QUYẾT ĐỊNH CÁC NHIỆM VỤ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐỐI VỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG SÂU VÙNG XA VÀ VÙNG CÒN NHIỀU KHÓ KHĂN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUYẾT ĐỊNH CÁC NHIỆM VỤ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐỐI VỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG SÂU VÙNG XA VÀ VÙNG CÒN NHIỀU KHÓ KHĂN":

Biện pháp quản lý của sở giáo dục và đào tạo nhằm phát triển giáo dục trung học cơ sở vùng đặc biệt khó khăn tỉnh hà giang

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHẰM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỈNH HÀ GIANG

Trong suốt hơn 60 năm qua, ngành giáo dục và đào tạo (GDĐT) nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, từ một nước với khoảng 95% dân số mù chữ đến nay ta đã phổ cập xong tiểu học, xoá mù chữ (XMC) và đang tiến hành phổ cập trung học cơ sở (THCS), dân trí được nâng cao, đào tạo được đội ngũ nhân lực là lực lượng nòng cốt thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc phát triển giáo dục miền núi, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK) để có thể thu hẹp khoảng cách giữa miền núi với miền xuôi, nhưng trong thực tế để giáo dục miền núi vùng ĐBKK tiến kịp với miền xuôi là một vấn đề không đơn giản.
Hiến pháp Nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đảm bảo phát triển giáo dục ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và vùng ĐBKK.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001 2005 đã chỉ rõ: Tiếp tục quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo, củng cố và duy trì thành quả phổ cập giáo dục tiểu học (PCGDTH) và xoá mù chữ, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa; thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở (PCGD THCS).
Quyết định số: 2012001QĐTTg ngày 28122001 của Thủ tướng Chính phủ về xác định mục tiêu Chiến lược phát triển giáo dục 2001 2010 là: Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở các vùng còn nhiều khó khăn, quan tâm nhiều hơn đến phát triển giáo dục cho các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, các dân tộc ít người được tạo điều kiện để học tập và nắm vững tiếng phổ thông, đồng thời tổ chức học chữ viết riêng của dân tộc, ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn.
Nghị quyết số 03NQTU ngày 03.10.2006 của BCH Đảng bộ tỉnh Hà Giang về đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 đã nêu rõ: Tiếp tục duy trì và giữ vững chuẩn Quốc gia về chống mù chữ (CMC) và phổ cập giáo dục tiểu học. Đến nay, toàn tỉnh đã có 190195 xã, phường, thị trấn với 911 huyện thị được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở, giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa khó khăn, hoàn thành PCGD THCS vào năm 2008. Quan tâm phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc, duy trì và phát triển hệ thống các trường nội trú, lớp nội trú dân nuôi tại các xã; tăng số lớp bán trú cho học sinh tiểu học.
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn. Tuy đã đạt được một số thành tựu trong giáo dục nhưng chỉ số HDI của Hà Giang đứng gần cuối cùng của bảng xếp hạng 64 tỉnh, thành trong cả nước. Do đó công tác phát triển giáo dục THCS vùng ĐBKK của tỉnh Hà Giang còn gặp rất nhiều khó khăn như: Chất lượng giáo dục phổ thông thấp so với yêu cầu, công tác PCGDTH XMC ở một số huyện còn nhiều hạn chế, số học sinh bỏ học, lưu ban ở các xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều. Hiện tượng tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục vẫn còn xảy ra. Cơ sở trường học, thiết bị dạy học tuy đã được củng cố và xây dựng mới, thiết bị đã được cung ứng song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra các biện pháp quản lý nhằm phát triển giáo dục THCS vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THCS của tỉnh là vấn đề hết sức cần thiết.
Do đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Biện pháp quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo nhằm phát triển giáo dục trung học cơ sở vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Hà Giang.
Xem thêm

108 Đọc thêm

TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA QUỸ ỦY THÁC LÂM NGHIỆP, BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA QUỸ ỦY THÁC LÂM NGHIỆP, BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Ngành lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận không thể tách rời trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, phát triển ổn định và bền vững cho nông nghiệp và nông thôn đặc biệt là vùng sâu vùng xa nơi có đồng bào dân tộc ít người sinh sống, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước. Chính vì vậy, thời kỳ 2005-2012, ngành lâm nghiệp Việt Nam nói chung và Quỹ ủy thác Lâm nghiệp nói riêng luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ của các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế. Nguồn vốn ODA cho ngành lâm nghiệp đã góp phần không nhỏ cho ngành lâm nghiệp thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia ‘Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng’, cải thiện thể chế và chính sách, nâng cao nguồn nhân lực cho ngành.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của ngành lâm nghiêp cũng bộc lộ những điểm hạn chế như còn phụ thuộc nhiều vào ưu tiên của nhà tài trợ, không cân bằng giữa các vùng, miền, chất lượng thiết kế dự án còn kém, tỷ lệ giải ngân thấp. Trước bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp thì công tác thu hút, vận động, quản lý và sử dụng vốn ODA, vay ưu đãi và hỗ trợ quốc tế cho ngành lâm nghiệp giai đoạn 2013-2020 cần có những thay đổi về chiến lược, chính sách và thể chế cho phù hợp với tình hình phát triển mới.
Với mục dích tìm hiểu rõ hơn về vai trò, nhiệm vụ cũng như thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốnODA trong lĩnh vực Lâm Nghiệp, em đã nghiên cứu và viết chuyên đề : “ Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Quỹ ủy thác Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn”
Xem thêm

94 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ (2001 2010)

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TỪ (2001 2010)

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Theo thống kê hiện nay, nước ta có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, còn 53 DTTS chiếm 13,8% dân số. Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ khi ra đời và quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định vấn đề dân tộc có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, Đảng đã đề ra nguyên tắc quan hệ giữa các dân tộc là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đặc biệt gần đây nhất, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (62011) Đảng tiếp tục khẳng định: “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển” 24, tr.70.
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, công tác dân tộc và thực hiện CSDT đã thu được những thành tựu quan trọng. Sau hơn 25 năm đổi mới, KT XH ở vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, đã có những bước phát triển khá nhanh và toàn diện. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào ổn định chính trị xã hội của đất nước, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc miền Trung, có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển KT XH và quốc phòng, an ninh của khu vực cũng như cả nước. Toàn tỉnh có khoảng 20 DTTS, cư trú chủ yếu ở vùng rừng núi cao phía Tây, xa xôi, hẻo lánh. Từ xa xưa, các dân tộc sinh sống trên địa bàn Nghệ An luôn đoàn kết, gắn bó, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH, cùng với chủ trương tập trung phát triển KT XH, Đảng bộ tỉnh Nghệ An chú trọng lãnh đạo thực hiện CSDT, nhất là từ khi có Nghị quyết số 22NQTƯ, ngày 27 tháng 11 năm 1989 của Bộ Chính trị, các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết lần thứ bảy BCHTƯ Đảng khóa IX về công tác dân tộc. Theo đó, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương, quan tâm lãnh đạo phát triển KT XH ở vùng DTTS, thiết thực đóng góp vào sự nghiệp phát triển KT XH, đẩy mạnh CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh nhà.
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CSDT của tỉnh cũng còn nhiều hạn chế, nhất là về phát triển KT XH trên địa bàn cư trú của các DTTS. Đời sống của một bộ phận nhân dân trong vùng đồng bào dân tộc, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp, đời sống vật chất, tinh thần chưa được nâng lên đáng kể so với yêu cầu, sự lãnh đạo của các cấp, các ngành còn hạn chế, đầu tư cho xây dựng thiếu đồng bộ và vững chắc.
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng là việc làm cần thiết để góp phần khẳng định giá trị khoa học và thực tiễn công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta và đánh giá đúng đắn sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong việc thực hiện các CSDT của Đảng, rút ra những kinh nghiệm làm căn cứ phát triển cho những năm tiếp theo.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010”, làm luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

111 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ - Tổ chức thực thi chính sách của Nhà nước về hỗ trợ đồng bào dân tộc La Hủ, Cống, Mảng trên địa bàn tỉnh Lai Châu

LUẬN VĂN THẠC SỸ - TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ HỖ TRỢ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC LA HỦ, CỐNG, MẢNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU

Lai Châu là một tỉnh biên giới phía Tây Bắc của tổ quốc tiếp giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc với 265 km đường biên giới, là tỉnh có vị trí quan trọng về địa chính trị và an ninh quốc phòng. Dân số toàn tỉnh có 403,20 nghìn người, gồm 20 dân tộc cùng sinh sống; trong đó dân tộc La Hủ 9.731 người, chiếm 2,41%; dân tộc Mảng 3.801 người, chiếm 0,94%; dân tộc Cống 1.140 người, chiếm 0,28%. Đây là một trong những tỉnh khó khăn nhất của cả nước với điều kiện kinh tế xã hội phát triển chậm, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, tỷ lệ hộ đói nghèo cao 32,3%. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, chương trình, dự án được triển khai nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo vùng miền núi và đồng bào dân tộc ở những vùng đặc biệt khó khăn, như chương trình 134, 135, 167, các chương trình hỗ trợ về giáo dục, y tế ...v..v... Việc tổ chức triển khai thực hiện các chính sách trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng góp phần làm cho diện mạo nông thôn miền núi nơi đây có nhiều đổi thay đáng kể, kinh tế đã có bước phát triển khá, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện, trình độ dân trí được nâng lên, công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người dân đạt được nhiều tiến bộ, giúp các dân tộc thiểu số hoà nhập nhanh chóng vào sự phát triển chung của tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều nơi, nhất là vùng sâu, vùng xa và biên giới, do những yếu tố về lịch sử, địa lý tự nhiên khắc nghiệt và phong tục tập quán lạc hậu, cuộc sống du canh du cư, săn bắt, hái lượm, phụ thuộc vào tự nhiên, nên tình hình sản xuất và đời sống của một số đồng bào dân tộc còn rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, điển hình là các dân tộc La Hủ, Mảng, Cống. Những năm qua, mặc dù được thụ hưởng các chính sách đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước nhưng do khó khăn cách trở về giao thông đi lại, do nguồn lực đầu tư còn thiếu, bên cạnh đó việc tổ chức thực thi chính sách của các cấp chính quyền địa phương còn bộc lộ một số hạn chế như sử dụng các nguồn lực đầu tư của Chính phủ chưa hiệu quả, chính quyền tỉnh còn chưa phân công, phân cấp mạnh cho cấp huyện và cơ sở, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, công tác tuyên truyền đến người dân còn chưa được chú trọng, các đối tượng được hưởng chính sách không nhận thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình dẫn đến nhân dân chưa nhiệt tình tham gia vào quá trình thực hiện chính sách, còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nên hiêu lực và hiệu quả từ các chính sách mang lại chưa cao, chưa xứng với sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước.Tiếp tục thực hiện chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, từ điều kiện thực tế của tỉnh Lai Châu, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Phát triển kinh tếxã hội vùng các dân tộc La Hủ, Cống, Mảng” trên địa bàn Tỉnh với mục tiêu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ và tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc Mảng, La Hủ, Cống phát triển sản xuất, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; bảo tồn và phát triển giúp đồng bào hòa nhập và rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền trong cả nước.Từ thực tiễn quá trình tổ chức thực hiện một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh trong thời gian vừa qua, tác giả quyết định chọn đề tài “Tổ chức thực thi chính sách của Nhà nước về hỗ trợ đồng bào dân tộc La Hủ, Cống, Mảng trên địa bàn tỉnh Lai Châu” làm luận văn Thạc sỹ của mình, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đối với 3 dân tộc La Hủ, Cống, Mảng của tỉnh Lai Châu đạt kết quả cao hơn.
Xem thêm

114 Đọc thêm

Xóa đói giảm nghèo bền vững ở huyện lục ngạn

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN LỤC NGẠN

Ngày nay theo Liên hợp quốc toàn thế giới vẫn còn 2,8 tỉ người (43%) là người nghèo và 1,2 tỉ người (18%) rất nghèo, không đủ khả năng đáp ứng được những nhu cầu cơ bản. Một nửa số dân trên thế giới đang bị phân biệt đối xử, khước từ các cơ hội chỉ vì khác màu da trong đó thiệt thòi lớn nhất là trẻ em và phụ nữ.Có thể nói, nghèo đói đã diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói đang là một vấn đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay tụt hậu của một quốc gia.Ở nước ta, sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi sắc và đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân đã được cải thiện và nâng cao một bước (kể cả thành thị, nông thôn và miền núi vùng sâu, vùng xa).Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, đã hình thành một bộ phận dân cư giàu lên và một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đói nghèo với khoảng cách ngày càng xa.Đối với Việt Nam, mức độ nghèo khổ là khá cao, đặc biệt là các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo. Hiện nay, theo chuẩn tỷ lệ số hộ nghèo toàn quốc đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007; theo chuẩn quốc tế thì từ 58% năm 1993 xuống còn 9,34% năm 2010. Việt Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo.Bắc Giang là một tỉnh miền núi, phía Bắc giáp Lạng Sơn và Thái Nguyên, phía Nam giáp Bắc Ninh và Hải Dư¬ơng, phía Đông giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên 3.882,6 km2, bao gồm có 09 huyện, 1 thành phố, trong đó có 6 huyện miền núi và 1 vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn, 182 xã miền núi (trong đó có 47 xã vùng cao). Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tập trung ở 105 xã, thị trấn thuộc 6 huyện miền núi, vùng cao: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên. Toàn tỉnh có 30 xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) và 97 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc 32 xã, thị trấn khu vực II thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II.Lục Ngạn có tổng diện tích tự nhiên là 101.223,72 ha,lớn nhất tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 40 km về phía Đông, địa hình đồi và núi xen lẫn, nhiều thiên tai nhất là vào mùa mưa lũ. Toàn huyện hiện nay có 16 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% (trong tổng số 30 xã của toàn tỉnh). Kinh tế tập trung vào ngành nông nghiệp, dân số huyện 204.416 người (2009) người, lao động chủ yếu chưa qua đào tạo. Thành phần dân tộc rất phức tạp, người Kinh chiếm 53%, còn lại là các dân tộc khác như Sán Dìu, Nùng, Cao Lan, Hoa…Việc thực hiện xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã thực hiện nhiều năm và theo các chương trình XĐGN của nhà nước nhưng nguy cơ tái nghèo rất lớn, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy thực hiện mục tiêu XĐGN bền vững đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho tỉnh Bắc Giang và huyện Lục Ngạn nói riêng trong tiến trình hội nhập và phát triển. Chính điều này đã làm cho việc nghiên cứu vấn đề XĐGN trở nên cấp thiết và tác giả đã chọn vấn đề “Xóa đói giảm nghèo bền vững ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” để làm đề tài luận văn của mình.
Xem thêm

91 Đọc thêm

Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh thái nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp

THỰC TRẠNG HÀNH VI VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DAO TẠI MỘT SỐ XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CAN THIỆP

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở
phạm vi một quốc gia, một khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm
vi toàn cầu bởi tầm quan trọng của nó với sức khỏe con người. Ở nhiều vùng
nông thôn, vệ sinh môi trường còn kém, chất thải của con người và gia súc chưa
được xử lý đúng cách và chưa đảm bảo hợp vệ sinh, tập quán dùng phân người
bón ruộng làm phát tán mầm bệnh ra môi trường xung quanh đã ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe người dân, đây là một trong những nguyên nhân
gây dịch bệnh đường tiêu hóa cho cộng đồng như tả, lỵ, thương hàn…[1], [5], [6].
Miền núi phía Bắc nước ta là một địa bàn chiến lược rất quan trọng về kinh
tế, chính trị và quốc phòng, là khu vực sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít
người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam như Tày, Nùng, Thái, Mường,
Dao, Mông...[54]. Trong chiến lược con người của Đảng ta, việc chăm lo sức
khoẻ cho nhân dân các dân tộc miền núi vừa là mục tiêu, vừa là chính sách động
lực để có một nguồn nhân lực mạnh khoẻ, có trí tuệ nhằm thực hiện việc xây
dựng các vùng trọng điểm chiến lược này. Thế nhưng hiện tại việc chăm sóc sức
khỏe ở một số vùng dân tộc thiểu số còn chưa tốt, tình hình vệ sinh môi trường ở
các cộng đồng dân tộc thiểu số còn nhiều nguy cơ ô nhiễm, tỷ lệ hộ gia đình có
nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh rất thấp [55], [80].
Người Dao là một trong số các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, lịch sử
người Dao ở nước ta đã hơn 300 năm. Người Dao sống chủ yếu ở vùng sâu vùng
xa khắp biên giới Việt Trung từ tỉnh Lai Châu, Điện Biên cho tới tỉnh Cao Bằng,
Hà Giang và Thái Nguyên. Điều kiện kinh tế văn hóa xã hội và vệ sinh môi
trường của người Dao còn nhiều khó khăn. Trong khi người dân ở các khu đô
thị, miền đồng bằng được sử dụng nước máy và nhà tiêu hợp vệ sinh thì người
Dao và các dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi không có đủ nước sạch và
nhà tiêu để sử dụng. Kết quả điều tra của Cục Y tế dự phòng và môi trường năm 2010 về điều kiện vệ sinh môi trường của một số dân tộc thiểu số Việt Nam cho
thấy người Dao chủ yếu dùng nước suối đầu nguồn (57,6%) và giếng khơi
(18,3%), ngoài ra còn có 21,4% dùng các nguồn nước khác không thuộc các
nguồn nước sạch [26]. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ hộ gia đình người Dao có
nhà tiêu rất thấp (50,4%) và hầu hết không đảm bảo vệ sinh, tỷ lệ hộ có nhà tiêu
hợp vệ sinh chỉ 5,8%, những hộ gia đình người Dao không có nhà tiêu đều đi
ngoài ra vườn và rừng (85,5%) [26],[40]. Để giải quyết vấn đề vệ sinh môi
trường, đã có một số chương trình can thiệp được triển khai ở các địa phương,
song chưa bao phủ hết các xã đặc biệt khó khăn vì vậy điều kiện vệ sinh môi
trường có thể chưa được cải thiện. Vậy câu hỏi đặt ra là hành vi vệ sinh môi
trường của người Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên hiện
nay ra sao? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi vệ sinh môi trường của
người Dao nơi đây? Từ đó có những giải pháp nào phù hợp để cải thiện hành vi
vệ sinh môi trường cho người Dao? Để trả lời các câu hỏi trên, nghiên cứu đề
tài:“Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số xã đặc biệt
khó khăn tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm mô hình can thiệp” được tiến hành
với mục tiêu sau:
1. Đánh giá thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người Dao tại một số
xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi vệ sinh môi trường của người
Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
3. Đánh giá kết quả thử nghiệm mô hình truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh
môi trường cho người Dao tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Xem thêm

173 Đọc thêm

Tiếp thị xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc mường

TIẾP THỊ XÃ HỘI VỚI VIỆC BỔ SUNG SẮT CHO PHỤ NỮ CÓ THAI DÂN TỘC MƯỜNG

MỞ ĐẦU
Suy dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em là một vấn đề không mới nhưng theo
Richard Horton – chủ biên tờ The Lancet đây là một khía cạnh của sức khỏe bà
mẹ và trẻ em bị bỏ rơi một cách trầm trọng 76. Nhiều nghiên cứu đã chứng
minh thiếu dinh dưỡng thể thấp còi, thiếu dinh dưỡng thể gày còm nặng và thiếu
dinh dưỡng bào thai là những vấn đề quan trọng nhất 47. Với cách tiếp cận của
“dinh dưỡng theo vòng đời”, can thiệp dinh dưỡng sớm sẽ giúp tác động vào
vòng xoắn của suy dinh dưỡng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các can thiệp vào
giai đoạn trước mang thai và trong khi mang thai của người phụ nữ được chứng
minh là có thể giảm tới 50% thấp còi ở trẻ em. Các can thiệp này bao gồm chế
độ ăn đầy đủ khi có thai, bổ sung sắt, axit folic, canxi và một số vi chất khác
116.
Trong các vấn đề dinh dưỡng ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, thiếu máu thiếu
sắt là vấn đề sức khỏe phổ biến và trên thế giới đã có rất nhiều nỗ lực trong hàng
thập kỷ qua để triển khai các chương trình nhằm cải thiện tình trạng này. Tuy
nhiên so với các vi chất dinh dưỡng khác (như Vitamin A và Iốt) thì những tiến
bộ trong lĩnh vực này còn chưa nhiều. Sự hạn chế không phải do chúng ta thiếu
những kiến thức khoa học về tỷ lệ mắc bệnh, nguyên nhân và hậu quả của thiếu
máu thiếu sắt mà là do thiếu sự triển khai các can thiệp có hiệu quả và hoạt động
truyền thông còn chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc bổ sung sắt cho phụ nữ có
thai và phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ muốn có hiệu quả thì không chỉ đơn thuần là cấp
viên sắt cho đối tượng. Điều quan trọng là phải làm cho đối tượng hiểu và thực
hành bổ sung viên sắt hợp lý. Đó là những thách thức đặt ra cho công tác truyền
thông.
Ở các nước đang phát triển, việc triển khai các chương trình can thiệp
trong đó có bổ sung viên sắt cho phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ thường là trách nhiệm
của Nhà nước với sự hỗ trợ của các chương trình dự án và các tổ chức quốc tế về

2
ngân sách, trang thiết bị và kỹ thuật. Tuy nhiên, trên thực tế, sự vận hành chương
trình can thiệp này chưa được gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu và truyền thông
do đó hiệu quả của can thiệp phòng chống thiếu máu còn hạn chế. Có khá nhiều
nghiên cứu tập trung vào các vấn đề như loại sắt bổ sung, liều sắt bổ sung, hay
tần suất bổ sung, nhưng không nhiều nghiên cứu chú ý đến tìm giải pháp để có
thể tăng cường hiệu quả của can thiệp như tăng độ bao phủ hay tuân thủ phác đồ
bổ sung viên sắt 132. Hơn thế nữa, các chương trình bổ sung viên sắt từ trước
tới nay chủ yếu là cấp miễn phí do đó độ bao phủ không cao vì ngân sách hạn
chế, chủ yếu tập trung ở những vùng khó khăn hoặc có dự án. Cách này không
bền vững vì chỉ duy trì trong thời gian có dự án. Đứng trước những thách thức
đó, cần có chương trình can thiệp huy động được các nguồn lực khác ngoài
nguồn trợ cấp của Nhà nước và viện trợ, đó chính là vai trò của việc nâng cao
nhận thức và thực hành của các đối tượng cần được bổ sung sắt cũng như gia
đình của họ, và xây dựng được mô hình can thiệp bằng Tiếp thị xã hội, đây là
một chiến lược cần thiết với chủ trương xã hội hóa công tác y tế của Nhà nước.
Ở Việt Nam có 54 dân tộc. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh (Việt),
chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất là Tày, Thái, Mường,
Hoa, Khmer, Nùng. Hmông, Dao, Giarai, Êđe. Đa số các dân tộc này sống ở
miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Mê
kông 32.
Nói về mức độ nghèo, 75% dân tộc thiểu số phải đối mặt với nạn nghèo
đói, so với 31% dân tộc Kinh. Trong các dân tộc thiểu số, phụ nữ thường bị ảnh
hưởng bởi nạn nghèo đói nhiều hơn nam giới, do không có quyền ra quyết định,
trình độ học thức còn thấp và ít có cơ hội, và điều này khiến họ trở thành những
người nghèo nhất trong số những người nghèo 20. Theo kết quả giám sát
thường niên của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng còn rất cao ở các tỉnh
miền núi, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số (vùng miền núi Tây bắc,
Tây nguyên) với tỷ lệ nhẹ cân từ 25% đến 32% và thấp còi từ 37% đến 47% (14

3
tỉnh có tỷ lệ cao nhất)4. Tại Hòa Bình, dân tộc Mường chiếm tỷ lệ 63% dân
số, cao nhất trong những dân tộc sinh sống ở đây. Những khó khăn về điều kiện
địa lý, kinh tế xã hội và các yếu tố văn hoá đã ảnh hưởng đến tình trạng dinh
dưỡng của người Mường nói chung và của phụ nữ có thai, trẻ em dưới 5 tuổi nói
riêng. Vì vậy, các chương trình can thiệp dinh dưỡng quốc gia cần có sự quan
tâm đặc biệt đến nhóm dân cư này.
Trong các giải pháp thực hiện, truyền thông giáo dục dinh dưỡng được coi
là hoạt động trọng tâm và điểm nhấn mạnh là công tác này cần thực hiện theo
đặc thù của vùng địa lý, dân tộc và dựa vào các bằng chứng hoặc nghiên cứu về
dinh dưỡng và tập quán dinh dưỡng của từng địa phương và dân tộc 5. Tuy
nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu áp dụng mô hình tiếp thị xã hội lấy truyền
thông thay đổi hành vi làm trọng tâm còn lẻ tẻ và chưa đưa ra được mô hình tiếp
thị xã hội có tính khả thi và hiệu quả, đặc biệt với những vùng khó khăn, có dân
tộc thiểu số. Vì đề tài nghiên cứu “Tiếp thị xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ
nữ có thai dân tộc Mường” được tiến hành nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
1. Mô tả các hành vi liên quan đến dinh dưỡng của phụ nữ có thai dân tộc
Mường và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến độ bao phủ và tuân thủ
phác đồ bổ sung viên sắt của phụ nữ có thai dân tộc Mường.
2. Đánh giá hiệu quả can thiệp tiếp thị xã hội và truyền thông dinh dưỡng
đến chăm sóc dinh dưỡng và bổ sung sắt của phụ nữ có thai dân tộc
Mường.

Giả thuyết nghiên cứu
Phụ nữ có thai dân tộc Mường cải thiện kiến thức và thực hành trong việc phòng
chống thiếu máu thiếu sắt khi mang thai thông qua tiếp thị xã hội.
Xem thêm

176 Đọc thêm

CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS GIA AN

CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS GIA AN

I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Công tác xã hội hóa giáo dục hiện nay trong các trường học đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng. Đặc biệt, vấn đề xã hội hóa giáo dục đang được các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân, nhiều bậc phụ huynh, học sinh quan tâm chỉ đạo và hưởng ứng thực hiện.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã đề ra quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong đó có nội dung đó là “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”.
Chương trình hành động số 25NQTU của Tỉnh ủy Bình Thuận cũng đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp như sau “…Nhà nước ưu tiên tập trung xây dựng và phát triển cơ sở giáo dục công lập. Trước mắt, tiến hành đánh giá đầy đủ hiện trạng trường lớp, trang thiết bị trong toàn ngành; trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể nhằm tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu dạy và học của từng trường, từng địa bàn theo hướng chuẩn hóa, từng bước hiện đại; quan tâm đúng mức đến bậc học mầm non. Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo; khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập, nhất là giáo dục nghề nghiệp. Tổ chức liên kết, hợp tác với các trường, các cơ sở đào tạo có uy tín. Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân có sử dụng lao động tham gia hỗ trợ xây dựng trường lớp, hoạt động giáo dục và đào tạo; duy trì và phát triển hiệu quả các quỹ khuyến học, khuyến tài giúp học sinh, sinh viên nghèo học giỏi…”.
Xem thêm

9 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHUYÊN ĐỀ “TAM NÔNG” TRÊN BÁO NÔNG THÔN NGÀY NAY

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHUYÊN ĐỀ “TAM NÔNG” TRÊN BÁO NÔNG THÔN NGÀY NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
“Với khoảng 70% dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề liên quan tới nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986 – 2008) đã đạt được những thành tựu phát triển khả quan. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các loại nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay. Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2007 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD. Trong bài “ Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam” trên website của Bộ ngoại giao Việt Nam có nhắc tới sự phát triển của nông nghiệp.
Trong quá trình lãnh đạo đất nước, với nhận thức sâu sắc về đặc điểm của nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tiếp sau đó, nhiều nghị quyết của Đảng đã bàn tới vấn đề này, qua đó góp phần bổ sung hoàn thiện hơn quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội XI đã khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp... đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”.
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng còn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm”; “Tình trạng thiếu việc làm còn cao”; “Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng dãn ra. Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng”; môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp”.
Những quan điểm về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là sự khẳng định, bổ sung và tiếp tục phát triển chủ trương, đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng. Quán triệt sâu sắc và vận dụng hiệu quả những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng là cơ sở vững chắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triển mới.
Xem thêm

97 Đọc thêm

Luận án tiến sỹ kinh tế: Phát triển nông nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam theo hướng bền vững

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ: PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Trung du miền núi phía Bắc là vùng có núi non hùng vĩ nhất Việt Nam, là nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống nhất đất nước (3554 dân tộc) và cũng là nơi có đường biên giới trên bộ rất dài với hai nước: Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (trên 1500 km) và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (560 km). Chính vì vậy, Trung du miền núi phía Bắc là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, gìn giữ môi trường và bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước.Thấy rõ vị trí quan trọng của vùng Trung du miền núi phía Bắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nên trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc đầu tư phát triển mọi mặt đối với vùng này. Nhờ đó, kinh tế của toàn vùng đã có sự phát triển khá nhanh; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc sinh sống trong vùng đã có sự cải thiện đáng kể, đặc biệt là các mặt: ăn, ở, đi lại, học tập, điện, nước sinh hoạt và nghe nhìn; an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ bản được giữ vững.Song do là vùng núi cao, địa hình bị chia cắt phức tạp, cơ sở hạ tầng thấp kém, dân cư sống phân tán và trình độ dân trí còn quá thấp, nên kinh tế của vùng dù đã có phát triển khá, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới được hình thành và phát triển, đáng chú ý là các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhưng ngành sản xuất rộng lớn nhất, quan trọng nhất vẫn là ngành nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp vẫn là lĩnh vực chính giải quyết việc làm, thu nhập và bảo đảm đời sống cho đại bộ phận lao động và dân cư trong vùng.
Xem thêm

184 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

Hiện nay Việt Nam đang có quan hệ với khoảng 650 tổ chức phi chínhphủ nước ngoài, trong đó có trên 500 tổ chức hoạt động thường xuyên vàcam kết dài hạn. Nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ chủ yếu tậptrung vào các ngành y tế, giáo dục; giải quyết các vấn đề xã hội cũng nhưphát triển kinh tế (nhất là du lịch). Đặc biệt các nguồn vốn này sẽ được ưutiên nhiều hơn tới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiềuđồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, môi trường xã hộicòn nhiều hạn chế. Những chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế đemtới Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc xoá đói, giảm nghèo cũng nhưnâng cao đời sống và năng lực của người dân tại các vùng dự án. Nhưng vớiviệc mở rộng giao lưu quốc tế cũng tạo điều kiện cho các phần tử xấu lợidụng chính sách mở cửa của Việt Nam để thâm nhập, chống phá,khối đạiđoàn kết dân tộc.Tất các những yếu tố trên đây có tác động và là một thách thức khôngnhỏ đối với Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác lãnh đạo xây dựngđội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương.2.1.2. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểusố ở Tuyên Quang trước năm 1991Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trước năm 1991chưa thực sự được quan tâm. Cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia vào10hệ thống chính trị một cách ngẫu nhiên do nhu cầu công việc nên tỉ lệ quáthấp so với tổng số cán bộ trong tỉnh.Bên cạnh việc sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số không hiệu quả, côngtác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của tỉnh cũngchưa phù hợp với chuyên môn và đặc điểm từng địa phương, nhất là đàotạo cán bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế và chuyên môn nghiệp vụ là ngườidân tộc thiểu số.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc Việt Nam hiện nay

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu


Khi hoạch định các chương trình phát triển, Liên hợp quốc đã luôn nhắc
nhở các quốc gia về việc phải nâng cao nguồn lực con người. Theo tổ chức phát
triển của Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam là một trong những quốc gia có cơ
cấu dân số trẻ, nguồn nhân lực trẻ đứng hàng đầu thế giới. Để phát huy và phát
triển nguồn nhân lực này cần phải quan tâm đến các mặt sau: Tăng cường các
hoạt động giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; chăm lo sự phát triển về sức
khoẻ, thể chất; đảm bảo môi trường sống tốt đẹp; giải phóng mọi sự trói buộc
khả năng sáng tạo của con người. Bà TS.Matis Sadik – Phó Tổng thư kí Liên
hợp quốc, Tổng giám đốc điều hành quỹ dân số Liêp hiệp quốc đã khuyến cáo
rằng: “ Việt Nam đang là nước ở khu vực bước vào giai đoạn có dân số trẻ, đông
chưa từng có với 60% dân số dưới 25 tuổi. Dân số dưới 25 tuổi là nguồn nhân
lực lớn, dồi dào cho sự phát triển, mở ra cho Việt Nam một “cửa sổ cơ hội” do
có “dư lợi dân số”. Sự thành công còn phụ thuộc vào sự đầu tư cho giáo dục,
đào tạo, y tế, việc làm, biến lực lượng này thành lực lượng tăng trưởng kinh tế –
xã hội, nhưng ngược lại nếu không có đầu tư và để nạn thất nghiệp tồn tại thì
chính lực lượng này sẽ là gánh nặng cho sự phát triển quốc gia, gây bất ổn định
xã hội” và do vậy Việt Nam cần “đầu tư để biến dư lợi dân số thành cơ hội xây
dựng nguồn nhân lực” [83, Tr.3].
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và chiến lược
phát triển đất nước 2010 -2020 khẳng định: Con người là yếu tố trung tâm trong
chiến lược phát triển đất nước; con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết
định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Quan điểm
này cho thấy, nhân tố quan trọng nhất trong sự phát triển của mọi xã hội không
chỉ là kinh tế, là công nghệ, là vốn liếng mà còn chính là con người.
Những khuyến nghị của Liên hợp quốc cũng như những quan điểm,
đường lối lãnh đạo của Đảng ta cho thấy sự thừa nhận vai trò to lớn, tầm quan
trọng của việc phát triển nguồn nhân lực con người trong sự phát triển đất nước
và nhân loại, là nhân tố hàng đầu, quyết định thành công hay thất bại của mọi
quốc gia, mọi dân tộc. Thế giới hiện nay đang phải đối diện với nhiều nguy cơ trên con đường
phát triển: Môi trường sinh thái cả về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
đang bị suy thoái; sự tăng trưởng kinh tế không tương thích với sự phát triển xã
hội. Trong những nguy cơ đó, nổi lên ngày càng rõ rệt là sự bất bình đẳng giữa
các khu vực, các quốc gia, các dân tộc. Sự nghèo khó, đói kém, lạc hậu sống
chen vai bên cạnh sự giàu sang, xa hoa lãng phí; vấn đề môi trường tự nhiên bị
phá huỷ, ô nhiễm; vấn đề mâu thuẫn, thù hằn dân tộc, tôn giáo đang là những
con đường đi đến “tự huỷ diệt” loài người nhanh chóng nhất.
Ở nước ta, một quốc gia đa dân tộc, nhất là ở vùng núi Tây Bắc có 23 dân
tộc sinh sống, với số dân là người dân tộc thiểu số chiếm gần 80%. Trong sự vận
động và phát triển đất nước, vấn đề dân tộc miền núi luôn được sự quan tâm, đầu
tư, xây dựng và phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội. Những
năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực bằng nhiều chính sách hỗ trợ, thúc đẩy
phát triển và phát huy sức mạnh của các dân tộc miền núi nói chung và vùng núi
Tây Bắc nói riêng: Nghị quyết số 22 – NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị
về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Quyết
định 72 – HĐBT ngày 03/3/1990 cụ thể hoá Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị; các
nghị định của Chính phủ, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, của các bộ,
ngành, địa phương đã giúp cho vùng Tây Bắc có nhiều khởi sắc mới về mọi mặt.
Tuy nhiên, Tây Bắc hiện đang phải đối mặt với những khó khăn, trở ngại
trong quá trình CNH, HĐH. Đó là một loạt các vấn đề đang đặt ra như: trình độ
dân trí thấp, kỹ thuật canh tác nông, lâm nghiệp còn lạc hậu, tình trạng du canh
du cư, đốt phá rừng làm nương, độc canh và quảng canh vẫn phổ biến ở các xã
vùng cao, vùng sâu. Cán bộ thiếu về số lượng, bất cập về cơ cấu, thấp về trình
độ, nhất là cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lí kinh tế, giáo viên các
trường phổ thông các cấp từ tiểu học đến trung học và cao đẳng, đại học. Đội
ngũ cán bộ có trình độ đại học là con em các dân tộc thiểu số còn quá ít, trong
khi đó đội ngũ cán bộ miền xuôi lên công tác ở vùng Tây Bắc chưa yên tâm gắn bó
lâu dài. Những chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội dành cho Tây Bắc tuy
đã đạt được những kết quả bước đầu, nhưng chưa bền vững, chưa ổn định và còn
cách xa so với mục tiêu đề ra. Đầu tư của Nhà nước cho vùng Tây Bắc chưa tương
xứng cả về vốn ngân sách và đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, công nhân lành
nghề. Tóm lại, một trong những khó khăn, yếu kém làm ảnh hưởng không nhỏ tới
sự nghiệp CNH, HĐH ở vùng Tây Bắc đó chính là nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực trẻ còn kém phát triển cả về thể lực, trí lực, tâm lực và đang gặp
nhiều trở ngại, khó khăn trên con đường phát triển hoàn thiện.
Thực tế, để phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trẻ
nói riêng cho vùng Tây Bắc, về trước mắt và lâu dài khu vực này khó có thể tự
đáp ứng được yêu cầu phát triển chung với nguồn nhân lực của cả nước. Vì vậy,
vấn đề cấp thiết đặt ra cho các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học và các nhà hoạch
định chính sách cần nghiên cứu, tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước tăng
cường ban hành các chính sách về phát triển nguồn nhân lực, nhất là phát triển
nguồn nhân lực trẻ một cách có hiệu quả hơn đem lại lợi ích cao nhất cho vùng
Tây Bắc và cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước.
Nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc là một bộ phận quan trọng của nguồn
nhân lực trẻ quốc gia, chiếm 63% dân số và chiếm 78% lực lượng lao động Tây
Bắc [64, Tr.28]. Tuy nhiên, do những hoàn cảnh đặc thù về địa lí, kinh tế - xã
hội và lịch sử nhất định, nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc có những đặc trưng
riêng, đòi hỏi có sự quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng, giáo dục đặc biệt.
Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở cấp độ quốc gia, chúng ta
cần phải quan tâm đến hai nhóm đối tượng đặc thù: Nhóm đối tượng những
nhân khẩu trẻ tuổi với tính chất là nguồn lực để hướng tới tương lai, và nhóm
những nhân khẩu ở khu vực dân tộc thiểu số, miền núi, với tính chất là nhóm
người còn chưa có điều kiện phát triển ngang bằng với những nhóm khác trong
xã hội hay nhóm nhân lực yếu thế. Trên thực tế, cả hai nhóm này cộng lại, đều
hiện diện trong một nhóm đặc thù: nhóm nguồn nhân lực trẻ vùng Tây Bắc Việt
Nam. Vừa mang những nét đặc thù của tuổi trẻ, vừa mang dấu ấn riêng biệt của
người dân tộc thiểu số, nhóm nhân lực trẻ vùng Tây Bắc chính là đối tượng cần
được quan tâm hàng đầu của chiến lược phát triển nguồn nhân lực của đất nước
nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng.
Trên góc độ khoa học, vấn đề nhân lực phải được giải quyết đồng bộ gắn
với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Mặt khác, phát trển nhân lực là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu và là nhân tố bảo đảm cho sự thành công sự nghiệp đổi mới
đất nước. Trong các mối quan hệ mật thiết của nguồn nhân lực vùng Tây Bắc
trong đó nguồn nhân lực trẻ là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng Tây
Bắc mới theo qui hoạch là căn bản; phát triển toàn diện về mọi mặt vùng Tây
Bắc là then chốt. Do vậy suy cho cùng muốn thực hiện thành công sự nghiệp
CNH, HĐH vùng Tây Bắc thì trước tiên và đồng thời phải phát triển nguồn nhân
Xem thêm

226 Đọc thêm

SKKN MỘT VÀI KINH NGHIỆM CUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 56 TUỔI

SKKN MỘT VÀI KINH NGHIỆM CUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 56 TUỔI

MỘT VÀI KINH NGHIỆMCUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 56 TUỔII. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài:Việt Nam là một quốc gia gồm 54 dân tộc cùng chung sống. Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng. Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp trong cộng đồng người Việt mà còn được dùng làm phương tiện giao tiếp giữa người Việt với người thuộc các dân tộc khác và cả giữa người các dân tộc khác với nhau. Từ sau năm 1945, tiếng Việt không chỉ là tiếng nói phổ thông của các dân tộc mà đã trở thành ngôn ngữ quốc gia chính thức và được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong giáo dục, tiếng Việt là công cụ dạy học ở tất cả các cấp học từ Giáo dục Mầm non đến đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ…ở tất cả các vùng miền và đối với tất cả các dân tộc.Một trong những thành tựu lớn lao nhất của Giáo dục Mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng Việt trong đời sống hằng ngày. Tiếng Việt là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi dưỡng tâm hồn… Trẻ em “Tốt nghiệp” xong trường Mẫu giáo là đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của cha ông để lại đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hóa đó trong tương lai. Cho nên việc phát triển tiếng Việt cho trẻ em lứa tuổi Mẫu giáo là một nhiệm vụ cực kì quan trọng, mà ở tuổi Mẫu giáo lớn nhiệm vụ đó phải được hoàn thành. Đặc biệt đối với trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số thì nhiệm vụ này là hết sức cần thiết. Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô. Chính vì vậy việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếng Việt ở các bậc học cao hơn.Bản thân là một giáo viên, được phân công chủ nhiệm lớp Lá 3 buôn Ea Kruế đa phần học sinh là người đồng bào dân tộc, tôi thấy rằng kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế, trẻ thường phát âm không chuẩn và vốn từ, câu văn khi trẻ nói còn chưa đúng ngữ pháp… Tôi đã rất băn khoăn, luôn tìm tòi những biện pháp để phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ, khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt để học và giao tiếp với cô và bạn bè để giúp trẻ hoàn thiện tiếng Việt trước khi bước vào lớp Một. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số”2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp và các hình thức tổ chức cung cấp tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mầm non tại trường Mầm non Hoa Sen nhằm tạo điều kiện giúp trẻ nghe và hiểu được lời hướng dẫn các hoạt động của giáo viên, thông qua việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Tổ chức các hoạt động trong lớp đạt kết quả như: trò chuyện với trẻ bằng tiếng Việt và thể hiện các hành động tương ứng với lời nói giúp trẻ dần thích ứng với ngôn ngữ thứ hai. Đưa ra một số kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ dân tộc thiểu số ở trường Mầm non Hoa Sen nói riêng. Cần nắm được tâm lý và nguyện vọng của trẻ để từ đó xây dựng các phương pháp, hình thức, biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số ngay ở độ tuổi mầm non.3. Đối tượng nghiên cứuMột số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ DTTS 56 tuổi 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứuNghiên cứu trong khuôn khổ: Một số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi trường Mầm non Hoa Sen. Đối tượng khảo sát: Trẻ 56 tuổi Lớp Lá 3 – Buôn Ea Kruế trường Mầm non Hoa Sen.5. Phương pháp nghiên cứuSáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp quan sát Phương pháp phỏng vấn trò chuyện Phương pháp điều traII. PHẦN NỘI DUNG1. Cơ sở lý luận:Trong cuộc sống xã hội con người luôn luôn phải giao tiếp với nhau, có nhiều cách để giao tiếp song cách giao tiếp chủ yếu là sử dụng ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ con người có thể trò chuyện, trao đổi tin tức, bày tỏ tư tưởng tình cảm, học tập tri thức khoa học .... Đối với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ chính, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số việc giúp các cháu sử dụng thành thạo tiếng Việt là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ. Trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác. Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo dục vì vậy, cho đến nay việc dạy và học tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp. Đặc biệt ở lớp chúng tôi đa số các cháu là người dân tộc Êđê việc nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở trường, lớp học sinh chỉ dùng tiếng Việt nói với giáo viên khi cần thiết còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, dẫn đến tình trạng cô và trò không hiểu nhau, chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy việc cung cấp tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít tiếng Việt có thể học tập và sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức một cách đơn giản hơn.2. Thực trạngXuất phát từ thực tế, bản thân tôi nhận thấy đa số trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số ít được tiếp xúc, giao tiếp với mọi người để trao dồi vốn tiếng Việt cho mình2.1. Thuận lợi và khó khăn+ Thuận lợi:Lớp luôn được sự quan tâm của Nhà trường, hội cha mẹ học sinh về tinh thần cũng như vật chấtLớp có 2 cô trẻ khỏe, năng động, đoàn kết, thống nhất, vươn lên, vất vả đến đâu cũng bám lớp, bám trường thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên nhân dân, có trình độ chuyên môn vững vàng, yêu nghề mến trẻ.Tình hình an ninh chính trị tương đối ổn định.+ Khó khăn:Phần đông học sinh là con em đồng bào dân tộc Êđê nên việc giao tiếp, truyền thụ kiến thức giữa cô và trẻ bằng tiếng Việt còn nhiều khó khăn.Phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm và tạo điều kiện cho việc học tập của chính con em mình học tập.Trình độ dân trí thấp làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xã hội hóa giáo dục và phối kết hợp trong quá trình chăm sóc giáo dục và rèn luyện cho trẻCơ sở vật chất còn thiếu, công trình vệ sinh chưa có, ít thiết bị đồ chơi ngoài trờiCác trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học vẫn còn thiếu2.2. Thành công và hạn chế+ Thành công:Giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bậc học mầm non.Trẻ đến trường chuyên cần hơn và hứng thú hơn trong các hoạt động.100% trẻ dân tộc thiểu số đã nghe hiểu được từ về gọi tên đặc điểm của các đồ vật, con vật và sự hiện tượng gần gũi quen thuộc, biết sử dụng các từ và câu đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày, biết thể hiện hành vi trong giao tiếp và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô và bạn.Trẻ biết thêm được một ngôn ngữ mới sẽ giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh, từ đó trẻ tham gia vào các hoạt động một cách hứng thú. Tạo cơ hội mở rộng được tầm nhìn và kiến thức cho trẻ bước vào bậc học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.+ Hạn chế:Đa số giáo viên là người kinh nên việc tiếp xúc với trẻ người đồng bào còn hạn chế do chưa thành thạo tiếng Ê đê.Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ, vì vậy trẻ dân tộc thiểu số không có vốn tiếng Việt ban đầu để học tập ở trường phổ thông nếu như không được chuẩn bị tốt tiếng Việt.Một số phụ huynh chưa hợp tác chặt chẽ với nhà trường.2.3. Mặt mạnh mặt yếu+ Mặt mạnh:Hầu hết giáo viên nhận thức rõ về việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng, bởi vì ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và là phương tiện giao tiếp của các thành viên trong xã hội.Giáo viên đã tạo cho trẻ môi trường làm quen với tiếng Việt một cách nhẹ nhàng mà chất lượng.Trẻ đi học thường xuyên có điều kiện giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi và tích hợp vào các môn học khác+ Mặt yếu:Một số giáo viên lớn tuổi tiếp cận và đổi mới phương pháp, chương trình dạy cho trẻ làm quen tiếng Việt còn hạn chế, chưa sáng tạo trong việc thực hiện chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ Mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số, trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình giáo dục Mầm non, tiếp nhận công nghệ thông tin còn chậm.Phần lớn phụ huynh còn quá bận rộn với công việc nên ít quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Nhận thức của một số phụ huynh về vấn đề giáo dục trẻ còn thấp.Tiếng dân tộc của giáo viên dân tộc Kinh còn hạn chế.Giáo viên dân tộc thiểu số ít sử dụng tiếng Việt do có thói quen nói tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp với trẻ2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Xem thêm

19 Đọc thêm

0 XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG TÂY NGUYÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

0 XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG TÂY NGUYÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG TÂY NGUYÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


ThS Vũ Thái Dũng


Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc là ngọn cờ tập hợp các lực lượng cách mạng, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó đã góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác vận động đồng bào các dân tộc miền núi trong quá trình đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặt ra là đoàn các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch, phản động chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.
Tây Nguyên là vùng đất có đặc điểm khác biệt về địa lý, kinh tế, văn hoá xã hội, với số lượng lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Nơi đây được coi là vùng trọng điểm về vấn đề dân tộc an ninh quốc phòng nên luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhất là công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc, cũng như việc quán triệt tư tưởng này vào việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên trong khối đoàn kết toàn dân có giá trị lý luận và thực tiễn mang tính cấp bách và lâu dài.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc
Điểm đặc sắc khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc chính là: Các dân tộc tuy khác nhau nhưng họ là anh em của nhau, đồng bào của nhau. Nghĩa là các dân tộc với các phong tục, tập quán, văn hoá… khác nhau, rất đa dạng nhưng các dân tộc không tách biệt nhau, đều có chung một gốc, một dòng máu, chung một tổ tiên Đồng bào. Do đó, tình cảm giữa các dân tộc là tình cảm anh em ruột thịt, tình cảm gia đình, không phân biệt người Kinh hay người Thượng, từ miền núi đến miền xuôi đều là anh em một nhà. Tư tưởng đặc sắc về dân tộc của Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong các bài nói, bài phân tích và trong hành động của Người. Người thường đặt chữ đồng bào trước tên riêng của mỗi dân tộc, mỗi nhóm dân tộc, mỗi cộng đồng có nhiều dân tộc cùng sinh sống.
Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku ngày 1941946, Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt” . Hay trong thư gửi các cháu học sinh miền núi nhân dịp khai giảng ngày 1931955, Người cùng căn dặn: “Các cháu thuộc nhiều dân tộc ở nhiều địa phương, nhưng các cháu đều là con em của đại gia đình chung: Là gia đình Việt Nam” .
Quan điểm đặc sắc về dân tộc là anh em ruột thịt, Hồ Chí Minh nêu lên nguyên tắc rất đặc sắc về vấn đề dân tộc ở Việt Nam: Sự bình đẳng, đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như người trong một gia đình. Đây là quan điểm nhân văn, nhân ái của Người, luôn xuất phát từ tình cảm chân thành và sâu sắc với đồng bào mình.
Tư tưởng đại đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống tốt đẹp trong mối quan hệ giữa các dân tộc trong trường kỳ lịch sử, được phản ánh trong các truyền thuyết, nó cũng xuất phát từ quan điểm lấy dân làm gốc “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu vẫn xong”, Người luôn coi các mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sự bình đẳng giữa các dân tộc là sự bình đẳng toàn diện về kinh tế, văn hoá chính trị xã hội trên tinh thần các dân tộc là chủ nhân của đất nước, bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm. Tinh thần đó được thể hiện ngay từ buổi đầu mới giành được độc lập và xuyên suốt trong tư tưởng của Người cũng như trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số nước nhà. Trước khi diễn ra Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam, tại Hà Nội cũng đã diễn ra Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc ngày 03121945. Tại hội nghị này trong diễn văn khai mạc, Người nêu rõ: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần phải đoàn kết hơn nữa” .
Người còn nhấn mạnh: “Anh em thiểu số chúng ta sẽ được:
1. Dân tộc bình đẳng. Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình (đẳng) trước sẽ sửa chữa đi.
2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt:
a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng;
b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc. Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình” ...
Có thể nói, trong suy nghĩ và tình cảm của mình, Người luôn coi các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đều là anh em một nhà, là thành viên không thể chia cắt của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Cũng trong lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày 3121945, Người đã chỉ rõ:
“Anh em thiểu số chúng ta sẽ được:
Các dân tộc sẽ được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình” .
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn toát lên tình thương yêu vô bờ bến đối với đồng bào các dân tộc trên đất nước ta. Người nhắc nhở, căn dặn cán bộ, quân, dân phải luôn thương yêu các dân tộc, luôn chăm lo đến lợi ích của đồng bào. Người nhắc nhở các dân tộc đa số và thiểu số “phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hành phúc chung của chúng ta và con cháu chung ta”, “là anh em ruột thịt, chúng ta sống chế có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau” .
2. Những nguyên tắc và phương pháp xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tây Nguyên là khu vực địa lý dân tộc rộng lớn, đóng vai trò trong yếu trong tiến trình phát triển của đất nước ta. Từ lâu Tây Nguyên là địa bàn sinh tụ của những dân tộc thiểu số thuộc hai ngữ hệ: Nam Á (Nhóm Môn Khơme bao gồm các dân tộc như: Ba Na, Xê Đăng, Cơ Ho, Mơ Nông, Gié Triêng, Mạ, H Rê, BRâu, Rơ Măm) và Nam Đảo (Nhóm MalayoPolynesia bao gồm: Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Ra Glai).
Việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên là một trong những công tác quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Vận động đồng bào các dân tộc vùng Tây Nguyên phải gắn với những nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
2.1. Những nguyên tắc đoàn kết các dân tộc vùng Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nguyên tắc thứ nhất: Xây dựng khối đoàn kết các dân tộc là bảo đảm tốt hơn những lợi ích của Tổ quốc, tạo điều kiện phát triển và thực hiện quyền bình đẳng các dân tộc cho đồng bào các dân tộc vùng Tây Nguyên. Theo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh thì đại đoàn kết phải xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc và những quyền lợi của đồng bào các dân tộc. Khối đại đoàn kết sẽ làm tăng sức mạnh cho tấm lá chắn bảo vệ biên giới phía Tây của Tổ quốc, tạo đà phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện để các dân tộc Tây Nguyên được đóng gió sức lực và trí tuệ của mình vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Nguyên tắc thứ hai: Tin vào dân, dựa vào dân, vì dân, là một nguyên tắc cơ bản trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, cũng nguyên tác quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Nước lấy dân làm gốc”; “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Nguyên tắc này được Người khái quát ngắn gọn nhưng vô cùng sâu sắc: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” và “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” . Có thể nói mọi tư tưởng, mọi sáng tạo của Người đều xuất phát từ lòng thương yêu, kinh trọng, tin tưởng ở nhân dân.
Nguyên tắc thứ ba: Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết lâu dài, bền vững giữa các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh có phạm vi rộng lớn, nhưng không phải tập hợp lỏng lẻo, hỗn độn mà là một tập hợp có tổ chức. Lực lượng đại đoàn kết bao gồm tất cả các giai tầng xã hội, các ngành, các giới, các lứa tuổi, các dân tộc, các tôn giáo… hợp thành mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.
Nguyên tắc thứ tư: Đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn giữa các dân tộc vùng Tây Nguyên với nhau. Trong buổi nói chuyện với đoàn đại biểu các dân tộc ít người dự lễ kỷ niệm ngày 151959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Phải hoà thuận, đoàn kết giúp đỡ nhau tận tình, phải nghĩ đến lợi ích chung mà đừng nghĩ đến lợi ích riêng” . Người luôn coi các dân tộc dù là đa số hay thiểu số, dù là người Mán hay người Mường cũng đều là anh em một nhà, anh em ruột thịt. Sự khác biệt giữa các dân tộc chủ yếu là phân biệt bởi yếu tố tinh thân như phong tục, tập quán, tâm lý, lòng tự tôn dân tộc, ngôn ngữ…
2.2. Những phương pháp đoàn kết các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng: Tuyên truyền giáo dục là để quần chúng thấm nhuần lý luận cách mạng, khi đã thấm nhuần lý luận cách mạng, phải tiến hành vận động, lôi kéo quần chúng, hiệu triệu họ đứng lên làm cách mạng, có như vậy mới chuyển hoá được sức mạnh tiềm tàng của quần chúng thành lực lượng của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu mực trong việc vận động đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc. Để tuyên truyền, vận động quần chúng có hiệu quả, Người yêu cầu phải tuyên truyền cụ thể, thiết thực. Các vấn đề phải rành mạch, ý tứ rõ ràng, không dây cà ra dây muống, đặc biệt là viết cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong bài nói tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi, Người chỉ ra một phương pháp tuyên truyền giáo dục rất đặc sắc, phù hợp với trình độ nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân, Người viết: “Mỗi lớp huấn luyện như thế, học một việc cụ thể, thiết thực. Một là gì, hai là gì, rồi ba bốn năm là gì. Làm như thế nào. Học mười ngày rồi về đi làm. Họ làm rất tốt. Họ làm khoảng 6 tháng, hết tủ, họ lại về học lần nữa” .
Phương pháp tổ chức: Với tư cách là hạt nhân lãnh đạo, là linh hồn khối đại đoàn kết, Đảng Cộng sản phải được xây dựng trong sạch, vững mạnh. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, có một bộ phận hết sức quan trọng, đó là xây dựng Đảng. Trong tư tưởng về xây dựng Đảng của Người có rất nhiều nội dung phong phú, nhìn từ góc độ chiến lược đại đoàn kết, có thể khái quát những luận điểm của Người về xây dựng một Đảng Cộng sản trí tuệ, cách mạng, thống nhất. Chỉ có một Đảng như thế mới đủ sức tập hợp và lãnh đạo dân tộc, mới có thể có được một khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc. Bên cạnh tổ chức Đảng lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đến việc tập hợp đoàn kết dân tộc trong các đoàn thể quần chúng, đây là cơ sở để hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất, là tổ chức quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân.
Phương pháp kết hợp hiệu quả các giải pháp ứng xử nhằm xây dựng thành công khối đại đoàn kết toàn dân tộc vùng Tây Nguyên: Tây Nguyên là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong hành lang biên giới phía Tây của Tổ quốc, đây cũng là nơi tập trung đông đảo nhiều dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, kẻ địch luôn lợi dụng triệt để đồng bào nơi đây nhằm nô dịch, bóc lột nặng nề và tuyên truyền sai lệch về chủ trương, đường lối của Đảng ta, với những thế lực này, cần chủ động, kiên quyết tiến công tiêu diệt trên cơ sở phân hoá chúng. Đối với đồng bào các dân tộc vùng Tây Nguyên, trong quá trình xây dựng khối đoàn kết các dân tộc, phần lớn các dân tộc Tây Nguyên đã gắn bó với Đảng, với cách mạng. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi sự lôi kéo, phá hoại khối đại đoàn kết của các thế lực thù địch với nhiều chiêu bài khác nhau, gây kích động các phần tử quá khích hoặc mê muội đồng bào do hiểu biết còn hạn chế. Chúng ta cần mềm mỏng, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục đồng bào yên ổn làm ăn, tạo điều kiện hơn nữa giúp đồng bào ổn định đời sống vật chất và tinh thần, hướng theo Đảng và Bác Hồ.

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, gọi chung là dân tộc Việt Nam, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, còn lại là các dân tộc thiểu số. Phần lớn các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đây là những địa bàn có vị trí chiến lược về an ninh, kinh tế, quốc phòng. Chính vì vậy, việc đoàn kết các dân tộc thiểu số trong cộng đồng thống nhất các dân tộc Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng, nhằm phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thấm nhuần tinh thần, tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt chiều dài lịch sử đất nước, các đồng bào các dân tộc thiểu số miền Nam, trong đó có các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cùng với đồng bào các dân tộc cả nước nguyện một lòng son sắt đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; quyết tâm thực hiện lời dạy của Người: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công; không ngừng nâng cao cảnh giác, kiên quyết đập tan mọi âm mưu phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc; chung sức, chung lòng xây dựng quê hương, đất nước phát triển toàn diện, bền vững trong xu thế hội nhập và phát triển..
Xem thêm

11 Đọc thêm

Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Việt Nam

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phát triển nguồn lực nữ đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học cũng như các nhà quản lý trên thế giới. Tiến trình phát triển của lịch
sử nhân loại đã chứng minh vai trò quan trọng của phụ nữ trong quá trình sản
xuất vật chất, tinh thần cũng như tái sản xuất con người. Tuy nhiên, việc đánh
giá đúng vai trò, vị thế và tiềm năng của phụ nữ ở mỗi quốc gia ở từng giai
đoạn lịch sử lại có những sự khác biệt. Hàng ngàn năm nay, ở nhiều nơi trên
thế giới, so với nam giới, phụ nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi về vai trò , vị
thế cả trong gia đình và ngoài xã hội.
Những năm vừa qua trên quy mô toàn cầu, loài người đã đạt được nhiều
thành quả đáng khích lệ về phát triển phụ nữ. Trên bình diện xã hội, phụ nữ
ngày càng được thu hút vào các hoạt động của xã hội, trong phạm vi gia đình,
người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới. Tuy
nhiên, sự phân biệt đối xử, tư tưởng trọng nam khinh nữ, áp lực công việc gia
đình, những định kiến có tính bất công đối với phụ nữ vẫn đang tồn tại ở những
mức độ khác nhau trong các vùng miền của quốc gia. Đặc biệt đối với các vùng
chưa phát triển thì khoảng cách phát triển giữa phụ nữ và nam giới đang còn
khá lớn. Chính vấn đề này đã làm ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững, hạn
chế khả năng đóng góp của phụ nữ vào quá trình tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội nói chung.
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước và ngày càng thể
hiện vị trí và vai trò của mì nh trong phát triển kinh tế xã hội. Nhận thức
được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát triển nguồn lực nữ, Đảng và
Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách nhằm đảm bảo phát triển
nguồn nhân lực nữ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Thực tế cho thấy, phụ nữ ngày càng được quan tâm nhiều hơn
trong mọi lĩnh vực của đời sống. Ngoài xã hội, phụ nữ từng bước khẳng định
được vị thế của mình. Tỷ lệ Đại biểu Quốc hội là nữ khoá XI chiếm tới 27,3%
và có rất nhiều phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành; tỷ
lệ nữ trí thức tăng đều qua các năm; tỷ lệ trẻ em gái bỏ học giảm xuống qua
các năm. Bình đẳng giới trong gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc sức
khoẻ, giáo dục được cải thiện đáng kể. Những tư tưởng định kiến về phụ nữ
đang từng bước được khắc phục. Tuy nhiên bất bình đẳng trong gia đình ở
mỗi vùng miền, mỗi nhóm xã hội diễn ra khá khác nhau. Đặc biệt đối với
những vùng điều kiện kinh tế khó khăn như vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu,
vùng xa do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn; các dịch vụ xã hội chưa
phát triển thì địa vị của người phụ nữ chưa được cải thiện thậm chí ở một số
nơi có nguy cơ suy giảm.
Miền núi phía Bắc là vùng còn nghèo so với cả nước, đây là địa bàn
sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, với 50,79% dân số là phụ nữ [45]. Lực
lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế- xã
hội của toàn vùng. Tuy nhiên, sự đóng góp của nhân lực nữ lại chưa tương
xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế. Một trong những nguyên
nhân hạn chế sự tăng trưởng kinh tế khu vực này là chưa khai thác hết tiềm
năng nguồn nhân lực nữ, chưa thực hiện công bằng cả về giới lẫn thu nhập
trong xã hội. Trong bối cảnh đó, việc đánh gía thực trạng phát triển nguồn
nhân lực nữ miền núi phía Bắc chỉ ra những nguyên nhân tác động, đưa ra
phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này, tạo điều kiện
và cơ hội cho họ góp phần tích cực vào sự phát triển chung của vùng và đất
nước là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “ Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Việt Nam” được lựa chọn làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế
phát triển.
2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Thực tiễn cho thấy, vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, phát
triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực nữ luôn thu hút
sự quan tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế học cũng như các nhà quản lý và
hoạch định chính sách. Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu sắc về phát triển
nguồn nhân lực nữ trong tăng trưởng kinh tế nói chung, gắn với công bằng xã
hội nói riêng, đặc biệt ở khu vực miền núi phía Bắc còn thiếu vắng.
1. “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của PGS.TS Trần Thọ Đạt chủ
biên (2005), đề cập tới các mô hình khác nhau tác động tới tăng trưởng kinh
tế các quốc gia và quyết định phúc lợi kinh tế người dân, từ mô hình Cổ điển
với việc đề cao vai trò của vốn tới mô hình tăng trưởng nội sinh mà người đi
đầu là Arrow với khái niệm “Learning by doing” – Học thông qua làm hay
kinh nghiệm trong sản xuất , Romer với mô hình R&D… đã đưa ra kết luận
rằng chính hiệu ứng lan tỏa công nghệ sẽ đảm bảo một quá trình tăng trưởng
tự thân trong nền kinh tế. Kế tiếp Lucas, Mankiw, Romer và Weil …đã đưa
vốn con người trở thành một đầu vào trong sản xuất, một yếu tố quan trọng
quyết định tăng trưởng kinh tế. Nó cũng cho rằng chính phủ có vai trò quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng bởi vì lợi tức xã hội từ việc chi tiêu vào giáo dục
đào tạo và R&D có thể lớn hơn lợi tức tư nhân, nên chính phủ cần can thiệp
để thúc đẩy hoạt động này. Tuy nhiên đề tài này quan tâm tới các nguồn lực,
nguồn vốn con người nói chung chứ chưa đề cập đến vai trò nguồn nhân lực
nữ đến tăng trưởng kinh tế, nhất là nguồn nhân lực nữ Việt Nam nói chung và
Miền núi phía Bắc nói riêng.
2. “Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” của tác
giả Cù Chí Lợi chủ biên (2009). Trình bày các nguồn lực tăng trưởng (bao
Xem thêm

210 Đọc thêm

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN CHƯ PƯH 2011 2012

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN CHƯ PƯH 2011 2012

MỞ ĐẦU

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI LẬP QUY HOẠCH
Huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai được thành lập theo Nghị quyết số 432009NQCP, ngày 2782009 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách huyện Chư Sê. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 71.795 ha, dân số năm 2011 có 64.953 người; huyện có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Ia Le, Ia Blứ, Ia Phang, Chư Don, Ia Hla, Ia Hrú, Ia Dreng, Ia Rong và thị trấn Nhơn Hòa. Huyện có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm cao (53%), đời sống dân cư còn khó khăn, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội còn thấp kém.
Để xác định đúng tiềm năng, lợi thế, đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái thì việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tếxã hội của huyện đến năm 2020 là rất cần thiết để làm cơ sở cho các ngành, các xã trên địa bàn huyện có kế hoạch triển khai thực hiện hàng năm các chương trình, dự án để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tếxã hội và xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tếxã hội của huyện là bản luận chứng khoa học về phát triển và tổ chức không gian hợp lý. Đây là căn cứ để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tếxã hội hàng năm và chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch đạt kết quả tốt. Bên cạnh đó, quy hoạch còn có chức năng cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước để tìm hiểu nhu cầu đầu tư và xúc tiến đầu tư vào những ngành và lĩnh vực mà huyện có lợi thế.
Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư được xác định trong quy hoạch, làm căn cứ để các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư và triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo đúng quy hoạch. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và nguồn lực của các thành phần kinh tế và dân cư cho đầu tư phát triển. Phát huy dân chủ cơ sở và nâng cao năng lực cộng đồng trong việc phát triển kinh tếxã hội.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020 có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạo, các cơ quan, các ban ngành của tỉnh cũng như của huyện xây dựng chương trình hành động và triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Đặc biệt là cụ thể hóa được Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH của tỉnh Gia Lai đến năm 2020. Trong khi đó Chư Pưh là một huyện mới được thành lập, các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội dài hạn chưa được xây dựng; do vậy xét về nhiều mặt việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện đến năm 2020 là yêu cầu cấp thiết và khách quan.
Xuất phát từ những yêu cầu và đặc điểm cơ bản trên, UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn số 1090UBNDTH ngày 2942010 về việc cho chủ trương xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện Chư Pưh đến năm 2020.
II. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Căn cứ pháp lý
Nghị định số 922006NĐCP ngày 07092006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội;
Nghị định 042008NĐCP ngày11012008 của Chính phủ về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 922006NĐCP ngày 0792006 về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội”;
Nghị quyết 26TW về nông nghiệp ngày 582008 của Ban Chấp hành Trung ương Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Nghị quyết số 10NQTW của Bộ chính trị về phát triển kinh tế xã hội gắn với củng cố an ninh quốc phòng vùng Tây nguyên;
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XIV;
Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Chư Pưh lần thứ VIII, nhiệm kỳ 20112015;
Quyết định số 252008QĐTTg của Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội đối với các tỉnh vùng Tây nguyên đến 2010;
Quyết định số 800QĐTTg ngày 0462010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 2020;
Quyết định số 22QĐTTg ngày 05012010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Phát triển văn hoá nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Quyết định số 23QĐTTg ngày 06012010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 2015 và định hướng đến năm 2020.
Quyết định số 219QĐTTg ngày 1632012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2020.
Quyết định số 704QĐUBND, ngày 18102010 của UBND tỉnh Gia Lai về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Chư Pưh đến năm 2020;
Thông tư số 032008TTBKH ngày 0172008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 042008NĐCP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 922006NĐCP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội;
Chỉ thị số 2178CTTTg ngày 02122010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quy hoạch.
2. Tài liệu tham khảo
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước thời kỳ 20012010 và kết quả nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước thời kỳ 20112020;
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Gia Lai đến năm 2015 và định hướng đến 2020;
Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011 2015 có xét đến năm 2020;
Quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông vận tải Gia Lai, đến năm 2020;
Quy hoạch hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Gia Lai thời kỳ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
Rà soát bổ sung quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
Quy hoạch phát triển mạng lưới xăng dầu tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
Quy hoạch phát triển ngành thương mại tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
Quy hoạch đất lâm nghiệp tỉnh Gia Lai;
Quy hoạch phát triển rừng sản xuất tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2011 2020;
Quy hoạch phát triển ngành trồng trọt gắn với chế biến tỉnh Gia Lai;
Quy hoạch cấp nước sạch nông thôn tỉnh Gia lai đến năm 2020;
Quy hoạch phát triển cau su đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai;
Quy hoạch phát triển thủy lợi tỉnh Gia Lai đến năm 2020;
Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 tỉnh Gia Lai;
Đề án phát triển văn hóa nông thôn tỉnh Gia Lai;
Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai 2005 2010;
Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Gia Lai;
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Chư Pưh, nhiệm kỳ 2011 2015;
Các tài liệu quy hoạch, dự án đầu tư trên địa bàn huyện đến 2015 và 2020;
Niên giám thống kê huyện Chư Pưh năm 2010 và 2011;
Các Nghị quyết, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Chư Pưh đến năm 2015.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Chư Pưh được xây dựng với các nội dung chủ yếu sau:
1. Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của huyện trong tỉnh, các huyện ở các tỉnh lân cận: Phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố, điều kiện phát triển của huyện trong tổng thể tỉnh và vùng. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ huyện; đánh giá tiềm năng đóng góp vào ngân sách của huyện.
2. Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và vùng.
Xác định vị trí, vai trò của huyện đối với nền kinh tế của tỉnh và vùng, từ đó luận chứng mục tiêu, quan điểm phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tác động của quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành đối với huyện trong thời kỳ quy hoạch. Luận chứng mục tiêu phát triển.
3. Xác định nhiệm vụ để đạt mục tiêu đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.
4. Luận chứng phương án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ huyện.
5. Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài các hoạt động kinh tế, xã hội của huyện và gắn với huyện khác trong tỉnh.
6. Định hướng quy hoạch sử dụng đất.
7. Luận chứng danh mục dự án đầu tư ưu tiên.
8. Luận chứng bảo vệ môi trường; xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trường và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này.
9. Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bước thực hiện quy hoạch; đề xuất phương án tổ chức thực hiện quy hoạch.
10. Thể hiện phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện trên bản đồ quy hoạch tỷ lệ 125.000 đối với các khu vực kinh tế trọng điểm.
Xem thêm

96 Đọc thêm

Quản lý kinh tế của chính quyền huyện Sin Hồ, tỉnh Lai Châu

QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN SIN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Sau gần 30 năm đổi mới, công tác quản lý Nhà nước về kinh tế ở mỗi ngành, mỗi tỉnh, mỗi huyện có vai quan trọng, đóng góp chung vào sự nghiệp phát triển kinh tếxã hội của đất nước. Trong điều kiện kinh tế hội nhập và phát triển, việc nâng cao vị trí, vai trò, năng lực điều hành và quản lý nhà nước về kinh tế là yêu cầu khách quan, tất yếu; thể hiện ở việc quản lý kinh tế của chính quyền các cấp thông qua việc hoạch định chính sách, điều hành, kiểm tra giám sát. Vì vậy, việc nâng cao vai trò, hiệu lực của chính quyền các cấp trong quản lý và điều tiết nền kinh tế, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết.
Đối với Huyện Sìn Hồ là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.526,96 km2, với 25km đường biên giới tiếp giáp với huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Toàn huyện có 21 xã và 01 thị trấn; 233 bản, khu phố; với 13.971 hộ, 77.329 khẩu bao gồm 15 dân tộc sinh sống; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 90% tổng dân số. Là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tếxã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh Lai Châu, song lại là huyện có tiềm năng, lợi thế về diện tích đất tự nhiên rộng, có khả năng để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, trồng cây cao su đại điền, trồng và sản xuất dược liệu, nuôi trồng và khai thác thủy sản vùng ngập lòng hồ các dự án thủy điện ( thủy điện Sơn La, thủy điện Nậm Na 2, thủy điện Nậm Na 3), du lịch sinh thái.
Mục tiêu quản lý kinh tế của chính quyền huyện Sìn Hồ nhằm xây dựng huyện Sìn Hồ ổn định và phát triển toàn diện vừa là yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong huyện, vừa là nhiệm vụ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cả tỉnh.
Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, của tỉnh, chính quyền huyện Sìn Hồ đã đoàn kết, nỗ lực vượt khó, phấn đấu đạt được nhiều kết quả quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế xã hội. Kinh tế duy trì, ổn định và tăng trưởng đạt mức 1415%năm; hạ tầng kinh tế xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng từng bước đáp ứng được cho phát triển kinh tế và phục vụ đời sống của nhân dân, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 56% năm; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên.
Tuy vậy, Sìn Hồ vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Lai Châu, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện; việc quản lý và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu cân đối giữa các vùng; nhiều công trình xây dựng chậm tiến độ; công tác quản lý khai thác sau đầu tư yếu. Công tác quản lý kinh tế của chính quyền huyện còn nhiều bất cập; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về kinh tế còn hạn chế về trình độ chuyên môn và năng lực công tác; việc thực thi các chính sách để quản lý và điều hành lĩnh vực kinh tế còn hạn chế chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện và theo vùng kinh tế trọng điểm còn chậm, chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa sát với mục tiêu và định hướng phát triển; việc nhân rộng mô hình sản xuất hiệu quả còn hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa bền vững; đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở một số cơ sở còn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp, việc lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để tuyên truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyện thành lập “Nhà nước Mông”, kích động di cư tự do vẫn còn sảy ra, gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành của chính quyền huyện; chất lượng hoạt động của chính quyền các cấp tuy đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn còn cao ( thời điểm 31122013 hộ nghèo chiếm 39 %) huyện có 2022 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn; huyện là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước đang phải nhận hỗ trợ các chính sách đặc thù nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ.
Từ những yêu cầu phát triển và hạn chế nêu trên, những bài học kinh nghiệm trong thời gian qua, nghiên cứu vận dụng các quy luật kinh tế, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với chính quyền huyện Sìn Hồ cần phải đổi mới và cần có những chính sách, cơ chế, công cụ quản lý nhà nước về kinh tế phù hợp. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết đối với chính quyền huyện Sìn Hồ. Là một cán bộ đang trực tiếp tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền huyện trong việc thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tếxã hội của huyện, hơn ai hết bản thân tôi nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm quan trọng về quản lý kinh tế của chính quyền huyện Sìn Hồ. Từ thực tế trên, với những kiến thức đã được trang bị tại Học viện chính trị khu vực I và kinh nghiệm thực tế tại địa phương đang công tác, tôi nhận thấy cần phải tìm hiểu sâu hơn về công tác quản lý kinh tế của chính quyền huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu trong thời gian qua. Được sự chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của PGS, TS Trần Hùng tôi đã quyết định chọn đề tài “Quản lý kinh tế của chính quyền huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu” làm luận văn cao học.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Một số biện pháp quản lý chỉ đạo hoạt động dạy và học của Hiệu trưởng Trường THCS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS

Phần 1: Mở đầu
1. Lý do chọ đề tài:
Dạy học là hoạt động quan trọng có tính chất quyết định sự phát triển của nhà trường nói chung, của trường THCS nói riêng.
Hiện nay các trường THCS đã và đang trú trọng tới vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng toàn diện của học sinh, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng, tăng cường nề nếp kỷ cương nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước – đổi mới về yêu cầu con người trong giai đoạn hiện nay đó là việc hưởng ứng cuộc vận động “Hai không” kiên quyết ngăn chặn, khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong thi cử và tình trạng chạy theo thành tích.
Vì vậy, để đáp ứng được mục đích chung của giáo dục, để dạy học có chất lượng tốt không thể không đổi mới công tác quản lý trường học.
Quản lý chỉ đạo dạy học ở trường THCS chính là việc quản lý việc dạy của thầy, việc học của trò. Nếu người quản lý xác định được vai trò trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp của mình đối với sự nghiệp giáo dục, từ đó, luôn tìm tòi sáng tạo, lựa chọn các phương pháp phù hợp để quản lý quá trình dạy học thì sẽ đạt kết quả cao.
Quản lý như thế nào để thực hiện được các yêu cầu đặt ra, đó là một vấn đề đã làm cho nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà quản lý trường học quan tâm nghiên cứu nhưng chưa đưa ra một giải pháp quản lý nào có tính khuôn mẫu, chuẩn mực cho các cấp học, ngành học để cho các đơn vị trường THCS thực hiện. Các nhà quản lý chỉ dựa vào mục tiêu của từng cấp học để hoạch định kế hoạch.
Là người trực tiếp quản lý tại trường THCS ở vùng núi kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc khu vực vùng sâu xa của huyện Đà Bắc, đời sống nhân dân khó khăn, kinh tế còn nghèo, gần như 100% dân số làm nghề nông nghiệp với kĩ thuật và công nghệ còn lạc hậu, tiềm năng thiên nhiên không có, là xã thuộc địa bàn khó khăn trong huyện Đà Bắc, vì vậy bản thân tôi xác định:
Mặc dù, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước nền giáo dục cả nước nói chung và giáo dục xã Đồng Nghê nói riêng đã và đang từng bước thay đổi căn bản về chất nhưng so với yêu cầu chung của đất nước thì chất lượng dạy học ở cấp THCS, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang là mối băn khoăn, lo lắng nhiều cho các nhà giáo dục.
Chất lượng thấp và vẫn còn có nơi chưa được thực tế như vậy là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ phía người dạy và người học, mà người chịu trách nhiệm chính về chất lượng này trước xã hội lại là các Nhà quản lý trường học đặc biệt trách nhiệm có liên quan trực tiếp nhất đó chính là Hiệu trưởng các nhà trường.
Làm thế nào để tháo gỡ những vướng mắc trong các khâu quản lý và khắc phục các hạn chế, yếu kém trên là vấn đề đặt ra cho các đồng chí cán bộ quản lý cấp cơ sở nói chung và bản thân tôi nói riêng ?
Xuất phát từ những lý do trên và những vấn đề bức xúc của ngành đã và đang được xã hội quan tâm, được Đảng và Nhà nước giao cho quản lý trường PTDTBT THCS Đồng Nghê của huyện Đà Bắc, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Một số biện pháp quản lý chỉ đạo hoạt động dạy và học của Hiệu trưởng Trường THCS “.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Thực trạng nhiễm HIV-STI, một số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp dự phòng ở người dân tộc Dao tại 3 xã của tỉnh Yên Bái, 2006-2012

THỰC TRẠNG NHIỄM HIV-STI, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI 3 XÃ CỦA TỈNH YÊN BÁI, 2006-2012

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS đang là vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng trên toàn cầu.
Theo ước tính của Chương trình Phối hợp của Liên Hợp quốc về HIV/AIDS
(UNAIDS), tính đến cuối năm 2012, toàn thế giới có khoảng 35,3 triệu người nhiễm
HIV, trong đó 2,3 triệu người nhiễm mới, 1,6 triệu người chết vì AIDS. Mỗi ngày
trôi qua, có 14.000 trường hợp nhiễm (trong đó có 2.000 trẻ em) và 95% các trường
hợp nhiễm mới xảy ra ở các nước đang phát triển và gần 1% số người nhiễm HIV
còn sống nằm trong độ tuổi từ 15-49 [123].
Theo số liệu của Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, đến tháng 12/2013,
lũy tích các trường hợp nhiễm HIV còn sống được báo cáo trên toàn quốc là
197.335 người (48.720 trường hợp tiến triển thành AIDS còn sống và 52.325 người
đã chết vì AIDS). Trong năm 2013, cả nước đã phát hiện 14.125 trường hợp nhiễm
HIV mới, trong đó có 6.432 bệnh nhân AIDS và 2.413 trường hợp tử vong do AIDS
[21]. Dịch HIV ở Việt Nam hiện vẫn trong giai đoạn tập trung, với tỷ lệ hiện nhiễm
cao nhất được phát hiện trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao chính, đó là những
người nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD) và nam quan hệ tình
dục đồng giới (QHTDĐG). Nguy cơ lây nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu qua đường
tiêm chích ma túy và quan hệ tình dục. Người nhiễm HIV tập trung chủ yếu trong
nhóm đối tượng từ 15-49 tuổi, trong đó nhóm 20-39 tuổi chiếm đến 79%. Phần lớn
người nhiễm HIV là nam giới (trên 80%). Theo kết quả ước tính dự báo nhiễm
HIV/AIDS giai đoạn 2007-2012, tỷ suất nam nữ nhiễm HIV đã giảm từ 3 lần năm
2007 xuống còn 2,6 lần năm 2012 do việc lây nhiễm HIV từ nam giới sang vợ, bạn
tình của họ [20]. Cho đến nay dịch đã lan ra với quy mô toàn quốc và đã có mặt ở
63 tỉnh/thành phố, phân bố trên 97% quận/huyện và trên 70% xã/phường [21].
Không giống như trước năm 2000, dịch HIV chỉ tập trung chủ yếu ở các khu
vực thành thị và đô thị lớn, hiện nay đại dịch HIV có mặt gần như mọi vùng miền
đất nước kể cả những khu vực khó khăn, các thôn bản ở vùng núi cao, vùng sâu
vùng xa.Phần lớn các tỉnh có tỷ suất người nhiễm HIV cao tập trung ở các tỉnh miền
núi phía Bắc và các tỉnh biên giới Việt-Lào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống, nơi phần lớn người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy.
Đối với những tỉnh này số trường hợp nhiễm HIV phát hiện được hàng năm tăng
nhanh từ năm 2005 đến nay trong đối tượng nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm
và đang có dấu hiệu lây lan ra cộng đồng, đặc biệt vợ con người nghiện chích ma
túy và khách làng chơi của phụ nữ bán dâm [21].
Việt Nam hiện có 53 dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc đã được Đảng, nhà
nước xác định là “vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp
bách hiện nay của cách mạng Việt Nam” với chủ trương phát triển toàn diện về mọi
mặt trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi trong đó có vấn đề về sức khỏe và y tế.
Đồng bào dân tộc Dao có dân số đông thứ 8 trong nhóm các dân tộc thiểu số, có
phong tục, tập quán, văn hóa đặc trưng riêng và trong đó có những đặc điểm tiềm ẩn
nguy cơ về sức khỏe sinh sản và lây truyền các bệnh HIV/STI như phóng khoáng
trong quan hệ tình dục qua việc quan hệ tình dục sớm và có nhiều bạn tình, vấn đề
tảo hôn khá phổ biến... Sau một thời gian dài các hoạt động phòng chống
HIV/AIDS cũng như các nghiên cứu trong lĩnh vực này tập trung chủ yếu vào các
nhóm nguy cơ cao tại các địa bàn trọng điểm về HIV/AIDS, hiện nay các hoạt động
phòng lây nhiễm HIV/STI trong nhóm dân tộc thiểu số đã và đang được xác định là
một trong các ưu tiên hàng đầu trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt
Nam. Việc tìm hiểu thực trạng các vấn đề nhiễm HIV/STI, một vấn đề y tế công
cộng rất cần được quan tâm trong các nhóm dân tộc thiểu số sẽ giúp các nhà lãnh
đạo, quản lý, nhà chuyên môn trong việc định hướng, lập kế hoạch, hoạch định
chính sách trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và nhà nước với các nhóm
dân tộc thiểu số nói chung và nhóm dân tộc Dao nói riêng.
Với các lý do này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Thực trạng nhiễm
HIV/STI, một số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp dự phòng ở người dân tộc
Dao tại 3 xã của tỉnh Yên Bái, 2006-2012" . MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng nhiễm HIV/STI và các yếu tố liên quan ở người dân tộc
Dao 15-49 tuổi tại 3 xã của tỉnh Yên Bái năm 2006
2. Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng nhiễm HIV/STI ở người dân tộc Dao
15-49 tuổi tại 3 xã của tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2006-2012
Xem thêm

161 Đọc thêm

Hoạt động mưu sinh của người kháng ở xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la

HOẠT ĐỘNG MƯU SINH CỦA NGƯỜI KHÁNG Ở XÃ CHIỀNG BÔM, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Bản chất nền kinh tế truyền thống của phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta là nền kinh tế mang tính tự nhiên, tự cấp và tự túc. Khi bước vào thời kỳ Đổi mới, nền kinh tế này phải chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Cùng với sự chuyển đổi đó là tình trạng gia tăng dân số, thu hẹp diện tích rừng, sự suy giảm nhanh chóng chất lượng đất,… Từ đây, đang có rất nhiều vấn đề được đặt ra trong công cuộc cải thiện sinh kế, cần sự quan tâm, giải quyết kịp thời nhằm hướng tới sự ổn định và phát triển tộc người.
Không ít những chương trình, dự án phát triển đã và đang được thực hiện ở miền núi Việt Nam, tuy nhiên, nền kinh tế của các dân tộc thiểu số ở đây vẫn đang phát triển một cách hết sức khó khăn, thiếu sự hợp lý và bền vững. Với nhiều nguyên nhân, chúng ta đang chậm trễ trong việc tìm ra một chiến lược phát triển phù hợp, thích ứng và khả dụng đối với mỗi dân tộc, mỗi vùng miền.
Là một trong 21 dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ me ở nước ta, cho đến nay, với những lý do khách quan như dân số ít, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển về kinh tế xã hội,... nên dân tộc Kháng nhận được rất ít sự quan tâm nghiên cứu, trong đó, nghiên cứu về hoạt động mưu sinh lại càng hiếm thấy.
Trong bối cảnh đó, việc thực hiện đề tài “Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” sẽ không chỉ làm sáng tỏ những tri thức và kinh nghiệm để thích ứng với môi trường tự nhiên của người Kháng mà còn tìm ra những biến đổi và bất cập của nó với phát triển bền vững trong điều kiện mới. Trên cơ sở tương đồng về điều kiện tự nhiên cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội, hoạt động mưu sinh của người Kháng ở Chiềng Bôm mang những nét khá tiêu biểu cho một số dân tộc thiểu số và miền núi Tây Bắc. Vì vậy, từ kết quả nghiên cứu, luận án hi vọng sẽ cung cấp nguồn tư liệu hữu ích, làm cơ sở cho việc hoạch định những chương trình hỗ trợ cần thiết phục vụ công tác giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường sống,… nhằm hướng tới phát triển bền vững không chỉ với cộng đồng người Kháng mà còn ở các dân tộc thiểu số khác trên địa bàn Tây Bắc nước ta.
Do quá trình tộc người cũng như lịch sử phát triển kinh tế xã hội chung ở Tây Bắc, dân tộc Kháng cùng với một số cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ me đã và đang chịu sự ảnh hưởng của người Thái trên mọi phương diện. Sự đồng hoá trong lịch sử cộng với xu hướng giao lưu, tiếp xúc mạnh mẽ với các dân tộc khác trong giai đoạn hiện nay đã làm cho nền văn hoá bản địa của người Kháng rất khó nhận diện. Trong bối cảnh đó, luận án còn hi vọng sẽ góp phần tìm ra những yếu tố mang sắc thái văn hoá Kháng trong hoạt động mưu sinh còn tồn tại đến ngày nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nhằm đạt được một số mục tiêu nghiên cứu sau:
Cung cấp nguồn tư liệu mới, cụ thể và có hệ thống về hoạt động mưu sinh truyền thống của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Phân tích và lý giải sự biến đổi hoạt động mưu sinh của người Kháng ở Chiềng Bôm từ khi thực hiện §ổi mới đến nay.
Xác định những vấn đề đặt ra cho hoạt động mưu sinh của người Kháng hiện nay trong mối quan hệ với phát triển bền vững như tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ tài nguyên môi sinh,…
Xem thêm

185 Đọc thêm

Cùng chủ đề