CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ QUỐC TẾ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ QUỐC TẾ":

chế độ tiền tệ và những liên hệ đến việt nam

CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ VÀ NHỮNG LIÊN HỆ ĐẾN VIỆT NAM

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy. Theo luật pháp của Việt nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn.Vậy Tiền xuất hiện bao giờ, và nó đã trải qua quá trinh phát triển đến ngày nay như thế nào? Cũng để trả lời câu hỏi trên, nên em đã chọn đề tài Chế độ tiền và những liên hệ đến việt nam, làm đề tài phân tích của mình, trong quá trinh làm bài, do nhiều yếu tố khách quan cũng như kiến thức còn hạn hẹp, có gì sai sót mong cô góp í để em có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về những khái niệm về tiền tệ
Tìm hiểu về các chế độ của tiền tệ
Lịch sử tiền Việt Nam và Thế giới
Xem thêm

20 Đọc thêm

chế độ tiền tệ và những liên hệ đến việt nam

CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ VÀ NHỮNG LIÊN HỆ ĐẾN VIỆT NAM

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy. Theo luật pháp của Việt nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn.Vậy Tiền xuất hiện bao giờ, và nó đã trải qua quá trinh phát triển đến ngày nay như thế nào? Cũng để trả lời câu hỏi trên, nên em đã chọn đề tài Chế độ tiền và những liên hệ đến việt nam, làm đề tài phân tích của mình, trong quá trinh làm bài, do nhiều yếu tố khách quan cũng như kiến thức còn hạn hẹp, có gì sai sót mong cô góp í để em có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về những khái niệm về tiền tệ
Tìm hiểu về các chế độ của tiền tệ
Lịch sử tiền Việt Nam và Thế giới
Xem thêm

20 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC: TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC: TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

Kiến thức: trong thời lượng 15 tiết đầu tiên, môn học nhằm trang bị cho sinh viên các kiến thức nền tảng để hiểu được chế độ tiền tệ quốc tế hiện tại và sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế; hiểu được bản chất kinh tế và sự vận động của tỷ giá hối đoái, qua đó thấy được xu hướng biến động, tác động của tỷ giá sẽ có những ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và chuẩn bị biện pháp ứng phó. Với thời lượng 30 tiết tiếp theo, môn học tiếp tục trang bị cho sinh viên các kiến thức nền tảng đhiểu rõ bản chất của các điều kiện, thông lệ, phương tiện và các chứng từ cần thiết trong lĩnh vực thanh toán quốc tế; nắm rõ bản chất và chức năng của các phương thức cũng như phương tiện thanh toán được sử trong kinh doanh thương mại quốc tế
Xem thêm

6 Đọc thêm

THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

đối này cũng không được thực hiện tự do mà phải thực hiện với một số lượngđủ lớn. [8]142.2.3. Chế độ lưu thông tiền giấySau nhiều năm chế độ bản vị vàng được coi như là phương tiện để thanhtoán, cất trữ thì được thay thể bởi chế độ tiền giấy bởi người ta thấy rằng khilưu thông vàng gây khó khăn trong việc vận chuyển do nặng. Chế độ tiền giấyra đời, tiền giấy thực hiện chức năng của tiền tệ như dùng để trao đổi, thanhtoán, cất trữ, song tiền giấy gần như không có giá trị vì nó chỉ là loại tiềnmang dấu hiệu giá trị mà thôi. Tiền giấy được tất cả mọi người chấp nhận vìnó được sản xuất bởi nhà nước và được nhà nước bảo đảm giá trị và bắt buộctất cả phải sử dụng nó là đồng tiền chung. Nhưng để tồn tại và được thừa nhậnchung thì tiền giấy cũng phải có lòng tin của người dân đối với chính nó. Khilòng tin của người dân không còn với tiền giấy thì người dân lại trở lại nắmgiữ vàng hoặc các vật dụng tài sản có giá trị khác như bất động sản. Mặc dùtiền giấy được sử dụng để trao đổi thanh toán hàng ngày nhưng vàng vẫnđược sử dụng như một công cụ cất trữ có giá trị và tin cậy với hầu hết mọingười dân.Đặc điểm của chế độ tiền tệ ở xã hội phong kiến là việc đúc tiền thiếutrọng lượng, tuổi tiền thấp nên đến thời đại tích luỹ nguyên thuỷ của chủnghĩa tư bản ở các nước Tây Âu và châu Mỹ tiền giấy đã ra đời, xuất hiện đầutiên ở châu Mỹ cuối thế kỷ 17, sang cuối thể kỷ 18 đã lan rộng rãi ở Pháp.Tiền giấy là dấu hiệu của kim loại tiền tệ (vàng) được phát triển ra để thay thếcho tiền kim loại đã từng tồn tại trong trao đổi. “Tiền giấy là đại biểu cho tiềnkim loại tiền tệ, biểu hiện cho giá trị hàng hoá, và tiến giấy trở thành dấu hiệucủa giá trị. Như vậy, tiền giấy chỉ là dầu hiệu của giá trị chíng nó đại biểucho số lượng vàng, những số lượng vàng này cũng như tất cả những số lượng
Xem thêm

20 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TIỀN TỆ NGÂN HÀNG CHƯƠNG 1

BÀI GIẢNG TIỀN TỆ NGÂN HÀNG CHƯƠNG 1

Nội dung
1. Vai trò và chức năng của tiền tệ
2. Các hình thái của tiền tệ
3. Các chế độ tiền tệ
4. Hệ thống tiền tệ quốc tế

Tiền là gì?
Tại sao chúng ta cần tiền?
Khi nào một đồng tiền không được coi là tiền?
Tại sao chúng ta không thể tự in tiền để trả nợ cho
chính chúng ta?

Why do men exchange at all?

18 Đọc thêm

HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ (QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ)

HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ (QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ)

xuất và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động. Do vàng được chuchuyển tự do trên giữa các quốc gia với nhau nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thịtrường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng.- Các quốc gia đều thực hiện chế độ bản vị vàng trong chết độ tiền tệ của mình, cónghĩa là tiến có khẳ năng chuyển đổi thành vàng không hạn chế, do vậy các quốcgia đều phải dự trữ số vàng đủ mức để bảo đảm thanh toán, chuyển đổi khi có nhucầu. Dưới chế độ bản vị vàng, Ngân hành trung ương luôn phải duy trì ổn định mộtlượng vàng dự trữ trong mối quan hệ với số lượng phát hành.- Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền các quốc gia được xây dựng căn cứ vào tỷ lệ cốđịnh giữa bản vị vàng của các đồng tiền. Các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền vớivàng, hoặc hiểu là chĩnh phủ ấn định giá vàng bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵnsàng không hạn chế mua và bán vàng theo mức giá quốc gia đó ấn định. Tỷ giá hốiđoái giữa các đồng tiền của các quốc gia được xác định thông qua vàng. Ví dụ:đồng Bảng Anh được ấn định bằng vàng theo tỷ lệ 6 Bảng bằng 1 ounce, trong khiđó đồng Franc Pháp có giá 30 Franc bằng 1 ounce. Như vậy, tỷ giá hối đoái giữađồng bảng Anh và đồng Franc Pháp sẽ là 1 Bảng bằng 5 Franc.( )Hệ thống bản vị vàng là một hệ thống đơn giản, phù hợp với nhận thức và thực tiễnthanh toán và quan hệ kinh tế quốc tế lúc đó. Nó đã thực hiện được chức năng củamình, góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế quốc tế thời kì ấy.Thứ nhất, với hàng rào thương mại vàng hoàn toàn được gỡ bỏ và kiểm soát ngoạihối cùng chu chuyển vỗn ít được áp dụng cộng với việc không có một sự phá giahay nâng giá nào giữa các đồng tiền của các cường quốc trên thế giới đã đảm bảoổn định một nguồn dự trữ ngoại tệ, từ đó thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tếphát triển vượt bậc. Trong chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được đảmbảo chắc chắn trước những rủi ro về tỷ giá, luồng vốn chu chuyển tự do nhằm tìmkiếm nguồn lợi nhuận cao nhất, góp phần khuyến khích phân công lao động quốc tế,gia tăng phúc lợi lao động. Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán được vận hànhmột cách hiệu quả, những điểm bất cân đối trong cán cân thanh toán của quốc gia sẽ
Xem thêm

9 Đọc thêm

Chế độ phát hành tiền tệ Việt Nam

CHẾ ĐỘ PHÁT HÀNH TIỀN TỆ VIỆT NAM

Từ rất sớm trong lịch sử loài người đã xuất hiện nhu cầu phải có một hình thức tiền tệ làm trung gian trao đổi. Thổ dân ở các bờ biển châu Á, châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền tệ. Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines, trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền tệ… Dùng tiền tệ bằng hàng hoá như trên có những bất tiện nhất định trong quá trình phục vụ trao đổi, như dễ hư hỏng, không đồng nhất,… nên không được mọi người mọi nơi chấp nhận, do đó dẫn đến việc sử dụng tiền tệ bằng kim loại. Nhưng số lượng các kim lọai quý như vàng bạc không có nhiều so với nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng tăng của mọi người, từ đó đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của tiền giấy.

Tiền giấy được coi là loại tiền tệ tiên tiến nhất. Vậy tại sao tiền giấy lại ra đời và nó được phát hành dựa trên nguyên tắc nào? Tiểu luận này chính là nghiên cứu về cơ sở hình thành và nguyên tắc phát hành tiền giấy. Mục đích nghiên cứu chỉ ra lịch sử hình thành và chức năng của tiền tệ, từ đó, đưa ra quá trình hình thành tiền giấy, cùng với các nguyên tắc phát hành tiền giấy từ đó giải thích hiện tượng lạm phát.


I .Bản chất của phát hành tiền tệ .
1.Khái niệm của tiền tệ.
 Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin thì tiền tệ là hàng hoá đặc biệt, dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị và thể hiện lao động xã hội ; đồng thời tiền tệ biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá, do quá trình phát triển lâu dài của trao đổi hàng hoá tạo ra.
Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán để lấy hàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ. Hiện nay có hai loại tiền tệ chính, đó là tiền tệ có giá trị thực và tiền tệ quy ước. Tiền quy ước gồm có: Tín tệ, tiền pháp định và tiền của hệ thống ngân hàng. Trong tất cả các loại tiền đó thì tiền mặt pháp định là một trong các loại tiền mạnh, đó là loại tiền giấy do ngân hàng trung ương(NHTW) phát hành. Loại tiền này có giá trị thực rất thấp, có thể xem như không đáng kể, đây là loại tiền được hình thành dựa trên yếu tố chủ quan của chính phủ. Chính phủ căn cứ vào các quy luật kinh tế, điều kiện kinh tế xã hội của đất nước cũng như của thế giới để từ đó phát hành tiền một cách hợp lý. Do đồng tiền pháp định có giá trị không đáng kể nên nó có thể bị lạm phát hoặc giảm phát.Tuy nhiên, tiền mặt pháp định là loại tiền được tín nhiệm nhất bởi vì đây là đồng tiền của chính phủ và nó có hiệu lực trao đổi trên toàn lãnh thổ. Hiện nay, tiền có giá trị thực chủ yếu là tiền vàng, vì tiền vàng có gía trị thực nên nó có nhiều ưu điểm hơn so với tiền giấy như mức ổn định của đồng tiền, giá trị trao đổi, phạm vi trao đổi. Bây giờ, tiền vàng ít được sử dụng hơn. Vàng hiện nay được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW hoặc sử dụng như những hàng hoá trang sức, nó ít sử dụng làm vật trao đổi.
Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ... Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.
Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

2. Vai trò của tiền tệ.
Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:
Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanhTiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiêu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa.
Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.
Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tếxã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiênh tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.

3. Chức năng của tiền tệ.
 Tiền tệ theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin thì gồm có 5 chức năng sau:
 Chức năng thước đo giá trị: Giá trị của mỗi hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định. Tiền tệ có thể làm thước đo giá trị vì bản thân nó cũng là một hàng hoá, cũng có giá trị như những hàng hoá khác.
 Chức năng phương tiện lưu thông là một chức năngkhác của tiền tệ. Lúc này, tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá và phải là tiền mặt.
 Chức năng phương tiện cất trữ: Làm chức năng này tiền rút khỏi lưu thông và nhất thiết phải có đủ giá trị. Chỉ tiền vàng, tiền bạc, tiền thỏi, bạc nén và các của cải bằng vàng, bạc mới làm được chức năng này.
 Chức năng phương tiện thanh toán: Khi tiền được dùng để trả nợ, dùng để trao đổi hàng hoá... là khi tiền thực hiện chức năng này.
 Chức năng tiền tệ quốc tế: Tiền được dùng không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn có thể sử dụng ra ngoài phạm vi quốc gia, khi này tiền thực hiện chức năng tiền tệ thế giới.
 Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền tệ có ba chức năng tiêu biểu là:
 Chức năng phương tiện trao đổi: Tiền là vật ngang giá chung, là trung gian làm cho sự trao đổi hàng hoá giữa người này với người khác trở nên thuận lợi hơn. Phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Nếu không có chức năng này thì tiền tệ sẽ không còn.
 Chức năng phương tiện đo lường và tính toán giá trị: Việc đo giá trị hàng hoá dịch vụ bằng tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng cân và đo khoảng cách bằng mét. Đơn vị tiền tệ là một thước do được sử dụng phổ biến trong các quan hệ xã hội. Nhờ chức năng này mà tính chất tiền tệ hoá ngày càng phổ biến trong đo lường sự phát triển của xã hội, đo lường mức sống của con người...Nó đã tạo ra một nền kinh tế mang tính chất tiền tệ.
 Chức năng phương tiện tích luỹ: Tích luỹ là cơ sở để tái sản xuất và mở rộng sản xuất cho nên nó cũng là cơ sở phát triển kinh tế. Tiền có được chức năng này là vì nó là phương tiện trao đổi, là tài sản có tính lỏng cao nhất.
Xem thêm

21 Đọc thêm

ảnh hưởng của lạm phát và tỷ giá hối đoái với doanh nghiệp và giải pháp

ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP

1.TÌM HIỂU CHUNG VỀ TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI.1.1. Khái niệm.Do có nhiều khía cạnh và mặt tiếp xúc khác nhau, nên có nhiều khái niệm về tỉ giá hối đoái, nhưng chủ yếu có hai khái niệm sau:Thứ nhất: Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định. Vì vậy, giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia được gọi là tỷ giá hối đoái. Ví dụ: Tỷ giá bán ra ngày 15.08.2014 của Ngân Hàng Vietcombank là: 1USD= 21230 VNDThứ hai: Tỷ giá hối đoái còn được xem như quan hệ so sánh về giá trị giữa hai đồng tiền của hai nước với nhau.Còn ở Việt Nam, tỷ giá hối đoái được hiểu là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam.Vậy tỷ giá thể hiện mối quan hệ giữa hai đồng tiền. Mà mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng. Do đó, để tìm tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia, ta cần tìm hiểu các ký hiệu đơn vị tiền quốc gia đó. Và sau đây là một số ký hiệu đơn vị tiền:Tiền TệKý HiệuMã tiềnĐồng Việt NamđVNDDollar MỹUSDEuro€EURBảng Anh£GBPNhân Dân Tệ¥CNYKhi các quốc gia có quan hệ trao đổi, buôn bán hàng hóa với nhau, dẫn đến sự trao đổi của các đồng tiển khác nhau. Vậy bao nhiêu đồng tiền này thì đổi được đồng tiền kia? Làm sao để xác định tỷ giá ngoại tệ giữa các quốc gia? Có những phương pháp xác định tỷ giá hối đoái sau:•Xác định căn cứ vào hàm lượng vàng đảm bảo của các đồng tiền.•Phương pháp xác định tỷ giá hối đoái nghịch đảo.•Phương pháp xác định tỷ giá chéo.1.2. Phân loại tỷ giá hối đoái.Trong thực tế, tùy vào từng thời gian, trường hợp nguyên cứu, khía cạnh nguyên cứu mà người ta phân loại tỷ giá hối đối khác nhau.Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường.Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực.Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia ra làm hai loại: tỷ giá điện hối, tỷ giá thư hối.Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các loại: tỷ giá chính, tỷ giá tự , tỷ giá thả, tỷ giá cố định.Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các loại: tỷ giá séc, tỷ giá hối phiếu trả tiền, tỷ giá chuyển khoản , tỷ giá tiền mặt.Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối: tỷ giá mở cửa, tỷ giá đóng cửa, tỷ giá giao nhận ngay, tỷ giá giao nhận có kỳ hạn.Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá chia ra làm hai loại: tỷ giá mua, tỷ giá bán.BẢNG TỶ GIÁ NGÀY 14082014 ( NGÂN HÀNG VIETINBANK)Ngoại tệTỷ giá muaTỷ giá bánTiền mặt SécChuyển khoảnEUR281972826728495GBP349903523735520CAD192661939219548USD211702118021230HKD270727252747SGD168411695417091 1.3. Chế độ tỷ giá hối đối.Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều loại chế độ tỷ giá hối đoái biến tướng từ hai hình thức cơ bản là cố định và thả nổi. Trong thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau càng tăng, việc lựa chọn một chế độ ngoại hối phù hợp với bối cảnh quốc tế, điều kiện cụ thể từng bước và đáp ứng điều chỉnh kinh tế vĩ mô, nhất là với các nước đang thực hiện chuyển đổi cơ chế thực sự là vấn đề nan giải. a.Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng. Theo chế độ bản vị vàng,tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào hàm lượng vàng của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, khi thương mại quốc tế tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản vị vàng này không đáp ứng được nhu cầu phát triển và các nước thôi áp dụng từ năm 1971.b.Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp .Loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại các nước Xã hội chủ nghĩa thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp thường chênh lệch nhiều lần so với tỷ giá hối đoái thị trường, không có vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô đối với xuất nhập khẩu, loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại Việt Nam trước năm 1989. c. Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do. Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định hoàn toàn bởi các lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này chính phủ giữ thái độ thụ động, để cho thị trường ngoại tệ đánh giá giá trị của ngoại tệ loại tỷ giá hối đoái này ít được áp dụng vì các thị trường tiền tệ thường không hoàn hảo và do vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà nước.d. Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết.Theo chế độ này, chính phủ không cam kết duy trì một tỷ lệ cố định với ngoại tệ, mà thả nổi đồng tiền của mình và có biện pháp can thiệp mỗi khi thị trường trở nên (mất trật tự) , hoặc khi tỷ giá hối đoái đi chệch xa mức thích hợp loại tỷ giá hối đoái này hiện đang được áp dụng tại các nước Tư Bản Chủ Nghĩa, nơi mà lạm phát đạt thấp, các thị trường phát triển ở trình độ cao.e. Tỷ giá hối đoái ổn định có điều tiết. Theo chế độ này, chính phủ không để ngoại tệ trôi nổi tự do, mà can thiệp vào thị trường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định. Sau mỗi thời gian nhất định, mức tỷ giá hối đoái lại được điều chỉnh cho phù hợp và duy trì ổn định. Luận cứ lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái. Sự quản lý tối ưu của tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế của các nhà hoạch định chính sách, vào nguồn gốc của các cơn sốc đối với nền kinh tế và đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế đang xét. Vì vậy các giả thiết khác nhau về nhân tố đó có thể dẫn đến sự thay đổi về mức độ tối ưu của chế độ tỷ giá hối đoái. Các yêu cầu khi lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái: Một số tiêu chuẩn quy định tỷ giá phụ thuộc vào bản chất của cơn sốc lên nền kinh tế cũng như đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế. Tuy vậy trong thực tế khó mà áp dụng đó cho các trường hợp cụ thể. Các khó khăn đó không những lên quan đến các vấn đề thực tiễn, sự nhận biết nguồn gốc các cơn sốc và các đặc trưng cơ cấu mà còn liên quan đến mâu thuẫn tiềm tàng giữa các mục tiêu chính sách khác nhau. Tiêu chuẩn để lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp còn phụ thuộc vào các mục tiêu chính sách do chính phủ đặt ra.1.4. Ý nghĩa kinh tế của tỷ giá hối đoái.Tỷ giá có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Sự vận động của nó có tác động sâu sắc tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia:Thứ nhất, tỷ giá là phương tiện trao đổi thương mại quốc tế, nó quy định tỷ lệ trao đổi giữa các loại tiền.Thứ hai, nó tác động trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu. Vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế: sự thâm hụt hoặc thận dư cán cân. Khi dồng tiền của một nước tăng giá (so với đồng tiền khác) thì hàng hóa nước đó trở nên đắt hơn. Ngược lại hàng hóa nước ngoài ở nước đó sẽ rẻ hơn.Thứ ba, tỷ giá là công cụ diều tiết vĩ mô, ảnh hưởng tới tổng cầu, sản phẩm quốc dân, thất nghiệp… Tỷ giá góp phần vào việc cải thiện cung cầu ngoại tệ, giải quyết vấn đề nợ nước ngoài. Song, việc điều hành tỷ giá không tốt có thẻ dẫn tới lãm phát, khủng hoảng. 2.TÌNH HÌNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA NƯỚC TA.2.1. Sơ lược về lịch sử phát triển của tỷ giá hối đoái nước ta.Tỷ giá hối đoái nước ta được đánh dấu mốc thay đổi quan trong vào năm 1989. Trước năm 1989, nước ta thực hiên chính sách tỉ giá cố định, giá cả ngoại tệ do ngân hàng nhà nước quyết định và hấu như cố định theo thời gian. Đến năm 1989, cơ chế diều hành tỷ giá có sự thay đổi, chuyển sang tỷ giá được điều hành theo yếu tố thị trường.a. Thời kỳ trước năm 1989.Ở nước ta tồn tại chế độ tỷ giá cố định. Trong thời gian này, nước ta phát triển nền kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với bên ngoài dều thông qua hệ thống độc quyền của nhà nước về ngoại thương và hối đoái. Do vậy, việc áp dụng chế độ tỷ giá cố định do nhà nước độc quyền xác định không tính tới những yếu tố cung cầu của thị trường.Vì vậy, đồng tiền Việt Nam được đánh giá quá cao so với đồng tiền tự do chuyển đổi. tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa với thị trường, làm cho hoạt động xuất nhập khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn.b. Thời kỳ 1989 đến nay.Sự ra đời của của hai trung tâm ngoại dịch ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 1991 là biểu hiện cụ thể của sự thay đổi cơ chế tỷ giá. Tỷ giá hối đoái dã được phản ánh tương đối, giúp thu
Xem thêm

23 Đọc thêm

Sự ra đời và phát triển của tiền tệ

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ

PHẦN THỨ NHẤTĐẶT VẤN ĐỀ1.1.Lý do chọn đề tàiKhi phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước và đặc biệt khi mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế , đầu tư , thương mại với thế giới nền kinh tế nước ta có những biến sâu sắc và phát triển mạnh. Sống trong một thế giới đầy những sự hứa hẹn và nguy hiểm, thử thách cơ hội... Vì vậy là những sinh viên , đang theo học môn tài chính tiền tệ , chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sự ra đời và phát triển của tiền tệ” để nghiên cứu và tìm hiểu rõ thêm những kiến thức cơ bản về lĩnh vực tài chính năng động và có tầm quan trọng này. Và cũng là đề tài cho bài tiểu luận kết thúc môn học của mình.1.2.Mục tiêu nghiên cứu Nhận biết được bản chất của tiền tệ, đồng thời phân tích được các chức năng của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó thấy được tầm quan trọng của tiền tệ đối với mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Giải thích được sự ra đời và sự phát triển của tiền tệ qua các hình thái biểu hiện của tiền tệ. Trình bày được các hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ qua sáu chế độ tiền tệ: chế độ song bản vị, chế độ bản vị tiền vàng, chế độ bản vị vàng thỏi, chế độ bản vị vàng hối đoái, chế độ bản vị ngoại tệ và chế độ bản vị tiền giấy. Nhắc lại được sự ra đời của tài chính trong lịch sử phát triển của kinh tế và xã hội.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Trình bày hệ thống tiền tệ thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2

TRÌNH BÀY HỆ THỐNG TIỀN TỆ THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ 2

Trình bày hệ thống tiền tệ thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2 Tiểu luận Trình bày hệ thống tiền tệ thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2 Nhóm 1 : Sinh viên (K50 Ngân hàng, Trường ĐH Tây Bắc) Nguyễn Nam Toàn Đào Thế Sơn Đặng Quốc Hùng Cao Thanh Hải Giàng A ChuaLời mở đầu Việc hiểu được quá trình lịch sử phát triển của các thể chế tiền tệ và sự phát triển kinh tế của thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2 là cơ sở căn bản để nghiên cứu Tài chính quốc tế. Có rất nhiều đề nghị cải tổ lại hệ thống tiền tệ quốc tế ( IMS ) nhằm tránh được các vướng mắc và sai lầm đã xảy ra trong quá khứ. Nhiều khía cạnh về IMS sau chiến tranh thế giới thứ 2 đáng quan tâm sẽ được trình bày : Hệ thống Bretton Woods, lịch sử phát triển và lí do sụp đổ của nó Hệ thống chế độ tỉ giá là cố định nhưng có thể điều chỉnh Sự ra đời IMF và hạn mức tín dụng thường xuyên Tài khoản quyền rút vốn đặc biệt, ưu điểm hơn hạn mức tín dụng như nào ? Hệ thống tiền tệ châu Âu được thành lập
Xem thêm

10 Đọc thêm

HỆ THỐNG BRETTON WOODS CƠ CHẾ ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ HỆ THỐNG BRETTON WOODS VÀ SO SÁNH NÓ VỚI CƠ CHẾ ĐIỀU TIẾT TỶ GIÁ DƯỚI CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG

HỆ THỐNG BRETTON WOODS CƠ CHẾ ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ HỆ THỐNG BRETTON WOODS VÀ SO SÁNH NÓ VỚI CƠ CHẾ ĐIỀU TIẾT TỶ GIÁ DƯỚI CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG

MỤC LỤCCHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG BRETTON WOODS31.1.Hoàn cảnh ra đời31.2.Mục tiêu41.2.1. Thành lập các tổ chức tiền tệ quốc tế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ đòi hỏi phải thành lập tổ chức quốc tế với những chức năng và quyền hạn nhất định41.2.2. Chế độ tỷ giá hối đoái – tỷ giá hối đoái phải được ấn định cố định về mặt ngắn hạn, nhưng có thể điều chỉnh khi xuất hiện tình trạng “mất cân đối cơ bản”41.2.3. Dự trữ quốc tế để giúp cho chế độ tỷ giá cố định có điều chỉnh hoạt động một cách hiệu quả, các quốc gia cần tới một lượng dự trữ quốc tế lớn bằng vàng và các nguồn dự trữ bằng tiền khác41.2.4. Khả năng chuyển đổi của đồng tiền để đạt được lợi ích kinh tế chung, tất cả các quốc gia tham gia vào một hệ thống thương mại đa phương tự do, trong đó đồng tiền chuyển đổi tự do được sử dụng một các rộng rãi5 CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ TRONG KHUÂN KHỔ HỆ THÔNG BRETTON WOODS62.1. Cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods62.2. Hoạt động của hệ thống Bretton Woods trên thực tế62.2.1. Giai đoạn “đói đô la” (19441958)62.2.2. Giai đoạn “bội thực đô la”82.3. Đánh giá hoạt động cuả hệ thống Bretton woods102.3.1. Vấn đề thanh khoản102.3.2. Sự thiếu vắng một cơ chế điều chỉnh102.3.3. Về đặc quyền phát hành USD11CHƯƠNG 3: SO SÁNH CƠ CHẾ ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ CỦA HỆ THỐNG BRETTON WOODS VÀ ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ CỦA CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG12 LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiSau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các quốc gia đã cố gắng phục hồi lại hệ thống bản vị vàng nhưng nó đã sụp đổ hoàn toàn trong cuộc Đại khủng hoảng của những năm 1930. Trong hoàn cảnh đó, 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia đã gặp nhau tại Bretton Woods, New Hampshire, năm 1944 để để xây dựng hệ thống tài chính thế giới sau chiến tranh, tránh nguy cơ tái diễn khủng hoảng kinh tế. Tại đây, các nước đã thống nhất thành lập ra một hệ thống tài chính được gọi là Bretton Woods bao gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đôla Mỹ gắn với vàng. Do tại thời điểm đó nước Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tiềm năng sản xuất của thế giới và giữ gần như toàn bộ lượng vàng của thế giới nên các nhà lãnh đạo quyết định gắn các đồng tiền thế giới với đồng đôla, đồng tiền mà tiếp sau đó được họ đồng ý đổi ra vàng ở mức 35 USD một ounce.Dưới hệ thống Bretton Woods, các ngân hàng trung ương của các nước trừ Hoa Kỳ phải có nhiệm vụ duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa các đồng tiền của họ với đồng đôla. Họ làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoại hối. Nếu đồng tiền của một nước quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nước đó cần phải bán tiền của mình để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống. Ngược lại, nếu giá trị đồng tiền của một nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền của chính mình, do vậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên.Các chế độ bản vị giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử các quan hệ tiền tệ quốc tế. Hệ thống tiền tệ này hoạt động trong điều kiện tiền giấy còn chưa được sử dụng phổ biến, và vàng đóng vai trò đặc biệt tạo nên nền tảng hoạt động của hệ thống. Tuy hệ thống này hiện nay đã sụp đổ nhưng nó vẫn có những thành quả tồn tại đến hiện nay như IMF và World Bank và để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng và điều chỉnh các chính sách về tỷ giá hiện nay.Chính vì vậy mà đề tài: “Hệ thống Bretton Woods: Cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods và so sánh nó với cơ chế điều tiết tỷ giá dưới chế độ bản vị vàng” có ý nghĩa nghiên cứu, tìm hiểu lớn.2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài2.1.Mục đíchĐề tài đi sâu vào nghiên cứu và phân tích cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods và so sánh nó với cơ chế điều tiết tỷ giá dưới chế độ bản vị vàng, để thấy được những thành tựu, hạn chế từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của nó.2.2.Nhiệm vụPhân tích cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods.So sánh sánh nó với cơ chế điều tiết tỷ giá dưới chế độ bản vị vàng, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc điều chỉnh tỷ giá hiện nay.3.Đối tượng và phạm vi đề tàiĐối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods. Phạm vi nghiên cứu: Cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods từ năm 1944 đến năm 1971.4.Phương pháp nghiên cứuĐề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh nhằm phân tích các thành tựu và hạn chế của hệ thống Bretton Woods từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm.5.Kết cấu của đề tàiChương 1: Tổng quan hệ thống Bretton WoodsChương 2: Cơ chế ổn định tỷ giá trong khuân khổ hệ thống Bretton WoodsChương 3: So sánh cơ chế ổn định tỷ giá của hệ thống Bretton Woods và điều tiết tỷ giá của chế độ bản vị vàngCHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG BRETTON WOODS1.1.Hoàn cảnh ra đờiSự sụp đổ của chế độ tiền tệ Genova làm cho các quan hệ tiền tệ tài chính quốc tế trở nên rối ren đã dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước tư bản đầu sổ cầm đầu. Đó là các khu vực tiền tệ như khu vực đồng Phơrăng Pháp, khu vực đồng đô la Mỹ, khu vực đồng Bảng Anh.Khu vực đồng đôla do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các “đối thủ không hơn kém” là khu vực đồng Bảng Anh và khu vực đồng Frăng (Franc) Pháp. Nhưng sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Mỹ trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về tín dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới (chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư bản). Đây chính là những yếu tố tạo nên thế mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường quốc tế, đưa đồng tiền này “lên ngôi” đồng tiền chủ chốt của thế giới. Tháng 7 năm 1944, lợi dụng địa vị kinh tế và tài chính của mình trên trường quốc tế, Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ tài chính quốc tế tại thành phố Brettonwoods với sự tham gia của 44 nước. Hội nghị đã ký kết một Hiệp định quốc tế bao gồm những thoả thuận của các nước về việc thiết lập các quan hệ tiền tệ tài chính quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II. Được gọi là chế độ tiền tệ Brettonwoods. 1.2.Mục tiêu1.2.1. Thành lập các tổ chức tiền tệ quốc tế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ đòi hỏi phải thành lập tổ chức quốc tế với những chức năng và quyền hạn nhất địnhLập ra Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) với vai trò: Điều tiết chế độ tỷ giá hối đoái của các quốc gia và hỗ trợ nhân lực và vật lựcGiám sát việc các quốc gia tuân thủ những quy định được thống nhất về thương mại và thanh toán quốc tếCung cấp tín dụng cho các quốc gia thành viên gặp phải tình trạng thiếu hụt tạm thời cán cân thanh toán quốc tếWB cho các thành viên vay dài hạn cho các dự án để Góp phần thúc đẩy tăng trưởng về kinh tếTạo điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp tư nhân phát triểnKết hợp với các tổ chức quốc tế khác để hỗ trợ cho các nước thành viênCung câp hỗ trợ tài chính thông qua hiệp hội phát triển quốc tế đối với các nước thành viên có thu nhập thấp1.2.2. Chế độ tỷ giá hối đoái – tỷ giá hối đoái phải được ấn định cố định về mặt ngắn hạn, nhưng có thể điều chỉnh khi xuất hiện tình trạng “mất cân đối cơ bản”Tỷ giá được cố định và chỉ được phép dao động trong biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã được đăng ký tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF.1.2.3. Dự trữ quốc tế để giúp cho chế độ tỷ giá cố định có điều chỉnh hoạt động một cách hiệu quả, các quốc gia cần tới một lượng dự trữ quốc tế lớn bằng vàng và các nguồn dự trữ bằng tiền khácCác nước tham gia hiệp ước phải đảm bảo dự trữ vàng hoặc tiền tệ mạnh để có thể sử dụng nó mua vào nội tệ khi cần thiết nhằm duy trì tỷ giá hối đoái. Với sự phát triển của thương mại và tài chính quốc tế, đến lúc đó nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng và USD của các quốc gia trở nên không đủ đáp ứng. SDRs ra đời cung cấp cho các quốc gia thành viên một nguồn lực bổ sung để có thể duy trì tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ. Quỹ tiền tệ quốc tế nhận tiền đóng góp (tương ứng là quyền biểu quyết) và sử dụng nguồn góp đó, cộng thêm với các tài trợ khẩn cấp đặc biệt để cho một số nước thành viên vay, nhằm ổn định cung cầu tiền tệ, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán ngắn hạn. Số tiền cụ thể mà mỗi quốc gia phải đóng góp được IMF xem xét quyết định căn cứ tình hình kinh tế của quốc gia đó.1.2.4. Khả năng chuyển đổi của đồng tiền để đạt được lợi ích kinh tế chung, tất cả các quốc gia tham gia vào một hệ thống thương mại đa phương tự do, trong đó đồng tiền chuyển đổi tự do được sử dụng một các rộng rãi CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ TRONG KHUÂN KHỔ HỆ THÔNG BRETTON WOODS2.1. Cơ chế ổn định tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods Hội nghị Bretton Woods đã thống nhất áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái có khả năng áp dụng các ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định và thả nổi với tên gọi là “ chế độ tỷ giá cố định điều chỉnh hạn chế”.Chế độ tỷ giá trong khuôn khổ hệ thống Bretton Woods được thiết lập trên cơ sở áp dụng những nguyên tắc của chế độ bản vị vàng – hối đoái. Tỷ giá hối đoái cố định trong ngắn hạn, có thể điều chỉnh trong những trường hợp cụ thể. Theo quy định của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), mỗi đồng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giá cố định với USD và được phép dao động trong biên độ ±1%. Giá USD được cố định với vàng là 35USDounce. Việc cố định tỷ giá đôla với vàng đã tạo lòng tin cho cả thế giới vì Mỹ vào thời điểm đó chiếm 70% dự trữ vàng của thế giới. Chính phủ Mỹ cam kết đổi đôla ra vàng không hạn chế. Một cách gián tiếp, các quốc gia có thể hoàn toàn tin tưởng khi neo giá đồng tiền nước mình với đồng đôla. Trong những trường hợp mất cân bằng nghiêm trọng trong cán cân thanh toán, các quốc gia có thể tiến hành phá giá hay nâng giá đồng tiền với biên độ nhỏ hơn 10% trước khi IMF phải can thiệp.2.2. Hoạt động của hệ thống Bretton Woods trên thực tế 2.2.1. Giai đoạn “đói đô la” (19441958)Trong giai đoạn 19441958, IMF đã không thực hiện được những mục tiêu đầy tham vọng của mình và đóng vai trò rất thụ động trong việc cung cấp tín dụng cho các quốc gia thành viên gặp khó khăn. Trong khi đó sau chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ đã thu được nguồn vàng lớn từ bên ngoài bằng việc bán vũ khí cho các bên tham chiến. Khi này, Mỹ có một lượng vàng dự trữ lên tớ 26 tỉ đô la, chiếm 60% trữ lượng vàng trên toàn thế giới. Do đó đồng đôla Mỹ lúc dó được coi là tốt như vàng.Trong khi đó, do bị chiến tranh tàn phá nặng nề, các nước châu Âu đang cần một lượng tín dụng lớn để nhập khẩu những gì cần thiết cho công cuộc tái thiết. Theo kế hoạch Marshall, vẫn được biết đến là kế hoạch tái thiết châu Âu, từ năm 1948 đến năm 1954, 17 tỉ đô la Mỹ đã được đưa vào 16 nước châu Âu. Mặc dù nhận thức được rằng tý giá hối đoái là mối quan tâm chung của quốc tế và chế độ tỷ giá điều chỉnh hạn chế được chấp nhận, nhưng trên thực tế IMF đã thông qua một cách thụ động các mực ngang giá chính thức ban đầu do các thành viên đề nghị. Những dự tính của IMF về việc các nước sẽ nhanh chóng xóa bỏ hạn chế đối với các giao dịch vãng lai và tạo lập tính chuyển đổi cho đồng tiền của mình tỏ ra không thực tế vì các quốc gia đó cho rằng do hậu quả của chiến tranh nên các biện pháp nói trên cần được thực hiện theo từng bước. Kết quả là cho đến năm 1958 phần lớn các đồng tiền của các quốc gia công nghiệp mới được chuyển đổi, nhưng không phải dưới áp lực của IMF mà do các quốc gia đã cải thiện được nguồn dự trữ quốc tế của mình. Hơn nữa trong giai đoạn này những mâu thuãn lớn trong phe đồng minh chống phát xít xuất hiện. Mặc dù Liên Xô cũng tham gia vào hội nghị Bretton Woods năm 1944 nhưng lại từ chối tham gia vào quỹ tiền tệ thế giới. Đặc biệt trong không khí căng thẳng của chiến tranh lạnh Mỹ đã phải chi ra một lượng tiền lớn cho quân sự. Do đó vào những năm 50 đầu những năm 60 kinh tế Mỹ bắt đầu xuất hiện một số dấu hiệu khủng hoảng. Trong những năm 50 dự trữ vàn của Mỹ rất lớn, đồng đô la được coi là tốt như vàng và đồng đô la Mỹ đã giúp các nền kinh tế yếu kém ở châu Âu không chỉ khắc phục được nạn đói đô la, mà còn bổ sung thêm được nguồn dự trữ của mình. Nhìn chung giai đoạn này cán cân thanh toán của Mỹ đã bắt đầu bị thâm hụt nhưng nó được hoan nghênh vì nó mang lại cho thế giới nguồn dự trữ cần thiết. Tuy nhiên, từ cuối những năm 50 trở đi thì nạn đói đô la đã trôi qua nhưng tình trạng thâm hụt trong cán can thanh toán của Mỹ không những không biến mất mà còn trở nên trầm trọng hơn. Trong khi đó dự trữ đô la của nước ngoài tăng nhanh với tốc độ không mong muốn, dẫn tới tình trạng ở giai đoạn tiếp theo: “bội thực đô la”.2.2.2. Giai đoạn “bội thực đô la”Trong giai đoạn này nền kinh tế ở các nước Tây Âu dần đi vào ổn định và phát triển. Nguồn dự trữ đô la ở các ngân hàng các nước tăng lên với tốc độ không mong muốn, các ngân hàng đó bắt đầu tìm cách chuyển đô la lấy vàng.Thêm vào đó, thị trường vàng kép xuất hiện mà khoảng cách giữa giá vàng trên thị trường tự do với giá vàng của ngân hàng nhà nước là rất lớn, mức giá vàng trên thị trường tự do là 35 USDauxo, còn mức giá trên thị trương tự do giao động theo quy luật cung cầu. Điều này dẫn đến tình trạng những nhà đầu cơ mua vàng ở ngân hàng trung ương và bán trên thị trường tự do.Lúc này, nền kinh tế của Tây Âu và Nhật Bản phát triển mạnh mẽ. Do đó giá trị đồng tiền của các nước này cũng tăng. Lòng tin vào đồng đô la cũng giảm sút, nguồn vốn khổng lồ bằng đồng đo la dần dần được chuyển sang các ngoại tệ mạnh hơn.Đến năm 1971, Mỹ phải tuyên bố ngừng đổi đồng đô la sang vàng và phá giá lần thứ nhất dối với đồng đô la. Bằng việc ký thỏa thuận Smith theo đó giá vàng chính thức được tăng tự 35 đô laounce lên 38 đô laounce, và đồng tiền
Xem thêm

19 Đọc thêm

Chính sách và chế độ tỷ giá của Việt Nam

CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM

Đề tài TCTT: Chính sách và chế độ tỷ giá của Việt Nam

Më ®Çu
Trong xu thÕ toµn cÇu hãa nÒn kinh tÕ thÕ giíi, c¸c mèi quan hÖ vÒ ®Çu t­, tµi chÝnh tiÒn tÖ, th­¬ng m¹i quèc tÕ gi÷a c¸c quèc gia ph¸t triÓn m¹nh mÏ. ViÖc trao ®æi th­¬ng m¹i quèc tÕ ®ßi hái sù chuyÓn ®æi ®ång tiÒn nµy thµnh ®ång tiÒn kh¸c trong quan hÖ gi÷a c¸c n­íc, nhãm n­íc víi nhau lµm n¶y sinh ph¹m trï tØ gi¸ hèi ®o¸I nh»m so s¸nh gi¸ trÞ, søc mua cña ®ång tiÒn trong n­íc víi ngo¹i tÖ vµ gi÷a c¸c ngo¹i tÖ víi nhau

Tû gi¸ hèi ®o¸I ®ãng vai trß quan träng ®èi víi nÒn kinh tÕ quèc gia vµ trong mèi quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ. Mçi quèc gia, tïy thuéc vµo t×nh h×nh kinh tÕ, chÝnh trÞ cña m×nh ®Ó lùa chän tû gi¸ hèi ®o¸i phï hîp ®Ó ®iÒu tiÕt c¸n c©n th­¬ng m¹i quèc tÕ theo môc tiªu ®Þnh tr­íc cña Nhµ n­íc

Giai ®o¹n nh÷ng n¨m 1990, ViÖt Nam ®• tõng ¸p dông chÝnh s¸ch tû gi¸ hèi ®o¸I cè ®Þnh trong ®iÒu kiÖn kinh tÕ kÕ ho¹ch hãa tËp trung. T¸c dông ®iÒu tiÕt cña tû gi¸ hèi ®o¸I h¹n chÕ nhiÒu vµ hÇu nh­ kh«ng ph¸t huy ®­îc t¸c dông, kh«ng ph¶n ¸nh ®óng quan hÖ cung cÇu trªn thÞ tr­êng ngo¹i hèi, gi¸ trÞ cña ®ång néi tÖ. HiÖn nay, chÝnh s¸ch tû gi¸ hèi ®o¸i th¶ næi cã sù kiÓm so¸t cña Nhµ n­íc ®­îc ViÖt Nam ¸p dông ®em l¹i nhiÒu lîi Ých cho quèc gia. Song chÝnh phñ lu«n cã nh÷ng c¶i c¸ch hoµn thiÖn chÝnh s¸ch ®Ó ®¶m b¶o phï hîp t­¬ng quan gi÷a nÒn kinh tÕ quèc gia, t¨ng tr­ëng kinh tÕ, æn ®Þnh tiÒn tÖ vµ t¹o thuËn lîi cho ViÖt Nam trªn thÞ tr­êng thÕ giíi.

NhËn thÊy ý nghÜa quan träng cña chÕ ®é tû gi¸ hèi ®o¸I, nhãm chän vÊn ®Ò
Chính sách và chế độ tỷ giá của Việt Nam

Nội dung chính:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ
Chương 2: CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY
Chương 3: CÁC BÀI HỌC VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH TỈ GIÁ CỦA VIỆT NAM


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ
1. Tỷ giá
Khái niệm tỷ giá
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng khác nhau cả về hình thức lẫn giá trị và đều tham gia ngày càng tích cực vào đời sống kinh tế xã hội quốc tế theo trình độ phát triển và vị thế của quốc gia mình. Trong quá trình tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư, vay mượn và trao đổi quốc tế... các nước, các tổ chức, cá nhân, các đối tác phải thanh toán với nhau thông qua các đồng tiền của các bên được chuyển đổi, tính toán theo một tương quan tỷ lệ nhất định.
Theo quan điểm kinh tế hiện đại: “Tỷ giá là giá mà người ta trả khi mua hoặc nhận được khi bán một ngoại tệ, trên thị trường ngoại hối tỷ giá là giá cả của tiền tệ nước này tính bằng đơn vị tiền tệ nước khác”.
Ví dụ: 1 USD = 20300 VND. Trong ví dụ này, giá của USD được biểu thị thông qua VND và 1 USD có giá là 20300 VND.
1.2 Cơ sở hình thành tỷ giá
1.2.1 Thuyết ngang giá vàng
Trong thời kỳ bản vị kim loại, nhất là bản vị vàng (và bạc), các đồng tiền quốc gia đều được so sánh, quy đổi với nhau trên cơ sở hàm lượng kim loại (vàng) chứa đựng trong đồng tiền của mình hay do đơn vị đồng tiền của mình đại diện. Trong giai đoạn này, đặc biệt từ năm 1870 đến thời kỳ đầu đại chiến thế giới lần thứ nhất, người ta xác định tỷ giá giữa các đồng tiền bằng cách so sánh hàm lượng vàng chứa trong mỗi đơn vị tiền tệ của từng nước.
Ví dụ: Hàm lượng vàng của một bảng Anh (GBP) là 2,488281 gam và của một đô la Mỹ là 0,888671 gam. Do đó, tỷ giá hối đoái của GBP và USD là:
GBPUSD = 2,4882810,888671 = 2,80
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái của một nước cũng như trên thế giới khá ổn định và thường chỉ biến động theo mức tăng giảm hàm lượng vàng chứa đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ.
Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt là do những bất lợi của chế độ bản vị vàng (kiềm chế sự phát triển kinh tế và giao lưu kinh tế quốc tế...) nên phần lớn các nước đã từ bỏ chế độ bản vị vàng vào đầu những năm 30. Đến năm 1971, các nước hoàn toàn bãi bỏ chế độ bản vị vàng.
1.2.2. Thuyết ngang giá sức mua ( Purchasing Power Parity PPP )
Khi tỷ lệ lạm phát của một nước tăng tương đối so với lạm phát của một nước khác, mức cầu đồng tiền nước đó giảm do xuất khẩu giảm. Ngoài ra, người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước có lạm phát cao có xu hướng tăng nhập khẩu. Như vậy, cả hai lực lượng này tạo áp lực giảm giá đồng tiền của nước có lạm phát cao. Tỷ lệ lạm phát thường khác nhau giữa các quốc gia, tạo nên các kiểu mẫu mậu dịch quốc tế để điều chỉnh thích hợp và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất trong tài chính quốc tế là thuyết ngang giá sức mua, tập trung vào mối liên hệ lạm phát – tỷ giá hối đoái. Theo hình thức, thuyết ngang giá sức mua gồm 2 loại là hình thức tuyệt đối và hình thức tương đối
Theo hình thức tuyệt đối, thuyết PPP là sự phát triển của quy luật một giá. Nội dung cơ bản của quy luật một giá là: nếu hai nước cùng sản xuất một loại hàng hoá giống nhau thì giá cả của hai loại hàng hoá đó giống nhau trên toàn thế giới và không phụ thuộc vào nước nào sản xuất ra nó.
Như vậy, theo quy luật một giá thì nếu như thép của Mỹ được sản xuất với giá 100 USDtấn, còn thép của Nhật được sản xuất ra với giá 10.000 JPYtấn thì có nghĩa là 1 USD = 100 JPY, tỷ giá USDJPY = 100.
Giả sử tỷ giá USDJPY = 50 thì điều đó có nghĩa: thép của Nhật bị đắt tương đối so với thép của Mỹ. Khi đó cầu thép của Nhật sẽ giảm xuống cho đến khi giá thép của Nhật còn 5000 JPYtấn hoặc tỷ giá phải nâng lên USDJPY = 100 (tức là giảm giá đồng JPY). Tương tự khi tỷ giá là 150 JPYUSD thì xu hướng là cầu thép của Nhật tăng tới 15.000JPYtấn hoặc tỷ giá phải giảm xuống đến 100 JPYUSD (tăng giá đồng JPY).
Trên cơ sở quy luật một giá, thuyết PPP phát biểu rằng: Tỷ giá bất kỳ giữa hai đồng tiền của hai nước sẽ bằng tỷ số mức giá của hai nước đó tại cùng thời điểm.
Ví dụ: Thép Nhật tăng giá 11.000 JPYtấn, thép Mỹ vẫn ở giá 100 USDtấn, tỷ giá cũ là 100 JPYUSD, thì lúc đó thuyết PPP nói rằng tỷ giá sẽ được điều chỉnh theo hướng giảm giá đồng JPY, tức là bằng 110 JPYUSD. Việc vận dụng thuyết PPP chỉ cung cấp cho ta một hướng dẫn lâu dài về sự vận động của tỷ giá.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn nó không được hoàn hảo, thậm chí còn bị sai lệch đáng kể vì thị trường là không hoàn hảo, tồn tại chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thanh toán, thông tin và nhiều hàng rào thương mại khác, do đó, thuyết PPP tuyệt đối hiếm khi thấy trong thực tế, nhưng thuyết PPP tương đối lại khá phổ biến.
Thuyết PPP tương đối được duy trì, dù cho sức mua của đồng tiền không giống nhau ở mọi nơi, thay đổi mức giá cả giữa hai quốc gia được hấp thụ bởi sự biến động của tỷ giá, do đó, quan hệ PPP được duy trì không thay đổi. Nếu nước A có tỷ lệ lạm phát bằng 0% và nước B có tỷ lệ lạm phát bằng 10% thì đồng tiền của nước B phải giảm giá 10% so với đồng tiền của nước A. Sự biến động của tỷ giá sẽ duy trì tỷ lệ giá cả giữa hai nước trước và sau khi lạm phát xảy ra là không thay đổi.
Nếu thuyết PPP tương đối hoạt động, có hiệu lực ngay lập tức và chính xác, thì chính sách tiền tệ sẽ không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại. Bất cứ sự thay đổi nào trong các mức giá cả giữa hai nước do thay đổi mức cung ứng tiền sẽ được hấp thụ ngay lập tức bởi sự thay đổi của tỷ giá. Trong thực tế thuyết PPP tương đối có ảnh hưởng tương đối tới sự biến động của tỷ giá, nhưng xảy ra chậm hơn. Xu hướng là rõ ràng nhưng nhiều yếu tố có thể làm méo mó quan hệ này trong ngắn hạn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do trong giai đoạn ngắn hạn đối với cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì giá cả hàng hoá được coi như là cố định. Trong khi đó tỷ giá trao đổi thì được điều chỉnh thường xuyên do sự cập nhật thông tin và do sự thay đổi của chính sách kinh tế. Điều đó có nghĩa, sự thay đổi của tỷ giá đã tạo ra sự sai lệch lớn và kéo dài so với thuyết PPP.
1.3 Niêm yết tỷ giá
Theo tập quán kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, tỷ giá hối đoái thường được yết giá như sau:
USDDEM = 1,41251,4175
USDVND = 15.30015.500
Trong công thức trên, đồng USD đứng trước gọi là đồng tiền yết giá và là một đơn vị tiền tệ. VND đứng sau gọi là đồng tiền định giá và là một số đơn vị tiền tệ và thường xuyên thay đổi phụ thuộc vào thời giá của tiền yết giá.
Tỷ giá đứng trước 15.300 là tỷ giá mua đô la trả bằng VND của ngân hàng, được gọi là tỷ giá mua vào của ngân hàng (BID RATE).
Tỷ giá đứng sau 15.500 là tỷ giá bán đô la thu bằng VND của ngân hàng, gọi là tỷ giá bán ra của ngân hàng (ASK RATE). Tỷ giá ASK thường lớn hơn tỷ giá BID. Chênh lệch giữa chúng gọi là SPREAD, còn được gọi là lợi nhuận (chưa nộp thuế) của ngân hàng trong giao dịch mua bán ngoại hối.
Phương pháp yết giá ngoại tệ: Có hai phương pháp yết giá ngoại tệ là yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp.
Nếu xét ở góc độ thị trường tiền tệ quốc tế, trên thế giới hiện nay chỉ có hai đồng tiền quốc gia: USD, GBP và hai tiền tệ quốc tế: SDR, EURO (trước đây là ECU) là dùng cách yết giá trực tiếp (Certain quotation), các tiền tệ còn lại dùng cách yết giá gián tiếp (incertain quotation):
Ví dụ: USDDEM, GBPFRF, SDRFRF, SDRFRF
Có nghĩa là giá của USD, GBP hay của SDR, EURO được thể hiện trực tiếp ra bên ngoài, còn các tiền tệ khác như DEM, FRF, VND... mới thể hiện gián tiếp ra bên ngoài. Ví dụ: USDVND = 15.000
Xem thêm

42 Đọc thêm

Trắc nghiệm tiền tệ và thanh toán quốc tế có đáp án

TRẮC NGHIỆM TIỀN TỆ VÀ THANH TOÁN QUỐC TẾ CÓ ĐÁP ÁN

Tiền tệ và thanh toán quốc tế
(75 câu)

Chế độ bản vị vàng có những đặc điểm lớn gì?
Mọi người được tự do đúc tiền vàng theo tiêu chuẩn do Nhà nước quy định
Tiền giấy được tư do đổi ra vàng
Vàng được tự do lưu thông trong nước và giữa các nước với nhau
Chế độ bản vị vàng có cả 3 đặc điểm này.

21 Đọc thêm

KDQT MOITRUONGTIENTEQUOCTE

KDQT MOITRUONGTIENTEQUOCTE

Thị trường ngoại hối hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách cho phép chuyển đổi tiền tệ.Thị trường ngoại hối là độc đáo vì những đặc điểm sau Luôn bảo đảm chất lượng hoạt động. Mang tính toàn cầu Tính thanh khoản cao Dễ dàng tiếp cận Hoạt động 24 giờ mỗi ngày Sử dụng đòn bẩy2. Chức năng của thị trường ngoại hối2.1. Chuyển đổi các loại tiền tệ của một quốc gia sang các loại tiền tệ khác•Tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi đồng tiền này sang đồng tiền khác. Tức là chuyển đổi khả năng mua bán giữa hai nước. Tuy nhiên,khách du lịch chỉ là một bộ phận nhỏ trong thị trường ngoại hối.•Các doanh nghiệp tham gia vào thương mại và đầu tư quốc tế là đối tượng chính sử dụng thị trường ngoại hối với 4 mục tiêu:Sử dụng thị trường ngoại hối khi họ
Xem thêm

30 Đọc thêm

MÔN HỌC TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

MÔN HỌC TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

HỆ THỐNG BRETTON WOODS (BWS): 1944-1971Đặc quyền phát hành USDBP của Mỹ luôn thặng dư – phần còn lại của thế giới luôn thâmhụt BP. Mỹ tiêu dùng nhiều hơn sản xuất.Mỹ dùng đặc quyền phát hành tràn lan USDMỹ áp dụng lãi suất thấp khi đi vay và những khoản tiền dự trữtại các nước khác.12-Jul-1324Hệ thống tiền tệ quốc tế ngày nayHệ thống tiền tệ quốc tế hiện đại: sự xuất hiện và phát triển chếđộ tỷ giá hối đoái linh hoạt.Thoả ước Jamaica• IMF tuyên bố chấp nhận tỷ giá hối đoái linh hoạt.• Huỷ bỏ vàng làm tài sản dự trữ quốc tế.• Các nước chậm phát triển sẽ được tạo cơ hội để tiếpcận với IMF.12-Jul-13
Xem thêm

26 Đọc thêm

 CƠ CHẾ CỦA MỘT CUỘC TẤN CÔNG TIỀN TỆ

CƠ CHẾ CỦA MỘT CUỘC TẤN CÔNG TIỀN TỆ

Tóm lại, với tình hình hiện nay, sẽ khó có thể xảy ra một cuộc tấn công tiền tệ nhằm vào VND từ các hedge fund quốc tế, trong khi khả năng tấn công từ trong nước cũng rất nhỏ.Vneconomy.c[r]

23 Đọc thêm

Hệ thống tiền tệ quốc tế (2)

HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ (2)

Hệ thống tiền tệ quốc tế (2)

56 Đọc thêm

PHÂN TÍCH VÀ LÀM SÁNG RÕ VAI TRÒ CỦA IMF

PHÂN TÍCH VÀ LÀM SÁNG RÕ VAI TRÒ CỦA IMF

Vào thập kỷ 30, đã có nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức để giải quyết những vấn đề tiền tệ thế giới. Tuy nhiên điều đó không có kết quả. Những giải pháp bộ phận và mang tính chất thăm dò đã hoàn toàn tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu. Ðiều cần có là một sự hợp tác với quy mô lớn chưa từng có giữa tất cả các quốc gia để xây dựng nên một hệ thống tổ chức tiền tệ cách tân và một tổ chức để điều hành hệ thống này .
Mùa hè năm 1940, một sự trùng hợp kỳ lạ đã xảy ra. Hai tư tưởng độc đáo và táo bạo của Harry Dester White Người Mỹ và John Maynard Keynes Người Anh đã gần như đồng thời đưa ra dự thảo xây dựng một tổ chức tiền tệ quốc tế mà hành động của nó được giám sát thường xuyên bởi một tổ chức hợp tác chứ không phải bằng những cuộc gặp gỡ quốc tế thoảng hoặc. Tuy nhiên, phải sau nhiều lần thương thuyết trong điều kiện khó khăn của thời chiến, cộng đồng quốc tế mới chấp nhận một hệ thống tiền tệ mới và một tổ chức để giám sát nó. Những thương thuyết cuối cùng về thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (viết tắt là IMF) đã diễn ra ở Bretton Woods, NewHamsphire, Hoa kỳ vào tháng 71944 giữa 44 quốc gia. Bắt đầu từ 131947 tổ chức IMF chính thức đi vào hoạt động như một cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc. Trụ sở chính của IMF ở Washington D.C và có hai chi nhánh tại Paris và Geneve. Từ l945 đến nay con số thành viên của IMF lên tới 185 Quốc gia. Số lượng thành viên tăng đều đặn, không có biến động chứng tỏ uy tín của IMF theo năm tháng là không thay đổi và ngày càng được củng cố.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Cách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tế

CÁCH TÍNH TỶ GIÁ CHÉO MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

Cách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tếCách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tếCách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tếCách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tếCách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tếCách tính tỷ giá chéo môn tiền tệ thanh toán quốc tế

18 Đọc thêm

Tiểu luận CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ Ở VIỆT NAM

Tiểu luận CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ TỈ GIÁ Ở VIỆT NAM
Theo quan điểm kinh tế hiện đại: “Tỷ giá là giá mà người ta trả khi mua hoặc nhận được khi bán một ngoại tệ, trên thị trường ngoại hối tỷ giá là giá cả của tiền tệ nước này tính bằng đơn vị tiền tệ nước khác”.

73 Đọc thêm