QUAN HỆ DI TRUYỀN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUAN HỆ DI TRUYỀN":

 ĐADẠNG DI TRUYỀN 5 QUẦN THỂ GÀ NỘI

ĐADẠNG DI TRUYỀN 5 QUẦN THỂ GÀ NỘI

mỹ thuật mà nó còn liên quan tới cuộc sống của con người trên toàn cầu thông qua việcsử dụng các sản phẩm từ nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi. Ngoài việc tạo ra nguồnthực phẩm, thì nguồn tài nguyên động vật còn được ví như “kho lưu trữ” các tính trạngquý trong quá trình sản xuất nguồn thực phẩm. Các loài gia cầm bản địa là một trongnhững nguồn gen quý đã có sự thay đổi để phù hợp với các điều kiện môi trường.Những giống gà bản địa có thể có những gen hoặc alen phù hợp với các điều kiện môitrường sinh ra nó [33]. Việc bảo tồn các giống bản địa đóng vai trò quan trong đối vớicông tác chọn và tạo giống hiện tại cũng như trong tương lai.Việc đánh giá các vốn gen sẽ đóng góp một phần vào công tác bảo tồn các giốnggà địa phương, đặc biệt việc sử dụng các phương pháp sinh học phân tử làm công việcđánh giá sự đa dạng di truyền là rất quan trọng [32]. Hiện nay có nhiều loại chỉ thị1http://www.fao.org/biodiversity/geneticresources/bio-domesticanimals/en/-6-phân tử được sử dụng trong công tác đánh giá các đặc điểm và mối quan hệ di truyềncủa các giống gà, trong đó các microsatellite là một trong những loại chỉ thị được sửdụng rộng rãi trên thế giới.Ở nước ta hiện nay tuy có nhiều nghiên cứu tập trung mô tả đặc điểm ngoạihình, sinh trưởng phát dục và khả năng sinh sản của các giống gà nội nhưng lại có ítnghiên cứu sử dụng các chỉ thị phân tử để xác định các đặc điểm di truyền từng giống,mối quan hệ di truyền giữa các giống, và nguồn gốc, phân loại các giống gà nội. Việcnày làm giảm hiệu quả đầu tư vào công tác bảo tồn, khai thác và sử dụng hiệu quảnguồn gen của các giống gà nội ở nước ta.Từ năm 1990 Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học vàCông nghệ) thay mặt Nhà nước Việt nam đã xây dựng một chương trình Bảo tồnnguồn gen động - thực và vi sinh vật Việt nam. “Đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi
Xem thêm

57 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ

http://www.lrc-tnu.edu.vnSSR, STS, RAPD,... Các phương pháp này khắc phục được nhược điểm củacác phương pháp chọn giống truyền thống bởi đánh giá được hệ gen của câytrồng.Những năm gần đây, diện tích trồng các giống ngô địa phương ngàycàng có xu hướng giảm, nhiều giống ngô nếp quý hiếm sẽ bị mất dần. Nhưvậy, việc sưu tập và nghiên cứu các giống ngô nếp địa phương góp phần bảotồn nguồn gen cây ngô là rất cần thiết.Nghiên cứu sự đa dạng di truyền ở mức DNA và đặc điểm hóa sinh ởgiai đoạn hạt là cơ sở khoa học để đề xuất việc chọn những giống ngô có năngsuất cao và chất lượng tốt góp phần bảo tồn, phát triển nguồn gen cây ngô. Từđó tuyển chọn giống ngô thích hợp làm vật liệu chọn giống là những vấn đềrất được quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hànhthực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số giống ngô(Zea mays L.)”2. Mục tiêu nghiên cứu- Đánh giá chất lượng hạt của một số giống ngô nếp địa phương (Zea mays L.)- Khảo sát sự đa dạng và mối quan hệ di truyền của 14 giống ngô bằng kỹthuậtRAPD.3. Nội dung nghiên cứu- Phân tích đặc điểm hình thái, khối lượng và kích thước hạt của một sốgiống ngô nếp địa phương.- Xác định hàm lượng lipid, protein, đường trong hạt của các giống ngônghiên cứu.- Phân tích sự đa hình DNA được nhân bản ngẫu nhiên, xác định mứcsai khác trong cấu trúc DNA hệ gen của các giống ngô nghiên cứu.
Xem thêm

73 Đọc thêm

ĐA DẠNG DI TRUYỀN 5 QUẦN THỂ GÀ NỘI

ĐA DẠNG DI TRUYỀN 5 QUẦN THỂ GÀ NỘI

Kết quả nghiên cứu các giống gà nội địa Trung Quốc cho thấy khi phân tích bằngmicrosatellite thì tần số dị hợp tử quan sát được là cao nhất (75.91%), tiếp theo là phươngpháp RAPD (Random Amplification of Polymorphic DNA) (26.32%), cuối cùng là phươngpháp phân tích allozyme (22.09%) [44]. Dùng microsatellite khi nghiên cứu trên quần thể gàcó thể thu được hơn 12 alen trên một locus và tần số dị hợp tử có thể lên đến 90% [40]. Khi sửdụng 14 locus microsatellite để phân tích mối quan hệ di truyền giữa các quần thể gà bản địakhác nhau (chủ yếu từ Đức và Ucraina với tổng số 224 cá thể của 20 quần thể) và với gà rừng,việc lập cây quan hệ di truyền đã được tiến hành và thu được 3 nhóm chính [32]. 42 chỉ thịmicrosatellite đã được sử dụng để phân tích 23 dòng gà cao sản của các giống gà Leghorn, gà1http://www.nature.com/nrg/journal/v5/n1/glossary/nrg1247_glossary.html-2 -rừng, gà Fayoumi và gà Tây Ban Nha, qua đó tính được được khoảng cách di truyền giữa gàrừng với các dòng gà khác [45]. 22 chỉ thị microsatellite đã được sử dụng để xác định tần số dịhợp tử và khoảng cách di truyền của các giống gà: Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ. Kết quảcho thấy các giống gà có sự đặc trưng theo từng khu vực.29 locus microsatellite đã được dùng để đánh giá sự đa dạng di truyền của gà H’môngở Sơn La, với 36 cá thể thu từ 3 làng [13]. Nghiên cứu đã chỉ ra có sự khác biệt di truyền giữa3 nhóm gà theo khoảng cách địa lý, các quần thể gà đều ở trạng thái cân bằng Hardy Weinberg và không bị ảnh hưởng bởi giao phối cận huyết. Việc nghiên cứu quần thể gà HàGiang đã kết luận rằng, trong sự vắng mặt của bất cứ cấu trúc quần thể gà nào trong phạm vitỉnh, thì gà H’mong lại chia sẻ vốn gen chung với các giống gà khác [8]. Số lượng lớn alenchung giữa gà Hà Giang và gà rừng, cũng như các kết quả phân tích cụm Bayes đã đề xuấtrằng dòng chảy gen đã diễn ra từ gà rừng tới gà Hà Giang [8]. Việc sử dụng 29 microsatellitekhi nghiên cứu 9 giống gà nội và 2 giống gà Trung Quốc đã xác định rằng các giống gà Việtnam tạo nên vốn gen khác với các giống gà Trung Quốc, các giống gà miền Bắc tạo nên mộtvốn gen không có cấu trúc [14]. Sự khác biệt của các giống gà Việt nam quan sát được giữa
Xem thêm

29 Đọc thêm

Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của quần thể Thông đỏ (Taxus wallichiana Zucc.) tại Lâm Đồng bằng kỹ thuật sinh học phân tử

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA QUẦN THỂ THÔNG ĐỎ (TAXUS WALLICHIANA ZUCC.) TẠI LÂM ĐỒNG BẰNG KỸ THUẬT SINH HỌC PHÂN TỬ

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thông đỏ (Taxus wallichiana Zucc.), tên tiếng anh là Himalayan Yew, là cây thân
gỗ có giá trị kinh tế cao, hiện đang được công nghệ dược phẩm rất quan tâm vì đây
là nguồn thiên nhiên cung cấp các hợp chất taxane, sử dụng trong hóa trị ung thư
như: ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư đầu và cổ, và một số
dạng di căn của ung thư da ...[37].
Do có giá trị kinh tế cao, thông đỏ đang bị lạm dụng khai thác ở hầu hết các nơi trên
thế giới. Thêm vào đó, thông đỏ là loài có khả năng tái sinh tự nhiên rất thấp, nên
nguồn nguyên liệu thiên nhiên này ngày càng trở nên quý hiếm. Ở Việt Nam, thông
đỏ được xem là loài có khả năng tuyệt chủng và được ghi vào sách đỏ với 2 loài:
thông đỏ bắc – Taxus chinensis Z (Pilg.) Rehd., và thông đỏ nam – Taxus
wallichiana Zucc. Cả hai loài đều có số lượng rất ít, chỉ khoảng vài trăm cá thể mỗi
loài. Lâm Đồng là tỉnh có các quần thể thông đỏ nam được biết đến nhiều nhất ở
nước ta với các quần thể tại Xuân Trường, Bidoup, Hồ Tiên, Núi Voi...
Với số lượng quần thể ít, số cá thể trong mỗi quần thể cũng không cao, do đó có thể
tính đa dạng trong quần thể thông đỏ tại Việt Nam là một điều rất đáng quan tâm
đối với lĩnh vực bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên này. Mức đa dạng di
truyền của quần thể càng cao thì quần thể càng có khả năng sống sót trước những
biến đổi của điều kiện môi trường. Tính đa dạng cao của quần thể còn giúp cho các
nhà nhân giống có nhiều lựa chọn hơn trong việc chọn ra nguồn giống có khả năng
sinh tổng hợp lượng hợp chất taxane cao. Vì vậy cần nghiên cứu đánh giá tính đa
dạng di truyền ở mức độ quần thể tạo cơ sở để lựa chọn những giống tốt phục vụ
cho nhu cầu sản xuất và có hướng bảo tồn hợp lý.
Các nghiên cứu về tính đa dạng di truyền ở các loài thực vật nói chung và thông đỏ
nói riêng đã được tiến hành ở nhiều nơi, sử dụng các marker phân tử như allozyme,
RAPD, AFLP, RFLP, microsatelite... Trong số các marker phân tử kể trên thì các
marker RAPD được xem là đơn giản và rẻ tiền nhất để nghiên cứu về đa dạng di
truyền. RAPD đã được dùng trong nghiên cứu về chi Taxus để nhận định loài có
nhiều taxane của Taxus chinensis var. mairei [24], để ước lượng liên hệ cây sinh
loài của Taxaceae [62], để khảo sát sự đa dạng di truyền trong quần thể Taxus
canadensis [53], Taxus cuspidata var. Nana [43], Taxus wallichiana Zucc. vùng
đông bắc Ấn Độ [56] và Taxus wallichiana Zucc. khu vực Hi mã lạp sơn [45].
Bên cạnh đó, PCR-RFLP cũng được dùng để phân tích các marker trên DNA lục lạp
(cpDNA) của Taxus để phát hiện rõ các biến đổi giữa các loài [26], hay phân tích
mối quan hệ di truyền giữa các quần thể Taxus wallichiana Zucc. ở Trung Quốc và
phía bắc Việt Nam [33].
Dựa vào những kết quả nghiên cứu đa dạng di truyền trên thông đỏ kể trên, chúng
tôi bước đầu chọn 2 phương pháp RAPD và cpDNA PCR-RFLP để khảo sát tính đa
dạng di truyền của quần thể thông đỏ Lâm Đồng thông qua đề tài với tên gọi là
“Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của quần thể thông đỏ (Taxus wallichiana
Zucc.) tại Lâm Đồng bằng kỹ thuật sinh học phân tử”.
Mục tiêu của đề tài:
1. Khảo sát mối quan hệ di truyền giữa một số cá thể thông đỏ được thu thập từ
khu vực Lâm Đồng bằng kỹ thuật RAPD:
o Khảo sát mức độ tương quan di truyền giữa các cá thể.
o Khảo sát mức đa dạng di truyền và cấu trúc di truyền của các quần thể
thông đỏ (khu vực) khác nhau thuộc Lâm Đồng.
2. Khảo sát mối quan hệ di truyền giữa một số cá thể thông đỏ được thu thập từ
khu vực Lâm Đồng bằng kỹ thuật PCR-RFLP trên vùng trình tự giữa hai gen
trnL-trnF của DNA lục lạp.
3. Bước đầu khảo sát trình tự vùng giữa 2 gen trnL-trnF trên DNA lục lạp của
thông đỏ Lâm Đồng.
Xem thêm

67 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌC

CHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌC

CHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌCCHUYÊN ĐỀ DI TRUYỀN HỌC

58 Đọc thêm

Vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách

VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ BẨM SINH DI TRUYỀN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ BẨM SINH DI TRUYỀN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Bài tập học kỳ Tâm lý học đại cươngChuyên mục Bài tập học kỳ, Tâm lý học đại cươngNhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống, đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là một thực thể xã hội, vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống.Nhân cách được định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện qua các mối quan hệ của con người xuất phát từ tâm lý, tình cảm, nhân sinh quan, nhận thức về bản thân và xã hội. Nhân cách là đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người. Có nhiều yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách, trong đó có yếu tố di truyền – bẩm sinh, yếu tố này đóng vai trò là cái đầu tiền, cái tiền đề cho nhân cách ở mỗi người.NỘI DUNGI VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ BẨM SINH DI TRUYỀN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH1 Nhân cách1.1 Khái niệm nhân cáchCho đến nay có rất nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về nhân cách, một số khái niệm thường gặp:Quan điểm thứ nhất thì nhân cách là toàn bộ những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được trong hệ thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, vật chất.Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ nhất là con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức, thứ hai là một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành một nhân cách.Mặc dù các quan điểm, định nghĩa trên có khác nhau nhưng nhìn chung có sự thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:Những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với cá nhân và xã hội được hình thành và phát triển bằng hai con đường chủ yếu là hoạt động và giao lưu.Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng bao gồm hai mặt: mặt tự nhiên và mặt xã hội, trong đó mặt xã hội có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, thể hiện đặc thù về nhân cách của mỗi con người.Nhân cách là tổng hợp những phẩm chất, năng lực không thành bất biến của cá nhân mà nó thường xuyên vận động, biến đổi theo chuẩn mực, giá trị xã hội.1.2 Đặc điểm của nhân cáchTính thống nhất của nhân cách: nhân cách là một cấu trúc tâm lý, tức là một chỉnh thể thông nhất các thuộc tính, đặc điểm tâm lý xã hội, thông nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài.Tính thống nhất của nhân cách còn thể hiện ở sự thống nhất giữa ba cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân, cấp đọ siêu cá nhân. Đó chính là sự thống nhất giữa tâm lý, ý thức với hoạt động giao tiếp của nhân cách.Thứ hai là tính ổn định của nhân cách: là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định và bền vững. Nhân cách là tập hợp những thuộc tính tâm lý tạo thành bộ mặt tâm lý xã hội của cá nhân, phần nào nói lên bản chất xã hội của họ. Vì thế các đặc điểm nhân cách cũng như cấu trúc nhân cách khó hình thành và cũng khó mất điThứ ba: tính tích cực của nhân cách được biểu hiện trước tiên ở việc xác định một cách tự giác mục đích hoạt động, tiếp đó là sự chủ động tự giác thực hiện các hoạt động, giao tiếp nhằm hiện thực hóa mục đích. Ở đây, nhân cách bộc lộ khả năng tự điều chỉnh và chịu sự điều chỉnh của xã hội, đâu cũng là biểu hiện tích cực của nhân cách. Tùy theo mức độ và loại hình hoạt động mà mục đích của nó được nhân cách xác định là nhận thức hay cải tạo thế giới, nhận thức hay cải tạo chính bản thân mình. Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét tính tích cực của nhân cách. Tính tích cực của nhân cách cũng biểu hiện rõ trong quá trình thỏa mãm các nhu cầu của nó. Không chỉ thỏa mãn với các đối tượng có sẵn, con người luôn luôn tạo ra các đối tượng mới, các phương thức thỏa mãn mới những nhu cầu ngày càng cao của họ. Quá trình đó luôn là quá trình hoạt động có mục đích tự giác, trong đó con người làm chủ được những hình thức hoạt động của mình.Thứ tư là tính giao lưu của nhân cách. Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao lưu với những nhân cách khác. Nhu cầu giao lưu (giao tiếp) được xem như là một nhu cầu bẩm sinh của con người. Thông qua quan hệ giao tiếp với người khác, con người gia nhập các quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội. Đồng thời, cũng qua giao tiếp mà con người được đánh giá, được nhìn nhận theo quan hệ xã hội. Điều quan trọng là qua giao tiếp, con người đóng góp các giá tị nhân cách của mình cho người khác, cho xã hội.1.3 Sự phát triển nhân cáchCon người từ khi mới sinh ra chưa có sự định hình về nhân cách. Dần dần theo thời gian, tác động của quá trình sống, tất yếu mỗi con người phải hoạt động, giao lưu thông qua học tập, lao động, vui chơi, giải trí… ngày càng tích lũy được những kinh nghiệm mà nhân loại tích lũy được trong các loại hoạt động, từ đó biến thành vốn sống của cá nhân. Đó chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người. Sự phát triển đó được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: sự phát triển về mặt thể chất (tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các chức năng giác quan; sự phát triển về mặt tâm lý thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…; sự phát triển về mặt xã hội thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mối quan hệ vơi người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt động cải biến, phát triển xã hội.Như vậy, sự phát triển nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh về vật chất và tinh thần cả về lượng và chất; có tính đến đặc điểm của mỗi lứa tuổi. Sự tăng trưởng về lượng và sự biến đổi về chất không chỉ diễn ra đối với các mặt thể chất, tâm lý và xã hội do quá trình hoạt động, giao lưu trong cuộc sống cá nhân , do tác động của hiện thực xung quanh và còn diễn ra với cả những mầm mống, dấu hiệu được di truyền hay có từ khi mới sinh. 2 Yếu tố bẩm sinh – di truyền 2.1 Thế nào là yếu tố bẩm sinh – di truyềnTrong đời sống, chúng ta dễ dàng nhận thấy người châu Âu da trắng, mắt xanh, người châu Phi da đen, tóc xoăn, người châu Á thường da vàng, mắt nâu – đen thì con cái của họ khi mới sinh ra giống bố mẹ. Đây là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc trưng sinh học nhất định của nòi giống, được ghi lại trong chương trình gen độc đáo bởi hệ thống gen goi là di truyền. Gen là vật mang mã di truyền những đặc điểm sinh học của giống loài trong quá trình tồn tại và phát triển theo con đường tiến hóa tự nhiên. Như vậy, di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định ghi lại trong cấu trúc gen. Di truyền những đặc trưng sinh học của cha mẹ truyền lại cho con cái không phải chỉ biểu hiện một cách hiện hữu khi đứa bé đó mới sinh ra mà có thể có những mầm mống, tư chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu của một số năng khiếu như: hôi họa, thơ ca, toán học…hoặc thiểu năng trong một số lĩnh vực của cuộc sống.Bẩm sinh là những thuộc tính, những dặc điểm sinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh.3 Vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Theo quan niệm của dân gian, mỗi người sinh ra đều thừa hưởng những tố chất về thể chất cũng như nhân cách của cha mẹ, vì thế từ xa xưa các cụ đã có câu “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, ta thường thấy ở những gia đình có cha mẹ là người tài giỏi, con cái của họ cũng tài giỏi. Có thể nói ngày từ xưa, cha ông ta đã nhìn ra vai trò của yếu tố bẩm sinh – di truyền trong sự phát triển nhân cách của con người. Ngày nay, điều đó đã được khoa học chứng minh. Vào thời cận đại, Mác đã nói “Con người là một thực thể sinh học – xã hội”, về sự tồn tại, con người bỏ xa thế giới động vật trong sự tiến hóa nhưng như vậy không có nghĩa là con người đã lột bỏ hết cái gọi là tự nhiên – sinh học. Khi nói đến mặt sinh học, nó vẫn luôn tồn tại hiện hữu trong mỗi cá nhân giống như cơ thể con người là một thực thể sinh học, có cấu tạo và hoạt động theo những quy luật để nó có thể thống nhất và hòa nhập với tự nhiên các thực thể khác, con người chỉ bị nhịp sống xã hội làm quên đi cái tự nhiên – sinh học trong con người.Và vì khác với động vật, con người luôn tồn tại trong một xã hội nên con người tồn tại mặt xã hội nhưng ta không thể phủ nhận vai trò của các yếu tố sinh học tác động đến cuộc sống của chúng ta. Một cơ thể hoàn hảo là sự kết hợp giữa yếu tố xã hội và yếu tố sinh học, con người là thực thể hòa quyện giữa hai yếu tố, thiếu yếu tố xã hội, con người sẽ không khác gì các loại động vật khác, thiếu yếu tố sinh học, con người không thể tồn tại như một thực thể sống. Vấn đề này đã được tranh cãi suốt thời gian dài trước sự phát triển của khoa học, đặc biệt là sinh vật học và khoa học xã hội nhân văn với các quan điểm khác nhau. Theo “chủ nghĩa sinh vật học xã hội” dựa trên quan niệm của chủ nghĩa tự nhiên khi cho rằng “tất cả những gì của con người do bẩm sinh mà có, không thể bị thay đổi do các điều kiện xã hội”, theo họ “sự phát triển của bộ não, sự chuyên trách của bộ não, tốc độ và tính khuynh hướng của quá trình giáo dục con người được hình thành trên trái đất, chủ yếu bằng con đường di truyền.”Những người theo chủ nghĩa xã hội lại nhận định rằng, các hành vi của con người đều do tư tưởng, ý thức xã hội tạo nên, đồng thời họ phủ nhận mối liên hệ khách quan giữa hành vi con người với những điều kiện vật chất của sản xuất và tái sản xuất con người với tự nhiên.Như ta đã nói ở trên thì quan điểm của triết học Macxit cho rằng, trong con người, yếu tố sinh học và xã hội không đối lập mà thống nhất nhau. Điều này đã được khoa học ngày nay chứng minh là đúng.Như vậy, có thể khẳng định yếu tố bẩm sinh – di truyền đóng vai trò quan trọng, nó đóng vai trò như là tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách cá nhân. Trong quá trình sống, con người còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác và chúng tác động đến sự hình thành nhân cách mỗi người. Tuy vậy, các yếu tố đó chỉ đóng vai trò phát triển thêm chứ không có tính quyết định.Sức sống, năng lực tiềm tàng ở mỗi người là khác nhau, nó có vai trò như là nguồn năng lượng cực kì quan trọng cho sự phát triển của cá nhân, chi phối và để lại dấu ấn rõ nét trong nhân cách con người, một ví dụ như sau: hai đứa trẻ cùng sinh ra trong cùng một khoảng thời gian, với điều kiện gia đình là như nhau. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, đứa trẻ được sinh ra trong gia đình có bố mẹ đều làm trong làng giải trí lại có thể nói năng nhanh nhẹn, năng động, hoạt bát và dễ hòa đồng hơn do đó nó có nhiều bạn bạn bè, làm quen nhanh khi môi trường sống thay đổi hơn đứa trẻ có bố mẹ làm bác sĩ, điều đó cho thấy vai trò tiền đề vật chất của yếu tố di truyền – bẩm sinh cho sự phát triển của trẻ.Lý luận và thực tiễn cho thấy mầm mống, tư chất, năng khiếu để phát triển thành năng lực, phẩm chất của cá nhân về một lĩnh vực nào đó có trong con người từ khi mới sinh ra, mang bản chất di truyền, kế thừa từ các thế hệ trước. Ví dụ như thiên tài Anxtanh, Anhxtanh có mẹ bà Pauline Koch, đã tỏ ra có óc thẩm mỹ ngoài bản tính cần cù, tế nhị, bà hay khôi hài và yêu thích âm nhạc nên ngoài là một thiên tài về vật lý, toán học Anhxtanh còn là một người rất có tài vĩ cầm hay cha của Ga – li – lê là một nhà toán học và chúng ta đều biết sau này ông cũng trở thành một nhà toán học, nhà vật lý học nổi tiếng. Theo một nghiên cứu của Mỹ cách đây 2 thế kỷ có một nhà bác học đã tài tên Jonathan Edwards – nhà thần học, triết học, nhà thuyết giáo nổi tiếng trong đạo tin lành, người ta tính được con cháu của ông hiện nay đã đến đời thứ 7, 8 trong số đó có 13 người là hiệu trưởng trường đại học, bác sĩ có hơn 60 người, mục sư hàng trăm người, nhà văn hơn 80 người, phó tổng thống 1 người, thượng hạ viện hơn 20 người… Có thể nói đây là một dòng họ cực kỳ danh giá. Ngược lại, một người đàn ông nghiện rượu tên là Marks Juke, nay con cháu ông cũng đến đời thứ 7, thứ 8 tuy nhiên số người nghèo khổ, thiếu ăn hoen 300 người, phạm tội và tử hình 7 người, trộm cắp 63 người, tàn phế và nghiện rượu hơn 400 người…Thực tế đã cho thấy rằng có rất nhiều ví dụ chứng minh sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền – bẩm sinh đến sự phát triển của cá nhân. Từ xưa đến nay có nhiều gia đình có cùng một ngành nghề, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật như gia đình nhạc sĩ “Trần Tiến”, hay như gia đình của Diva Thanh Lam, Hà Trần, gia đình nữ diễn viên Lê Khanh…xuất phát từ đó mà dân gian có câu “lấy vợ xem tong, lấy chồng xem giống”. Ngay trong việc trăm năm của con người, như các cụ xưa khi kén rể, kén dâu thường xem xét các đời trước đó, suy nghĩ đó vẫn còn hiện hành trong các cô gái thời hiện đại khi kén chồng tương lai. Cuối cùng, nhân cách tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách nói riêng, sự phát triển của cá nhân nói chung. Di truyền tạo ra sự khác biệt ở mỗi cá thể người, trước hết ở các loại hình khí chất, các kiểu hoạt động thần kinh, sau cùng với các yếu tố khác tạo nên những đặc điểm riêng không chỉ về mặt sinh học mà cả về tính cách, năng lực của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, nếu chúng ta đề cao quá vai trò của yếu tố di truyền, phủ nhận khả năng biến đổi bản chất con người, hạ thấp vai trò của giáo dục đến sự hình thành nhân cách là một sai lầm vì những đứa trẻ sinh ra mặc dù không được thừa hưởng khả năng bẩm sinh nhưng nếu được giáo dục đúng cách ở môi trường lành mạnh thì đứa trẻ đó hoàn toàn có thể thành đạt, ngược lại những đứa trẻ dinh ra trong gia đình đã có truyền thống về năng khiếu, năng lực nhưng lại không được giáo dục đúng cách thì tài năng cũng sẽ tự nhiên bị thui chột.Mặc dù khẳng định vai trò to lớn của yếu tố sinh học đối với sự phát triển của cá nhân nhưng khoa học cũng khẳng định: những đặc điếm sinh học chỉ tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách nới riêng và sự phát triển cá nhân nói chung. Do đó, khoa học giáo dục phủ nhận quan điểm trong dân gian cho rằng “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, chỉ đề cao vai trò của di truyền – bẩm sinh.II LIÊN HỆ THỰC TIỄNTrong cuộc sống, có rất nhiều trường hợp cho thấy yếu tố bẩm sinh, di truyền có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Có thể lấy một ví dụ cụ thể về gia đình của NSND Trần Tiến – NSND Lê Mai, họ là cặp vợ chồng “trai tài, gái sắc”, không chỉ có vậy, ba cô con gái của họ NSND Lê Mai, NSND Lê Khanh, NSND Lê Vy, họ đều là những người thành công trong sự nghiệp nghệ thuật. Hay như gia đình của Diva Thanh Lam, người được coi là nữ hoàng nhạc nhẹ của Việt Nam, sinh ra trong một gia đình “con nhà nòi”, bố là nhạc sĩ Thuận Yến, mẹ là NSUT Thanh Hương, Thanh Lam thừa hưởng cả khiếu âm nhạc trời phú của cha và nhan sắc mặn mà của mẹ, Thanh Lam đã sớm đi theo con đường nghệ thuật. Thanh Lam đã đi biểu diễn từ khi còn nhỏ, khi cô đứng trên sân khấu, giọng hát đầy truyền cảm và nội lực của cô đã giúp tất cả những khán thính giả cũng như những người làm chuyên môn dễ dàng nhận ra rằng đó là một giọng hát bẩm sinh. Thanh Lam kết hôn lần thứ hai với nhạc sĩ Quốc Trung, họ đã có hai người con là Thiện Thanh và Đăng Quang, cả hai đều được thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật từ gia đình nên sớm bộc lộ khả năng nghệ thuật cua mình. Đây là gia đình cho thấy rõ nhất sự tác động của yếu tố di truyền – bẩm sinh đến sự phát triển của cá nhân.Trong y học, người ta biết áp dụng yếu tố bẩm sinh – di truyền vào việc nuôi cấy thai nhi cho những cặp đôi có vợ vô sinh hoặc chồng vô sinh, vợ k có khả năng sinh đẻ… Người ta cho nuôi cấy trong ống nghiệm với sự kết hợp của các cặp tinh trùng – trứng mà không phải là của bố mẹ. Việc lựa chọn tinh trùng trứng là của các ông bố, bà mẹ muốn có con cái với nhiều sự chọn lựa khác nhau. Ở một số nơi, người ta có những ngân hàng tinh trùng – trứng đã được mua hay được hiến tặng để kinh doanh do ứng dụng vai trò của yếu tố bẩm sinh – di truyền. Việc lựa chọn tinh trùng – trứng từ những ngân hàng đó phải mất phí, họ có đầy đủ thông tin về người hiến tặng tinh trùng – trứng để làm chỉ tiêu cho việc xác định giá cả.Hiện nay, khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, các nhà khoa học trên thế giới đã tìm ra được phương pháp can thiệp vào mã di truyền của hệ thống gen nhằm nâng cao kết quả chữa trị những bệnh hiểm nghèo của con người. Song họ vô cùng lo ngại rằng, nếu các phương pháp can thiệp vào di truyền, sinh học nhằm mục đích chính trị thì sẽ vô cùng nguyhiểm, ngược lại với chủ nghĩa nhân văn thì hậu quả sẽ vê cùng ghê ghớm.Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta cần quan tâm đúng mức yếu tố di truyền – bẩm sinh, đó là những mầm mống, tư chất sinh học có vai trò tiền đề phát triển một số phẩm chất, năng lực của nhân cách. Tất nhiên, nếu chúng ta quá coi nhẹ hay tuyệt đối hóa thì cũng sẽ phạm phải sai lầm khi phân tích, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò, tác động của môi trường, hoàn cảnh và của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách.Thực tế đã cho thấy rằng, ở nước ta hiện nay vẫn còn khá khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo theo các vùng miền còn lớn. Ở những vùng núi, có rất nhiều trẻ em, ngay từ nhỏ sinh ra đã có những tư chất, năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc, hội họa, thể thao, toán học… nhưng do điều kiện, hoàn cảnh sống những đứa trẻ đó không có đủ điều kiện, cơ hội để phát huy tài năng của mình, do vậy những năng khiếu đó bị thui chột dần. Nếu những đứa trẻ đó được giáo dục từ sớm, được sống trong môi trường thuận lợi, chắc chắn các em sẽ phát huy được tài năng và trở thành những người tài giỏi. Do đó, Nhà nước cần phải có những biện pháp, tạo điều kiện tốt nhất cũng như phải quan tâm hơn đến các em nhỏ ở những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để giúp các em phát triển được năng khiếu của mình, để trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội.KẾT LUẬNCó thể thấy rằng, nhân cách con người không tự nhiên sinh ra mà nó được hình thành và phát triển trong suốt cuộc đời của mỗi người trong đó các yếu tố giáo dục, hoạt động, giao tiếp giữ vai trò quyết định và tạo thành những con đường cơ bản nhất, còn yếu tố bẩm sinh đóng vai trò là tiền đề vật chất để hình thành nhân cách. Các yếu tố này phải được xây dựng theo một hướng nhất định nhằm hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.

BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM SINH HỌC CHƯƠNG DI TRUYỀN BIẾN DỊ.

Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.Bài tập Trắc nghiệm sinh học chương di truyền biến dị.

5 Đọc thêm

ÔN TẬP DI TRUYỀN HỌC

ÔN TẬP DI TRUYỀN HỌC

ôn tập di truyền học đại học y dược tphcm, ôn tập lý thuyết di truyền học,ôn tập di truyền học đại học y dược tphcm, ôn tập lý thuyết di truyền học,ôn tập di truyền học đại học y dược tphcm, ôn tập lý thuyết di truyền học,ôn tập di truyền học đại học y dược tphcm, ôn tập lý thuyết di truyền học

43 Đọc thêm

Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN

Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)Phương pháp giải bài tập các quy luật di truyền (Bài toán nghịch)
Xem thêm

14 Đọc thêm

Báo cáo Mối quan hệ các quy luật di truyền môn sinh năm 2015

BÁO CÁO MỐI QUAN HỆ CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN MÔN SINH NĂM 2015

PHẦN I : MỞ ĐẦUI. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI1. Kiến thức về mối quan hệ là nội dung cốt lõi của chương các quy luật di truyền trong chương trình trung học phổ thông. Nếu học sinh nắm vững và vận dụng được các mối quan hệ sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học chương này.2. Kiến thức mối quan hệ mang nặng tính chất lý thuyết và nó có quan hệ đa chiều, vì thế nếu hình thành được kiến thức này sẽ góp phần phát triển tư duy cho học sinh.3. Sử dụng bài tập để hình thành kiến thức cũng nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn sinh học.4. Việc phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, song chất lượng giáo dục nhìn chung còn rất thấp, nhất là các tỉnh Tây nguyên.5. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu trong dạy học hiện nay.Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học sinh học nói chung và phần các quy luật di truyền nói riêng, chúng tôi chọn : Sử dụng bài tập để hình thành kiến thức về mối quan hệ trong dạy học Các quy luật di truyền ở một số trường trung học phổ thông dân tộc nội trú thuộc các tỉnh Tây nguyên làm đề tài nghiên cứu của mình.II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨUXác định những biện pháp sử dụng bài tập phù hợp với năng lực nhận thức và tư duy của học sinh dân tộc ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên để hình thành kiến thức về “mối quan hệ” trong chương Các quy luật di truyền .III. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU1. Đối tượng nghiên cứu : Các biện pháp sử dụng bài tập để hình thành kiến thức về mối quan hệ trong dạy học Các quy luật di truyền lớp 11THPT ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên.2. Khách thể nghiên cứu : là học sinh lớp 11 ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên.IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Sử dụng hợp lý bài tập để hình thành các mối quan hệ sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức và nâng cao chất lượng dạy học Các quy luật di truyền lớp 11THPT ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên.V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU1. Xác định cơ sở lý thuyết của việc sử dụng bài tập như là phương tiện để hình thành kiến thức về những mối quan hệ giữa kiểu gen và kiểu hình trong một thế hệ; kiểu gen và kiểu hình giữa các thế hệ khi phân ly độc lập.2. Xác định thực trạng năng lực nhận thức của học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú về kiến thức mối quan hệ trong chương các quy luật di truyền, cũng như thực trạng dạy sinh học nói chung và sử dụng bài tập trong dạy học chương Các quy luật di truyền lớp 11THPT nói riêng của giáo viên.3. Xác định hệ thống kiến thức về mối quan hệ trong chương Các quy luật di truyền .4. Xác định các biện pháp sử dụng bài tập nhằm hình thành kiến thức trong dạy học Các quy luật di truyền.5. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả sử dụng bài tập để hình thành kiến thức về mối quan hệ trong chương các quy luật di truyền .VI. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀIĐề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi các mối quan hệ giữa kiểu gen kiểu hình, kiểu gen và tỷ lệ giao tử của cơ thể, kiểu gen của P và tỷ lệ kiểu gen của F1 trong trường hợp các gen nằm trên NST thường và hiệu quả của việc sử dụng bài tập trong dạy học các quy luật di truyền lớp 11THPT ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên.VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1. Nghiên cứu lý thuyết : Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Nghiên cứu nội dung kiến thức các quy luật di truyền . Nghiên cứu các biện pháp sử dụng bài tập để hình thành kiến thức về mối quan hệ trong các quy luật di truyền .2. Điều tra : Lập phiếu điều tra (giáo viên, học sinh) để tìm hiểu thực trạng về dạy và học môn sinh học nói chung và chương các quy luật di truyền nói riêng. Dự giờ, trao đổi với giáo viên để tìm hiểu thêm về phương pháp giảng dạy bộ môn sinh học trung học phổ thông. Phân tích các bài kiểm tra của học sinh để tìm hiểu năng lực nhận thức và khả năng tư duy trong quá trình tiếp thu kiến thức các quy luật di truyền.3. Thực nghiệm sư phạm •Mục đích thực nghiệm : kiểm tra hiệu quả các biện pháp đã đề xuất.•Nội dung thực nghiệm : xác định khả năng nắm vững kiến thức về mối quan hệ qua sử dụng bài tập.•Phương pháp thực nghiệm : Đối tượng thực nghiệm : là học sinh lớp 11 của các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên. Công thức thực nghiệm : bố trí thực nghiệm kiểu song song. Xử lý số liệu :Số liệu thu được sẽ tiến hành phân tích định lượng và định tính bằng phương pháp thống kê toán học và phân tích qua bài làm của học sinh.VIII. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI1. Xác định bảng hệ thống kiến thức về mối quan hệ là một tài liệu tốt để giáo viên tham khảo, là những định hướng cho việc dạy học các quy luật di truyền.2. Xác định được thực trạng về sử dụng bài tập trong dạy học các quy luật di truyền, năng lực học tập kiến thức về mối quan hệ của học sinh, làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng những tài liệu hướng dẫn dạy học sau này.3. Xây dựng những biện pháp sử dụng bài tập dạy học phù hợp với năng lực học tập của học sinh, góp phần trong việc cải tiến nâng cao chất lượng dạy học bộ môn sinh học.4. Giáo án thực nghiệm có sử dụng hệ thống bài tập về mối quan hệ trong dạy học các quy luật di truyền là những ví dụ và kinh nghiệm để các giáo viên tham khảo và vận dụng.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm là cơ sở quan trọng, gợi ý cho việc nghiên cứu cải tiến, đổi mới trong dạy học sinh học cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú.IX. CẤU TRÚC LUẬN VĂN :Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương :Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.Chương này trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới và trong nước, đồng thời trình bày những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài đang nghiên cứu.Ch
Xem thêm

25 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP DI TRUYỀN LIÊN KẾT VỚI GIỚI TÍNH VÀ TÍCH HỢP CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN KHÁC

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP DI TRUYỀN LIÊN KẾT VỚI GIỚI TÍNH VÀ TÍCH HỢP CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN KHÁC

Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác Phương pháp giải bài tập di truyền liên kết với giới tính và tích hợp các quy luật di truyền khác
Xem thêm

53 Đọc thêm

P7 DI TRUYỀN HỌC QUẦN THỂ

P7 DI TRUYỀN HỌC QUẦN THỂ

di truyền học quần thể

di truyền học quần thể

di truyền học quần thể

di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể di truyền học quần thể
Xem thêm

29 Đọc thêm

TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN HỌC SINH HỌC PHÂN TỬ DÀNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC

TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN HỌC SINH HỌC PHÂN TỬ DÀNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC

Sinh học phân tử là một môn khoa học nghiên cứu giới sinh vật ở mức độ phân tử. Phạm vi nghiên cứu của môn này có phần trùng lặp với các ngành khác trong sinh học đặc biệt là di truyền học và hóa sinh. Sinh học phân tử chủ yếu tập trung nghiên cứu mối tương tác giữa các hệ thống cấu trúc khác nhau trong tế bào, bao gồm mối quan hệ qua lại giữa quá trình tổng hợp của DNA, RNA và protein và tìm hiểu cách thức điều hòa các mối tương tác này.

10 Đọc thêm

Câu hỏi chuyên ngành cho bộ môn di truyền phân tử sinh học phân tử

CÂU HỎI CHUYÊN NGÀNH CHO BỘ MÔN DI TRUYỀN PHÂN TỬ SINH HỌC PHÂN TỬ

Sinh học phân tử là một môn khoa học nghiên cứu giới sinh vật ở mức độ phân tử. Phạm vi nghiên cứu của môn này có phần trùng lặp với các ngành khác trong sinh học đặc biệt là di truyền học và hóa sinh. Sinh học phân tử chủ yếu tập trung nghiên cứu mối tương tác giữa các hệ thống cấu trúc khác nhau trong tế bào, bao gồm mối quan hệ qua lại giữa quá trình tổng hợp của DNA, RNA và protein và tìm hiểu cách thức điều hòa các mối tương tác này.

52 Đọc thêm

PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN

PHÚC TRÌNH THỰC TẬP CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN

PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN PHÚC TRÌNH THỰC tập CÔNG NGHỆ DI TRUYỀN
Xem thêm

10 Đọc thêm

DI TRUYỀN VỚI HÔN NHÂN VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1

DI TRUYỀN VỚI HÔN NHÂN VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

Di truyền với hôn nhân và kế hoạch hóa gia đình. 1.Di truyền học với hôn nhán   1.Di truyền học với hôn nhên Di truvền học đã chỉ rõ hậu quả của việc kết hôn gần làm cho các đột biến lặn có hại được biểu hiện ở cơ thể đồng họp. Người ta thấy 20 - 30% số con cùa các cặp hôn nhân có họ hàng thân thuộc bị chết non hoặc mang các tật di truyền bầm sinh. Ví dụ : một nghiên cứu ở Mĩ trên 2778 đứa trẻ cùa các cặp bô mẹ kết hôn gần thì ti lệ chết là 22,9%, ti lệ mắc các tật di truyền là 16,5%. Những dẫn liệu trên cho thấy Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta quy định nhữne người có quan hệ huyết thống trong vòng 4 đời không được kết hôn là có cơ sở sinh học. Ở một số quốc gia trải qua hàng chục năm không có chiến tranh, không có biến động địa chất và dịch bệnh lớn thì người ta thấy tỉ lệ nam/nữ biến đổi theo độ tuổi sau: Bảng 30.1. Sự thay đổi tỉ lệ nam/nữ theo độ tuổi   2. Di truyền học và kế hoạch hóa gia đình Để đảm bảo cho xã hội phồn vinh, gia đình hạnh phúc, kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) được xem như quốc sách. KHHGĐ đặt ra một số tiêu chí như : không sinh con quá sớm hoặc quá muộn, các lần sinh con không nên quá gần nhau, mồi cặp vợ chồng chì nên dừng lại ở 1 - 2 con. Những tiêu chí trên có liên quan với nhau và đều có cơ sở sinh học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HỆ THỐNG bài tập các QUY LUẬT DI TRUYỀN

HỆ THỐNG BÀI TẬP CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN

HỆ THỐNG bài tập các QUY LUẬT DI TRUYỀN , HỆ THỐNG bài tập các QUY LUẬT DI TRUYỀN ,HỆ THỐNG bài tập các QUY LUẬT DI TRUYỀN , HỆ THỐNG bài tập các QUY LUẬT DI TRUYỀN ,HỆ THỐNG bài tập các QUY LUẬT DI TRUYỀN

55 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN TẬP ĐOÀN LAN HỒ ĐIỆP Ở VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN TẬP ĐOÀN LAN HỒ ĐIỆP Ở VIỆT NAM

- Dựa vào sự đa dạng di truyền ở mức phân tử kết hợp với đa dạng về các đặcđiểm hình thái để phân tích mối quan hệ chủng loại, nguồn gốc, mối tơng quan ditruyền của các loài lan Hồ Điệp phục vụ công tác lai tạo giống mới.- Tiến hành lai tạo để tạo con lai dựa trên kết quả phân tích đa dạng hình tháivà đa dạng di truyền ở mức phân tử.32. Tổng quan tài liệu2.1. Một số đặc điểm của lanHọ lan (Orchidaceae) ở trong lớp đơn từ diệp một lá mầm Monocotyledoneathuộc ngành Ngọc lan - thực vật hạt kín Magnoliophyta, phân lớp hành tỏi Lilidae,bộ lan Orchidales [53]. Họ Orchideceae là một trong những họ lớn nhất của thựcvật và có các thành viên phân bố trên toàn thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực. Họ lanrất đa dạng: có cây sống dới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất cũng nh có cây sốngtại vùng cao nguyên của dãy Himalaya; hoa lan có thể tìm thấy tại các vùng có khíhậu nhiệt đới nh trong rừng già của Brazil đến các vùng có tuyết phủ trong mùađông nh tại bình nguyên của Manitoba, Canada; hoa lan có loại mọc trên đất(terrestrial), có loại mọc trên cao (epiphyte) và có loại mọc trên đá (lithophyte) [27].Hoa lan đợc ngời tiêu dùng a chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đadạng của chúng. Hoa lan hầu nh có tất cả các màu trong cầu vồng và những kết hợpcủa các màu đó. Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạo trong khi lớn nhất có đờng kínhkhoảng 1m [27]. Tuy đa số các loại hoa lan tìm trên thị trờng không có hơng thơm,có rất nhiều loại hoa lan có mùi. Vanilla là một loại hoa lan mà hơng thơm đợc dùngtrong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ Mexico; trong khi đó còn cócác loại hoa lan toả ra mùi nh thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng.2.1.1. Nguồn gốc, vị trí phân loạiCây hoa lan đợc biết đến đầu tiên là ở Phơng Đông. Theo tác giảBretchacidor thì từ đời vua Thần Nông 2800 trớc công nguyên ở Trung Quốc, loài
Xem thêm

79 Đọc thêm

32 CHỦ ĐỀ LUYỆN THI TNQG MÔN SINH HỌC CĐ21 DI TRUYỀN HỌC NGƯỜI P2

32 CHỦ ĐỀ LUYỆN THI TNQG MÔN SINH HỌC CĐ21 DI TRUYỀN HỌC NGƯỜI P2

C sai. Những người đồng sinh cùng trứng (cùng kiểu gen) sống trong hoàn cảnh khác nhau → tính trạng khácnhau thì những tính trạng đó là chịu ảnh hưởng nhiều từ môi trường.Câu 36: D-Hội chứng Claiphento : XXY (Thừa 1 NST X ở nam giới).- Tật dính ngón tay 2 và 3 : Do gen trên Y quy định -> Gặp ở nam giới- Bệnh mù màu, máu khó đông : Do gen lặn trên NST X quy định nên có thể gặp ở cả nam và nữ- Bệnh ung thư máu : Do mất đoạn NST 21 , có thể gặp ở cả nam và nữ- Hội chứng Đao : 3 NST số 21 , gặp ở cả 2 giới- Hội chứng 3X (Hội chứng siêu nữ, XXX) , hội chứng Tơcno(XO) : Gặp ở nữ giới, không gặp ở namCâu 37: CNhững bệnh, tật và hội chứng di truyền gặp ở cả nam và nữ đó là những bệnh, tật, hội chứng không liên quantới nhiễm sắc thể giới tính Y hoặc không liên quan tới đột biến số lượng của NST giới tính(3) Có túm lông ở vành tai là bệnh liên kết với NST giới tính Y nên kiểu hình chỉ biểu hiện ở nam giới(5) Hội chứng Tocno là đột biến số lượng NST (XO) biểu hiện kiểu hình ở nữ giới.Câu 38: Bnhững gen ung thư này xuất phát từ các gen tiền ung thư do khi xuất hiện chúng hoạt động mạnh hơn và khôngkiểm soát được nên nó là gen trội và chúng thường có trong các tế bào sinh dưỡng → nên chúng không ditruyền được.Câu 39: DGen nằm trong ti thể là gen ngoài nhân → Bệnh do gen nằm trong ti thể sẽ di truyền theo dòng mẹ→ Vì thế, nếu mẹ bị bệnh thì tất cả các con đều bị bệnhCâu 40: CHiện nay, các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu hoàn thiện các kĩ thuật thay thế các gen đột biến gâybệnh trong cơ thể người bằng các gen lành. Kĩ thuật chữa trị bệnh bằng thay thế gen được gọi là liệu pháp gen.Kĩ thuật này là một loại công nghệ di truyền. Về nguyên tắc, người ta sử dụng virus sống trong cơ thể người làmthể truyền sau khi đã loại bỏ những gen gây bệnh của virus. Sau đó thể truyền được gắn gen lành rồi cho xâmnhập vào tế bào của bệnh nhân. Tế bào mang ADN tái tổ hợp của bệnh nhân được đưa trở lại cơ thể để sinh racác tế bào bình thường thay thế tế bào bệnh.
Xem thêm

Đọc thêm

SỰ DI TRUYỀN CỦA ẾCH

SỰ DI TRUYỀN CỦA ẾCH

TRANG 1 ECH CO THE DI CHUYEN TREN BE MAT TRON LANG LOÀI ẾCH CÓ KHẢ NĂNG DI CHUYỂN TRÊN NHỮNG BỀ MẶT TRƠN LÁNG VÀ ẨM ƯỚT NHỜ NHỮNG CỤC U NHỎ BÁM DÍNH BAO PHỦ LỚP THỊT DƯỚI CHÂN CỦA CHÚNG.[r]

1 Đọc thêm