NỀN KINH TẾ TRI THỨC MANG TÍNH TOÀN CẦU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NỀN KINH TẾ TRI THỨC MANG TÍNH TOÀN CẦU":

CÁC CÂU HỎI THI MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG PHẦN 2

CÁC CÂU HỎI THI MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG PHẦN 2

Xuất phát từ tầm quan trọng của kinh tế tri thức Đặc điểm của nền kinh tế tri thức: Tất cả các vấn đề trong xã hội đều phải mang tính toàn cầu hóa Lao động tri thức chiếm 70% Trình độ, l[r]

34 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN VÀ KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN VÀ KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Những biến đổi sâu sắc mang tính cách mạng của nền kinh tế thế giới khoảng vài thập niên trở lại đây do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại được đánh dấu bởi sự ra đời của một nền kinh tế mới nền kinh tế tri thức. Mặc dù còn rất non trẻ, nhưng nền kinh tế này đã sớm chứng tỏ ưu thế vượt trội và tiềm năng phát triển to lớn của nó. Tuy nhiên, về phương diện lý luận, kinh tế tri thức vẫn đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu, trước hết là đối với các nhà nghiên cứu kinh tế và chính trị học trên thế giới. Bài viết này giới hạn ở một số suy nghĩ bước đầu dưới góc độ phương pháp luận về một vấn đề mà các nhà nghiên cứu đang quan tâm bản chất của thông tin.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Phát triển kinh doanh ngoại hối tại Vietinbank Chi nhánh Đồng Tháp

LUẬN VĂN THẠC SỸ: PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI VIETINBANK CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách ngoại hối đóng vai trò rất quan trọng. KDNH là một trong những hoạt động kinh doanh mà các NHTM đang chú trọng và theo đuổi. Trong những thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển của chiến lược toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Mọi hoạt động thương mại, sản xuất và đầu tư ngày càng mang tính quốc tế. Nếu trước đây, hoạt động thương mại chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia hay khu vực và chỉ liên quan đến một đồng tiền thanh toán thì nay thương mại quốc tế đã mở rộng đến tất cả các nước trên thế giới, do đó có rất nhiều đồng tiền khác nhau tham gia vào quá trình thanh toán. Chính sự toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã thúc đẩy các hoạt động thương mại, làm tăng lượng giao dịch trong hoạt động tài chính của các quốc gia, vì thế đã làm xuất hiện thị trường ngoại hối và thúc đẩy thị trường này phát triển ngày càng mạnh mẽ, hình thành nên những trung tâm tài chính quốc tế lớn hỗ trợ hiệu quả cho chu chuyển tiền tệ, phục vụ nhu cầu thanh toán quốc tế.Việt Nam đang tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập, vào xu thế chung về tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế. Với chủ trương phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, công cuộc đổi mới của chúng ta đã và đang được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa, hợp tác và hội nhập, phù hợp với xu hướng quốc tế hoá. Trong tiến trình hội nhập kinh tế có tính toàn cầu đó, hoạt động của thị trường ngoại hối ngày càng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là chiếc cầu nối giữa kinh tế nội địa với kinh tế thế giới bên ngoài. Làm sao để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, kiều hối, nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ ?.
Xem thêm

116 Đọc thêm

Ô nhiểm môi trường hiện nay

Ô NHIỂM MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY

Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững. Đó là việc vừa phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang hoành hành ở khắp mọi nơi trên hành tinh xanh. Môi trường sinh sống, hoạt động và phát triển của con người vẫn đang ngày ngày bị tàn phá mặc dù cộng đồng quốc tế vẫn đang ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường. Do đó, trong vài năm gần đây, thuật ngữ “an ninh sinh thái” đã xuất hiện và trở thành một trong những mục tiêu chiến lược phát triển của nhiều quốc gia. Sau cách mạng công nghiệp, nền kinh tế thế giới như thay da đổi thịt với tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nhiều nước. Song sự lợi dụng tự nhiên của con người cũng ngày càng phá hoại môi trường nghiêm trọng hơn. Một loạt các vấn đề an ninh sinh thái, môi trường và tài nguyên mang tính toàn cầu và khu vực như sự thay đổi khí hậu mang tính toàn cầu, tầng ozone bị phá hỏng, tài nguyên nước bị thiếu nghiêm trọng và khủng hoảng năng lượng đe doạ đến sự phát triển bền vững của con người. Ô nhiễm môi trường trở thành một vấn đề toàn cầu và buộc mọi quốc gia phải liên kết với nhau để cùng tìm phương thức giải quyết. Hơn thế, vấn nạn sinh thái này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn bộ nền kinh tế thế giới và đời sống chính trị quốc tế.
Bài tiểu luận sẽ cung cấp một cái nhìn đầy đủ về vấn đề ô nhiễm môi trường với tư cách là một vấn đề toàn cầu. Nguyên nhân nào làm môi trường sinh thái bị ô nhiễm và tàn phá. Thực trạng của vấn đề ra sao trên phạm vi toàn cầu. Tác động của vấn đề đến quan hệ quốc tế và chính trị quốc tế là tích cực hay tiêu cực. Cuối cùng, giải pháp nào là hiệu quả cho vấn đề sinh thái toàn cầu này. Câu trả lời sẽ có trong nội dung chi tiết của bài tiểu luận.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Viễn thông Quốc tế

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY VIỄN THÔNG QUỐC TẾ

Xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế tri thức đang trở thành một thực tế ngày càng được mở rộng. Xu thế này tác động lên tất cả các nước trên toàn cầu. Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức đã làm tăng mạnh vai trò của tri thức đối với sự phát triển, sự gia tăng mạnh mẽ toàn cầu hóa đã làm cho cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn. Kết hợp lại, cả sự xuất hiện nền kinh tế tri thức và sự gia tăng mạnh mẽ toàn cầu đã đẩy vai trò của nguồn nhân lực một nguồn lực có kỹ năng cao và linh hoạt, có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi lên vị trí hàng đầu trong chiến lược cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.Trước thực tế đó, các doanh nghiệp cần tập trung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường. Đây là một định hướng đúng đắn. Bởi lẽ, đầu tư vào con người là đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất.Trong một thời gian dài nghiên cứu và học tập tại khoa Quản trị kinh doanh I thuộc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, em đã rất quan tâm đến vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, sau thời gian thực tập tại Phòng Tổ chức cán bộ Lao động tiền lương của Công ty Viễn thông Quốc tế, em đã lựa chọn đề tài tốt nghiệp: Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Viễn thông Quốc tế.
Xem thêm

104 Đọc thêm

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

MỤC LỤC


MỤC LỤC 1
A LỜI MỞ ĐẦU 2
B PHẦN NỘI DUNG 3
I. Lý luận chung về khủng hoảng kinh tế 3
1. Khái niệm 3
2. Phân loại 3
3. Chu kỳ của khủng hoảng kinh tế 5
4. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế 6
5. Tác động của khủng hoảng kinh tế 7
IIKhủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến Việt Nam 8
1. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng 8
2. Kinh tế Việt Nam trước tác động của khủng hoảng 11
3. Thị trường bất động sản chống trọi với khủng hoảng kinh tế 2008 14
4. Thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 19
5. Hệ thống ngân hàng thương mại trước tác động của khủng hoảng 2008 21
C KẾT LUẬN 28
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

A LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng kinh tế là một hiện tượng có tính chu kì của nền kinh tế. Nó tồn tại và xuất hiện như một phần không thể thiếu. Bởi khủng hoảng không chỉ gây những ảnh hưởng tiêu cực mà đồng thời ở một góc nhìn khác nó cũng tác động tích cực đến nền kinh tế. Đây là lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài này.
Từ đầu thế kỉ XX đến nay, kinh tế thế giới đã xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Trước năm 2008, cuộc khủng hoàng 19291933 được coi là cuộc khủng hoảng lớn nhất và để lại nhiều thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, tháng 9 năm 2008 đã chứng kiến một cơn bão khủng hoảng trầm trọng hơn xuất phát từ Mĩ. Cuộc khủng hoảng này đã làm cho kinh tế thế giới nhanh chóng rơi vào suy thoái, kim ngạch thương mại sụt giảm mạnh, thất nghiệp tăng, lòng tin của các nhà đầu tư giảm sút nghiêm trọng.
Cho đến nay, tức năm 2010, nền kinh tế thế giới vẫn chưa thực sự giải quyết những hậu quả để lại của cuộc khủng hoảng. Vì vậy, khủng hoảng 2008 có thể coi là một vấn đề mang tính thời sự. Cuộc khủng hoảng này không chỉ gây điêu đứng nền kinh tế Mỹ, mà hậu quả của nó còn lan rộng ra khắp các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Việt Nam là một nền kinh tế mở, và đang phát triển. Từ khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tương tác và liên hệ trực tiếp hơn với nền kinh tế toàn cầu nên Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng trên khắp các phương diện: thị trường chứng khoán, bất động sản, ngân hàng, hệ thống tài chính,…
Bài tiểu luận của nhóm được viết nhằm trình bày có hệ thống những vấn đề tổng quan về khủng hoảng kinh tế. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu từ khái niệm của khủng hoảng kinh tế, cho đến nguyên nhân, tác động của nó đến nền kinh tế quốc dân. Từ nền kiến thức cơ bản đó, ta có thể phân tích và hiểu cặn kẽ về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 2008 tới nền kinh tế Việt Nam. Hi vọng rằng qua bài tiểu luận của nhóm, người đọc sẽ thu nhận được cho bản thân những kiến thức cơ bản về khủng hoảng kinh tế một khái niệm cơ bản của kinh tế học cũng như những nhận thức, tri thức về nền kinh tế Việt Nam đã chịu những tàn phá như thế nào trong cơn bão khủng hoảng đó.
B PHẦN NỘI DUNG
I. Lý luận chung về khủng hoảng kinh tế
Xem thêm

31 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SỸ: QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả thì cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Trong các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, rủi ro thanh khoản (RRTK) là một trong những thách thức lớn nhất, nguy hiểm nhất của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất. Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiện thì không chỉ nó ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế xã hội. Chính vì ảnh hưởng lớn, vừa mang tính cục bộ vừa mang tính toàn cầu của loại rủi ro này, quản trị rủi ro thanh khoản trở thành một vấn đề thường trực mang tính sống còn cho ngành ngân hàng cũng như cả nền kinh tế.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Luận án xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng đối với các doanh nghiệp việt nam trong nền kinh tế chuyển đổi

LUẬN ÁN XÂY DỰNG MÔ HÌNH XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI

Nền kinh tế việt nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa.Trong cơ chế thị trường các quan hệ kinh té diễn ra đan xen lẫn nhau dưới sự chi phối của các lực lượng thị trường theo các quy luật kinh tế,trong nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế

84 Đọc thêm

ĐẨY MẠNH QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

ĐẨY MẠNH QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

1.Tính cấp thiết của đề tàiTừ những năm 90 của thế kỷ 20, ở các nước phát triển, nền kinh tế bắt đầu có sự chuyển dịch nhanh, từ nền kinh tế công – nông sang nền kinh tế tri thức. Lý thuyết về quản trị con người cũng dần dần được thay thế bằng lý thuyết quản trị tri thức. Tuy mới ra đời chỉ hơn 10 năm nhưng Quản trị tri thức đang trở thành xu hướng toàn cầu. Vị trí của ngành quản trị non trẻ này đã và đang được khẳng định bởi sự thành công của nhiều Tập đoàn hàng đầu thế giới trong việc ứng dụng. Dựa trên nền tảng triết lý quản trị tri thức, những giá trị vật chất và tinh thần, chỉ số lợi nhuận và thị phần của những công ty áp dụng đã khiến thế giới doanh nghiệp ngưỡng mộ. Tiêu biểu cho những bước tiến thần kỳ đó là các tổ chức hàng đầu như: IBM, Coca – Cola, Microsoft, Google hay Yahoo. Ở Châu Á, chúng ta cũng được chứng kiến những bước nhạy vọt đầy mạnh mẽ với một phương thức quản trị tương tự trên phạm vi quốc gia như Singapor, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Malaysia. Ngày nay, Quản trị tri thức đã trở thành một xu hướng tất yếu và phổ biến ở các nước phát triển trong các loại hình kinh doanh của xã hội từ kinh tế, chính trị, giáo dục, quốc phòng,… Các doanh nghiệp nếu muốn phát triển nhanh và bền vững có thể lấy quản trị tri thức làm chiến lược lâu dài. Quản trị tri thức được thực hiện sẽ giúp cho các doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, có tính kế thừa và có thể truyền dạy trong tất cả các lĩnh vực: quản trị kinh doanh, quản trị hệ thống thông tin, khoa học thông tin và thư viện…v.v Việt Nam – một đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ cũng đã nhận thức được tầm quan trọng và chiến lược của quản trị tri thức. Các đề tài về Quản trị tri thức cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các đề tài này lại chủ yếu xoay quanh Quản trị tri thức trong doanh nghiệp mà chưa đề cập tới quản trị tri thức trong các trường Đại học. Dựa trên những kiến thức đã được học trên ghế nhà trường và thực tế nhận thức được, nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học chúng em quyết định chọn đề tài Đẩy mạnh quản trị tri thức tại các Trường đại học – Nghiên cứu tình huống tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân làm đề tài cho nghiên cứu khoa học của mình.
Xem thêm

85 Đọc thêm

Thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐH ở một số nước thuộc châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam

THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC GDĐH Ở MỘT SỐ NƯỚC THUỘC CHÂU Á VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, ngày nay nước ta đang phải đối mặt với sự thiếu hụt đội ngũ nhân lực có nghiệp vụ, tay nghề cao và đang dư thừa đội ngũ những người có trình độ nghiệp vụ, tay nghề thấp, không phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, tác động của xu thế toàn cầu hóa giáo dục, sự phát triển của nền kinh tế tri thức, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực và tính cạnh tranh sẽ ngày càng tăng.
Để đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế, GDĐH bắt buộc phải gia tăng quy mô, trong khi đó nguồn lực lại hạn hẹp khiến cho chất lượng GDĐH bị đe dọa. Một trong những phương hướng và giải pháp là đa dạng hóa các hình thức đào tạo đại học kết hợp với đa phương hóa cũng như tăng cường nguồn tài chính cho đào tạo đại học. Sự đóng góp của nguồn vốn FDI vào GDĐH ngày càng trở nên quan trọng trong xu thế toàn cầu hóa giáo dục hiện nay.
Theo đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường GDĐH VN là một trong những điểm đến triển vọng cho đầu tư, khi hệ thống các trường đại học trong nước chưa đáp ứng đủ yêu cầu về cả số lượng và chất lượng cho sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Các nhà cung ứng giáo dục đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu giáo dục, mở rộng thị trường sang khu vực các quốc gia dầu mỏ và khu vực châu Á trong đó có Việt Nam.
Trong khi đó, hình thức kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào GDĐH lại đang rất khiêm tốn. Tính đến đầu năm 2012, chúng ta mới thu hút được 4 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 67,9 triệu USD, quy mô vốn trung bình trên một dự án khoảng 17 triệu USD, cho lĩnh vực GDĐH. So với con số hơn 100.000 sinh viên Việt Nam đi du học tại 49 quốc gia trên thế giới vào năm 2011 và tổng số lượng sinh viên theo học tại các trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài vào khoảng 7.800 sinh viên, cho thấy tiềm năng phát triển của lĩnh vực này còn đang rất lớn.
Phần lớn các dự án này đầu tư vào đào tạo một số lĩnh vực đào tạo mang tính “thời thượng” giúp sinh viên dễ dàng tìm được việc làm sau khi ra trường, nhưng về lâu dài sẽ không có lợi cho mục tiêu phát triển chung của đất nước và của hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam.
Trong khi đó các nước trong khu vực châu Á đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc thu hút FDI vào GDĐH và đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư có hiệu quả, đang trở thành những điểm đến sôi động nhất toàn cầu về sự phát triển của các trường đại học FDI như Singapore, Trung Quốc, Các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Malaysia...
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước và áp dụng cho thực tế tại Việt Nam, nên đề tài “Thu hút FDI vào lĩnh vực GDĐH ở một số nước thuộc châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam” được chọn để viết luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh.
Xem thêm

125 Đọc thêm

Phát triển nền kinh tế tri thức ở trung quốc và bài học kinh nghiệm đối với việt nam

PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Vào cuối thế kỷ XX, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất phát triển một cách mạnh mẽ, trong đó tri thức khoa học, công nghệ và thông tin ngày càng đóng vai trò quyết định đối với nền sản xuất trên quy mô toàn cầu. Cũng chính từ đây, trên thế giới bắt đầu xuất hiện nhiều ngành kinh tế mới, các lĩnh vực quản lý kinh tế mới... Trước những biến đổi đó của nền kinh tế thế giới, các nhà nghiên cứu kinh tế đã sử dụng thuật ngữ “kinh tế tri thức” (Knowledgebased economy) hay “nền kinh tế tri thức” để nói về nền kinh tế mới này. Có thể nói rằng đây là một nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở đẩy nhanh sự phát triển của khoa học, công nghệ trên khắp các lĩnh vực trong đó các lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế tri thức là: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng và công nghệ hàng không vũ trụ… Tuy nền kinh tế tri thức mới được hình thành nhưng nó đã tạo nên bước đột phá đối với sự phát triển kinh tế xã hội loài người.
Sự hình thành nền kinh tế tri thức ở một số nước phát triển trên thế giới như: Mỹ, Pháp, Nhật Bản và các nước EU… đã đóng một vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế và xã hội ở những nước này. Thậm chí nhiều quốc gia kể cả các nước kém phát triển, đã và đang tích cực vạch ra chiến lượng tiếp cận, ứng xử và tranh thủ các thời cơ và thách thức do thời đại kinh tế tri thức mang lại. Biểu hiện rõ nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Trong đó điển hình là Trung Quốc. Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc hơn hai thập kỷ qua, đã làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước Trung Quốc tăng mạnh, khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, thông tin v.v… đều phát triển rất nhanh, xây dựng được nhiều khu phát triển công nghệ cao, xuất hiện hàng loạt xí nghiệp kỹ thuật cao tập trung tri thức, rất nhiều bộ phận kỹ thuật trong một số lĩnh vực đã đạt được trình độ tiên tiến. Từ đó đã giúp Trung Quốc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa vị thế kinh tế, chính trị của Trung Quốc không ngừng được cải thiện trên trường quốc tế.
Việt Nam là một nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu “…rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức” 7, tr.8788. Thực chất quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và chuyển từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức. Hai nhiệm vụ ấy phải được thực hiện đồng thời, lồng ghép vào nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau, điều đó có nghĩa là phải nắm bắt các tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức. Nếu không sớm xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, Việt Nam khó thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Mặt khác, đối với nước ta đang trong thời kỳ quá độ từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa với mục đích cuối cùng là tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội mà chúng ta hướng tới, nền kinh tế của nó có một số đặc trưng cơ bản như: Lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao, cao hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Lực lượng sản xuất đó dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại nhất. Đó là một nền sản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với những yêu cầu của khoa học hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm cho sự phát triển bền vững; Chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu; Sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội. Trong điều kiện như vậy thì kinh tế hàng hóa mà giai đoạn phát triển cao là kinh tế thị trường không thể đáp ứng được yêu cầu về một nền kinh tế như trên. Do đó, chúng ta cần thiết phải xây dựng được một nền kinh tế đáp ứng được yêu cầu của xã hội mới, nền kinh tế đó chỉ có thể là nền kinh tế dựa vào tri thức hay nền kinh tế tri thức.
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới, phát triển nền kinh tế tri thức là một tất yếu khách quan và là một trong những nội dung trọng tâm của chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Không nằm ngoài xu thế đó, Việt Nam cần phải hướng tới từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Với yêu cầu đó, những kinh nghiệm đón bắt và xây dựng nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc là bài học bổ ích có thể tham khảo cho nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc sẽ có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Từ đó làm cơ sở để vận dụng vào thực tiễn từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta đạt hiệu quả cao. Đó là lý do để vấn đề “Phát triển nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” được chọn làm đề tài của luận văn thạc sỹ kinh tế này.
Xem thêm

114 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ - ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ - ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đã và đang có những thay đổi quan trọng: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức; xu thế toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế nhưng cũng xuất hiện không ít những vấn đề gay gắt, mang tính toàn cầu. Một trong những vấn đề đó là đói, nghèo. Nó tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của các chế độ xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc.

114 Đọc thêm

QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

giữa hai nước phát triển ngày càng mạnh mẽ, sôi động và đi vào thế ổn địnhhơn. Hiện nay Nhật Bản đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Namsau Mỹ với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2005 đạt 8.504 triệu USD, lànhà cung cấp ODA lớn nhất của Việt Nam với lượng viện trợ cam kết tính đếnnăm 2005 đạt 11 tỷ USD, chiếm 30% tổng khối lượng ODA mà cộng đồng quốctế dành cho Việt Nam. Bên cạnh đó Nhật còn đóng vai trò là nhà đầu tư FDI lớnthứ ba của Việt Nam sau Singapore và Đài Loan với tổng số vốn đầu tư đăng kýtính đến tháng 8/2006 đạt 6,8tỷ USD nhưng lại đứng đầu với số vốn thực hiện:4,7 tỷ USD. Hiện tại Việt Nam đang đón chờ làn sóng đầu tư lớn thứ hai từNhật Bản. Lần này là từ các công ty vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực lắpráp, sản xuất thiết bị, các công ty phụ trợ cho các tập đoàn lớn vốn đã kinhdoanh thành công tại Việt Nam trong thời gian qua. Chuyến thăm chính thứcKhoá luận tốt nghiệpcủa Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng sang Nhật Bản từ ngày 18-22/10/2006 vừaqua đã nâng mối quan hệ giữa hai nước vốn đã tốt đẹp hiện nay lên một tầm caomới. Với việc là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên mà tân Thủ tướng Nhật ôngShinzo Abe tiếp đón tại xứ sở hoa anh đào, là vị Thủ tướng duy nhất của nămđược mời đến chào Nhật Hoàng Akihito, là vị Thủ tướng Việt Nam đầu tiênphát biểu trước Quốc hội Nhật Bản đã cho thấy mối quan tâm đặc biệt của NhậtBản trong quan hệ với Việt Nam nói chung và trong quan hệ kinh tế - thươngmại nói riêng.Trước bối cảnh gia tăng xu thế toàn cầu hoá; nền kinh tế công nghiệphiện đại đã vào giai đoạn chín muồi để nhường chỗ cho một nền kinh tế mớinền kinh tế tri thức; tiến trình liên kết khu vực đang diễn ra mạnh mẽ tại cácnước Đông á với sự xuất hiện của các liên kết song phương, liên kết đa phươngvới vai trò trung tâm của ASEAN, sự lớn mạnh nhanh chóng của Trung Quốctrên tất cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật đang đe doạ vị trí dẫnđầu trong mô hình “đàn sếu bay” của Nhật; tương lai thành công của khu vực
Xem thêm

20 Đọc thêm

NỀN KINH TẾ TRI THỨC XU THẾ MỚI CỦA XÃ HỘI THẾ KỈ XXI VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA VIỆT NAM

NỀN KINH TẾ TRI THỨC XU THẾ MỚI CỦA XÃ HỘI THẾ KỈ XXI VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA VIỆT NAM

1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ thập kỉ 80 đến nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu,... nền kinh tế thế giới đang biến đổi một cách sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động. Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ.
Chỉ trong một thời gian ngắn mà những khái niệm như “kinh tế thông tin”, “kinh tế tri thức” tưởng như xa lạ với chúng ta đã nhanh chóng trở thành hiện thực trên phạm vi toàn cầu, và đối với nước ta đòi hỏi hội nhập vào nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu đó đã trở thành điều không thể cưỡng lại. Kinh tế tri thức chính là cánh cửa mở ra cho các nền kinh tế đang phát triển tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết đón bắt và tận dụng cơ hội. Ngược lại, kinh tế tri thức cũng tạo ra thách thức lớn hơn bao giờ hết đối với các nước phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu, đó là khoảng cách ngày càng gia tăng về trình độ phát triển với các nước phát triển. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định “…tranh thủ ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”.
Là một nền kinh tế mới đang trong quá trình định hình, kinh tế tri thức trở thành đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và hoạch định chính sách trong và ngoài nước. Nhiều vấn đề xoay quanh được đặt ra như: Nền kinh tế tri thức thực chất là nền kinh tế như thế nào? Những đặc trưng của nó là gì? Việt Nam đã tiếp cận nền kinh tế tri thức ra sao? Để có thể tạo dựng hoặc tiến sâu hơn vào nền kinh tế tri thức, phát triển kinh tế tri thức nước ta phải làm những gì?... Những câu hỏi này thực sự là những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng và cấp thiết, cần được luận giải thấu đáo, nhất là trong khi nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa và từng bước phát triển kinh tế tri thức. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu và làm rõ phần nào những nội dung nêu trên, em quyết định chọn đề tài: “Nền kinh tế tri thứcxu thế mới của xã hội thế kỉ XXI và khả năng tiếp cận của Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này, em mong muốn hệ thống hoá bước đầu những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế tri thức, rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam về phát triển kinh tế tri thức đồng thời góp phần đưa ra quan điểm đánh giá về tình hình tiếp cận kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức tại Việt Nam
3. Phạm vi nghiên cứu
Vì đây là một đề tài rộng nên khoá luận này chỉ giới hạn trong khuôn khổ mục đích nghiên cứu nêu trên. Trong từng vấn đề cụ thể, khoá luận cũng không thể đề cập tất cả mọi khía cạnh mà chỉ tập trung vào những khía cạnh mà em đánh giá là quan trọng hơn cả.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là: liệt kê, thống kê, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgic và lịch sử với tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về sự xuất hiện và những nghiên cứu chung về kinh tế tri thức
Chương II: Tình hình tiếp cận nền kinh tế tri thức tại Việt Nam
Chương III: Quan điểm và giải pháp phát triển nền kinh tế tri thức tại Việt Nam
Trong quá trình thực hiện khoá luận, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ quý báu và tạo điều kiện thuận lợi từ các thầy cô giáo trong Khoa Kinh Tế Ngoại Thương đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Duy Liên.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.
Sinh viên
Phạm Thục Quyên
Xem thêm

90 Đọc thêm

Đặc trưng của nền kinh tế tri thức và khái quát

ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ KHÁI QUÁT

Đặc trƣng chủ yếu của nền kinh tế tri thức : Thứ nhất, Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế hậu công nghiệp; Thứ hai, Công nghệ cao, ICT được ứng dụng rộng rãi và đóng vai trò đặc biệt quan trọng; Thứ ba, Nền kinh tế tri thức chuyển dịch cơ cấu theo hướng gia tăng nhanh các ngành có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; Thứ tư, Tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là lực lượng sản xuất trực tiếp và quyết định; Thứ năm, Có cấu trúc mạng lưới toàn cầu; Thứ sáu, Tốc độ biến đổi rất nhanh của công nghệ và nhanh chóng ứng dụng trong các ngành sản xuất; Thứ bẩy, Đầu tư mạo hiểm có xu hướng gia tăng mạnh trong nền kinh tế tri thức; Thứ tám, Đặc tính, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức thay đổi căn bản
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tiểu luận cao học KTQT hội nhập kinh tế quốc tế và những thách thức đối với việt nam

TIỂU LUẬN CAO HỌC KTQT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất. Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trị của các nước nói riêng và của thế giới nói chung. Đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi. Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU, AFTA...và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại. Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Bởi một nứoc mà đi ngược với xu hướng chung của thời đại sẽ trở nên lạc hậu và bị cô lập, sớm hay muộn nước đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế. Hơn thế nữa, một nước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt...thì việc chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Trong quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời cơ phát triển kinh tế. Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập. Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách. Nhưng theo chủ trương của Đảng: “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước “, chúng ta sẽ khắc phục những khó khăn để hoàn thành sứ mệnh. Hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan đối với Việt Nam. Em xin chọn đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế và những thách thức đối với Việt Nam. Đây là đề tài rất sâu rộng, mang tính thời sự. Đã có rất nhiều nhà kinh tế đề cập đến vấn đề này.
Xem thêm

32 Đọc thêm

Phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam – Vietcombank

PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – VIETCOMBANK

1.1. Lý do chọn đề tàiNền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình hội nhập mạnh mẽ với khu vực và toàn cầu. Hội nhập quốc tế đã và đang trở thành yêu cầu bức xúc, cấp thiết đối với mỗi quốc gia trong điều kiện xu thế toàn cầu hóa mọi hoạt động thương mại, dịch vụ. Hội nhập quốc tế mang lại những cơ hội to lớn nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của ngân hàng Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng.Ngân hàng có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Đó là điều tiết và cung ứng tiền cho nền kinh tế, kích thích sản xuất, thu hút nguồn vốn nhỏ lẻ trong nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng xã hội, cung cấp tài chính, tư vấn, môi giới các chủ thể …
Xem thêm

2 Đọc thêm

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

Khu vực hóa và toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã và đang tham gia một cách tích cực vào các tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp định đối tác kinh tế với các nước trong khu vực. Riêng đối với TPP, đã kết thúc tiến trình đàm phán ngày 04102015, dự kiến sẽ ký kết trong năm 2015. Với phạm vi rộng và mức độ cam kết sâu, TPP còn được gọi là một hiệp định của thế kỷ 21(5 đặc điểm khiến TPP trở thành hiệp định mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21: (i) Tiếp cận thị trường một cách toàn diện thông qua việc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan về căn bản đối với tất cả các thương mại hàng hóa và dịch vụ. Điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động, người tiêu dùng của các nước thành viên; (ii) Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết hội nhập nhằm tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng của các nước trong khu vực; (iii) Giải quyết các thách thức đối với thương mại thông qua việc thúc đẩy đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh; (iv) Hiệp định TPP bao gồm các yếu tố mới được đưa vào để đảm bảo rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại; (v) Là nền tảng cho hội nhập khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á Thái Bình Dương.). TPP được kỳ vọng đem lại nhiều cơ hội lớn cho Việt Nam, tuy nhiên cũng sẽ mang đến không ít thách thức đối với nền kinh tế.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến việc cải thiện năng lực kinh tế Việt Nam

TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ: TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN NĂNG LỰC KINH TẾ VIỆT NAM

Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến việc cải thiện năng lực kinh tế Việt Nam. Mục đích nghiên cứu Hệ thống hoá cơ sở lý luận về toàn cầu hóa; Phân tích tác động tích cựu và thách thức đối với việc cải thiện năng lực kinh tế Việt Nam do tác động của toàn cầu hóa kinh tế mang lại. Đưa ra mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến việc cải thiện năng lực kinh tế Việt Nam; Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ để cập tới phân tích tác động của toàn cầu hoá đến năng lực nền kinh tế xét trên khía cạnh các nguồn lực cho việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam.Kết cấu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN NĂNG LỰC CỦA NỀN KINH TẾChương 2: TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN NĂNG LỰC KINH TẾ VIỆT NAMChương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN NĂNG LỰC KINH TẾ VIỆT NAM
Xem thêm

33 Đọc thêm

Tiểu luận triết học SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Tiểu luận triết học SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC VEDANTA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Nền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô tận về vũ trụ và nhân sinh, cái nôi của nền triết học nhân loại. Trong đó, chúng ta không thể không nói đến nền triết học Ấn Độ cổ đại, đã hình thành và phát triển, vừa mang tính đa dạng vừa mang tính thống nhất, tạo ra sự sống động ,muôn màu, muôn vẻ của nền triết học nhân loại.
Xem thêm

16 Đọc thêm