CÁC VI SINH VẬT GÂY BỆNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁC VI SINH VẬT GÂY BỆNH":

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG KHÁNG VI SINH VẬT CỦA TINH DẦU VÀ NƯỚC BÃO HOÀ TINH DẦU LÁ CÂY MÀNG TANG ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) TRÊN CÁC CHỦNG VI SINH VẬT GÂY BỆNH NGOÀI DA TẠI BA VÌ HÀ NỘI

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG KHÁNG VI SINH VẬT CỦA TINH DẦU VÀ NƯỚC BÃO HOÀ TINH DẦU LÁ CÂY MÀNG TANG ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) TRÊN CÁC CHỦNG VI SINH VẬT GÂY BỆNH NGOÀI DA TẠI BA VÌ HÀ NỘI

Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội Nghiên cứu tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu và nước bão hoà tinh dầu lá cây màng tang ( LITSEA CUBERA (LOUR) PERS ) trên các chủng vi sinh vật gây bệnh ngoài da tại ba vì hà nội
Xem thêm

55 Đọc thêm

Tiểu luận các phương pháp bảo quản thực phẩm để tránh ngộ độc do vi sinh vật

TIỂU LUẬN CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN THỰC PHẨM ĐỂ TRÁNH NGỘ ĐỘC DO VI SINH VẬT

Ngộ dộc thực phẩm do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng trong số đó vi sinh vật là lý do trên 50% các vụ ngộ dộc thực phẩm. Cũng chính vì vậy mà vi sinh vật là đối tượng của nhiều chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm. Triệu chứng ngộ độc thường gặp là các rối loạn tiêu hoá (đau bụng, tiêu chảy phân có máu) hoặc những triệu chứng nghiêm trọng hơn như nôn mửa, sốt, cơ thể mất nhiều nước. Bệnh thường xảy ra có tính chất đột ngột, nhiều người cùng mắc phải do ăn cùng một loại thức ăn. Để công tác phòng ngừa ngộ độc do vi sinh vật được hữu hiệu, chúng ta cần nắm vững tính chất của vi sinh vật là đối tượng gây ngộ độc
Xem thêm

28 Đọc thêm

thực hành vi sinh vật thú y (Escherichia coli và Salmonella cholerasuis)

THỰC HÀNH VI SINH VẬT THÚ Y (ESCHERICHIA COLI VÀ SALMONELLA CHOLERASUIS)

Trong chương trình học của ngành chăn nuôi thú y thì vi sinh vật là môn quan trọng bởi qua nó ta hiểu biết về vi khuẩn, virus từ đó xác định chính xác bệnh trên vật nuôi. trong đó e. coli và sal là những loài vi khuẩn thường gặp gây bệnh trên nhiều vật nuôi, để phát hiện và điều trị bệnh do e. coli hoặc sal gây nên ta cần hiểu rõ đặc tính sinh hóa, sinh trường của chúng.

28 Đọc thêm

TÁC ĐỘNG CỦA VI SINH VẬT GÂY HẠI ĐẾN BIA

TÁC ĐỘNG CỦA VI SINH VẬT GÂY HẠI ĐẾN BIA

trường nuôi cấy.Colifrom phân hiện diện với số lượng lớn trong mẫu nước thì nước đó có thể bị nhiễmphân và có khả năng chứa các vi sinh vậy gây bệnh hiện diện trong phân. Trong các thànhviên của nhóm Colifrom phân thì Ecoli là loại được quan tâm nhiều nhất về vệ sinh.Ecolivượt quá tiêu chuẩn cho phép làm mất vệ sinh nguồn nước tiếp đến sẽ làm hỏng bia. Bịnhiễm Ecoli gây ra một số bệnh như tiêu chảy, viêm phổi và một số bệnh khác. Vì thế Ecolikhông quá 3 tế bào/1 lít.Trong thành phần của nước không thể có Clostridium Perfringens. Nếu có nhiều trongnước sẽ gây ngộ độc thực phẩm bởi bào tử của nó rất bền đối với nhiệt nên chúng có thểsống sót trong quá trình gia nhiệt.3.4 Nấm men:Là loại nguyên liệu không thể thiếu trong quá trình lên men bia.Nấm men chứa nhiều visinh vật gây bệnh sẽ phát triển trong bia,lấn át sự phát triển trong men gặp khó khăn từđó bia sẽ không bị hư và không đảm bảo được chất lượng.Vi khuẩn có hại cho nấm men:Vi khuẩn lactic có tác dụng lên men đường thành acid lactic,Ancal, CO2,diaoctyl,axeton.Vi khuẩn axetic lên men lên men rượu thành acid acetic.Đây là loại vi khuẩn hiếu khí rấtcó hại trong quá trình sản xuất.Vi khuẩn biryric và một số khác: điều kiện lên men cồn không phù hợp lắm với sự pháttriển của chúng.4. Tác động qua lại giữa sản phẩm bia và vi sinh vật:Bia thành phẩm sản xuất theo phương pháp thông thường chứa các tế bào sống bao gồmnấm men thuần chủng có kích thước nhỏ không thể giữ lại hết tại khâu lọc. Trong số các visinh vật có một số vi sin vật ngoại như vi khuẩn acetic, một số nấm sợi, vi khuẩn thuộcnhóm coli và nhiều loại khác không phát triển được trong bia.Vì trong đó không có oxy, lạicó hàm lượng etanol đáng kể,các chất đắng và pH tương đối thấp. Ngược lại một số nấm
Xem thêm

8 Đọc thêm

Kiểm soát chất lượng vi sinh vật PHẦN 1

KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG VI SINH VẬT PHẦN 1

NỘI DUNG Đặt vấn đề Chương 1. Vi sinh vật thường gặp trong thực phẩm 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vi sinh vật thực phẩm 1.1.1. Các yếu tố bên trong sản phẩm thực phẩm 1.1.2. Các yếu tố bên ngoài sản phẩm thực phẩm 1.2. Các nguồn vi sinh vật có trong sản phẩm thực phẩm 1.2.1. Có sẵn trong nguyên liệu và sản phẩm thực phẩm 1.2.2. Bổ sung trong quá trình sản xuất 1.2.3. Nhiễm trong quá trình sản xuất, bảo quản và phân phối sản phẩm 1.3. Vi sinh vật gây hỏng sản phẩm thực phẩm 1.3.1. Vi khuẩn lactic 1.3.2. Nấm men 1.3.3. Nấm mốc 1.4. Vi sinh vật gây bệnh và gây ngộ độc 1.4.1. Vi khuẩn Gram dương 1.4.2. Vi khuẩn Gram âm 1.4.3. Nấm men và nấm mốc 3 NỘI DU
Xem thêm

33 Đọc thêm

Phân lập, nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số chủng vi sinh vật có khả năng tạo màng sinh vật phân lập ở Việt Nam

PHÂN LẬP, NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT CÓ KHẢ NĂNG TẠO MÀNG SINH VẬT PHÂN LẬP Ở VIỆT NAM

Vi sinh vật là tên gọi chung để chỉ tất cả các sinh vật có hình thể bé nhỏ, muốn thấy rõ được người ta phải sử dụng tới kính hiển vi. Vi sinh vật không phải là một nhóm riêng biệt trong sinh giới. Chúng thậm chí thuộc về nhiều giới sinh vật khác nhau và giữa các nhóm có thể không có quan hệ mật thiết với nhau 1. Lịch sử nghiên cứu và phát triển của vi sinh vật học đã ghi nhận người có công phát hiện ra thế giới vi sinh vật và cũng là người đầu tiên mô tả hình thái nhiều loại vi sinh vật Antonie van Leeuwenhoek (1632 1723). Với việc tự chế tạo ra trên 400 chiếc kính hiển vi, ông đã lần lượt quan sát mọi thứ có xung quanh mình, trong đó có cả các vi khuẩn và động vật nguyên sinh mà ông đã gọi là những “động vật vô cùng nhỏ bé”. Ông là người đầu tiên phát hiện ra hiện tượng bám dính và phát triển phổ biến của vi khuẩn trên bề mặt răng tạo thành các mảng bám răng, một dạng của màng sinh vật sau này 1. Cùng với sự ra đời của kính hiển vi quang học hoàn chỉnh vào đầu thế kỷ 19, đặc biệt là việc chế tạo thành công chiếc kính hiển vi điện tử đầu tiên (1934) đã góp phần tạo nên những cống hiến lớn lao của các nhà khoa học trong lĩnh vực vi sinh vật học 1. Năm 1936, Zobell và cộng sự 87 đã nghiên cứu cho thấy số lượng vi khuẩn bám dính tại vị trí tiếp xúc giữa nước biển và bề mặt vật rắn lớn hơn nhiều so với các vị trí xung quanh. Lợi ích của bề mặt chất rắn mang lại được đánh giá như một nơi cư trú của các vi khuẩn giúp tập trung hấp thụ chất dinh dưỡng, tăng cường hoạt động của các enzyme và hấp thụ các chất chuyển hóa. Trong những nghiên cứu về hiệu quả của bề mặt rắn đối với hoạt tính của vi khuẩn, Zobell 86 đã chỉ ra rằng bên cạnh việc cung cấp nơi khu trú và tập trung chất dinh dưỡng, bề mặt chất rắn còn làm chậm sự khuếch tán của các enzyme ngoại bào, thúc đẩy sự đồng hóa các chất dinh dưỡng thông qua quá trình thủy phân trước khi chúng được hấp thụ. Một loạt những nghiên cứu tiếp theo đó cũng đề cập đến khả năng hoạt động và tăng trưởng đáng kể của vi sinh vật bằng cách bám dính vào một bề mặt xác Luận văn thạc sĩ Sinh học Trần Thúy Hằng Trường Đại học KHTN 3 định. Nghiên cứu của Heukelekian và cộng sự 39 cho thấy giới hạn nồng độ chất dinh dưỡng không cố định mà phụ thuộc vào tổng diện tích bề mặt tiếp xúc với môi trường. Jones và cộng sự 43 đã sử dụng kính hiển vi điện tử quét (SEM) để chỉ ra sự xuất hiện của màng sinh vật trong bộ lọc nhỏ giọt của một nhà máy xử lý nước thải và cho thấy rằng chúng bao gồm nhiều loại, nhóm các vi sinh vật khác nhau (dựa trên đặc điểm hình thái tế bào). Bằng cách sử dụng chất nhuộm màu polysaccarit đặc biệt là đỏ Ruthenimum và cố định bởi Osmium tetroxide (OsO4), các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng vật liệu chất nền bao xung quanh và kết dính các tế bào trong cấu trúc màng sinh vật chính là polysaccarit Các vi sinh vật trong tự nhiên ít khi tồn tại riêng rẽ mà thường hình thành tập hợp quần xã vi sinh vật với một loạt các hoạt động chức năng sinh lý và sinh hóa. Sự tạo thành màng sinh vật diễn ra tại bề mặt rắn tiếp xúc với môi trường chất lỏng. Tại đây, các mảnh vụn hữu cơ và chất khoáng tập trung lại tạo điều kiện cho phép các vi sinh vật có thể sinh trưởng và phát triển thành các vi khuẩn lạc và dần hình thành nên màng sinh vật trưởng thành 13. Phân tích thành phần vi sinh vật của màng cho thấy sự hiện diện của vi tảo và vi khuẩn Gallionella spp. Đặc biệt khả năng oxi hóa sắt của chủng Gallionella spp gây kết tủa sắt trong đường ống tạo ra những thay đổi không mong muốn về độ đục, màu sắc và mùi của nước 58. Các chủng vi khuẩn hiếu khí như Pseudomonas putrefaciens, Escherichia coli, Bacillus sp, Serratia sp cũng được phân lập. Trong 10 m 1 m Luận văn thạc sĩ Sinh học Trần Thúy Hằng Trường Đại học KHTN 6 đó, nghiên cứu cho thấy chủng P. putrefaciens có khả năng tạo chất ngoại bào giúp gắn kết các nhóm vi sinh vật với nhau để hình thành màng sinh vật 66. Trong công nghiệp thực phẩm, khả năng bám dính của các vi sinh vật trên bề mặt các thiết bị chế biến có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị cảm quan của sản phẩm thực phẩm. Nghiên cứu của Sule và cộng sự 78 cho thấy chủng E. coli O157:H7 là tác nhân gây bệnh có thể phân lập từ các mẫu thịt tươi. Bằng kỹ thuật Realtime PCR, 13 trong số 15 gen ở chủng E. coli này được nghiên cứu cho thấy có liên quan đến các chức năng sống như trao đổi chất, phân chia tế bào, hình thành màng sinh học và khả năng gây bệnh. Nghiên cứu của Kubota và cộng sự 47 về khả năng hình thành màng sinh vật trên 3 chủng vi khuẩn Lactobacillus plantarum, Lactobacillus brevis và Lactobacillus fructivorans đại diện cho nhóm vi khuẩn lactic gây hư hỏng thực phẩm. Đặc điểm của sự hình thành màng sinh vật ở các chủng vi khuẩn này cung cấp cho chúng ta một hướng nghiên cứu trong việc kiểm soát các tác nhân gây bệnh trong các sản phẩm thực phẩm. Một trong những hướng nghiên cứu ứng dụng của màng sinh vật là kiểm soát sinh học các tác nhân gây bệnh hại ở cây trồng. Các chủng vi khuẩn được phân lập từ rễ cây hoặc đất trồng ở các khu vực canh tác nông nghiệp cũng cho thấy khả năng hình thành màng sinh vật tương đối cao như: Bacillus subtilis, Agrobacterium tumefaciens, Xylella fastidiosa, Rhizobium leguminosarum… Nghiên cứu của Fall và cộng sự 30 cho thấy Bacillus subtilis bám dính ở rễ cây có khả năng hình thành màng sinh vật tốt ở nồng độ K+ cao trong môi trường nuôi cấy. Bacillus subtilis cũng có khả năng ức chế sự lây nhiễm của tác nhân gây bệnh Pseudomonas syringae pv tomato DC3000 ở rễ cây Arabidopsis nhờ khả năng tạo thành màng sinh vật và sản xuất surfactin 5. Khả năng cộng sinh với mô thực vật cũng như sự tạo thành màng sinh vật trên bề mặt chóp rễ của các chủng Agrobacterium tumefaciens, Xylella fastidiosa 69 cho thấy sự tương tác cùng có lợi giữa thực vật và vi khuẩn trong việc cung cấp chất dinh dưỡng và hạn chế các tác nhân gây bệnh. Luận văn thạc sĩ Sinh học Trần Thúy Hằng Trường Đại học KHTN 7 Ngoài ra, một số chủng vi khuẩn được thu thập từ khu vực nước thải của các nhà máy, làng nghề cũng được phân lập nhằm tìm ra những chủng có khả năng hình thành màng sinh vật tốt, ứng dụng trong việc xử lý nước thải và vệ sinh môi trường.
Xem thêm

78 Đọc thêm

CÁC HỆ VI SINH VẬT TRONG ĐỒ HỘP

CÁC HỆ VI SINH VẬT TRONG ĐỒ HỘP

CÁC HỆ VI SINH VẬT TRONG ĐỒ HỘP Các hệ vi sinh vật tồn tại trong đồ hộp nguy hiểm nhất là các loại vi khuẩn, sau đó mới đến nấm men và nấm mốc. Vi khuẩn Các loại vi khuẩn phổ biến nhất thường thấy trong đồ hộp. a. Loại hiếu khí + Bacillus mesentericus : có nha bào, không độc, ở trong nước và trên bề mặt rau. Nha bào bị phá hủy ở 1100C trong 1 giờ. Loại này có trong tất cả các loại đồ hộp, phát triển nhanh ở nhiệt độ quanh 370C. + Bacillus subtilis : có nha bào không gây bệnh. Nha bào chịu 1000C trong 1 giờ, 1150C trong 6 phút. Loại này có trong đồ hộp cá, rau, thịt. Không gây mùi vị lạ, phát triển rất mạnh ở 25 350C. b. Loại kỵ khí + Clostridium sporogenes: cố định ở trạng thái tự nhiên của mọi môi trường. Nó phân hủy protid thành muối của NH3, rồi thải NH3,, sản sinh ra H2S, H2 và CO2. Nha bào của nó chịu đựng được trong nước sôi trên 1 giờ. Clostridium sporogenes có độc tố, song bị phá hủy nếu đun sôi lâu. Loại này có trong mọi đồ hộp, phát triển rất mạnh ở 27 580C. Nhiệt độ tối thích là 370C. + Clostridium putrificum: là loại vi khuẩn đường ruột, có nha bào, không gây bệnh. Các loại nguyên liệu thực vật đề kháng mạnh với Clostridium putrificum vì có phitonxit. Loại này có trong mọi đồ hộp, nhiệt độ tối thích là 370C. c. Loại vừa hiếu khí vừa kỵ khí + Bacillus thermophillus: có trong đất, phân gia súc, không gây bệnh, có nha bào. Tuy có rất ít trong đồ hộp nhưng khó loại trừ. Nhiệt độ tối thích là 60 70oC. + Staphylococcus pyrogenes aureus : có trong bụi và nước, không có nha bào. Thỉnh thoảng gây bệnh vì sinh ra độc tố, dễ bị phá hủy ở 60 70oC. Phát triển nhanh ở nhiệt độ thường. d. Loại gây bệnh, gây ra ngộ độc do nội độc tố + Bacillus botulinus : còn có tên là Clostridium botulinum. Triệu chứng gây bại liệt rất đặc trưng : làm đục sự điều tiết của mắt, rồi làm liệt các cơ điều khiển bởi thần kinh sọ, sau đó toàn thân bị liệt. Người bị ngộ độc sau 4 8 ngày thì chết. Loại này chỉ bị nhiễm khi không tuân theo nguyên tắc vệ sinh và thanh trùng tối thiểu. Nha bào có khả năng đề kháng mạnh: ở 100oC là 330 phút, 115oC là 10 phút, 120oC là 4 phút. Độc tố bị phá hủy hoàn toàn khi đun nóng 80oC trong 30 phút. + Salmonella: thuộc nhóm vi khuẩn gây bệnh, hiếu khí, ưa ẩm, không có nha bào nhưng có độc tố. 2. Nấm men, nấm mốc + Nấm men: chủ yếu là Saccharomyces ellipsoides, hiện diện rộng khắp trong thiên nhiên. Nấm men thường thấy trong đồ hộp có chứa đường. Bào tử của nấm men không có khả năng chịu đựng được nhiệt độ cao, chúng có thể chết nhanh ở nhiệt độ 60oC. + Nấm mốc : ít thấy trong đồ hộp. Nói chung men, mốc dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ thấp và dễ loại trừ bằng cách thực hiện vệ sinh công nghiệp tốt. PHƯƠNG PHÁP THANH TRÙNG VẬT LÝ Thanh trùng bằng tia ion hóa Nguyên lý Tác dụng diệt trùng của các tia ion hóa là thay đổi cấu trúc của một số phân tử protein của tế bào vi sinh vật và làm ion hóa dung môi. Hiệu quả thanh trùng của tia ion hóa phụ thuộc vào thời gian xử lý, chiều dày của thực phẩm và lượng vi sinh vật nhiễm vào thực phẩm. Các tia ion hóa Căn cứ vào tần số dao động điện từ, người ta chia tia sáng làm các loại : Bảng 4.1. Tần số dao động điện từ của các tia ion hóa Tia Tần số dao động điện từ (Hz) 1012 101410151016 1017 1018 Tia γ hồng ngoạiTia sáng trông thấyTia tử 10201021 1022 ngoạiTia XTia Rongel cứng, tia Bảng 1 (Nguyễn Vân Tiếp. 2000) Các tia có tần số dao động cao thì có lực đâm xuyên là các tia ion hóa đều có tác dụng diệt trùng. Liều lượng sửγ cao. Tia X, tia dụng tùy thuộc vào bản chất từng loại vi sinh vật. Chiều dày tối đa của thực phẩm đem chiếu tia X và tia âm cực là 127mm (nếu chiếu cả 2 mặt). Tia hồng ngoại và tia tử ngoại là các tia bức xạ. Tác dụng của tia hồng ngoại là làm nóng sản phẩm để diệt vi sinh vật. Tia tử ngoại có tác dụng sát trùng là làm đông tụ protid và phá hủy hệ thống men của vi sinh vật. Thanh trùng bằng sóng siêu âm Dưới tác dụng của siêu âm, môi trường lỏng truyền âm bị xô đẩy, bị ép và tạo chân không liên tiếp, sinh ra nhiều khoảng trống. Lúc đó, các chất hòa tan và hơi của chất lỏng lập tức dồn vào khoảng trống ấy, gây ra tác dụng cơ học làm chết vi sinh vật ở trong môi trường. Mặt khác trong quá trình ấy, một phần chất khí hòa tan bị ion hóa tạo ra nước oxy già (H2O2), Nitrogen oxy (NO) là những chất độc đối với vi sinh vật. Trong các loại vi sinh vật thì vi khuẩn dễ bị siêu âm tác dụng nhất. Thanh trùng bằng dòng điện cao tần Thanh trùng bằng cách đặt sản phẩm trong điện trường của dòng điện xoay chiều (có tần số cao) Các phần tử tích điện trong sản phẩm (ion, điện tử) sẽ dao động do tác dụng của điện năng, chuyển điện năng được hấp thu thành nhiệt năng để làm chết vi sinh vật. Khả năng hấp thu điện năng tùy thuộc vào: kích thước bao bì đựng thực phẩm, điện áp tần số của dòng điện. Tần số của dòng điện càng lớn hay bước sóng càng ngắn thì quá trình thanh trùng càng nhanh (Tần số thích hợp nhất là 3.108 3.107 Hz). Thời gian thanh trùng chỉ trong vài mươi giây đến vài phút. Thanh trùng bằng sử dụng áp suất cao Áp lực 300 600MPa có khả năng vô họat các vi sinh vật không hình thành bào tử. Trong khi để vô họat các vi khuẩn sinh bào tử cần áp lực rất cao (1800MPa) Tuy nhiên, tại áp suất thấp 200 400MPa cũng làm giảm sự sản sinh bào tử. Thanh trùng bằng xung điện từ Trường xung điện (áp dụng cho các lọai thực phẩm lỏng, thời gian xử lý từ vài micro tới mili giây) có thể tiêu diệt vi sinh vật vì tạo xốp màng tế bào. Lực điện trường đòi hỏi để vô họat vi sinh vật thay đổi m.µ từ 0,1 2,5 V Lọc Thanh trùng Sản phẩm lỏng, như nước quả trong có thể loại trừ vi sinh vật bằng cách lọc. Bản lọc, thường là các màng sứ xốp, có những lỗ đủ nhỏ chỉ cho sản phẩm qua, còn giữ lại vi sinh vật. Sau khi lọc, sản phẩm được rót vào bao bì đã sát trùng, rồi ghép kín ngay. Quá trình này phải tiến hành trong điều kiện vệ sinh cao. Bằng phương pháp này, sản phẩm hoàn toàn giữ được tính chất tự nhiên. THANH TRÙNG BẰNG TÁC DỤNG CỦA NHIỆT ĐỘ Thanh trùng bằng nhiệt độ cao của nước nóng và hơi nước nóng là phương pháp thanh trùng phổ biến nhất trong sản xuất đồ hộp. Khi nâng nhiệt độ của môi trường quá nhiệt độ tối thích của vi sinh vật thì hoạt động của vi sinh vật bị chậm lại. Ở nhiệt độ cao, protid của chất nguyên sinh của vi sinh vật bị đông tụ làm cho vi sinh vật bị chết. Quá trình đông tụ protid này không thuận nghịch, nên hoạt động của vi sinh vật không phục hồi sau khi hạ nhiệt. Động học của quá trình tiêu diệt vi sinh vật bằng nhiệt Từ thực nghiệm đã chỉ sự tiêu diệt vi sinh vật được thể hiện bởi phương trình: (1)dN dt =kT.Nn Trong đó : N : lượng vi sinh vật trong sản phẩm sau thời gian t (cfuml). kT: hệ số vận tốc tiêu diệt vi sinh vật ở nhiệt T, tùy theo loại vi sinh vật và tính chất của đồ hộp mà trị số k thay đổi. t : Thời gian xử lý (phút) n : Bậc phản ứng Trong hầu hết trường hợp, bậc phản ứng bằng 1, tiến trình vô hoạt bậc nhất có thể viết như sau: (2)dN dt =kT.N Hay dN N =−kT.dt (3) Với phương trình vi phân (3) có thể được lấy tích phân theo các điều kiện ở thời điểm ban đầu t = 0 thì N = No ở thời điểm t = t thì N = N N ∫ N0 dN N =− t ∫ 0 kT.dt ⇒(4) Khi thực hiện tiêu diệt vi sinh vật ở nhiệt độ không đổi, kT = hằng số (quá trình đẳng nhiệt) Phương trình (4) có thể viết như sau: (5) N ∫ N0 dN N =−kT t ∫ 0 dt ln (N) – ln (No) = kT. t(6)⇒ ln  N N0  =−kT.t (7) Hoặc (8)Từ đó ta có được : N = No e kt Trong đóN : lượng vi sinh vật trong sản phẩm ở thời điểm t (cfuml) No: lượng vi sinh vật ban đầu (cfuml) kT : hệ số vận tốc tiêu diệt vi sinh vật ở nhiệt độ T t : Thời gian gia nhiệt (phút) Ở nhiệt độ tiêu diệt vi sinh vật không đổi, lượng vi sinh vật giảm theo hàm số mũ theo thời gian. Điều này có nghĩa tổng số vi sinh vật không thể giảm đến 0. Vì vậy, không thể đảm bảo tuyệt đối rằng tất cả vi sinh vật sẽ bị tiêu diệt bởi một quá trình nào đó. Nếu vẽ đường biểu diễn về mức độ tiêu diệt vi sinh vật theo thời gian bởi phương trình (8) ta có đồ thị theo hình 4.1 Hình 1 Hình 4.1. Sự tiêu diệt vi sinh vật bằng nhiệt theo thời gian Cũng có thể viết : lg N N0 =− k 2,303 t (9) Nếu biểu diễn theo hàm logarite thập phân phương trình (9) đồ thị là một k 2,303 đường thẳng, có hệ số góc biểu thị qua hình 4.2 Đường lý thuyếtĐường thực nghiệm Hình 2 Hình 4.2. Thời gian tiêu diệt vi sinh vật theo mối quan hệ logarite Với giá trị D là thời gian cần thiết tại một nhiệt độ xác định để tiêu diệt 90% lượng vi sinh vật ban đầu. Được gọi là “thời gian tiêu diệt thập phân”. Theo hình 4.2 và phương trình (9), ta xây dựng được mối quan hệ giữa hệ số vận tốc k và thời gian D : 1 D =− k 2,303 Phương trình (9) có thể viết : (10) lg N N0 =− 1 D t Vậy thời gian tiêu diệt vi sinh vật t=Dlg N0 N (11) Tính toán ảnh hưởng của quá trình xử lý nhiệt (Giá trị thanh trùng F) Để xác định mức độ tiêu diệt vi sinh vật, cần phải biết trị số D và z biểu thị cho loài vi sinh vật cần tiêu diệt. (Đường hiệu chỉnh)(Đường thực nghiệm) Hình 3 Thời gian tiệt trùngNhư ta đã biết đường “thời gian chết nhiệt” của vi sinh vật trong quá trình xử lý nhiệt là một đường thẳng, ta vẽ đồ thị biểu diễn (hình 4.3) Hình 4.3. Biểu diễn “thời gian chết nhiệt” của vi sinh vật F : thời gian cần thiết (tính bằng phút) để tiêu diệt vi sinh vật, tại một nhiệt độ nhất định. z : khoảng nhiệt độ cần thiết cho đường “thời gian chết nhiệt” thực hiện một chu trình logarite (Đối với mỗi loại vi sinh vật và thực phẩm khác nhau, có giá trị D và z khác nhau) Bảng 4.2. Sự kháng nhiệt của vi sinh vật trong quá trình xử lý nhiệt Nhóm vi khuẩn D (phút) z (OC) Sản phẩm không chua và ít chua(pH > 4,5) Vi khuẩn chịu 2,0 5,0 (1)0,1 8 128 nhiệt (bào tử) Vi khuẩn không chịu nhiệt (bào tử) 1,5 (1) 10 Sản phẩm chua (pH 4,0 4,5) Vi khuẩn chịu nhiệt (bào tử) Vi 0,01 0,07 8 107 khuẩn không chịu nhiệt (bào tử) (1)0,1 0,5 (2) 10 Sản phẩm rất chua (pH < 4,0)Vi sinh vật không chịu nhiệt (vi 0,5 1,0 (3) 57 khuẩn không sinh bào tử, nấm men, nấm mốc) Bảng 2 (Carla,1992) Ghi chú (1): xử lý ở 121,1OC (2): xử lý ở 100OC (3): xử lý ở 65OC Bảng 4.3. Sự vô hoạt vi sinh vật (bào tử) trong quá trình tiệt tùng LOÀI VI SINH VẬT(Type of microorganism)MÔI TRƯỜNG(Medium)zvalue (oC)D121,1 (min)Bacillus stearothermophilusGeneral7,610,31,84,7Bacillus subtilis 5230General7,4130,30,76Bacillus coagulanssolution8,29,00,22,5Bacillus cereusGeneral9,70,0065Bacillus megateriumGeneral8,80,04Clostridium perfringensGeneral10,0Clostridium sporogenesGeneral8,012,00,481,4Clostridium botulinumGeneral9,90,21(Carla.1992) Bảng 4.4. Sự vô hoạt vi sinh vật (Tế bào sinh dưỡng) trong quá trình thanh trùng LOÀI VI SINH VẬT(Type of microorganism)MÔI TRƯỜNG(Medium)zvalue (oC)DT (min)Escherichia coli4,94,5 (56oC)Pseudomonas fluoresens7,53,2 (60oC)Streptococcus faecalisFish6,715,7 (60oC)Staphylococcus aureusPea soup4,610,4 (60oC)Salmonella senftenbergPea soup5,710,6 (60oC)Lactobacillus plantarumTomato soup12,511,0 (70oC)Listeria monocytogenesCarrots6,70,27 (70oC)Closstridium botulinumNonproteolytic type BNonproteolytic type EBuffer pH 7,0Water9,79,432,3 (82oC)3,3 (80oC)Bacillus cereusBuffer pH 7,010,58,0 (100oC)Bacillus subtilisBuffer pH 6,89,80,57 (121oC)(Carla.1992) Bảng 4.5. Sự kháng nhiệt của các enzyme trong quá trình xử lý nhiệt Enzyme D (phút) z (OC) 232 (1)20 (1)0,82 PeroxydasePolygalacturonaseO(1)0,09 286,85,58,58,3262 diphenoloxydaseLipoxygenaseCatalaseLipaseProtease (1)0,02 8 (1)25 (2)300 (2) Bảng 3 (Carla.1992) Ghi chú (1): xử lý ở 80OC (2): xử lý ở 120OC Bảng 4.6. Giá trị Z đối với sự vô hoạt enzyme và các nhân tố chất lượng của một số thực phẩm GÍA TRỊ Z ENZYME (oC) Lipoxygenase (peas) 8,7 Lipoxygenase (soybean) 6,9 Polyphenoloxidase (mushroom) 6,5 Polyphenoloxidase (plum) 17,6 Chlorophyllase (spinach) 12,2 Peroxidase (potato) 35,0 NHÂN TỐ CHẤT LƯỢNG Thiamine (milk) 29,4 – 31,4 Thiamine (meat, vegetables) 25,0 – 31,3 Chất lượng chung (peas) 28,3 Chất lượng chung (green beans)28,8 Chất lượng chung (bắp) 31,6 Bảng 4 (Carla.1992) Bảng 4.7. Gía trị Z của các nhân tố thực phẩm (tổng quát) NHÂN TỐ GÍA TRỊ Z (oC) Bào tử vi khuẩn 7 –12 Tế bào sinh dưỡng 4–8 Vitamins 25 – 30 Proteins 15 – 37 Enzymes 5 – 50 Chất lượng cảm quan chung25 – 45 Cấu trúc 17 – 47 Màu sắc 17 57 Bảng 5 (Carla.1992) Theo hình 4.3, ta có thể viết: độ dốc của đường thẳng lgt−lgF 121,1−T = 1 Z = lgt−lgF= 121,1−T Z Hay có thể viết lại lg F t = T−121,1 Z F=t.10 T−121,1 z ⇒ Một cách tổng quát, gía trị F được biểu thị : FTrefz=t.10 T−Tref z Tref : nhiệt độ “tham chiếu” tương ứng với quá trình xử lý nhiệt (ví dụ đối với quá trình tiệt trùng thì nhiệt độ đó là 121,1oC, đối với quá trình thanh trùng thì nhiệt độ đó là 100oC...) T : Nhiệt độ xử lý nhiệt (oC) z : tùy thuộc vào loại vi sinh vật cần tiêu diệt và tính chất của sản phẩm. Nói chung, người ta chọn loài sinh bào tử Clostridium botulinum là mục tiêu của quá trình thanh trùng và đại diện cho loài chịu nhiệt, có z = 10oC FTrefz= ∞ ∫ ο 10 T(t)−Tref z .dtTrong trường hợp nhiệt độ thay đổi theo thời gian, người ta ghi nhận T(t), khi đó giá trị F được tính như sau : Nó có ý nghĩa là tính trên tổng thời gian ảnh hưởng tức thời, mà đã được biểu thị bởi gía trị 10 (T Tref)z được gọi là yếu tố Bigelow. Công thức Bigelow cho ta tính được sự phá hủy các bào tử bởi nhiệt trong trường hợp xử lý ở nhiệt độ không cố định. Mục tiêu của quá trình tiệt trùng Bào tử yếm khí Clostridium botulinum là mục tiêu chính trong quá trình chế biến nhiệt vì : Có thể sản sinh ra độc tố làm chết người dù ở liều lượng rất thấp. Có khả năng thành lập bào tử, rất bền nhiệt Clostridium botulinum có thể tìm thấy bất cứ nơi đâu, vì vậy hầu hết nguyên liệu đều nhiễm vi sinh vật này, nên chúng quan hệ mật thiết tới lĩnh vực an toàn thực phẩm Chính vì những lý do trên, Clostridium botulinum được xem là nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm. Để tránh sự bùng nổ về ngộ độc, các nhà chế biến thực phẩm cần : Giảm mật số bào tử Clostridium botulinum đến mức có thể chấp nhận được trong thực phẩm Ngăn cản sự phát triển của Clostridium botulinum (bào tử) và quá trình sản sinh độc tố Trong thực tế rất khó vô hoạt bào tử Clostridium botulinum, vì vậy để tránh hư hỏng đòi hỏi phải xử lý ở nhiệt độ cao, đây là nguyên nhân dẫn đến việc giảm tính chất dinh dưỡng, cảm quan của các thực phẩm, không đáp ứng được đòi hỏi của người tiêu dùng. Chính vì thế, việc ngăn cản hư hỏng thực phẩm thường là hạn chế sự phát triển nhanh của bào tử Clostridium botulinum hơn là vô hoạt. Việc xử lý nhiệt thành công để phá hủy bào tử Clostridium botulinum là kết hợp với nhiều yếu tố (yếu tố bên trong và bên ngoài) như pH, nhiệt độ, oxy, độ hoạt động của nước, phụ gia bảo quản hoặc kết hợp với nhóm vi sinh vật cạnh tranh Bảng 4.8. Các nội và ngoại tác nhân góp phần ngăn chặn sự phát triển của clostridium botulinum Yếu tố bên trong aw : 0,93 (theo FDA, aw < 0,85) pH < 4,6 Phụ gia : Nitrit : 0,1 – 0,2gkg, Muối : < 100gkg Yếu tố bên ngoài Nhiệt độ bảo quảnT < 10oC : Clostridium botulinum dạng A, B; enzyme phân giải proteinT < 3,3oC : Clostridium botulinum dạng B, E, F; không phân giải protein Bảng 6 (Carla.1992) Thông thường bào tử Clostridium botulinum không hình thành và phát triển trong thực phẩm có pH < 4,6. Vì vậy
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT ĐẾN HỆ VI SINH VẬT ĐẤT

TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT ĐẾN HỆ VI SINH VẬT ĐẤT

Hàng năm trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta và các nước trên thế giới, sâu, bệnh, cỏ dại (gọi chung là sâu hại) là mối đe dọa lớn và nếu không được tổ chức phòng trừ tốt, chúng có thể gây tổn thất nghiêm trọng về năng suất cây trồng và chất lượng nông sản. Bởi vì, thiệt hại do các loại sinh vật hại gây nên đối với cây trồng trên đồng ruộng có thể làm giảm 2025% năng suất, có khi lại đến 50%. Để phòng trừ các loại sinh vật hại nói trên, trong những năm qua chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Trong đó, biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp phổ biến và thông dụng nhất trong nền nông nghiệp hiện nay. Theo thống kê năm 2009 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay tại Việt Nam có khoảng 926 tên thương phẩm thuốc trừ sâu và khoảng 400 tên thương phẩm thuốc trừ cỏ, hàng trăm thương phẩm thuốc trừ bệnh nữa... và con số đó sẽ không dừng lại ở đây, cách đây 30 năm, số hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng chỉ có 20 loại. Về chủng loại hóa chất bảo vệ thực vật khá đa dạng, còn về số lượng cũng gia tăng không ngừng. Năm 1980 lượng hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng ở việt nam khoảng 10.000 tấn năm, đầu thập niên 90 thế kỉ XX con số này tăng lên gấp đôi và hiện nay còn khoảng 30.000 tấnnăm. Hầu hết các hóa chất bảo vệ thực vật đều là chất hữu cơ tổng hợp,có tính độc nguy hiểm đối với sinh vật và con người. Chúng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch,cơ quan nội tiết, cơ quan sinh sản ở những mức độ khác nhau và bằng nhiều con đường khác nhau.chúng có thể phân thành các loại rất độc,độc,trung bình và ít độc. Hóa chất bảo vệ thực vật là các hydrocacbua thơm thường rất độc và khá bền về sinh học. Hầu hết các hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng đi trực tiếp vào đất. một số đất có khả năng hấp thụ hóa chất bảo vệ thực vật rất cao. Mới đầu ,trường hợp này có hiệu quả bảo vệ nước ngầm và chuỗi thức ăn,nhưng khi đất hấp thụ mạnh quá và biến đổi sẽ làm gia tăng tính nguy hiểm của hóa chất bảo vệ thực vật đối với sinh vật. sự tồn lưu chất hóa chất bảo vệ thực vật được đo bằng thời gian cần có để chất đó mất hoạt tính hay phân hủy đến 95%.loại bền thời gian phân hủy trên 2 năm, trung bình:118 tháng và không bền từ 12 tuần. thời gian để phân hủy hết 1 nửa gọi là thời gian bán phân hủy. Nhóm hóa chất bảo vệ thực vật là hợp chất hữu cơ bền trong môi trường tự nhiên , có thời gian phân hủy dài. Lượng thuốc bảo vệ thực vật khi ngấm vào đất sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hệ vi sinh vật trong đất. Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng thì có khoảng 50% lượng thuốc tác dụng đến sinh vật gây hại còn khoảng 50% rơi xuống đất. Thuốc BVTV gây tác động rất khác nhau đến quần thể vi sinh vật sống trong đất. Nói chung các hợp chất thuốc bảo vệ thực vật đều thuộc vào loại chất có độc tính, nếu sử dụng tùy tiện sẽ gây ô nhiễm trong môi trường đất. Các hợp chất thường được sử dụng là clo hữu cơ, lân hữu cơ, thuốc trừ sâu sinh học... hầu hết các chất này đều có độc tính cao đối với con người và sinh vật. Các chất bảo vệ thực vật có thể hòa tan trong nước hoặc không hòa tan và được tạo thành dịch nhữ tương phun vào đất. Phần dư thừa trông chờ vào hoạt động của vi sinh vật trong đất phân hủy và làm sạch dần, song nhiều chất trơ rất bền ít bị phân hủy như DDT và 666. Muốn phân hủy 99% một lượng nhỏ DDT trong đất phải mất 30 năm. Do vậy chất này tồn tại rất lâu trong môi trường và khuếch tán rộng trong môi trường, đặc biệt môi trường đất. Các chất bảo vệ thực vật không bị phân hủy sẽ tích lũy ở trong đất và gây độc đối với cây trồng, có tác dụng xấu(có khi diệt) đến hệ vi sinh vật đất. Điều này xảy ra thì thật nguy hiểm vì hệ sinh thái đất có thể bị hủy diệt và rất lâu mới có thể phục hồi được hệ sinh thái này và dù có thể phục hồi lại được cũng không bao giờ được như cũ.
Xem thêm

18 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN VI SINH VẬT MÔI TRƯỜNG

ĐỀ CƯƠNG MÔN VI SINH VẬT MÔI TRƯỜNG

1.đặc điểm, thành phần, cấu trúc, chức năng của vách tế bào2.Sự trao đổi chất qua màng tế bào( các hình thức vận chuyển chất qua màng).- Cơ chế của quá trình lên men rượu, lên men lactic. Ứng dụng3. Sự phân bố của vi sinh vật trong nước4.Cơ chế và tác nhân vi sinh vật của quá trình cố định nitơ5. Vi sinh vật gây bệnh đường ruộtk/nbao gồm những loài nàocơ chế gây bệnh (cách gây bệnh)hậu quả6.Công trình xử lý nước thải hiếu khí trong điều kiện nhân tạo ( cơ sở khoa học, tácnhân vi sinh và sơ đồ)VI SINH VẬTCâu 1: Nêu đặc điểm, thành phần, cấu trúc, chức năng của vách tế bào+ Vách tế bào là lớp ngoài cùng bao bọc vi khuẩn, giữ cho chúng có hình dạng nhấtđịnh, chiếm 15 - 30% trọng lượng khô của tế bào.+ Thành phần hoá học của vách tế bào vi khuẩn rất phức tạp, bao gồm nhiều hợpchất khác nhau như Peptidoglycan, Polisaccarit, Protein, Lipoprotein, Axit tecoic,Lipoit v.v....- Dựa vào tính chất hoá học của vách tế bào và tính chất bắt màu của nó, người tachia ra làm 2 loại Gram+ và Gram-.Gram+: peptidoglycan chiếm gần 90% nên vách tế bào dày, cứng; kích thước. Axittecoic (có 2 loại axit: ribi tecoic và glixerun tecoic) chỉ có trong gram +, nằm rải ráchòa lẫn trong peptidoglycan.Gram- : Có độ dày của vách tế bào dưới 10nm. Peptidoglican rất mỏng chỉ chiếm10-20%. Các thành phần liposaccarit, lipoprotein chiếm 50%.- Với cùng một phương pháp nhuộm như nhau, trong đó có hai loại thuốc nhuộmCristal Violet màu tím và Fushsin màu hồng, vi khuẩn gram + bắt màu tím, vikhuẩn gram- bắt màu hồng.- Nguyên nhân là do cấu tạo thành tế bào của hai loại khác nhau. Ngoài hai loạitrên, còn có loại gram biến đổi (gram variable) có khả năng biến đổi từ gram +
Xem thêm

7 Đọc thêm

Nghiên cứu cơ sở khoa học sản xuất chế phẩm vi sinh vật đa chủng để gieo ươm và trồng thông nhựa (Pinus merkusii Jungh. Et de Vriese) trên đất thoái hoá ở Miền Bắc Việt Nam (TT)

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH VẬT ĐA CHỦNG ĐỂ GIEO ƯƠM VÀ TRỒNG THÔNG NHỰA (PINUS MERKUSII JUNGH. ET DE VRIESE) TRÊN ĐẤT THOÁI HOÁ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM (TT)

MỞ ĐẦU 1. ĐẶT VẤN ĐỀ. Thông là cây trồng Lâm nghiệp, được gây trồng ở hầu khắp các tỉnh trung du và miền núi nước ta. Cây thông được coi là cây loại trồng chủ yếu, với diện tích đứng thứ ba sau bạch đàn và keo. Theo quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/8/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố số liệu hiện trạng rừng toàn quốc năm 2014, diện tích rừng trồng thông các loại là khoảng 400.000 ha (chiếm gần 12% tổng diện tích rừng trồng trong cả nước). Loài thông được trồng chủ yếu là Thông nhựa (Pinus merkusii), cây Thông nhựa mang lại giá trị lớn về mặt kinh tế, xã hội. Các loài cây hạt trần nói chung và thông nói riêng, lông hút ở rễ kém phát triển, nên trong tự nhiên có quá trình cộng sinh bắt buộc với nấm. Sợi nấm giúp cây trồng hấp thụ nước và dinh dưỡng khoáng tốt hơn. Quy trình kỹ thuật gieo ươm thông do Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 1983 đã quy định tiêu chuẩn, chất lượng cây thông con khi xuất vườn phải có nấm rễ. Để đạt được điều đó các cơ sở sản xuất phải sử dụng 10% đất mặt rừng thông đã khép tán trộn với thành phần ruột bầu, để có nguồn nấm cộng sinh. Việc làm này đã gây nên nhiều bất lợi như : nấm cộng sinh không được tuyển chọn; mang theo mầm sâu, bệnh đặc biệt bệnh lở cổ rễ và bệnh rơm lá thông; hệ sinh thái của rừng thông khép tán bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và chi phí lớn. Ở nước ta hiện nay gieo ươm thông tại vườn ươm còn mắc nhiều bệnh như: bệnh vàng còi do cây thông không có nấm cộng sinh, bệnh thối cổ rễ do nấm Fusarium spp. Tỷ lệ cây con bị chết ở vườn ươm do nấm Fusarium spp. gây ra ước tính từ 40% đến 50%. Không những thế năng suất rừng trồng thông hiện nay còn hạn chế, cây thông sinh trưởng phát triển kém, kéo theo sức đề kháng yếu, dễ bị bệnh và sự tấn công của nhiều loài sâu và bệnh. Trên thế giới cũng như ở nước ta, đã sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc vi sinh vật (VSV) để bổ xung vào bầu ươm cây con, cũng như trồng rừng thông, việc làm này đã mang lại lợi ích kinh tế cao hơn và thân thiện với môi trường, nhằm tăng năng suất giá trị của cây trồng và làm giảm hiện tượng thoái hóa đất. Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, có một số thương hiệu phân vi sinh nhưng chủ yếu phục vụ cho phát triển cây Nông nghiệp và cây ăn quả, những loại phân VSV riêng cho cây lâm nghiệp còn ít hoặc rất hạn chế. Phát triển cây Lâm nghiệp và cải tạo đất thoái hoá là cần thiết và quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và đặc biệt là phát triển nghề rừng. Để khắc phục những tồn tại trên tôi tiến hành nghiên cứu luận án “Nghiên cứu cơ sở khoa học sản xuất chế phẩm vi sinh vật đa chủng để gieo ươm và trồng Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh. Et de Vriese) trên đất thoái hoá ở Miền Bắc Việt Nam”. 2. MỤC TIÊU 2.1. Mục tiêu tổng quát - Xác định cơ sở khoa học sản xuất được chế phẩm vi sinh vật đa chủng (gồm nấm ngoại cộng sinh, vi khuẩn sinh IAA và đối kháng nấm gây bệnh, vi sinh vật phân giải phốt phát khó tan và cố định nitơ tự do) để gieo ươm, gây trồng thông nhựa nhằm tăng sinh trưởng, hạn chế bệnh thối cổ rễ và cải tạo đất thoái hoá. 2.2. Mục tiêu cụ thể -Tuyển chọn được chủng nấm ngoại cộng sinh, thuộc loài Pisolithus tinctorius, phân lập và tuyển chọn vi khuẩn nội sinh cây Thông nhựa, có khả năng sinh tổng hợp IAA và đối kháng với nấm Fusarium oxysporum gây bệnh thối cổ rễ cây Thông nhựa; phân lập và tuyển chọn vi sinh vật phân giải phốt phát khó tan và cố định nitơ tự do có hiệu lực cao. - Xác định được đặc điểm sinh học của các chủng VSV tuyển chọn. - Xác định được cơ sở khoa học tạo chế phẩm VSV đa chủng. - Sản xuất được chế phẩm VSV đa chủng có khả năng tăng sinh trưởng, hạn chế bị bệnh đối với cây Thông nhựa ở vườn ươm và rừng trồng, cải tạo đất thoái hoá, bạc màu. 3. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Lần đầu tiên phân lập và tuyển chọn được 2 chủng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens, Bacillus subtilis nội sinh cây Thông nhựa, có khả năng sinh tổng hợp IAA vừa có khả năng đối kháng với nấm F.oxysporum gây bệnh thối cổ rễ cây thông. - Lần đầu tiên phân lập và tuyển chọn được 2 chủng vi khuẩn Burkholderia cenocepacia, Azotobacter beijerinskii có khả năng phân giải phốt phát khó tan vừa có khả năng cố định nitơ tự do. - Tạo chế phẩm vi sinh vật đa chủng cho cây Thông nhựa có khả năng kích thích sinh trưởng, cố định đạm, phòng trừ nấm gây bệnh thối cổ rễ và cải tạo đất thoái hoá bạc màu, thay thế việc sử dụng 10% đất mặt rừng thông khi gieo ươm và thay thế việc sử dụng phân NPK bón lót khi trồng rừng.
Xem thêm

29 Đọc thêm

NHIỄM KHUẨN VÀ TRUYỀN NHIỄM

NHIỄM KHUẨN VÀ TRUYỀN NHIỄM

NHIỄM KHUẨN VÀ TRUYỀN NHIỄMMã bài: XN2. 18.06. Thời lượng: LT: 3tiếtGIỚI THIỆU:Vi khuẩn hàng ngày xâm nhập vào cơ thể con người rất nhiều và bằng nhiềuđường khác nhau, tuy nhiên rất ít vi khuẩn gây được bệnh cho cơ thể vì đường vàokhông thích hợp, sức đề kháng miễn dịch của cơ thể . Như vậy, phải có nhữngđiều kiện nhất định vi khuẩn mới gây được bệnh. Các bệnh truyền nhiễm cũng làbệnh nhiễm khuẩn nhưng có lây từ người này sang người khác. Bài học này nhằmgiúp học sinh biết được quá trình nhiễm khuẩn, các yếu tố gây nhiễm khuẩn và cácbiện pháp phòng bệnh.MỤC TIÊU:Sau khi học xong bài này, học sinh có khả năng:1.Trình bày định nghĩa nhiễm khuẩn và quá trình nhiễm khuẩn.2. Kể được 3 nhân tố quyết định gây nhiễm khuẩn.3. Nêu nguồn gốc bệnh truyền nhiễm và phương thức truyền nhiễm .NỘI DUNG1. Định nghĩaNhiễm khuẩn là sự xâm nhập vào mô của các vi sinh vật gây bệnh dẫn tớisự xuất hiện hoặc không xuất hiện bệnh nhiễm khuẩn. Như vậy nhiễm khuẩn là sựxâm nhập vào tế bào của các vi sinh vật gây bệnh.Trên thực tế, có bệnh nhiễm khuẩn là do nhiễm khuẩn nhưng bị nhiễmkhuẩn chưa chắc đã dẫn tới bị bệnh nhiễm khuẩn. Những vi sinh vật ký sinh trongcơ thể nhưng không xâm nhập vào tế bào thì không gọi là nhiễm khuẩn. Đa sốnhững vi sinh vật này không gây bệnh nhưng khi khả năng đề kháng của cơ thểsuy giảm chúng có thể gây bệnh.Hiện tượng nhiễm khuẩn thường biểu hiện qua 2 giai đoạn:- Giai đoạn 1: Trong quan hệ giữa hoàn cảnh khách quan và cơ thể conngười, có thể có những vi sinh vật có khả năng gây bệnh, có điều kiện phát triểntốt ở môi trường xung quanh, có cơ hội thuận lợi để xâm nhập vào cơ thể conngười. ở đây hoàn cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến vi sinh vật và con người.- Giai đoạn 2: Sau khi vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể con người rồi, hoàn
Xem thêm

8 Đọc thêm

PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC GENE ĐỘC TÍNH CỦA VI KHUẨN Vibrio parahaemolyticus GÂY BỆNH TRÊN TÔM

PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC GENE ĐỘC TÍNH CỦA VI KHUẨN VIBRIO PARAHAEMOLYTICUS GÂY BỆNH TRÊN TÔM

Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) là căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở tôm nuôi. Căn bệnh này có thể được phát hiện quanh năm nhất là vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 khi điều kiện khí hậu thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Gặp điều kiện phù hợp bệnh có thể bùng phát nhanh và phát triển thành đại dịch và gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi tôm. Các triệu chứng ban đầu của tôm bị bệnh như là: lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn. Tôm bệnh thường có xu hướng tách đàn, có thể được nhìn thấy ở mặt ao, gần bờ hay bơi lòng vòng. Tôm bị bệnh chết thường có các biểu hiện: vỏ tôm bị mềm, xuất hiện các vết thương hoại tử, ăn mòn trên vỏ và gan tụy tôm. Nguyên nhân gây bệnh AHPNS được cho là do nhóm vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra. Mục đích của nghiên cứu này là phân lập và xác định vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus từ các mẫu tôm bệnh thu thập được từ các ao nuôi tôm ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ. Bằng việc sử dụng phương pháp sinh hoá và PCR với các đoạn mồi chuyên biệt cho nhóm V. parahaemolyticus như AP3, 16srDNA, và các gen độc tố của nó như là ToxR, tdh, tlh, trh. Kết quả của nghiên cứu này là có một chủng vi khuẩn V. Parahaemolyticus đã được phân lập và xác định, bên cạnh đó các chủng vi sinh vật khác bao gồm Vibrio spp. và staphylococcus cũng đã được phát hiện từ mẫu tôm bệnh. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sâu hơn về sự biểu hiện của các gen độc nhằm xây dựng và phát triển các vaccin điều trị V.parahaemolyticus trên tôm cũng như cho những nghiên cứu tiếp theo về sự đa dạng của các loài vi khuẩn Vibrio ở Việt Nam
Xem thêm

43 Đọc thêm

Khả năng huy động đạm của vi khuẩn 1N trong phân vi sinh Biogro

KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG ĐẠM CỦA VI KHUẨN 1N TRONG PHÂN VI SINH BIOGRO

Lúa là cây lương thực ngắn ngày có giá trị kinh tế và xuất khẩu chính yếu trong nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Vài thập kỷ gần đây, chế phẩm vi sinh vật nói chung và phân vi sinh vật nói riêng đã được người nông dân biết đến (Nguyễn Đường và Võ Xuân Thành, 1999). Hoạt động của bộ rễ lúa làm tiết ra một số chất hữu cơ có tác dụng thu hút vi sinh vật. Vi khuẩn dị dưỡng, vi khuẩn hảo khí không sinh bào tử và Azotobacter tập trung nhiều trên các rễ lúa còn non. Một số nấm và vi khuẩn còn cư trú ở dưới biểu bì của rễ hoặc trên thân, trên lá và trên bông lúa. Từ những năm 1980, vi sinh vật vùng rễ có khả năng kích thích sinh trưởng (PGPR) đã được thừa nhận là có khả năng tăng cường sử dụng dinh dưỡng hiệu quả cho cây lương thực. Hàng loạt các yếu tố phối hợp với nhau như kích thích ra rễ, cố định đạm sinh học, khai thác N và P trong đất giúp cho quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng và phòng trừ sinh học đối với các vi sinh vật đối kháng và gây bệnh tốt hơn đã tạo kiều kiện cho PGPR làm tăng sinh trưởng và tăng năng suất cây trồng (Kennedy and Roughley, 2002).
Xem thêm

4 Đọc thêm

VẮC XIN VÀ HUYẾT THANH MIỄN DỊCH, ĐẠI HỌ Y TÉ CÔNG CỘNG

VẮC XIN VÀ HUYẾT THANH MIỄN DỊCH, ĐẠI HỌ Y TÉ CÔNG CỘNG

thực hiện14TS. BÙI THỊ NGỌC HÀ-BÀI GIẢNG HÓA SINH- KHOA Y HỌC CƠ SƠ , ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG; btnh@hsph.edu.vnCác yếu tố ảnh hưởng đếnhiệu lực vac xin- Bản chất và liều lượng của vacxin: Kháng nguyên có tính sinh miễn dịch mạnh hiệu lựccaovacxin phải được sản xuất từ các chủng vi sinh vật “đủ tưcách đại diện” cho tác nhân gây bệnh.- Đường đưa vacxin vào cơ thể- Các chất phụ gia miễn dịch: hydroxid nhôm (aluminum hydroxide) hoặc phosphatnhôm (aluminum phosphate)Chất phụ gia còn có tác dụng kích thích cơ thể đáp ứngmiễn dịch mạnh hơn.15TS. BÙI THỊ NGỌC HÀ-BÀI GIẢNG HÓA SINH- KHOA Y HỌC CƠ SƠ , ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG; btnh@hsph.edu.vn- Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng được tiêmchủng: Kết quả nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng làm giảm khảnăng đáp ứng miễn dịch, trong đó mức độ giảm miễn dịchqua trung gian tế bào rõ hơn miễn dịch dịch thể. - Kháng thể do mẹ truyền: 
Xem thêm

35 Đọc thêm

BỆNH hôi MIỆNG và các món CANH DƯỠNG SINH

BỆNH HÔI MIỆNG VÀ CÁC MÓN CANH DƯỠNG SINH

PHÂN TÍCH BỆNH LÝ VÀ NGUYÊN NHÂN Hôi miệng là một triệu chứng của nhiều nguyên nhân gây bệnh. Tuy không phải là một tình trạng bệnh nguy hiểm, cần cấp cứu, nhưng hôi miệng gây tác dụng rất lớn đến tâm lý, làm cho người bệnh mặc cảm, thiếu tự tin trong giao tiếp, ảnh hưởng đến sinh hoạt giao tiếp hàng ngày và ảnh hưởng công việc, dễ stress liên tục vì hôi miệng. Từ đó cho thấy bệnh hôi miệng ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công trong giao tiếp xã hội. Hôi miệng hay hơi thở có mùi hôi là do nhiều nguyên nhân gây ra. Có những nguyên nhân khi phát hiện ra sẽ điều trị dễ dàng, nhưng cũng có những nguyên nhân không rõ và kết quả là người bệnh phải chịu đựng chứng hôi miệng trong thời gian dài. Nghiên cứu y học hiện đại cho thấy, hôi miệng là do khả năng miễn dịch của cơ thể giảm, dẫn đến rối loạn chức năng nội tạng, không thể ức chế vi sinh vật gây hôi miệng, làm cho chúng sinh sôi nảy nở, khi đạt đến mức độ nhất định, thể khí sẽ đi vào máu và được máu đưa đến phổi, dạ dày, đi ra ngoài qua miệng. Ngoài ra bệnh hôi miệng còn là dấu hiệu của những bệnh khác.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu về phân lân vi sinh hữu cơ

NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN LÂN VI SINH HỮU CƠ

Phân vi sinh vật (phân vi sinh) là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N,P,K, S, Fe…) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất hoặc chất lượng nông sản. Phân vi sinh vật phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Mật độ vi sinh vật: Ở Việt Nam mật độ vi sinh vật có ích hay nói cách khác mật độ vi sinh vật sống đã được tuyển chọn chứa trong phân bón vi sinh vật phải đảm bảo từ 108109 vi sinh vậtgam(g) hoặc mililit (ml) phân bón vi sinh vật trên nền cơ chất đã được khử trùng hoặc 105106 vi sinh vậtg hoặc ml phân bón vi sinh vật trên nền cơ chất không vô trùng. Một số giống vi sinh vật đang được sử dụng trong sản xuất phân bón vi sinh vật ở Việt Nam như: + Phân vi sinh vật cố định nitơ là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống cộng sinh với cây họ đậu (đậu tương, đậu đen, đậu xanh, lạc…) Acetobacter, Aerobacter, Azospirillum, Azotobacter, Azotomonas, Clostridium, Chlorobidium, Frankia, Pseudomonas, Rhizobium, Rhodospirillium, Pisolithus hội sinh trên vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng nitơ từ không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng. + Phân vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan (phân lân vi sinh) sản xuất từ các vi sinh vật có khả năng chuyển hóa các hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng. Một số giống vi sinh vật khó tan như Achromobacter, Aspergillus, Bacillus, Penicillium, Serratia… + Phân vi sinh vật kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật có chứa các vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học có tác dụng điều hòa hoặc kích thích quá trình trao đổi chất của cây. Một số giống vi sinh vật điều hòa sinh trưởng như Agrobacterium, Anthrobacter, Flavobacterium, VAM. + Phân vi sinh vật chức năng là một dạng của phân bón vi sinh vật, ngoài khả năng tạo nên các chất dinh dưỡng cho đất, cây trồng, còn có thể ức chế, kìm hãm sự phát sinh, phát triển của một số nấm bệnh vùng rễ cho vi khuẩn và vi nấm gây nên. Một số tác nhân ảnh hưởng đến hiệu lực của vi sinh vật như: + Thuốc diệt trừ nấm, trừ sâu: các loại hóa chất xử lý hạt giống, chứa các kim loại nặng như thủy ngân, đồng hay chì đều độc với các vi sinh vật. Do vậy không nên trộn hạt giống đã xử lý hóa chất diệt trừ nấm, trừ sâu với vi sinh vật. Hiện nay chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sự tồn tại và hoạt tính của vi sinh vật có ích. + Các dinh dưỡng khoáng Đạm: Để phát huy hiệu quả của phân bón vi sinh vật cần thiết phải cân đối được khả năng cung cấp dinh dưỡng của vi sinh vật và nhu cầu của cây trồng. Nếu bón quá nhiều phân khoáng sẽ gây nên lãng phí và ngược lại nếu cung cấp không đủ cây trồng sẽ bị thiếu dinh dưỡng . Do vậy khi sử dụng phân bón vi sinh vật nhất thiết phải tuân thủ theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Phân lân: Vi sinh vật phân giải lân có khả năng khoáng hóa lân hữu cơ hoặc chuyển hóa lân vô cơ khó tan thành lân dễ tiêu cung cấp cho đất và cây trồng, nghĩa là chỉ có tác dụng khi có sẵn nguồn lân vô cơ hoặc hữu cơ trong đất. Do vậy khi bón phân hữu cơ vi sinh có vi sinh vật phân giải lân nên bón thêm lân để tăng hiệu quả. Phân kali: Một số loài vi khuẩn có nhu cầu về kali. Vai trò của kali là tạo áp suất thẩm thấu trong quá trình trao đổi chất của vi khuẩn cũng như trong dịch huyết tương của cây trồng. Cần bón đủ kali theo nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây để cây phát triển tốt và các vi sinh vật hoạt động. Độ chua của đất: Vi sinh vật nói chung đều bị ảnh hưởng bởi độ pH đất, hoạt tính sinh học của chúng sẽ giảm trong điều kiện pH thấp vì tác động trực tiếp của pH thấp đến sự sinh trưởng hoặc trao đổi chất. Đất có pH thấp thường ít các nguyên tố Ca, Mg, P, Mo…và chứa nhiều nguyên tố độc hại với cây trồng như nhôm và mangan. Hiện nay đã nghiên cứu tuyển chọn ra nhiều chủng vi sinh vật có dải pH rộng nên có nhiều phân vi sinh vật có khả năng sử dụng cho mọi loại đất trồng với pH khác nhau. Nhiệt độ: Nhiệt độ đất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sống và quá trình sinh tổng hợp các chất sinh học của vi sinh vật. Dải nhiệt độ tốt nhất đối với các vi sinh vật làm phân bón vi sinh khoảng 25350C. Độ ẩm đất: Độ ẩm đất có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp hoạt chất sinh học của vi sinh vật tồn tại trong đất. Thiếu nước vi khuẩn không di chuyển được, đồng thời cũng không sinh sản được. Thiếu nước ngăn cản sự phát triển của cây ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của vi sinh vật. Đa số vi sinh vật sống hiếu khí nghĩa là cần ôxy để sinh trưởng phát triển do vậy nước dư thừa sẽ có hại cho quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng. Phèn mặn: Trên vùng đất khô, phèn mặn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sống của vi sinh vật. Nồng độ muối cao ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc màng tế bào của vi sinh vật, đồng thời tác động đến quá trình trao đổi chất của vi sinh vật. Hiện nay người ta quan tâm nhiều đến việc tuyển chọn các vi sinh vật chịu được nồng độ cao và kết quả đã tạo được một số loại phân bón vi sinh vật có khả năng thích ứng với độ phèn mặn cao. Vi khuẩn cạnh tranh: Trong đất nhất là ở các vùng trồng chuyên canh đặc biệt là độc canh tồn tại rất nhiều vi sinh vật tự nhiên, các vi sinh vật này cạnh tranh với vi sinh vật hữu hiệu và làm giảm hiệu quả của chúng. Do vậy việc tuyển chọn ra các vi sinh vật có khả năng cạnh tranh cao sử dụng cho sản xuất phân bón vi sinh vật được quan tâm và hiện nay Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã tuyển chọn được một số chủng vi khuẩn đáp ứng yêu cầu cạnh tranh cao.
Xem thêm

29 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ NGUY cơ PHƠI NHIỄM với VI KHUẨN SALMONELLA TRONG THỊT gà TIÊU THỤ TRÊN địa bàn hà nội

ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ PHƠI NHIỄM VỚI VI KHUẨN SALMONELLA TRONG THỊT GÀ TIÊU THỤ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Trong các loại thực phẩm sử dụng trong các bữa ăn của người Việt Nam, thịt gà là loại thực phẩm được coi là nhiều dinh dưỡng, dễ tiêu hóa lại phổ biến, dễ mua, dễ chế biến và ngày càng được nhiều bà nội trợ lựa chọn để làm món ăn chính trong gia đình, thậm chí là món ăn dùng để tẩm bổ cho người ốm. Việc sử dụng nhiều hơn thực phẩm có nguồn gốc động vật, đặc biệt là thịt tươi trong các bữa ăn đòi hỏi phải có sự đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tương ứng. Liz Wagstrom (2004) cho rằng những mối nguy về an toàn thực phẩm có thể chia thành 4 yếu tố. Những yếu tố này gồm: các nguy cơ vật lý, các chất độc, kí sinh trùng và vi sinh vật. Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố vi sinh vật trong dây chuyền sản xuất thịt, mỗi công đoạn đều có nhiều nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật vào thịt. Một trong những loại vi sinh vật có khả năng ô nhiễm vào thịt tươi, gây ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền lây qua thực phẩm là vi khuẩn Salmonella spp. Vi khuẩn Salmonella được ghi nhận là nguyên nhân gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm nguy hiểm, đặc biệt tại các nước đang phát triển. Ở các nước này, trường hợp trẻ em dưới hai tuổi nhiễm Salmonella là rất thường gặp, và đôi khi dẫn đến tử vong (WHO 2001). Trong cộng đồng, ô nhiễm thịt gà bị nhiễm Salmonella trong quá trình giết mổ và tiêu thụ có thể là nguyên nhân gây ra từ 30% đến 70% số ca bệnh tiêu chảy (EFSA 2010). Trong quần thể động vật, tỷ lệ nhiễm Salmonella trong các loại thịt gia cầm ở nhiều nước thường có tỷ lệ khoảng 50% trở lên (Little CL và cs., 2008). Theo báo cáo của CDC (2005) hàng năm ở Mỹ có tới 76 triệu lượt người bị các bệnh truyền lây qua thực phẩm, trong đó có tác nhân Salmonella và đã gây thiệt hại 5 – 6 tỷ USD, riêng chi phí cho bệnh truyền lây do Salmonella chiếm tới 1 tỷ USD mỗi năm. Kết quả truy xuất căn nguyên
Xem thêm

69 Đọc thêm

giám định nấm gây bệnh sau thu hoạch trên củ cà rốt (daucus carota l.)

GIÁM ĐỊNH NẤM GÂY BỆNH SAU THU HOẠCH TRÊN CỦ CÀ RỐT (DAUCUS CAROTA L.)

... PHẦN VI SINH VẬT GÂY HẠI TRÊN CÀ RỐT (Daucus carota L.) SAU THU HOẠCH 1.3 ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ NẤM GÂY HẠI TRÊN CÀ RỐT (Daucus carota L.) SAU THU HOẠCH 1.3.1 Nấm Alternaria radicina... hạn chế Chính lí đó, đề tài Giám định nấm gây bệnh củ cà rốt (Daucus carota L.) sau thu hoạch nhằm xác định tác nhân gây bệnh cà rốt sau thu hoạch triệu chứng gây hại loại tác nhân từ tạo điều... nhân gây bệnh sau thu hoạch củ cà rốt, nhận thấy tác nhân Alternaria radicina có khả gây bệnh cuống thịt củ, nấm gây thối toàn củ Nấm Thielaviopsis sp loại nấm ký sinh gây bệnh củ Ba chi nấm Fusarium
Xem thêm

57 Đọc thêm

CHỌN LỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA VI KHUẨN BACILLUS SPP. VỚI VI KHUẨN XANTHOMONAS GÂY BỆNH ĐỐM LÁ TRÊN CẢI NGỌT

CHỌN LỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA VI KHUẨN BACILLUS SPP. VỚI VI KHUẨN XANTHOMONAS GÂY BỆNH ĐỐM LÁ TRÊN CẢI NGỌT

Bệnh đốm lá trên nhóm rau họ thập tự với triệu chứng bệnh điển hình là đốm xanh giot dầu, sũng nước, hơi lõm so với bề mặt lá do vi khuẩn Xanhthomonas sp. gây ra. Bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm đáng kể, đặt biệt trong giai đọan mùa mưa. Thuốc hóa học thường được sử dụng trong phòng trừ bệnh do có hiệu quả cấp tính cao nhưng có nhiều rủi ro cho sức khỏe con người, suy thoái môi tường sinh thái, hình thành tính kháng của các tác nhân gây bệnh và để lại tồn dư trong sản phẩm. Sử dụng các vi sinh vật đối kháng trong việc phòng trừ có nhiều triển vọng, đáp ứng với yêu cầu sản xuất rau an toàn và hướng đến một nền nông nghiêp phát triển bền vững. Trong các vi sinh vật đối kháng, vi khuẩn Bacillus được chứng minh có khả năng đối kháng với nhiều loại nấm như: Rhizoctonia, Sclerotinia, Fusarium, pythium và Phytopthora và một số vi khuẩn khác nhờ vào khả năng sinh ra các chất kháng sinh như: Bacillus cereus sinh ra kháng sinh cerexin và Zwittermicin; B. circulans sinh Circulin; B. licheniformis sinh ra bacitracin; riêng B. subtilis có khả năng sinh ra 4 loại kháng sinh poymicin, difficidin, subtilin và mycobacilin. Mục tiêu: Chọn lọc những dòng vi khuẩn Bacillus spp. đối kháng mạnh với vi khuẩn Xanhthomonas ứng dụng trong phòng trừ bệnh đốm lá vi khuẩn trên cây rau họ thập tự
Xem thêm

5 Đọc thêm

BỆNH TRUYỀN NHIỄM ĐẠI CƯƠNG

BỆNH TRUYỀN NHIỄM ĐẠI CƯƠNG

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH TRUYỀN NHIỄM VÀ SỨC ĐỀ KHÁNG CỦA CƠ THỂ ĐỐI VỚI BỆNH 1.1 Đặc điểm của bệnh truyền nhiễm 1.1.1 Mầm bệnh Bệnh truyền nhiễm có đặc tính chung là có tính chất lây lan và do các vi sinh vật gây nên, các vi sinh vật này được gọi là mầm bệnh. Mầm bệnh có nhiều loại, mỗi loại thường gây nên một loại bệnh có đặc điểm riêng. Mầm bệnh gồn có: Vi khuẩn: tác động gây bệnh bằng nội hay ngoại độc tố hoặc bằng các cơ chế hóa lý khác. Virus: thường có tính hướng về một tổ chức nhất định, do đó nó có những biểu hiện giống nhau ở gia súc khác loài. VD: Virus dại hướng về tổ chức thần kinh trung ương, virus đậu, LMLM hướng về tổ chức thượng bì. Xoắn khuẩn: phần lớn xoắn khuẩn gây nên những bệnh bại huyết, gây sốt định kỳ và xuất hiện định kỳ xoắn khuẩn trong cơ thể. Rickettsia: gây nên những bệnh sốt phát ban do chấy rận truyền đi. Bệnh do rickettsia thường do miễn dịch mạnh và bền. Mycoplasma: gây ra những bệnh lây lan mạnh có hiện tượng mang trùng lâu dài và gây miễn dịch bền vững. Nấm: thường gây nên những bệnh mãn tính và do miễn dịch không bền. Nguyên trùng (protozoa): một số nguyên trùng đường máu, ruột có khả năng gây nên một số bệnh truyền nhiễm. Bệnh không có miễn dịch thực mà chỉ có miễn dịch có trùng. 1.1.2 Hiện tượng nhiễm trùng Khái niệm: hiện tượng nhiễm trùng là hiện tượng sinh vật phức tạp ba82t đầu bằng cuộc đấu tranh giữa cơ thể bị xâm nhiễm và mầm bệnh, kết quả bệnh có thể xảy ra. Điều kiện của mầm bệnh để gây hiện tượng nhiễm trùng: + tính gây bệnh: tính gây bệnh là khả năng cần thiết vốn có của mầm bệnh để gây nên hiện tượng nhiễm trùng. Mầm bệnh thu được khả năng này trong quá trình tiến hóa và thích nghi của nó trên cơ thể súc vật, khả năng này gắn liền với đặc tính ký sinh của mầm bệnh và có tính chuyên biệt. Một loại mầm bệnh chỉ hây được một bệnh nhất định. + Độc lực: là biểu hiện cụ thể của tính gây bệnh. Muốn gây nên hiện tượng nhiễm trùng mầm bệnh cần phải có độc lực, độc lực của mầm bệnh tùy thuộc vào cá thể và loài gia súc. Độc lực của mầm bệnh không cố định dễ bị biến đổi do tác động của cơ thể và ngoại cảnh. + Số lượng: muốn gây được bệnh, mầm bệnh cần phải có số lượng nhất định, có mầm bệnh chỉ cần số lượng ít (VK tụ huyết trùng cần 1 con ở thỏ, 25 VK Brucella ở chuột lang, 200300 triệu VK ở cừu). + Đường xâm nhập: mỗi loại mầm bệnh khác nhau, có đường xâm nhập khác nhau. Một loại mầm bệnh có thể có một hoặc nhiều đường xâm nhập nhưng trong đó vẫn có một đường xâm nhập chính. Đường xâm nhập thích hợp mầm bệnh dễ dàng gây bệnh và bệnh thể hiện điển hình. Phương thức tác động của mầm bệnh: Phương thức tác động của vi khuẩn trên cơ thể động vật chủ yếu gồm 2 mặt: + Sinh sản cực mạnh, chiếm đoạt vật chất của cơ thể ký chủ để phát triển (vi Rus, vi khuẩn nhiệt thán) + Tác động bằng những chất tiết như giáp mô, yếu tố lan truyền hay khuếch tán, công kích tố và các men như: hemolinaza, leucocitinaza, colagenaza…  Độc tố: Ngoại và nội độc tố: Ngoại độc tố: rất độc nhưng dễ bị phá hủy do tác động của nhiệt độ, ánh sáng và hóa chất. Cho formalin vào độc tố, độc tố không còn độc nhưng vẫn còn giữ được tính kháng nguyên. Nội độc tố: là sản phẩm của nhiều loại vi khuẩn, chủ yếu là vi khuẩn Gram âm, khi vi khuẩn bị phá hủy, nội độc tố mới được giải phóng. Nội độc tố không độc bằng ngoại độc tố nhưng bền vững hơn ngoại độc tố. Giáp mô: là yếu tô độc lực của vi khuẩn giúp cho vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào. Công kích tố: là chất vi khuẩn tạo ra trong quá trình sinh sống của chúng để ức chế sức đề kháng của cơ thể đặc biệt là ức chế thực bào.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Cùng chủ đề