QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT MỸ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT MỸ":

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT-MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

Qúa trình quốc tế hoá đã tạo nên những quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, tạo ra những thay đổi lớn lao trên thế giới. Trong bức toàn cảnh đó, hoạt động thương mại quốc tế đã và đang nổi lên như một vấn đề trọng tâm. Mặc dù thương mại quốc tế ra đời từ cách đây rất lâu song chưa bao giờ lịch sử lại chứng kiến tác động to lớn của nó trên phạm vi toàn cầu như hiện nay. Nó có thể biến một nước nghèo nàn, lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển, đồng thời có thể làm cho một quốc gia độc lập trở nên bị phụ thuộc... Ngày nay, khi không một quốc gia nào có thể phát triển tách biệt khỏi quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới, thương mại quốc tế lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Thương mại quốc tế với xu thế tự do hoá trên toàn cầu chính là cái nôi sản sinh ra các Hiệp định Thương mại đa phương ,khu vực và song phương. Đặc biệt, Hiệp định Thương mại song phương đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia.
Trong các Hiệp định Thương mại Việt Nam ký kết với hơn 60 nước trên thế giới, Hiệp định song phương Việt-Mỹ gồm 150 trang, được xem là có quy mô lớn nhất. Đây cũng là một Hiệp định toàn diện nhất từ trước đến nay giữa Mỹ và các nước đang phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp Mỹ rất lạc quan về bản Hiệp định này với niềm tin tưởng rằng Hiệp định sẽ mang lại cho họ những cơ hội chưa từng có trong việc tiếp cận với thị trường Việt Nam.Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ đã mở ra một chương mới trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. Đây là cơ sở pháp lý ban đầu để hai bên buôn bán, quan hệ trực tiếp với nhau. Song đây cũng là một cuộc chơi mà cơ hội và thách thức đan xen phức tạp. Các doanh nghiệp non trẻ Việt Nam liệu có thể thích ứng ngay được với thị trường Mỹ hay không?
Xem thêm

31 Đọc thêm

Ðề: Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Đan Mạch, quá khứ, hiện tại và tương lai

ÐỀ: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – ĐAN MẠCH, QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Tuy là một quốc gia Bắc Âu nhưng vị thế của Đan Mạch trong Liên minh Châu Âu (EU Eutopear Union) và trên trường quốc tế rất cao. Cùng với Thuỵ Điển và Phần Lan, Đan Mạch được coi là “mô hình xã hội dân chủ” của chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu và trên toàn thế giới. Điều đó xuất phát bởi bởi chính sách đối ngoại tích cự, độc lập; sự phát triển kinh tếxã hội ổn định; đời sống của người ân ở mức cao (cả về vật chất lẫn tinh thần)
Đan Mạch là một trong số rất ít các quốc gia theo chế độ tư bản chủ nghĩa thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (năm 1973). Kể từ đó đến nay, quan hệ hợp tác giữa hai nước không ngừng được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực (Ngoại giao, kinh tế, văn hoá, giáo dục ). Đan Mạch có đóng góp rất nhiều cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước sau năm 1975. Quan hệ mọi mặt tốt đẹp giữa hai nước trong thời gian qua chứng tỏ một điều: khoảng cách địa lý, sự khác biệt về chế độ chính trị không phải là vấn đề quá quan trọng trong quan hệ quốc tế.
Trong mối quan hệ tốt đẹp này, đặc biệt nói lên là quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế, văn hoá, giáo dục vẫn chưa xứng tầm. Hy vọng rằng, trên cơ sở quan hệ ngoại giao tốt đẹp, các mối quan hệ hợp tác về kinh tế, chính trị, văn hoá, chính trị sẽ không ngừng được cải
Xem thêm

12 Đọc thêm

Quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước phương Tây dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mạng

QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI VUA GIA LONG VÀ VUA MINH MẠNG

I. Vấn đề ngoại giao Việt Nam giữa các nước phương Tây thời vua Gia Long (1802 – 1820)..........................................................................................1 1.Bối cảnh quốc tế, khu vực và đường lối ngoại giao của Gia Long đối với các nước phương Tây........................................................................12.Quan hệ của triều Nguyễn với các nước phương Tây dưới thời vua Gia Long (1802 – 1820).................................................................................23.Vấn đề đạo Thiên Chúa trong quan hệ của triều Nguyễn với các nước phương Tây thời Gia Long (1802 – 1820)..............................................4II. Quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước phương Tây dưới thời vua Minh Mạng (1820 – 1840)...............................................................................4
Xem thêm

25 Đọc thêm

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT-MỸ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP

Qúa trình quốc tế hoá đã tạo nên những quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, tạo ra những thay đổi lớn lao trên thế giới. Trong bức toàn cảnh đó, hoạt động thương mại quốc tế đã và đang nổi lên như một vấn đề trọng tâm. Mặc dù thương mại quốc tế ra đời từ cách đây rất lâu song chưa bao giờ lịch sử lại chứng kiến tác động to lớn của nó trên phạm vi toàn cầu như hiện nay. Nó có thể biến một nước nghèo nàn, lạc hậu thành một nước công nghiệp phát triển, đồng thời có thể làm cho một quốc gia độc lập trở nên bị phụ thuộc... Ngày nay, khi không một quốc gia nào có thể phát triển tách biệt khỏi quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới, thương mại quốc tế lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Thương mại quốc tế với xu thế tự do hoá trên toàn cầu chính là cái nôi sản sinh ra các Hiệp định Thương mại đa phương ,khu vực và song phương. Đặc biệt, Hiệp định Thương mại song phương đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia.
Trong các Hiệp định Thương mại Việt Nam ký kết với hơn 60 nước trên thế giới, Hiệp định song phương Việt-Mỹ gồm 150 trang, được xem là có quy mô lớn nhất. Đây cũng là một Hiệp định toàn diện nhất từ trước đến nay giữa Mỹ và các nước đang phát triển. Cộng đồng doanh nghiệp Mỹ rất lạc quan về bản Hiệp định này với niềm tin tưởng rằng Hiệp định sẽ mang lại cho họ những cơ hội chưa từng có trong việc tiếp cận với thị trường Việt Nam.Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ đã mở ra một chương mới trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. Đây là cơ sở pháp lý ban đầu để hai bên buôn bán, quan hệ trực tiếp với nhau. Song đây cũng là một cuộc chơi mà cơ hội và thách thức đan xen phức tạp. Các doanh nghiệp non trẻ Việt Nam liệu có thể thích ứng ngay được với thị trường Mỹ hay không? Hơn nữa, thương trường là chiến trường, khi cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau đang ngày càng trở nên gay gắt nhằm chiếm lĩnh thị trường Mỹ thì các doanh nghiệp Việt Nam lại càng phải đối đầu với nhiều thách thức hơn.
Xem thêm

28 Đọc thêm

20 MUOI NAM QUAN HE NGOAI GAIO VIET MY 2

20 MUOI NAM QUAN HE NGOAI GAIO VIET MY 2

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆTMĨ TRONG LỊCH SỬ 1
1.1. QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRƯỚC NĂM 1954 1
1.1.1 Cha đẻ của nước Mĩ tìm giống lúa xứ Đàng Trong 1
1.1.2. Bản hiệp định thương mại dở dang 1
1.1.3 Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Bùi Viện 2
1.1.4 Trong chiến tranh Đông Dương (19451954) 3
1.2. QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG MĨ ( 1954 – 1975) 5
1.3. QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ GIAI ĐOẠN (19761995) 6
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT MĨ TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY 9
2.1. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC 9
2.1.1. Xu thế phát triển lấy kinh tế trọng điểm 10
2.1.2. Các nước lớn điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng xây dựng quan hệ bạn bè chiến lược ổn định và cân bằng hướng về lâu dài. 10
2.1.3. Sự phát triển nhanh chóng của nền thương mại thế giới. 11
2.1.4. Tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới được tăng cường mạnh mẽ do quá trình quốc tế hóa rất nhanh của nền tài chính thế giới. 12
2.2. LỢI ÍCH CỦA HAI BÊN KHI THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO 13
2.2.1. Lợi ích của Mỹ khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. 13
2.2.2. Lợi ích của Việt Nam khi quan hệ với Mỹ 15
2.3. QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ 16
2.4. NHỮNG NỖI BẬT SAU KHI BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ 17
2.4.1. Về chính trị ngoại giao: 17
2.4.2. Kinh tế và Thương mại 20
2.4.2.1. Tình hình Kinh tế thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn (1995 – 2000) 20
2.4.2.2. Tình hình Kinh tế thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2000 đến nay 23
2.4.3. Quốc phòng và An ninh 24
2.4.4.Văn hóa – xã hội 26
2.4.4.1 Giáo dục 26
2.4.4.2. Y tế 26
2.4.4.3. Du lịch và Thể thao 27
2.4.5. Khoa học – Công nghệ 28
2.5. TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – MĨ TRONG TƯƠNG LAI 29
Xem thêm

29 Đọc thêm

Đề tài Chính sách tiền tệ thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam

ĐỀ TÀI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

Đề tài Chính sách tiền tệ thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Việt NamSau hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới, đa dạng hoá quan hệ ngoại giao và kinh tế, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, chúng ta đã giành được những kết quả đáng khích lệ trong chương trình ổn định hoá nền kinh tế tạo tiền đề đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế đất nước

30 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC ANQG CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC ANQG CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Khu vực mà Mỹ chú ý nhất đến vấn đề này là khu vực Châu Á - TháiBình Dương. Mỹ nhấn mạnh “sẽ tiếp tục hỗ trợ nhằm tăng cường an ninh, đẩymạnh phát triển và thúc đẩy nền dân chủ ở khu vực Châu Á - Thái BínhDương. Đây là một nội dung quan trọng nhằm làm sâu thêm mối quan hệ vớiViệt Nam, Inđônêsia và Malaysia. Điển hình như nội dung “hỗ trợ Myanmarđể làm sâu sắc thêm và duy trì cải cách, bao gồm củng cố nền dân chủ và tiếnhành hòa giải dân tộc”. Đặt ra yêu cầu các quốc gia phải thực hiện các “giátrị” theo tiêu chuẩn của Mỹ thì mới được “hỗ trợ phát triển”.- Về vấn đề “trật tự quốc tế”, Chiến lược 2015 chỉ ra 07 phương thứcmang tính tổng hợp (cả về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao…) để thựchiện có hiệu quả hơn vai trò “lãnh đạo” của Mỹ trong một trật tự quốc tế đãcó nhiều thay đổi. Trong đó, nhấn mạnh “tăng cường xây dựng liên kết đadạng hoá, phát huy vai trò lãnh đạo của Mỹ ở Liên hợp quốc và các tổ chứcđa phương khác bằng cách tăng cường và nâng cấp các chuẩn mực, quy tắc,tiêu chuẩn và cơ chế có liên quan”.Chiến lược đưa ra phương hướng “tận dụng sự mở cửa của Cuba để tăngcường tiếp xúc, thúc đẩy một thế giới Tây bán cầu thịnh vượng, an ninh vàdân chủ” với mục đích thực sự là tác động, chuyển hóa dần nội bộ Cuba,hướng lái theo Mỹ, dần đi đến xóa bỏ hệ thống XHCN trên thế giới.Mỹ tiếp tục duy trì phương thức giải quyết những vấn đề trong mối quanhệ quốc tế trên những cơ sở các quy tắc “cộng đồng quốc tế tuân thủ luậtpháp, hiệp ước và thỏa thuận quốc tế”. Tuy nhiên, Chiến lược 2015 không hềnói đến việc sẽ làm thế nào với những nước không tuân thủ nguyên tắc, khôngthỏa hiệp và vội vã hành động không kiềm chế. Mặc dù Mỹ đề cập tới việctạm dừng biện pháp quân sự đơn phương, nhưng không hoàn toàn bác bỏ việcđánh đòn phủ đầu khi tuyên bố Mỹ sẽ bảo lưu sự lựa chọn hành động đơnphương trong những tình huống cấp thiết.8
Xem thêm

Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ (1954 – 1975)

CHUYÊN ĐỀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ (1954 – 1975)

rộng lớn của Trung Quốc là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam.Nhân dân Trung Quốc hạ quyết tâm, đã sẵn sàng về mọi mặt, sẽ có những hànhđộng bất cứ lúc nào và ở đâu, mà nhân dân hai nước Việt - Trung cho là cầnthiết để cùng nhau đánh bại xâm lược Mỹ" [7,267]. Ngoài ra Trung Quốc cònviện trợ cho ta những vũ khí, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm,thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiện vận tải, một số xe quân sự,pháo và đạn pháo, theo thoả thuận giữa ta và bạn, một số đơn vị công binh vàpháo binh của Trung Quốc đã sang giúp Việt Nam nâng cấp, sữa chữa, mở rộngthêm và bảo vệ các tuyến đường giao thông trên bộ thuộc các tỉnh biên giới giápTrung Quốc. Từ cuối năm 1966 đến đầu 1969, một số chi bộ phòng không củaquân đội Trung Quốc đã luân phiên nhau sang tham gia chiến đấu chống đếquốc Mỹ, bảo vệ các tỉnh phía Bắc Việt Nam giáp biên giới Việt - Trung. Khi sựbất hoà trong phong trào cộng sản quốc tế và các nước xã hội chủ nghĩa, nhất làgiữa Liên Xô - Trung Quốc đã ảnh hưởng cuộc kháng chiến của nhân dân ta.Buổi đầu (1954 – 1960), Liên Xô, Trung Quốc đều không muốn Việt Nam phátđộng đấu tranh võ trang. Đi vào chiến tranh, Liên Xô muốn Việt Nam ngồi vàođàm phán sớm với Mĩ để giữ hoà hoãn Xô – Mĩ. Từ 1967 – 1968, Việt Nam mởcục diện “vừa đánh vừa đàm” với Mĩ thì Trung Quốc phản đối quyết liệt. TrungQuốc chống thống nhất hành động, trái lại Liên Xô thúc đẩy mạnh hành độngthống nhất để đả kích Trung Quốc. Giai đoạn sau cả hai nước đều hoà hoãn vớiMĩ và đàm phán với Mĩ về vấn đề Việt Nam. Mĩ ra sức lợi dụng để ép hai nướcgiảm viện trợ cho Việt Nam và thúc Việt Nam sớm thoả hiệp với MĩTrong thế trận quanh co, lắt léo ấy, Việt Nam đứng vững trên lập trườngđộc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, chọn cách ứng xử khôn khéo, tế nhị để tranhthủ được cả hai nước. Chúng ta chân thành đoàn kết với cả hai, tôn trọng lợi íchcủa hai nước, cố gắng giữ thế và quan hệ cân bằng, không ngả về bên này chốngbên kia. Trên những vấn đề gai góc và nhạy cảm, chúng ta tìm cách ứng xử saocho khỏi mất lòng bên này hoặc bên kia. Việt Nam không tham gia Hội nghị 75
Xem thêm

21 Đọc thêm

QUAN HỆ SÁCH PHONG VÀ TRIỀU CỐNG CỦA NHÀ LÝ VỚI TỐNG TRUNG HOA

QUAN HỆ SÁCH PHONG VÀ TRIỀU CỐNG CỦA NHÀ LÝ VỚI TỐNG TRUNG HOA

Việt Nam là một quốc gia ở khu vực Đông Nam Á. Có vị trí địa lý thuận lợi, giàu tài nguyên thiên nhiên. Dân tộc Việt Nam có truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời. Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, chống lại mọi thế lực thù địch. Nhờ vậy mà dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn, anh dũng, kiên cường bất khuất trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cũng như thiên tai, dịch bệnh.Có truyền thống đoàn kết yêu thương, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, trong sản xuất đời sống cũng như xây dựng xã hội..v.v.. Đó là nền tảng cho sự ra đời của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là ngoại giao. Hoạt động ngoại giao là hoạt động đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đứng trước một nước láng giềng mạnh như Trung Hoa để giữ được nước không phải là dễ. Cần phải áp dụng chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo. Coi trọng hòa hiếu với láng giềng là lĩnh vực quan trọng trong chính sách ngoại giao. “Thần phục thiên triều”. “Trong xưng đế ngoài xưng vương”, đây là một chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, xuyên suốt trong lịch sử ngoại giao lúc bấy giờ. Lịch sử ngoại giao Việt Nam bắt nguồn từ khi nước ta giành được độc lập. Từ họ Khúc đến thế kỷ X, với sự kiện “Khúc Hạo sai Khúc Thừa Mỹ làm hoan hảo sứ sang Quảng Châu thăm dò tình hình”. Không chỉ các nhà sử học Việt Nam thừa nhận như vậy mà nhà Việt Nam học Nhật Bản. Viện sĩ Yamamoto Tatsuro phó chủ tịch viện Hàn lâm học Nhật Bản Trong “ lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ( biên soạn 1950) cũng lấy sự kiện kể trên làm mốc mở đầu cho quan hệ ngoại giao Việt Nam. Từ thời Đinh quan hệ ngoại giao luôn là mặt trận quan trọng hỗ trợ cho thắng lợi trên các lĩnh vực : chính trị, quân sự. Đến thời Tiền Lê ngoại giao Việt Nam đã tiến thêm một bước. Sau chiến thắng ngoại xâm về mặt quân sự Lê Hoàn đã dùng văn hóa và ứng xử ngoại giao khiến sứ thần nhà Tống (Lý Giác) phải tâm phục. Thừa nhận ngoài nền văn minh Hoa Hạ còn có văn minh Đại Việt. Đến thời nhà Lý ngoại giao đã được nâng lên hàng chiến lược. Việc thần phục thiên triều thể hiện các vua nhà Lý xin được thiên triều “phong vương” và “triều cống”. Vì vậy nghiên cứu vềquan hệ “sách phong” và “triều cống”của triều Lý với Tống “Trung Hoa” nhằm làm rõ hơn quan hệ ngoại giao hai nước Tống và Đại Việt.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Nghệ thuật vừa đánh vừa đàm

NGHỆ THUẬT VỪA ĐÁNH VỪA ĐÀM

Trong chính sách đối ngoại, quân sự và ngoại giao có một mối quan hệ vô cùng mật thiết, một sự gắn bó khăng khít, chặt chẽ với nhau. Chiến thắng trên mặt trận quân sự sẽ đưa lại những ưu thế và thuận lợi trên bàn đàm phán, ngược lại chiến thắng trên bàn đàm phán sẽ lại là động lực cổ vũ cho mặt trận quân sự, đưa chiến thắng trên chiến trường lên một tầm cao mới. Nhìn nhận quân sự và ngoại giao là hai mặt trận có mối quan hệ biện chứng, Đảng và Chính phủ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đưa ra kế sách “vừa đánh vừa đàm” đầy sáng tạo. “Vừa đánh vừa đàm” chính là nghệ thuật đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao. Chính sách “vừa đánh vừa đàm” linh hoạt thể hiện đường lối đấu tranh khôn ngoan của một dân tộc bé nhỏ như Việt Nam chống lại sự xâm lược của một đế quốc hùng mạnh với tiềm lực quân sự hùng hậu như Mỹ. Lịch sử đã cho thấy trong những cuộc chiến không cân sức giữa một quốc gia nhỏ yếu chống lại một nước lớn thì việc đè bẹp quân xâm lược bằng sức mạnh quân sự tổng hợp là điều không thể. Vì vậy, đấu tranh “giành thắng lợi từng bước” là sự lựa chọn thông minh hơn cả. Thông thường trong chiến tranh, mặt trận chính trị quân sự mang tính chất quyết định nhưng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đảng ta đã nâng ngoại giao lên thành một mặt trận có vai trò chiến lược, song hành cùng những bước tiến của ta trên chiến trường. Đã có không ít quan điểm cho rằng đàm sẽ cản trở đánh, chỉ dùng biện pháp quân sự chính trị mới có thể buộc Mỹ phải chấp nhận những yêu cầu của ta; và cũng có không ít chính trị gia đưa ra quan điểm rằng đánh sẽ phá vỡ đàm, Việt Nam không thể thắng Mỹ nên sớm đi vào đàm phán nhưng lịch sử đã chứng minh những quan điểm đó là không chính xác. Cuộc đàm phán Pari 19681973 là đỉnh cao của nghệ thuật “vừa đánh vừa đàm”. Tại bàn hội nghị Pari, Việt Nam không chấp nhận những gì do các nước lớn đã dọn sẵn như ở hội nghị Giơnevơ 1954. Bằng chủ trương đánh kết hợp đàm, chúng ta đã biết chớp thời cơ để kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất cho dân tộc.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế đương đại

NGOẠI GIAO VĂN HÓA TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐƯƠNG ĐẠI

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA LUẬN ÁN

Mặc dù trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học quan tâm đến ngoại giao văn hóa, tuy nhiên nghiên cứu trực tiếp về ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế đương đại chưa thực sự phong phú. Luận án góp phần hệ thống hóa và đưa ra một cái nhìn tổng quan từ góc độ của Việt Nam về vấn đề này.

Luận án cung cấp một cách hệ thống cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa như: quyền lực mềm, văn hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa, văn hóa đối ngoại, ngoại giao văn hóa; quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao văn hóa.

Luận án phân tích những yếu tố cơ bản tác động đến ngoại giao văn hóa, làm rõ những đặc điểm, vai trò và dự báo xu hướng phát triển của ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế đương đại; nghiên cứu, phân tích chính sách và thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa của của một số quốc gia từ sau Chiến tranh Lạnh như Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc.

Luận án phân tích quá trình hình thành, đánh giá những thành tựu và hạn chế của ngoại giao văn hóa Việt Nam từ sau Chiến tranh Lạnh, đặc biệt kể từ khi được chính thức nhìn nhận là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam tại Hội nghị ngành Ngoại giao lần thứ 25 vào năm 2006 đến nay. Đồng thời luận án đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh và nâng cao ngoại giao văn hóa Việt Nam thời gian tới.

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về ngoại giao văn hóa. Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định, thực thi chiến lược, chính sách về ngoại giao văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong tương lai..
Xem thêm

180 Đọc thêm

 CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAQ

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAQ

sách Blood and oil: The Dangers and Consequences of America’s GrowingDependency on Imported Petroleum của tác giả Michael Klare (2004).2Các Báo cáo về chính sách năng lƣợng của Mỹ cũng là nguồn tham khảođáng giá nhƣ Báo cáo Strategic Energy Policy Challenges for the 21stCentury (2001)của Independent Task Force, Báo cáo National energy policy:Reliable, Affordable, and Environmentally Sound Energy for America’sFuture (2001)của National Energy Policy Development Group… Các báo cáonày cung cấp các quan điểm chính sách từ chính chính phủ Mỹ.Ngoài ra còn có rất nhiều tài liệu phân tích về cuộc chiến tranh Iraq năm2003 nhƣ “Petroimperialism: US Oil Interests and the Iraq War” của Nayna JJhaveri đi sâu vào phân tích các lợi ích liên quan tới dầu mỏ của Mỹ từ đóphân tích nguyên nhân cuộc chiến Iraq 2003, bài báo “The US Invasion ofIraq: Explanations and Implications” của tác giả Raymond Hinnebusch viếtvề nguyên nhân và hệ luỵ của cuộc chiến này. Một điểm chung của tất cả cáctài liệu này là dầu mỏ là yếu tố quyết định lớn nhất lên chính sách đối ngoạicủa Mỹ với Iraq từ trƣớc, trong và sau cuộc chiến.Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về chính sách ngoại giao nănglƣợng có luận án tiến sĩ “Chính sách ngoại giao năng lƣợng của Trung Quốcnhững năm đầu thế kỉ 21” của Nguyễn Minh Mẫn (Trƣờng ĐH Sƣ phạm Tp HồChí Minh). Luận án đƣa ra 1 khung tham khảo về chính sách ngoại giao nănglƣợng của 1 nƣớc cụ thể là Trung Quốc, đặc biệt là phần viết về chính sách ngoạigiao năng lƣợng của Trung Quốc với Trung Đông. Tuy nhiên, đây là luận án tiếnsĩ ngành lịch sử nên các tiếp cận chủ yếu là liệt kê sự kiện, thiếu cái nhìn kháiquát lên thành chính sách theo cách tiếp cận của quan hệ quốc tế. Ngoài ra còncó một số bài báo khoa học khác về đề tài này nhƣ Cuộc cạnh tranh dầu mỏgiữa Trung Quốc với các cường quốc hiện nay và tác động của nó đến quan hệ
Xem thêm

17 Đọc thêm

Tiểu luận kinh doanh quốc tế chiến lược xuất khẩu kềm nghĩa vào mỹ

TIỂU LUẬN KINH DOANH QUỐC TẾ CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU KỀM NGHĨA VÀO MỸ

MỤC LỤC


Mở đầu 2
Phần một: Giới thiệu về công ty Kềm nghĩa. 3
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH 3
1. Ước mơ khởi nghiệp: 3
2. Chinh phục những tầm cao mới 3
VII. Ý NGHĨA THƯƠNG HIỆU 6
1. Ý nghĩa nhận dạng thương hiệu: 6
VIII. GIÁ TRỊ CỐT LÕI THƯƠNG HIỆU 7
IX. SẢN PHẨM 7
Nhóm sản phẩm inox 7
Phần 2: Phân tích thị trường Mỹ. 9
THÔNG TIN ĐẠI CƯƠNG 9
Địa lý 9
c. Tôn giáo 10
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT 11
CHÍNH TRỊ 11
III. MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃ HỘI 13
V. MÔI TRƯỜNG KINH TẾTÀI CHÍNHCƠ SỞ HẠ TẦNG 16
a. Kinh tế: 16
PHẦN 3: MỐI QUAN HỆ VIỆT – MỸ 17
I. Quan hệ ngoại giao 17
Phía Hoa Kỳ cũng cử nhiều đoàn cấp cao thăm Việt Nam: 18
Phần 4: Chiến lược phân phối sản phẩm ra nước ngoài 21
Phần 5. Chiến lược Marketing Mix 23
I. Sản phẩm. 23
Xem thêm

24 Đọc thêm

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ AN NINH NHẬT MỸ TRONG BỐI CẢNH CHÂU Á HIỆN NAY

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ AN NINH NHẬT MỸ TRONG BỐI CẢNH CHÂU Á HIỆN NAY

công nghệ quân sự được mua sắm từ nguồn ngân sách đồi dào, một trongnhững nguồn ngân sách lớn nhất trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc.Những năm gần đây, quan hệ chính trị - an ninh Mỹ và Nhật Bản cónhiều điểm nổi bật đáng chú ý. Mỹ chuyển hướng xoay trục trở lại Châu Á.Nhật Bản càng thắt chặt hợp tác an ninh - quốc phòng với Mỹ. Đặc biệt, ViệtNam và Nhật Bản đang ngày càng phát triển quan hệ đối tác chiến lược sâurộng, quan hệ Việt Nam với Mỹ trong những năm gần đây cũng ngày càngđược gia tăng mạnh mẽ. Chính vì vậy, những động thái, xu hướng của quanhệ chính trị - an ninh Nhật – Mỹ không những có ảnh hưởng sâu sắc đến tìnhhình chính trị - an ninh khu vực Châu Á mà còn tác động không nhỏ tới ViệtNam. Do vậy việc nghiên cứu chủ đề này đang đặt ra yêu cầu ngày càng cấpbách cho các nhà nghiên cứu Việt Nam.Nhiều công trình nghiên cứu tỉ mỉ của các học giả, tác giả trong vàngoài nước đã chứng minh rằng sự phát triển của mối quan hệ Mỹ - Nhật cómột ý nghĩa không nhỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, trong giaiđoạn từ năm 2001 đến nay các nghiên cứu hầu như chưa đề cập sâu đến sựphát triển của mối quan hệ an ninh - chính trị hai nước Mỹ - Nhật. Mặc dùquan hệ ngoại giao giữa hai nước Mỹ - Nhật là một vấn đề không mới nhưngtrong sự biến động của bối cảnh an ninh - chính trị ở Châu Á hiện nay thì đóthực sự là một trong những vấn đề quốc tế nổi bật nhất. Nghiên cứu quan hệchính trị - an ninh Mỹ - Nhật trong bối cảnh Châu Á hiện nay không những2chỉ ra những tác động của nó với tình hình chính trị thế giới, khu vực mà cònvạch ra những ảnh hưởng lớn lao nó mang lại cho sự ổn định chính trị - anninh của Việt Nam. Từ đó, Việt Nam sẽ có những chính sách đối ngoại thỏađáng nhằm tận dụng cơ hội, đương đầu thách thức do quan hệ chính trị - anninh Nhật – Mỹ đem lại.Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, tác giả mạnh dạn chọn đề tài
Xem thêm

19 Đọc thêm

VAI TRÒ PR TRONG NGOẠI GIAO

VAI TRÒ PR TRONG NGOẠI GIAO

1.1 PR là gì?
1.1.1 Khái niệm PR – Public Relations
Khái niệm PR – Public Relations có nhiều cách dịch như: Quan hệ đối ngoại, Giao tế cộng đồng, Giao tế nhân sự... nhưng có hai cách dịch phổ biến nhất là Quan hệ công chúng và Quan hệ cộng đồng.
Hiện nay khái niệm PR được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tiêu biểu như định nghĩa của Pat Jackson, một chuyên gia nổi tiếng về PR hiện đại, “PR như việc xây dựng mối quan hệ với các nhóm người liên quan mà tổ chức tác động tới để thay đổi thái độ của họ và mang lại những hành động mong đợi”; hay theo Tổ chức Nghiên cứu và Đào tạo PR Mỹ (Foundation of PR Research and Education), định nghĩa: “PR là một chức năng quản lý giúp thiết lập và duy trì các kênh truyền thông, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác lẫn nhau giữa một tổ chức với các nhóm công chúng có liên quan”; hoặc như “PR thực hiện chức năng quản trị nhằm tạo dựng và duy trì mối quan hệ hai bên cùng có lợi giữa một tổ chức và đối tượng công chúng quyết định sự thành bại của tổ chức đó”, khái niệm này được đưa ra trong cuốn Effective of Public Relations – S.Cutlip, A.Center và G.Broom. Như vậy, theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, các định nghĩa về PR thường đi đến thống nhất về một vấn đề cốt lõi, đó là PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức, cá nhân với những cộng đồng liên quan; những quan hệ này quyết định trực tiếp hay gián tiếp tới sự thành bại của tổ chức, cá nhân đó.
1.1.2 Lịch sử và nguồn gốc của PR
Lịch sử của PR có thể tạm chia thành năm giai đoạn sau: 1. Giai đoạn Khởi nguyên PR tại nước Mỹ (1600 – 1799); 2. Giai đoạn Truyền thôngNền tảng: Kỷ nguyên Báo chí và tuyên truyền (1800 – 1899); 3. Giai đoạn Phản ứngTrả lời: Thời đại báo chí: (1900 – 1939); 4. Giai đoạn Hoạch địnhĐề phòng: Giai đoạn phát triển PR như là một chức năng quản trị (1940 1979); 5. Giai đoạn chuyên nghiệp hoá: Kỷ nguyên của PR trong truyền thông toàn cầu: (1980 – hiện nay).
Về nguồn gốc, nhiều người cho rằng PR là một sản phẩm hình thành từ phương Tây, cụ thể là từ Mỹ. Cụm từ PR, Public Relations, bắt đầu xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ XIX, bởi một số nhà báo Mỹ tiến bộ. Tuy nhiên, vẫn có nhiều học giả lại cho rằng PR đã xuất hiện từ 9.000 năm trước ở Trung Quốc, từ thời Xuân Thu Chiến Quốc với đại diện khá rõ ràng là Lã Bất Vi. Cũng có ý kiến cho rằng PR ra đời từ thời La Mã cổ đại thông qua hình thức cáo thị mà nhiều học giả nhận định là tờ báo đầu tiên của thế giới. Rõ ràng, PR đã được áp dụng từ nhiều thế kỷ trước. Tóm lại, PR ra đời chính xác từ khi nào vẫn đang là câu hỏi chưa có lời đáp, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận là PR đã định hình, phát triển dưới bàn tay của nước Mỹ, nổi trội nhất trong thế kỷ XX vừa qua và được dự báo sẽ thăng hoa trong thế kỷ XXI này.
1.1.3 Chức năng của PR
Để xã hội có thể tồn tại, con người cần đạt được những thoả thuận tối thiểu nhất, và thoả thuận này thường đạt được thông qua tương quan con người và nhóm người với nhau. Nhưng việc đạt được thoả thuận thường đòi hỏi nhiều hơn việc đơn giản chỉ là chia sẻ thông tin; mà còn những yếu tố thuyết phục mạnh mẽ về phần của từng đối tượng liên quan trong quá trình đưa ra quyết định. Tính thuyết phục, các hoạt động thuyết phục công chúng vẫn được coi là chức năng chủ yếu của PR. Từ chức năng đó, trong suốt tiến trình lịch sử, PR đã được sử dụng để khuyến khích chiến tranh, để vận động hành lang cho các nguyên nhân chính trị, để hỗ trợ các phe đảng chính trị, để khuyến khích tôn giáo, để bán hàng, để tăng tiền tệ, để tổ chức và tuyên bố các sự kiện. Trong xã hội hiện đại, các chức năng này ngày càng phát triển hơn. Ngày nay, hoạt động PR bao gồm cả việc dự báo rủi ro, đối phó và xử lý khủng hoảng.

1.2 PR trong ngoại giao
1.2.1 Ngoại giao
Khái niệm ngoại giao đã xuất hiện từ rất lâu, và cũng đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau dành cho khái niệm này. Theo từ điển Oxford 1965: “Ngoại giao là việc tiến hành những quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, đó là công tác, nghệ thuật của các nhà ngoại giao”. Với E.Stow, ông lại cho rằng “ngoại giao là sự sắp đặt trí tuệ và lịch thiệp vào việc tiến hành những quan hệ chính thức giữa các chính phủ”. Từ điển Tiếng Việt năm 1996 lại định nghĩa “ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung”. Như vậy tuy có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về ngoại giao, mỗi định nghĩa lại chú trọng nêu bật những khía cạnh mà nó cho là chủ yếu và quan trọng nhất của khái niệm, nhưng nếu xem xét lại thì tất cả những định nghĩa này đều có cùng một vài điểm đặc thù; cho thấy ngoại giao là công việc để thực hiện những nhiệm vụ chính trị đối ngoại của các quốc gia, là công cụ chính sách đối ngoại, là nghệ thuật tiến hành đàm phán và kí kết giữa các quốc gia. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, định nghĩa sau có thể xem là định nghĩa chung nhất và đầy đủ nhất. Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp của chính trị, xã hội; là nghệ thuật của những khả năng; là hoạt động của các cơ quan đối ngoại nhằm thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của quốc gia, dân tộc trong nước và thế giới; từ đó góp phần giải quyết những vấn đề chung bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình.
1.2.2 PR trong ngoại giao
Để hiểu đúng hoạt động PR trong ngoại giao, cần kết hợp hai khái niệm là PR và Ngoại giao với nhau. Theo quan điểm nhóm nghiên cứu, vì là một lĩnh vực hoạt động của PR, nên PR trong ngoại giao chắc sẽ mang những đặc điểm điển hình của PR nói chung nhưng ở quy mô quốc gia. Lúc này PR có vai trò phát triển bộ mặt một nước thông qua các hoạt động đối ngoại. Đối tượng mà PR hướng đến lúc này không còn là một mặt hàng, một công ty, hay một nhóm doanh nghiệp cụ thể; mà là cả một quốc gia. Hơn nữa, ngoại giao không chỉ ảnh hưởng đến chính trị, mà còn tác động đến kinh tế xã hội vì quốc gia là một sản phẩm mang tính trừu tượng, không di dời được; là một sản phẩm tổng hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong thực tế hiện nay, khi nhắc đến PR, đại đa số mọi người đều nghĩ rằng PR gắn với việc phát triển hình ảnh một công ty hay doanh nghiệp là chủ yếu. Sở dĩ có xu hướng nhận thức như vậy là bởi vì trong thế giới hiện đại ngày nay, nền kinh tế dường như nắm vai trò chủ chốt trong việc chi phối sức mạnh của một quốc gia. Và chính cách suy nghĩ này đã vô hình khoanh vùng PR.Thế nhưng truy nguồn lịch sử có thể thấy PR gắn liền với việc phát triển hình ảnh quốc gia đã xuất hiện từ rất lâu. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức và các đồng minh đã luôn nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ thông qua các hoạt động tuyên truyền. Khi Mỹ nhảy vào cuộc chiến thì quốc hội Mỹ cũng đã thành lập Ủy ban về thông tin cộng đồng (The Committee on Public Information) nhằm kêu gọi sự ủng hộ việc tham chiến của Mỹ. Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, PR từ đó mới bắt đầu trở thành công cụ điều hành quan trọng của chính phủ và doanh nghiệp.

1.3 Vai trò của PR trong ngoại giao
1.3.1 Vai trò của PR trong ngoại giao đối với chính trị
“Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền hành nhà nước”. Như vậy quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia bao hàm một mối quan hệ chính trị. Trong bối cảnh hội nhập rộng mở ngày nay, ngoại giao là một phương thức nhằm tăng cường các mối quan hệ giữa các quốc gia để hợp tác cùng phát triển. Do đĩ, hoạt động PR trong đối ngoại có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ thân mật giữa các quốc gia, đồng thời giúp giải quyết những khủng hoảng có liên quan đến chính trị.
1.3.1.1 Xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa các quốc gia
Trên chính trường quốc tế, quan hệ quốc tế luôn thay đổi nên để xây dựng mối quan hệ chính trị tốt đẹp giữa các quốc gia và duy trì được mối quan hệ đó là điều không dễ dàng. Các quốc gia phải thể hiện được thiện chí của mình cũng như mong muốn giải quyết những vấn đề trong quan hệ chính trị một cách hòa bình. Trên thực tế vấn đề này còn phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của từng quốc gia ở từng giai đoạn khác nhau. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm cách nào để các quốc gia thể hiện được hình ảnh về một quốc gia thân thiện? PR trong ngoại giao thực hiện điều đó. Hoạt động PR trong đối ngoại cung cấp đầy đủ thông tin, hình ảnh giúp công chúng và giới chức hữu quan có nhận thức đúng đắn về thiện chí của các quốc gia trong quan hệ chính trị. Sự nhận thức đúng đắn và hiểu biết sâu sắc về sự thân thiện giữa các quốc gia sẽ giúp duy trì mối quan hệ tốt đẹp. Từ đó thúc đẩy mối quan hệ nhiều mặt và trong đó có quan hệ về chính trị. Khi một quốc gia có những mối quan hệ chính trị tốt đẹp với nhiều quốc gia khác thì đó chính là một lợi thế rất lớn trong quan hệ quốc tế. Quốc gia đó sẽ nhận được nhiều sự đồng tình, ủng hộ trong nhưng vấn đề quốc tế, được đề của vào những vị trí quan trọng trong những tổ chức quốc tế và khu vực…
1.3.1.2 Giải quyết khủng hoảng chính trị
Không chỉ giúp xây dựng và duy trì các mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia, PR trong ngoại giao còn giúp giải quyết những khủng hoảng chính trị xuất phát từ sự thiếu hiểu biết hoặc từ sự lệch lạc trong suy nghĩ dẫn đến những hiểu lầm. PR trong ngoại giao đóng vai trò rõ rệt trong việc giải thích những tình huống cụ thể một cách minh bạch, nhờ đó sự thiếu hiểu biết hoặc thậm chí thái độ thù địch đối với quốc gia sẽ được chuyển thành sự thấu hiểu và thông cảm. Nhằm xoá bỏ những hình ảnh tiêu cực về nước Nga do phương tiện thông tin đại chúng phương Tây dựng lên, ngày 272, Bộ trưởng Truyền thông Nga Mikhail Lesin cho biết Moscow đang xem xét việc phân bổ ngân sách cho chương trình thông tin tuyên truyền cho Nga tại Mỹ. Kremlin cũng đang nghiên cứu một kế hoạch tương tự nhằm cải thiện hình ảnh của mình tại châu Âu. “Đến khi nào họ mới chịu thôi không bày đặt mọi chuyện đang diễn ra
Xem thêm

12 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAQ

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO DẦU MỎ CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAQ

sự độc lập của thị trƣờng dầu mỏ tại đây8. Do đó, Mỹ đã nhiều lần can thiệpvào chính trƣờng Venezuela với mục đích nhằm lật đổ ông Chavez.1.2.3.2 Với Nga và khu vực Trung ÁNga chiếm khoảng 5% trữ lƣợng dầu của thế giới. Về sản xuất cũng nhƣxuất khẩu dầu thì Nga đều nằm trong nhóm 3 nƣớc dẫn đầu thế giới. Mặc dùtrong quá khứ Nga và Mỹ từng có những giai đoạn đối đầu căng thẳng, cả haibên đều thấy rằng cần phải hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong vấn đề năng lƣợng.Mỹ thì rất cần đến nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt phong phú của Nga,còn Nga cần tập trung phát triển kinh tế mà sự trợ giúp từ phía Mỹ là vô cùnghữu ích cho quá trình đó. Bộ trƣởng năng lƣợng Mỹ, Spencer Abraham đãkhẳng định trong phiên Điều trần trƣớc Uỷ ban đối ngoại Thƣợng viện:“Chúng ta đang phát triển mạnh quan hệ song phƣơng với Nga, là nƣớc sảnxuất và xuất khẩu dầu mỏ lớn trên thế giới. Tổng thống Bush và Putin đã kýtuyên bố chung đƣa ra những sáng kiến năng lƣợng mang tính chiến lƣợc”9.Đỉnh cao của mối quan hệ song phƣơng Nga – Mỹ liên quan đến dầu mỏlà Hội nghị thƣợng đỉnh năng lƣợng Nga – Mỹ ở thành phố Texas năm 2002với nội dung chủ yếu là về việc đƣa Nga từng bƣớc trở thành một nhà cungcấp dầu chiến lƣợc chính cho Mỹ. Trong hội nghị này, có 3 dự án lớn đƣợcđƣa ra trong đó dự án đầu tiên và cũng mang tính khả thi nhất là vận chuyểndầu từ vùng Murmask, một thành phố cảng của Nga nằm ở vùng cực Bắcbằng những tàu chở dầu cực lớn thẳng đến nƣớc Mỹ với kì vọng dự án có thểcung cấp cho nƣớc Mỹ 1triệu thùng/ngày10.Khu vực Trung Á là nơi có trữ lƣợng dầu mỏ lớn, ƣớc tính khoảng 200 tỉthùng và cũng là nơi cung cấp lƣợng dầu đáng kể cho Mỹ. Để củng cố sự hiện8Nguyễn Minh Mẫn (2011), Sđd, tr.54Biên bản phiên Điều trần trƣớng Uỷ ban đối ngoại Thƣợng viện Mỹ, Oil Diplomacy: The Facts and Myths
Xem thêm

89 Đọc thêm

tiểu luận chất đọc da cam

TIỂU LUẬN CHẤT ĐỌC DA CAM

Kể từ năm 1975, khi cuộc chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam kết thúc và giành thắng lợi rực rỡ, hai nước đã giữ quan hệ thù địch trong suốt một thời gian dài. Cho đến nay, hơn ba mươi năm sau chiến tranh, những di sản của cuộc chiến tưởng chừng không thể nào xóa bỏ cũng đã dần phai nhạt theo thời gian. Mối quan hệ song phương Mỹ Việt đã dần ấm lên vì cả hai dân tộc đều mong muốn bỏ lại quá khứ và hướng tới tương lai.

11 Đọc thêm

Tiểu luận chính sách đối ngoại của ấn độ với mỹ từ 2009 tới nay

TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ VỚI MỸ TỪ 2009 TỚI NAY

Có thể khẳng định một điều, từ trước tới nay Ấn Độ luôn là một nước lớn của khu vực Châu Á. Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và đa cực hóa thế giới, Ấn Độ đang dần vươn ra ngoài vai trò cường quốc khu vực và bắt đầu mang dáng dấp của một cường quốc thế giới. Ấn Độ với vị trí địa chiến lược quan trọng, cửa ngõ dẫn vào khu vực Trung Đông Bắc Phigiếng dầu của thế giới, nơi có 23 số tàu chở dầu và một nửa số tàu buôn chuyên chở hàng bằng côngtenơ của thế giới đi qua; giữ vai trò nước lớn ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương; được đánh giá là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới, dân số 1,237 tỉ người (2012) đứng thứ 2 thế giới và được coi là nền dân chủ lớn nhất thế giới1…Ấn Độ có tiềm lực và có tham vọng trở thành cường quốc hàng đầu và trên thực tế đang đóng vai trò là một trong những cường quốc hàng đầu thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2010, trong chuyến thăm Ấn Độ, Tổng thống Mỹ Barack Obama có những phát biểu tuy mang tính ngoại giao nhưng không phải là không có cơ sở rằng: “Ấn Độ không phải là một cường quốc đang lên. Quốc gia này là cường quốc lâu rồi”.I.Lí do lựa chọn đề tài.Trong bàn cờ chính trị quốc tế phức tạp và đan xen nhiều yếu tố như hiện nay, chính sách đối ngoại của Ấn Độ có ảnh hưởng rất lớn tới an ninh và phát triển không chỉ của khu vực mà còn cả của thế giới. Ấn Độ đang trở thành một yếu tố không thể bỏ qua đối với Mỹcường quốc số 1 thế giới hiện nay. Quan hệ Mỹ Ấn, theo như lời Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, sẽ là một trong những quan hệ đối tác định hình của thế kỷ 21. Chính sách đối ngoại của Mỹ với Ấn Độ và chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Mỹ sẽ là những nước cờ quan trọng trong ván cờ chính trị quốc tế hiện nay. Mong muốn có cái nhìn cụ thể hơn về chính sách của Ấn Độ với Mỹ, người viết lựa chọn đề tài tiểu luận: “Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Mỹ từ 2009 tới nay “.II.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.Đối tượng nghiên cứu mà bài viết hướng đến xoay quanh cơ sở hoạch định, quá trình triển khai triển khai và kết quả của chính sách đối ngoại Ấn Độ. Bố cục bài tiểu luận theo trình tự bình thường của một bài phân tích chính sách đối ngoại của một quốc gia với một quốc gia khác bao gồm: cơ sở hình thành chính sách, nội dung chính sách, quá trình triển khai chính sách, kết quả của chính sách, đánh giá triển vọng mối quan hệ.Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, người viết mong muốn đem đến cho người đọc nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại mà Ấn Độ đang áp dụng trong quan hệ với Mỹ từ năm 2009 tới nay. Sở dĩ lựa chọn giai đoạn này là bởi 2009 là thời điểm ông Manmohan Singh một kiến trúc sư của nền kinh tế tự do hóa Ấn Độ, lên nắm giữ vai trò Thủ tướng Ấn Độ, đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ của nước này trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh, quân sự…đặc biệt là trong lĩnh vực đối ngoại. Trong nhiệm kì của ông Manmohan Singh, hàng loạt hoạt động đối ngoại đã được triển khai mở rộng theo nhiều hướng, đặc biệt là nỗ lực trong việc cải thiện quan hệ Mỹ Ấn. Đây cũng là thời điểm Tổng thống Mỹ Obama tuyên bố và thực hiện cam kết chuyển trọng tâm chính sách từ Trung Đông sang Châu Á Thái Bình Dương, hứa hẹn quan hệ 2 nước có nhiều biến chuyển. Vậy chính phủ Ấn Độ của ông Manmohan Singh đã lựa chọn chính sách đối ngoại nào với Mỹ, nội dung bài tiểu luận sẽ cùng người đọc làm rõ.
Xem thêm

18 Đọc thêm

ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ ( 1954 -1975)

ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ ( 1954 -1975)

Đường lối ngoại giao trong kháng chiến chống mỹ (1954 -1975)

44 Đọc thêm

Liên Xô đã đạt được những thành tựu gì trong quan hệ ngoại giao vào những năm 1922-1933?

LIÊN XÔ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG THÀNH TỰU GÌ TRONG QUAN HỆ NGOẠI GIAO VÀO NHỮNG NĂM 1922-1933?

Sau cách mạng tháng Mười, chính quyền Xô viết đã từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao với một số. Sau cách mạng tháng Mười, chính quyền Xô viết đã từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao với một số nước láng giềng ở châu Á và châu Âu. Tồn tại giữa vòng vây thù địch của chủ nghĩa tư bản thế giới, Liên Xô đã kiên trì và bền bỉ đấu tranh trong quan hệ quốc tế, từng bước phá vỡ chính sách bao vây, cô lập về kinh tế và ngoại giao của các nước đế quốc. Trong vòng 4 năm (1922-1925), các cường quốc tư bản: Đức, Anh, I-ta-li-a, Pháp, Nhật Bản lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô. Đầu năm 1925, Liên Xô đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với trên 20 quốc gia. Năm 1933, Mĩ-cường quốc tư bản đứng đầu thế giới-đã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao Xô viết, khẳng định uy tín ngày càng cao của Liên Xô trên trường quốc tế.  
Xem thêm

1 Đọc thêm