CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC LUẬT HIẾN PHÁP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC LUẬT HIẾN PHÁP":

ÔN TẬP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

ÔN TẬP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

1. Tại sao khoa học Luật Hiến pháp là môn khoa học pháp lý chuyên ngành?
Tương ứng với 1 ngành luật thường có 1 khoa học plý nghiên cứu về luật đó. Các ngành khoa học plý này được gọi là khoa học plý chuyên ngành.
Khoa học Luật Hiến pháp là một khoa học pháp lý chuyên ngành vì nó nghiên cứu những vấn đề cơ bản của Nhà nước XH VN về: chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa XH, quốc phòng an ninh, tổ chức và hoạt động của bộ máy NN, mối qhệ giữa NN và công dân (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân)...; Khoa học Luật HP có mối quan hệ mật thiết với các khoa học plý khác:
 Khoa học lý luận chung về NN PL  sử dụng những kết luận trong lý luận chung để nghiên cứu vấn đề tổ chức nhà nước VN.
 Khoa học về lịch sử NN PL của VN, của TG; Luật hành chính, Luật hình sự, Luật dân sự...
Xem thêm

46 Đọc thêm

TÀI LIỆU THI CÔNG CHỨC TỈNH THANH HÓA NĂM 2016

TÀI LIỆU THI CÔNG CHỨC TỈNH THANH HÓA NĂM 2016

nhân sự của bộ máy đó; chức năng tham gia quá trình lập pháp.1.1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủNhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được ghi tại Điều 96, Hiến pháp năm2013 gồm:- Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghịquyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;- Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hộiquyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quyđịnh tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án kháctrước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;23-Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học,công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninhquốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cụcbộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổquốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;- Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thànhlập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hộiquyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chínhdưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;- Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ,công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tácthanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, thamnhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơquan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồngnhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều
Xem thêm

87 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TIỂU LUẬN CAO HỌC VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY, NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

A Mở đầu

I. Tính cấp thiết của vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khảng định : Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thể chế hoá nghị quyết Đại hội Đảng ghi nhận tại điều 2 : “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Như vậy lần đầu tiên trong một đạo luật cơ bản chính thức ghi nhận Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý là nghiên cứu nhà nước pháp quyền với những vấn đề lý luận và thực tiễn. Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức (lý luận). Tuy nhiên lý luận xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực tiễn làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Triết học Mác Lênin đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
II. Tình hình nghiên cứu.
Ở nước ngoài : tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có bề dày lịch sử hình thành và phát triển. Nhiều học giả hiện đại tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.
Ở trong nước : khoảng 10 năm trở lại đây có nhiều học giả nghiên cứu vấn đề này (PGSTS Lê Minh Tâm, GSTS Đào Trí, TS Nguyễn Văn Động...)
Vấn đề nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là vấn đề còn nhiều tranh luận, nhiều quan điểm khác nhau.
Xem thêm

36 Đọc thêm

Đề cương môn học Sau đại học: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ HÌNH PHẠT

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC SAU ĐẠI HỌC: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ HÌNH PHẠT

4. Tóm tắt nội dung môn học
Trang bị cho người học các kiến thức lý luận và chuyên sâu về trách nhiệm hình sự và hình phạt, trên cơ sở đó người học được tiếp cận vấn đề mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt với các chế định khác liên quan trong Luật hình sự như: Phân loại tội phạm, đa (nhiều) tội phạm, lỗi, các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm, các tội phạm cụ thể thuộc Phần Các tội phạm trong Bộ luật hình sự v.v..
5. Nội dung cơ bản của môn học
§1. Khái niệm trách nhiệm hình sự (với hai nghĩa của nó – tích cực và tiêu cực), các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản và các dạng của trách nhiệm hình sự.
§2. Các hình thức thực hiện và các giai đoạn thực hiện trách nhiệm hình sự.
§3. Khái niệm cơ sở của trách nhiệm hình sự và các đặc điểm chính của nó, cũng như các quan điểm khác nhau về cơ sở của trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự hiện nay.
§4. Khái niệm điều kiện của trách nhiệm hình sự, các quan điểm khác nhau về những điều kiện của trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự hiện nay.
§5. Chế định trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và mô hình lý luận của nó.
§6. Trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; đồng phạm; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội).
§7. Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân.
§8. Khái niệm hình phạt, các đặc điểm và các mục đích của hình phạt.
§9. Khái niệm hệ thống hình phạt những tiêu chí (yêu cầu) của một hệ thống hình phạt khả thi.
§10. Hệ thống các hình phạt chính và những tồn tại.
§11. Hiệu quả của hình phạt và các yếu tố bảo đảm hiệu quả của hình phạt.
§12. Hình phạt trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới (Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức và Nhật Bản).
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nội luật hóa luật quốc tế vào luật việt nam

NỘI LUẬT HÓA LUẬT QUỐC TẾ VÀO LUẬT VIỆT NAM

MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU3Chương 1: Lý luận chung về mối quan hệ giữa Luật quốc gia luật quốc tế và vấn đề nội luật hóa ở Việt Nam41.1.Lý luận chung về mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế41.1.1.Khái niệm41.1.2.Mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế41.2.Lý luận chung về vấn đề nội luật hóa ở Việt Nam171.2.1.Khái niệm171.2.2.Đặc điểm191.2.3.Các mô hình nội luật hóa các Điều ước quốc tế ở Việt Nam211.2.4.Các học thuyết về nội luật hóa Điều ước quốc tế241.2.5.Vấn đề nội luật hóa của các nước trên thế giới29Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa luật quốc gialuật quốc tế và vấn đề nội luật hóa ở VN422.1.Thực trạng thực thi các điều ước quốc tế ở Việt Nam trong một số lĩnh vực cụ thể….………………………………………………………………………………..422.1.1.Trong lĩnh vực nhân quyền422.1.2.Trong lĩnh vực kinh tế thương mại432.1.3.Trong lĩnh vực môi trường442.1.4.Trong lĩnh vực du lịch452.2.Nhận xét và kiến nghị502.2.1.Nhận xét502.2.2.Kiến nghị53KẾT LUẬN58TÀI LIỆU THAM KHẢO59PHỤ LỤC:60LỜI MỞ ĐẦUTrong giai đoạn Xã hội chủ nghĩa, Luật quốc tế đang phát triển một cách mạnh mẽ trong lịch sử loài người. Về căn bản, luật quốc tế được biểu hiện qua tập quán và Điều ước quốc tế. Hiện nay, các tập quán được áp dụng cực kì ít, chỉ sử dụng những tập quán ưu việt như: quy chuẩn về ngoại giao, cứu hộ trên biển, tuyên bố tình trạng chiến tranh, bảo vệ nguyên thủ quốc gia,…. Các Điều ước quốc tế thì ngược lại, đang phát triển và tăng nhanh trên mọi lĩnh vực. Chính vì thế trong phạm vi bài tiểu luận của nhóm, khi bàn về mối quan hệ qua lại giữa luật quốc gia và luật quốc tế, về bản chất cũng chính là tìm hiểu về quan hệ qua lại giữa pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế. Với tính cách là nguồn cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, điều ước quốc tế nổi lên giữ vai trò của một công cụ pháp lý hữu hiệu nhất điều chỉnh quan hệ về mọi mặt giữa các chủ thể của Luật quốc tế, chủ yếu là các quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò then chốt của điều ước quốc tế càng được khẳng định, vừa là phương tiện hợp tác của các quốc gia, vừa là đòn bẩy của các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế.Tuy nhiên, xét về bản chất của mối quan hệ qua lại giữa luật quốc gia với luật quốc tế ở Việt Nam hiện tại cũng như nhiều nước trên thế giới hiện nay còn chưa có quan điểm thống nhất. Điều này đã làm cho giới chức chính trị ở các nước nhìn nhận vấn đề này không giống nhau, thậm chí còn sử dụng pháp luật quốc tế (hoặc pháp luật quốc gia) như một công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại.Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm chỉ nêu lên những lý luận cơ bản về mối quan hệ luật quốc tế và luật quốc gia và hiểu được bản chất nội luật hóa là gì cùng với thực trạng và một số ý kiến của nhóm xung quanh những vấn đề đó, để cùng cô và các bạn trao đổi trong buổi phản biện.Chương 1: Lý luận chung về mối quan hệ giữa Luật quốc gia luật quốc tế và vấn đề nội luật hóa ở Việt Nam1.1.Lý luận chung về mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế1.1.1.Khái niệmLuật quốc tế là hệ thống pháp luật độc lập bao gồm những nguyên tắc, quy phạm do các chủ thể của luật quốc tế xây dựng nhằm điều chỉnh quan hệ quốc tế (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau. Luật quốc tế được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế riêng lẻ, cưỡng chế tập thể hoặc thông qua dư luận tiến bộ trên thế giới.Luật quốc gia là hệ thống các quy phạm pháp lý, thành văn hoặc không thành văn do nhà nước đặt ra hoặc công nhận nhằm điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa các chủ thể của pháp luật và về nguyên tắc những quan hệ đó phát sinh trong lãnh thổ hoặc quyền tài phán của quốc gia đó. Pháp luật trong nước có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ của quốc gia ban hành ra nó.Như đã nói ở trên, về bản chất mối quan hệ luật quốc tế và luật quốc gia cũng chính là bàn về quan hệ qua lại giữa pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế. Thế thì Điều ước quốc tế là gì?Điều ước quốc tế là văn bản pháp luật quốc tế do chủ thể của Luật quốc tế xây dựng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng thông qua quá trình đấu tranh, thương lượng nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ với nhau.1.1.2.Mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế1.1.2.1. So sánh luật quốc gia và luật quốc tếĐể so sánh một cách căn bản luật quốc gia và luật quốc tế ta xét đến các yếu tố sau:Về đối tượng điều chỉnh, pháp luật quốc gia điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong nội bộ phạm vi lãnh thổ, còn pháp luật quốc tế điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống sinh hoạt quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế.Về chủ thể, chủ thể luật quốc gia là thể nhân, pháp nhân và nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể đặc biệt khi nhà nước là một bên trong quan hệ, còn chủ thể của pháp luật quốc tế là các quốc gia có chủ quyền, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên chính phủ và các chủ thể khác.Về trình tự xậy dựng pháp luật, việc xây dựng pháp luật và trình tự xây dựng pháp luật của pháp luật quốc gia do cơ quan lập pháp thực hiện còn xây dựng và trình tự xây dựng pháp luật quốc tế do không có cơ quan lập pháp nên khi xây dựng các quy phạm thành văn, bất thành văn chủ yếu do sự thỏa thuận giữa các chủ thể có chủ quyền quốc gia của luật quốc tế.Về biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật, quốc gia có bộ máy cưỡng chế tập trung thường trực như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… làm biện pháp bảo đảm thi hành, còn pháp luật quốc tế thì không có bộ máy cưỡng chế tập trung mà chỉ có một số biện pháp cưỡng chế nhất định mang tính tự cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể.Về phương pháp điều chỉnh, các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia có nhiều phương pháp điều chỉnh khác nhau còn các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế thì chỉ có một phương pháp điều chỉnh là sự thỏa thuận.1.1.2.2. Quan hệ thứ bậc giữa Điều ước quốc tế và Pháp luật quốc giaNói đến tác động qua lại giữa điều ước quốc tế và pháp luật trong nước, cũng tức là nói đến các học thuyết về mối quan hệ qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, xét theo nghĩa rộng. Qua nghiên cứu cho thấy, các học thuyết về mối quan hệ qua lại này, trước hết, ra đời trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa và ở một mức độ nhất định, gắn với mục tiêu chính trị là củng cố quyền lực của nhà nước tư sản và từ đó có những ảnh hưởng quan trọng đối với quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của các quốc gia. Nổi lên có hai học thuyết quan trọng là thuyết nhất nguyên và thuyết nhị nguyên. Trong thuyết nhất nguyên lại có trường phái về giá trị ưu thế của pháp luật quốc tế và trường phái về giá trị ưu thế của pháp luật quốc gia.a) Thuyết nhất nguyênThuyết nhất nguyên (nhất nguyên luận) xuất phát từ quan điểm cho rằng, luật quốc tế và luật quốc gia là hai bộ phận của một hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó bộ phận này tuỳ thuộc vào bộ phận kia. Sự tuỳ thuộc của mỗi bộ phận pháp luật là do đặc tính về giá trị ưu thế của bộ phận này, so với bộ phận kia quyết định. Đại diện cho học thuyết này là H.Kelsel, A.Verdross, A.Zorn, A.Lasson, B.Kunz . Cội nguồn sâu xa, xét về mặt lịch sử tư tưởng của học thuyết này, trước hết là dựa vào quan điểm của học thuyết pháp luật tự nhiên. Trên cơ sở quan niệm cho rằng bản chất tốt đẹp của con người là do năng lượng của thiên nhiên mang lại nên không thể được xác định khác nhau, do đó mọi xung đột được loại trừ.Học thuyết nhất nguyên đưa ra ba khả năng xác định mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia tuỳ theo vị trí ưu tiên của chúng. Một khả năng coi pháp luật quốc tế có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc tế), khả năng thứ hai là pháp luật của quốc gia có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc gia) và khả năng thứ ba là dung hòa hai khả năng trên.Thứ nhất, trường phái về giá trị ưu thế của luật quốc tếNhững người theo trường phái về giá trị ưu thế của luật quốc tế ủng hộ quan điểm cho rằng, luật quốc tế có giá trị cao hơn luật quốc gia; luật quốc gia phụ thuộc vào luật quốc tế và do luật quốc tế quyết định. Nói cách khác, luật quốc tế được đặt lên trên luật quốc gia, có giá trị chi phối đối với luật quốc gia; luật quốc gia phải phục tùng luật quốc tế. Xét về mặt bản chất, thì thuyết về giá trị ưu thế của luật quốc tế phản ánh những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của các nước đế quốc. Theo đó, luật quốc tế được coi là một ngành luật có vị trí cao hơn đặc biệt so với luật quốc gia và có ưu thế đặc biệt đối với luật quốc gia. Vấn đề quan trọng mà thuyết này muốn đưa ra là, phương diện ảnh hưởng của chủ quyền quốc gia và hiệu lực của luật quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào luật quốc tế. Có thể nói, trên quan điểm của chúng ta, thì đây được xem là một trong những điểm phản động, phản tiến bộ nhất của thuyết này.Bởi qua nghiên cứu về lịch sử phát triển của luật quốc tế cho thấy, cuối cùng thì các quốc gia, bằng ý chí của chủ quyền quốc gia, vẫn có thể thoả thuận với nhau về việc pháp điển hoá pháp luật quốc tế và tạo nên tính chất ảnh hưởng của nó đối với luật quốc gia. Nói cách khác, luật quốc tế là do chính các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên. Thực tế, không thể tồn tại một hệ thống siêu pháp luật nằm trên chính quyền nhà nước và ràng buộc chủ quyền của các quốc gia. Vì thế, quan điểm về giá trị ưu thế của luật quốc tế là điều không thực tế. Quan điểm về giá trị ưu thế của luật quốc tế đối với luật quốc gia được nhiều nước thừa nhận sau đại chiến thế giới hai. Vì thế, trong Hiến pháp của nhiều nước tư sản phương Tây đã xuất hiện các quy phạm mà theo đó, có thể làm hạn chế chủ quyền của các quốc gia khác khi tham gia vào các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Nhưng cuối cùng thì thuyết này cũng không gây được ảnh hưởng đối với pháp luật cũng như thực tế đối với các nước tư bản.Thứ hai, trường phái về giá trị ưu thế của luật quốc giaXuất phát từ mục đích củng cố và bảo vệ lợi ích của nhà nước tư sản, áp đặt chủ quyền của nhà nước tư sản lên trên các quốc gia khác, những người ủng hộ thuyết về giá trị ưu thế của luật quốc gia thì cho rằng, luật quốc gia có giá trị cao hơn luật quốc tế, theo đó, luật quốc gia có thể làm vô hiệu hoá hiệu lực của luật quốc tế. Những người ủng hộ thuyết này cho rằng, luật quốc tế, cuối cùng được coi là luật đối ngoại của quốc gia và mỗi quốc gia có thể xác lập hoặc thay đổi nó tuỳ theo quan điểm của mình. Thuyết này đã lan truyền trong thời kỳ đại chiến thế giới thứ hai tại Đức, khi Đức quốc xã phát động chiến tranh xâm lược thế giới. Nhưng cuối cùng thì cả thuyết này cũng không gây ảnh hưởng đáng kể đối với thế giới.Thứ ba, trường phái “nhất nguyên dung hòa”Trên cơ sở các luận điểm của hai trường phái của chủ nghĩa nhất nguyên nói trên, đã xuất hiện chủ nghĩa nhất nguyên dung hoà. Trường phái này đã được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý quốc tế. Theo học thuyết này, các quy phạm pháp luật quốc tế có vị trí cao hơn pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, học thuyết này công nhận có khả năng xung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Và để giải quyết xung đột, các quốc gia, do chịu ảnh hưởng của sự ràng buộc của pháp luật quốc tế, cần phải huỷ bỏ các văn bản pháp luật của quốc gia mình trái với pháp luật quốc tế. Còn các văn bản pháp luật quốc gia tạm thời có vị trí thấp hơn so với pháp luật quốc tế .Vì thế, để thực hiện các cam kết quốc tế, quốc gia cần phải xây dựng các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với pháp luật quốc tế. Trong trường hợp có sự xung đột giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thì pháp luật quốc tế được ưu tiên áp dụng.Cộng hoà Pháp là một trong những quốc gia điển hình công nhận chủ nghĩa nhất nguyên: Coi quy phạm pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) có vị trí ưu thế hơn so với pháp luật quốc gia. Điều 55 Hiến pháp ngày 4101958 của Cộng hoà Pháp tại Mục 6 về Điều ước quốc tế đã quy định: “Các điều ước quốc tế đã được phê chuẩn hoặc phê duyệt theo đúng quy định, có hiệu lực cao hơn luật, kể từ ngày công bố, với điều kiện điều ước quốc tế đó cũng được bên kia thực hiện”. Các Điều từ 52 đến 55 cũng đã phản ánh học thuyết nhất nguyên luận trong Hiến pháp của nước Pháp: pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế là một hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó luật quốc tế chiếm ưu thế so với pháp luật quốc gia. Tuy vậy, nguyên tắc cơ bản này cũng có một số giới hạn trong quá trình áp dụng tại Cộng hoà Pháp. Trong trật tự các quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có vị trí dưới Hiến pháp, nhưng lại có giá trị cao hơn các văn bản quy phạm pháp luật khác. Pháp luật Hoa kỳ cũng có quy định tương tự, cũng áp dụng chủ nghĩa nhất nguyên như ở Pháp. Ví dụ, Điều 6 Hiến pháp Hoa kỳ quy định: “Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan toà ở các bang đều phải tuân theo những luật này...” . Mặc dù vấn đề vị trí của điều ước quốc tế trong mối quan hệ với Luật pháp Thuỵ Sỹ vẫn còn đang được tranh luận trong khoa học cũng như trong thực tiễn, nhưng hiện có một xu hướng nổi trội ở nước này, đó là: đặt cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế ở vị trí trên các đạo luật Liên bang hoặc thậm chí còn xếp ngang hàng với Hiến pháp. Còn tại Hà Lan, Hiến pháp của Hà Lan năm 1953 (được sửa đổi năm 1956) thậm chí còn cho phép các điều ước quốc tế được các cơ quan có thẩm quyền của Hà Lan ký kết có thể thay đổi và bác bỏ một cách hợp pháp các quy định của bản thân Hiến pháp.b) Thuyết nhị nguyênThuyết nhị nguyên (nhị nguyên luận) là học thuyết phổ biến được nhiều nước tư bản ủng hộ. Đại diện xuất sắc cho trường phái này là H. Triepel, D.A. Anzilotti, H. Lauterpacht, L. Ehrlich . Thuyết này cho rằng, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập, có sự khác biệt căn bản về đối tượng điều chỉnh, về phạm vi hiệu lực, về chủ thể và nguồn. Tuy nhiên, điểm hạn chế cơ bản của thuyết này là ở chỗ, đã phân biệt đáng kể về mối liên hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia. Học thuyết xuất phát từ chủ quyền quốc gia, cho rằng luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật riêng biệt (biệt lập). Thuyết này có những hạn chế có tính giai cấp, dẫn đến hệ quả là không thể nhìn thấy rõ và giải quyết triệt để những vấn đề về mối quan hệ qua lại giữa luật quốc tế và luật quốc gia. Các tác giả của nó đã nghiên cứu về luật quốc tế và luật quốc gia trong sự gián đoạn, không gắn kết với xu thế phát triển tất yếu khách quan của các quan hệ quốc tế và ảnh hưởng của nó đối với luật quốc gia. Do đó, đã nhìn mối quan hệ qua lại giữa hai hệ thống pháp luật này một cách phiến diện, hình thức. Học thuyết nhị nguyên lại được phân chia thành hai trường phái, đó là trường phái nhị nguyên cực đoan và trường phái nhị nguyên dung hoà:Thứ nhất, trường phái nhị nguyên cực đoan.Chủ nghĩa nhị nguyên cực đoan dựa trên sự tách biệt hoàn toàn hai hệ thống pháp luật: pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Do vậy, theo trường phái này không có xung đột giữa hai hệ thống pháp luật trên. Nếu một văn bản pháp luật của quốc gia (luật, pháp lệnh, nghị định) trái với pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) thì cả pháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia đều có hiệu lực như nhau. Tuy nhiên, quốc gia có nghĩa vụ hoàn thiện pháp luật trong nước của mình để có thể thực hiện được pháp luật quốc tế (thực thi các điều ước quốc tế). Như vậy, ở một mức độ nhất định, học thuyết này đã đặt pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) ở một vị trí ưu tiên hơn so với pháp luật quốc gia.Thứ hai, trường phái nhị nguyên dung hòa.Chủ nghĩa nhị nguyên luận dung hoà xuất phát từ chỗ tách biệt về cơ bản hai hệ thống pháp luật pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nhưng không phủ nhận khả năng xung đột giữa hai hệ thống đó. Xung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không chỉ được giải quyết theo cách của chủ nghĩa nhất nguyên, với một trật tự trên dưới của hai bộ phận pháp luật. Cả hai hệ thống được xem như là hai vòng tròn có phần giao nhau. Vùng giao nhau này xuất hiện thông qua các quy định dựa vào nhau, dẫn chiếu đến nhau hoặc sự chuyển hoá các quy phạm từ hệ thống pháp luật này sang hệ thống pháp luật khác. Hệ quả là pháp luật quốc tế chiếm ưu thế nổi trội so với pháp luật quốc gia. Cũng theo trường phái này, sự chuyển hoá của quy phạm pháp luật quốc tế (điều ước quốc tế) vào pháp luật quốc gia đòi hỏi phải có một văn bản chính thống của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước. Và văn bản này sẽ tạo ra khả năng mở cửa lĩnh vực chủ quyền quốc gia đối với pháp luật quốc tế. Học thuyết này hiện nay đang được một số nước như CHLB Đức, Italia, Hà Lan, Vương quốc Anh áp dụng. Xu hướng này đã được phản ánh khá rõ nét trong Công ước Viên năm 1969 của Liên Hợp Quốc về Luật điều ước quốc tế .Tóm lại, qua nghiên cứu về bản chất của hai học thuyết nhất nguyên và nhị nguyên về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật trong nước, ta chưa thấy có sự gắn kết trong mối liên hệ một cách hệ thống của nó, nhất là sự tác động tương tác giữa chúng đối với quá trình hình thành và phát triển của hai hệ t
Xem thêm

59 Đọc thêm

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH

Công trình được thực hiện nhằm mục đích xác lập cơ sở lý thuyết cho trách nhiệm giải trình và đánh giá một cách tổng thể việc thực hiện nội dung này của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong đó đi sâu nghiên cứu các rào cản tác động đến việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở các kiến thức đã được học trong chương trình cao học luật hiến pháp và luật hành chính tại Học viện khoa học xã hội và trước đó, xứng đáng là một sản phẩm khoa học đáp ứng đủ tiêu chuẩn của luận văn trình độ thạc sĩ.
Xem thêm

80 Đọc thêm

KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Hiến pháp 1992 quy định "UBND do Hội đồng nhân dân bầu là chính quyền chấp hành Hội đồng nhân dân, chính quyền hành chính Nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật[r]

12 Đọc thêm

Bài tập cá nhân luật Hiến pháp: phân loại hiến pháp

BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT HIẾN PHÁP: PHÂN LOẠI HIẾN PHÁP

Bài tập cá nhân Luật Hiến pháp: Phân loại Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, nó xác định những điều cơ bản nhất, quan trọng nhất của nhà nước và xã hội như chính trị, kinh tế xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, đối ngoại, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiện nay trên thế giới có khoảng 190 nước có Hiến pháp và sự hiện diện của Hiến pháp được xem là dấu hiệu pháp lý không thể thiếu của một nhà nước dân chủ hiện đại. Trên thực tế, ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ, Hiến pháp có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa vào các nguyên tắc khác nhau.

1. Căn cứ vào bản chất của Hiến pháp thì Hiến pháp được chia thành Hiến Pháp Tư sản và Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp tư sản là hiến pháp của nhà nước tư sản hay các nước phát triển theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Nó có đặc điểm là đều trực tiếp hay gián tiếp tuyên bố bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, quyền sở hữu tư nhân là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Hiến pháp tư sản tập trung nói về ba cơ quan Nhà nước Quốc Hội (lập pháp), Chính Phủ(hành pháp) và tòa án xét xử(tư pháp) theo xu hướng công nhận học thuyết “Tam quyền phân lập”

Hiến pháp XHCN vì ra đời sau nên đã tiếp thu những hạt nhân dân chủ của hiến pháp tư sản tuy nhiên vẫn có đặc điểm khác: Trong tổ chức bộ máy nhà nước phủ nhận học thuyết “Tam quyền phân lập”, áp dụng nguyên tắc tập trung thống nhất vào Quốc Hội; Thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn thể nhân dân mà đặc biệt là các cơ quan dân cử, cơ quan đại diện trong nền dân chủ XHCN. Hiến pháp XHCN ghi nhận khẳng định và củng cố các quan hệ sản xuất mà nó có nhiệm vụ bảo vệ, đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, ghi nhận và củng cố các nguyên tắc cơ bản của đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc XHCN, đường lối đối ngoại hòa bình hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc thể hiện tính chất nhân đạo. tính nhân văn sâu sắc của chế độ mới đồng thời ghi nhận, khẳng định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xác định một cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Căn cứ vào thủ tục sửa đổi, thông qua Hiến pháp thì Hiến pháp được chia thành Hiến pháp cương tính và Hiến pháp nhu tính.

Hiến pháp cương tính là hiến pháp có những ưu thế đặc biệt được phân biệt giữa quyền lập hiến, quyền nguyên thuỷ với quyền lập pháp, quyền được thiết lập từ quyền nguyên thuỷ. Hiến pháp với những ưu thế của mình phải được một cơ quan đặc biệt thông qua gọi là quốc hội lập hiên, đồng thời trình tự thông qua từ đầu đến các lần sửa đổi bổ sung trong qua trình thực thi hiến pháp được tiến hành theo một thủ tục đặc biệt và khá phức tạp

Hiến pháp nhu tính: Là hiến pháp có thể sửa đổi hay được sửa đổi bới chính cơ quan lập pháp theo thủ tục thông qua các đạo luật bình thường. Nói như thế có nghĩa là Hiến pháp không có tính ưu thế, không có sự phân biệt đẳng cấp giữa hiến pháp và các đạo luật khác mặc dù đối tượng điều chỉnh của chúng có tầm đặc biệt khác nhau

3. Căn cứ vào hình thức thể hiện thì Hiến pháp được chia thành Hiến pháp thành văn và Hiến pháp không thành văn.

Hiến pháp thành văn chiếm tuyệt đại đa số hiến pháp của các nước trên thế giới. Các quy định của hiến pháp được viết thành văn bản nhất định, thường hết sức ngắn gọn, dễ đọc và dễ hiểu. Bản Hiến pháp nhất thiết phải được nhà nước tuyên bố hoặc ghi nhận là đạo luật cơ bản của nhà nước. Ví dụ như Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992.

Hiến pháp không thành văn là tổng thể các văn bản pháp luật, các quy phạm pháp luật được hình thành theo tập tục truyền thống, các án lệ tòa án tối cao có liên quan đến việc tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng không được tuyên bố hoặc công nhận là đạo luật cơ bản của nhà nước. Hiện nay chỉ có 3 nước có hiến pháp không thành văn là Anh, New Zealand và Isarael

4. Căn cứ vào tính chất, nội dung của các quy định chưa đựng trong Hiến pháp thì gồm có Hiến pháp hiện đại và Hiến pháp cổ điển (có thể gọi đây là cách phân loại theo thời gian).

Híên pháp hiện đại bao gồm phần lớn các Hiến pháp được thông qua sau chiến tranh thế giới lần 1 và lần 2 qua đi. Chức năng chủ yếu là bảo vệ, củng cố địa vị giai cấp tư sản( như các bản Hiến pháp của Đức, Áo, Bỉ…). Sau chiến tranh thế giới lần 2, nhiều Hiến pháp được thông qua với việc khẳng định độc lập chủ quyền của nhiều dân tộc thoát khỏi ách thống trị của các đế quốc thực dân. Phần lớn cá bản Hiến pháp này vẫn còn giá trị pháp lý đến tận bây giờ.

Hiến pháp cổ điền là hiến pháp được thông qua từ lâu trong những điều kiện khác xa ngày nay. Nhưng những hiến pháp này vẫn còn hiệu lực pháp lý cho đến ngày nay nhờ có thêm những chỉnh lý, những tập tục truyền thống hiện đại. Khuôn mẫu điển hình của Hiến pháp này là Hiến pháp Mỹ với sức sống hơn 200 năm, Hiến pháp của Vương quốc Nauy được thông qua năm 1814, có sức sống hơn 100 năm; của Vương quốc Bỉ năm 1831; của Liên bang Thuỵ Sỹ năm 1874… Hiến pháp này không phản ánh kịp thời tiến bộ nhân loại, lạc hậu nên chúng chỉ chứa đựng một số hạn chế các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cáh thức tổ chức và hoạt động, thẩm quyền của các cơ quan trung ương Nhà nước. Về nội dung dân chủ thì đa số đều không có gì tiến bộ.

Trên đây là một số cách phân loại Hiến pháp trong lịch sử lập hiến thế giới. Tuy nhiên, cho dù được thể hiện dưới hình thức nào đi chăng nữa thì Hiến pháp vẫn luôn được coi là đạo luật cơ bản, quy định những vấn đề quan trọng nhất của nhà nước đồng thời thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội, củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trên mọi lĩnh vực.
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÀI THU HOẠCH THỰC TẾ VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI XÂY DỰNG CỦA UBND XÃ PHƯỜNG THỊ TRẤN TRÊN

BÀI THU HOẠCH THỰC TẾ VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI XÂY DỰNG CỦA UBND XÃ PHƯỜNG THỊ TRẤN TRÊN

II-NỘI DUNG THẨM QUYỀN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở CẤP CƠ SỞ: Theo Hiến pháp năm1992 và luật đất đai năm 2003 quy định thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai của Hội đồng nhân dân-Uỷ ban nhân d[r]

8 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC SAU ĐẠI HỌC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: PHÁP LUẬT BẬC ĐẠI HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC SAU ĐẠI HỌC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: PHÁP LUẬT BẬC ĐẠI HỌC

1. Thông tin giảng viên

1. 1. Nguyễn Ngọc Chí
Chức danh khoa học, học vị: Giảng viên cao cấp, Phó giáo sư, tiến sỹ
Thời gian làm việc: Giờ hành chính của các ngày làm việc trong tuần (từ thứ 2 đến thứ 6)
Địa điểm làm việc, địa chỉ liên hệ: P206, Nhà E1,144 Xuân Thủy, Hà Nội Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Điện thoại: CQ: 043.7547512; DĐ: 0903408336
Email: chinn1957yahoo.com
Hướng nghiên cứu chính:
• Luật hiến pháp, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Luật nhân quyền
• Phương pháp nghiên cứu, giảng dạy luật học.
1. 2. Nguyễn Đăng Dung
Chức danh khoa học, học vị: Giáo sư, Tiến sĩ
Thời gian làm việc: Giờ hành chính của các ngày làm việc trong tuần (từ thứ 2 đến thứ 6)
Địa điểm làm việc, địa chỉ liên hệ: P205, Nhà E1,144 Xuân Thủy, Hà Nội Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Điện thoại: NR: 04 37566605; CQ: 04 3754 7913; DĐ: 0904250244
Email: dangdung52yahoo.com
Hướng nghiên cứu chính:
• Luật hiến pháp, Luật hành chính, Luật nhân quyền
• Phương pháp nghiên cứu, giảng dạy luật học.
Xem thêm

7 Đọc thêm

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP QUẬN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP QUẬN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư pháp có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, hoạt động tư
pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm duy trì và bảo vệ công lý
và trật tự pháp luật, góp phần bảo vệ các thành quả của cách mạng, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Công tác tư pháp có vị
trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bởi vậy hệ thống các cơ quan tư
pháp được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương để đảm bảo hiệu
quả cho công tác tư pháp trong đó có phòng Tư pháp.
Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận
(gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện chức năng tham mưu, giúp
Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành
pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật;
kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở nuôi
con nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý
công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác
theo quy định của pháp luật [1, tr.13].
Trong những năm gần đây, để đáp ứng yêu cầu đổi cải cách tư pháp, tổ
chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận trong đó có phòng Tư pháp trên địa
bàn Hà Nội đã có những thay đổi để làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên, thực trạng tổ chức và hoạt động đó còn chưa đáp ứng được đòi hỏi
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, còn bộc lộ một số hạn chế
như hiệu quả thực hiện một số mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của
phòng Tư pháp quận chưa cao, trong tổ chức bộ máy phòng Tư pháp ở quận
chưa phát huy hết khả năng của cán bộ, công chức làm công tác tư pháp. Bởi
vậy, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động phòng Tư pháp quận cả về lý luận và
thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của nó là rất cần thiết, giúp cho
chúng ta thấy được những mặt ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong quản lý
nhà nước.Trên cơ sở đó xác định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động
của phòng Tư pháp quận cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất
nước ta hiện nay.Mặt khác, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ
chức và hoạt động của phòng Tư pháp quận với tư cách một vấn đề khoa học.
Với lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài: "Tổ chức và hoạt động của
phòng Tư pháp quậntừ thực tiễn thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc s luật
học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp
quận đang được coi là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả tại
nhiều diễn đàn. Vấn đề này đã và đang được đề cập tới trong nhiều nguồn thông
tin khác nhau. Chúng tôi xin dẫn ra một số công trình khoa học của các cá nhân,
các nhóm tác giả đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn:
"Công tác tư pháp hộ tịch ở cấp xã những vấn đề lý luận và thực tiễn" của
tác giả Nguyễn Hữu Đính, năm 2008. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập tới
những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác tư pháp ở cấp hành chính là cấp xã,
nêu ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả công tác tư pháp hộ tịch cấp
xã;
"Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp
luật", TS.Trương Đắc Linh, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003.
Tác giả đề cập tới vai trò của chính quyền địa phương trong bảo đảm thi hành
Hiến pháp và pháp luật, nêu ra những giải pháp để bảo đảm thi hành Hiến pháp
và pháp luật trên địa bàn gắn với phát huy vai trò của chính quyền cơ sở.
Xem thêm

83 Đọc thêm

SO SÁNH 5 BẢN HIẾN PHÁP

SO SÁNH 5 BẢN HIẾN PHÁP

Luật Hiến pháp hay còn gọi là Luật Nhà nước là một ngành luật gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ cơ bản về tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ của công dân, về quốc tịch.....1 Đây là ngành luật chủ đạo, cơ bản nhất trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, nó điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất và tất cả những ngành luật khác đề hình thành trên những nguyên tắc của hiến pháp. Nguyên thủy của Luật Hiến pháp chỉ điều chỉnh hai vấn đề cơ bản là cách thức tổ chức bộ máy nhà nước và quyền công dân.2 Qua quá trình phát triển của lịch sử, cùng với việc nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào đời sống kinh tế xã hội văn hóa, phạm vi điều chỉnh của Luật Hiến pháp ngày càng rộng rãi, bao gồm tất cả những quan hệ cơ bản, quan trọng của một quốc gia bên cạnh lĩnh vực tổ chức nhà nước như cơ sở kinh tế, chính trị, cơ sở văn hóa..
Xem thêm

4 Đọc thêm

Câu hỏi ôn tập môn lý luận chung về Nhà nước và pháp luật

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Câu hỏi ôn tập môn
lý luận chung về Nhà nước và pháp luật

Câu 1
Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật là gì?
1. Đối tượng cứu của lý luận chung về nhà nước và pháp luật là Nhà nước và pháp luật, bởi vì:
Thứ nhất: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật là môn học thuộc khoa học chính trị pháp lý nghiên cứu đồng thời cả Nhà nước và pháp luật trong mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, không tách rời nhau tạo thành hạt nhân chính trị pháp lý của thượng tầng kiến trúc của xã hội:
Nhà nước ban hành ra pháp luật và pháp luật lại tác động trực tiếp tới các hoạt động của Nhà nước (quy định các hoạt động cụ thể của hệ thống bộ máy nhà nước và các thiết chế chính trị khác như tổ chức Đảng, Đoàn, phụ nữ, tôn giáo, đạo đức…), các thiết chế này tồn tại không thể thiếu nhau được.
Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật nghiên cứu những thuộc tính co bản của Nhà nước và pháp luật như: các khái niệm, nguồn gốc, bản chất, chức năng, hình thức, vai trò, giá trị xã hội, những quy luật đặc thù cơ bản của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của Nhà nước và pháp luật.
Thứ hai: Nhà nước và pháp luật đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bởi vì:
Hệ thống các khoa học luật học là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ khăng khít với nhau, được tạo nên bởi nhiều lĩnh vực chuyên biệt khác nhau và được chia thành 3 nhóm:
+ Các khoa học lý luận lịch sử pháp lý;
+ Các khoa học luật chuyên ngành;
+ Các khoa học luật ứng dụng.
Giữa các bộ phận khoa học trên, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật là khoa học cơ sở và mang tính chất phương pháp luận, có vị trí đặc biệt trong khoa học pháp lý: những kết luận của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật tạo nên nền tảng cơ sở lý luận cho các ngành khoa học pháp lý khác để nghiên cứu đối tượng của mình và được áp dụng trong nghiên cứu các vấn đề riêng biệt của các khoa học pháp lý chuyên ngành; Xác định đặc tính của đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của các môn khoa học chính trị pháp lý khác.
Ngược lại, các khoa học luật chuyên ngành lại nghiên cứu những thuộc tính, những bộ phận
Xem thêm

54 Đọc thêm

Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về Quyền con người

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ -PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THEO TINH THẦN MỚI CỦA HIẾN PHÁP 2013 VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Trong những năm áp dụng BLTTHS 2003 nói chung cũng như quy định về BPNC nói riêng, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu thể hiện ý kiến đánh giá về thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị. Đặc biệt là từ khi Hiến pháp 2013 được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày vào sáng ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, sau đó là thực hiện Kế hoạch xây dựng dự án BLTTHS do Quốc hội giao nhiệm vụ cho Ban Soạn thảo BLTTHS (sửa đổi), có một số công trình nghiên cứu đưa ra ý kiến kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLTTHS 2003 để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013 để đảm bảo QCN khi áp dụng các BPNC trong tố tụng hình sự.
BPNC chính là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu như cuốn sách “Chế định các BPNC theo luật tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả TS. Nguyễn Trọng Phúc(2003), Luận án tiến sỹ: “Các BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (2005) của tác giả Nguyễn Văn Điệp, Luận văn thạc sĩ “ Đảm bảo QCN trong áp dụng các BPNC của tố tụng hình sự”(2004) của tác giả Lại Văn Trình.... Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết khác về BPNC được đăng trên các tạp chí Luật học, Tạp chí TAND, Tạp chí Kiểm sát, Khoa học Pháp lý,... như: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những BPNC” của tác giả Mai Bộ (2007); “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC” của tác giả Vũ Gia Lâm (2012); “Những vướng mắc trong việc áp dụng các BPNC theo quy định của BLTTHS và kiến nghị sửa đổi bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012); “ Hiến pháp 2013 và việc hoàn thiện BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam trong TTHS” của tác giả Nguyễn Ngọc Chi (2014),….
Thực tiễn nghiên cứu cho thấy: các tài liệu và công trình nghiên cứu này có đề cập đến việc dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC ở nước ta để từ đó đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi BLTTHS 2003 cho phù hợp với tình hình mới nhưng chưa đề cập được một cách có hệ thống các lý luận cũng như phương hướng hoàn thiện vấn đề áp dụng BPNC trong BLTTHS theo tinh thần Hiến pháp 2013 về QCN. Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự -phương hướng hoàn thiện theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về QCN” với mong muốn tạo ra một cơ sở tham khảo để đề xuất hoàn thiện BLTTHS tới đây về vấn đề áp dụng các BPNC theo tinh thần của Hiến pháp 2013 về đảm bảo QCN, góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách về đổi mới tư pháp ở nước ta.
Xem thêm

95 Đọc thêm

đề cương luật hiến pháp nước ngoài

ĐỀ CƯƠNG LUẬT HIẾN PHÁP NƯỚC NGOÀI

• Sự cần thiết của môn học: Hiến pháp nói riêng, luật Hiến pháp nói chung ra đời sau các cuộc Cách mạng tư sản đầu tiên của nhân loại. Ngày nay, luật Hiến pháp ở mỗi quốc gia (nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam) đều được xây dựng trên nền tảng tri thức luật Hiến pháp được thừa nhận chung trên thế giới. Nghiên cứu môn học này chính là nhằm tiếp thu tinh hoa chính trị – pháp lý của nhân loại, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
• Nội dung tổng quát: môn học giới thiệu lịch sử lập hiến; những chế định cơ bản của luật Hiến pháp như hình thức nhà nước, đảng chính trị, chế độ bầu cử, Nguyên thủ quốc gia, Nghị viện, Chính phủ, Tòa án trên thế giới.
• Phương pháp học tập: bài giảng là sự kết hợp giữa phần trình bày của giảng viên với phần thảo luận tập thể. Sinh viên được khuyến khích làm việc theo nhóm, phát triển kỹ năng đọc tài liệu, thu thập thông tin, trình bày miệng...
3. Tài liệu học tập:
• Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Công an nhân dân, Hà Nội;
• Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật Hiến pháp các nước tư bản, ĐHQG Hà Nội;
• Nguyễn Đăng Dung (2001), Luật Hiến pháp đối chiếu, Tổng hợp Tp. HCM.
• Lưu Đức Quang (2009), Chương trình và tài liệu môn học Luật Hiến pháp nước ngoài, Tài liệu lưu hành nội bộ, Tp. HCM;
• Vũ Hồng Anh (1997), Tổ chức và hoạt động của Chính phủ một số nước trên thế giới, Chính trị quốc gia (CTQG), Hà Nội;
• Vũ Hồng Anh (1997), Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới, CTQG, Hà Nội;
• Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước trên thế giới, CTQG, Hà Nội;
• Nguyễn Đăng Dung (2004), Tính nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ quan nhà nước, Tư pháp, Hà Nội;
• Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Tư pháp, Hà Nội;
• Nguyễn Đăng Dung (2004), Hình thức của các Nhà nước đương đại, Thế giới, Hà Nội;
• Nguyễn Đăng Dung (2006), Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước, Tư pháp, Hà Nội;
• Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2008), Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền, Đà Nẵng;
• Michel Fromont (2006), Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Tư pháp, Hà Nội;
• Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước, Tư pháp, Hà Nội;
• Khoa luật Hành chính – Trường Đại học Luật Tp. HCM (1999), Báo cáo khoa học Đề tài cấp Bộ “Thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước các nước ASEAN”, Tp. HCM;
• Thang Văn Phúc – Nguyễn Đăng Thành (chủ biên) (2005), Một số lý thuyết và kinh nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới, CTQG, Hà Nội;
• Rene David (2003), Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh;
• Tô Huy Rứa (Chủ biên) (2008), Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới (Sách chuyên khảo), Chính trị quốc gia, Hà Nội;
• Đào Trí Úc – Nguyễn Như Phát (chủ biên) (2007), Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam (Sách chuyên khảo), Công an nhân dân, Hà Nội;
• Văn phòng Quốc hội – Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (2005), Thiết chế Nghị viện: Những khái niệm cơ bản, Hà Nội;
• Viện Khoa học Chính trị (2000), Tập bài giảng Chính trị học, CTQG, Hà Nội.
Xem thêm

14 Đọc thêm