UNG THƯ VÒM MŨI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "UNG THƯ VÒM MŨI":

Vai trò của hóa chất (đơn thuần và phối hợp) trong điều trị ung thư đầu- cổ và ung thư vòm mũi họng

VAI TRÒ CỦA HÓA CHẤT (ĐƠN THUẦN VÀ PHỐI HỢP) TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẦU- CỔ VÀ UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

Phần 1: Mở đầu
Hóa trị ung thư là một trong các biện pháp điều trị ung thư mang tính
toàn thân [2,3]. Cho đến nay, phần lớn bệnh nhân ung thư khi đến khám
bệnh đ( ở giai đoạn muộn, sau khi được điều trị bằng các phương pháp tại
chỗ bao gồm phẫu thuật và xạ trị, các ổ di căn xa vẫn tồn tại và hoàn toàn
cần thiết phải được điều trị bằng phương pháp toàn thân. Trải qua gần một
thế kỷ hình thành và phát triển, hóa trị đ( trở thành một vũ khí quan trọng
trong điều trị ung thư và cấu thành một bộ phận của ngành nội khoa. Với
hơn 60 năm ứng dụng trong lâm sàng, việc áp dụng hóa trị ung thư đ( có
nhiều tiến bộ đáng kể và ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm,
nghiên cứu. Nhiều thuốc mới ra đời với xu hướng tác dụng chống ung thư
ngày càng hiệu quả trong khi tác dụng phụ được hạn chế ở mức tối đa;
cùng với nó nhiều phác đồ phối hợp thuốc có hiệu quả cao được xây dựng
để điều trị đặc hiệu cho từng loại bệnh cụ thể và trong số đó, một số phác
đồ đ( trở thành kinh điển như phác đồ CHOP điều trị u lymphô ác tính
không Hodgkin, phác đồ MOPP, ABVD trong điều trị bệnh Hodgkin,
v.v…
Vai trò của hóa trị khác nhau tùy theo từng loại ung thư và theo từng
tình huống lâm sàng cụ thể. Tuy vậy người ta có thể chia thành các nhóm
theo mức độ nhạy cảm với hóa trị, bao gồm:
- Nhóm bệnh ung thư hóa chất có thể điều trị khỏi,
- Nhóm bệnh ung thư hóa chất có khả năng kéo dài thời gian sống cho
bệnh nhân,
- Nhóm bệnh ung thư ít nhạy cảm hơn với hóa chất, hóa chất có vai trò
cải thiện được thời gian sống thêm cho bệnh nhân (BN),
- Nhóm bệnh ung thư rất ít nhạy cảm với hóa trị.
Sự phân nhóm trên chỉ mang tính chất tương đối theo thời gian và nhìn
chung với các tiến bộ điều trị thì vai trò của hóa trị ngày càng tăng hơn. Nhóm bệnh ung thư “ít nhạy cảm” ngày càng ít đi trong khi các nhóm
bệnh ung thư mà vai trò hỗ trợ của hóa trị rất lớn ngày càng nhiều hơn.
Ung thư vùng đầu- cổ (UTĐC) là một nhóm bao gồm nhiều loại ung
thư khác nhau nhưng có chung một đặc tính xâm lấn mạnh và thường ở
giai đoạn muộn khi được chẩn đoán. Các ung thư UTĐC thuộc nhóm bệnh
ung thư mà hóa trị đóng vai trò hỗ trợ, có khả năng kéo dài thời gian sống
thêm cho bệnh nhân. Tuy nhiên ngày nay với sự phát minh ra một số tác
nhân và phác đồ mới, đặc biệt với xu hướng phối hợp nhiều phương pháp
điều trị, hóa trị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh
ung thư ở vùng này[7].
Ung thư vòm mũi họng, thuộc UTĐC, là loại bệnh ung thư đáp ứng
tốt với xạ trị, đặc biệt ở các giai đoạn sớm. Tuy nhiên, với các trường hợp
bệnh ở giai đoạn tiến triển, nguy cơ tái phát tại chỗ- tại vùng và di căn xa
là rất cao. Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới và cả ở Việt nam,
người ta thường kết hợp xạ trị và hóa trị. Các phác đồ phối hợp bao gồm
hóa trị tân bổ trợ, hóa trị bổ trợ, hóa-xạ trị đồng thời…Các thử nghiệm lâm
sàng vẫn đang tiếp tục và bước đầu cho thấy kết quả điều trị rất khả quan.
Xem thêm

32 Đọc thêm

Nghiên cứu áp dụng phác đồ hóa xạ phối hợp đồng thời điều trị ung thư vòm mũi họng tái phát tại chỗ tại vùng

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG PHÁC ĐỒ HÓA XẠ PHỐI HỢP ĐỒNG THỜI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG TÁI PHÁT TẠI CHỖ TẠI VÙNG

Tái phát là một trong những thất bại sau điều trị các bệnh ung thư, bao gồm cả ung thư vòm mũi họng (UTVMH). ở Việt Nam, UTVMH là căn bệnh phổ biến đứng hàng thứ 5 trong các loại bệnh ung thư thường gặp nhất và đứng hàng đầu trong các ung thư vùng đầu cổ 3, 13, 14 ,22, 28, 30, 89. Đây là một trong những loại bệnh ung thư nhạy cảm với điều trị bằng tia phóng xạ (xạ trị) nhưng tỷ lệ tái phát tại chỗ tại vùng còn cao. Nguyên nhân chủ yếu là do hầu hết bệnh nhân UTVMH đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV) vào thời điểm chẩn đoán 33, 37, 47, 50, 62, 56, 86, 95, 110 128. Theo Nguyễn Hữu Thợi (1995), điều trị UTVMH bằng xạ trị từ ngoài đơn thuần với nguồn xạ Cobalt60 có thể đảm bảo cho 64% bệnh nhân không bị tái phát và 36% sẽ bị tái phát sau điều trị từ 6 tháng đến 10 năm 33. Ngay cả trên thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tái phát này thay đổi từ 15% đến 58% sau 5 năm 65,71. Tiên lượng bệnh sẽ rất kém nếu không được điều trị lại, sống thêm 5 năm chỉ đạt dưới 1% 71,140,146. Tuy nhiên, điều trị UTVMH tái phát là một vấn đề nan giải, kết quả còn hạn chế 15,33,127. Nhiều phương pháp điều trị được áp dụng, thông thường nhất vẫn là xạ trị lần 2, bao gồm xạ trị từ ngoài, xạ trị áp sát, hoặc phối hợp cả hai 71,123,127 . Trong phần lớn các trường hợp, tổn thương tái phát thường lan rộng thì điều quan trọng là phải xem xét phối hợp cả xạ trị từ ngoài và xạ trị áp sát, nhằm nâng cao liều xạ tại chỗ lên mức tối đa cho phép đồng thời hạn chế các biến chứng 67,84,103. Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, các nhà điều trị ung thư có thể chọn áp dụng các phương pháp điều trị khác như phẫu thuật, hoá chất, phối hợp phẫuxạ, hoáxạ v.v . 114, 120, 123, 127, 144, 145.
Ngoại trừ phẫu thuật là phương pháp can thiệp quá nặng nề đối với bệnh nhân, hiện nay các phác đồ phối hợp hóa xạ trị đang được lựa chọn để điều trị
ung thư vòm mũi họng tiên phát cũng như tái phát. Có thể áp dụng hoá chất bổ trợ, tân bổ trợ hoặc hóa xạ trị phối hợp đồng thời. Một số công trình nghiên cứu cho thấy phác đồ hoá xạ trị phối hợp có thể giúp tăng cường kiểm soát tại chỗ, ngăn ngừa di căn xa, và cải thiện sống thêm.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đánh giá kết quả điều trị đã đề cập đến các yếu tố tiên lượng bệnh liên quan đến tỷ lệ kiểm soát tại chỗtại vùng, tỷ lệ sống thêm, tình trạng di căn xa . Các yếu tố này bao gồm tuổi, giới, chủng tộc, mô bệnh học, thời gian tái phát, mức độ tái phát, phương pháp điều trị, tổng liều xạ v.v . Tuy nhiên, chỉ một số các mối liên quan này là có ý nghĩa thống kê 65, 71. Hầu hết các nghiên cứu cũng quan tâm đến vấn đề biến chứng sau điều trị do phải phối hợp nhiều phương pháp điều trị cho bệnh nhân, và liều xạ tại chỗ nâng cao. Những biến chứng sớm và muộn đều ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân ở nhiều mức độ khác nhau.
Ở Việt Nam, số lượng các nghiên cứu về vấn đề tái phát trong UTVMH còn ít, và thường chỉ dừng lại ở chỗ mô tả đặc điểm, tình hình tái phát mà chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị tái phát, tạo cơ sở để triển khai các phác đồ điều trị ngày càng hiệu quả hơn. Đặc biệt chưa có nghiên cứu áp dụng các phác đồ hóa xạ trị phối hợp và đánh giá hiệu quả của chúng trong việc kiểm soát bệnh và cải thiện tình trạng sống thêm.
Trước thực tế đó, tôi thực hiện đề tài này nhằm hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu đánh giá đặc điểm lâm sàng và hiệu quả phác đồ hoá chất (Cisplatin) và xạ trị phối hợp đồng thời điều trị ung thư vòm mũi họng tái phát tại Bệnh viện Trung ương Huế.
2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sống thêm sau điều trị ung thư vòm mũi họng tái phát.
Xem thêm

158 Đọc thêm

Ung thư vòm mũi họng tái phát tại chỗ-tại vùng dịch tễ học- lâm sàng- cận lâm sàng và các phương pháp điều trị

UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG TÁI PHÁT TẠI CHỖ-TẠI VÙNG DỊCH TỄ HỌC- LÂM SÀNG- CẬN LÂM SÀNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Phần 1: Mở đầu
Ung thư vòm mũi họng (UTVMH), không như các ung thư vùng đầu-
cổ khác, có một sự phân bố về chủng tộc và địa lý rất riêng biệt, cũng như
sự liên quan của nó với virus Esptein-Barr. Mặc dù hình thái mô bệnh học
khá đồng nhất, với ít nhất 90% các bệnh nhân (BN) được chẩn đoán mô
bệnh học là type II và type III (theo WHO) trong các vùng dịch tễ, thế
nhưng hoạt động sinh học và sự đáp ứng với điều trị của bệnh thì không
giống nhau và rất khó tiên lượng. Do vị trí u nguyên phát nằm sâu và thiếu
một phương pháp sàng lọc hiệu quả, bệnh thường gặp ở giai đoạn tiến triển
(giai đoạn III, IV). Mặc dù tỷ lệ lui bệnh cao sau xạ trị, thế nhưng tái phát
tại chỗ-tại vùng vẫn là thách thức lớn cho các nhà lâm sàng, đặc biệt đối
với những BN ở giai đoạn III, IV[16].
Có một vài yếu tố tác động đến việc lập kế hoạch điều trị cho BN
UTVMH tái phát tại chỗ-tại vùng. Trước tiên là thời gian sạch bệnh sau xạ
trị triệt căn kể từ lúc chẩn đoán. Thời gian này dưới một năm thì thường
không nghĩ đến xạ trị lần 2. Thứ hai, là mức độ xâm lấn tại chỗ- tại vùng
của tổn thương tái phát. Việc xạ trị lặp lại đến vùng tổn thương tái phát lan
rộng sẽ gây nhiều biến chứng và thường khó chấp nhận được. Yếu tố thứ
ba là số lần xạ trị. Điều trị triệu chứng nói chung được áp dụng cho những
BN đg từng được xạ trị hơn một lần. Yếu tố thứ tư là thể trạng BN. Thể
trạng kém thì không thể áp dụng bất kỳ một phương thức điều trị
nào[16,41].
Các phương pháp điều trị UTVMH tái phát hiện nay đang có nhiều
hạn chế. Một đợt xạ trị lặp lại thường được áp dụng cho những trường hợp
tái phát lần đầu tiên, và chọn lựa này đg cho thấy giải quyết được một số
lượng nhỏ các BN. Phẫu thuật thường chỉ giới hạn trong việc lấy hạch đối
với những trường hợp tái phát tại hạch vùng. Sự lui bệnh lâu dài đg được
báo cáo trên một số lượng BN đáng kể. Phẫu thuật cắt vòm thường ít được
chọn lựa. Nó được áp dụng ở những BN đg thất bại với ngay cả xạ trị lần 2, và chỉ áp dụng cho những trường hợp tái phát tại chỗ, khu trú. Hoá trị nói
chung là phương pháp điều trị triệu chứng, áp dụng đối với những BN
không còn chỉ định xạ trị hay phẫu thuật.
Một số ít các công trình nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy
một số kinh nghiệm bước đầu trong việc áp dụng hoá trị đơn thuần hay
phối hợp đồng thời với xạ trị đối với những BN tái phát. Hơn nữa, áp dụng
hoá-xạ đồng thời rất ít khi được nghĩ tới đối với UTVMH tái phát, mặc dù
vai trò của phác đồ phối hợp này từng được khẳng định đối với UTVMH
tiên phát.
Xem thêm

40 Đọc thêm

Bài giảng ung thư vòm mũi họng

BÀI GIẢNG UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

24 Đọc thêm

Phương pháp điều trị ung thư vòm mũi họng

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

24 Đọc thêm

Bệnh học ung thư vòm mũi họng

BỆNH HỌC UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

27 Đọc thêm

Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa, xạ đồng thời ung thư hạ họng thanh quản tại Trung tâm Ung bướu BVTW Huế

KHẢO SÁT CÔNG TÁC CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SAU HÓA, XẠ ĐỒNG THỜI UNG THƯ HẠ HỌNG THANH QUẢN TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU BVTW HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư thanh quản (UTTQ) là bệnh tương đối phổ biến ở các nước Âu Mỹ. Theo ước tính của Hội ung thư học lâm sàng Mỹ (ASCO) cho UTTQ và UTHH ở Mỹ vào năm 2010 có 12.720 trường hợp UTTQ mới mắc; 3.600 trường hợp tử vong vì UTTQ và mỗi năm có 2.850 trường hợp mới mắc UTHH. Tại Việt Nam, loại ung thư này cũng đứng hàng thứ hai trong các ung thư vùng đầu - cổ (UTĐC) , chỉ sau ung thư vòm mũi họng [1], [10]. Bệnh thường gặp nhiều ở nam giới, lứa tuổi từ 55 đến 65. Liên quan chặt chẽ với tình trạng hút thuốc và tiêu thụ quá nhiều rượu. Các tình trạng này tạo nên những thay đổi của lớp niêm mạc biểu mô phủ bề mặt thanh quản và hạ họng [3]. Cho đến nay, mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán nhưng do các triệu chứng bệnh thường mơ hồ, tổn thương nằm sâu, khó phát hiện, dễ bỏ sót do khi khám Tai - Mũi - Họng thông thường nên khi được phát hiện bệnh thường đã ở giai đoạn (GĐ) muộn. Có đến trên 80% bệnh nhân (BN) đến ở GĐ III-IV [6]. Theo kinh điển, phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn cho 2 loại ung thư này, những trường hợp ở GĐ muộn thường phải cắt bỏ toàn bộ thanh hầu, làm mất chức năng cơ quan, mang lỗ thở suốt đời ảnh hưởng đến chất lượng sống thêm. Đặc biệt khi bệnh ở giai đoạn quá muộn không còn khả năng phẫu thuật được, tiên lượng thường rất xấu. Điều trị GĐ này phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng toàn thân của BN. Nếu trước đây chỉ xạ trị mang tính chất giảm nhẹ triệu chứng cho BN thì ngày nay, suốt 30 năm thử nghiệm lâm sàng (TNLS) thêm hóa trị kết hợp xạ trị trên những BN thể trạng còn tốt, các chỉ số huyết học, gan, thận bình thường thu được các hiệu quả về kiểm soát bệnh tại chỗ-vùng, tăng thời gian sống thêm, nhưng kèm theo là tăng tác dụng không mong muốn của điều trị. Hóa xạ trị đồng thời (với thuốc cơ bản là cisplatin) đã được coi như điều trị chuẩn thay thế cho xạ trị đơn thuần trong những ung thư đầu cổ (UTĐC) GĐ không còn mổ được. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa được thống nhất, các tác giả đều có khuyến cáo, cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra phác đồ phù hợp [4], [6]. Ở Việt Nam, từ năm 2005, Bệnh viện K đã áp dụng phương pháp hóa-xạ đồng thời để điều trị cho các bệnh nhân ung thư hạ họng-thanh quản (HHTQ) giai đoạn muộn không mổ được [10]. Đã có nhiều đề tài y học nghiên cứu vể đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị hóa xạ trị ung thư hạ họng-thanh quản, nhưng rất ít đề tài nghiên cứu về chăm sóc điều dưỡng. Do vậy, để góp phần chăm sóc, theo dõi tốt hơn những bệnh nhân này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân sau hóa, xạ đồng thời ung thư hạ họng thanh quản tại Trung tâm Ung bướu BVTW Huế” nhằm mục tiêu - Đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân ung thư HHTQ được điều trị bằng hóa xạ đồng thời tại Trung tâm Ung bướu bệnh viện Trung ương Huế.
Xem thêm

31 Đọc thêm

Bài giảng viêm vòm mũi họng

BÀI GIẢNG VIÊM VÒM MŨI HỌNG

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

12 Đọc thêm

Đánh giá kết quả điều trị kết hợp kháng thể đơn dòng nimotuzumab-hóa xạ trị ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ giai đoạn lan tràn tại vùng

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG NIMOTUZUMAB-HÓA XẠ TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ VẢY VÙNG ĐẦU CỔ GIAI ĐOẠN LAN TRÀN TẠI VÙNG

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đầu cổ (UTĐC) là một nhóm bệnh ung thư (UT) xuất phát từ
những vị trí khác nhau ở đường hô hấp và tiêu hoá trên. Những UT này có
nhiều điểm chung về sinh bệnh học, dịch tễ, lâm sàng và điều trị. Bệnh chiếm
10% trong tổng số các loại UT. Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 41.000 trường
hợp bệnh mới mắc và 12.000 ca chết vì bệnh [1]. Tại Việt Nam UT vòm mũi
họng là bệnh hay gặp nhất trong các UTĐC và là một trong mười loại bệnh
hay gặp ở nam, còn UT khoang miệng là một trong mười loại UT hay gặp ở
nữ [2].
Hầu hết các khối u ác tính vùng đầu cổ xuất phát từ biểu mô bề mặt
nên có tới hơn 90% số trường hợp là ung thư biểu mô (UTBM) tế bào vảy
hoặc các biến thể của nó như u biểu mô dạng lymphô, UTBM tế bào hình
thoi, UTBM dạng mụn cơm, UTBM không biệt hoá. Trên toàn thế giới, nguy
cơ mắc UTBM tế bào vảy ở đầu cổ là khoảng 50.000 trường hợp mỗi năm.
Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 50, với tỷ lệ nam/nữ khoảng 2,5/1. Hút thuốc,
uống rượu, nhiễm virus HPV, EBV là những yếu tố nguy cơ thường gặp.
Với đặc điểm giải phẫu phức tạp, UTĐC rất khó được chẩn đoán sớm
do các triệu chứng thường không đặc hiệu, bệnh nhân (BN) có khi phải điều
trị kháng sinh một thời gian dài với chẩn đoán là viêm tai, viêm họng,…đến
khi phát hiện ra bệnh thì thường đã ở giai đoạn muộn, rất khó khăn cho điều
trị do khối u xâm lấn rộng và thể trạng suy yếu.
Điều trị (ĐT) UTĐC phải tuỳ thuộc vào vị trí giải phẫu và giai đoạn
bệnh. Phẫu thuật (PT) và xạ trị (XT) được xem là phương thức điều trị hiệu
quả cho giai đoạn I và II ở nhiều vị trí. Đối với những trường hợp tổn thương
lan tràn tại vùng, điều trị đa phương thức thường được chỉ định. Những thử
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có áp dụng hoá xạ trị (HXT) đồng thời cho
Xem thêm

149 Đọc thêm

Đánh giá kết quả điều trị ung thư bàng quang giai đoạn II bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần tại bệnh viện K

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BÀNG QUANG GIAI ĐOẠN II BẰNG PHẪU THUẬT CẮT BÀNG QUANG BÁN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN K

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư bàng quang là bệnh ung thư thường gặp nhất trong các bệnh
ung thư của hệ tiết niệu. Trên thế giới, năm 2008 có khoảng hơn 450.000 ca
ung thư bàng quang mới mắc, đứng hàng thứ 5 trong tổng số các bệnh ung
thư thường gặp ở cả 2 giới với tỷ lệ 8% và số bệnh nhân tử vong vào khoảng
130.000 trường hợp [1]. Ở Mỹ năm 2008 có khoảng 53.000 bệnh nhân ung
thư bàng quang mới mắc, tỷ lệ mới mắc này tăng hơn 20% trong vòng 20 năm
trở lại đây. Ung thư bàng quang gặp ở mọi lứa tuổi, đỉnh cao là nhóm tuổi từ
60 tới 70 và tỷ lệ nam/nữ là 2,5/1[2], [3].
Ở Việt Nam theo ghi nhận ung thư Hà Nội (2000 – 2001), tỷ lệ mắc
ung thư bàng quang là 2,2/100 000 dân, đứng sau các bệnh ung thư phổi, dạ
dày, gan, vú và vòm mũi họng. Bệnh hay gặp ở nam giới hơn nữ giới, đứng
vị trí thứ 4 trong các bệnh ung thư ở nam giới và thứ 9 ở nữ giới [4], [5].
Triệu chứng lâm sàng ung thư bàng quang nghèo nàn, bệnh nhân thường
vào viện vì đái máu. Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi bàng quang,
sinh thiết u và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.Nội soi bàng quang có giá
trị xác định vị trí, hình dáng, kích thước u, qua nội soi sinh thiết u để chẩn
đoán mô bệnh học. Tuy nhiên để xác định mức độ xâm lấn của u tại thành
bàng quang hoặc ra tổ chức xung quanh và tình trạng hạch vùng thì CT và
MRI có vai trò quan trọng với độ chính xác cao [6], [7].
Về mô bệnh học, loại ung thư tế bào chuyển tiếp là loại hay gặp nhất
chiếm tỷ lệ khoảng 90%, ung thư biểu mô vảy, ung thư biểu mô tuyến ít gặp.
Trong ung thư bàng quang, 75% là ung thư bàng quang nông, phương
pháp điều trị chủ yếu là cắt u qua nội soi kết hợp với bơm hóa chất tại chỗ
hoặc BCG, phương pháp này được áp dụng phổ biến trên thế giới và Việt
Nam đã làm giảm tái phát u[8], [9]. Ung thư bàng quang xâm l ấn cơ chiếm 20 – 25%, phương pháp điều trị chủ yếu của giai đoạn này là cắt bàng
quang toàn bộ, vét hạch chậu bịt hai bên, tuy nhiênviệc mất đi bàng quang
sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sống của người bệnh, đặc biệt khi họ phải
mang túi thu nước tiểu hai bên mạng sườn. Để hạn chế việc phải mang túi
nước tiểu do cắt bàng quang toàn bộ và bảo tồn được chức nă ng bàng
quang, kiểm soát việc đi tiểu, trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu
phẫu thuật cắt bàng quang bán phần đối với ung thư bàng quang xâm lấn cơ
mà vẫn đảm bảo nguyên tắc điều trị ung thư [10], [11].
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về ung thư bàng quang nói chung,
tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở nhóm ung thư bàng quang
nông và phẫu thuật cắt bàng quang toàn bộ trong ung thư bàng quang xâm
lấn cơ. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả điều trị đối với
ung thư bàng quang xâm lấn cơ bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần.
Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị ung thư bàng
quang giai đoạn II bằng phẫu thuật cắt bàng quang bán phần tại bệnh
viện K” với hai mục tiêu sau:


1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư biểu mô
bàng quang giai đoạn II.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt bàng quang bán phần do ung thư biểu mô
bàng quang giai đoạn II tại bệnh viện K từ năm 2008 đến 2013.
Xem thêm

106 Đọc thêm

BÁCH KHOA THƯ BỆNH HỌC TẬP 3 PHẦN U

BÁCH KHOA THƯ BỆNH HỌC TẬP 3 PHẦN U

thể bị lỗ chỗ hoặc hiến mất. Sau khi cắt bỏ thưdng ton. bệnhtích lại có the tái phát, tuy khoảng thòi gian có the dài ngắnkhác nhau. Di căn xnhiều năm. có khi 10 - 15 nãm.Triệu chứng lâm sàng: Dau răng dai dẳng, cổn đau cỏ khi dữdôi. các rang có the bị lung lay vi vậy có the bệnh nhân khi đếnkhám thì dã được nhổ rãng từ một tuyến trưỏc nhưng cơn đaukhông giảm mà còn tãng thêm. Nếu khám kĩ sẽ thấy (Vcác ochân rang dã bị nhổ khống licn lại mà còn mọc lên các nụ xùihoặc tỏ chức hạt, chạm vào dễ chảy máu. Các thưổng tổn nàyngày càng lan rộng và thâm nhiỗm ra vùng tợi răng lân cận làmcho rãnh môi lợi bị đay phồng và các rầng cũng bị lung lay.Niêm mạc cùa vùng lợi cũng bị thâm nhiễm sẽ trỏ thành màuđỏ sẫm. có nhiều mạch máu cương tụ, niêm mạc vòm khảu cáicũng bị đẩy phồng xuống dưỏi khiến cho ta lầm tưỏng là ungthu xuất phát từ hàm ếch. Sau đỏ, vùng má cũng bị Sling phồnglên vi thương tổn ung thu đã thâm nhiễm đến vùng răng nanh.Trong một số trưòng hợp cá biệt, thường tổn ung thư lại xuấtphát từ răng cửa. vi vậy vòm khau cái bị thâm nhiỗm sỏm. sauNếu không đicu trị. bệnh tiến tricn theo từng đợt. giữa cácdột có khoảng cách ổn định hoặc thoái tricn kéo dài nhiềutháng. Dặc bict là khi bênh dã có di căn ỏ phoi, tiến íricnchậm, nhu thường ton tiên phái ỏ mũi xoang, vì vậy nhiều tácgiả nhận xéi rằng, trên nhũng bệnh nhân bị u trụ đã có di cănỏ phoi rồi. vẫn có thể tiến hành dicu trị bằng phẩu thuật màkhông ảnh hưỏng đến sự phát 'triển' cùa u và di cấn ỏ phố!.Điều trị: Chù ycu là phẫu thuật cat hò thiíổng tôn u và phảicắt bỏ nhiều lần nếu u bị tái phát. Ị)c tránh tái phái hoặc kéo
Xem thêm

44 Đọc thêm

BAI GIANG U XO VOM MUI HONG

BAI GIANG U XO VOM MUI HONG

–THÀNH SAU TRÊN: ĐÁY XƯƠNG CHŨM, XOANG BƯỚM, ĐỐT ĐỘI, ĐỐT TRỤC–THÀNH TRƯỚC THÔNG CỬA MŨI TRƯỚC–THÀNH BÊN BỊ GIÁN ĐOẠN BỞI LỖ VÒI NHĨ GP VOØM MUÕI HOÏNG ▼PHẦN MỀM NÂNG ĐỢ VÒM MŨI HỌNG LÀ CÂN NỀN HỌNG VÀ CÂN XIẾT HỌNG TRÊN▼CÂN NỀN HỌÏÏNG LIÊN TỤC PHẦN CÂN LỖ RÁØCH VÀ LIÊN QUAN ĐẾN 5 LỖ KHÁC Ở NỀN SỌ: BẦU DỤC, GAI, ĐMC, HẠ THIỆT, LỖ TRÒN▼NIÊM MẠC ĐƯC CẤU TẠO BỞI LỚP BIỂU MÔ, TỔÅ CHỨC LYMPHO, TUYẾN NƯỚC BỌT NHỎ▼BẠCH MẠCH ĐỔ VÀO THÀNH SAU HỌNG CỦA ROUVIÈRE XUẤT ĐỘXUẤT ĐỘ▼
Xem thêm

48 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU MỘT SỐ CẤU TRÚC MŨI NGOÀI TRÊN NGƯỜI VIỆT TRƯỞNG THÀNH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU MỘT SỐ CẤU TRÚC MŨI NGOÀI TRÊN NGƯỜI VIỆT TRƯỞNG THÀNH

11ĐẶT VẤN ĐỀMũi ngoài là một trong những cơ quan được phẫu thuật nhiềutrong chuyên ngành thẩm mỹ, cấu trúc mũi đặc trưng người Châu Athường có đỉnh mũi to, sống mũi thấp, phẫu thuật tạo hình mũi khôngchỉ đơn thuần là đặt sống nâng cao mũi, mà còn là tạo hình đỉnh mũi,thu gọn cánh mũi, chỉnh hình xương mũi, v.v... Mỗi một kỹ thuật đềuđòi hỏi phẫu thuật viên phải am hiểu về giải phẫu ứng dụng các cấutrúc tham gia cấu tạo nên tháp mũi như trụ trong, trụ ngoài, vòmchứa điểm đỉnh, quan điểm kiềng ba chân, khái niệm cung M, dâychằng gian vòm, gian trụ, tạo nên tỉ số lực nén, lực căng ảnh hưởngđến kết quả phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mũi. Trong y văn kinh điển,tác giả mô tả cấu trúc tháp mũi ở mức độ hình thái đơn thuần và đơngiản, hầu như ít được ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ.Chính vì vậy, kết quả sau phẫu thuật thẩm mỹ mũi thường không nhưmong đợi và biến chứng xảy ra đa phần do sự hiểu biết không rõràng các cấu trúc giải phẫu ứng dụng tháp mũi như đã nêu ở trên.Đặc điểm hình thái các cấu trúc mũi thay đổi theo chủng tộc, khácbiệt khá rõ giữa người da trắng và người da màu Châu A.Từ những hiểu biết giải phẫu ứng dụng, phẫu thuật viên tạo rađược cái mũi mới phải đạt được sự cân bằng và hài hoà với khuônmặt. Các nhà phẫu thuật nhận thấy tạo hình mũi rất khó vì (a) đỉnhmũi sau tạo hình phải trông thật tự nhiên, (b) sự phức tạp của các cấutrúc giải phẫu của nó như sụn cánh mũi lớn, điểm đỉnh mũi, lớp mỡgian vòm, dây chằng gian vòm v.v…và (c) tính hài hòa của mũi trênkhuôn mặt. Đặc điểm hình thái mũi thay đổi theo chủng tộc da trắng,da màu qua các chỉ số nhân trắc, thể hiện tính hài hòa giữa các thànhphần cấu tạo mũi với các cấu trúc xung quanh khuôn mặt. Phẫu thuật
Xem thêm

30 Đọc thêm

Bệnh của đường hô hấp trên mũi, xoang, vòm hầu, thanh quản

BỆNH CỦA ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN MŨI, XOANG, VÒM HẦU, THANH QUẢN

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

40 Đọc thêm