TÌNH NGHĨA TRONG CA DAO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TÌNH NGHĨA TRONG CA DAO":

PHÂN TÍCH NHỮNG CÂU CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA

PHÂN TÍCH NHỮNG CÂU CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA

Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa của Việt Nam thật phong phú, đa dạng. Chỉ tìm hiểu sơ sơ có sáu bài mà ta đã thấy biết bao tâm trạng của con người, biết bao khát vọng, lí tưởng, còn thấy được cái đẹp của biết bao hình ảnh, từ ngữ tài tình mà người bình dân đã sáng tạo ra       Trong kho tàng ca dao truyền thống của ta, bộ phận nói về chủ đề than thân của người phụ nữ chiếm một tỉ lệ rất lớn và trong đó, đáng chú ý nhất là loại bài ngắn (hai câu lục bát hoặc bốn câu). Đó là một trong những mảng ca dao hay nhất, giàu ý nghĩa xã hội và cũng giàu chất ca dao nhất. Chúng thường được mớ đầu bằng những mô típ truyền thống quen thuộc: “Em như...” hoặc “Thân em...”. Đọc qua hoặc nghe qua thì thấy chúng có dáng dấp bề ngoài hao hao giống nhau, nhưng đi sâu vào từng bài cụ thể thì sẽ thấy mỗi câu, mỗi bài đều có những nét riêng không lặp lại về nội dung cũng như về nghệ thuật: “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”       Đây là niềm băn khoăn của cô con gái mới lớn, bước vào tuổi lấy chồng. Hình ảnh tấm lụa đào lộng lẫy tượng trưng cho nhan sắc và tuổi xuân phơi phới của người con gái đến tuổi dậy thì, chứng tỏ người con gái ý thức được rất rõ giá trị của mình. Nhưng đây không phải là tấm lụa đào cất trong rương, vắt trong nhà mà đem bán giữa chợ: phất phơ giữa chợ. Cô gái thấy mình đến tuổi gả bán. Trong điều kiện chưa có hôn nhân tự do, mà do mai mối đưa đường, người con gái cảm thấy như là đang ở giữa chợ. “Biết vào tay ai” là một băn khoăn, không phải sợ ế, sợ rẻ, mà chỉ sợ người chủ tương lai của đời mình sẽ thế nào. Đó cũng là câu hỏi của mọi cô gái đến tuổi lấy chồng, một băn khoăn rất thật, rất người. “Thân em như củ ấu gai      Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Không tin bóc vỏ mà xem   Ăn rồi mới biết rằng em ngọt bùi”.      Người con gái trong bài này lại có tâm trạng lo lắng khác. Cô tự biết phẩm chất của mình thơm thảo, ngọt ngào, nhưng hình như cô có bề ngoài không lấy làm hấp dẫn cho lắm, cô phải tự giới thiệu, chào mời và hứa hẹn về phẩm chất của mình. “Trèo lên cây khế nửa ngày  Ai làm chua xót lòng này khế ơi! Mặt trăng sánh với mặt trời, Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng  Mình ơi có nhớ ta chăng? Ta như sao vượt chờ trăng giữa trời”.      Người con gái trong bài này đã có người yêu, hai người đã khá tương xứng, đẹp đôi như mặt trăng sánh với mặt trời, sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng. Nhưng anh chàng hình như có gì trục trặc, giống như thay lòng đổi dạ. Nhưng người con gái thì kiên định chờ đợi một lòng.       Ca dao than thân, tình nghĩa là bách khoa thư về hàng nghìn, hàng vạn tâm trạng, số phận con người. Bài Khăn thương nhớ ai nói nỗi lòng tương tư nhớ thương bạn tình qua hình ảnh chiếc khăn, ngọn đèn, con mắt đã làm xúc động bao người. Hoài Thanh có lần nói, nếu chì hai câu sau: Mắt thương nhớ ai mà mắt không yên thì ta đã thấy hay rồi, nhưng là loại hay có thể hiểu được. Còn như hai câu đầu thì hay đẽn mức cơ hồ không hiểu được, không rõ hẳn là nói gì mà vẫn thấy hay. Tôi xem là một trong những câu ca dao hay nhất Việt Nam. Ca dao tương tư rất nhiều và cũng rất đa dạng. Chữ thương, chữ nhớ nói đi nói lại mãi vẫn cứ là mới và không lặp lại. Đây là bài ca dao rất độc đáo, nội dung và nghệ thuật của nó không trùng với bất kì bài ca dao nào khác. Ở đây hai từ thương, nhớ được dùng liền nhau, gắn với từ ai tạo thành một cụm từ điệp và điệp đến năm lần mà mỗi lần nghe đều thấy hay, không biết chán. Bởi vì cụm từ “thương nhớ ai” được gắn với một chủ thể riêng. Các chủ thể Khăn, đèn, mắt tuy khác nhau ahưng đều là một, cáu hỏi thay đổi nhưng câu trả lời thì vẫn giữ nguyên. Khi người ta yêu, mọi vật xung quanh như đều cùng yêu thương và thổn thức cả. Cái hay của bài này là ở đó. Thương, nhớ đều có nghĩa là yêu, nhưng nhớ là yêu mà xa cách, mà xa cách thì lo lắng không yên là rất dễ hiểu: Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi chưa yên mọi bề. “Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi".      Sinh ra trong một nước có nhiều sông ngòi, kênh rạch, hoàn cảnh tự nhiên cũng tác động đến tư duy con người. Nhưng cái ước vọng sông rộng một gang tay thì thật là chưa đâu có. Bởi độ rộng con sông phải tương xứng với vật liệu xây đắp cái cầu là cái dải yếm. Trong ca dao đã có cầu tre, cầu ván, cầu xây, có cầu cành hồng, cầu mồng tơi, cầu sợi chỉ... nhưng độc đáo nhất bài này là cầu dải yếm. Khi thiết kế ra chiếc cầu dải yếm, cô gái kiến trúc sư Việt Nam hẳn đang độ tuổi mười tám, đòi mươi, tình yêu vừa chớm, sức tưởng tượng dồi dào. Chiếc cầu này chỉ tồn tại trong tưởng tượng, trong ước vọng thầm kín giữa chàng và em, chỉ bắc riêng cho chàng sang chứ không cho mọi người, không phải là cầu công cộng. Đó là chiếc cầu tình yêu. Tình yêu luôn luôn đầy sáng kiến và sáng tạo, nó đẻ ra cái cầu kì diệu.       “Muối ba năm muối vẫn còn mặn         Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày                                      Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa°.       Trong ca dao Việt Nam thường nói tới gừng cay, muối mặn khi nói về tình nghĩa. Muối không chỉ là khoáng chất thiết yếu của sự sống mà còn là thứ gia vị quý giá của thức ăn, có muối mới được đậm đà. Muối biểu tượng cho sự mặn mà, tình nghĩa. Người Nga đón khách quý thì đem bánh mì và muối ra mời khách nêm, coi như người trong một nhà. Gừng là biểu tượng của mọi sự cay đắng của cuộc đời. Gừng cay muối mặn tượng trưng cho cuộc đời cay đắng, ngọt bùi có nhau. Hai câu đầu bài ca dao nêu ra hai câu khởi hứng, vừa ẩn dụ, khẳng định vị mặn và vị cay vẫn có sức bền những ba năm, chín tháng. Cũng ví như “Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa”. Ba vạn sáu nghìn ngày tức là trăm năm, cũng tức là suốt đời, “bách niên giai lão”. Nói ba vạn sáu nghìn ngày không đơn giản chỉ vì cho hiệp vần, mà còn có ý nói tình đôi ta không phải tính năm, mà tính từng ngày, chúng ta yêu nhau từng ngày, có tính từng ngày thì mới ro được tình của ta. Nói mới xa mà thực là không xa hay nói cách khác chỉ đến chết mới cách xa.      Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa của Việt Nam thật phong phú, đa dạng. Chỉ tìm hiểu sơ sơ có sáu bài mà ta đã thấy biết bao tâm trạng của con người, biết bao khát vọng, lí tưởng, còn thấy được cái đẹp của biết bao hình ảnh, từ ngữ tài tình mà người bình dân đã sáng tạo ra. Đó là mảng ca dao chẳng những nuôi dưỡng cho ta những tình cảm đẹp đẽ, sâu sắc, đậm đà tính chất dân tộc, mà còn là cả một kho tàng nghệ thuật ngôn từ độc đáo đến bất ngờ, đủ cho ta yêu mến, khâm phục, kích thích ta sáng tạo. Trích: loigiaihay.com  
Xem thêm

3 Đọc thêm

Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

CA DAO THAN THÂN VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN - 1. Khái niệm ca dao: Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian. Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự. 2.  Đặc điểm của ca dao Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm… Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau: - Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. - Nội dung yêu thương tình nghĩa: + Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa. + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ). 2. Về các bài 1, 2 a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa  xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất  đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận. b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng: - Bài 1 : Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?). - Bài 2 : Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa. 3. Về bài 3 a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như: - Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. - Ai làm bầu bí đứt dây Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng. Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình… b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian. c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào  buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm  vượt qua những  rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc. 4. Về bài 4 Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt. Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu. Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái. Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu. Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu. 5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, làngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình. Xem thêm một số câu ca dao về chiếc cầu dưới đây: - Hai ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang - Cách nhau có một con đầm Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm - Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em… Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao: Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao. Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia). 6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn). - Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son. Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng. 7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là: - Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như… - Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn,  gừng cay – muối mặn… - Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai… - Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở. - Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể). Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả. 8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”: - Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày - Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa - Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu - Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày - Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân. Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao : - Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi. - Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời. - Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng. 9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: - Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên - Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai? - Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ. - Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa - Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Bài ca dao khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng nó vẫn có điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vì vậy nó cuốn hút và hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn – câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt. loigiaihay.com
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng. Người xưa muốn nhắn nhủ điều gì trong câu ca dao ấy?

NHIỄU ĐIỀU PHỦ LẤY GIÁ GƯƠNG, NGƯỜI TRONG MỘT NƯỚC PHẢI THƯƠNG NHAU CÙNG. NGƯỜI XƯA MUỐN NHẮN NHỦ ĐIỀU GÌ TRONG CÂU CA DAO ẤY?

a. Mở bài: - Giới thiệu truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc: là truyền thống lâu đời, thể hiện những đạo lí tốt đẹp của dân tộc. - Giới thiệu, trớch dẫn bài ca dao. b. Thõn bài:* Giải thớch ý nghĩa của cõu ca dao.- Nghĩa đen: Nhiễu điều: tấm vải đỏ, nhiễu điều phủ lấy giá gương tấm vải đỏ che phủ, bao bọc, bảo vệ gương.- Nghĩa bóng: Lời khuyên của dân gian: Mọi người phải biết đoàn kết, thương yêu nhau. Tinh thần đoàn kết thương yêu nhau là truyền thống của dân tộc.* Tại sao lại phải sống đoàn kết, thương yêu nhau?- Đề cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống lao động: chống bóo lũ, hạn hỏn….- Để cùng chống giặc ngoại xâm…- Để cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt: những người nghèo, nạn nhân chất độc màu da cam, những trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh, trẻ em ung thư….( có thể dẫn một số câu tục ngữ, ca dao có nội dung tương tự)* Cần phải làm gỡ để thực hiện lời dạy của người xưa?- Thương yêu đùm bọc và sống có trách nhiệm với chính những người thân yêu trong gia đỡnh, hàng xúm…- Sống có trách nhiệm với cộng đồng: tham gia các phong trào ủng hộ, các hoạt động từ thiện….* Liờn hệ bản thõn:- Là học sinh, em cú thể làm gỡ để thực hiện lời khuyên của dân gian ( yêu thương đoàn kết với bạn bè trong lớp, tham gia các hoạt động ủng hộ, quyên góp…)c. Kết bài:- khẳng định giá trị của bài ca dao: Thể hiện được truyền thống tương thân tương ái quý bỏu của dõn tộc.- Khẳng định rằng truyền thống tốt đẹp ấy sẽ được thế hệ trẻ hôm nay tiếp nối và phát huy.Bài làm tham khảo:1/ Mở bài:Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Để diễn đạt tình nghĩa tha thiết này, ca dao có câu:“Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước phải thương nhau cùng.”2/ Thân bài:a) Giải thích:Những hình ảnh trong câu ca dao thật dễ hiểu nhưng ý nghĩa của nó thì thật là sâu sắc. “Nhiễu điều” là tấm vải đỏ; “giá gương” là giá đỡ tấm gương. Hình ảnh “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” có nghĩa đen là tấm vải đỏ che phủ, giữ cho sạch và làm đẹp cho giá gương cùng cả tấm gương. Hai tiếng “phủ lấy” nhắc nhở, thể hiện sự gắn bó không tách rời giữa giá gương và nhiễu điều. Hình ảnh đó còn gợi lên nghĩa bóng đó là sự yêu thương, đùm bọc, che chở. Lấy nghĩa bóng đó, dân gian muốn nhắn nhủ mọi người trong cùng một cộng đồng cần phải biết yêu thương, đùm bọc, che chở cho nhau: “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Đó là một lời khuyên nhủ đậm đà tình nghĩa.b)Vậy thì tại sao người trong một nước phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau? Trong tâm thức mỗi người Việt Nam đều tin các dân tộc trên đất nước ta là anh em. Con người cùng một nước, có cùng chung một nguồn gốc lịch sử. Mọi người trong cùng cộng đồng, cùng làng, cùng nước,… đời sống vật chất, tinh thần luôn gắn bó với nhau, rất cần đến sự quan tâm động viên giúp đỡ lẫn nhau; nhất là lúc có ai đó gặp khó khăn hoạn nạn. Hơn nữa, không ai có thể sống lẻ loi trong xã hội mà phải hoà nhập vào cộng đồng. Thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau là lẽ sống của mỗi người, nó đã trở thành một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta. Tình cảm yêu thương đoàn kết tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần sẽ giúp con người vượt qua bao khó khăn, chiến thắng kẻ thù và thiên tai, đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Có thể kể đến các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của nhân dân ta. Rồi những tấm lòng hảo tâm đóng góp vào các quỹ từ thiện đã giúp nhiều người nghèo khó, bệnh tật khắc phục được hoàn cảnh, vượt qua bệnh tật hiểm nghèo trở về với cuộc sống bình thường.c)Chúng ta phải làm thế nào để phát huy được đạo lí tốt đẹp đó? Chúng ta cần tránh quan điểm : “Đèn nhà ai người ấy rạng.”, có thái độ dửng dưng đứng trước nỗi đau khổ của họ hàng, làng xóm, dân tộc. Và yêu thương giúp đỡ lẫn nhau phải xuất phát từ lòng chân thành, tự nguyện thì đó mới là nghĩa cử cao đẹp, đáng trân trọng. Để phát huy được đạo lí tốt đẹp của nhân dân Việt Nam, chúng ta phải biết quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh khi họ gặp khó khăn hoạn nạn với thái độ chân thành, kịp thời. Thương yêu, đùm bọc lẫn nhau là biểu hiện sự đoàn kết dân tộc. Mỗi người cần phải biết giữ gìn và phát huy truyền thống tốt dẹp đó.3/ KB:ý nghĩa của câu ca dao đã trở nên muôn đời. Vì đó là bài học đã đúc kết bằng tâm huyết của nhân dân ta. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp đó. loigiaihay.com  
Xem thêm

1 Đọc thêm

GIỚI THIỆU MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THƯỜNG GẶP TRONG CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

GIỚI THIỆU MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THƯỜNG GẶP TRONG CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

Yêu thương tình nghĩa là một trong những chủ đề chính của ca dao Việt Nam. Nội dung chủ yếu của các bài ca dao này phản ánh đời sống tình cảm, tình nghĩa trong các quan hệ gia đình, quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa, tình bạn, láng giềng       Yêu thương tình nghĩa là một trong những chủ đề chính của ca dao Việt Nam. Nội dung chủ yếu của các bài ca dao này phản ánh đời sống tình cảm, tình nghĩa trong các quan hệ gia đình, quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa, tình bạn, láng giềng... góp phần tích cực vào việc thể hiện nội dung ấy là một số biện pháp nghệ thuật quen thuộc như so sánh ví von, nhân hóa, ẩn dụ và các mô thức ngôn ngữ...       Biện pháp nghệ thuật mà ca dao yêu thương tình nghĩa thường xuyên sử dụng là so sánh (còn gọi là tỉ dụ). So sánh là việc đối chiếu sự vật này với sự vật khác dựa trên những đặc điểm giống nhau nào đó giữa hai sự vật nhằm tạo nên những hình ảnh nghệ thuật mới mẻ tạo những cảm xúc thẩm mỹ cho người nghe, người đọc. Ca dao yêu thương tình nghĩa sử dụng biện pháp so sánh để bóc lột những tình cảm trong sáng, cao đẹp hay những trạng thái cảm xúc cụ thể nào đó của nhân vật trữ tình: “Tình anh như nước dâng cao  Tình em như dải lụa đào tẩm hương”.     Biện pháp so sánh trong ca dao yêu thương tình nghĩa là cách so sánh trực tiếp. Các từ so sánh thường gặp là; “như’, “như thế'’. Nhờ có so sánh, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ cụ thể hơn, dễ hiểu hơn: “Đôi ta như thể con ong Con quấn con quýt con trong con ngoài". Bên cạnh so sánh, nhân hóa cũng là một biện pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao yêu thương tình nghĩa. “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai”.      Nhờ biện pháp nhân hóa, những sự vật vô tri vô giác trở nên có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy cũng chính là tình nghĩa của con người được giãi bày, bộc lộ trong ca dao.      Cùng với so sánh nhân hóa, ẩn dụ cũng được sử dụng thường xuyên. Ẩn dụ là phép so sánh ngầm, so sánh gián tiếp. Biện pháp này làm cho bài ca dao được rút ngắn và do đó trở nên hàm súc, cô đọng hơn. “Cô kia đứng ở bên sông  Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”.       Nhiều hình ảnh ẩn dụ được dùng nhiều lần trở thành quen thuộc và dần dẩn trở thành những hình tượng mang tính ước lệ, tượng trưng cao như thuyền - bến, cây đa - bến nước, mận - đào, trúc - mai...        Ngoài những biện pháp tu từ trên, ca dao yêu thương tình nghĩa còn sử dụng biện pháp lặp, lặp từ ngữ và lặp câu trúc. Việc lặp lại một số từ ngữ hay cấu trúc nào đó trong nhiều bài ca dao đã tô đậm thêm chủ đề và làm tăng thêm sức biểu hiện. Chẳng hạn, trong bài ca dao sau đây, cấu trúc và các từ ngữ ‘Ước gì... để” được lặp lại nhiều lần:    "Ước gì anh hóa ra gương     Để cho em cứ ngày thường em soi      Ước gì anh hóa ra coi         Để cho em. đựng cau tươi trầu vàng”       Việc lặp lại như vậy đã dem lại giá trị biểu hiện đáng kể. Nó đã thể hiện được khát vọng cháy bỏng của chàng trai luôn muốn được gần gũi bên cạnh người yêu, thỏa nỗi nhớ niềm thương mà chàng dành cho người yêu. Trên đây chính là những biện pháp nghệ thuật truyền thống quen thuộc trong ca dao yêu thương, tình nghĩa nói riêng và ca dao Việt Nam nói chung. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

SOẠN BÀI CA DAO THAN THÂN VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

SOẠN BÀI CA DAO THAN THÂN VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN - 1. Khái niệm ca daornCa dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian. Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự. 2.  Đặc điểm của ca dao Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm… Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau: - Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. - Nội dung yêu thương tình nghĩa: + Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa. + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ). 2. Về các bài 1, 2 a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa  xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất  đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận. b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng: - Bài 1 : Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?). - Bài 2 : Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa. 3. Về bài 3 a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như: - Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. - Ai làm bầu bí đứt dây Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng. Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…  b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.  c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào  buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm  vượt qua những  rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc. 4. Về bài 4 Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt. Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu. Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái. Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu. Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu. 5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình. Xem thêm một số câu ca dao về chiếc cầu dưới đây: - Hai ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang - Cách nhau có một con đầm Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm - Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em… Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao: Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao. Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia). 6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn). - Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son. Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng. 7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là: - Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như… - Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn,  gừng cay – muối mặn… - Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai… - Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở. - Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể). Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả. 8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”: - Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày - Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa - Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu - Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày - Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân. Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao : - Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi. - Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời. - Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng. 9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: - Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên - Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai? - Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ. - Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa - Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Bài ca dao khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng nó vẫn có điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vì vậy nó cuốn hút và hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn – câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt. loigiaihay.com    
Xem thêm

5 Đọc thêm

CẢM NGHĨ CỦA ANH CHỊ VỀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI CŨ QUA MỘT SỐ BẢI CA DAO THAN THÂN TRÁCH PHẬN

CẢM NGHĨ CỦA ANH CHỊ VỀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI CŨ QUA MỘT SỐ BẢI CA DAO THAN THÂN TRÁCH PHẬN

Những số phận đáng thương, éo le của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa thông qua một số bài ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa Đề văn này yêu cầu học sinh trình bày những suy nghĩ về cảm xúc của mình về vấn đề thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Cần dựa vào những tri thức chung về số phận người phụ nữ trong những bài ca dao đã học. Cụ thể là: -   Phụ nữ là những người chân yếu tay mềm và theo quan niệm cũ, người phụ nữ không có quyển bình đẳng với nam giới. Họ thường không tự được quyết định số phận của mình mà phụ thuộc vào cha mẹ. Chồng, con và quan niệm xã hội. Họ thường bị đối xử bạc tình, bạc nghĩa, đôi khi còn bị đánh đập. -   Dựa vào các bài ca “Thân em như hạt mưa rào”, “Thân em như hạt mưa sa”, “như miếng cau khô”, như “tấm lụa đào”... phân tích các hình ảnh biểu trưng để thấy nỗi bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Giá trị nhân văn trong ca dao

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG CA DAO

Ngay từ ấu thơ, ca dao đã gắn với cuộc đời của mỗi chúng ta. Những lời hát, điệu ru lớn dần theo năm tháng. Ca dao – tiếng nói trữ tình dân gian trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Giống như tất cả các thể loại của văn học, ca dao cũng hướng đến đối tượng trung tâm là con người, khám phá, phát hiện những vẻ đẹp trong cuộc sống con người. Với người bình dân, tình và nghĩa luôn quyện chặt làm nên đời sống tinh thần phong phú và sâu sắc. Trong khi thổ lộ tâm tình – gắn với cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt, đấu tranh xã hội và quan hệ tình cảm, ca dao luôn hướng về con người – nhân dân. Những câu hát phản ánh đầy đủ hiện thực cuộc sống và thế giới tâm hồn của người bình dân. Đời sống vật chất và tinh thần ấy hiện lên qua những rung cảm mãnh liệt, tinh tế đa dạng, độc đáo và sâu sắc, tô đậm thêm vẻ đẹp con người, bộc lộ chất nhân văn cao cả. Nói đến chất nhân văn trong ca dao là nói đến vẻ đẹp con người cả hình thức lẫn nội dung, từ bên ngoài đến bên trong, từ hiện thực đến tâm hồn, là Con Người viết hoa. Chất nhân văn đem đến nhận thức và rung độngvề con người, theo khuynh hướng ca ngợi, trân trọng, thương yêu, tin tưởng, bảo vệ con người và chống lại tất cả các thế lực xấu xa thù địch với con người. Đặc biệt, trong bất kì hoàn cảnh nào, phẩm giá, nhân cách luôn được đề cao. Chất nhân văn trong ca dao gắn với quan niệm về con người của người bình dân, thể hiện ý thức và tình cảm của người bình dân, gắn với một quan niệm khoẻ khoắn, lành mạnh, trong sáng của chính người lao động. Là quá trình tự nhận thức bản thân của người bình dân trong hoàn cảnh cuộc sống vất vả, chịu đựng nhiều nỗi bất bình, tủi nhục, đắng cay vẫn giữ được bản chất tốt đẹp, tình nghĩa đậm đà. Trước hết , đó là vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với tự nhiên: con người bao giờ cũng là trungtâm của những vẻ đẹp tự nhiên, đem lại sức sống và nét hài hoà cho thiên nhiên vũ trụ. Thiên nhiên trong ca dao bao giờ cũng được mô tả ở nét tinh tế, gợi cảm và trữ tình nhất, gắn với cảm quan thẩm mĩ dân gian cụ thể, tinh lọc. Thậm chí có những bài chỉ tả cảnh nhưng cũng giúp nhận ra tấm lòng với thiên nhiên, sự gắn bó con người với thiên nhiên. Tiếp đến là vẻ đẹp con người trong các quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội: nền tảng xã hội là bất công, những xung đột giữa các giai cấp đối kháng – kẻ thống trị và người bị trị. Vì vậy, ca dao là sự dồn nén của tinh thần đấu tranh, sức phản kháng mạnh mẽ của người bình dân. Sức sống con người bộc lộ ở nét cứng cỏi trong nhân cách, không chịu khuất phục trước hoàn cảnh , luôn tìm cách vượt lên những áp lực, định kiến xã hội, chiến thắng số phận, tin tưởng tương lai và đứng về phía lẽ phải. Chất nhân văn bộc lộ rõ nhất trong lao động sản xuất và đấu tranh xã hội: cần cù, bền bỉ, nhẫn nại, luôn ý thức rõ gia 1trị của chính mình. Đó là tầm vóc vĩ đại của nhửng con người bình thường. Không những thế, vẻ đẹp nhân văn còn bộc lộ trong những quan hệ riêng tư , gắn kết con người với con người, đi sâu vào đời sống tình cảm của con nguời. Vẻ đẹp ấy hiện lên đằm thắm, nồng hậu, trọn vẹn cả hai mặt nghĩa và tình. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, quan niệm đạo lí thủy chung được đề cao trong những mối quan hệ gia đình, tình làng nghĩa xóm… giữa những người cùng chung cảnh ngộ. Ca dao là tiếng lòng tha thiết, làm đẹp thêm tâm hồn con người trongnhững ân tình nhắn nhủ hướng về quê hương, những con người cùng tâm tư, đồng điệu về cảm xúc. Từ đó, ca dao tạo nên những cung bậc trạng thái, cảm xúc uyển chuyển , đa dạng diễn tả tâm hồn người bình dân, hướng tới những giá trị ổn định, vững bền: thương người, tương thân tương ái, đoàn kết. Đặc biệt, vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với bản thân tạo nên tiếng nói nội tâm thầm kín và mãnh luệt nhất , luôn thể hiện tấm lòng nhân hậu, vị tha, hướng đến cái cao cả hoàn thiện. Vẻ đẹp đáng quí ở cái hồn nhiên chân thật, mạnh mẽ đầy cá tính, giản dị bộc trực. Bên cạnh đó là sự bay bổng của trí tuởng tượng ắp tràn ước mơ, khát vọng sống của người lao động. Giá trị của chất nhân văn trong ca dao: giúp người đọc khám phá những vẻ đẹp hiện thực cuộc sống bình thường, làm phong phú nhận thức của con người, nâng cao đời sống tinh thần và bồi đắp tâm hồn con người ngày càng tốt đẹp hơn. Chất nhân văn là kết tinh, hội tụ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, tạo nên sức cuốn hút, hấp dẫn mọi thế hệ, là sự gắn kết mạch nguồn dân tộc từ quá khứ đến tương lai.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao đồng bằng sông cửu long

CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1. Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là tiếng nói tâm tình của người bình dân, là nơi bộc lộ những tư tưởng tình cảm, những nỗi nhớ thương, là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của nhân nhân lao động thời xưa. Nói đến ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nói đến cái sâu lắng với muôn nghìn cung bậc tình cảm của con người. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay ca dao luôn có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu. 1.2. Khi bàn về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan mà người ta thường quan tâm đến đối tượng này từ góc độ văn học. Cánh cửa ngôn ngữ học, đặc biệt là phân môn Ngữ dụng học vẫn còn là một lối đi khá mới mẻ và hấp dẫn những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này. 1.3. Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu văn học dân gian nói chung, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là vấn đề thời sự được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bước đầu đã có những kết quả tốt. Trên ý nghĩa đó việc tiếp tục tìm hiểu ca dao Đồng bằng sông Cửu Long dưới ánh sáng của Ngữ dụng học là một việc làm cần thiết giúp đối tượng này được soi chiếu dưới nhiều chiều khác nhau của ngôn ngữ. Và đó chính là nguyên nhân giúp chúng tôi chọn đề tài “Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”
Xem thêm

86 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : CA DAO THAN THÂN VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂN VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm ca dao Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian. Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự. 2.  Đặc điểm của ca dao Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm... Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu... (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức...). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau: - Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. - Nội dung yêu thương tình nghĩa: + Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa. + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ). 2. Về các bài 1, 2 a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa  xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất  đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận. b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng:  - Bài 1 : Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?). - Bài 2 : Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa. 3. Về bài 3 a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như: - Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. - Ai làm bầu bí đứt dây Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng. Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…  b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.  c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào  buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm  vượt qua những  rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc. 4. Về bài 4 Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt. Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể - nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu. Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt... nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái. Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn - đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu. Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu. 5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo - là cành hồng, là ngọn mồng tơi,... và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một "cái cầu tình yêu". Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi... những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu - dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình. Xem thêm một số câu ca dao về chiếc cầu dưới đây:  - Hai ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang - Cách nhau có một con đầm Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm - Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em... Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao: Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh "chiếc cầu" (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao. Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia). 6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay - muối mặn). - Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống - tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son. Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng - những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay - muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng. 7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là: - Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như... - Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn,  gừng cay - muối mặn... - Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai… - Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở. - Thể thơ: lục bát - lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể). Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ - dấu ấn đặc trưng của từng tác giả. 8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng "thân em như...": - Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày - Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa - Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu - Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày - Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân. Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao : - Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em - hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn - vui, sướng - khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi. - Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời. - Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng. 9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: - Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên - Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai? - Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ. - Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa - Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Bài ca dao khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng nó vẫn có điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vì vậy nó cuốn hút và hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm "Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm" vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn - câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Soạn bài ca dao than thân yêu thương tình nghĩa

SOẠN BÀI CA DAO THAN THÂN YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA

Nếu nhấp vào nút xem tiếp mà xem được vui lòng chuyển qua trình duyệt Explorer 7 trở lên hoặc cài đặt lại Firefox và Chome nếu trình duyệt lỗi document.write('u003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0035u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003e')
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đặc trưng giới tính biểu hiện qua ca dao Nam Bộ

ĐẶC TRƯNG GIỚI TÍNH BIỂU HIỆN QUA CA DAO NAM BỘ

Ca dao Việt Nam là lời ăn tiếng nói của nhân dân truyền từ bao đời, là trí tuệ tình cảm của xã hội đúc kết từ ngàn đời.Ca dao Nam Bộ là một bộ phận không thể thiếu trong dòng chảy từ ngàn đời ấy. Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao Nam Bộ chiếm một vị trí khá phong phú. Đến với ca dao Nam Bộ, chúng ta như đặc chân đến vườn hoa rực rỡ hương sắc. Vẻ đẹp của ca dao Nam Bộ là vẻ đẹp của những bông hoa đồng nội. Nó là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, là lời than vãn về thân phận tủi hờn đắng cay, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, là lời phản kháng các thế lực, tình yêu namnữ, tình yêu quê hương đất nước, là những kinh nghiệm quý báo rút kết từ ngàn đời. Nó là một trong những thửa ruộng vô cùng quý báo đang hiện hữu, nuôi dưỡng mọi thế hệ tâm hồn con người của vùng đất Nam Bộ. Do vị trí đặc biệt quan trọng, ca dao Nam Bộ là một phần trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, cũng như trong lòng đọc giả thưởng thức. Cho nên, việc tìm hiểu ca dao Nam Bộ ở bắt cứ lĩnh vực nào cũng được xem là một bước khám phá rất có ý nghĩa. Đã có một mảng đề tài phản ánh nhận thức, tình cảm của xã hội hiện nay trong ca dao, khá đậm nét đó là đặc trưng giới tính. Trong những năm gần đây, ngôn ngữ học xã hôimột ngành mới phát triển rất quan tâm về vấn đề giới tính. Nhưng giới tính thể hiện qua ca dao Nam Bộ thế nào thì vấn đề đó còn là một câu hỏi cần có sự giải đáp cụ thể qua điều tra, khảo sát và phân tích ngữ liệu. Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “Đặc trưng giới tính biểu hiện qua ca dao Nam Bộ”.
Xem thêm

24 Đọc thêm

GIỚI THIỆU CHÙM CA DAO THAN THÂN

GIỚI THIỆU CHÙM CA DAO THAN THÂN

Đó là những câu ca dao được cất lên từ những kiếp người đau khổ lầm than trong xã hội cũ. Những con người ấy phái chịu trăm đắng ngàn cay, những đè nén, áp bức, những uất ức, tủi nhục, hờn giận     Than thân là một trong những chủ đề quan trọng trong ca dao Việt Nam. Chùm ca dao này có số lượng bài khá lớn. Đó là những câu ca dao được cất lên từ những kiếp người đau khổ lầm than trong xã hội cũ. Những con người ấy phái chịu trăm đắng ngàn cay, những đè nén, áp bức, những uất ức, tủi nhục, hờn giận. Họ gửi tất cả những nỗi niềm ấy vào ca dao, mượn ca dao để thổ lộ giãi bày những nỗi niềm đau khổ, cực nhọc của quần chúng lao khổ xưa.       Nhân vật ca dao than thân đa dạng và chủ yếu là những người thuộc tầng lớp dưới của xã hội. Họ là những người làm thuê, người con ở, người vợ lính, người tá điền, người nông dân, người con gái bị ép duyên, người, người vợ bị chồng đánh đập, phụ bạc... Mỗi người một tình cảm, một tâm trạng, một nỗi niềm, những điểm chung lớn nhất của họ là thân phận thấp hèn phụ thuộc. Đáng thương nhất trong số đó là những người phụ nữ. Những con người yếu mềm ấy đáng lẽ được nâng niu, che chở lại là những người chịu nhiều đắng cay thiệt thòi nhất trong xã hội. Họ là nạn nhân của những tư tưởng, quan niệm trong gia đình phụ quyền. Người con gái khi ở nhà với bố mẹ thì bị cấm đoán, bị ép duyên, gả bán, khi đi lấy chồng thì gánh nặng gia đình, con cái lại trút cả lên đôi vai bé nhỏ. Hơn thế, họ còn bị chồng đánh đập, chửi bới, phụ bạc... Dường như tất cả những bất hạnh trong gia đình phụ quyền, cũng như những nỗi éo le ngoài xã hội, người phụ nữ đều phải hứng chịu. “Có bái sứ phụ bát đàn Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày” Để thể hiện những tình ấy, cảnh ấy, ca dao than thân thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa.. Những hình ảnh tượng trưng như con ong, cái kiến, con tằm, con nhện... là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong ca dao than thân. Thường xuyên nhất, ám ảnh nhất là hình ảnh con cò. Con cò tượng trưng cho nhiều số phận, nhiều cảnh ngộ khác nhau. Đó là những “thân cò” chăm chỉ, hiền lành, thật thà nhưng vất vả, lăn lội và gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống. “Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”      Cùng với những hình ảnh đầy ám ảnh ấy, các từ ngữ, các cấu trúc lặp cũng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về số kiếp con người. Những câu ca dao mà mở đầu bằng “thân em”, “em như”, “thương thay”... đều là những lời ca nức nở về thân phận thấp hèn phụ thuộc của những con người bé nhỏ trong xả hội. “Thân em như tấm lụa đào  Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. “Thương thay thân phận con rùa  Dưới đình đội lạc, lên chùa đội bia”.      Những lời ca ai oán ấy như xoáy sâu và tâm can thế hệ Việt Nam, day dứt, ám ảnh mãi không thôi về những kiếp người đau khổ thuở nào.      Vì thế, ca dao Việt Nam, bên cạnh những câu ca dao đằm thắm ngọt ngào tình nghĩa còn những lời than thở đắng cay. Đấy chính là sự phong phú của ca dao. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

NHIỄU ĐIỀU PHỦ LẤY GIÁ GƯƠNG, NGƯỜI TRONG MỘT NƯỚC PHẢI THƯƠNG NHAU CÙNG

NHIỄU ĐIỀU PHỦ LẤY GIÁ GƯƠNG, NGƯỜI TRONG MỘT NƯỚC PHẢI THƯƠNG NHAU CÙNG

Tình dân tộc, nghĩa đồng bào là vô cùng thiêng liêng. Tình nghĩa nồng thắm ấy đã in sâu vào trái tim khối óc người Việt Nam, tạo nên bản sắc dân tộc. Trên chặng đường mấy nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc BÀI LÀMTình dân tộc, nghĩa đồng bào là vô cùng thiêng liêng. Tình nghĩa nồng thắm ấy đã in sâu vào trái tim khối óc người Việt Nam, tạo nên bản sắc dân tộc. Trên chặng đường mấy nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu, nhân dân ta đã phát huy cao độ lòng yêu nước thương nòi thành truyền thống quý báu. Truyền thống ấy đã trở thành tiếng hát, lời ca mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Tiêu biển là câu ca dao:"Nhiễu điểu phủ lấy giá gương,Người trong một nước phải thương nhau cùng"."Giá gương" là một vật dụng đặt trên bàn thờ gia tiên, một biểu tượng thiêng liêng của người đã khuất. Trên giá gương có thể là một tấm ảnh, một tờ giấy đã phai màu ghi một vài nét về tiểu sử và công đức của người đang được thờ cúng. Giá gương thường được sơn son thếp vàng rất đẹp, một vẻ đẹp cổ kính trang nghiêm."Nhiễu điều" là một thứ hàng dệt cao cấp (vóc, nhiều, the, lụa...) màu đỏ thắm (điều). Đem nhiễu điều phủ lấy giá gương, làm cho giá gương đã đẹp, lại càng thêm đẹp, thêm trang trọng. Chữ "phủ" trong câu ca dao là nghĩa chở che, bao bọc, biểu thị một thái độ, một tấm lòng tôn kính, biết ơn... của con cháu đối với ông bà, tổ tiên. Hình ảnh gắn bó vừa thiêng liêng, vừa nghĩa tình.Đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ so sánh đến khái quát, nhân dân ta đã lấy hình ảnh ''Nhiễu điều phủ lấy giá gương" để qua đó, nêu lên một bài học đạo lí có giá trị giáo dục sâu sắc: khuyên nhủ mọi người Việt Nam giữ gìn và nêu cao tình yêu thương đoàn kết dân tộc.Bài học mà câu ca dao nêu ra thật sâu sắc, thấm thía.Tại sao "Người trong một nước phải thương nhau cùng?" - Người trong một nước cùng chung cội nguồn, nòi giống đều là con Rồng cháu tiên. Họ có chung một nền văn hoá lâu đời, chung lịch sử, chung một mẹ Việt Nam yêu quý. Dù là Kinh hay Mường, Thái hay Tày. Ba-na hay Ê-đê, v.v... nhưng vẫn là anh em xa gần, anh cm trong đại gia đình Việt Nam, có mối quan hệ vật chất và tinh thần gắn bó, chung một Thủ đô Hà Nội và chung một cơ đồ Việt Nam. Huyền thọai 'Trăm trứng", truyện cổ tích "Quả bầu” làm cho mỗi người chúng ta bồi hồi xúc động, biểu cảm sâu sắc lời ca "Người trong một nước phải thương nhau cùng".Tình yêu thương đoàn kết dân tộc ấp ủ trong tim ta tình làng nghĩa xóm, lòng yêu nước thương nòi thắm thiết bao la. Nó nhắc nhở ta biết chia ngọt sẻ bùi với nhau, biết yêu thương đùm bọc nhau. Nó cho ta niềm tin về sức mạnh nòi giống, về lòng tự hào dân tộc để vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng thù trong giặc ngoài. Cả cộng đồng người Việt Nam đoàn kết yêu thương cùng đi lên phía trước, xây dựng đất nước phồn vinh.Tình yêu thương, đùm bọc đồng loại là đạo lí sống tốt đẹp của nhân dân ta. Cây có cội, nước có nguồn, chim có tổ, người có tông. Câu ca dao-sau đây mỗi lần đọc lên, là người Việt Nam ai mà chẳng bồi hồi: "Ai về Phú Thọ cùng ta,Nhớ ngày giỗ Tổ tháng Ba mồng Mười.Dù ai đi ngược về xuôi,Nhớ ngày giỗ TỔ mồng Mười tháng Ba".Dù sống ờ miền Nam hay miền Bắc, miền xuôi hay miền ngược hoặc là Việt kiều tha hương,... tất cả đều là con em đại gia đình Việt Nam. Việt Bắc. Tây Bắc là cái nôi của cách mạng. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã từng "hạt muối cắn đôi" với anh bộ độ Cụ Hồ trong thời chống Mĩ. Tình yêu thương đoàn kết dân tộc là cơ sở của tình yêu nước. Qua đó, ta càng thấy trách nhiệm của mỗi người phải góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.Trung hiếu, nhân nghĩa là nền tảng của đạo lí. Chữ hiếu là đạo làm con. Chữ trung là đạo làm người, làm dân. Trong mối quan hệ xã hội, con người phải sống tình nghĩa, thuỷ chung. Tình người, tình đồng bào là thiêng liêng cao cả "Người trong một nước phải thương nhau cùng".Tình yêu thương đoàn kết dân tộc phải được biểu hiện bằng những việc làm cụ thể: nhường cơm sẻ áo, giúp thuốc men, lương thực... cho nhau khi gặp thiên tai địch họa. Đồng bào vùng sông Cửu Long, vùng Tây Bắc, Việt Bắc bị lũ lụt tàn phá thì đồng bào cả nước hướng về, ra sức giúp đỡ, chi viện. Họat động của các Hội Việt kiều đã thắt chặt ba, bốn triệu người Việt đang sinh sống làm ăn ờ nước ngoài gắn bó với quê hương là một biểu hiện cao đẹp nâng cao tình cảm dân tộc.Nghĩa tình của đồng bào ta thật sâu sắc, đẹp đẽ, ca dao, dân ca có bao bài hay ngợi ca:"Bầu ơi thương lấy bí cùng,Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,Người trong một nước phải thương nhau cùng "Nhân dân ta nhân hậu, sống trọn vẹn nghĩa tình. Yêu nước, thương nòi, thương mình, thương người, tương thân tương ái,... là vẻ đẹp tâm hồn. là đạo lí của dân tộc. Câu ca dao trên đã cho thấy nguồn sức mạnh Việt Nam. Với tình thương mà tổ tiên ta đã xây đắp nên nền Văn hiến Đại Việt lâu đời. Với tình thương mà nhân dân ta ngày nay đang xoá bỏ hận thù quá khứ, cùng nhau xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. hướng vào mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh". Hạnh phúc, ấy là tình thương. Đạo lí làm người, ấy là nhân hậu, ấy là tình thương.                                                                                    loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cảm nhận về nhận về đoạn thơ dưới đây trong bài đất nước :khi ta lớn lên đất nước đã có rồi....đất nước có từ ngày đó

CẢM NHẬN VỀ NHẬN VỀ ĐOẠN THƠ DƯỚI ĐÂY TRONG BÀI ĐẤT NƯỚC :KHI TA LỚN LÊN ĐẤT NƯỚC ĐÃ CÓ RỒI....ĐẤT NƯỚC CÓ TỪ NGÀY ĐÓ

Cảm nhận về nhận về đoạn thơ dưới đây trong bài đất nước :khi ta lớn lên đất nước đã có rồi....đất nước có từ ngày đó BÀi 1 Bài 2: Có được lớn lên từ mái ấm gia đình, từ tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ ta mới thấy câu ca dao "gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau" là lời nhắn nhủ, dặn dò quý giá biết bao. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đang tìm cho mình một cách cảm nhân mới về đất nước vốn là một đề tài rất cũ, một hình ảnh rất quen trong chín câu đầu của trường ca: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó… Muốn hiểu về Đất nước nhưng "khi ta lớn lên đất nước đã có rồi": lời thơ khẳng định đất nước ra đời từ rất lâu như ta thường bảo 4000 năm lịch sử. Câu thơ cũng khẳng định sự trường tồn của đất nước sau bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu lần đánh giặc ngoại xâm, chống lại nội thù để bảo vệ đất nước. Nhưng câu thơ cũng nói lên nỗi lòng băn khoăn của nhà thơ vì làm sao hiểu được đất nước khi đất nước đã có từ lâu, đã cách ta quá xa, đã " có từ ngày xửa ngày xưa...": một cụm từ vô cùng quen thuộc, thân thương vì ai trong chúng ta không từng được đắm mình trong những câu chuyện cổ tích thần tiên" mẹ thường hay kể". Những câu chuyện kể, những lời ru của mẹ đưa con về với đất nước yêu dấu. "Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn", câu thơ của NKĐ khiến con nhớ đến câu chuyện cảm động "Sự tích trầu cau" mẹ kể con nghe về tình nghĩa gia đình thắm thiết, ven tròn, hoà quyện nhau như màu đỏ huyết thống thiêng liêng. Đấy chính là nền tảng để xây dựng gia đình, để khởi đầu đất nước hay đây cũng chính là bài học đầu tiên về đất nước. Miếng trầu bình thường bà vẫn ăn hàng ngày sao bỗng dưng trở thành thiêng liêng, thấp thoáng đâu đó dáng hình đất nước qua tập tục ăn trầu thân quen. Hình ảnh cây tre trong câu thơ" Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc" con đã từng gặp trong "Sự tích Thánh Gióng" khi cậu bé chỉ mới 3 tuổi đã vươn vai thành người chiến sĩ nhổ tre, đánh giặc thù, bảo vệ bờ cõi. Cây tre hiền hoà hằng ngày ta vẫn thấy trong xóm làng cho ta những vật dụng và bóng mát, thế nhưng cây tre đã từng là vũ khí theo suốt con đường cha ông ta đánh giặc để giữ cho con cháu hôm nay đất nước này. Truyền thống đấu tranh bất khuất của người xưa dẫu ko có vũ khí tương xứng nhưng đã để lại cho con cháu một bài học: muốn đất nước lớn lên vững vàng thì dân mình phải biết trồng tre để chuẩn bị thành vũ khí đánh giặc. Bài học lịch sử quý giá này cháu con luôn ghi nhớ và đang vận dụng trong những ngày đánh Mỹ ác liệt để bảo vệ đất nước với "gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín" (Thép mới) Mỗi một đất nước đều có riêng những phong tục tập quán và dân tộc ta cũng thế. Hình ảnh" tóc mẹ thì bới sau đầu" đã nói lên một nét đẹp của phong tục VIệt Nam ta từ xưa còn lưu lại đến bây giờ dù đất nước đã phải trải qua bao năm bị ngoại bang đô hộ và đồng hoá nhưng dân tộc này vẫn giữ được tập quán riêng của đất nước mình. Có được lớn lên từ mái ấm gia đình, từ tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ ta mới thấy câu ca dao "gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau" là lời nhắn nhủ, dặn dò quý giá biết bao. Với Nguyễn Khoa Điềm "cha mẹ thương nhau bằng gừng ay muối mặn" để con được hưởng hạnh phúc đầy đủ, cho con hiểu thêm một nét đẹp đạo lí dân tộc là tình nghĩa luôn thuỷ chung, son sắc. Từ cái nhà con ở khi "cái kèo, cái cột thành tên" đến hạt gạo con ăn"phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàn" ta hiểu được bao thế hệ mẹc ha đã lao động vất vả, chắt chiu, dành dụm để tạo dựng cuộc sống cho những đứa con nên người và góp phần dựng xây đất nước. Tất cả chính là đất nước. Thế thì đất nước ko phải đâu xa lạ, vô hình mà là những vật dụng, những hình ảnh hàng ngày ta vẫn thấy quanh đây rất đỗi thân quen đã từng gắn bó với ta từ thời thơ bé khi bên ta có bà, có mẹ , có cha. Nhưng chính những câu chuyện cổ tích mẹ kể con nghe, chính những lời ru ca dao đã đưa con vào thế giới sâu nặng nghĩa tình của đất nước thiêng liêng với bao truyền thống, tập quán tốt đẹp. Từ những hình ảnh thân quen nhưng ẩn chứa chiều sâu kiến thức văn học dân gian cùng với giọng thơ ngọt ngào đoạn thơ như lời kể chuyện tâm tình, Nguyễn Khoa Điềm đã bình dị hoá đất nước, đất nước hoá thân vào cổ tích, ca dao, vào cuộc sống hàng ngày. Tác giả đã có một cách cảm nhận mới vừa quen vừa lạ, vùa cụ thể vừa trừu tượng, vừa gần gũi vừa rất đỗi thiêng liêng...tạo nên sự xúc động sâu sắc. Điều đó nói lên thành công của tác phẩm cũng như những đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm đối vơi nền Văn học Việt Nam. Nguồn tin: Tổng hợp
Xem thêm

2 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI CA DAO SAU: "MUỐI BA NĂM MUỐI ĐANG CÒN MẶN...CÓ XA NHAU ĐI NỮA CŨNG BA VẠN SÁU NGÀN NGÀY MỚI XA"

PHÂN TÍCH BÀI CA DAO SAU: "MUỐI BA NĂM MUỐI ĐANG CÒN MẶN...CÓ XA NHAU ĐI NỮA CŨNG BA VẠN SÁU NGÀN NGÀY MỚI XA"

Bài ca thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người lao động: gắn bó, thủy chung trong tình nghĩa vợ chồng, trong tình yêu đôi lứa.           "Muối ba năm muối đang còn mặn            Gừng chín tháng gừng hãy còn cay  Đôi ta nghĩa nặng tình dày                                      Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mớ        Bài ca nói về tình nghĩa lứa đôi mặn nồng, tình nghĩa vợ chồng gắn bó thủy chung. Ca dao thường mở đầu theo thể hứng: bắt đầu từ một sự vật, sự việc nào đó rồi mới nói đến ý chính. Nhiều khi sự vật mở đầu và ý chính không có liên quan gì với nhau: Con chim đỏ đỏ Cái mỏ nó xanh                  Nó kêu người ở trong làng,                              Đừng ham lãnh lụa, phụ phùng vải bô.        Nhưng cũng có khi sự vật mở đầu và ý chính có liên quan với nhau. Bài ca này thuộc trường hợp sau: mở đầu bằng muối - gừng để nói đến tình nghĩa của con người. Muối - gừng đã đi vào ca dao khá nhiều:                     Tay bưng đĩa muối chấm gừng,                        Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.       Muối và gừng, đó là những sự vật vô cùng quen thuộc trong đời sống dân dã, bình dị và nghèo khó. Người bình dân dùng hình ảnh muối và gừng để nói đến tình nghĩa một cách kín đáo mà chân thực, sâu sắc. Muôi để càng lâu năm càng mặn, gừng để càng già càng cay. Người bình dân mong muốn tình nghĩa cũng đậm đà, lâu bền như vị mặn của muối, vị cay của gừng. Hai câu đầu nói gián tiếp, hai câu sau dùng cách nói trực tiếp: Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa củng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.       Hai tiếng “đôi ta" thật gần gũi, thân thiết. Cụm từ “nghĩa nặng tình dày” nói về nghĩa tình sâu nặng một cách thấm thía. Với người bình dân, tình bao giờ cũng đi với nghĩa. Nghĩa là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Tình càng dày thì nghĩa càng nặng. Người bình dân xem nghĩa trọng hơn tinh. Thậm chí có khi không bao giờ phai nhạt. Gừng chín tháng, muối ba năm, nhưng tình nghĩa của con người là trọn đời trọn kiếp. “Ba vạn sáu nghìn ngày” là một trăm năm, là cả đời người. Nghĩa tình gắn bó với nhau suốt đời suốt kiếp như thế mới thật là sâu đậm. Nói xa nhau mà đến một trăm năm sau mới chịu xa tức là không bao giờ xa nhau, không bao giờ quên nhau.        Bài ca thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người lao động: gắn bó, thủy chung trong tình nghĩa vợ chồng, trong tình yêu đôi lứa. Trích: loigiaihay.com   i xa"
Xem thêm

2 Đọc thêm

Suy nghĩ của em về câu ca dao: Ai ơi bưng bát ... muôn phần.

SUY NGHĨ CỦA EM VỀ CÂU CA DAO: AI ƠI BƯNG BÁT ... MUÔN PHẦN.

Câu ca dao đã ca ngợi đức tính cần cù, chịu khó và tinh thần sáng tạo của người nông dân Việt Nam. Họ là động lực, là nguồn sống của xã hội. Nhờ họ mà mọi người, mọi nhà được no ấm. Nhờ họ, mà đất nước ta có nhiều triệu tấn gạo xuất khẩu. Trong những câu dân gian nói về lao động, em thích nhất câu ca dao: "Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần". Câu ca dao như một lời nhắn nhủ chứa chan tình nghĩa "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" mà ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo vẫn hàng nhắc nhở chúng ta. Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta được gọi là hạt ngọc, hạt vàng. Bát cơm dẻo thơm ta ăn hằng ngày, các loại bánh như bánh cốm, bánh chưng, bánh giầy, bánh phở... những món ăn ngon đều được chế biến từ hạt gạo. Cốm Vòng dẻo thơm bọc trong lá sen xanh, ai đã được một lần thưởng thức cái thức dâng của Trời, cái ngọt ngon của đồng quê nội cỏ nước Nam. Ai đã làm ra hạt gạo để mọi người được bưng những bát cơm đầy dẻo thơm, được no ấm? Chính là người dân cày Việt Nam đã một nắng hai sương, quanh năm vất vả cày bừa, cấy hái, làm cỏ, tát nước, bón phân, bắt sâu mới làm nên những mùa vàng. Trời mưa gió, lúc bão táp mưa sa, lúc nắng hạn, đồng khô nứt nẻ, làm ra bát cơm ngon lành, dẻo thơm, người nông dân phải đổ biết bao mồ hôi vật lộn với lo âu vất vả, nếm trải "đắng cay muôn phần". Câu ca dao đã ca ngợi đức tính cần cù, chịu khó và tinh thần sáng tạo của người nông dân Việt Nam. Họ là động lực, là nguồn sống của xã hội. Nhờ họ mà mọi người, mọi nhà được no ấm. Nhờ họ, mà đất nước ta có nhiều triệu tấn gạo xuất khẩu. Nhờ họ mà quê hương ta ngày một giàu có, thịnh vượng. Câu ca dao còn ca ngợi và khẳng định giá trị của bông lúa, hạt gạo. Nó nhắc nhở mọi người khắc sâu trong trái tim mình lòng biết ơn người dân cày Việt Nam. Từ câu ca dao, em nghĩ về đất nước, tự hào về nền văn minh sông Hồng, nền văn minh trồng lúa nước. Em nghĩ về nền nông nghiệp nước ta đang trên đà phát triển, hiện đại hóa. Điện và máy móc (máy cày, máy bừa, máy gặt đập liên hợp, máy bơm nước,...) đã đến với đồng quê. Mỗi năm đất nước ta sẽ sản xuất được 50 triệu, 100 triệu tấn lúa... là mơ ước của cả dân tộc. Học câu ca dao: "Ai ơi bưng bát cơm đầy - Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần", bài học "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" càng trở nên sâu sắc, thấm thía. Nguyễn Công Thăng (Học sinh lớp 9 THCS Nga Sơn, Thanh Hóa) Trích:loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI CA DAO SAU: ANH EM NHƯ THỂ TAY CHÂN - RÁCH LÀNH ĐÙM BỌC DỞ HAY ĐỠ ĐẦN.

PHÂN TÍCH BÀI CA DAO SAU: ANH EM NHƯ THỂ TAY CHÂN - RÁCH LÀNH ĐÙM BỌC DỞ HAY ĐỠ ĐẦN.

Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm đẹp đẽ nhất của con người Việt Nam, tình cảm ấy được thể hiện đằm thắm ngọt ngào trong ca dao dân ca. Bên cạnh những bài ca ca ngợi công cha nghĩa mẹ, đạo làm con, tình cảm vợ chồng... còn có nhiều bài đặc sắc nói đến tình cảm anh em trong gia đình.       Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm đẹp đẽ nhất của con người Việt Nam, tình cảm ấy được thể hiện đằm thắm ngọt ngào trong ca dao dân ca. Bên cạnh những bài ca ca ngợi công cha nghĩa mẹ, đạo làm con, tình cảm vợ chồng... còn có nhiều bài đặc sắc nói đến tình cảm anh em trong gia đình. Câu ca dao dưới đây là bài học về đạo lý làm người: Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần Trong ca dao dân ca, lối nói so sánh ví von được sử dụng khá hiệu quả. Chân và tay là những bộ phận quan trọng trên cơ thể con người không thể thiếu được, không thể tách rời nhau. Thiếu chân hoặc tay mọi cử chỉ hành động của con người bị hạn chế. Chân với tay phối hợp với các bộ phận khác tạo nên sự hoàn chỉnh cho vẻ đẹp của con người kế cả hình thể lẫn tinh thần. Cách nói so sánh rất hay, lấy cái cụ thể để nói cái trừu tượng, lấy chân tay để nói tình cảm thân thiết gắn bó giữa anh em trong gia đình, trong dòng họ. Anh em cùng được sinh ra trong một gia đình, cùng cha mẹ và được nuôi dưỡng trong một tổ ấm. Anh em sống và lớn lên tình cảm gắn bó ruột thịt, họ cũng chung huyết hệ, bên nhau từ thuở ấu thơ đến lúc về già. Gia đình, gia tộc của con người Việt Nam xưa nay mang tính truyền thống bền vững trong cộng đồng làng xã ngàn năm. Nó phát triển qua quan hệ tình nghĩa giọt máu đào hơn ao nước lã, máu chảy ruột mềm. Tình cảm ấy thể hiện sâu sắc trong lễ, tết, ma chay, cưới hỏi... Từ mối quan hệ gia đình, nhân dân ta nói đến nghĩa vụ của anh em đối với nhau, nghĩa vụ ấy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể: Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần Đùm bọc, đỡ đần là thể hiện tình yêu thương nhau. Câu ca dao có hai vế đối nhau, mỗi vế là những cảnh đời khác nhau, số phận khác nhau. Trong anh và em có thể có kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn... Nhưng dẫu thế nào anh em vẫn phải đùm bọc yêu thương nhau. Yêu thương là phải biết giúp nhau lúc hoạn nạn, khó khăn là: lá lành đùm lá rách, - hành động theo tình yêu thương. Khi lớn lên, lập gia đình mỗi người có một hoàn cảnh riêng. Lúc khoẻ cũng như lúc ốm đau bệnh tật, tối lửa tắt đèn có nhau, phải nương tựa vào nhau. Có được như vậy thì mới không khỏi môi hở răng lạnh,. Đó là đạo lý nghĩa tình huynh đệ. Bao năm tháng đã trôi qua chúng ta vẫn cảm thấy tiếng nói ấy vẫn vọng về từ cha ông: Anh em nào phải người xa  Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân Yêu nhau như thể tay chân Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy Lòng hiếu thảo, tình cảm gia đình, anh em được xây dựng trên những quy ước của lễ giáo và sự ràng buộc về nghĩa vụ và trách nhiệm. Lúc nhỏ cha mẹ bận việc cấy cày, anh ru em ngủ, cõng em đi chơi. Yêu nhau từ thuở trong nôi Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru Trong những cảnh đời côi cút, anh còn thay cha mẹ nuôi dạy em khôn lớn trưởng thành. Lòng hiếu thảo hoà quyện với tình huynh đệ Hiếu lễ là kính trọng cha mẹ và yêu thương hoà thuận với anh em. Anh yêu thương em, nhường nhịn cho em, em kính trọng ngoan ngoãn vâng lời. Đó là đạo lí, nền nếp gia phong. Trong gia đình anh em có coi nhau như thể tay chân thì ra ngoài xã hội mới thương người như thể thương thân. Nếu như bất hoà trong tình cảm anh em thì chẳng những tình cảm anh em sứt mẻ mà xã hội cười chê: Tưởng rằng chị ngã em nâng Ai ngờ chị ngã, em bưng miệng cười Làng xã Việt Nam xưa nay vẫn tồn tại những dòng họ. Vai trò của ông trưởng tộc rất lớn, tình huynh đệ được đề cao và được coi trọng. Ngày giỗ tổ là ngày thể hiện sự gắn bó :tình anh em và tưởng nhớ cội nguồn. Gia đình là tế bào, nền tảng của xã hội. Từ tình thương anh em trong gia đình rộng ra: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Tóm lại bài ca dao mãi mãi là bài học về tình nghĩa anh em trong gia đình, thân thiết thuỷ chung. Tình cảm ấy phải được coi là máu thịt, có như vậy mới mong gìn giữ những đạo lý truyền thống của ông cha răn dạy chúng ta. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề