TẮC MẠCH MÁU NÃO

Tìm thấy 3,764 tài liệu liên quan tới từ khóa "TẮC MẠCH MÁU NÃO":

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO – NGUY HIỂM KHÓ LƯỜNGTai biến mạch máu não chính là hiện tượng tắc mạch máu trong não làm giảmđột ngột hoặc ngưng hoàn toàn việc cung cấp máu lên não, khiến cho các tếbào thần kinh bị tổn thương và chức năng họat động của các cơ quan này bị têliệt trong một thời gian dài, gây ra các di chứng bại liệt, méo miệng, mấtgiọng…Tai biến mạch máu não xảy ra ở nam nhiều hơn nữ và gặp nhiều ở đối tượng trung niên,những người lớn tuổi, người có tiền sử đột quỵ, tăng huyết áp, đái tháo đường và hút nhiềuthuốc lá.Mạch máu bị tắc khiến máu không lưu thông được lên nãoTai biến mạch máu não có biểu hiện gì ?Hôn Mê: thường thấy ngay từ đầu. Nếu nhẹ thì tinh thần hoảng hốt, mê muội, thích khạc nhổhoặc ngủ mê man. Nếu nặng thì hôn mê, bất tỉnh. Có bệnh nhân lúc đầu còn tỉnh táo, vài ngàysau mới hôn mê. Đa số bệnh nhân khi hôn mê kèm nói sảng, vật vã không yên.Liệt Nửa Người: nhẹ thì cảm thấy tay chân tê, mất cảm giác, tay chân không có sức. Nặng thìhoàn toàn liệt. Thường chỉ liệt một bên và đối xứng với bên não bị tổn thương. Đa số liệt dạngmềm, chỉ có một số ít liệt dạng cứng, co rút. Thường lúc đầu bị liệt dạng mềm rũ, tay chânkhông có sức, nhưng một thời gian sau, lại bị co cứng, các ngón tay, chân không co duỗiđược.Miệng Méo, Lưỡi Lệch: thường gặp ở giai đoạn đầu kèm chảy nước miếng, ăn uống thườngbị rớt ra ngoài, khó nuốt.Nói Khó Hoặc Không Nói Được: Nhẹ thì nói khó, nói ngọng, người bệnh cảm thấy lưỡi củamình như bị cứng. Nếu nặng, gọi là trúng phong bất ngữ, không nói được. Thường một thờigian sau chứng khó nói sẽ bình phục dần.Chế độ ăn uống của người bệnh?Chế độ ăn uống của người bệnh, sau tai biến mạch máu não rất quan trọng, giúp cải thiệntình hình sức khỏe cho người bệnh. Chế độ dinh dưỡng, tập luyện vừa phải và nghỉ ngơi hợplý, có thể hoàn toàn hồi phục được sức khỏe, ngăn chặn được nguy cơ tái phát. Thực đơncho người bệnh, sau tai biến mạch máu não, cần cung cấp đủ và cân bằng giữa protein, chấtbéo và carbonhydrate.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghiên cứu tăng huyết áp ở bệnh nhân tai biến mạch máu não có rối loạn lipid máu và không rối loạn lipid máu

NGHIÊN CỨU TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CÓ RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ KHÔNG RỐI LOẠN LIPID MÁU

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là trình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi, do tắc hoặc vở mạch máu não. Ngày nay, TBMMN là vấn đề thời sự cấp thiết do ngày càng gia tăng, tỷ lệ tử vong cao, để lại nhiều di chứng, là gánh nặng cho gia đình và xã hội, việc điều trị còn nhiều hạn chÕ ngay cả ở các nước phát triển 6, 1. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế giối, Tại Mỹ, TBMMN là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 chỉ sau bệnh tim mạch và ung thư. Tại Việt Nam, theo một số thống kê từng thời kỳ 35 năm ở các tỉnh thành cho thấy BN nội trú TBMMN tăng từ 1,7 đến 2,5 lần. Tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai (2007), sè BN TBMMN chiếm 27,3% tổng số BN của khoa.14.Dự đoán đến năm 2020, tai biến mạch máu não có thể là bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới.6. Dự phòng TBMMN trước hết phải dự phòng và điều trị THA và RLLP máu. Tăng huyết áp (THA) có xu hướng tăng cao và nhanh; các số liệu thống kê điều tra tăng huyết áp ở Việt Nam cho thấy: năm 1982 là 1,9% dân số và năm 1992 tăng lên 11,79% dân số và năm 2002 ở miền Bắc là 16,3% 35. Điều này, kéo theo tỷ lệ mới mắc TBMMN cũng có xu hướng gia tăng. Khi tỷ lệ THA càng cao sẽ càng làm gia tăng tỷ lệ TBMMN.28.Trong khuyến cáo của ủy ban chuyên trách về TBMMN thuộc hội tim mạch Hoa Kỳ. Người ta làm giảm đáng kể nguy cơ TBMMN ở người THA bằng điều trị THA. Ở bệnh nhân THA, giảm HA tâm trương trung bình 6mmHg sẽ làm giảm 42% nguy cơ TBMMN. Trong nghiên cứu về điều trị THA tâm thu đơn độc >160mmHg kết quả so với nhúm khụng điều trị giảm 36% nguy cơ TBMMN 1.
Xem thêm

113 Đọc thêm

Bài giảng Tai biến mạch máu não Dr. Nguyen Anh Tuan

BÀI GIẢNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO DR. NGUYEN ANH TUAN

Bài giảng Tai biến mạch máu não nhằm trình bày về xử trí TIA và đột quị; thời gian cửa sổ cho tiêu sợi huyết, các khuyến cáo cập nhật; điều trị bn xuất huyết não; kiểm soát huyết áp ở Bn xuất huyết não; xử trí cấp cứu xuất huyết dưới nhện. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

58 Đọc thêm

Nghiên cứu sự biến đổi điện tâm đồ bề mặt ở bệnh nhân bị tai biến mạch máu não

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI ĐIỆN TÂM ĐỒ BỀ MẶT Ở BỆNH NHÂN BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh lý về não hiện nay rất phổ biến trên thế giới.Điển hình như tai biến mạch máu não, theo tổ chức y tế thế giới (WHO), tử vong do bệnh này chiếm hàng thứ 2 sau bệnh tim, ở Hoa Kỳ đứng hàng thứ ba, sau bệnh tim và bệnh ung thư 5, 9.
Hiện nay nền y học rất phát triển, có nhiều phương pháp áp dụng vào điều trị tai biến mạch máu não như :điều chỉnh huyết áp, chống phù não, duy trì glucose huyết tương, lưu thông đường thở, giảm thân nhiệt, tăng cường nuôi dưỡng…Một số trường hợp cần thiết phải can thiệp bằng phương pháp ngoại khoa như: Kỹ thuật tạo hình động mạch qua da, giãi phóng làm tiêu cục máu đông, nong lòng các động mạch hẹp… 9.
Tuy nhiên trong thực tế, tỷ lệ tử vong sau tai biến mạch máu não vẫn còn cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị các bệnh nhân tai biến mạch máu não. Bên cạnh đó là các yếu tố kinh điển như rối loạn ý thức khi vào viện ( thang Glasgow dưới 7 điểm), rối loạn hô hấp khi vào viện, có cơn duỗi cứng mất não, giãn đồng tử một hoặc hai bên, rối loạn thân nhiệt, sốt cao liên tục, huyết áp tâm thu trên 200mmHg, tuổi trên 70, chảy máu tái phát,ổ tụ máu lớn, ở sâu (thể tích trên 60cm3 ở bán cầu đại não, trên 20cm3 ở tiểu não, 5 đến 10cm3 ở thân não), xuất huyết não kèm xuất huyết não thất bên, não thất III, não thất IV, di lệch đường giữa trên 1cm, cận lâm sàng: tăng protein phản ứng C (CRP), tăng fibrinogen, tăng số lượng bạch cầu. 6, 11, 37.
Ngày nay, người ta thấy bên cạnh các yếu tố kinh điển kể trên , người ta nhận thấy có sự liên quan giữa một số bệnh lý về não với những thay đổi trên điện tâm đồ bề mặt như QTc kéo dài, sóng T cao, rộng, thắng đứng, ST
Xem thêm

44 Đọc thêm

đánh giá khả năng đáp ứng của tim đối với các bài tập vận động gắng sức ở bệnh nhân tai biến mạch máu não do hẹp van hai lá

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA TIM ĐỐI VỚI CÁC BÀI TẬP VẬN ĐỘNG GẮNG SỨC Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO DO HẸP VAN HAI LÁ

đặt vấn đề
TBMMN là các thiếu sót thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng
khu trú hơn là lan toả. Các triệu chứng tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong
24 giờ, loại trừ nguyên nhân sang chấn
[5], [12].
TBMMN là nguyên nhân gây tử vong thứ ba sau bệnh ung thư và tim
mạch. Trong năm 2004, Mỹ phải chi khoảng 53,6 tỷ đô la (điều trị trực tiếp và
gián tiếp) cho bệnh nhân TBMMN, ước tính điều trị cho một bệnh nhân
TBMMN là 140.048 đô la
[25].
TBMMN là nguyên nhân hàng đầu gây giảm chức năng, với 20% người
được cứu sống đòi hỏi chăm sóc tại cơ sở y tế sau 3 tháng và 15% đến 30%
tàn tật không hồi phục
[25].
Rung nhĩ và bệnh lý van tim làm tăng yếu tố nguy cơ của nhồi máu não
vì chúng có thể gây tắc mạch não. Rung nhĩ làm tăng nguy cơ TBMMN gấp 5
lần. Rung nhĩ do bệnh thấp tim làm tăng nguy cơ tắc mạch não gấp 17 lần
[66].
HHL là một bệnh van tim thường gặp nhất ở nước ta. Đây là một bệnh
nặng tiến triển, có nhiều biến chứng luôn đe dọa tính mạng của bệnh nhân.
HHL ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng chịu đựng gắng sức, kết quả điều trị
và khả năng phục hồi của bệnh nhân TBMMN.
Trên thế giới cũng như ở Việt nam từ trước đến nay có rất ít nghiên cứu
về mối quan hệ giữa HHL và TBMMN. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của
HHL đến khả năng chịu đựng gắng sức và trong quá trình phục hồi của bệnh
nhân TBMMN hầu như chưa có. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá khả năng đáp ứng của tim đối với các bài tập vận động gắng sức
ở bệnh nhân tai biến mạch máu n∙o do hẹp van hai lá” nhằm đạt mục tiêu :
1. Đánh giá khả năng đáp ứng của tim đối với các bài tập vận động gắng
sức ở bệnh nhân TBMMN do HHL.
2. Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng đáp ứng của tim
đối với các bài tập vận động gắng sức ở bệnh nhân TBMMN do HHL.
Xem thêm

78 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG PHCN TỈNH THÁI NGUYÊN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG PHCN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Điều chỉnh trương lực cơ trở lại bình thường, hoặc gần bình thườngbằng kỹ thuật kích thích hay ức chế.- Sử dụng các kỹ thuật tạo thuận trong tập luyện giúp người bệnh cảmnhận vận động bình thường.- Sử dụng các bài tập liên quan, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thườngngày của người bệnh.- Phát huy tính tích cực, chủ động của người bệnh và gia đình trong tậpluyện, hướng dẫn người bệnh và gia đình để họ có thể thực hiện các bàitập vận động. Sau khi ra viện người bệnh cần tiếp tục tập luyện tại nhàvới sự giúp đỡ của người thân trong gia đình.1.3.4. Nhu cầu phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người do t aibiến mạch máu nãoTai biến mạch máu não là một trong các loại bệnh để lại nhiều di chứngvà gây lên tàn tật nhiều nhấtDo vậy nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh này rất lớn* Nhu cầu phục hồi chức năng:- Bao gồm những chức năng cơ bản mà người tàn tật không thể thực hiệnđược phải phụ thuộc một phần hoặc toàn bộ vào người khác, trong khi nhữngngười cùng tuổi, cùng giới, cùng hoàn cảnh có thể thực hiện được- Bao gồm những nhu cầu tự chăm sóc trong sinh hoạt hàng ngày (ăn, uống,mặc ...), nhu cầu giao tiếp (nói, ra hiệu, viết), nhu cầu vận động (ngồi, đi, đứng),nhu cầu hội nhập xã hội (tham gia các hoạt động gia đình và xã hội ...).Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyênhttp://www.lrc-tnu.edu.vn10* Tiêu chuẩn phân loại nhu cầu phục hồi chức năng- Người tàn tật có 23 nhu cầu phục hồi, WHO đã chia thành các nhóm sau:
Xem thêm

20 Đọc thêm

PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Tai biến mạch máu não còn gọi làvđột qujy là một bệnh xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngưng trệ. Đột quỵ là bệnh của hệ thần kinh phổ biến chết hiện nay
Hãy đọc để có thêm hiểu biết các kiến thức về tai biến mạch máu não cũng như có thể bảo vệ, giữ an toàn cho bản thân và người thân yêu của chúng ta khi còn có thể

4 Đọc thêm

Tai biến mạch máu não: Căn bệnh của người già

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO: CĂN BỆNH CỦA NGƯỜI GIÀ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tai biến mạch máu não hay còn gọi đột quỵ đang trở thành vấn đề quan trọng của y học bởi vì tuổi thọ trung bình ngày càng tăng mà nguy cơ đột quỵ lại phụ thuộc vào tuổi tác. Đặc biệt, bệnh gia tăng khi thời tiết lạnh giá. Mỗi năm, ở nước ta, Tai biến mạch máu não ảnh hưởng đến hàng trăm ngàn người và để lại những di chứng nghiêm trọng. Tai biến mạch máu não là gì? Tai biến mạch máu não xảy ra khi mạch máu cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho phần mô não đó bị tắc nghẽn hay bị vỡ ra. Khi điều này xảy ra thì các tế bào thần kinh trong phần não trên sẽ bị tê liệt, không làm việc được nữa. Do đó, phần cơ thể do chúng điều khiển cũng không còn chức năng như cũ. Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra tai biến nhưng hay gặp nhất là một động mạch máu bị tắc bởi cục máu đông được gọi là huyết khối, nó được hình thành trong lòng động mạch. Hoặc các động mạch bị xơ vữa do trong mạch máu bị ứ đọng mỡ và dày lên. Điều này dần dần làm hẹp lòng mạch máu, gây chậm dòng chảy, đến một lúc nào đó tạo thành cục máu đông. Cục máu đông trôi đi lang thang bị cuốn theo dòng chảy và bị nghẹt lại ở một mạch nào đó của não gọi là thuyên tắc não. Nếu một động mạch trong não bị vỡ ra gây chảy máu gọi xuất huyết não. Xuất huyết não có thể xảy trên bệnh nhân có xơ vữa động mạch và tăng huyết áp hoặc xảy ra sau chấn thương ở đầu hay một túi phình động mạch bẩm sinh bị vỡ.   Cục máu đông gây nghẽn mạch là một nguyên nhân Tai biến mạch máu não (Ảnh minh họa) Nhận biết sớm dấu hiệu bệnh Tai biến mạch máu não Tứ chi tê liệt: bệnh nhân cảm thấy một bên mặt hoặc tứ chi tê liệt, đau nhức, cơ thể rã rời, miệng chảy nước bọt, hoa mắt chóng mặt... vài giờ hoặc vài ngày trước đó. Những biểu hiện này rõ nhất là sau khi ngủ dậy. Đây là một dạng phản ứng do hệ thống động mạch cảnh không cung cấp đủ máu, não thiếu máu, thiếu ôxy. Đột nhiên mặt mũi tối sầm, không nhìn thấy mọi vật: hiện tượng này thường diễn ra trong vài giây hoặc vài phút và sau đó lại hồi phục thị lực bình thường. Điều này chứng tỏ võng mạc mắt bị thiếu máu tạm thời, khả năng lưu thông của mạch máu não bị thu hẹp nghiêm trọng. Người bệnh có hiện tượng ú ớ: Không nói được hoặc khó nói hoặc không hiểu được người khác nói, có lúc tư duy lộn xộn, hỏi không đáp, gọi không thưa... Đây cũng là do việc cung cấp máu cho não bị thiếu, ảnh hưởng đến trung khu ngôn ngữ của vỏ não. Người bệnh có hiện tượng hoa mắt chóng mặt, buồn nôn, có lúc còn cảm thấy quay cuồng rồi đột ngột bị ngã bất tỉnh. Nguyên nhân là do động mạch không cung cấp máu cho não đủ gây ảnh hưởng đến tiểu não và các tổ chức thần kinh liên quan. Đau đầu chóng mặt: Nếu người bệnh có tiền sử tăng huyết áp thì khi xuất huyết não, sự giao động của huyết áp sẽ tăng cao, gây ra đau đầu, chóng mặt, thậm chí kèm theo buồn nôn, nôn, trong người cảm thấy khó chịu... Rất có thể đã xảy ra hiện tượng xuất huyết não. Ngáp nhiều: Ở người cao tuổi, do xơ cứng động mạch não, các mạch máu bị thu hẹp làm cho việc lưu thông máu chậm lại, gây thiếu máu, thiếu ôxy cho tổ chức não.Chức năng của não bị ảnh hưởng gây hiện tượng ngáp. Nếu trong một vài ngày, người cao tuổi có hiện tượng ngáp nhiều liên tục chứng tỏ não bị thiếu máu và có thể xảy ra tai biến cần cảnh giác. Động mạch nuôi não bị xơ vữa hoặc tắc là nguyên nhân gây tai biến  mạch não.   Cần rèn luyện thể dục đều đặn và vừa với sức mình để phòng tránh nguy cơ tai biến (Ảnh minh họa) Phòng ngừa như thế nào? Tai biến mạch máu não xảy đến rất đột ngột, bệnh nhân không cảm thấy đau đớn gì. Vì vậy, bệnh nhân đôi khi không gọi được người trợ giúp, chính vì thế sẽ dễ mất đi quãng thời gian quí giá là thời gian chúng ta có thể cứu được bộ não (còn gọi giờ vàng) trong 3 giờ đầu bị bệnh. Khi bị tai biến mà phát hiện muộn, cho dù điều trị tích cực cũng dễ để lại di chứng nặng nề. Do đó, phát hiện và điều trị tích cực các nguyên nhân gây tai biến là quan trọng như: điều trị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tránh căng thẳng thần kinh, làm việc nghỉ ngơi hợp lý, tập luyện đều đặn vừa với sức mình, không uống nhiều bia rượu... Khi có các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, khó ở, mệt không rõ nguyên nhân..., cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Số người tai biến mạch máu não thường gặp ở nước ta ở là độ tuổi ngoài 50, tỷ lệ nam mắc cao hơn nữ khoảng 3 lần. Có tới 80% bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp( trong khi đó hơn 2/3 bệnh nhân tăng huyết áp không tự biết mình mắc bệnh, và khi đã phát hiện tăng huyết áp rồi thì cũng có tới gần ½ không được điều trị, trong số được điều trị thì số được chữa đúng cách chỉ non ¼), tiếp đó là những người bệnh tim, tiểu đường…Thời gian xẩy ra tai biến thường từ 1 giờ sáng đến 12 giờ trưa, bệnh có nguy cơ tăng cao về mùa đông khi thời tiết thay đổi đột ngột. Ngoài triệu chứng thường gặp như đã nói ở trên, người bệnh có thể có những triệu chứng như: đau đầu vùng chẩm- gáy, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cảm giác, mất ý thức, rối loạn tâm thần…
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI 2 KHOA CẤP CỨU VÀ THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI 2 KHOA CẤP CỨU VÀ THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai Đánh giá tình hình sử dụng thuốc trong điều trị tai biến mạch máu não tại 2 khoa cấp cứu và thần kinh bệnh viện bạch mai
Xem thêm

66 Đọc thêm

Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA NIMODIPIN TRÊN CO THẮT MẠCH MÁU NÃO TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH CHẢY MÁU NÃO MÀNG NÃO Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương Đánh giá tác dụng của nimodipin trên co thắt mạch máu não trong điều trị bệnh chảy máu não màng não ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương
Xem thêm

99 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ - NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ INTERLEUKIN-6, CORTISOL TRONG HUYẾT TƯƠNG BỆNH NHÂN BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP (FULL TEXT)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ - NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ INTERLEUKIN-6, CORTISOL TRONG HUYẾT TƯƠNG BỆNH NHÂN BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tai biến mạch máu não là một bệnh rất phổ biến trên thế giới. Trong các bệnh viện, 80% các bệnh thần kinh là do mạch máu não.
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tử vong do tai biến mạch máu não đứng hàng thứ hai sau bệnh tim, ở Hoa Kỳ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và bệnh ung thư [5], [9].
Tỷ lệ tai biến mạch máu não tăng theo tuổi, khoảng 1/4 các trường hợp xảy ra dưới 65 tuổi, hơn 1/4 xảy ra trên 75 tuổi.
Người ta nhận thấy bệnh nhân bị tai biến mạch máu não nếu thoát được tử vong thường chịu hậu quả với di chứng tàn phế nặng nề cả thể xác lẫn tâm trí [147].
Vấn đề chẩn đoán tai biến mạch máu não ngày nay không khó nhưng việc điều trị và tiên lượng còn rất khó khăn.
Hiện nay nền y học rất phát triển, có nhiều phương pháp áp dụng vào điều trị tai biến mạch máu não như [100]:
- Điều chỉnh huyết áp, chống phù não, duy trì glucose huyết tương, lưu thông đường thở, giảm thân nhiệt, tăng cường nuôi dưỡng…
- Một số trường hợp cần thiết phải can thiệp bằng phương pháp ngoại khoa như: Kỹ thuật tạo hình động mạch qua da, giãi phóng làm tiêu cục máu đông, nong lòng các động mạch hẹp…
Tuy nhiên trong thực tế, tỷ lệ tử vong sau tai biến mạch máu não vẫn còn cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị các bệnh nhân tai biến mạch máu não. Bên cạnh các yếu tố kinh điển như [5], [6], [7], [9]:
- Rối loạn ý thức khi vào viện ( thang Glasgow dưới 7 điểm).
- Rối loạn hô hấp khi vào viện.
- Có cơn duỗi cứng mất não.
- Giãn đồng tử một hoặc hai bên.
- Rối loạn thân nhiệt, sốt cao liên tục [72], [82].
- Huyết áp tâm thu trên 200mmHg.
- Tuổi cao trên 70.
- Chảy máu tái phát.
- Ổ tụ máu lớn, ở sâu (thể tích trên 60cm3 ở bán cầu đại não, trên 20cm3 ở tiểu não, 5 đến 10cm3 ở thân não)
- Chảy máu não kèm chảy máu não thất bên, não thất III, não thất IV.
- Di lệch đường giữa trên 1cm.
- Cận lâm sàng: tăng protein phản ứng C (CRP), tăng fibrinogen, tăng số lượng bạch cầu.
Ngày nay, người ta thấy bên cạnh các yếu tố kinh điển kể trên [27], [36], [43], [45], ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp có sự gia tăng nồng độ interleukin-6 và cortisol trong huyết tương [46], [67].
Sự gia tăng nồng độ của hai yếu tố này rất có ý nghĩa về tiên lượng. Khi nồng độ của chúng càng cao tiên lượng càng nặng, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não càng cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
2.1. Khảo sát nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương ở các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
2.2. Tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương với các yếu tố tiên lượng như glucose, huyết áp và thang điểm Glasgow của các bệnh nhân trên.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
3.1.1. Trong tai biến mạch máu não giai đoạn cấp, có rất nhiều yếu tố để tiên lượng về độ trầm trọng và tỷ lệ tử vong. Ngoài các yếu tố như tuổi tác, các bệnh kèm theo (bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường…), tăng bạch cầu, tăng urê và creatinin, tăng fibrinogen, sự tăng nồng độ interleukin-6 và cortisol có giá trị rất lớn để tiên lượng ở các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não giai đoạn cấp [89], [95], [96], [97].
3.1.2. Qua xét nghiệm định lượng nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp, chúng ta có thể đánh giá được tình trạng nặng, nhẹ của bệnh nhân để có thái độ điều trị thích hợp.
3.2. Ý nghĩa thực tiển
3.2.1. Đề tài có ý nghĩa thực tiển vì đã chú trọng tới hai yếu tố tiên lượng ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
3.2.2. Khi định lượng, nếu thấy nồng độ interleukin-6 và/ hoặc cortisol huyết tương tăng cao thì phải nghĩ đến những hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra, chẳng hạn như nguy cơ tắc mạch tăng lên do interleukin-6 làm tăng kết dính bạch cầu, hoặc tăng thương tổn tế bào não do tăng nồng độ cortisol dẫn đến làm tăng glucose huyết tương.
Do vậy, để điều trị có hiệu quả, người thầy thuốc phải tìm cách để hạn chế các tác dụng có hại do interleukin-6 và cortisol gây ra.
3.2.3. Có mối tương quan giữa nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương với thang điểm Glasgow, glucose huyết tương, huyết áp ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp.
4. Đóng góp của luận án
Qua khảo sát sự biến đổi nồng độ interleukin-6 và cortisol huyết tương ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp đã có thể khẳng định interleukin-6 và/hoặc cortisol huyết tương có liên quan đến tiên lượng của bệnh nhân. Nồng độ interleukin-6 và/ hoặc cortisol huyết tương càng cao, tiên lượng càng nặng.
Xem thêm

151 Đọc thêm

Nhận xét chẩn đoán, xử trí tai biến mạch máu não ở phụ nữ mang thai và thời kỳ hậu sản tại Khoa thần kinh Bệnh viện Bạch Mai (từ 2004 - 2008)

NHẬN XÉT CHẨN ĐOÁN, XỬ TRÍ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO Ở PHỤ NỮ MANG THAI VÀ THỜI KỲ HẬU SẢN TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN BẠCH MAI (TỪ 2004 - 2008)

ĐặT VấN Đề

Có thai và sinh con là thiên chức của nữ giới nhưng đó cũng là tình
trạng quan trọng đối với sức khoẻ của người phụ nữ. Sự thay đổi về sinh lý
trong suốt quá trình mang thai và hậu sản có thể làm tăng nguy cơ bị tai biến
mạch máu não.
Tai biến mạch máu não phối hợp với thai kỳ đã được biết đến từ rất
nhiều năm và đó là nguyên nhân của hơn 12% tử vong mẹ [12], [13]. Tỉ lệ
mắc trung bình từ 4,3 tới 210 ca trên 100.000 sản phụ [16], [18]. Sự xơ vữa
mạch máu thì thường rất hiếm ở người trẻ nhưng lại có sự gia tăng của các
nguyên nhân khác. Những yếu tố sinh lý bệnh ở phụ nữ mang thai gồm: tăng
đông do thay đổi hệ thống đông máu, thay đổi độ nhớt và thể tích máu của
mẹ, tắc mạch ối có nguồn gốc thiếu máu não, tiền sản giật và sản giật, vỡ
phình mạch và chảy máu dưới nhện, huyết khối tĩnh mạch, nghẽn mạch
nghịch thường và các nguyên nhân khác…
Nghiên cứu với cỡ mẫu lớn thực hiện bởi Jame A và cộng sự cho thấy
tỉ lệ phụ nữ mang thai bị tai biến mạch máu não là 34,2 trên 100.000 ca sinh
[19]. Nghiên cứu của Wiebers & Whisnant báo cáo tỉ lệ này cao hơn gấp 13
lần. Hầu hết các tai biến mạch máu não liên quan tới thai sản thường xảy ra
vào ba tháng cuối và sau sinh, điều này đặc biệt đúng với huyết khối tĩnh
mạch não. Theo Lanska DJ, Kryscio RJ thì có tới 89% tai biến mạch máu não
xảy ra vào lúc sinh đẻ và sau sinh [16]. Theo Kittner có sự tăng 8,7 lần nhồi
máu não sau sinh và nguy cơ bị chảy máu não tăng gấp 2,5 lần trong suốt quá
trình mang thai và sau sinh là 23,8 lần [17].
Để góp phần tìm hiểu sự liên quan cũng như ảnh hưởng của tai biến
mạch máu não ở phụ nữ mang thai và hậu sản chúng tôi thực hiện đề tài: “Nhận xét chẩn đoán, xử trí Tai Biến Mạch Máu Não ở phụ nữ mang
thai và thời kỳ hậu sản tại khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai (Từ
2004 – 2008)” nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tai biến mạch máu
n∙o ở phụ nữ mang thai và trong thời kỳ hậu sản tại khoa Thần Kinh bệnh
viện Bạch Mai từ 2004 - 2008.
2. Nhận xét chẩn đoán và xử trí tai biến mạch n∙o ở phụ nữ mang thai
và thời kỳ hậu sản từ 2004 - 2008 tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai.
Xem thêm

88 Đọc thêm

Trắc nghiệm về mạch máu não

TRẮC NGHIỆM VỀ MẠCH MÁU NÃO

Trong các bệnh nguyên sau đây bệnh nguyên nào có thể vừa gây tắc mạch vừa gây lấp mạch:
A. Bệnh Moyamoya
B. Bóc tách động
C. Hẹp van hai lá có rung nhỉ
D. Xơ vữa động mạch
E. Nhồi máu cơ tim giai đoạn cấp
Trong các nguyên nhân sau thì nguyên nhân nào không gây xuất huyết nội não:
A. Tăng huyết áp
B. Phình động mạch bẩm sinh
C. Bệnh mạch não dạng bột
D. Phình động tỉnh mạch bẩm sinh
E. Quá liều thuốc chống đông
Nguyên nhân nào sau đây thể vừa gây nhồi máu não và xuất huyết não:
A. Bệnh Moyamoya
B. Bệnh Fabry
C. Co mạch
D. Tăng huyết áp
E. Bệnh ty lạp thể
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tài liệu hướng dẫn phòng ngừa tai biến máu não

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MÁU NÃO

Tai biến mạch máu não, hay đột quỵ, là bệnh lý tổn thương một phần não xảy ra đột ngột do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ.
Máu mang Oxy và chất dinh dưỡng lên nuôi não. Khi thiếu máu nuôi, não sẽ ngưng hoạt động rồi chết đi trong vòng vài giây đến vài phút. Phần nào của não bị chết thì phần cơ thể tương ứng do nó điều khiển sẽ không hoạt động được, biểu hiện bằng liệt nửa người, tê và mất cảm giác nửa người, nói khó hoặc không nói được, hoặc hôn mê...
Nguyên nhân dẫn đến tai biến mạch mãu não có thể là tắc mạch máu não, hoặc vỡ mạch máu não. Trong đó 80% tai biến mạch máu não là do tắc mạch máu não.
Cơ chế cụ thể như sau:
Cơn thoáng thiếu máu não
Nhồi máu não - thiếu máu não
Xuất huyết não - chảy máu não
Dấu hiệu bị tai biến mạch máu não
 Méo miệng, yếu, liệt tay chân một bên.
 Tê hoặc mất cảm giác ở một nửa bên thân thể
 Nói đớ hoặc không nói được
 Mù một mắt hoặc không nhìn được một bên
 Lú lẫn, hôn mê.
 Ngoài ra có thể có nhức đầu, nôn ói, hoặc co giật.
Xử trí khi bạn – người thân bị tai biến mạch máu não
 Đỡ người bệnh để không bị té ngã chấn thương.
 Để người bệnh nằm xuống chỗ thoáng, nghiêng qua một bên nếu nôn ói, móc hết đàm nhớt cho bệnh nhân dễ thở.
 Gọi xe đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.
 Nếu bệnh viện gần nhà có đủ điều kiện chữa trị thì không nên chuyển viện đi xa, trừ khi bác sĩ có chỉ định, vì càng di chuyển xa càng có thể làm bệnh nặng hơn.
 Không tự ý cho uống hoặc nhỏ thuốc hạ huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào khác.
 Không để nằm chờ xem có khỏe lại không.
 Không cạo gió, cắt lễ, cúng vái…
PHỤC HỒI SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Ngăn ngừa tái phát
Làm gì sau khi xuất viện
Hướng dẫn chăm sóc người tai biến mạch máu não tại nhà
1. Sinh hoạt, tập luyện
2. Chế độ ăn
3. Điều trị
4. Thực hiện các biện pháp phòng bệnh
Tập phục hồi chức năng sau tai biến MMN
Tại bệnh viện
Ở nhà sau khi nằm viện
BÀI TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
BÀI TẬP CHO NGƯỜI BỊ LIỆT NỬA NGƯỜI
PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Xem thêm

22 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiên lượng ở bệnh nhân chảy máu não có tăng huyết áp tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN CHẢY MÁU NÃO CÓ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ

Từ nhiều thế kỷ nay tai biến mạch máu não (TBMMN) luôn là vấn đề thời sự được giới y học hết sức quan tâm, do tỷ lệ thường gặp và tính chất nặng nề của loại bệnh lý này, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não đứng hàng thứ ba sau các bệnh ung thư và bệnh tim, mặt khác tỷ lệ mắc TBMMN ngày càng gia tăng, chính vì vậy đây là vấn đề luôn thách thức đối với y học.Chảy máu não (CMN) là một thể lâm sàng của tai biến mạch máu não và là một trong những bệnh lý cấp cứu nội khoa có nguy cơ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề cho người bệnh.Trong thực hành lâm sàng, trước một bệnh nhân chảy máu não, việc tiên lượng chính xác đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với người thầy thuốc. Tiên lượng đúng giúp người thầy thuốc có thái độ xử trí đúng, theo dõi sát, có phác đồ điều trị hợp lý. Bên cạnh đó, việc tiên lượng đúng giúp người thầy thuốc chủ động hơn trong việc tư vấn giải thích cho bệnh nhân cũng như người nhà bệnh nhân nâng cao khả năng phối hợp tốt với thầy thuốc trong quá trình chăm sóc và điều trị.Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình ở trong và ngoài nước nghiên cứu về các yếu tố tiên lượng chảy máu não. Các nghiên cứu trên đã góp phần tích cực trong công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân chảy máu não và góp phần làm hạ thấp tỷ lệ tử vong trong bệnh viện. Tuy nhiên ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về các yếu tố tiên lượng chảy máu não chưa nhiều và chủ yếu mới chỉ tập trung vào các yếu tố tiên lượng nặng và tử vong tính cụ thể để có thể áp dụng vào thực hành lâm sàng một cách dễ dàng, tiện lợi chưa cao. Mặt khác, với sự tiến bộ của các phương tiện chẩn đoán hiện đại, cũng như công tác chăm sóc điều trị có nhiều tiến bộ mới, đặc biệt là sự hoàn thiên không ngừng của các đơn vị điều trị tai biến mạch máu não liệu có làm cho việc tiên lượng loại bênh lý này có những thay đổi ? Các dấu hiệu tiên lượng cổ điển liệu có còn phù hợp và phù hợp đến mức nào?Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiên lượng ở bệnh nhân chảy máu não có tăng huyết áp tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ” nhằm hai mục tiêu sau:1 Mô tả các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân chảy máu não do tăng huyết áp.2 Xác định những yếu tố có giá trị chỉ báo tiên lượng nặng, tiên lượng tử vong.
Xem thêm

78 Đọc thêm

Báo động đột quỵ não trẻ hóa ở tuổi thanh niên

BÁO ĐỘNG ĐỘT QUỴ NÃO TRẺ HÓA Ở TUỔI THANH NIÊN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nếu như trước đây, đột quỵ não (hay tai biến mạch máu não) là bệnh lý thường xuất hiện ở người cao tuổi (50-60 tuổi) thì nay, các chuyên gia cảnh báo, độ tuổi mắc căn bệnh ngày ngày càng trẻ hóa, thậm chí ở độ tuổi 20. Tại hội thảo “Phòng và điều trị thiếu mãu não ở người cao tuổi” do báo điện tử Kiến thức, Truyền hình An Viên phối hợp với Công ty CP Dược Trung Ương Mediplantex tổ chức, ThS. Hoàng Khánh Toàn, Trưởng khoa Đông y (BV 108) cho biết, các bác sĩ đã từng điều trị cho những bệnh nhân (BN) rất trẻ, tuổi đời từ 20-30 đã bị đột quỵ não, chứng tỏ bệnh đang có xu hướng trẻ hóa dần. Lý giải điều này, ThS. Toàn cho rằng, khi đời sống vật chất được nâng cao, tình trạng ăn uống quá nhiều chất béo có hàm lượng Cholesterol cao, dẫn đến xơ vữa động mạch ở người trẻ là xu hướng rất dễ gặp. Bên cạnh đó, áp lực cuộc sống hối hả, stress một trong những yếu tố làm cho tình trạng co thắt mạch máu não xảy ra thường xuyên. Chính vì thế nhiều người trẻ cũng không tránh được nguy cơ bị tai biến. Tai biến mạch máu não là căn bệnh rất nguy hiểm, có nguy cơ tử vong cao thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư, đứng hàng đầu về tỷ lệ tàn tật. Tỷ lệ tử vong từ 20-30%, số chống chọi được với bệnh chỉ khoảng 30-40%, còn lại có thể liệt giường liệt chiếu. Thiếu máu não là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm, trong đó có tai biến mạch máu não. Tình trạng thiếu máu não trong thời gian dài sẽ dẫn tới tai biến mạch máu não, để lại những di chứng nặng nề. Khi thiếu máu não, người bệnh có thể bị rối loạn cảm xúc, chóng mặt, nhức đầu, ù tai, mất ngủ, suy giảm trí nhớ… gây cho người bệnh nhiều khó khăn trong công việc và sinh hoạt. Ở người cao tuổi, theo quá trình lão hóa cùng tuổi tác, những thay đổi ở hệ tim mạch ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe. 80% các trường hợp thiếu máu não là do sự lão hóa mạch máu và xơ vữa động mạch làm cho mạch máu dày và cứng dần lên, lòng mạch hẹp lại, giảm lưu lượng máu tuần hoàn lên não. Ngoài ra, các nguyên nhân khác có thể kể đến là các bệnh lý tim mạch như suy tim, bệnh van tim, loạn nhịp tim, rối loạn huyết áp, thoái hóa cột sống cổ chèn ép vào động mạch sống nền…   Nếu như trước đây, đột quỵ não (hay tai biến mạch máu não) là bệnh lý thường xuất hiện ở người cao tuổi (50-60 tuổi) thì nay, các chuyên gia cảnh báo, độ tuổi mắc căn bệnh ngày ngày càng trẻ hóa, thậm chí ở độ tuổi 20. (Ảnh minh họa) PGS.TS Nguyễn Minh Hiện, Trưởng khoa Đột quỵ não, Bệnh viện 103 cho biết, não bộ của người chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ thể nhưng tiêu thụ ôxy và máu chiếm khoảng 20% tổng lượng cơ thể. Trung bình tuần hoàn máu não khoảng 55ml trên 100 gam chất não trong một phút. Não được cung cấp bởi 2 cặp động mạch: động mạch đốt sống thân nền và động mạch cảnh trong. Sau khi 2 cặp động mạch hợp nhau thành đa giác ở đáy não chia ra các động mạch não trước, não giữa, não sau để cung cáp máu cho tổ chức não. Vì vậy, khái niệm bệnh thiếu máu não rất đa dạng. Nếu người bệnh bị đột quỵ não, sẽ gặp 2 loại: chảy máu não và thiếu não cục bộ (còn gọi là nhồi máu não hoặc nhũn não). Còn nếu lượng máu cung cấp cho não từ 30 đến 50 ml thì gọi là thiểu năng tuần hoàn não, chưa gây nên tổn thương thần kinh khu trú…. Phòng đột quỵ não cách nào? PGS.TS Nguyễn Minh Hiện khuyến cáo, để phòng ngừa đột quỵ não người dân nên tăng cường tập luyện thể dục thể thao vừa sức và có chế độ dinh dưỡng khoa học, hạn chế mỡ động vật, tăng cường đạm thực vật, rau và hoa quả. Giảm lượng cholesterol máu, phòng chống xơ vữa động mạch, điều trị một số bệnh lý cột sống cổ. Theo ThS. Hoàng Khánh Toàn, ngoài việc giữ đời sống tinh thần thoải mái, nghỉ ngơi đầy đủ, đảm bảo giấc ngủ, tránh những đồ ăn thức uống có tính kích thích, người dân có thể sử dụng những Đông dược thành phẩm có tác dụng cải thiện tuần hoàn não nhưng cần tham khảo ý kiến bác sĩ. Đối với các nhân viên văn phòng, tình trạng thiểu năng tuần hoàn máu rất dễ gặp phải. Cần thực hiện vệ sinh lao động một cách hợp lý nghĩa là không nên làm việc với máy tính trong phòng lạnh một thời gian quá dài, khi thay đổi tư thế thì nên xoa ấm vùng cổ và từ từ thay đổi tư thế, tránh thay đổi đột ngột. Trong sinh hoạt hàng ngày, nên trọng dụng những loại trà thuốc như trà nhân sâm, trà linh chi, trà gừng... Trong dinh dưỡng học cổ truyền có rất nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng cải thiện tuần hoàn não. Về nguyên tắc nên ăn uống đủ chất cân bằng, trọng dụng các rau quả tươi trong đó nên dùng nhiều các thức ăn như não động vật, tủy sống, bạch quả, hoàng kỳ, nhân sâm, kỳ tử và các gia vị như nhục quế, đại hồi, gừng tươi... ví như, nếu bị huyết áp thấp - một trong những nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn não thì mỗi sáng thức dậy nên uống một cốc trà gừng pha với đường hoặc mật ong hoặc một cốc trà có hãm 3 lát nhân sâm. Triệu chứng báo trước của đột quỵ thường gặp là thấy choáng váng, đau đầu, chóng mặt. Tự nhiên bị mờ hoặc mù đột ngột một hoặc cả 2 mắt. Nói ngọng, nói khó, méo miệng. Tê, yếu một chân, một tay hoặc một nửa người. Cách sơ cứu ban đầu có thể cho bệnh nhân nằm cao đầu, quay mặt về một bên để tránh chất nôn trào ngược. Không được đánh, cạo gió và cho uống bất cứ loại thuốc nào. Nếu ngừng thở hoặc ngừng tim thì phải ép tim ngoài lồng ngực và hô hấp nhân tạo. Nhanh chóng gọi cấp cứu để đưa bệnh nhân đến bệnh viện gần nhất….
Xem thêm

2 Đọc thêm

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh u màng não

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH U MÀNG NÃO

I. ðẶT VẤN ðỀ:
U màng não (UMN) là loại u lành tính thường gặp trong bệnh lý hệ
thống thần kinh trung ương, chiếm tỷ lệ 14-21% các khối u trong sọ theo y
văn thế giới(1)(5) (6)(12)(17).Thời gian gần đây, nhờ các phương pháp chẩn
đoán hiện đại như chụp cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ (CHT), chụp
mạch máu não mã hóa xóa nền (DSA) nên việc chẩn đoán các khối u não,
bệnh lý về não tuỷ được phát hiện sớm, chính xác đồng thời giúp cho việc
điều trị theo dõi tiên lượng bệnh được tốt hơn. Bệnh lý UMN có biểu hiện
lâm sàng rất đa dạng do u có thể phát triển ở các vị trí khác nhau của màng
cứng. Nếu chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng thường khó chẩn đoán định
khu, dễ bỏ sót hoặc nếu chẩn đoán được thì bệnh lý đã ở giai đoạn muộn,
điều trị khó khăn và kết quả hạn chế. Bệnh lý UMN đa số là lành tính, thường
gặp của hệ thống thần kinh trung ương. Nếu được chẩn đoán sớm, phẫu thuật
kịp thời thì tiên lượng sau mổ rất tốt, ít để lại di chứng và hạn chế được tái
phát.
Chẩn đoán sớm, chính xác u não nói chung và UMN nói riêng là vấn
đề cần thiết không những đối với các nhà lâm sàng ( nội và ngoại khoa) mà
còn là vấn đề quan tâm của các nhà chẩn đoán hình ảnh.
Thời kỳ trước thập kỷ 70 của thế kỷ trước, khi chưa có các phương
pháp chẩn đoán hình ảnh như CLVT, CHT thì chẩn đoán UMN chủ yếu dựa
vào dấu hiệu lâm sàng, chụp Xquang sọ, chụp não thất, chụp mạch máu
não…Biểu hiện của bệnh lý UMN là hội chứng tăng áp lực nội sọ như đau
đầu, nôn, rối loạn tâm thần. Một số bệnh nhân có biểu hiện cơn động kinh và
các dấu hiệu của từng vùng chức năng thần kinh liên quan. Các phương pháp chẩn đoán kinh điển chỉ phát hiện được các dấu hiệu
gián tiếp của UMN là khối choán chỗ trong hộp sọ, gây hậu quả làm mòn hố
yên, dấu hiệu dấu ngón tay. Trên hình ảnh chụp mạch máu não UMN biểu
hiện hình ảnh khối choán chỗ trong hộp sọ, đè đẩy các thành phần mạch máu
xung quanh. Chính vì vậy, không thể chẩn đoán phân biệt UMN và các bệnh
lý u não khác nếu chỉ dựa vào các phương pháp chụp Xquang kinh điển.
Theo Goodrich (23), trong vòng hơn 30 năm qua, sự phát minh và ứng
dụng rộng rãi CLVT và CHT là tiến bộ lớn đã làm thay đổi tiên lượng về
chẩn đoán và điều trị, làm giảm tỷ lệ tử vong của bệnh lý u não UMN. Trên
thế giới, kỷ nguyên chẩn đoán hình ảnh đã được áp dụng từ rất sớm nhưng
chỉ thực sự khởi sắc với việc ứng dụng chụp CLVT từ những năm 70, 80 của
thế kỷ XX. Có thể coi đây là một cuộc cách mạng tạo ra sự phát triển mạnh
mẽ của chuyên ngành phẫu thuật thần kinh nói chung và trong chẩn đoán,
điều trị và tiên lượng của UMN nói riêng.
Sự ra đời máy chụp CLVT đã làm thay đổi phương thức chẩn đoán, lựa
chọn phương pháp điều trị, kỹ thuật mổ và tiên lượng của bệnh lý UMN, nhất
là khi cộng hưởng từ đuợc áp dụng trên thế giới từ đầu những năm 80 của thế
kỷ trước. Cùng với sự ra đời của chụp CLVT và cộng hưởng từ, phương
pháp mổ dưới hướng dẫn của định vị (steriotaxy) và đặc biệt là phương tiện
định vị thần kinh (neuronavigation) đã được áp dụng và chứng tỏ là phương
pháp điều trị an toàn, hiệu quả, ít biến chứng. Chụp CLVT và chụp CHT
cho phép chẩn đoán chính xác u màng não về vị trí, kích thước, nó giúp cho
thày thuốc thay đổi phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh, giảm tỷ lệ tử
vong và di chứng. Chụp động mạch não giúp đánh giá liên quan của u với cấu
trúc mạch máu xung quanh, giúp phẫu thuật viên dự kiến kế hoạch phẫu thuật
và chỉ định làm tắc mạch trước mổ. Vai trò của các phương pháp chẩn đoán
hình ảnh là rất quan trọng, được coi là “chuẩn vàng” trong chẩn đoán và điều
trị bệnh lý UMN. Chúng tôi viết tiểu luận này nhằm mục đích sau:
Xem thêm

29 Đọc thêm

TƯỚI MÁU NÃO VÀ TƯƠNG QUAN VỚI TỔN THƯƠNG THIẾU MÁU NÃO - THS.BS. NGUYỄN BÁ THẮNG

TƯỚI MÁU NÃO VÀ TƯƠNG QUAN VỚI TỔN THƯƠNG THIẾU MÁU NÃO - THS.BS. NGUYỄN BÁ THẮNG

chất trắng. Mất cung cấp oxygen và glucose cho các neuron này sẽ dẫn tới mất hoạt độngđiện tế bào thần kinh chỉ sau một vài phút (ở người lớn), và nếu tiếp tục trong nhiều phútthì sẽ có chết tế bào. Dù chất trắng cần ít máu nuôi hơn, nhưng nếu cấp máu không đầy đủthì sợi trục cũng sẽ bị hủy hoại và do đó làm gián đoạn các đường dẫn truyền. Một khi tếbào chết đi hoặc sợi trục bị đứt đoạn thì phần sợi trục đoạn xa và các synapse của chúngcũng sẽ thoái hóa, dẫn tới mất chức năng vĩnh viễn. [6]Hiểu rõ cấu trúc giải phẫu của hệ thống mạch máu não, chức năng tưới máu của từng độngmạch lên não, các đường thông nối bàng hệ dự phòng, cũng như sinh lý tưới máu não vàcác cơ chế điều hòa tưới máu não sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn các bệnh lý của hệ thốngmạch máu não cũng như có được các phương pháp chẩn đoán, điều trị cũng như dự phòngtốt nhất cho các bệnh lý này.Chuyên đề 1: Tưới máu não và tương quan với tổn thương thiếu máu nãoNCS: ThS BS Nguyễn Bá Thắng, Bộ môn Thần Kinh, ĐHYD TPHCMChương I.GIẢI PHẪU TƯỚI MÁU NÃONão được cấp máu thông qua bốn động mạch chính, gồm hai động mạch cảnh tạo thànhtuần hoàn trước và hai động mạch đốt sống tạo thành tuần hoàn sau của não. Máu bơm từthất trái sẽ lên cung động mạch chủ rồi đến động mạch cảnh chung vào tuần hoàn trướccủa não (gồm động mạch cảnh trong, động mạch não giữa, động mạch não trước) và đếnđộng mạch dưới đòn rồi đến động mạch đốt sống vào tuần hoàn sau của não (động mạchđốt sống, động mạch thân nền, động mạch não sau). Tuần hoàn trước cấp máu cho mắt,các nhân nền, một phần hạ đồi, thùy trán và đính, và một phần lớn của thùy thái dương,trong khi tuần hoàn sau cấp máu cho thân não, tiểu não, tai trong, thùy chẩm, đồi thị, mộtphần hạ đồi, và một phần nhỏ hơn của thùy thái dương.Máu tĩnh mạch từ các tĩnh mạch não nông và sâu dẫn máu về các xoang tĩnh mạch màng
Xem thêm

61 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não, một số yếu tố nguy cơ và giá trị của D-DIMER trong chuẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não (FULL)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH NÃO, MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ GIÁ TRỊ CỦA D-DIMER TRONG CHUẨN ĐOÁN HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NÃO (FULL)

ĐẶT VẤN ĐỀ
Huyết khối tĩnh mạch não (HKTMN) là thuật ngữ chung mô tả bệnh lý
huyết khối của hệ thống tĩnh mạch não, bao gồm huyết khối xoang màng
cứng và hệ thống tĩnh mạch não sâu cũng như tĩnh mạch vùng vỏ não. Huyết
khối tĩnh mạch não thường là do sự ứ trệ của máu tĩnh mạch, tăng tính đông
máu và sự thay đổi của thành mạch do chấn thương hoặc do nhiễm trùng [6].
Bệnh sẽ để lại di chứng nặng nề và tỉ lệ tử vong cao nếu không được chẩn
đoán đúng và điều trị kịp thời. Huyết khối tĩnh mạch não chiếm tỉ lệ 0,5% của
bệnh đột quỵ [16]. Theo một số nghiên cứu ở Anh, tỉ lệ bệnh huyết khối tĩnh
mạch não là 4 phần triệu dân [82], ở các nước đang phát triển có khoảng 4,5
bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não trên 10.000 dân [14]. Huyết khối tĩnh
mạch não được ghi nhận đầu tiên vào đầu thế kỷ 19, trong giai đoạn này việc
chẩn đoán bệnh huyết khối tĩnh mạch não chủ yếu là dựa vào khám nghiệm tử
thi. Hiện tại, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành hình ảnh học nên việc chẩn
đoán huyết khối tĩnh mạch não không còn nhiều khó khăn như trước. Tuy
nhiên, việc chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não thường bị bỏ sót, muộn hoặc
sai do triệu chứng lâm sàng, sự khởi phát và hình ảnh học của huyết khối tĩnh
mạch não rất đa dạng [16], [19], [61]. Cũng chính lý do này nên huyết khối
tĩnh mạch não thường chẩn đoán muộn, trung bình là 7 ngày sau khởi phát
mới được chẩn đoán [19], [34].
Cho tới nay, trên thế giới cũng như trong nước, vấn đề HKTMN chưa
được quan tâm nghiên cứu như những bệnh lý về động mạch não. Hơn nữa,
ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính thức nào công bố về bệnh huyết
khối tĩnh mạch não.
Trước đây, chụp mạch máu não cản quang được xem là tiêu chuẩn
vàng cho các chẩn đoán bệnh lý mạch máu, có thể mô tả chính xác hệ thống tĩnh mạch nội sọ cũng như huyết khối xoang tĩnh mạch não. Tuy nhiên, đây là
phương thức xâm lấn có các biến chứng nghiêm trọng, có thể tử vong.
Trong những năm gần đây, sự ra đời của kỹ thuật chẩn đoán không
xâm lấn và có độ chính xác cao như chụp cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi
tính nên tỷ lệ chẩn đoán HKTMN gia tăng [34]. Hiện tại tiêu chuẩn vàng cho
chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não là sự kết hợp của chụp cộng hưởng từ
thường qui với cộng hưởng từ tĩnh mạch và nó có thể thay thế phương tiện
chẩn đoán xâm lấn là chụp mạch não đồ cản quang [16], [82].
Các yếu tố tăng đông di truyền chiếm tỉ lệ khá cao ở người da trắng,
chiếm 15-30% các bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch. Tuy nhiên, tại các nước
châu Á, giảm các yếu tố kháng đông tự nhiên di truyền không phải là các yếu
tố chủ yếu góp phần gây ra huyết khối tĩnh mạch như các nước phương Tây.
Ở Đài Loan [19], tỉ lệ tăng đông do di truyền trên bệnh nhân huyết khối tĩnh
mạch chung là 34%. Hiện tại Việt nam, chưa có báo cáo đầy đủ về tỉ lệ các
yếu tố tăng đông trên bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.
Không giống như huyết khối tĩnh mạch sâu và/hoặc thuyên tắc phổi,
HKTMN không có những chỉ số lâm sàng đã được xác thực để hỗ trợ các bác
sĩ lâm sàng trong cách tiếp cận chẩn đoán HKTMN.
Đo lường nồng độ D-dimer, một sản phẩm của sự thoái hóa fibrin, đã
được chứng minh là một công cụ chẩn đoán rất hữu ích trong việc quản lý
bệnh nhân nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch sâu và/hoặc thuyên tắc phổi. Ddimer

là phương pháp xét nghiệm không tốn kém và được trang ở nhiều nơi,
một số nghiên cứu tiến cứu, nghiên cứu phân tích tổng hợp đã cho thấy giá trị
cao trong chẩn đoán HKTMN [30], [83]. Trong một tuyên bố gần đây của
Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hiệp hội đột quỵ Hoa Kỳ, các tác giả cho rằng
khi lượng D-dimer bình thường thì xác suất bị HKTMN rất thấp [76]. Tuy
nhiên, mức độ chắc chắn và mức độ bằng chứng về các đề xuất này chưa cao, chỉ có một vài nghiên cứu về vấn đề này, và kết quả của họ đã không kết luận
một cách rõ ràng [23], [54]. Hơn nữa, hiện nay nước ta chưa có một nghiên
cứu nào công bố về giá trị của D-dimer trong chẩn đoán HKTMN. Vì vậy,
cần phải có những nghiên cứu tại Việt nam về giá trị của D-dimer trong
HKTMN như thế nào cũng như cần có những nghiên cứu về giá trị của xét
nghiệm D-dimer trong chẩn đoán HKTMN.
Ở Việt Nam, đã có nhi ều nghiên cứu đột quỵ não về các phương
diện. Tuy nhiên, nghiên cứu về huyết khối tĩnh mạch não vẫn còn rất ít
nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu bệnh huyết khối tĩnh mạch não nhằm
các mục tiêu sau:
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh não của bệnh huyết khối tĩnh
mạch não.
2. Nhận xét một số yếu tố nguy cơ của bệnh huyết khối tĩnh mạch não.
3. Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán
âm của xét nghiệm D-dimer trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não.
Xem thêm

160 Đọc thêm

XUẤT HUYẾT NÃO LÀ GÌ?

XUẤT HUYẾT NÃO LÀ GÌ?

Xuất huyết não là gì?
Xuất huyết não là hiện tượng mạch máu nằm trong não bị vỡ ra do một nguyên nhân nào đó khiến máu chảy vào các nhu mô não.
Chăm sóc của Điều dưỡng Sau phát bệnh và sau phẫu thuật:
1. Kiểm soát huyết áp
  Sử dụng thuốc hạ áp khi huyết áp tối đa trên 180mmHg hoặc khi huyết áp trung bình trên 130mmHg (Theo phác đồ điều trị tai biến mạch máu não năm 2015)
2.Phát hiện sớm bất thường
3.Quan sát các dấu hiệu thần kinh
4.Kiểm soát hô hấp
5.Phòng ngừa xuất huyết tiêu hóa
6.Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu và huyết khối phổi ( tắc mạch phổi)
7.Hỗ trợ tinh thần người bệnh và gia đình người bệnh
Xem thêm

14 Đọc thêm