TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH UNG THƯ RUỘT GIÀ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH UNG THƯ RUỘT GIÀ":

TIỂU LUẬN MÔN HÓA TRỊ LIỆU: ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH UNG THƯ

TIỂU LUẬN MÔN HÓA TRỊ LIỆU: ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI







TIỂU LUẬN
MÔN: HÓA TRỊ LIỆU

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH UNG THƯ


Thầy hướng dẫn: TS. Nguyễn Tường Vy
Học viên: Nguyễn Thu Hiền
Mã học viên: 1211023
Lớp: Cao học 17 – Nhóm 5





Hà Nội – Tháng 42013
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hay còn gọi là u ác tính, là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh trên 200 loại khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của tế bào, có thể di căn và lan rộng ra những mô và tế bào khác. Đây là một trong những căn bệnh gây tỷ lệ tử vong cao nhất trên thế giới.
Mục tiêu chính của một chẩn đoán và điều trị ung thư là để chữa bệnh hoặc kéo dài đáng kể tuổi thọ và đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể cho bệnh nhân. Chính vì vậy, điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế thế giới. Tuy nhiên trên thực tế vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ. Chúng ta cần bỏ quan niệm: ung thư giai đoạn muộn, mọi chuyện đã hết. Trong khi chờ đợi hiệu quả chữa bệnh cao hơn nhờ việc phát hiện sớm các thành tựu của y học hiện đại, việc quan tâm làm giảm đau, nâng đỡ sức khỏe và tinh thần tạm thời cũng là công việc rất cần thiết nhằm mang lại cho người bệnh chất lượng sống cao hơn, giảm bớt được nỗi đau thể xác cũng như tinh thần để bệnh nhân được ra đi trong sự thoải mái hơn. Công việc này đầy khó khăn gian khổ nhưng cũng rất vinh quang và nhân đạo, đó là công việc từ trái tim đến trái tim.
Do đó, em đã lựa chọn đề tài “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong bệnh ung thư” cho bài tiểu luận của mình. Trong phạm vi bài tiểu luận này, em tập trung trình bày các triệu chứng của ung thư, nguyên tắc giảm đau và điều trị triệu chứng trong ung thư cũng như đặc điểm một số các thuốc cụ thể thường dùng.
Với mục tiêu như vậy, bài tiểu luận của em được chia thành 2 chương:
1. Triệu chứng của ung thư
2. Nguyên tắc và các thuốc điều trị







NỘI DUNG
1. TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ
Ban đầu, hầu hết bệnh nhân ung thư không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt thường là khi bệnh đã tiến triển trầm trọng. Thông thường,ung thư có thời gian ủ bệnh (tức là thời gian từ khi một tế bào bị đột biến thành tế bào ung thư đến khi các triệu chứng của bệnh được bộc lộ) khá dài, khoảng 10 năm hoặc hơn nữa tùy thể loại ung thư. Do đó cách phòng và điều trị ung thư hiệu quả nhất được khuyến cáo là nên đi khám sức khỏe định kì 6 tháng một lần.
Do ung thư là tập hợp của nhiều dạng bệnh ung thư khác nhau nên triệu chứng của ung thư rất đa dạng và khác nhau ở tùy thể bệnh ung thư. Nói chung triệu chứng của ung thư được phân làm ba nhóm chính:
• Triệu chứng tại chỗ: các khối u bất thường hay phù nề, chảy máu (hemorrhage), đau vàhoặc loét (ulcer). Chèn ép vào mô xung quanh có thể gây ra các triệu chứng như vàng da.
• Triệu chứng của di căn (lan tràn): hạch bạch huyết lớn lên, ho, ho ra máu, gan to, đau xương, gãy xương ở những xương bị tổn thương và các triệu chứng thần kinh. Đau có thể gặp ở ung thư giai đoạn tiến triển, nhưng thông thường đó không phải là triệu chứng đầu tiên.
• Triệu chứng toàn thân: sụt cân, chán ăn và suy mòn, tiết nhiều mồ hôi (đổ mồ hôi trộm), thiếu máu và các hội chứng cận u đặc hiệu, đó là tình trạng đặc biệt được gây ra bởi ung thư đang hoạt động, chẳng hạn như huyết khối (thrombosis) hay thay đổi nội tiết tố.
2. NGUYÊN TẮC VÀ THUỐC ĐIỀU TRỊ
2.1. Giảm đau trong ung thư
2.1.1. Đại cương về đau trong ung thư
Đau là một triệu chứng phổ biến trong ung thư, người bệnh có thể chết vì đau và suy kiệt. Nhiều bệnh nhân ung thư bày tỏ cảm giác không sợ chết bằng sự dằn vặt của đau đớn. Đau do ung thư là đau mạn tính, dai dẳng, có khi kéo dài vài tháng đến vài năm nếu như không có biện pháp kiềm chế.
13 người bệnh ung thư than phiền bị đau trong thời gian bệnh.
70 80% bệnh nhân ở giai đoạn tiến xa: có đau đớn.
Bệnh càng tiến triển nặng, đau đớn càng nhiều hơn nhất là người bệnh ung thư ở giai đoạn cuối.
Nguyên nhân: do bệnh ung thư, liên quan đến điều trị ung thư, rối loạn bệnh đi kèm
Cơ chế đau ung thư: đa dạng và phức tạp.
 Do xâm lấn ung thư: gây hoại tử, nhiễm trùng, xâm lấn chung quanh: 23 trường hợp ung thư có di căn; ung thư di căn xương, chèn ép tủy sống 50%
 Do chèn ép xâm lấn đến các nhánh, rễ thần kinh hoặc tùng, đám rối thần kinh (chiếm 20%).
 Đau dai dẳng sau điều trị: 20%.
 Cảm giác đau của bệnh nhân ung thư còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố tâm lý như lo lắng, hoảng hốt, và yếu tố xã hội. Vì vậy cần phải đánh giá đau trong một bối cảnh chung gọi là đau tổng thể.
Khám lâm sàng và xét nghiệm cần thiết, nhằm xác định:
 Vị trí, tính chất, cường độ đau, thời gian khởi đau…
 Chú ý triệu chứng thần kinh: tê rần, rát bỏng, co giật, hay yếu liệt
 Triệu chứng đi kèm: sốt, ớn lạnh, khó thở, nôn ói, nhức đầu…
 Ảnh hưởng đến: giấc ngủ, ăn uống, sinh hoạt thường ngày…
 Bệnh ung thư và quá trình điều trị.
Đánh giá mức độ đau: Cần lượng hoá mức độ đau và mức độ ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày bằng thang điểm từ 010 (thường dựa vào bộ câu hỏi thang 10 điểm của nhóm nghiên cứu Madison). Một số phương pháp đánh giá đau như sau:
 Dựa vào các hình nét mặt, dáng đi để bệnh nhân đánh giá mức đau đớn của người bệnh
 Dựa hoàn toàn vào chủ quan bệnh nhân qua hỏi về thời gian đau
Xem thêm

13 Đọc thêm

Tiểu luận: Ung thư máu và các liệu pháp trị liệu – Nhóm 9

TIỂU LUẬN: UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP TRỊ LIỆU – NHÓM 9

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau bệnh tim mạch.Đó là tên chung để chỉ một nhóm gồm khoảng 200 bệnh do các tế bào phân chia một cách bất thường. Trong đó ung thư tế bào máu đứng hàng thứ năm trong số các bệnh ung thư gặp tại Mỹ. Theo thống kê của Viện Huyết học và truyền máu Việt Nam nó đứng hàng đầu trong số các bệnh máu gặp tại Viện. Và việc điều trị ung thư máu cũng rất phức tạp. Vì vậy, em làm tiểu luận: “Ung thư máu và các liệu pháp trị liệu” để tìm hiểu rõ hơn về bệnh ung thư máu.



















B. NỘI DUNG
I. Bệnh ung thư máu:
1. Định nghĩa ung thư máu:
Ung thư máu (Leukemia) là ung thư của cơ quan tạo ra các huyết cầu như tủy xương và hệ thống bạch huyết. Trong ung thư máu các bạch cầu được sản xuất một cách nhanh chóng rối loạn tạo ra các bạch cầu bất thường không hoạt động được và các bạch cầu ung thư này dần dần xâm lấn đến các hồng cầu và tiểu cầu ngăn chặn sản xuất và phá hủy các tế bào này.
2. Phân loại:
Bệnh ung thư máu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh:
Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu.Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì.Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện.Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn.
Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường.Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh.
Còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho và tiến triển của mỗi dòng đó:
Bệnh bạch cầu lymphô mạn tính (CLL): Các tế bào lymphô bị ảnh hưởng và thường tiến triển chậm. Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi.Hầu như không gặp ở trẻ em.
Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và giai đoạn đầu thường tiến triển chậm. Phần lớn gặp ở người lớn.
Bệnh bạch cầu lymphô cấp tính (ALL): Là thể phát triển ác tính của các tế bào dòng lymphô và tiến triển rất nhanh. Đây là thể bệnh bạch cầu thường gặp nhất ở trẻ em, người lớn đôi khi cũng có thể bị mắc.
Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và tiến triển nhanh. Có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em.
Bệnh bạch cầu tế bào tóc: là một thể hiếm gặp của bệnh bạch cầu mạn tính.
3. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Hiện nay, người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nhân gây bệnh ung thư nói chung, cũng như nguyên nhân gây ung thư máu nói riêng. Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh, bao gồm:
Xem thêm

19 Đọc thêm

Chẩn đoán nguyên nhân đau bụng

CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN ĐAU BỤNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đau bụng là triệu chứng rất thường gặp. Để chẩn đoán nguyên nhân gây ra đau bụng, người ta dựa vào đặc điểm cơn đau, thăm khám, xét nghiệm và đôi khi cần phải phẫu thuật thăm dò trong những trường hợp khó. Nguyên nhân gây đau bụng Có thể xếp nguyên nhân gây ra đau bụng thành ba nhóm: Đau bụng do viêm, ví dụ viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm đại tràng...; Đau bụng do căng hoặc giãn của một cơ quan, như tắc ruột do u hay do xoắn ruột, tắc đường mật do sỏi, gan sưng do viêm; Đau bụng do thiếu máu nuôi, ví dụ như viêm đại tràng thiếu máu, nhồi máu mạc treo ruột... Cũng có thể đau bụng không do nguyên nhân nào trong ba nhóm nguyên nhân trên, ví dụ như hội chứng ruột kích thích. Khó chẩn đoán nguyên nhân đau bụng Có nhiều lý do dẫn đến khó chẩn đoán nguyên nhân đau bụng, đó là: Các triệu chứng không điển hình: Ví dụ, đau của viêm ruột thừa thỉnh thoảng nằm ở bờ sườn phải chứ không nằm ở hố chậu phải. Người cao tuổi và những bệnh nhân dùng corticoid có thể ít đau hoặc không đau khi bị viêm, ví dụ viêm túi mật hoặc viêm túi thừa. Đó là do corticoid làm giảm hiện tượng viêm. Các xét nghiệm không phải luôn chính xác: Siêu âm có thể bỏ sót sỏi, đặc biệt là sỏi nhỏ. CT Scan có thể không phát hiện ung thư tụy nếu kích thước quá nhỏ. X-quang bụng có thể không phát hiện tắc ruột hoặc thủng dạ dày. Xét nghiệm máu có thể cho kết quả bình thường dù người bệnh đang bị nhiễm trùng hoặc viêm nặng, đặc biệt nếu bệnh nhân đang uống thuốc corticoid.   Đau bụng là triệu chứng rất thường gặp. Để chẩn đoán nguyên nhân gây ra đau bụng, người ta dựa vào đặc điểm cơn đau, thăm khám, xét nghiệm và đôi khi cần phải phẫu thuật thăm dò trong những trường hợp khó (Ảnh minh họa) Bệnh có thể bắt chước bệnh khác: Hội chứng ruột kích thích có thể giả dạng tắc ruột, ung thư, loét, sỏi túi mật và viêm ruột thừa. Nhiễm trùng thận phải dễ nhầm với viêm túi mật cấp. Vỡ u nang buồng trứng phải có thể nhầm viêm ruột thừa. Đặc điểm của cơn đau có thể thay đổi, ví dụ viêm tụy có thể lan ra toàn ổ bụng và gây viêm túi mật. Chẩn đoán như thế nào? Đặc điểm của cơn đau là rất quan trọng để xác định nguyên nhân gây đau bụng. Người bệnh cần nắm rõ bảy tính chất sau của cơn đau: - Cách khởi phát: cơn đau xảy ra từ từ hay đột ngột. - Vị trí đau, ví dụ đau ở vùng bụng dưới bên phải gợi ý viêm ruột thừa, nhưng đau bên trái lại gợi ý viêm túi thừa; đau do bệnh gan mật thường nằm vùng bờ sườn bên phải. - Kiểu đau: đau quặn từng cơn, đau nhói như bị dao đâm... - Cường độ cơn đau: đau dữ dội hay đau âm ỉ. - Thời gian đau, đau xảy ra được bao lâu, thời gian kéo dài của cơn đau (phút, giờ, ngày...).   Trong nhiều trường hợp người bệnh có thể tự chăm sóc tại nhà, chỉ đi khám bệnh khi các triệu chứng vẫn còn tồn tại. (Ảnh minh họa) - Yếu tố làm tăng hay giảm cơn đau, ví dụ đau do viêm như viêm ruột thừa, viêm túi thừa, viêm tụy... sẽ nặng lên khi ho, hắt hơi hoặc cử động. Bệnh nhân thường có khuynh hướng nằm yên; hay cơn đau giảm sau khi nôn, sau khi uống thuốc, sau khi ăn, hay đau do giun chui ống mật phải chổng mông lên trời. - Hướng lan: đau trong nhồi máu cơ tim có thể lan từ vùng ngực trái xuống vùng thượng vị... - Triệu chứng kết hợp: sốt, tiêu chảy, nôn, tiêu ra máu... Cường độ cơn đau không phải lúc nào cũng tương ứng với mức độ nguy hiểm của nguyên nhân gây đau bụng. Đau bụng dữ dội có khi chỉ là do bệnh nhẹ như viêm dạ dày, ruột do siêu vi. Đau nhẹ hoặc không đau đôi khi do bệnh nguy hiểm gây ra như ung thư ruột già, viêm ruột thừa giai đoạn sớm. Khi nào cần đến cơ sở y tế? Trong nhiều trường hợp người bệnh có thể tự chăm sóc tại nhà, chỉ đi khám bệnh khi các triệu chứng vẫn còn tồn tại. Nên đi khám bệnh ngay nếu: Không đi tiêu, đặc biệt khi kèm theo nôn; Nôn ra máu hoặc đi tiêu ra máu (phân có màu đỏ, nâu sẫm hoặc đen như bã cà phê), mùi thối dữ dội; Đau bụng kèm với đau ở ngực, cổ hoặc vai; Đau bụng đột ngột như dao đâm; Bụng cứng như gỗ hoặc sờ đau.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tiểu luận UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

TIỂU LUẬN UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

Bộ Y Tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN HÓA DƯỢC
000





Tiểu luận
UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

Giảng viên: TS. Nguyễn Tường Vy
Học viên: Phan Thị Nghĩa
Lớp: Cao học 17
Mã học viên: 1211056















Hµ Néi 042013




MỤC LỤC

Trang
1. Đại cương về ung thư máu 1
1.1. Ung thư máu là gì 1
1.2. Các thể bệnh ung thư máu 1
1.3. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh 2
1.4. Triệu chứng 2
1.5. Các phương pháp chẩn đoán bệnh bạch cầu 3
1.6. Các phương pháp điều trị bệnh bạch cầu 3
1.7. Tác dụng phụ khi điều trị ung thư máu 4
2. Các thể bệnh ung thư máu và cách điều trị 4
2.1. Bệnh bạch cầu tủy cấp 4
2.2. Bệnh bạch cầu tủy mạn 7
2.3. Bạch cầu lym phô cấp 9
2.4. Bệnh bạch cầu lym phô mạn 12
2.5. Bệnh bạch cầu tế bào tóc 14
3. Chế độ ăn và mối quan hệ với phòng chống ung thư 14
4. Kết luận 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Đại cương về ung thư máu
Ung thư là một loại bệnh do sự phát triển không bình thường của tế bào. Cơ thể của con người được hình thành từ rất nhiều loại tế bào. Bình thường những tế bào được phát triển và phân chia khi cơ thể cần đến. Tuy nhiên, đôi khi các tế bào tiếp tục phân chia, kể cả khi không cần thiết, làm hình thành nên những nhóm mô gọi là khối u.
1.1. Ung thư máu là gì 1
Ung thư bạch cầu thường được gọi với cái tên khác là ung thư máu, là một loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng bạch cầu trong trong cơ thể người tăng đột biến.
Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu thức ăn và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu).
1.2. Các thể bệnh ung thư máu 2, 3
Bệnh bạch cầu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh:
• Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì. Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn.
• Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường. Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh.
Còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các tế bào dòng tủy hoặc dòng lym phô và tiến triển của mỗi dòng đó:
• Bệnh bạch cầu lym phô mạn tính.
• Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính.
• Bệnh bạch cầu lym phô cấp tính.
• Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính.
• Bệnh bạch cầu tế bào tóc.
1.3. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh 1
Xem thêm

18 Đọc thêm

Tiểu luận hóa trị liệu Bệnh ung thư máu và các liệu pháp điều trị

TIỂU LUẬN HÓA TRỊ LIỆU BỆNH UNG THƯ MÁU VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ

Bài tiểu luận
MÔN HỌC: HÓA TRỊ LIỆU
Họ và tên: Nguyễn Văn Cường
Lớp : CKII
Chủ đề
Bệnh ung thư máu và các liệu pháp điều trị
Ung thư máu (Leukemia) thường được gọi với tên khác là ung thư bạch cầu, là một loại ung thư ác tính. Ung thư của cơ quan tạo ra các huyết cầu như tủy xương và hệ thống bạch huyết (lymp system ).
Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến, các bạch cầu được sản xuất 1 cách nhanh chóng rối loạn tạo ra các bạch cầu bất thường không hoạt động được và các bạch cầu ung thư này dần dần xâm lấn đến các hồng cầu (red blood cell) và tiểu cầu ( platelet) ngăn chặn sản xuất và phá hủy các tế bào này.
Trong phạm vi tiểu luận với chủ đề Ung thư máu và các liệu pháp điều trị, học viên xin đề cập hai vấn đề chính:
1. Đại cương về bệnh ung thư máu
2. Các liệu pháp điều trị bênh ung thư máu

I. ĐẠI CƯƠNG
1.Mở đầu:
Ung thư máu chia làm 2 dạng cấp tính và mãn tính.
Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá hung dữ, đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu thức ăn và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu). Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ mắc bệnh rất cao (như 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki sau thời chiến tranh đệ nhị thế giới ở Nhật).
Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng, bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền

Bệnh ung thư máu xuất hiện 300.000 ca bệnh mới mỗi năm trên thế giới (chiếm 2,8% trong số tất cả các bệnh ung thư) và 220,000 người chết vì bệnh ung thư máu hàng năm.
Nhiều nghiên cứu cho rằng, với việc sử dụng điện thoại di động quá nhiều là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh ung thư máu ngày càng gia tăng. Sóng điện thoại di động tác động lên tủy xương trong vùng não người làm tăng tỷ lệ bạch cầu nhiều hơn tỷ lệ hồng cầu.
Độ tuổi thường gặp đối với bệnh ung thư máu dưới 15 tuổi là 21.7% và trên 15 tuổi là 78.2%. Số lượng bệnh nhân ung thư máu chủ yếu từ 3569 tuổi.
2. Phân loại các thể bệnh ung thư máu
Bệnh bạch cầu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển củabệnh:
a. Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì. Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn.
b. Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường. Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh.
Ngoài ra còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho và tiến triển của mỗi dòng đó:
1 Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (Ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy: Acute myelogenous leukemia ) (AML). Là dạng ung thư máu thường gặp nhất, có thể ở trẻ em và người lớn.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Nguy cơ dễ mắc các bệnh ung thư từ thực phẩm

NGUY CƠ DỄ MẮC CÁC BỆNH UNG THƯ TỪ THỰC PHẨM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cho đến nay những kết quả nghiên cứu để tìm ra phương pháp điều trị căn bệnh chết người này vẫn chưa có nhiều tiến triển. Trong quá trình nghiên cứu tìm ra phương pháp chữa bệnh, các nhà khoa học đã phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi bất thường của các tế bào. Ngoài các tác nhân vật lý, hoá học, môi trường, vi khuẩn, căng thẳng áp lực, cảm xúc thì chế độ ăn uống cũng là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh chết người này. Từ những nghiên cứu tổng hợp, các nhà khoa học khuyến cáo nên hạn chế ăn những thực phẩm dưới đây: 1. Chất béo Những người ăn nhiều chất béo dễ mắc các bệnh ung thư vú và ung thư ruột. Axit mật có vai trò giúp tiêu hoá lượng chất béo. Loại axit này được chia thành nhiều chất khác nhau bởi vi khuẩn Clostridium trong ruột, trong đó có 3-methylchola-threne được coi như có khả năng gây ung thư ruột già. Nếu càng ăn nhiều chất béo thì lượng acid mật tiết ra càng cao, lượng 3 - methylchola - threne càng nhiều, nguy cơ ung thư ruột già càng cao. Còn với bệnh ung thư vú thì ăn nhiều chất béo làm tăng prolactin - những chất được coi như “bạn đồng hành” của ung thư vú. Những người cùng lúc ăn nhiều chất béo và chất đạm thì nguy cơ ung thư lại càng cao hơn, nhất là ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư thận, ung thư ruột, ung thư tuyến tuỵ. 2. Rượu   Những người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài dễ mắc các bệnh ung thư miệng, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư vòm họng. (Ảnh minh họa) Những người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài dễ mắc các bệnh ung thư miệng, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư vòm họng. Rượu cũng là một trong nhừng nguyên nhân gây ra những bệnh về gan như xơ cứng gan, ung thư gan. Những phụ nữ uống rượu sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn những người không uống. 3. Thuốc lá   Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. (Ảnh minh họa) Dù không phải là thực phẩm nhưng thuốc lá thường gắn liền với thói quen sinh hoạt và được dùng với lượng lớn không kém gì thực phẩm. Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. Hút thuốc lá cũng là nguy cơ ung thư miệng, bọng đái, thận, tụy tạng. Người hít khói thuốc dư cũng chịu nhiều rủi ro cho sức khỏe. 4. Thực phẩm dư thừa hoá chất diệt sâu bọ Nhiều nghiên cứu cho thấy, một số thuốc diệt sâu bọ là nguy cơ gây ung thư khi con người tiếp xúc lâu với phân lượng cao, như là hít qua phổi, ngấm qua da hoặc lẫn trong thực phẩm. 5. Gia vị Hiện nay có rất nhiều loại gia vị thực phẩm được sử dụng để bảo quản, tăng mùi vị và màu sắc cho thực phẩm. Theo quy định thì các gia vị này phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng, nhưng trên thực tế không ít cơ sở đã dùng các gia vị rất độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, đường hóa học cyclamate và saccharin được cho là làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang nhưng vẫn được dùng trên 40 quốc gia. Chất nitrit và nitrat (có trong thực phẩm hun khói) nếu dùng nhiều sẽ gây ung thư gan, ruột già.... 6. Thực phẩm nướng hoặc chiên   Ăn nhiều đồ nướng cũng dễ mắc các bệnh ung thư (Ảnh minh họa) Quá trình chiên kỹ hoặc chiên đi chiên lại nhiều lần sẽ tạo ra sản phẩm phụ gọi là acrylamide. Acrylamide - một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ cả trên não và cả đối với hệ thống sinh sản, tiêu hóa. Do đó, tốt nhất là hạn chế ăn các đồ ăn nướng và chiên. 7. Thực phẩm bị mốc   Thực phẩm bị mốc cũng là mầm mống gây ung thư (Ảnh minh họa) Nhiều người thường cho rằng nấm mốc trong thực phẩm khô đơn giản chỉ là một dạng vi sinh vật vô hại, có thể lau rửa sạch mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, theo cảnh báo của các chuyên gia, chính những nấm mốc này lại mang mầm bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng con người. Gạo, lúa mỳ, đậu, ngô, đậu phộng và các loại thực phẩm khác rất dễ ẩm mốc khi bị ô nhiễm, mốc sẽ sản sinh ra chất độc hại gây ung thư là streptozotocin aflatoxin. Ðể hạn chế mắc các bệnh ung thư, các nhà khoa học đã đưa ra những lời khuyên hữu ích sau đây: - Ăn nhiều rau quả tươi và các  thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật bởi đây là nguồn cung cấp cho cơ thể các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết sẽ giúp cơ thể có được sức đề kháng tốt để chống lại các yếu tố gây ung thư. Mỗi người mỗi ngày nên ăn ít nhất 500g rau tươi và quả chín, nên ăn đa dạng các loại rau xanh, quả tươi để thay đổi khẩu vị và tạo nên sự dồi dào của các vitamin, khoáng chất tự nhiên do chúng mang lại. - Hạn chế ăn thịt màu đỏ, chất béo và muối trong bữa ăn hằng ngày. Nên chọn lọc thực phẩm ít chất béo, có thể sử dụng các loại sữa đã tách bơ, ăn ít các món chiên, xào, hạn chế ăn mặn tối đa. - Chất lượng thực phẩm phải được đảm bảo tươi sống, sạch sẽ, hợp vệ sinh. Ăn chín uống sôi. Không chế biến thức ăn ở nhiệt độ cao, nướng rán thực phẩm quá cháy. - Ðảm bảo cân nặng cơ thể hợp lý: đừng để quá gầy hay quá béo. Thường xuyên rèn luyện thân thể bằng các môn thể thao phù hợp với cân nặng và sức khỏe của mình. - Hạn chế uống rượu bia và các chất kích thích.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TIỂU LUẬN BỆNH UNG THƯ MÁU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

TIỂU LUẬN BỆNH UNG THƯ MÁU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI





TIỂU LUẬN
BỆNH UNG THƯ MÁU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ



Họ và tên: Lê Quang Huy
Lớsp: CH 17
Mã học viên: 1211033




Mục Lục
I. Tổng Quan
1. Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là gì?
2. Phân loại các thể bệnh bạch cầu
II. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh và triệu chứng bệnh
1. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
2. Triệu chứng của bệnh bạch cầu
III. Các phương pháp chẩn đoán bệnh bạch cầu
IV. Các phương pháp điều trị bệnh bạch cầu

I. Tổng Quan
Bệnh ung thư máu xuất hiện 300.000 ca bệnh mới mỗi năm trên thế giới (chiếm 2,8% trong số tất cả các bệnh ung thư) và 220,000 người chết vì bệnh ung thư máu hàng năm.
Ung thư bạch cầu còn có tên gọi ngắn gọn là bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá hung dữ, đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu thức ăn và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u.
1. Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là gì?
Ung thư máu hay bệnh bạch cầu là bệnh ác tính của các tổ chức tạo máu. Bệnh xuất hiện khi cơ thể không thể kiểm soát được số lượng các bạch cầu có trong máu và làm cho số lượng bạch cầu trong máu tăng cao, điều này là nguyên nhân chính gây ra bệnh ung thư máu.Trong máu có các tế bào máu khác nhau với các chức năng khác nhau, được chia làm 3 loại, được gọi là 3 dòng tế bào:
• Bạch cầu: có chức năng chống lại sự nhiễm khuẩn.
• Hồng cầu: có chức năng vận chuyển ôxy đến các tổ chức trong cơ thể.
• Tiểu cầu: có chức năng đông máu, để kiểm soát sự chảy máu.
Các tế bào máu không tự sinh ra trong máu mà được tạo ra từ tế bào nguồn trong tủy xương, phát triển thành các dòng tế bào.
Các tế bào máu liên tục chết đi và các tế bào mới được hình thành thay thế cho các tế bào chết. Việc tạo ra tế bào máu mới liên tục được tiếp diễn trong tủy xương sao cho tế bào của mỗi dòng ổn định về hình thái với số lượng trong một phạm vi tương đối ổn định.
Ở các bệnh nhân bị bệnh bạch cầu, quá trình tạo tế bào máu trong tủy xương bị biến đổi, tạo ra các tế bào bạch cầu bất thường, đó là các tế bào bạch cầu ác tính. Không giống các tế bào máu bình thường, các tế bào máu ác tính không chết đi mà có thể tăng sinh phát triển vô độ, lấn át các dòng tế bào máu bình thường khác, làm cho chúng không được thực hiện chức năng bình thường.
2. Phân loại các thể bệnh bạch cầu
Bệnh bạch cầu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh:
• Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu. Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì. Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn.
• Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường. Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh.

Còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho và tiến triển của mỗi dòng đó:
• Bệnh bạch cầu lymphô mạn tính (CLL): Các tế bào lymphô bị ảnh hưởng và thường tiến triển chậm. Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi. Hầu như không gặp ở trẻ em.
• Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và giai đoạn đầu thường tiến triển chậm. Phần lớn gặp ở người lớn.
Xem thêm

12 Đọc thêm

TÀI LIỆU SỚM KHÁM PHÁ UNG THƯ RUỘT GIÀ DOCX

TÀI LIỆU SỚM KHÁM PHÁ UNG THƯ RUỘT GIÀ DOCX

Sớm Khám Phá Ung Thư Ruột Già Bác sĩ Nguyễn Ý Đức (Câu Chuyện Thầy Lang) Từ năm 2000, tháng Ba mỗi năm đã được các tổ chức chống ung thư tại Hoa Kỳ chọn là tháng để bà con ”đề cao cảnh giác” với nan bệnh ung thư Ruột Già và lưu ý tới việc tới các bác sĩ khám nghiệm để sớm tìm ra bệnh. Ung thư ruột già là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ nhì trong các bệnh ung thư tại Mỹ, sau phổi. Thống kê cho biết, năm 2008, có 139,000 người lớn tại Hoa Kỳ được chẩn đoán bị ung thư ruột già với hơn 50.000 tử vong. Theo Hội Ung Thư Hoa Kỳ, phân nửa số tử vong này có thể được cứu sống nếu mọi người hiểu rõ bề bệnh, phòng tránh các nguy cơ gây ra bệnh và làm các thử nghiệm tìm bệnh đều đặn. Các thử nghiệm sàng lọc này có thể sớm nhận diện bướu thịt (polyp) đáng ngại hoặc u tiền ung thư để loại bỏ trước khi chúng chuyển sang bệnh hiểm nghèo. Theo bác sĩ Durado D. Brooks, Giám đốc khoa ung thư nhiếp tuyến và ruột già thuộc Hội Ung Thư Hoa Kỳ thì “Ung thư ruột già là một trong những ung thư duy nhất có thể phòng tránh qua khám nghiệm đều đặn”. Cơ quan Kiểm Soát Bệnh Hoa Kỳ (CDC) cũng có cùng quan điểm. Ngoài ra nghiên cứu cho hay, 90% người được sàng lọc khám phá ra ung thư ruột già sớm có tỷ lệ sống sót 5 năm, trong khi đó nếu khám phá trễ số người sống sót còn có 10%. Vậy thì những thử nghiệm đó là gì và được thực hiện như thế nào, chúng ta cùng nhau tìm hiểu. Trước hết, xin nhắc lại là những rủi ro đưa tới ung thư ruột già gồm có: -Tuổi cao ( trên 50 tuổi); -Cá nhân hoặc thân nhân có tiền sử bướu thịt, ung thư ruột già; -Cá nhân có tiền sử viêm loét ruột; -Di truyền; -Hút thuốc lá; -Đời sống quá tĩnh tại; -Ăn nhiều thịt đỏ. 1-Khám hậu môn với ngón tay Thử nghiệm đầu tiên mà thầy thuốc sẽ làm là khám hậu môn. Nói tới khám xét là ta cứ
Xem thêm

4 Đọc thêm

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI





TIỂU LUẬN

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ



Họ tên: Đỗ Thị Hồng Gấm
Mã học viên: 1211015
Lớp: Cao học 17


Hà Nội – 2013



MỤC LỤC
A Đặt vấn đề
B Nội dung

Phần I
Giảm đau trong ung thư
Khái niệm đau
Phân loại và nguyên nhân đau
Đánh giá mức độ đau
Xử trí đau
Điều trị đau bằng thuốc
Điều trị đau bằng các phương pháp khác



Phần II
Điều trị các triệu chứng trong điều trị ung thư
Nôn và buồn nôn
Táo bón
Các triệu chứng khác
C Tài liệu tham khảo



















A. Đặt vấn đề
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể. Đây là căn bệnh gây tử vong đứng thứ hàng thứ hai cho con người sau bệnh lý tim mạch. Đời sống kinh tế xã hội càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao, công nghiệp ngày càng phát triển đồng nghĩa với tỉ lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2006 bệnh ung thư đang có xu hướng gia tăng. Mỗi năm có đến 150000 người được chẩn đoán mắc ung thư, trong đó tỉ lệ người bị ung thư được điều trị rất thấp, chỉ chiếm khoảng 10%. Thực tế cho thấy triệu chứng đau và những chịu đựng về đau là những biểu hiện thường gặp ở các bệnh nhân ung thư và những người mắc các bệnh đe doạ đến tính mạng nói chung. Theo kết quả nghiên cứu, trên thế giới có đến 6080% người nhiễm HIV và bệnh nhân ung thư có các biểu hiện đau đớn, suy sụp tinh thần đặc biệt trong giai đoạn cuối của bệnh.
Điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới. Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư ở các nước đang phát triển và kể cả ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ.
Với mục tiêu tất cả bệnh nhân phải được điều trị khi có xuất hiện đau để làm giảm sự đau đớn và cải thiện chất lượng cuộc sống tất cả các giai đoạn trong quá trình bệnh tật, “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong điều trị ung thư” sẽ cung cấp thêm các thông tin hữu ích cho các cán bộ nhân viên y tế, người nhà và cộng đồng chăm sóc người bệnh tốt hơn.
B. Nội dung
I. Điều trị giảm đau trong ung thư.
1. Khái niệm đau
Đau là cảm giác khó chiu ở một người do tổn thương mô hiện có hoặc tiềm tàng, hoặc được mô tả giống như có tổn thương mô thực sự mà người đó đang phải chịu đựng.
2. Phân loại và nguyên nhân đau
2.1. Phân loại đau
Xem thêm

16 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI




TIỂU LUẬN

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ




Họ tên: Ngô Phương Chung
Mã học viên: 1211006
Lớp: Cao học 17




Hà Nội – 2013

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.
Ung thư là mối lo của nhân loại trong thế kỷ XXI. Đây là căn bệnh gây tử vong đứng thứ hàng thứ hai cho con người sau bệnh lý tim mạch. Đời sống kinh tế xã hội càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao, công nghiệp ngày càng phát triển đồng nghĩa với tỉ lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, theo ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc ung thư nhưng con số tử vong lên tới 60%. Lý do là hầu hết các bệnh nhân phát hiện ung thư đều ở giai đoạn muộn (giai đoạn III hoặc IV), vì vậy nhu cầu về điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng trong ung thư là rất lớn. Điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới, cùng với các ưu tiên khác như: dự phòng ung thư, sàng lọc và phát hiện sớm bệnh ung thư, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ung thư. Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư ở các nước đang phát triển và kể cả ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ.
Với mục tiêu tất cả bệnh nhân phải được điều trị khi có xuất hiện đau để làm giảm sự đau đớn và cải thiện chất lượng cuộc sống tất cả các giai đoạn trong quá trình bệnh tật của họ, chuyên đề “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong điều trị ung thư” này sẽ cung cấp cho các cán bộ y tế, gia đình người bệnh và cộng đồng thêm các thông tin hữu ích để chăm sóc người bệnh tốt hơn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

NHỮNG TRIỆU CHỨNG BÁO HIỆU NGUY CƠ MẮC UNG THƯ DẠ DÀY

NHỮNG TRIỆU CHỨNG BÁO HIỆU NGUY CƠ MẮC UNG THƯ DẠ DÀY

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trên thế giới, mỗi năm có hơn 800.000 người tử vong do ung thư dạ dày và Việt Nam nằm trong số những nước có tần suất mắc ung thư dạ dày cao. Việc nhận biết những dấu hiệu ung thư dạ dày để phòng tránh kịp thời căn bệnh nguy hiểm này là điều vô cùng cần thiết. Phần lớn bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm không được phát hiện kịp thời do những dấu hiệu ung thư dạ dày thời kỳ đầu không rõ rệt. Vậy làm thế nào để phát hiện sớm ung thư dạ dày?Dấu hiệu ung thư dạ dày giai đoạn đầu:Chướng bụng đầy hơiTriệu chứng này thường xuất hiện trong suốt quá trình mắc bệnh của bệnh nhân ung thư dạ dày. Trên 70% số bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn đầu có biểu hiện chướng bụng, đầy hơi rõ rệt. Tình trạng này thường xảy ra trong những thời điểm yên tĩnh. Khi hoạt động thể thao, phân tán tư tưởng, triệu chứng này mất đi nhưng vẫn khiến hiệu quả điều tiết ăn uống của bệnh nhân suy giảm.   Ợ chua, nóng ruột là biểu hiện của đau dạ dày (Ảnh minh họa) Ợ chua, nóng ruột (nóng dạ dày) Các bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn này thường có cảm giác khó chịu, nhâm nhẩm đau ở dạ dày, uống thuốc thấy giảm. Một số trường hợp sau khi ăn có cảm giác khó chịu, ợ nóng, khi đi khám có thể bị chẩn đoán nhầm sang viêm dạ dày.Sút cân, mệt mỏiHiện tượng này xuất hiện do bệnh nhân có biểu hiện chán ăn lâu ngày. Thực tế chán ăn mệt mỏi cũng là dấu hiệu ung thư dạ dày dễ nhận biết của những người mắc ung thư dạ dày. Nhưng do không có cơn đau dữ dội nên nhiều bệnh nhân đã chủ quan không đi khám. Những bệnh nhân mắc bệnh thời gian dài, có thể xuất hiện hiện tượng xuất huyết đường tiêu hóa, biểu hiện như nôn ra máu, đại tiện phân đen, hoặc xét nghiệm tìm thấy hồng cầu trong máu. Dấu hiệu ung thư dạ dày giai đoạn muộn:Đau bụng dữ dội, thời gian đau lâu, uống thuốc không đỡ.Những biểu hiện dưới đây của ung thư dạ dày giai đoạn muộn thực chất là những biểu hiện của ung thư dạ dày giai đoạn sớm nhưng biểu hiện nặng hơn.   Dạ dày gây đau bụng dữ dội (Ảnh minh họa) Sút cân và thiếu máuBệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn cuối khả năng di căn cao. Thông thường là trực tiếp xâm lấn sang các tạng xung quanh như tụy, gan, đại tràng ngang … hoặc cũng có thể di căn hạch ổ bụng, hạch cạnh dạ dày, di căn xa...Bên cạnh đó, khối u dạ dày có thể dẫn tới các biến chứng thủng dạ dày, xuất huyết, hoại tử, tắc .v.v… Bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn cuối còn có biểu hiện đau thượng vị, chán ăn, sút cân, mệt mỏi, buồn nôn, nôn ói, đại tiện ra máu hoặc phân đen v.v…Nuốt nghẹn, nônNgoài ra, cũng có một số dấu hiệu đau dạ dày khác như hiện tượng nuốt nghẹn, nôn. Ung thư dạ dày có thể dẫn tới thủng dạ dày cấp, đau bụng, viêm phúc mạc. Một số trường hợp lại có biểu hiện tiêu chảy, táo bón, đau bụng dưới, sốt…Ung thư dạ dày giai đoạn cuối triệu chứng rất rõ rệt, vì vậy khiến bệnh nhân rất đau đớn. Việc phát hiện sớm, chẩn đoán sớm, điều trị sớm sẽ nâng cao hiệu quả điều trị. 
Xem thêm

1 Đọc thêm

 SALMONELLA VÀ BỆNH THƯƠNGHÀN

SALMONELLA VÀ BỆNH THƯƠNGHÀN

Salmonella typhi1.1. Đặc điểm chung Salmonella là trực khuẩn đường ruột, có hình quengắn. Trực khuẩn Gram âm. Kích thước tế bào 0,5 - 3μm. Có khả năng di động trừ Salmonella gallinarum vàSalmonella pullorum.1.1. Đặc điểm chung Khoảng pH phát triển rộng 4 – 9. Nhiệt độ tối ưu 37oC. Lên men glucose, không lên menlactoza. Sinh H2S, không sinh Indol, không phângiải ure. Không chịu mặn.1.2. Độc tốNội độc tố: Vi khuẩn Salmonella cónội độc tố rất mạnh và chỉ giải phóng rangoài khi tế bào tế bào bị phân hủy.Nội độc tố của Salmonella gồm có 2loại: độc tố ruột gây sung huyết và mụn
Xem thêm

51 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TIỂU LUẬN

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI





TIỂU LUẬN

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ



Họ tên: TRẦN KIỀU DUYÊN
Mã học viên: 1211014
Lớp: Cao học 17







Hà Nội – 2013



A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Hiện có khoảng 200 loại ung thư
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.





Ung thư là mối lo của nhân loại trong thế kỷ XXI. Đây là căn bệnh gây tử vong đứng thứ hàng thứ hai cho con người sau bệnh lý tim mạch. Đời sống kinh tế xã hội càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao, công nghiệp ngày càng phát triển đồng nghĩa với tỉ lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, theo ước tính mỗi năm có khoảng 150.000 người mới mắc ung thư nhưng con số tử vong lên tới 60%. Lý do là hầu hết các bệnh nhân phát hiện ung thư đều ở giai đoạn muộn (giai đoạn III hoặc IV), vì vậy nhu cầu về điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng trong ung thư là rất lớn.
Điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới, cùng với các ưu tiên khác như: dự phòng ung thư, sàng lọc và phát hiện sớm bệnh ung thư, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ung thư. Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư ở các nước đang phát triển và kể cả ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ.
Với mục tiêu tất cả bệnh nhân phải được điều trị khi có xuất hiện đau để làm giảm sự đau đớn và cải thiện chất lượng cuộc sống tất cả các giai đoạn trong quá trình bệnh tật của họ, chuyên đề “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong điều trị ung thư” này sẽ cung cấp cho các cán bộ y tế, gia đình người bệnh và cộng đồng thêm các thông tin hữu ích để chăm sóc người bệnh tốt
Xem thêm

14 Đọc thêm

TUAN 9 DE PHONG BENH GIUN

TUAN 9 DE PHONG BENH GIUN

KẾT LUẬN: Triệu chứng của người bị bệnh giun là hay TRANG 6 *GIUN VÀ ẤU TRỰNG CỦA GIUN CÚ THỂ SỐNG NHIỀU NƠI TRONG CƠ THỂ NHƯ: RUỘT, DẠ DÀY, GAN PHỔI, MẠCH MỎU NHƯNG CHỦ YẾU LÀ Ở RUỘT.. [r]

15 Đọc thêm

BÀI TIỂU LUẬN Môn hóa trị liệu Ung thư máu và các phương pháp trị liệu

BÀI TIỂU LUẬN MÔN HÓA TRỊ LIỆU UNG THƯ MÁU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI






BÀI TIỂU LUẬN
Môn hóa trị liệu


“Ung thư máu và các phương pháp trị liệu”





Giảng viên: Nguyễn Tường Vy
Học viên: Dương Thị Thanh Tâm
Mã HV: 1211075
Lớp: CH 17






HÀ NỘI, 2013


I. ĐẠI CƯƠNG VỀ UNG THƯ MÁU
1. Khái niệm
Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là bệnh ác tính bắt nguồn từ các tổ chức tạo máu. Phần lớn các tế bào tạo máu bình thường bắt nguồn từ tế bào nguồn trong tủy xương. Các tế bào nguồn phát triển thành các dòng tế bào máu khác nhau.
Ở người bị bệnh bạch cầu, tủy xương hình thành các tế bào bạch cầu bất thường và đây chính là các tế bào bạch cầu ác tính. Không giống các tế bào máu bình thường, tế bào máu không chết đi mà có thể tăng sinh phát triển lấn át các dòng tế bào máu bình thường khác, làm cho chức năng bình thường của các dòng tế bào này không được thực hiện. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u

2. Phân loại
Bệnh bạch cầu được chia theo 2 cách. Cách thứ nhất theo tốc độ tiến triển của bênh, cách thứ hai theo loại tế bào máu bị bệnh.
Dựa trên sự phát triển của bệnh:
Bệnh bạch cầu mạn: trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu. Lúc đầu người bệnh có thể không có triệu chứng gì. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn và số lượng tăng dần. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện, lúc đầu các triệu chứng có thể nhẹ sau đó nặng nề hơn.
Bệnh bạch cầu cấp: các tế bào bất thường là các nguyên bào còn non và tế bào bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường. Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh và bệnh xấu đi nhanh chóng.
Dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: bệnh bạch cầu có thể bắt nguồn từ các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho
Ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy ( Acute Myelogenous Leukemia AML) Là dạng ung thư máu có thể thấy ở cả trẻ em và người lớn. Là sự tăng sinh các tế bào non bất thường và sự thiểu sản các tế bào máu bình thường. Các tế bào ác tính tăng sinh trong tủy dần thay thế các tế bào tạo máu cùng các chức năng của chúng.
Ung thư máu cấp tính nguyên bào lympho ( Acute Lymphocytic Leukemia ALL ) Đây là dạng ung thư máu thường nhất của trẻ em ( 60 70% ung thư máu ở trẻ em). Đặc trưng là sự tăng sinh ác tính các tế bào lympho non trong tủy xương. Các tế bào này lấn át các tế bào bình thường trong tủy làm giảm sin h các tế bào này gây thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hạt.
Ung thư máu mạn tính nguyên bào tủy ( Chronic Myelogenous Leukemia CML ) Loại này thường thấy ở người lớn. Đặc tính của loại này có bất thường của nhiễm thể gọi là Philadelphia chromosome. Đặc trưng là tăng sinh và không trưởng thành các bạch cầu hạt, tăng bạch cầu ái kiểm, thiếu máu, tăng tiểu cầu và lách to.
Ung thư máu mạn tính nguyên bào lympho ( Chronic Lymphocytic Leukemia ) Loại này thường ở ngườì lớn, rất hiếm ở trẻ em. Thường không gây triệu chứng trong nhiểu năm. Bệnh bạch cầu lympho mạn là một bệnh tăng sinh ác tính bạch cầu lympho trưởng thành về hình thái học, có xu hướng tích lũy ở trong máu ngoại vi, tủy xương, hạch, lách và gan dẫn đến suy giảm chức năng tủy xương và phì đại các cơ quan nói trên. Trong số các trường hợp mắc bệnh, 98% thuộc
Xem thêm

18 Đọc thêm

10 xét nghiệm sàng lọc ung thư phụ nữ cần biết

10 XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC UNG THƯ PHỤ NỮ CẦN BIẾT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tự kiểm tra vú tại nhà Tự kiểm tra vú là quá trình đơn giản. Phụ nữ tiền mãn kinh nên tự kiểm tra vào kỳ kinh nguyệt hàng tháng là tốt nhất vì ngực thay đổi trong thời gian này. Hãy làm theo 3 bước dưới đây: - Nhìn vào gương để xem có thay đổi nào như chỗ trũng hoặc sưng không. - Nằm xuống, dùng đầu ngón tay kiểm tra mỗi bên ngực và nách xem có hạch không. - Bóp nhẹ núm vú xem có tiết dịch hay không.   (Ảnh minh họa) Nếu phát hiện có điều bất thường, hãy đến gặp bác sĩ để được tư vấn. Chụp quang tuyến vú là kiểu chụp tia X quang để phát hiện khối u ở vú. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về thời điểm thích hợp để thực hiện xét nghiệm này, có thể bắt đầu từ 40 hoặc 50 tuổi, tùy thuộc vào tiền sử bệnh của gia đình và các yếu tố ung thư tiềm ẩn của bản thân bạn. Xét nghiệm di truyền để phát hiện gen đột biến gây ung thư vú BRCA Xét nghiệm này sử dụng máu hoặc nước bọt để phát hiện những đột biến gây hại trong gen BRCA1 hoặc BRCA2 – 2 loại đột biến làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng ở phụ nữ. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ NCI cho biết kết quả xét nghiệm BRCA dương tính nghĩa là bạn có 45-65% nguy cơ mắc ung thư vú, 11-39% nguy cơ ung thư buồng trứng. Kết quả âm tính nghĩa là bạn không có gen tiềm ẩn nguy cơ cao. Xét nghiệm phết mỏng cổ tử cung (Pap) Xét nghiệm phết mỏng cổ tử cung dùng 1 mẫu tế bào để phát hiện những thay đổi trong cổ tử cung như chảy máu bất thường, đau âm đạo khi quan hệ tình dục, có thể là dấu hiệu của ung thư cổ tử cung. Bác sĩ sẽ tìm các tế bào bất thường trong mẫu tế bào cổ tử cung của bạn. Kết quả xét nghiệm bất thường nghĩa là tế bào có thể gây ung thư và bạn cần làm soi cổ tử cung – dùng thiết bị chiếu sáng để tìm dấu hiệu bệnh trong cổ tử cung. Nhóm dịch vụ sức khỏe Hoa Kỳ (USPSTF) khuyên nên làm xét nghiệm Pap 3 năm 1 lần từ 21 tuổi đến 65 tuổi. Nếu không muốn tiến hành thường xuyên thì hãy xét nghiệm Pap 5 năm 1 lần cùng với xét nghiệm HPV từ độ tuổi 30 đến 65.   (Ảnh minh họa) Xét nghiệm HPV Xét nghiệm di truyền vi rút HPV là xét nghiệm từ mẫu tế bào cổ tử cung. Nếu kết quả xét nghiệm dương tính với các vi rút HPV 16 và 18, bạn sẽ phải làm thêm xét nghiệm soi cổ tử cung. Nếu kết quả cho thấy có vi rút HPV 12 – liên quan đến ung thư cổ tử cung, thì bước tiếp theo bạn cần làm xét nghiệm Pap. Chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc Spiral CT Chụp Spiral CT là kiểu chụp X quang phổi chính xác và chi tiết hơn so với chụp X quang đơn giản. Nhóm USPSTF khuyến nghị người hút thuốc hoặc từng hút thuốc từ 55 đến 80 tuổi nên chụp Spiral CT thường niên. Chụp Spiral CT có thể mang đến rủi rỏ bao gồm việc tiếp xúc với tia phóng xạ và tỉ lệ sai tương đối cao (25%), dẫn đến lo lắng và các xét nghiệm không cần thiết. Xét nghiệm ung thư kết tràng Xét nghiệm đầu tiên để chẩn đoán ung thư kết tràng là xét nghiệm tìm máu trong phân - 1 dấu hiệu có thể là của Polyp trong kết tràng hoặc trực tràng. Nếu tìm thấy máu trong mẫu phân sau khi được phân tích, bác sĩ có thể sẽ yêu cầu bạn phải soi ruột già. Polyp được phát hiện sẽ được đưa đi làm xét nghiệm ung thư kết tràng. Nội soi hậu môn cũng là một quy trình tương tự nhưng không gây mê, đơn giản hơn, thường được thực hiện mỗi 3 năm. Rủi ro của 2 xét nghiệm này là chảy máu, rách hoặc thủng kết tràng. Nhóm USPSTF khuyên nên xét nghiệm soi ruột già từ 50 tuổi, 10 năm 1 lần hoặc hơn theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Xét nghiệm phát hiện ung thư tử cung và màng trong tử cung Các triệu chứng của ung thư tử cung và màng trong tử cung là chảy máu âm đạo bất thường, chảy máu sau mãn kinh, đau xương chậu sau quan hệ tình dục hoặc khi đi tiểu. Bạn sẽ cần xét nghiệm xương chậu, siêu âm để tìm ra dấu hiệu của khối u tử cung. Xét nghiệm ung thư buồng trứng Nhóm USPSTF khuyên nên làm xét nghiệm nếu có triệu chứng ung thưbuồng trứng, gia đình có tiền sử ung thư hoặc có gen đột biến BRCA. Các dấu hiệu đó là là sưng đau dai dẳng, cần đi tiểu gấp, đau xương chậu bất thường. Bác sĩ phụ khoa sẽ phát hiện khối u bằng ảnh chụp cắt lớp với sự hỗ trợ của máy tính hoặc chụp cộng hưởng.   (Ảnh minh họa) Xét nghiệm chẩn đoán ung thư da Xét nghiệm bao gồm kiểm tra nốt ruồi để tìm những thay đổi có thể là dấu hiệu của ung thư tế bào cơ sở, ung thư tế bào hắc tố hoặc ung thư tế bào vảy. Bạn có thể tự kiểm tra tại nhà, nếu thấy các dấu hiệu sau thì hãy đến gặp bác - Không đối xứng: 1 bên nốt ruồi không giống bên kia - Đường viền: Đường viền nốt ruồi có hình dáng lạ, khó xác định. - Màu sắc: Nốt ruồi nhiều màu, chuyển dần từ nâu cam, nâu, đen, trắng, đỏ hoặc xanh dương. - Đường kính: Nốt ruồi có đường kính lớn hơn cục tẩy bút chì - Sự tiến triển: Nốt ruồi có kích thước, hình dáng, màu sắc thay đổi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bắt bệnh qua thay đổi của lưỡi

BẮT BỆNH QUA THAY ĐỔI CỦA LƯỠI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo tin tức trên Daily Mail, các nhà khoa học ở Ấn Độ đang phát triển một hệ thống thử nghiệm mới cho phép chẩn đoán 14 chứng bệnh dựa trên triệu chứng của lưỡi. Đối với những người sống ở các vùng xa xôi, y tế khó khăn, thiếu hụt bác sĩ, việc tự kiểm tra lưỡi đơn giản để phát hiện bệnh có thể gặp khó khăn. Do vậy, các nhà khoa học đã phát triển hệ thống chẩn đoán bệnh qua triệu chứng của lưỡi. Hệ thống chẩn đoán này dựa trên các triệu chứng kết hợp với một số phân tích hình ảnh kỹ thuật số lưỡi của bệnh nhân để đưa ra kết luận phù hợp.  Lưỡi có thể mang những dấu hiệu cảnh báo như ho, sốt, vàng da, đau đầu, rối loạn tiêu hóa và hỗ trợ các bác sĩ chẩn đoán bệnh. Theo các nhà khoa học Ấn Độ, lưỡi khỏe mạnh thường có màu hồng, sạch sẽ, được bao phủ bởi các nhú cảm giác.   Rãnh dài trên bề mặt lưỡi là một dấu hiệu của bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục.  Trong khi đó, lưỡi bị viêm, đỏ, đen hoặc trắng có thể là dấu hiệu phát triển của nấm. Lưỡi sưng có thể là một phản ứng dị ứng. Lưỡi bị đen hoặc không có màu có thể là do lạm dụng thuốc kháng sinh hoặc do sự phát triển quá mức của nấm ở bệnh nhân HIV. Rãnh dài trên bề mặt lưỡi là một dấu hiệu của bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, chẳng hạn như bệnh giang mai. Lưỡi bị loét có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh viêm ruột hoặc viêm loét đại tràng. Lưỡi trơn láng, giống như một bắp thịt có thể tiết lộ tình trạng cơ thể bạn đang thiếu hụt vitamin B12, sắt hoặc thiếu folate. Lưỡi của người ngáy ngủ thường có kích thước lớn. Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Anh cảnh báo, khi xuất hiện vết loét hoặc cục u trên lưỡi, tình trạng chảy máu không rõ nguyên nhân có thể là một dấu hiệu của ung thư miệng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bài giảng bộ môn truyền nhiễm lỵ amip

BÀI GIẢNG BỘ MÔN TRUYỀN NHIỄM LỴ AMIP

Nhiễm amip: Mang Entamoeba Histolytica
Không triệu chứng
Có triệu chứng:
Bệnh amip ruột
Bệnh amip ngoài
Lỵ Amip: Nhiễm trùng ở đại tràng do E. Histolytica
Nhiễm amip: Mang Entamoeba Histolytica
Không triệu chứng
Có triệu chứng:
Bệnh amip ruột
Bệnh amip ngoài
Lỵ Amip: Nhiễm trùng ở đại tràng do E. Histolytica

26 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TIỂU LUẬN ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI





TIỂU LUẬN

ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ



Họ tên: Vũ Thị Nhiễu
Mã học viên: 1211060
Lớp: Cao học 17


Hà Nội – 2013



MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ
II NỘI DUNG
Phần 1: ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU TRONG UNG THƯ
1.Cơ chế đau do ung thư
2.Đánh giá mức độ đau
3. Phân loại đau do ung thư
4. Nguyên tắc điều trị đau trong ung thư
5. Các thuốc giảm đau điều trị ung thư
5.1. Nguyên tắc dùng thuốc giảm đau trong ung thư
5.2. Các thuốc giảm đau
5.3. Điều trị đau bằng các phương pháp khác
Phần 2: CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
1. Nôn và buồn nôn
2. Táo bón
3. Các triệu chứng khác
3.1. Cổ trướng
3.2 Khó thở
3.3. Ăn kém, khô miệng
IIIKẾT LUẬN
IVTÀI LIỆU THAM KHẢO








I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư là một loại bệnh do sự phát triển không bình thường của tế bào. Cơ thể của con người được hình thành từ rất nhiều loại tế bào. Bình thường những tế bào được phát triển và phân chia khi cơ thể cần đến. Tuy nhiên đôi khi các tế bào tiếp tục phân chia kể cả khi không cần thiết làm hình thành nên những nhóm mô gọi là khối u.
Bệnh ung thư tiến triển âm thầm, ở giai đoạn đầu triệu chứng rất nghèo nàn và mơ hồ, khi phát hiện được thì bệnh đã ở giai đoạn muộn. Bệnh nhân ung thư phải gánh chịu hậu quả của bệnh, của hàng loạt biến chứng do bệnh tật, đặc biệt các các cơn đau, biến chứng của các phương pháp trị liệu gây nên. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng khoảng 75% bệnh nhân ung thư ở giai đoạn muộn đều có đau ở mức độ trung bình hoặc đau dữ dội.Ở Việt Nam có khoảng 79% bệnh nhân ung thư có đau kể từ lúc được chẩn đoán.Vì vậy điều trị ung thư phải điều trị toàn diện: điều trị bênh ung thư, điều trị giảm đau và các triệu chứng, hỗ trợ và tư vấn tâm lý.
Với mục tiêu tất cả bệnh nhân phải được điều trị khi có xuất hiện đau để làm giảm sự đau đớn và các triệu chứng khác để cải thiện chất lượng cuộc sống ở tất cả các giai đoạn trong quá trình bệnh tật của họ.
Tiểu luận này đề cập đến một khía cạnh trong điều trị ung thư, đó là vấn đề Điều trị giảm đau và các triệu trứng trong điều trị ung thư
Xem thêm

14 Đọc thêm

Nhận biết sớm những triệu chứng ung thư

NHẬN BIẾT SỚM NHỮNG TRIỆU CHỨNG UNG THƯ

Nhận biết sớm những triệu chứng ung thư: Phát hiện sớm các triệu chứng bệnh ung thư. Phòng và điều trị bệnh ung thưNhận biết sớm những triệu chứng ung thư: Phát hiện sớm các triệu chứng bệnh ung thư. Phòng và điều trị bệnh ung thư

158 Đọc thêm