MẪU VĂN BẢN THỎA THUẬN HỢP TÁC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "MẪU VĂN BẢN THỎA THUẬN HỢP TÁC":

MẪU THỎA THUẬN HỢP TÁC

MẪU THỎA THUẬN HỢP TÁC

Mẫu văn bản này dùng cho các cá nhân hoặc các chủ đầu tư, các công ty muốn hợp tác kinh doanh hoặc đầu tư trong mọi lĩnh vực.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc


THỎA THUẬN HỢP TÁC
Số: …..HDHTKD
……., ngày…. tháng ……năm …….
Chúng tôi gồm có:
1. Công ty ……………………………………. …………………………………………..(gọi tắt là Bên A):
Trụ sở: …………………………………………………………………………………………………………...
GCNĐKKD số: …………………………………………………………………………………………………..
Số tài khoản:……………………………………………………………………………………………………...
Chủ tài khoản : …………………………………………………………………………………………………..
Điện thoại: ………………………..
Người đại diện: ………………………………………………………………………………………………….
Chức vụ: …………………………………………………………………………………………………………
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KINH TẾ NĂM 2014 CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ LOGISTICSHẢI TIẾN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KINH TẾ NĂM 2014 CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ LOGISTICSHẢI TIẾN

BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: PHÁP LUẬT KINH TẾMỤC LỤCHọc viên: Bùi Quốc Huy – Lớp: QLKT 2-2 11BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: PHÁP LUẬT KINH TẾLỜI MỞ ĐẦULuật kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hànhhoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức,quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau vàvới các cơ quan quản lý nhà nước. Cùng tồn tại và phát triển song song với luậtdân sự, luật kinh tế giúp Nhà nước can thiệp một cách hợp pháp vào đời sốngkinh tế, thông qua luật kinh tế Nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các tổ chức,đơn vị kinh tế, thông qua luật kinh tế, Nhà nước điều chỉnh hành vi kinh doanhcủa các chủ thể kinh doanh. Trong hệ thống nghành luật kinh tế nước ta, chếđịnh về hợp đồng kinh tế là một trong những nội dung quan trọng. Mọi hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của Nhà nước hay tư nhân đều có liên quan đến hợpđồng kinh tế. Nước ta hiện nay, nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần, pháttriển bình đẳng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong việc xây dựng và thựchiện kế hoạch của mình, để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bịgián đoạn, các doanh nghiệp hoạt động trên tất cả các lĩnh vực khác nhau đềunhận thức rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hợp tác kinh tế.Các bên phải có sự thỏa thuận, pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành vớinhững quy định chung được áp dụng đối với các doanh nghiệp để đảm bảo thựchiện tốt nghĩa vụ của mình trong kinh doanh.Để có thể đứng vững được trên thị trường đầy thử thách, công ty Cổ phầnThương mại và dịch vụ Logistic Thế giới mới đã từng bước khẳng định tên tuổi
Xem thêm

29 Đọc thêm

HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN TQM

HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN TQM

Trách nhiệm về chất lượng cĩ thể được cụ thể hĩa bằng các cơng việc sau : - _Theo dõi các thủ tục đã được thỏa thuận và viết thành văn bản._ _- Sử dụng vật tư, thiết bị một cách đúng đắn[r]

31 Đọc thêm

 THỎA THUẬN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

THỎA THUẬN CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

1.2 Tất cả các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ và các văn bản liên quan về Hợp đồng lao động và Hợp đồng Đào tạo có chữ ký của hai Bên sẽ được tự động chấm dứt từ ngày ký Thỏa Thuận này.. H[r]

2 Đọc thêm

CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.Quy định này là thừa bởi vì tại Điều về hiệu lực của văn bản thỏa thuậnphân chia tài sản chung đã có một quy định tương tự đó là: “Quyền, nghĩa vụ vềtài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tàisản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏathuận khác”. Về bản chất hai quy định này không khác nhau. Như vậy, có sựnhầm lần giữa hậu quả và hiệu lực của văn bản thỏa thuận này.4. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung- Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyềnthỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung.Lớp: Cao học luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Khóa 204Họ và tên: Trần Quốc ViệtVề quy định này, có một nội dung cần phải bàn, đó là: Sau khi chia tài sảnchung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lựccủa việc chia tài sản chung. Sau khi chấm dứt hiệu lực, thì các tài sản đã chia làtài sản riêng hay chung. Nếu là tài sản riêng thì mâu thuẫn với chính quy địnhnày. Nếu là tài sản chung thì quy định này có phần chưa hợp lý. Bởi khi đó,phần tài sản đã chia cho mỗi người là tài sản riêng của từng người. Phần tài sảnnày không thể biến thành tài sản chung khi các bên chấm dứt hiệu lực văn bảnchia tài sản. Mà nó chỉ trở thành tài sản chung khi các bên thỏa thuận chuyểncác tài sản đó bằng tài sản chung.Ngoài ra, “việc chấm dứt hiệu lực của văn bản phân chia tài sản chung”không phải là căn cứ để xác lập tài sản chung theo Luật. Quy định này tạo ra sự“vòng vo” về mặt luật pháp.- Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài
Xem thêm

11 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG CHI NHÁNH LIỄU GIAI

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG CHI NHÁNH LIỄU GIAI

văn đƣợc chia làm bốn chƣơng:Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt độngbancassurance.Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu luận văn.Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động bancassurance tại VPBank Chi nhánh Liễu Giai.Chƣơng 4: Giải pháp phát triển hoạt động bancassurance tại VPBank Chinhánh Liễu Giai.3CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứuCó thể nói rằng đối với Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung thì sảnphẩm Bancassurance thực sự là một cơ hội với nhiều thách thức. Tại Việt Nam,Bancassurance đã phôi thai hình thành từ giữa những thập niên 90, tuy còn khá mớimẻ nhƣng Bancassurance đƣợc xem là một kênh phân phối hứa hẹn nhiều tiềm năngphát triển.Ở Việt Nam, năm 2006, đánh dấu bƣớc phát triển quan trọng củaBancassurance tại Việt Nam với sự ra mắt của hai sản phẩm liên kết Ngân hàng Bảo hiểm giữa TechcomBank và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Bảo Việt đó là “Tàikhoản tiết kiệm giáo dục” và “Bảo hiểm tín dụng cho Nhà mới và Ôtô xịn". Đây làmột bƣớc ngoặt rất có ý nghĩa đối với hƣớng phát triển dịch vụ của ngành Ngânhàng và Bảo hiểm tại Việt Nam. Sau khi 02 sản phẩm trên ra đời, các Ngân hàng vàcác Công ty Bảo hiểm khác cũng đã bắt đầu ký các thoả thuận hợp tác trong đóNgân hàng là đối tác đóng vai trò nhƣ một Đại lý bán các sản phẩm bảo hiểm, cụthể là sự liên kết giữa Bảo Việt với HSBC; Prudential với ACB, các ngân hàngthƣơng mại lớn đứng ra góp vốn, thành lập các công ty bảo hiểm thuộc ngân hàng,hình thành xu hƣớng mới trên thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam: doanh nghiệp bảohiểm trực thuộc ngân hàng hoặc chi phối bởi ngân hàng.Cơ sở lý luận của luận án dựa trên cơ sở đúc kết từ thực tế do hoạt động
Xem thêm

97 Đọc thêm

Một số vấn đề pháp lý về mang thai hộ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ MANG THAI HỘ

Mang thai hộ là trường hợp sau khi thụ thai trong ống nghiệm, nếu người mẹ vì lý do sức khỏe hay vì điều kiện nào đó không thể mang thai, phải nhờ đến người phụ nữ khác mang thai và sinh đẻ. Vậy, về mặt pháp lý thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộ là loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyền thống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ trong lý luận cũng như trong các văn bản pháp luật hiện hành. Bài viết này bàn về một số vấn đề liên quan nảy sinh trong quan hệ mang thai hộ dưới phương diện pháp lý.
Xem thêm

4 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG RỪNGVIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG RỪNGVIỆT NAM

••••Đốt nương làm rẫyChuyển đất có rừng sang đất sản xuất các cây kinh doanhDân số đông và tăng nhanh -> Khai thác quá mức vượt khả năng phục hồiDo khai thác không có kế hoạch, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm lãng phí tài nguyên rừngDo cháy rừng, nhất là các rừng tràm, rừng thông, rừng khộp rụng lá.Do ảnh hưởng của bom đạn và các chất độc hóa học trong chiến tranh, riêng ở miền Nam đãphá hủy khoảng 2 triệu ha rừng tự nhiênGiải phápVề kinh tế•Tăng cường hợp tác quốc tế trao đổi về vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế chocông tác bảo vệ rừng.••Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận song phương về hợp tác bảo vệ rừng liên biên giớiThực hiện chính sách giao đất giao rừng cho người dân quản lý và khai thác dưới sư giám sát của chínhquyền•
Xem thêm

14 Đọc thêm

LẬP KẾ HOẠCH MARKETING CHO BEELINE TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM VÀO NĂM 2011 THÔNG QUA GÓI CƯỚC MỚI BIG2

LẬP KẾ HOẠCH MARKETING CHO BEELINE TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM VÀO NĂM 2011 THÔNG QUA GÓI CƯỚC MỚI BIG2

CÔNG TY GTEL MOBILE Được thành lập ngày 8/7/2008 trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty Viễn thông Di động Toàn cầu và Tập đoàn VimpelCom- Một trong những Tập đoàn Viễn thông hà[r]

14 Đọc thêm

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP

định : " Mọi quốc gia đều có tư cách để ký kết các điều ước.”- Hình thức điều ước quốc tế: Trong tình huống này là văn bản, vì theo đề bàiđã nói rõ là quốc gia A gửi cho quốc gia B thư đề nghị xác định biên giới giữaquốc gia B với vùng lãnh thổ thuộc địa C mà quốc gia A đang khai thác và đạidiện trong quan hệ quốc tế.Trong thư trả lời,quốc gia B bày tỏ quan điểm đồngý với lời đề nghị của quốc gia A.Rõ ràng việc thỏa thuận giữa quốc gia A vàquốc gia B là thỏa thuận bằng văn bản phù hợp với việc Công ước Viên chỉđiều chỉnh việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế thành văn giữa cácquốc gia-Bản chất của điều ước quốc tế là sự thỏa thuận tự nguyện của các bêntham gia ký kết. Ta thấy, việc thỏa thuận giữa quốc gia A và quốc gia B làhoàn toàn tự nguyện vì trong thư gửi, quốc gia A đã bày tỏ rõ ràng lời đềnghị của mình với quốc gia B và quốc gia B cũng đã bày tỏ quan điểm đồngý của mình. Như vậy, hai quốc gia đã đạt được sự thỏa thuận.Bài tập cá nhân 1 môn Luật quốc tế Page 2Do vậy, thỏa thuận giữa quốc gia A và quốc gia B trong tình huống nêutrên là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc giữa các bên.2. Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏathuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuậnxác định biên giới trên biển, hay không? Tại sao?Điều 34, công ước viên 1969 quy định: “ Mọi điều ước không tạo ranghĩa vụ hay quyền hạn cho một quốc gia thứ ba, nếu không có sự đồng ý củaquốc gia đó.” Vì vậy, về nguyên tắc, quốc gia C không tham gia vào quá trìnhthỏa thuận này nên không chịu sự ràng buộc, đồng thời không phải kế thừa cácthỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết. Nhưng điều ước quốc tếvẫn có thể phát sinh hiệu lực đối với quốc gia C trong trường hợp điều ước tạora hoàn cảnh khách quan , trong trường hợp này thì đó là điều ước về phânđịnh biên giới giữa lãnh thổ quốc gia A và lãnh thổ quốc gia B.Khoản 2, Điều 62, công ước viên 1969 quy định: “ Một sự thay đổi cơbản các hoàn cảnh không thể được nêu lên làm lý do để chấm dứt hoặc để rút
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa hai quốc gia

THỎA THUẬN QUA HÌNH THỨC TRAO ĐỔI VĂN BẢN GIỮA HAI QUỐC GIA

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa hai quốc gia có phải điều ước quốc tế

Đề bài:

Năm 1970, quốc gia A gửi cho quốc gia B văn bản đề nghị xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà quốc gia A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A có nêu rõ nguyên tắc, cách thức phân định và có bản đồ phân định đính kèm. Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A.

Tuy nhiên, tranh chấp đến biên giới trên biển lại nảy sinh khi C trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền. Quốc gia C cho rằng: thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và quốc gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa, với tư cách quốc gia mới ra đời sau cách mạng giải phóng, quốc gia C không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế mà A đã đại diện ký kết. Hãy cho biết:

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao?
Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao?

1. Thoả thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao.

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B về vấn đề xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc ở thời điểm C vẫn là vùng lãnh thổ thuộc địa của A.

Theo điểm a khoản 1 Luật công ước Viên năm 1969, Điều ước quốc tế dùng để chỉ“một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”. Thoả thuận quốc tế sẽ trở thành điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc khi nó đảm bảo các trình tự tạo nên một điều ước quốc tế, cụ thể như phải đảm bảo các giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều ước. Thực hiện xong các hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy nhiên nếu thiếu các hành vi này thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành.

Giai đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Giai đoạn này có 4 hành vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế. Theo “Luật Quốc tế” Ts. Ngô Hữu Phước

Các thoả thuận giữa các quốc gia chưa thể trở thành một điều ước quốc tế khi thiếu các trình tự trên.

Tuy nhiên, các quy định tại công ước Viên năm 1969 chỉ bắt đầu có hiệu lực từ năm 1980. Trước khi công ước Viên năm 1969 có hiệu lực, trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia – có thể bằng hình thức văn bản hoặc là sự thỏa thuận bằng miệng – thỏa thuận này được gọi là “điều ước quân tử”

Thứ hai, xét đến yếu tố chủ thể tham gia trong thỏa thuận này là quốc gia A và quốc gia B – đều là chủ thể của luật quốc tế. Thỏa thuận này được hình thành dựa trên sự đồng ý của 2 quốc gia (Quốc gia A gửi đề nghị và quốc gia B ngỏ ý đồng ý).

Như vậy, căn cứ theo phân tích trên, thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc giữa A và B.

2. Quốc gia C có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thoả thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao?

Với thỏa thuận quốc tế, quốc gia C không có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết (nghĩa là quốc gia A có thể tiếp tục thực hiện các ngĩa vụ đó hoặc không) những với thỏa thuận xác định biên giới trên biển, C vẫn phải tiếp tục tôn trong và thực hiện thỏa thuận quốc tế này. Vì các lý do như sau:

Thứ nhất: Theo luật quốc tế hiện hành, các quốc gia mới thành lập không có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế do quốc gia để lại thừa kế ký kết. Căn cứ vào cơ sở pháp lý tại điều 16 và điều 28 công ước Viên năm 1978:

“Điều 16: Đối với những điều ước của các quốc gia tiền nhiệm, Quốc gia mới độc lập không bị ràng buộc việc duy trì hiệu lực hoặc phải trở thành thành viên của bất ký điều ước nào với lý do điều ước vẫn còn hiệu lực đối với lãnh thổ được ký kết vào thời điểm kế thừa”.

“Điều 28: Điều ước song phương: Điều ước song phương vẫn đang còn hiệu ước hoặc tạm thời áp dụng đối với lãnh thổ được thừa kế vào thời điểm thừa kế sẽ vẫn còn hiệu lực giữa hai bên quốc gia độc lập mới hình thành hoặc quốc gia kia khi:

+ Hai bên khẳng định rõ ràng sự chấp thuận

+ Hai bên bằng hành vi thể hiện sự chấp thuận

Như vậy, đối với các điều ước quốc tế các quốc gia để lại kế thừa, có hai trường hợp:

Trường hợp 1: Quốc gia mới giành được độc lập không phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế trước đây vẫn thi hành tại lãnh thổ quốc gia mới đó.

Trường hợp 2: Đối với các điều ước mà trước đây quốc gia A đã kí kết, quốc gia C có thể thỏa thuận các điều kiện áp dụng điều ước với quốc gia A. Hoặc C sẽ kí kết với A các điều ước đặc biệt, trong những điều ước lại này có ghi nhận việc C sẽ kế thừa tất cả các điều ước còn hiều lực thi hành do A đã kí kết với B về lãnh thổ vốn là thuộc địa của A trước đây.

Thứ hai, trong trường hợp này C vẫn phải kế thừa điều ước quốc tế xác định biên giới trên biển giữa A và B bởi: những điều ước biên giới về lãnh thổ thường có giá trị rất bền vững và mang tính ổn định dù hai bên có mất tư cách chủ thể thì quốc gia mới vẫn buộc phải thừa kế. Căn cứ theo quy định tại điều 11, 15 và 30 của Công ước Viên năm 1969:

Điều 11: Sự kế thừa quốc gia không ảnh hương đến tới:

a. Một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định, hay

b. Các quyền và nghĩa vụ đã được xác định bởi một hiệp định liên quan đến thể chế biên giới.

Điều 15: Khi một phần lãnh thổ nhà nước hoặc khi bất cứ phần lãnh thổ nào mà không còn là lãnh thổ của quốc gia đó hoặc trở thành một phần lãnh thổ của quốc gia khác thì: a, Điều ước của quốc gia để lại sẽ ngừng có hiệu lực với phần lãnh thổ mà quốc gia thừa kế có liên quan, kể từ ngày quốc gia thừa kế ra đời.

Như vậy, với các điều ước quốc tế khác, Quốc gia C không có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các điều ước này và có thể hiện nó hay không nhưng với thỏa thuận quốc tế về biên giới, quốc A buộc phải tôn trọng thực hiện.
Xem thêm

5 Đọc thêm

 VĂN BẢN THỎA THUẬN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

VĂN BẢN THỎA THUẬN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

_Hoặc có thể chọn một trong các trường hợp sau đây:_ - Chúng tôi đã đọc lại Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong Văn bản và đã ký, điể[r]

6 Đọc thêm

VĂN BẢN THỎA THUẬN KHÔI PHỤC CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

VĂN BẢN THỎA THUẬN KHÔI PHỤC CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

Hoặc cĩ thể chọn một trong các trường hợp sau đây: - Chúng tôi đã đọc lại Văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung này, đã đồng ý tồn bộ nội dung ghi trong Văn bản và đã ký, điể[r]

6 Đọc thêm

TẢI MẪU SLIDE POWERPOINT ĐẸP KINH DOANH TOÀN CẦU

TẢI MẪU SLIDE POWERPOINT ĐẸP KINH DOANH TOÀN CẦU

Điền chữ vào10Tiếp theoThành viênưu túThay thế văn bản mẫu bằng văn bản của bạnĐây là văn bản mẫu để minh họa văn bản được chèn tại đây. Hãy thay thế văn bản mẫu bằng văn bản của bạn. Vănbạn thay thế sẽ giữ nguyên định dạng của văn bản mẫu. Điền chữ Điền chữ Điền chữ Điền chữ Điền chữ Điền chữĐiền chữ Điền chữ Điền chữĐây là văn bản minh họa. Bạn có thể thay thế hoặc chỉnh sửa định dạng phù hợp với ýmuốn của bạn.Đây là văn bản minh họa. Bạn có thể thay thế hoặc chỉnh sửa định dạng phù hợp với ýmuốn của bạn.Đây là văn bản minh họa. Bạn có thể thay thế hoặc chỉnh sửa định dạng phù hợp với ýmuốn của bạn.Đây là văn bản minh họa. Bạn có thể thay thế hoặc chỉnh sửa định dạng phù hợp với ýmuốn của bạn.11Tiếp theoSơ đồtổ chức
Xem thêm

81 Đọc thêm

Chuyên đề truyện hiện đại trung quốc (1)

CHUYÊN ĐỀ TRUYỆN HIỆN ĐẠI TRUNG QUỐC (1)

CHUYÊN ĐỀ: TRUYỆN HIỆN ĐẠI TRUNG QUỐC


Hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Thuốc – Lỗ Tấn.
Hiểu được giá trị nhân đạo mới mẻ và những sáng tạo về hình thức kết cấu của tác phẩm.
Biết cách đọc – hiểu một truyện ngắn hiện đại Trung Quốc.
Từ đó Hs hình thành các năng lực sau:
Năng lực thu thập thông tin, khái quát, tổng hợp, hợp tác và giải quyết vấn đề liên quan đến văn bản.
Năng lực giải quyết những vấn đề đặt ra trong văn bản.
Năng lực đọc hiểu truyện hiện đại Trung Quốc.
Năng lực hợp tác khi trao đổi thảo luận về nội dung nghệ thuật của văn bản.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Bài giảng môn kỹ năng giao tiếp thuyết trình Kỹ năng đàm phán

BÀI GIẢNG MÔN KỸ NĂNG GIAO TIẾP THUYẾT TRÌNH KỸ NĂNG ĐÀM PHÁN

Đàm phán không phải là một ván cờ, không nên yêu cầu một thắng, một thua cũng không phải là một trận chiến phải tiêu diệt hoặc đặt đối phương vào thế chết, mà đàm phán vẫn là một cuộc hợp tác đôi bên cùng có lợi.Đàm phán là một cuộc thảo luận giữa 2 hay nhiều người để đạt được thỏa thuận về những vấn đề ngăn cách các bên mà không bên nào có đủ sức mạnh để giải quyết những vấn đề ngăn cách đó. Đàm phán là quá trình giao tiếp giữa các bên thông qua trao đổi thông tin và thuyết phục nhằm đạt được những thỏa thuận về những vấn đề khác biệt trong khi giữa họ có những quyền lợi có thể chia sẻ và những quyền lợi đối kháng.
Xem thêm

72 Đọc thêm

CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI

CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI

định giá giao dịch thông thường trên thị trường (giá thỏa thuận khách quan giữa các bênkhông có quan hệ liên kết). Hiện nay, việc xác định quan hệ liên kết rất khó khăn, sự mua,bán có thể diễn ra qua các khâu trung gian (ngoài các đối tượng liên kết theo quy định tạiThông tư 66) theo sự chỉ định của nhà đầu tư mà cơ quan quản lý Nhà nước chưa có văn bảnđể chế tài. Mặt khác, hàng hóa lại rất đa dạng, giá cả còn tùy thuộc vào uy tín nhãn hiệu, thịhiếu người tiêu dùng… Do đó, việc quy định cùng mặt hàng trong việc xác định giá cả làchưa phù hợp, cần phải có tiêu chí xác định cho từng ngành nghề cụ thể…- Mức độ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đối với các trường hợp chuyểngiá còn quá nhẹ, quy định chung với các hành vi vi phạm khác về thuế (quy định tại LuậtQLT hiện hành, tại Nghị định số 98/2007/NĐ-CP và Thông tư số 61/2007/TT-BTC) mà chưacó hình thức xử phạt riêng, nghiêm khắc hơn nên chưa đủ sức răn đe đối với người nộp thuếcó hành vi chuyển giá tránh thuế (trường hợp cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra doanh nghiệpliên kết, thực hiện điều chỉnh giá làm giảm lỗ của doanh nghiệp thì cũng không có chế tài xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đối với doanh nghiệp; trường hợp cơ quan thuếthanh tra, kiểm tra doanh nghiệp liên kết, thực hiện điều chỉnh giá làm tăng số thuế thu nhậpdoanh nghiệp thì cũng chỉ xử phạt kê khai sai (10%) và phạt chậm nộp (0,05%/1 ngày chậmnộp). Các trường hợp chuyển giá dẫn tới số lỗ lũy kế bằng hoặc vượt số vốn chủ sở hữu thìcũng chưa có quy định bắt buộc người nộp thuế không được hoàn thuế giá trị gia tăng hoặcphải giải thể doanh nghiệp;- Thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá là lĩnh vực quản lý khó, phức tạp, tốn nhiềuthời gian và nguồn lực để thu thập thông tin, phân tích, so sánh, loại trừ khác biệt ảnh hưởngPage 15đến đơn giá sản phẩm được chuyển giao, lựa chọn và áp dụng phương pháp xác định giá thịtrường… Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thanh tra hiện hành, không quy định riêng thờigian thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá mà quy định chung như thời gian thanh trathuế đối với các trường hợp thông thường khác. Hạn chế này đã dẫn tới các hiệu qủa thanh travề giá chuyển nhượng trong giai đoạn vừa qua chưa cao;- Hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp liên kết tại Việt Nam ngày càng phổ biến, tinh
Xem thêm

19 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA MALAYSIA: THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA MALAYSIA: THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

chủ chốt của ASEAN.Với việc gia nhập ASEAN, Malaysia có thể củng cố môi trường hòa bình, ổnđịnh của khu vực nói chung và Malaysia nói riêng đối với lĩnh vực an ninh – chínhtrị. Bên cạnh đó Malaysia giải quyết những thách thức chung một cách hiệu quảthông qua việc gia tăng đối thoại và tăng cường hợp tác giữa các nước trong khuvực. ASEAN cũng tạo ra môi trường thuận lợi để Malaysia thúc đẩy quan hệ lánggiềng với các nước trong khu vực, giải quyết những vấn đề trong quan hệ songphương do lịch sử để lại hoặc mới phát sinh. Trong quan hệ đối ngoại, ASEANgiúp tăng cường vị thế và tiếng nói của Malaysia trên trường quốc tế, hỗ trợMalaysia thúc đẩy quan hệ với các đối tác, trong đó có nhiều nước lớn như: TrungQuốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga.;Về kinh tế, ASEAN mở ra cơ hội cho Malaysia thúc đẩy được quan hệ kinhtế với nhiều đối tác quan trọng trong khu vực, thông qua ASEAN đàm phán thiếtlập khu vực mậu dịch tự do, thúc đẩy thương mại, đầu tư từ các đối tác này, đặcbiệt là quan hệ song phương với 4 quốc gia láng giềng đã thành lập nên ASEAN.Bên cạnh đó Malaysia và Brunei cũng có một mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ, nhờvào lịch sử lâu đời về mối quan hệ giữa Hoàng tộc Malaysia và Brunei, cũng nhưsự tương đồng về tôn giáo, văn hóa, dân tộc và ngôn ngữ. Đối với các quốc giatrong khu vực, Malaysia cũng thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác về kinh tế nhằmthúc đẩy thương mại song phương và đa phương, thu hẹp khoảng cách phát triển,kết nối tốt hơn với các nền kinh tế trong và ngoài khu vực.ASEAN còn đem lại lợi ích nhiều mặt về các vấn đề xã hội, tạo ra khuônkhổ, cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế, môi trường,15Chính sách kinh tế đối ngoạivăn hóa, thông tin, khoa học công nghệ,… với nhiều chương trình, dự án đem lạinhiều lợi ích thiết thực cho Malaysia2.2.3. Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)
Xem thêm

36 Đọc thêm

MẪU THỎA THUẬN BẢO MẬT THÔNG TIN

MẪU THỎA THUẬN BẢO MẬT THÔNG TIN

Sẽ phổ biến cho cán bộ nhân viên được tiếp cận Thông Tin Bảo Mật về việc duy trì bảomật và không được sao chép dưới bất kỳ hình thức nào các Thông Tin Bảo Mật.Duy Trì Bảo MậtBên Nhận Thông Tin phải:34.1.4.2.5.Thiết lập và duy trì tất cả các biện pháp an toàn cần thiết để bảo mật các Thông Tin BảoMật; vàNgay lập tức thông báo cho Bên Tiết Lộ Thông Tin bất kỳ việc sử dụng, sao chép hoặctiết lộ trái phép các Thông Tin Bảo Mật.Không Cam KếtBên Nhận Thông Tin thừa nhận và đồng ý rằng tại Thỏa Thuận này Bên Tiết Lộ ThôngTin không đưa ra bất cứ cam kết nào về tính chính xác, tính đầy đủ hoặc tính khả thi củacác Thông Tin Bảo Mật được cung cấp. Bên Nhận Thông Tin sẽ có trách nhiệm tự mìnhthẩm định các Thông Tin Bảo Mật đó.6.Hoàn Trả Thông Tin Bảo MậtBất cứ khi nào theo yêu cầu bằng văn bản của Bên Tiết Lộ Thông Tin hoặc tại thời điểmchấm dứt Thỏa Thuận, Bên Nhận Thông Tin phải ngay lập tức thực hiện các hành độngdưới đây đối với tất cả các Thông Tin Bảo Mật của Bên Tiết Lộ Thông Tin nằm trong sựchiếm hữu hoặc kiểm soát của Bên Nhận Thông Tin bao gồm nhưng không giới hạn ởcác bản gốc, bản sao, bản sao chép lại và nội dung tóm tắt các Thông Tin Bảo Mật được
Xem thêm

6 Đọc thêm

CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ THỜI HẠN VÀ VẤN ĐỀ SỬA ĐỔI BỔ SUNG THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THẾỂ

CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ THỜI HẠN VÀ VẤN ĐỀ SỬA ĐỔI BỔ SUNG THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THẾỂ

Các quy định hiện hành về thời hạn và vấn đề sửa đổi bổ sung thỏaước lao động tập thểThỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) là văn bản thỏa thuận giữa tập thể người laođộng và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động,quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động (Điều 44 Luật Lao động).TƯLĐTT có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động dođó những quy định về thời hạn và vấn đề sửa đổi bổ sung TƯLĐTT phải được chútrọng, quan tâm.1. Các quy định hiện hành về thời hạn thỏa ước lao động tập thể - một số vấn đề vềlí luận và thực tiễn.Thời hạn của một TƯLĐTT là khoảng thời gian có hiệu lực của thỏa ước đó đượctính từ thời điểm phát sinh hiệu lực đến thời điểm kết thúc hiệu lực. Khoản 3 Điều5 Nghị định của Chính Phủ số 196 – CP quy định: “Trong thời hạn 15 ngày kể từngày nhận được bản thỏa ước lao động tập thể, Sở Lao động - Thương binh và Xãhội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét và thông báo bằng văn bản vềviệc đăng kí cho hai bên biết...”. Như vậy TƯLĐTT có hiệu lực kể từ ngày được cơquan quản lý Nhà nước về lao đông đăng ký. Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày nhậnđược bản thỏa ước lao động tập thể, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động phảithông báo việc đăng ký. Hết thời hạn nói trên mà không có thông báo thì thỏa ướctập thể đương nhiên có hiệu lực. Khi TƯLĐTT có hiệu lực, người sử dụng lao độngphải thông báo cho mọi người lao động trong doanh nghiệp biết, kể cả những ngườivào làm việc sau này. Mọi người trong doanh nghiệp, kể cả người vào làm việc saungày ký kết đều có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thoả ước tập thể.Điều 50 Luật Laođộng quy định về thời hạn như sau: ” Thỏa ước lao động tập thể được ký kết vớithời hạn từ một năm đến ba năm. Đối với doanh nghiệp lần đầu ký kết thỏa ước laođộng tập thể, thì có thể ký kết với thời hạn dưới một năm”. Như vậy bộ luật laođộng Việt Nam xác định thoả ước tập thể là có thời hạn và thời hạn đó không quá 3năm.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề