiền của và công sức mà con lại không hấp thụ được gì. Không ít mà rất nhiều mẹ có thói quen cho trẻ ăn hoa quả để tráng miệng sau bữa ăn. Vậy nhưng đây lại là một sai lầm tai hại bởi hoa quả chỉ nên được ăn với một cái dạ dày “rỗng”, tức là trước đó, trẻ chưa từng được ăn gì. Nếu sau khi ăn, trẻ chưa kịp tiêu hóa hết các thức ăn cũ, mẹ lại vội vàng thúc ép con ăn thêm hoa quả sẽ khiến trẻ khó tiêu, ảnh hưởng không tốt tới dạ dày. Do đó, thời điểm thích hợp nhất để cho trẻ ăn hoa quả là khoảng 30 phút trước khi mẹ định cho bé ăn bất cứ thứ gì.   Cho trẻ ăn hoa quả ngay sau bữa ăn là một việc làm không nên (Ảnh minh họa) Một sai lầm khác khi mẹ cho trẻ ăn hoa quả là cố ép lấy nước uống cho nhiều. Thực tế, một số loại nước ép hoa quả đóng hộp trên thị trường có 100% là hoá chất tổng hợp. Nhưng kể cả khi mẹ đảm bảo chỉ ép cho con uống hoa quả tươi, đó vẫn là một ý tưởng không hay. Hoa quả ép, chẳng khác gì nước có vị hoa quả, nhưng tất cả các chất có lợi đều đã bị vứt đi. Vì vậy thay vì cho hoa quả vào máy xay và xay nhuyễn chúng, mẹ nên dùng tay để dầm, làm như vậy vừa không sợ mất chất vừa đảm bảo an toàn cho trẻ.  Chỉ cần dùng 1 loại dầu ăn cho trẻ là được? Dầu ăn cũng được xếp loại vào danh sách các thực phẩm mẹ cho con ăn sai cách. Đây là nhóm chất dinh dưỡng rất quan trọng, đóng vai trò chính trong cung cấp năng lượng cho trẻ. Đặc biệt là các chất béo không bão hòa như omega 3 loại chất chiếm 60% chất cần thiết cho não bộ, giúp não điều khiển đúng hành vi, tăng cường trí nhớ và nhận thức. Khi trẻ bắt đầu đến giai đoạn ăn dặm, mẹ có thể bổ sung thêm dầu ăn vào bột giúp bé ăn ngon miệng và no lâu hơn. Tuy nhiên, mẹ đừng chủ quan khi nghĩ dầu ăn có thể cho vào cháo, bột bất cứ lúc nào. Một muỗng dầu ăn cho vào thức ăn của trẻ khi chuẩn bị bắc khỏi bếp nấu sẽ có tác dụng tốt hơn đối với sự phát triển của bé vì khi đó dầu chưa bị biến chất do tác động của nhiệt độ cao và sẽ dễ hấp thu hơn. Có nhiều mẹ quanh năm ngày tháng chỉ sử dụng nguyên 1 loại dầu ăn cho con mà không có bất sự sự thay đổi nào. Tuy nhiên theo các chuyên gia dinh dưỡng, mẹ nên dùng xen kẽ các loại dầu ăn để cung cấp đa dạng dưỡng chất cho trẻ. Bởi trong giai đoạn này, trẻ cần được cung cấp đầy đủ và đa dạng chất béo từ cả hai nguồn động, thực vật, đặc biệt là DHA, omega 3 có nhiều trong dầu cá hồi và một số loại dầu thực vật.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHẤM ĐIỂM 6 LOẠI THỊT "CHẤT" NHẤT CHO CON

CHẤM ĐIỂM 6 LOẠI THỊT "CHẤT" NHẤT CHO CON

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bấy lâu nay các bà mẹ chỉ hay truyền tai nhau loại rau nào thì tốt, ăn quả nào thì nhiều vitamin. Vậy nhưng với vấn đề thịt, nhiều chị em thường thờ ở cho qua vì nghĩ rằng thịt nào cũng vậy. Tuy nhiên, không chỉ có sự khác nhau về dinh dưỡng giữa các loại thịt mà ngay trong một loại thịt lợn cũng có thể chia ra nhiều loại: nạc vai, mông, bụng, de sườn, nạc thăn, móng giò….với giá trị dinh dưỡng khác nhau. Xin mách mẹ cách chọn thịt và “top” những loại thịt nhiều dinh dưỡng nhất cho con 1. Thịt bò Xếp hạng: Bò ****; Bê *** Các loại thịt đỏ như thịt bò luôn có tiếng trong việc chứa nhiều chất sắt và folate cho trẻ. Thịt bò cũng là một trong những loại thịt trẻ sơ sinh dễ tiêu hóa nhất. Tuy nhiên, không phải miếng thịt bò nào cũng nhiều chất như nhau. Thịt bò được phân loại dựa theo lớp thịt và hàm lượng chất béo có trong thịt. Càng nhiều chất béo thì thịt càng mềm.   Các loại thịt đỏ như bò, bê có rất nhiều sắt và folate cho trẻ (ảnh minh họa) Thông thường khi lựa chọn thịt bò cho trẻ, mẹ nên chọn loại thịt nạc. có khoảng 80% nạc và 20% chất béo. Để biết đâu là miếng bò nhiều chất béo, mẹ có thể nhìn màu sắc của miếng thịt: những miếng thị có màu sáng và các sợi mỡ chạy dọc như vân cẩm thạch thì sẽ có nhiều chất béo hơn, thịt màu càng tối thì càng có ít chất béo. Những phần thịt bò nhiều chất béo nhất là: Dẻ sườn bò, Ức bò. Phần thịt bò hợp cho trẻ nhất là filet hay còn gọi là thăn bò. Phần thịt thăn bò này vừa mềm, lại không có quá nhiều sợi mỡ, phù hợp cho bé ăn dặm 2. Thịt gà Xếp hạng: *** Thịt gia cầm thường được mẹ Tây sử dụng như món đạm đầu tiên của trẻ ăn dặm.  Trong đó, thịt gà là ưu tiên hàng đầu vì ít mỡ và nạc hơn thịt đỏ. Tuy nhiên, khi chọn thịt gà cho bé, mẹ nên lưu ý: Loại thịt: Từng phần thịt gà lại có lượng calo và chất béo khác nhau. Thường những phần thịt trắng như ức hay lườn sẽ ít calo, chất béo và cholesterol  hơn thịt nâu như đùi và má đùi. Thịt cánh gà bỏ da cũng thuộc loại ngon bổ và là lựa chọn tốt cho bé.   Thịt gà là loại thịt trắng lành và thường được dùng làm thức ăn đạm đầu tiên của trẻ (ảnh minh họa) Màu sắc: Mỗi vùng thịt trắng hay thịt nâu của gà đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng. Thịt trắng thì nạc và ít cholesterol hơn thịt nâu. Tuy nhiên thịt nâu lại chứa nhiều vitamin B, sắt, chất béo và calo. Khi mua gà cho con, mẹ có thể chọn loại thịt đùi nếu muốn tăng năng lượng cho trẻ  mà thay thế thịt đỏ như bò. Da gà: Thực tế thì da gà không phải là có hại cho trẻ nếu bé đã trên 1 tuổi. Tuy nhiên vì khi nấu nướng, chất béo có trong thịt gà sẽ thoát hết ra da, do đó mẹ không nên cho bé ăn nhiều hoặc bỏ da trước khi chế biến là tốt nhất. Phần thịt gà nhiều chất béo và calo nhất là đùi nguyên da. Phần ít nhất là ức gà bỏ da. 3. Thịt heo Xếp hạng: ****   Thịt thăn heo giàu vitamin B nhất trong các loại thịt (ảnh minh họa) Cũng như thịt bò và thịt gà, từng phần khác nhau của heo cũng cho lượng calo và chất béo khác nhau. Phần thịt heo nạc nhất là thịt thăn, tuy nhiên, những phần thịt khác như sườn nạc cũng rất hợp cho trẻ. Phần thịt bé nên tránh ăn vì chưa tiêu hóa được là thịt ba chỉ. Thịt thăn heo có rất nhiều vitamin B1 (thiamin) rất tốt cho trẻ biếng ăn, kích thích vị giác. Ngoài ra, thăn heo còn giàu phốt pho, vitamin B12, protein cao và ít chất béo. Thịt thăn heo được coi là giàu vitamin B và protein nhất so với thịt bò và gà. 4. Cá Xếp hạng ***** Cá là một loại thực phẩm đạm tuyệt vời. Không chỉ giàu protein, cá còn có rất nhiều axit béo omega 3 tốt cho não bộ, tim mạch và mắt của trẻ. Các loại cá như cá hồi, cá quả, cá trắm đen là những gợi ý tuyệt vời cho trẻ ăn dặm bởi lượng chất dinh dưỡng cao, ít xương, lành tính.   Cá là thực phẩm đạm số 1 cho bé (ảnh minh họa) Tuy nhiên khi cho trẻ ăn cá, mẹ lưu ý không nên cho bé ăn nhiều các loại cá biển sâu như cá thu, cá ngữ vì chúng có hàm lượng thủy ngân cao. 5. Vịt Xếp hạng: ** Mặc dù trông vịt có vẻ rất béo và nhiều mỡ, nhưng nếu lọc da, một miếng thịt vịt nạc cũng chỉ chứa lượng chất béo bằng một miếng thịt cừu nướng. Vịt cũng có nhiều sắt nhưng không phải quá giàu, thêm vào đó, hàm lượng cholesterol của thịt vịt khá cao, gấp đôi thịt bò. Do đó, mẹ chỉ nên cho bé ăn vịt  để đổi món và làm phong phú thực đơn. 6. Tôm Xếp hạng: ***   Tôm ngon, ngọt, nhiều omega 3 nhưng lại có thành phần cholesterol hơi cao (ảnh minh họa) Trong tôm có nhiều vitamin B12, axit béo Omega 3 góp phần tăng cường sự phát triển trí tuệ và thị lực của bé. Tuy nhiên, cho bé ăn tôm quá nhiều và liên tục có thể làm tăng 7% Cholesterol xấu. Vì vậy mẹ chỉ nên cho con ăn tôm đổi món thỉnh thoảng. Một lưu ý nữa cho mẹ: vỏ tôm không có nhiều canxi. Do đó khi chế biến tôm cho bé, mẹ đừng tiếc mà bóc bỏ vỏ tôm, như vậy sẽ an toàn hơn cho trẻ. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề