TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC CHỈ CÓ MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY":

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thanh niên, LuậtCông đoàn..., quy chế dân chủ mọi cấp để Mặt trận, các tổ chức chínhtrị - xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chínhquyền và hệ thống chính trị; thực hiện "dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra" và dân thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới.Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chínhtrị - xã hội khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa, phôtrương, hình thức để nâng cao chất lượng hoạt động, làm tốt công tácdân vận theo phong cách "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và cótrách nhiệm với dân", “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tim".II- VAI TRÒ VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚIHỆ THỐNG CHÍNH TRỊ1. Lãnh đạo và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trịLãnh đạo một cộng đồng người hay một cơ quan, đơn vị, một tổ chức...là một tất yếu khách quan bảo đảm cho một cộng đồng người hay một cơquan, đơn vị, một tổ chức... tồn tại, phát triển theo định hướng nhất định.Người lãnh đạo là người giúp cho một cộng đồng người hay một cơquan đơn vị, một tổ chức... đó tồn tại theo định hướng. Lãnh đạo baogồm các hoạt động:+ Đề ra mục tiêu mà một cộng đồng người hay một cơ quan, đơn vị, mộttổ chức... cần hướng tới và cách thức để đạt mục tiêu đó (tức đường lối,chủ trương ..).+ Truyền bá, đào tạo lực lượng nòng cốt, chỉ dẫn, hướng dẫn, nêugương... để mọi người hiểu, thực hiện, làm theo.+ Tổ chức thực hiện, phân bổ lực lượng, phân công theo dõi, quản lý.+ Giám sát, kiểm tra, uốn nắn.+ Sơ kết, tổng kết, đánh giá.
Xem thêm

20 Đọc thêm

tính tất yếu, nội dung và hình thức của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay

TÍNH TẤT YẾU, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiThời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay là một xã hội có giai cấp, mà trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. V.I.Lênin định nghĩa đấu tranh giai cấp là “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”.Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc lột.Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển mang tính xã hội hoá ngày càng sâu rộng của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội: Mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất mới, với một bên là giai cấp thống trị bóc lột đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu.Là nhiệm vụ của môn học cũng như bổ sung những kiến thức cho bản thân mình, việc tìm hiểu về “ tính tất yếu, nội dung và hình thức của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay” là cần thiết.2.Mục đích nghiên cứu đề tàiTrong xã hội Việt Nam hiện nay là một xã hội có giai cấp, một xã hội tồn tại tất yếu sẽ nãy sinh đấu tranh giai cấp, vì vậy mục đích của việc nghiên cứu là tìm hiểu về tính tất yếu, nội dung và hình thức của đấu tranh giai cấp trong xã hội ở nước ta như thế nào? Vận dụng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, bằng quan điểm lịch sử cụ thể.MỤC LỤCMỞ ĐẦU11.Lý do chọn đề tài12.Mục đích nghiên cứu đề tài1NỘI DUNG2I.NỘI DUNG ĐỀ TÀI21.Tính tất yếu của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay22.Nội dung của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay33.Hình thức của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay5II.VẬN DỤNG7KẾT LUẬN14DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO14
Xem thêm

15 Đọc thêm

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của đảng đối với hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

I. Phương thức lãnh đạo của Đảng1. Khái niệm phương thức lãnh đạo của ĐảngPhương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, phong cách, lề nối làm việc mà Đảng sử dụng để tác động vào hệ thống chính trị nhằm thực hiện tốt nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị.2. Các phương thức lãnh đạo của ĐảngHiện nay Đảng sử dụng 6 phương thức để lãnh đạo Hệ thống chính trị. Cơ sở lý luận trực tiếp để nghiên cứu phương thức Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng thể hiện trong Nghị quyết TW 5 Khoá X. Trên cơ sở lý luận, các phương thức Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị gồm:Thứ nhất: Đảng lãnh đạo HTCT bằng định hướng chính trịĐảng lãnh đạo HTCT bằng định hướng chính trị là việc Đảng đề ra chủ trương, đường lối trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để Nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội cụ thể hóa trong điều lệ và những nội dung hoạt động của mình.Định hướng chính trị là phương thức lãnh đạo quan trọng nhất và chủ yếu nhất của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội. Định hướng chính trị của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đàn thể chính trị xã hội chủ yếu bằng nghị quyết. Thông qua nghị quyết mà ý chí, chí tuệ tập thể của cơ quan lãnh đạo Đảng được thể hiện một cách tập trung, cô đọng, sáng suốt và có giá trị hiệu lực cao, làm phương tiện truyền tải định hướng chính trị của Đảng, cụ thể như sau:
Xem thêm

23 Đọc thêm

TIỂU LUẬN QUAN NIỆM, CƠ SỞ, NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG CHÂM, CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC, NỘI DUNG, CƠ CHẾ, PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TIỂU LUẬN QUAN NIỆM, CƠ SỞ, NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG CHÂM, CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC, NỘI DUNG, CƠ CHẾ, PHƯƠNG THỨC CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

71 năm qua, kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là 30 năm đổi mới, với vị thế là đảng cầm quyền, Đảng ta đã tích lũy và làm phong phú hơn không ít kinh nghiệm trên bình diện cơ bản và quan trọng này. Song, thực tế cầm quyền của Đảng vẫn đang đặt ra không ít vấn đề hết sức cơ bản cả trên phương diện lý luận lẫn bình diện tổ chức thực tiễn cần tiếp tục kiến giải, tổng kết và phát triển nhằm không ngừng nâng cao vị trí, vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng ta ngang tầm công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.Từ thực tế đó, nổi bật mấy vấn đề có ý nghĩa cơ bản mang tính quy luật về sự cầm quyền của Đảng ở nước ta hiện nay
Xem thêm

10 Đọc thêm

vai trò của đảng cộng sản việt nam đối với việc xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đổi mới

VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam, trải qua 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đảm bảo cho nhân dân lao động có quyền làm chủ, quyền được hưởng tự do và hạnh phúc. Vì vậy, vấn đề xây dựng, thực hiện, phát huy dân chủ và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân là một trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng nước ta.
Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh gian khổ với bao hy sinh cũng chính là để đưa nhân dân lên địa vị làm chủ xã hội. Sau khi đất nước giành được độc lập từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật, thoát khỏi ách phong kiến tập quyền, chúng ta đã khẳng định chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân. Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên ở nước ta, khẳng định chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân.
Điều 1, Hiến pháp 1946 ghi rằng tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân. Thế nhưng, cho đến nay nhân dân ta còn chưa thực sự làm chủ quyền bính của mình. Nhân dân có chủ quyền về Nhà nước nhưng thực hiện quyền đó như thế nào lại phụ thuộc vào phương thức thực thi quyền lực Nhà nước. Phương thức đó bao gồm: Phương thức tổ chức vận hành của Nhà nước, của hệ thống chính trị, phương thức tổ chức và thực hành dân chủ của nhân dân. HTCT của nước ta hiện nay là hệ thống chỉ có một đảng duy nhất cầm quyềnĐảng Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh nhiều thuận lợi là cơ bản, việc phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền cũng có những khó khăn nhất định.
Trong quá trình đổi mới ở nước ta thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được Đảng ta xác định vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng ta luôn luôn dựa vào dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nguồn sức mạnh và sự sáng tạo để Đảng ta vượt qua muôn vàn thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ đó, việc dựa và dân, phát huy dân chủ được Đảng ta chú trọng và tổng kết thành bài học kinh nghiệm quý báu có giá trị lí luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc có thể áp dụng phổ biến mọi nơi, mọi lúc trong tiến trình cách mạng nước nhà. Dân chủ đã trở thành tư tưởng xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, luật pháp của Nhà nước ta và các chính sách phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận những khuyết điểm của mình. Những “điểm nóng” diễn ra trong thời kì vừa qua (điển hình là những vụ việc diễn ra ở Thái Bình thời kì 19961998) lại liên quan nhiều đến “bài học vi phạm dân chủ” với các mức độ khác nhau ở cơ sở; đồng thời, ở đó các thế lực phản động ở bên ngoài lại luôn giương cao ngọn cờ “dân chủ”, “nhân quyền”, kích động tâm lí nhẹ dạ và tâm lí bực bội nào đó ở một số người dân.
Phát huy dân chủ và thực hiện dân chủ không chỉ góp phần củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, không chỉ là giải pháp hạn chế sự tha hóa về quyền lực, chống lại tệ quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước mà nó còn khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của quần chúng lao động, phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ của toàn thể nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta đang tiến hành xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống mọi mặt của của người dân được nâng lên, thì vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ ngày càng có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội.
Do vậy, việc tìm hiểu vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo niềm tin trong lòng quần chúng với Đảng, vừa có tính thời sự cấp bách vừa có tính cơ bản, lâu dài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xem thêm

70 Đọc thêm

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

HỌC THUYẾT MÁC LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG VÀ XÂY DỰNG ĐẢNG TIỂU LUẬN CAO HỌC

Điều có ý nghĩa quyết định của Đảng cầm quyền đối với Nhà nước là đưa tư tưởng của Đảng thâm nhập vào chính sách, quyết sách của Nhà nước. Con đường cơ bản để dảng cầm quyền củng cố, duy trì vị trí cầm quyền của mình là người đại diện cho Đảng cầm quyền đang giữ vai trò lãnh đạo trong bộ máy cơ quan Nhà nước phải thực hiện các chương trình hành động cũng như làm tròn trách nhiệm đối với các cam kết của mình trong chiến dịch tranh cử (đối với các nước tư bản) và trong việc bầu cử đại biểu quốc hội (ở các nước xã hội chủ nghĩa). Nguồn lực để Đảng cầm quyền duy trì hoạt động của mình là công tác đào tạo, sử dụng cán bộ. Công tác này được làm một cách thường xuyên, liên tục, có kế hoạch, hiệu quả và chất lượng cao.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử cách mạng và được xã hội thừa nhận như một tất yếu lịch sử. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội Việt Nam đã ghi nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Sự lãnh đạo của Đảng được coi là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng là vấn đề mang tính nguyên tắc và quy định của Cách mạng Việt Nam.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu hướng giao lưu hội nhập thế giới, rất nhiều vấn đề đã và đang được đặt ra đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới, nâng cao trình độ năng lực lãnh đạo đất nước. Điều đó có nghĩa hết sức quan trọng trong điều kiện Đảng lãnh đạo tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,vì dân. Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo một cách khẩn trương, kiên quyết, không cứng nhắc, máy móc trong sự phân định rõ chức năng lãnh đạo chính trị, phưong thức lãnh đạo chính trị của Đảng với chức năng quản lý nhà nước chức năng công quyền và phương thức quản lý của nhà nước pháp quyền trên quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ chí minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Là sinh viên khoa Xây dựng Đảng được nghiên cứu đề tài của chuyên ngành em thấy rất hay và cần thiết . Đề tài giúp em có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cả mặt nhận thức và lý luận. Tuy nhiên do sự hạn chế về trình độ kiến thức, tài liệu tham khảo còn hạn hẹp nên bài tiểu luận chắc có nhiều sai sót, nội dung chưa chính xác, phù hợp. Việc đánh máy còn nhiều lỗi chính tả. Em rất mong thầy (cô) giáo thông cảm giúp đỡ, bổ sung những vấn đề còn thiếu xót để bài tiều luận hoàn chỉnh hơn.
Xem thêm

28 Đọc thêm

VẤN ĐỀ BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

VẤN ĐỀ BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Vấn đề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ TÀI

Ngay khi ra đời, Đảng ta đã xác định con đường phát triển của dân tộc là quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là đường lối tiến hành cách mạng nhất quán suốt hơn 73 năm qua của Đảng ta. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là qua thực tiễn của gần 17 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã không ngừng đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tại Đại hội IX Đại hội đầu tiên trong thế kỷ XXI, dựa trên tổng kết lý luận và thực tiễn sau 15 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khẳng định: Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Đảng ta, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là con đường phát triển rút ngắn và phương thức thực hiện con đường này là quá độ gián tiếp. Đó là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.

Hiện nay, vấn đề nhận thức về sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, kiên trì phấn đấu theo lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội của các tầng lớp nhân dân còn chưa được đầy đủ. Vấn đề này cũng đang được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam đó là sự phát triển tất yếu ở Việt Nam, được Đảng và Hồ Chủ Tịch vạch ra từ năm 1930 (trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt trong luận cương chính trị của Đảng ) và ngày càng hoàn thiện hơn trong các ký Đại hội Đảng gần đây. Vì vậy, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc thức về tính tất yếu con đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta mang tính cấp thiết



Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, với bài tập học kỳ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, em xin chọn đề tài “Vấn đề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” với mong muốn được hiểu cũng như làm rõ hơn về vấn đề này. Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của em.

NỘI DUNG CHÍNH

I.Tính tất yếu khách quan của việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1. Quá độ là gì?


Quá độ là thời kỳ chuyển tiếp từ trạng thái này sang trạng thái khác, nhưng đang ở giai đoạn trung gian. Thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ lĩnh vực đời sống xã hội, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước cho tới khi tạo ra được những cơ sở của CNXH trên lĩnh vực đời sống xã hội. Có 2 kiểu quá độ tùy thuộc vào điểm đi lên CNXH của các nước:


Quá độ trực tiếp: Từ TBCN lên XHCN

Quá độ gián tiếp: Từ xã hội tiền TBCN lên CNXH, bỏ qua TBCN

Đặc điểm của thời kỳ quá độ: Các nhân tố xã hội thời kỳ mới đan xen với thời kỳ chế độ cũ, đồng thời đấu tranh với nhau trên từng lĩnh vực đời sống chính trị, văn hóa, tư tưởng, tập quán.

Đặc điểm cụ thể:
Chính trị: Bản chất của thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ quá độ chuyển tiếp về mặt chính trị do nhà nứớc chuyên chính vô sản và ngày càng được cũng cố hòan thiện.

Kinh tế: Đặc trưng của TKQĐ là nền kinh tế nhiều thành phần, tập trung là thành phần kinh tế nhà nứơc. Các thành phần kinh tế vừa hỗ trợ vừa cạnh tranh lẫn nhau.
.
Xã hội: Đây là thế mạnh của TKQĐ, đã gần như loại bỏ sự hằn thù của sự đấu tranh giai cấp. Tương ứng với từng lọai thành phần kinh tế có những cơ cấu giai cấp tầng lớp khác nhau, vừa mang tính đối kháng, vừa hỗ trợ nhau.

Văn hóa,tư tửởng: Tồn tại nhiều loại tư tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, có xen lẫn sự đối lập nhưng vẫn họat động trên phương châm: ”tốt đạo, đẹp đời “


2. Tính tất yếu chung

Vận dụng lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen vào công cuộc xậy dựng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga trước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ nền kinh tế kém phát triển.

Theo V.I.Lênin, sự cần thiết khách quan phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là do đặc điểm ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định.

Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Do vậy, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến một trình độ nhất định, sẽ làm sâu sắc them mâu thuẫn của xã hội phong kiến, cách mạng tư sản sẽ nổ ra. Nhiệm vụ của cách mạng tư sản chủ yếu chỉ là giải quyết về mặt chính quyền nhà nước, làm cho kiếm trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó.

Cách mạng vô sản có điểm khác biệt căn bản với cách mạng tư sản. Do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa xã hội không thể ra đời từ trong lòng xã hội tư sản. Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa ra đời sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ lâu dài, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện được. Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới, cần phải có thời gian. Nói cách khác, tính tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ sự phân tích như vậy, V.I.Lênin cho rằng cách mạng vô sản thắng lợi mới chỉ là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội.

Phân tích bối cảnh hiện thực ở Châu Âu trong nhũng năm 8090 của thế kỷ XIX ,và triển vọng của cuộc CMXH do giai cấp công nhân và chính đảng CM của nó lãnh đạo, .Engel cho rằng: đã đến lúc chính đảng của giai cấp công nhân phải nắm lấy quyền quản lý đất nước, tiếp thu những thành quả kinh tế, xã hội do giai cấp tư sản tạo ra và lấy đó làm tiền đề vật chất để “tạo lập ra chế độ XH mới cũng như sinh ra những con người mà chỉ có họ mới đủ sức mạnh, ý chí nghị lực, có năng lực sáng tạo lý luận và họat động thực tiễn, luôn nhạy bén với sự biến đổi của hiện thực lịch sử là 1 trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng CM “. Bởi tiếp theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản sẽ là một TKQĐ lâu dài, hết sức phức tạp và khó khăn. Coi thời kỳ quá độ này là một cuộc đấu tranh lâu dài ác liệt, Engel cho rằng: “cuộc đấu tranh này chỉ đi đến thắng lợi cuối cùng khi chính đảng Cách mạng của giai cấp công nhân có được đội ngũ những ngừời công nhân sáng suốt về chính trị, kiên trì nhẫn nại nhất trí, có kỉ luật, những phẩm chất mà nhờ đó họ thu được những thành công rực rỡ”.Bời vì họ là những người đang nắm trong tay “tính tất yếu của lịch sử” của cuộc đấu tranh này

3. Tính tất yếu đối với Việt Nam

Như đã biết, xã hội có áp bức ắt hẳn có đấu tranh, và nhân dân ta đã lấy đấu tranh để chống lại áp bức bóc lột của Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, từ ngàn đời khát khao về một xã hội công bằng tốt đẹp thể hiện qua những cuộc đấu tranh chống ngọai xâm và ước mơ giải phóng dân tộc, dân ta phải đấu tranh với kẻ thù đàn áp .Đó là tính tất yếu của xã hội. Nhưng vì sao chúng ta lựa chọn con đường đi lên XHCN, bỏ qua TBCN? Có thể thấy những nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cũng đã từng lựa chọn con đường cách mạng tư sản để đấu tranh nhưng không thành công. Điều đó cho thấy con đường đấu tranh bằng cách mạng Tư sản không phù hợp với thực trạng nước ta bấy giờ .

Đến với con đường đấu tranh của HCM, Người đã chọn hình thức đấu tranh vô sản, do giai câp công nhân, nông dân lãnh đạo, và đã giành được thắng lợi thể hiện ở CMT8 thành công, miền Bắc đi lên xây dựng XHCN, cuộc cách mạng này chứng minh sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta là đúng đắn, phù hợp với thực tế VN.


Đồng thời ,theo lý luận của khoa học của Lê Nin thì :

a) CNXH có thể diễn ra ở các nước thuộc địa.

b) Giữa 2 giai đọan của chế độ CNXH ko có vách ngăn phù hợp, vì vậy miền Bắc đi lên CNXH trước miền Nam.

c) “Quá độ bỏ qua” chế độ TBCN trong thời đại hịên nay chỉ là sự vận dụng đúng lịch sử của nhân lọai đã có như Nga Đức Pháp Mỹ... từ chế độ nô lệ bỏ qua chết độ phong kiến lên TBCN

Tóm lại, có thể trả lời câu hỏi:”Vì sao Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua TBCN ?” qua các lý so sau:

Phù hợp với chí ý nguyện vọng của nhân dân

Phù hợp với hiện thực Việt Nam

Phù hợp với cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin

Đây chính là cơ sở lý luận mang tính tất yếu của thời kỳ qúa độ lâu dài ở VN. Vậy tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam là gì?

1. Đây chính là quy luật phù hợp với sự chuyển đổi đối với các nước đi lên XHCN trong thời đại ngày nay, hay nói cách khác đấy chính là sự phù hợp với lý luận cách mạng ko ngừng của chủ nghĩa Mác Lênin. Sau cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN ở miền Bắc, nước ta chuyển ngay sang cách mạng XHCN, vừa xây dựng XHCN ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống Đế Quốc Mỹ ở miền Nam, đồng thời đấy cũng là sự phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay: CNTB với những mâu thuẫn ngày càng gay gắt và sâu sắc chắc chắn sẽ bị thay thế bởi hệ thống XHCN trên phạm vi tòan thế giới. CNTB không phải là tương lai của loài người. Đây là xu hướng khách quan thích hợp với lịch sử.

2. Đây là sự phù hợp với lịch sử của Việt Nam thể hiện ở sự phù hợp TKQĐ ở nước ta với lý luận chung về tính chất tất yếu của TKQĐ, cụ thể là:

Nhà nứớc ta đã thực hiện rõ điều này trên quan điểm: ”Bỏ qua CNTB tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN nhưng hấp thu kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới thời TBCN.”

Đất nước ta còn yếu kém, nhìều tàn dư của chế độ xã hội cũ và chiến tranh để lại. Công cuộc đi lên CNXH là một công việc khó khăn phức tạp do đó cần phải có thời gian để cải tạo xã hội, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho CNXH
.
Và sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở nứoc ta đã có đủ điều kiện quá độ lên TBCN, đó là những điều kịên:

+ Nhân dân đoàn kết tin tưởng vào chế độ XHCN

+ Chính quyền thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng CS

+ Có sự giúp đỡ của các nước tiên tiến, các nước XHCN anh em và phong trào cách mạng tiến bộ của thế giới

Tóm lại, thời kỳ qúa độ lên CNXH bỏ qua thời kỳ TBCN là tính tất yếu, là sự lựa chọn sáng suốt của Đảng và nhân dân ta.

II. Tiền đề khách quan, chủ quan để Việt Nam bỏ qua tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội

1. Tiền đề khách quan

Cuộc CM khoa học công nghệ hiên đại đang phát triển, toàn cầu hóa kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, hòa nhập kinh tế thế giới trở thành điều kiện tất yếu, nó mở ra khả năng thuận lợi để khắc phục những hạn chế của nước kém phát triển như: thiếu vốn, công nghiệp lạc hậu, năng lực quản lý kém...
Thời đại ngày nay, quá độ lên CNXH là xu hướng khách quan của loài người. Đi trong dòng lịch sử, chúng ta đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người ,của các quốc gia độc lập đang đấu tranh để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình

2. Tiền đề chủ quan

Có nguồn lao động dồi dào, cần cù, thông minh, trong đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề có hàng chục ngàn người là tiền đề quan trọng để tiếp thu, sử dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới.
Có vị trí tự nhiên thuận lợi :

+ Có bờ biển kéo dài hơn 3.246 km2, có nhiều mỏ dầu khí chưa đựợc khám phá hết, có ngư trường rộng lớn… đó là nhiều ưu đãi của thiên nhiên, tạo điều kiện cho giao lưu hội nhập quốc tế

+ Có hai vựa lúa lớn: Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long, có các vị trí thuận lợi trồng cây công nghiệp khác như Bình Dương, Đồng Nai…

Quá độ lên CNXH không những phù hợp với qui luật phát triển của lịch sử mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, những người đã chiến đấu hi sinh thân mình vì độc lập tự do của dân tộc, vì sự ấm no của mọi người, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh những yêu cầu ấy chỉ có XHCN mới đáp ứng được

Xây dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đó là nhân tố vô cùng quan trọng giúp giữ gìn sự tồn tại và phát triển của công cuộc xây dựng và phát triển của tổ quốc VN XHCN

III. Nhiệm vụ của Việt Nam khi bỏ qua Tư bản chủ nghĩa

Phát triển nhanh mạnh lực lượng sản xuất, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH, muốn vậy phải phát triển cả lực lượng sản xuất và sức lao động, đặc biệt là sức lao động (nhân tố con người) phải thực hiện Công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nền kinh tế quốc dân, phải phát triển nhanh nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta.
Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN.
Kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo.
Kinh tế hợp tác xã bao gồm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ v.v... Kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến.
Chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.
Đảng khẳng định lấy Chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Xây dựng hệ thống chính trị XHCN.
Xây dựng nhà nước là của dân do dân và vì dân.
Mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
Phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Thực hiện dân chủ XHCN. Phát huy khả năng sáng tạo, tính tích cực chủ động của mọi cá nhân.

IV.Mục tiêu và phương hướng cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Theo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng là 1 chế độ có 6 đặc trưng cơ bản chính:

1) Do nhân dân lao động làm chủ

2) Có nề kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu

3) Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

4) Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển bản thân.

5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết cùng giúp nhau tiến bộ

6) Có quan hệ hợp tác hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới,
các đặc trưng trên góp phần hình thành ưu điểm của các nước XHCN, các đặc điểm này ngày càng được hoàn chỉnh, duy trì.

Qua suốt 20 năm đổi mới, hoàn thiện trên con đường đi lên XHCN, Đảng ta đã xác định TKQĐ đất nước còn dài, còn nhiều khó khăn phải đương đầu, nhiều chặn đường phải trải qua.


1. Mục tiêu

Mục tiêu quan trọng của chặng đường đầu là: Đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định và vững chắc, tạo tiền đề cho sự phát triển sau này .
Mục tiêu kế tiếp là đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hóa nhằm đến năm 2020 nước ta trở thành nước cơ bản công nghiệp hiện đại (tập trung xây dựng đội ngũ kỹ thuật, kỹ sư lành nghề trình độ cao, xây dựng mối quan hệ tổ chức sản xuất hiện đại, quốc phòng được cũng cố...)

2. Phương hướng

Xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân vì dân, lấy dân là nền tảng họat động, dựa trên cơ cấu thành phần chính là công nhân, nông dân, thành phần tri thức, tất cả do Đảng Cộng sản lãnh đạo .

Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền móng nông nghiệp toàn diện, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội, cải thiện đời sống cá nhân.

Thiết lập từng bước mối quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đa dạng về hình thức sở hữu và phân phối phát triển thành phần hàng hóa nhìều thành phần vận hành theo nền kinh tế thị trường theo định hứớng XHCN.

Tiến hành CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa làm cho chủ nghĩa Mác Lênin trở thành vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, đòan kết với các phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập của dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Xây dựng XHCN gắn liền với bảo vệ tổ quốc.

Xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh về chính trị, bồi dưỡng công các chính trị, tư tưởng các cán bộ. Đảm bảo công tác giữ an ninh trật tự xã hội, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp XHCN ở nước ta

KẾT LUẬN

Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn là con đường phát triển rút ngắn theo phương thức quá độ gián tiếp. Đó là con đường phát triển tất yếu, khách quan, hợp quy luật theo tiến trình phát triển lịch sử tự nhiên của cách mạng Việt Nam, là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Với Việt Nam, con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường phát triển tất yếu, khách quan, hợp quy luật. Và, về thực chất, đó là con đường phát triển rút ngắn theo phương thức quá độ gián tiếp nhằm tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, nhằm phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quá trình rất khó khăn, phức tạp, tất yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”
Trên đây là toàn bộ bài tập học kỳ của em với đề tài “Vấn dề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.
Xem thêm

15 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TT HCM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ, SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TIỂU LUẬN CAO HỌC TT HCM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ, SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

Thế giới đã từng biết đến với một tư tưởng lý luận Mác Lênin khoa học, biện chứng, phù hợp với đầy tính thuyết phục. Bằng việc tìm ra, nghiên cứu, học hỏi và phát triển nó cho phù hợp với lịch sử của đất nước ta, Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – một chính Đảng chân chính của giai cấp công nhân đã đưa cách mạng nước ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Gần tám thập niên qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cả thời chiến lẫn thời bình, đất nước ta không chỉ đánh tan bè lũ cướp nước mà còn xây dựng nên một nước CHXHCN Việt Nam giàu mạnh về kinh tế, công bằng dân chủ về xã hội, tiên tiến mang đậm chất truyền thống văn hóa Việt. Vươn lên sánh ngang tầm với các cường quốc lớn trên thế giới.
Hơn 45 năm, nước ta chìm trong chiến tranh, kèm theo đó là sự đau khổ và đổ máu. Lòng căm thù sẵn có của nhân dân, lòng yêu nước nồng nàn của truyền thống dân tộc luôn sẵn sàng đứng lên đấu tranh bất cứ lúc nào song không có một đường lối đúng đắn và một người lãnh đạo sáng suốt.
Trong bối cảnh ấy, ngày 321930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Một Đảng cách mạng chân chính, bộ tham mưu sáng suốt và kiên cường của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng tháng 81945 thành công, xóa bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Đảng đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam. Để rồi đưa toàn bộ dân tộc Việt Nam đến với đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất toàn bộ đất nước, non sông thu về một mối.
Chấm dứt chiến tranh, một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do lại được mở ra cho đất nước ta. Bước vào thời bình, vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn không hề giảm sút mà ngày càng được nâng cao. Được sự tin tưởng của nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, xây dựng về mọi mặt cho đời sống xã hội phát triển.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Bằng kiến thức về quan hệ quốc tế, đồng chí hãy làm rõ công cuộc đổi mới XHCN là con đường phát triển tất yếu của cách mạng VN giai đoạn hiện nay

BẰNG KIẾN THỨC VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ, ĐỒNG CHÍ HÃY LÀM RÕ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI XHCN LÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA CÁCH MẠNG VN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Bằng kiến thức về quan hệ quốc tế, đồng chí hãy làm rõ công cuộc đổi mới XHCN là con đường phát triển tất yếu của cách mạng VN giai đoạn hiện nay.
Sau những sai lầm trong thời kỳ đầu quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng giai đoạn trước 1986, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần VI, Đảng ta đã xác định rằng để tồn tại sống còn, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta bắt buộc phải đổi mới. Từ đó đến nay, công cuộc đổi mới XHCN toàn diện và sâu sắc đã chứng tỏ nó là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Bằng lý luận quan hệ quốc tế, chúng ta phân tích làm rõ luận điểm trên.
Xem thêm

8 Đọc thêm

PHẬN TÍCH CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA HIỆN NAY TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA NHÓM VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY

PHẬN TÍCH CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA HIỆN NAY TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA NHÓM VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY

1.1.1. Khái niệm
Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra quyết định chính trị.
Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội, và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống.
1.1.2. Bản chất.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Hệ thống chính trị nước ta có những bản chất sau:
Hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân.
Quyền lực thuộc về nhân dân với việc nhà nước của dân do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng độ tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lơi ích của giai caaso công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đạ số nhân dân với thiểu số bóc lột.
Bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu về sự thống nhất giữ những lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.
1.1.3. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay:
Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề
Xem thêm

24 Đọc thêm

CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ HIẾN PHÁP 1992

CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ HIẾN PHÁP 1992

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
(Đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 1541992)
I: Quá trình hình thành hiến pháp 1992
Vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 tình hình thế giới có những biến động lớn. Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đổ của một loạt các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu khiến Việt Nam mất đi một chỗ dựa vững chắc. Hơn nữa, sau một thời gian phát huy hiệu lực nhiều qui định của Hiến pháp năm 1980 tỏ ra không phù hợp với điều kiệm kinh tế xã hội của đất nước. Trước tình hình đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI1986 đã mở ra thời kì đổi mới ở đất nước ta. Đảng chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những sai lầm, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, để có những nhận thức mới, đúng đắn về CNXH và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.
• Với tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Quốc hội khoá 8, tại kỳ họp thứ 3 ngày 22121988 đã ra Nghị quyết sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980. Cụ thể là Quốc hội (khóa VIII) đã ra Nghị quyết thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp gồm 28 đồng chí do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp. Ủy ban dự thảo Hiến pháp đã họp nhiều phiên để chỉnh lí, bổ sung và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi
• Cuối năm 1991 đầu năm 1992, Bản dự thảo Hiến pháp lần ba đã được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân và ý kiến của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Dự thảo Hiến pháp lần 4 đã hoàn thành và được trình lên Quốc hội khoá VIII, tại kỳ họp thứ XI xem xét.
Đến ngày 1541992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, Bản dự thảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII thông qua (tại kỳ họp thứ 11). Hiến pháp năm 1992 được gọi là Hiến pháp của nước Việt Nam trong thời kỳ đầu của tiến trình đổi mới.
Ngày 25122001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số 512001QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
=>>Việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp năm 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ và chắt lọc một cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất cả các vấn đề từ quan điểm chung đến các vấn đề cụ thể. Bản Hiến pháp này là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Đúng như nhận xét của đồng chí Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, nó là sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước( nói riêng ngoài slide)
Hiến pháp năm 1992 bao gồm 12 chương, 147 điều, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước ta.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN THI CHUYÊN VIÊN CHÍNH NĂM 2015

TÀI LIỆU ÔN THI CHUYÊN VIÊN CHÍNH NĂM 2015

Tài liệu ôn thi chuyên viên chính năm 2015 Bộ tài liệu gồm nhiều phần, mỗi phần 1 file văn bản phục vụ công tác ôn thi chuyên viên chính khối Đảng, Nhà nước năm 2015I. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAMHệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

23 Đọc thêm

luận văn thạc sĩ Báo chí với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu việt

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU VIỆT

1. Tính cấp thiết của đề tài
Về phương diện nhận thức khoa học
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng nước ta vẫn tiếp tục khẳng định sứ mệnh lịch sử của mình trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Chuyển sang cơ chế thị trường, cùng với sự “trăn trở” của đất nước, báo chí cách mạng Việt Nam đã vượt qua những thử thách cam go để đứng vững và phát triển.
Ngày nay báo chí không chỉ là công cụ truyền bá tư tưởng văn hóa mà còn là một phương tiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Thông tin sâu rộng về mọi mặt của đời sống xã hội trên báo chí đã trở thành một phần tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế và đó cũng là thước đo nhất định của sự phát triển xã hội.
Xem thêm

114 Đọc thêm

Chiến lược trồng người trong công tác giáo dục đào tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

CHIẾN LƯỢC TRỒNG NGƯỜI TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới hiện nay là một tất yếu khách quan, với quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế văn hóa, mà tập trung là đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Ngành giáo dục đào tạo ở nước ta đã và đang có nhiều cố gắng, đạt được những thành tích đáng khích lệ. Song giáo dục đào tạo cũng bộc lộ nhiều tồn tại yếu kém và bất cập trước những yêu cầu phát triển cao của đất nước.Vì vậy, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người nhằm soi sáng cho việc hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách, mục tiêu, biện pháp...đối với công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và mang tính thời sự nóng hổi, đặc biệt là việc xây dựng con người mới ngày càng trở nên cấp thiết... Vì lý do trên, tôi chọn vấn đề Chiến lược trồng người trong công tác giáo dục đào tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Xem thêm

31 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trong các hình thái xã hội thì chủ nghĩa xã hội là một hình thái xây dựng xã hội công bằng nhất, mà đặc trưng của nó là bảo vệ giai cấp vô sản đặc biệt là tầng lớp Công – Nông. Đây là một xã hội lý tưởng bởi xã hội đó sự phát triển tự do của một người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Trên thế giới cũng có rất nhiều nước đã đi theo con đường này và cũng có nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là sự xóa bỏ những áp bức bất công. Đây chính là con đường mà bước ta phải đi theo, nó là một sự tất yếu. Nắm bắt được điều đó Chỉ tịch Hồ Chí minh đã lựa chọn cho cách mạng Việt Nam đi theo Chủ nghĩa xã hội dựa trên tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có sự nghiên cứu để phù hợp với tình hình của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Tuy nhiên quá trình hình thành các hệ thống quan điểm của Đảng về con đường chủ nghĩa xã hội không hề đơn giản. Nó là một quá trình xuyên suốt gắn liền với tình hình lịch sử và gắn liền với các đại hội của nước ta. Các quan điểm ấy được thể hiện bằng các văn kiện trong các kỳ đại hội của Đảng từ khi thành lập đến nay. Trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội Đảng ta gặp không ít khó khăn do nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu lại trải qua nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước. Nhưng Đảng ta luôn luôn kiên định giữ vững lập trường không từ bỏ con đường mà Bác Hồ đã chọn, cố gắng đưa đất nước từ từ đi lên. Đến nay Đảng và nhà nước ta đã gặt hái được nhiều thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đạt được thành quả đó trước hết là nhờ sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, tiếp đến là sự nỗ lực trong quá trình xây dựng các hệ thống quan điểm vững vàng, cẩn trọng trong từng đường đi nước bước. Vì vậy việc nghiên cứu Quá trình hình thành các hệ thống quan điểm của Đảng về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội là rất quan trọng, để nâng cao một bước nhận thức lý luận và củng cố niềm tin và thắng lợi xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Xem thêm

31 Đọc thêm

TIỂU LUẬN LIÊN MINH CÔNG NÔNG TRÍ Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN LIÊN MINH CÔNG NÔNG TRÍ Ở VIỆT NAM

A LỜI MỞ ĐẦU

Sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, xây dựng CNXH và công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ nhưng đã đạt được những thành tựu to lớn, rất quan trọng và vẻ vang. Một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của Cách mạng là liên minh công – nông – trí thức tạo nên sức mạnh vô địch, là bản lĩnh, trí tuệ và sự dũng cảm phi thường của con người Việt Nam.

Với một quá khứ hào hùng, oanh liệt của liên minh các tầng lớp giai cấp công – nông – trí với những con người anh hùng đã góp mình vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Vậy giờ đây một con người thuộc cái tầng lớp, giai cấp này họ đang phài sống trong thực trạng như thế nào trong xã hội của nước ta hiện nay?
Tôi xin nói rõ vấn đề này và phương hướng cơ bản để xây dựng một liên minh công – nông – trí vững mạnh để xây dựng đưa nước ta phát triển thành một nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa trên con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.

B LIÊN MINH GIAI CẤP CÔNG NÔNG TRI THỨC TRONG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY


І. Thực trạng giai cấp công nông tri thức trong xã hội nước ta hiện nay

1. Giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân nước ta hiện nay có khoảng 4,53 triệu người, chiếm 6% dân số. Về cơ cấu thành phần kinh tế, công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước từ chỗ là đại diện cho toàn bộ giai cấp công nhân trongthời kỳ trước đổi mới nay chỉ giữ một số lượng và tỷ lệ thấp hơn (1,83 triệu, chiếm 40,8%) so với công nhân của khu vực ngoài nhà nước (2,68 triệu chiếm 59,2%). Tỷ lệ công nhân nhà nước tỷ lệ nghịch với tốc độ và quy mô đổi mới doanh nghiệp nhà nước đang diễn ra mạnh mẽ trong mấy năm gần đây dưới sức ép của nhu cầu nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của kinh tế quốc tế. Hậu quả tất yếu nhưng không mong muốn của tiến trình này là hiện có hơn 150000 người vốn là công nhân nhà nước, nay thuộc diện dư dôi, thất nghiệp. Cơ cấu thành phần cuả công nhân hiện nay rất phức tạp, có những người vừa làm cho Nhà nước vừa làm cho tư nhân hoặc mang danh là công nhân nhưng lại sống bằng nghề phụ, kinh tế hộ cá thể.
Xem thêm

20 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ - XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ - XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định đến chất lượng hiệu quả lãnh đạo và sự sống còn của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng; là quy luật tất yếu trong suốt quá trình tồn tại, trưởng thành, phát triển của Đảng, là một nội dung trọng tâm, then chốt trong đổi mới chỉnh đốn Đảng hiện nay.

101 Đọc thêm

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1986 – 2000

1.Lý do cấp thiết của đề tàiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Con đường cách mạng của nước ta từ một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp. Cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta rất lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thời kì đổi mới nhận mạnh : “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận”. Đồng chí đặt vấn đề để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, với niềm tin yêu của dân, Đảng phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự lãnh đạo của mình. Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập, nếu thiếu trình độ lý luận, học vấn thì khó mà làm được. Đây là lĩnh vực đầy rẫy những cấp bách, thậm chí là cấp bách nhất phải đổi mới.Trải qua gần 15 năm (1986 – 2000), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đất nước cũng có nhiều điểm khác so với thời kỳ trước đây.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986) của Đảng, trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về các vấn đề của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định Xét trên tổng thế, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội và đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về những vấn đề cơ bản của quá trình đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, và là sinh viên chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em lựa chọn đề tài Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000”.Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào một số quan điểm trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986).
Xem thêm

46 Đọc thêm

ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Bài luận án chính trị ĐỘC QUYỀN gồm 107 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC.
MỤC LỤC MỞ ĐẦU................................................................................................. Chương 1. PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI BÁO CHÍ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN............................................ LL Một số khái niệm cơ bản.................................................................. 1.2. Các phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí...................... 1.3. Tính tất yếu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay.............................................................. Chương 2. PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI BÁO CHÍ THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA............ 2.1. Thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí.......... 2.2. Những vấn đề đặt ra về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí...................................................................................................... Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TRONG THỜI KỲ MỚI......................................................................................... 3.1. Quan điểm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí............................................................................................................. 3.2. Giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí.... KÉT LUẬN............................................................................................. TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................... 12 12 18 22 32 32 63 78 78 80 98 99..2
MỎ ĐÀU 1. Lý do chọn đê tài Báo chí ở nước ta là phuong tiện thông tin đại chúng thiết yếu trong đời sống của xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong công tác tu tưởng văn hóa của Đảng. Trong suốt tiến trình cách mạng, báo chí ở nước ta luôn là công cụ sắc bén tuyên truyền bảo vệ lợi ích của dân tộc, nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Đảng lãnh đạo trực tiếp và toàn diện đối với báo chí là một nguyên tắc bất di bất dịch trong công tác lãnh đạo của Đảng. Báo chí là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tu tưởng, lý luận. Nghị quyết Trung ương 5 khóa x đã nêu rõ công tác tu tưởng, lý luận và báo chí là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Hiện nay, bên cạnh những uu điểm, thành tựu, hoạt động báo chí còn nhiều hạn chế như nhiều nội dung thông tin trên báo chí không phù hợp thuần phong mỹ tục, thông tin sai sự thật, có những thời điểm thông tin dày đặc về các vụ việc tiêu cực, làm giảm sự cảm nhận xã hội tích cực của người dân. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật; các thế lực thù địch quyết liệt thúc đẩy quá trình “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, tác động nhằm làm suy thoái về chính trị, tu tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho người dân mất niềm tin đối với Đảng và che độ. Trong bối cảnh đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, với những nhiệm vụ cách mạng mới, đòi báo chí phải làm tốt nhiệm vụ chính tri của mình trên mặt trận tu tưởng, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội. 3 Do vậy, đôi mới phương thức lãnh đạo của đảng đôi với báo chí là yêu câu khách quan, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Thời gian qua, tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, lãnh đạo chặt chẽ công tác báo chí. Từ nhận thức đổi mới về báo chí trong tình hình cách mạng hiện nay, Đảng ta đã có những định hướng lớn để phát triển báo chí, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý báo chí. Quán triệt tu tưởng chỉ đạo của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực báo chí được xây dựng và ban hành trong thời gian qua đã thể chế hóa đường lối, quản điểm của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng vào thành quả của lĩnh vực thông tin hết sức quan trọng này. Tuy nhiên, công tác thể chế hóa quan điểm của Đảng thành pháp luật của Nhà nước được thực hiện chưa đạt hiệu quả cao, trong đó có nguyên nhân từ công tác chỉ đạo của Đảng còn có những mặt chưa bắt kịp thực tiễn. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí thể hiện ở một số mặt công tác như định hướng chính trị, tu tưởng, định hướng thông tin báo chí, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa quan điềm của Đảng về báo chí thành pháp luật của Nhà nước, công tác cán bộ báo chí, công tác kiểm tra, giám sát cần bám sát thực tiễn hơn nữa. Bên cạnh đó, những yêu cầu của hoạt động tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền để quản lý xã hội bằng pháp luật nói chung, quản lý báo chí nói riêng đã đặt ra những yêu cầu mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác báo chí. Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, dân chủ hóa và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; yêu cầu trong việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vi dân, đã đặt ra nhiều vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối 4 với hệ thông chính trị và toàn xã hội. Đê tích cực, chủ động hội nhập với báo chí khu vực và quốc tế nhung vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, giữ gìn thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, phát triển dân chủ xã hội, thì yêu cầu trước tiên đó là hệ thống pháp luật về báo chí của nước ta phải được hoàn thiện, đáp ứng điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vi dân. Thực tiễn đó đòi hỏi Đảng ta phải có “tầm nhìn” xa, trông rộng, đổi mới phuong thức lãnh đạo đối với báo chí, để định hướng, dần dắt nền báo chí cách mạng nước nhà có những bước phát triển mới, phù họp với thực tiễn phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại. Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu đề tài “Đồi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay ” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết, góp phần nhận diện rõ thực trạng p h ươn g thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đến nay và tính tất yểu cũng như nội dung phải đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với báo chí. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Qua nghiên cứu, tập hợp, thống kê tài liệu nhận thấy có rất nhiều tài liệu liên quan đến đề tài. Đảng lãnh đạo báo chí là đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu. Tư liệu về vấn đề này vi thể hết sức phong phú. Có thể phân thành các nhóm tư liệu như sau: Thứ nhất, nhóm các văn bản của Đảng về lãnh đạo công tác báo chí và hoạt động báo chỉ: Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc: lần thứ VI, VII, VIII, IX, x, XI. Chỉ thị 08 CTTW ngày 31 tháng 3 năm 1992 của Ban Bi thư (khóa VII) về tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chat lượng và 5 hiệu quả công tác báo chí xuât bản. Chỉ thị số 22CTTW ngày 17101997 của Bộ Chính trị về tiep tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản; Thông báo kết luận số 162TBTW ngày 1122004 của Bộ Chính tri về một số biện pháp tăng cường quản lý bảo chỉ trong tình hình hiện nay; Chỉ thị số 52CTTW ngày 2272005 của Ban Bi thư về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay; Thông báo kết luận số 41TBTW ngày 11102006 của Bộ Chính trị về một so biện pháp tang cường lãnh đạo và quản lý báo chí; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa x (2007) về công tác tư tưởng, lỷ luận và bảo chỉ trước yêu cầu mới. Thông báo kết luận số 68TBTW ngày 3032007 của Bộ Chính trị về tiep tục thực hiện Thông báo so 41TBTW ngay 11102006 của Bộ Chỉnh tri về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý bảo chỉ; Quyết định số 75QĐTW ngày 2182007 của Ban Bi thư về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí; Quyet định số 155QĐTW ngày 2342008 của Ban Bi thư về việc ban hành Quy định về sự phoi hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban cản sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông, Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam và các cơ quan Đảng, Nhà nước trong công tác chi đạo, quản lý báo chí; Quyet định số 157QĐTW ngày 2942008 của Ban Bi thư về việc ban hành Quy định về chỉ đạo, định hướng chính trị, tư tưởng, nhất là đối với các vẩn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm trong nội dung thông tin của bảo chỉ; Chỉ thị số 25CTTW ngày 3172008 của Ban Bi thư về tang cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chi; 6 Quyết định số 202QĐTW ngày 11122008 của Ban Bi thư về việc ban hành Quy chế phối họp và gắn kết công tác tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ và công tác kiểm tra, giảm sát của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chi; Thông báo kết luận số 221TBTW ngày 1222009 của Ban Bi thư về việc tiếp tục nâng cao vi tri, vai trò, chat lượng và hiệu quả hoạt động của các cấp hội nhà báo Việt Nam; Chỉ thị số 30CTTW ngày 25122013 của Bộ Chính trị về phat triển và tăng cường quản lý bảo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình thông tin trên Internet. Nội dung các văn bản của Đảng về lãnh đạo công tác báo chí và hoạt động báo chí thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng ta, đó là báo chí phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật; nhấn mạnh báo chí là công cụ công tác tư tưởng quan trọng của Đảng, phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước và vi mục tiêu của Đảng. Trong bối cảnh nước ta phát triển nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và trong giai đoạn toàn cầu hóa thông tin hiện nay, nền báo chí cách mạng nước ta phải tiếp tục phát huy vai trò và sứ mệnh cao cả của mình, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các văn bản của Đảng đã nhấn mạnh tới nhiệm vụ của báo chí trong tình hình mới, đồng thời đưa ra những định hướng lớn trong việc tăng cường công tác quản lý báo chí, trọng tâm là các mặt công tác như: định hướng nội dung thông tin; cán bộ báo chí; kiểm tra, giám sát; xây dựng Đảng trong co quan báo chí; xây dựng pháp luật về báo chí; phối họp giữa các co quan báo chí. Thứ hai, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về báo chỉ Đó là những văn bản pháp lý của Nhà nước như: Luật Báo chí (1989); Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí (1999); Nghị định số 7 512002NĐCP ngày 2642002 quy định chi tiêt thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí; và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Nội dung Luật Báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí hiện hành đã điều chỉnh tuơng đối toàn diện hoạt động của cơ quan báo chí và nhà báo với các quy định cụ thể về vai trò của báo chí như là một công cụ công tác tu tưởng của Đảng; quy định về trách nhiệm và quyền hạn của nhà báo; chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí; quyền tự do ngôn luận của nhân dân thông qua báo chí; quy định các hành vi cấm thông tin trên báo chí..vv... Thứ ba, các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sĩ, luận vãn thạc st liên quan đến lãnh đạo, quản lý báo chỉ Chu Thái Thành (1999), Đội ngũ nhà báo Việt Nam trong công cuộc đôi mới theo định hướng XHCN, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Trần Bá Dung (2000), Cac quan điểm của Đảng về báo chí trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến 1999), Luận án Thạc sĩ báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền. Trần Hùng (2001), Bảo chỉ trong việc thực thỉ quyen lực chỉnh trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luận văn thạc sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Nguyễn Vũ Tiến (2003), Sự lãnh đạo của Đảng đổi với bảo chí trong thời ky đổi mới, Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Vũ Đình Thường (2004), Hoạt động báo chi trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận văn thạc sĩ văn hóa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 8 Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát trỉên báo chỉ xuât bản, NXB Chính trị quốc gia; Lưu Văn An (2007), Truyền thông đại chủng trong hệ thong to chức quyền lực chỉnh tri ở các nước tư bản phat triển, đề tài khoa học của Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Kỷ (chủ biên) (2012), Công tác lãnh đạo quản lý bảo chi trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Các công trình nêu trên đã nghiên cứu toàn diện về vai trò và nội dung lãnh đạo của Đảng đối với báo chí. Đặc biệt, luận án tiến sĩ của Nguyễn Vũ Tiến đã đề cập đầy đủ nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí. Cuốn sách do Tiến sĩ Nguyễn Thế Kỷ chủ biên đã cập nhật những vấn đề mới trong công tác lãnh đạo, quản lý báo chí thời kỳ đổi mới. Các luận văn thạc sĩ đã làm rõ hệ thống quan điểm của Đảng ta về báo chí; vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo, sử dụng báo chí như một công cụ thực thi quyền lực chính trị. Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí được đề cập ở các công trình trên là những vấn đề được kế thừa, nghiên cứu phát triển trong luận văn. Trên co sở những luận điểm về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí được thể hiện trong các công trình đã công bố, tác giả tiếp cận vấn đề phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí ở góc độ chính trị học, di sâu nghiên cứu một cách toàn diện về phương thức lãnh đạo của Đảng (với tư cách là Đảng cầm quyền) đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay, trong đó phần thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí được bổ sung, cập nhật đầy đủ hơn (từ năm 2006 đến nay). Giải pháp về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí là nội dung chỉ được đề cập chung chung trong các công trình trước đó. Thực tiễn cho thấy, 9 chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu vê đôi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí. Đó là lý do người viết lựa chọn nội dung này làm đề tài nghiên cứu của mình, mong muốn góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay. Thứ tư, các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học và tham luận y tai các hội thảo khoa học vê báo chỉ • • • Ban Tu tưởng Văn hóa Trung ương Bộ Văn hóa Thông tin (2001), Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 4 năm thực hiện Chỉ thị 22 của Bộ Chỉnh trị về bảo chí xuất bản, Hà Nội; Nguyễn Vũ Tiến (2002), “Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, Tạp chí Lý luận chính trị, số 92002; Lê Doãn Hợp (2007), Quản lý báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Báo điện tử Nhân dân (186); Tô Huy Rứa (2007), Tiếp tục đổi mới và phát triển vững chắc nền báo chí cách mạng nước ta, Báo Nhân dân (216); Trần Đăng Tuấn (2007), “Một số vấn đề lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Cộng sản số 62007..vv... Các tham luận và bài báo khoa học trên đã làm rõ những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động báo chí, những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý báo chí, từ đó đề xuất nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí. Tuy nhiên, vấn đề phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí được đề cập còn chung chung; vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí chưa được đặt ra đúng mức, nhất là trong điều kiện nước ta giai đoạn hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay, tác giả luận 10 văn đề xuất một số quan điểm, giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Từ mục đích đặt ra như trên, luận văn tập hung giải quyết các nhiệm vụ sau: Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí ở Việt Nam; Hai là, khảo sát thực trạng và làm rõ những vấn đề đặt ra trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay; Ba là, đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới.
Xem thêm

107 Đọc thêm

Cùng chủ đề