CAO ĐẲNG SÂN KHẤU ĐIỆN ẢNH HỒ CHÍ MINH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CAO ĐẲNG SÂN KHẤU ĐIỆN ẢNH HỒ CHÍ MINH":

Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng

ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI SỐNG CÓ TÌNH NGHĨA VÀ VẬN DỤNG VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng Đạo đức hồ chí minh về tình yêu thương con người sống có tình nghĩa và vận dụng vào giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng
Xem thêm

101 Đọc thêm

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 Cơ sở lí luậnTrong cuốn “Trí tưởng tượng sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi” L.X. Vưgotxki đã nói: “Trí tưởng tượng là cơ sở của bất kì hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như nhau trong mọi phương diện của đời sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo khoa học kĩ thuật có khả năng được thực hiện.” Như vậy, tưởng tượng sáng tạo (TTST) có vai trò rất lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. TTST được thể hiện không chỉ trong các vấn đề liên quan đến nghệ thuật (văn học, hội họa, biểu diễn, sân khấu điện ảnh…) mà còn trong các lĩnh vực liên quan đến các ngành khoa học khác như toán học, kinh tế… Thực tế đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về TTST của con người trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống, văn hóa, khoa học… có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của con người cùng nền giáo dục hiện nay và sau này.Giáo dục hiện nay đã và đang hướng đến việc hình thành và phát huy tối đa năng lực của HS, trên cơ sở nhấn mạnh nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Đặc biệt, trẻ em tuổi tiểu học lứa tuổi bắt đầu tiến hành hoạt động học tập, mang đầy tính tò mò, hiếu kỳ và những mơ ước. Chính vì thế, đây là lúc khả năng TTST có điều kiện phát triển. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải có những phương pháp giáo dục và dạy học phù hợp nhằm phát huy tối đa khả năng của các em. TTST tạo ra những hình ảnh mới tươi sáng, hoàn hảo mà con người ta muốn vươn tới, làm giảm bớt những khó khăn, áp lực trong cuộc sống và làm cuộc sống trở nên đẹp hơn, “hồng” hơn, hướng con người ta vươn tới những điều tốt đẹp ở phía trước, hành động để đạt được những điều mình mong muốn. Đối với trẻ em, tưởng tượng sáng tạo giúp cho nhận thức của trẻ trở nên sinh động, phong phú, cuộc sống và học tập của trẻ cũng nhờ vậy mà đạt hiệu quả cao hơn.
Xem thêm

112 Đọc thêm

TĂNG CƯỜNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN LỰC

TĂNG CƯỜNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN LỰC

Đảng ta đều ý thức rõ vai trò của công tác giáo dục lý luận chính trị đối vớisự xác lập, phát huy ảnh hởng của Đảng trong đời sống xã hội, nên hết sứcchú trọng tăng cờng công tác này. Tuy vậy, bớc vào thời kỳ đổi mới, côngtác giáo dục lý luận chính trị của Đảng còn không ít lúng túng, bất cập. Đángbáo động là tình trạng bàng quan chính trị, học tập đối phó, chủ yếu để lấybằng cấp phục vụ quan lộ của không ít cán bộ lãnh đạo - quản lý; tình trạngnon yếu về trình độ, năng lực và phơng pháp giảng dạy của một bộ phậngiảng viên lý luận chính trị; nội dung xơ cứng, chậm thích ứng với thực tiễn;sự chồng lấn chơng trình giữa các bậc học, cấp học và loại hình đào tạo...Bất cập ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân rất cơ bản làthiếu sự nghiên cứu nghiêm túc giá trị t tởng Hồ Chí Minh về giáo dục từđó có sự vận dụng phù hợp và hiệu quả vào công tác giáo dục lý luận chínhtrị các bậc học, cấp học và loại hình đào tạo.Hồ Chí Minh là ngời sáng lập và lãnh đạo Đảng và Nhà nớc ta. Ngờikhông chỉ đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dụcđạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân mà còn lànhà giáo mẫu mực, ngời trực tiếp mở và giảng dạy các lớp lý luận chính trịđầu tiên của Đảng. Hồ Chí Minh đã rút ra những nguyên lý về giáo dục lýluận chính trị và Ngời đã vận dụng nhuần nhuyễn những nguyên lý ấy trongthực tiễn hoạt động cách mạng. Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, lý luậnchủ nghĩa Mác - Lênin đã đợc Hồ Chí Minh nội địa hoá cho phù hợp đặcđiểm tâm lý, trình độ, văn hoá ngời Việt. Với từng đối tợng khác nhau, từcán bộ cao cấp đến cán bộ sơ cấp, từ trí thức đến lao động phổ thông Hồ1Chí Minh đều tìm ra những nội dung, hình thức và phơng pháp tuyên truyềngiáo dục lý luận chính trị phù hợp giúp mọi ngời dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thựchành. Đó là cách làm hoàn toàn khác với kiểu giáo dục lý luận chính trị giáo
Xem thêm

404 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNGMỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BUÔN BÁN LẤNCHIẾM LÒNG LỀ ĐƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNGMỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BUÔN BÁN LẤNCHIẾM LÒNG LỀ ĐƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNGNGUYỄN THỊ NGỌC THẢOLỚP : 12CD-MĐề cươngMỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BUÔN BÁN LẤNCHIẾM LÒNG LỀ ĐƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTân Bình , tháng 4 năm 2014ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNGNGUYỄN THỊ NGỌC THẢOMã số sinh viên :12CD2040025ĐỀ CƯƠNGMỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BUÔN BÁN LẤN CHIẾMLÒNG LỀ ĐƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHHọc phần : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌCNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TH.S NGUYỄN VĂN DŨNGTân bình , tháng 4 năm 2014LỜI CẢM ƠN
Xem thêm

9 Đọc thêm

NGHỆ THUẬT CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG ĐIỆN ẢNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT (QUA TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG, CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN)

NGHỆ THUẬT CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG ĐIỆN ẢNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT (QUA TRĂNG NƠI ĐÁY GIẾNG, CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN)

5cũng nhƣ sự tham gia của các: kịch gia, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ… để biến nhữngcon chữ trong trang văn trở thành những thực thể sinh động, có hồn. Chính vì vậy,mối quan hệ đa chiều giữa văn học và điện ảnh là một thực tế sống động khôngthể phủ nhận. Ngay từ những ngày đầu có mối giao duyên ấy, nhiều nhà lí luận đãkhẳng định: bên cạnh quá trình điện ảnh hấp thụ và cải tiến những kinh nghiệmnghệ thuật của văn học, một hiện tƣợng không kém phần quan trọng là tác độngngƣợc lại rất to lớn của điện ảnh đối với văn học. Nghiên cứu về mối quan hệ này,cuốn Văn học với điện ảnh (Mai Hồng dịch, NXB Văn học, 1961) là cuốn sáchtập hợp những bài giảng của M.Rôm, I. Khây-phít-xơ, E. Ga-bơ-ri-lô-vi-trƣ đãđƣa ra mấy đặc trƣng quan trọng trong việc viết truyện phim, đặc điểm thành phầnvăn xuôi trong truyện phim… nhằm “nâng cao tác dụng của văn học trong điệnảnh, để sáng tạo những truyện phim và những bộ phim kiểu mới thể hiện đời sốngvô cùng phong phú một cách chân thực”. Cuốn sách mới chỉ dừng lại ở mặt gợimở cho những nhà làm phim khi chuyển thể từ tác phẩm văn học chứ chƣa chỉ ramột cách có hệ thống và chuyên sâu mối quan hệ giữa văn học với điện ảnh.Gần đây, cuốn Dẫn luận và nghiên cứu “Điện ảnh và văn học”(Timothy Corrigan) đã chỉ ra khá nhiều điểm đồng thuận cũng nhƣ khác biệtgiữa văn học và điện ảnh trên cơ sở tái hiện một loạt giai đoạn lịch sử, cácphong tục văn hoá và phƣơng pháp phê bình. Phần một phác hoạ những khácbiệt và động lực lịch sử hình thành nên chủ đề, nhấn mạnh những đặc thù vàdi sản theo sau cuộc tranh luận trong suốt những năm 1990. Phần hai, tác giảtrình bày về những khái niệm chủ đạo mà văn học và điện ảnh chia sẻ, cáithƣờng tạo nên đặc thù của mỗi chuyên ngành. Phần ba là trọng tâm cuốnsách, đem đến những tuyên bố chủ đạo về mối quan hệ giữa điện ảnh và vănchƣơng đã xuất hiện. Nhờ vậy, ngƣời nghiên cứu có đƣợc cái nhìn tổng quannhất về mối quan hệ của hai loại hình nghệ thuật này. Tuy nhiên, xét về gócđộ cốt truyện và nhân vật có ý nghĩa nhƣ thế nào trong việc chuyển thể dƣờng
Xem thêm

14 Đọc thêm

Vận dụng tư tưởng tự học của hồ chí minh vào việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường đại học quảng bình

Vận dụng tư tưởng tự học của hồ chí minh vào việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường đại học quảng bình

A. MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài Hồ Chí Minh không chỉ là danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh còn là một nhà giáo dục lớn của thế giới và của dân tộc ta. Hồ Chí Minh đã sáng lập nền giáo dục mới ở Việt Nam, nền giáo dục XHCN. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục đã soi sáng cho cách mạng Việt Nam, trong đó có quan điểm về tự học và chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên tấm gương sáng ngời về tự học, tự giáo dục mà nhiều thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, mặc dù bận với trăm công ngàn việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đặc biệt đến giáo dục nhằm đào tạo những thế hệ trẻ kế tục sự nghiệp cách mạng của cha, anh. Trong hệ thống quan điểm của mình về xây dựng nền giáo dục mới Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, phải chú trọng phương pháp nâng cao năng lực tự học cho người học. Hồ Chí Minh nói: “Phải nâng cao và hướng dẫn tự học’’, “lấy tự học làm cốt” đây là điểm mới, nổi bật của nền giáo dục XHCN. Những luận điểm của Hồ Chí Minh về tự học, tự giáo dục đã định hướng cho Đảng và Nhà nước ta xây dựng một nền giáo dục tiến bộ, theo quan điểm lấy người học làm trung tâm. Từ những năm 70 của thế kỷ XX với tinh thần “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo’’ ở các trường đại học, cao đẳng đã có những chuyến biến tích cực trong việc tăng cường hoạt động tự học của sinh viên. Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão, luôn có sự bùng nổ thông tin. Sự hình thành xã hội thông tin trong nền kinh tế tri thức tạo điều kiện nhưng đồng thời cũng gây sức ép lớn đối với người học. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ngoài giờ học ở trường sinh viên phải biết tự học tập tự nghiên cứu thêm. Điều 40 của luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, nâng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng dụng’’. Từ thực tế học tập của sinh viên ở trường và qua quá trình tìm hiểu hoạt động học tập của sinh viên cùng ngành, chúng tôi nhận thấy chất lượng tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình còn nhiều hạn chế. Nhiều sinh viên còn lúng túng trong việc khai thác tài liệu để ôn tập, củng cố lại những kiến thức đã bị hỏng, đào sâu mở rộng và hoàn thiện kiến thức đã học ở trên lớp. Sinh viên chưa quen nghiên cứu tài liệu ở nhà do đó không rèn luyện được những khả năng tự nghiên cứu một cách độc lập. Mặt khác, một số sinh viên mặc dù đã nắm vững kiến thức lý thuyết về một vấn đề nào đó nhưng khi diễn đạt nội dung khoa học của nó cũng như cần tranh luận hay vận dụng vấn đề đó vào thực tiễn thì tỏ ra lúng túng thiếu chắc chắn, nhiều hạn chế. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh vào việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình ” để làm đề tài nghiên cứu khoa học, hi vọng đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao tự học cho sinh viên sư phạm trường đại học Quảng Bình, giúp nâng cao chất lượng học tập để khi ra trường có được kiến thức vững vàng cho nghề dạy học.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học trong hệ thống tư tưởng về Giáo dục – Đào tạo của Hồ Chí Minh có một số công trình đề cập, như:+ Nguyễn Lân (1990), Hồ Chủ Tịch – nhà giáo dục vĩ đại, Nxb Khoa học và xã hội Hà Nội. Tác phẩm nghiên cứu những luận điểm lớn, ý kiến của Hồ Chí Minh về giáo dục trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.+ Nguyễn Văn Chung (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận dụng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội. Tác phẩm phân tích toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với cách tiếp cách khá mới mẻ. Tác giả trình bày từ nguồn gốc, qúa trình hình thành và phát triển, nội dung cơ bản và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong tình hình mới.+ Hoàng Anh (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay, Nxb
Xem thêm

Đọc thêm

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC DẠ HỘI ĐIỆN ẢNH

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC DẠ HỘI ĐIỆN ẢNH

Tổ chức Dạ hội hoành tráng, thiết thực, sôi động, an toàn và tiết kiệm; mangtính giáo dục cao, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG1. Đơn vị tổ chức- Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng tỉnh Đắk Lắk- Ban Tổ chức 4341 huyện M’Drắk.2. Đơn vị phối hợp:Các phòng ban, xã, thị trấn và các trường học tại huyện M’Drắk.3. Thời gian, địa điểm tổ chứcBắt đầu vào lúc 19h00 đến 23h00, ngày 22/3/2013, tại Sân Vận động huyệnM’Drắk.4. Bối cảnh không gian tổ chức Dạ hội Điện ảnh1- Sân khấu Dạ hội: Trên sân khấu trang trí pa nô với tiêu đề: “Dạ hội Điện ảnh2013”. Hai bên sân khấu lắp một số pa nô phim tạo thành một sân khấu mở.- Trang trí một cây hoa Điện ảnh bên góc phải của sân khấu, 10 bông hoa tươngứng với 10 câu hỏi cho khán giả thi hái hoa Điện ảnh có thưởng.- Trước sân khấu là cây Nêu cột 03 Chóe rượu Cần.- Hai bên cây Nêu đặt ngọn đuốc truyền thống và trống hội.- Giữa sân vận động là lửa trại.- 05 màn ảnh phim nhựa 35ly bao quanh sân vận động, cùng với sân khấu tạothành một vòng khép kín.5. Chương trình Dạ hội Điện ảnhTrước 19h00: Chiếu phim ca nhạca) Phần lễ: từ 19h00 - 19h45+ Văn nghệ chào mừng+ Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu+ Diễn văn khai mạc (Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng Đắk Lắk)
Xem thêm

4 Đọc thêm

CÁC KHÍA CẠNH ĐO LƯỜNG VĂN HOÁ - QUẢN TRỊ ĐA VĂN HOÁ

CÁC KHÍA CẠNH ĐO LƯỜNG VĂN HOÁ - QUẢN TRỊ ĐA VĂN HOÁ

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Từ tương ứng với văn hóa theo ngôn ngữ của phương Tây có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng.[1]. Từ văn hóa trong tiếng Việt là từ gốc Nhật, người Nhật dùng từ này để định nghĩa cách gọi văn hóa theo phương tây[2]. Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh... Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận... Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa. Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người [3]. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất. Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm của người thông minh (Homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính con người không không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên
Xem thêm

53 Đọc thêm

THỂ LỆ GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA LẦN XVIII NĂM 2016

THỂ LỆ GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA LẦN XVIII NĂM 2016

BCH ĐOÀN TP. HỒ CHÍ MINH ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH BAN TỔ CHỨC GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NCKH – EURÉKA LẦN XVIII NĂM 2016 Tp. Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 5năm 2016 THỂ LỆ GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA LẦN XVIII NĂM 2016 (Ban hành kèm theo Kế hoạch liên tịch sốKHLTĐTN ĐHQG, ngày 2016) ____________ Điều 1: ĐỐI TƯỢNG, SỐ LƯỢNG THAM GIA: 1. Đối tượng: Sinh viên hiện đang học tập tại các trường cao đẳng, đại học và học viện trên toàn quốc đều có quyền đăng ký tham gia, theo 2 hình thức sau: cá nhân hoặc tập thể(mỗi tập thể không quá 5 sinh viên), mỗi cá nhân hoặc tập thể có thể đăng ký tham gia 1 hoặc nhiều công trình. Đăng ký tham gia theo đơn vị trường, ban tổ chức không nhận đăng ký tham gia theo tư cách cá nhân gửi trực tiếp cho ban tổ chức Giải thưởng. 2. Số lượng: Nhằm đảm bảo quy trình, chất lượng, số lượng đề tài tham gia, trước khi đăng ký giới thiệu đề tài tham gia Giải thưởng Euréka, nhà trường có trách nhiệm thành lập hội đồng khoa học để chấm thi và đánh giá chất lượng đề tài, chỉ xét chọn đề tài có chất lượng tốt giới thiệu tham gia Giải thưởng. Mỗi ngành trong 1 lĩnh vực dự thi, mỗi trường chỉ được giới thiệu tối đa 10 đề tài có chất lượng cao nhất từ trên xuống tham gia. Điều 2:NỘI DUNG: Giải thưởng dành cho những đề tài công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên. Yêu cầu: Công trình gửi tham gia dự thi phải có tính mới, tính sáng tạo, có khả năng ứng dụng cao và đảm bảo tính khoa học.
Xem thêm

14 Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG MỘT SỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU VÀ TRÒ CHƠI NHẰM TẠO MỘT GIỜ HỌC SINH ĐỘNG Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN THCS

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG MỘT SỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU VÀ TRÒ CHƠI NHẰM TẠO MỘT GIỜ HỌC SINH ĐỘNG Ở BỘ MÔN NGỮ VĂN THCS

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, ngành giáo dục không ngừng tìm ra nhiều giải pháp, trong đó đổi mới phương pháp giảng dạy luôn được quan tâm. Trong một giờ học, học sinh đóng vai trò trung tâm, làm sao phát huy được sự tích cực, chủ động của các em thì giờ học mới thành công. Để làm được điều đó, mỗi giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy của mình. Trong những năm gần đây, dạy và học văn trong nhà trường THCS đã trở thành vấn đề quan tâm của xã hội. Giới báo chí truyền thông, các nhà nghiên cứu, lí luận, nhà chuyên môn, nhà giáo tranh luận liên tục trong các diễn đàn, hội nghị về phương pháp dạy học văn và chương trình sách giáo khoa nhằm đưa ra giải pháp tối ưu để việc dạy học văn đạt hiệu quả. Qua đó, chúng ta cũng thấy được sự nổ lực của ngành giáo dục trong việc nâng cao chất lượng dạy và học văn. Tìm ra phương pháp dạy học sao cho lôi cuốn học sinh học Ngữ văn là vấn đề cấp thiết nhưng không phải dễ thực hiện. Riêng đối với bộ môn Ngữ Văn, một môn học rất đặc thù: “dạy chữ, dạy người” Môn học đòi hỏi: “cái tâm, cái tài và cái tình” của người dạy. Một giáo viên dạy Văn phải như người nghệ sĩ trên sân khấu.Thế nhưng, người nghệ sĩ không phải là một vai diễn mà phải sống và hòa mình vào bài dạy, đau cùng nỗi đau của nhân vật, vui cùng niềm vui của nhân vật, hạnh phúc cùng nhân vật của mình. Chính vì vậy, cách để truyền thụ cảm xúc đến học sinh là yếu tố quan trọng để có một giờ dạy Văn thành công.Trong thực tế giảng dạy của mình, tôi nhận thấy học sinh lứa tuổi THCS rất ham hoạt động, thích khám phá cái mới, nhất là những hình ảnh trực quan, thích được “thể hiện bản thân” thông qua các trò chơi. Các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc Việt Nam ta như: chèo, cải lương, dân ca kịch bài chòi, múa rối nước…lâu nay tuổi thanh thiếu niên còn thờ ơ. Để các loại hình nghệ thuật này “cảm hóa” được các em là một điều trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật. Trong thời lượng một tiết học, có thể cho các em xem, nghe, làm quen và bước đầu cảm nhận cũng là cách để duy trì văn hóa nghệ thuật truyền thống cho giới trẻ. Các loại hình sân khấu ở đây được hiểu là các hình thức biểu diễn trên sân khấu như: múa, chèo, hát đối, ca Huế, nhạc, ngâm thơ, kịch…Nội dung tác phẩm Văn học được người nghệ sĩ tái hiện lại một cách sinh động. Đây còn là cách để học sinh hứng thú hơn trong tiết học của mình. Thiết kế một trò chơi nhỏ cho một phần của bài dạy cũng là một cách để tiết học của mình sinh động, lôi cuốn học sinh. Thông qua trò chơi để khắc sâu kiến thức,những trò chơi ấy còn có tác dụng mở rộng kiến thức thực tế, giáo dục đạo đức cho học sinh và cũng là “dịp’ để giáo viên giới thiệu một số loại hình nghệ thuật sân khấu của dân tộc. Những trò chơi đều sử dụng hình ảnh trực quan sẽ kích thích sự hứng thú cho học sinh. Như vậy, việc sử dụng trò chơi và các loại hình sân khấu mang tính chất bổ trợ cho nhau nhằm mục đích tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Văn. Với đề tài này, tôi muốn giới thiệu một số trò chơi và các loại hình sân khấu vận dụng cho các tiết dạy của mình. Đây là những kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ thực tế giảng dạy. Đó là lí do tôi chọn đề tài: “ Sử dụng một số hình thức nghệ thuật sân khấu và trò chơi nhằm tạo một giờ học sinh động ở bộ môn Ngữ Văn THCS”. Rất mong sự góp ý của quý Ban giám khảo.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Luận văn Làm việc nhóm trong chương trình đào tạo tín chỉ

LUẬN VĂN LÀM VIỆC NHÓM TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ

Vào năm 1872, phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời tại Đại học Harvard, Hoa Kì và sau đó được áp dụng ở nhiều nước khác, trước hết là các nước Tây Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toàn thế giới. Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi trong mọi trường đại học ở Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình như Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan… Ở Việt Nam, từ năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học giảm dần, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chủ trương thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ. Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chế từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang v..v.. Cho đến bây giờ việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ là bắt buộc với tất cả các trường đại học và cao đẳng trên cả nước theo nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ học thứ sáu của Quốc Hội về giáo dục và Quy chế số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ giáo dục và đào tạo về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ.
Xem thêm

56 Đọc thêm

Xã hội học TRONG LĨNH vực tư TƯỞNG văn HOÁ Nơi ở cho sinh viên với việc nâng cao chất lượng học tập” khảo sát cụ thể tại trường đại học công đoàn

XÃ HỘI HỌC TRONG LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ NƠI Ở CHO SINH VIÊN VỚI VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP” KHẢO SÁT CỤ THỂ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN

1 Tính cấp thiết của đề tài: ở nước ta hiện nay quá trình đô thị hóa cùng với dòng di dân nông thôn, thành thị đã tạo nên một sức ép hết sức to lớn,về nhà ở cho các đô thị trong nước, đồng thời sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế, chính trị , văn hóa, giáo dục ... quy mô giáo dục đào tạo ngày càng được mở rộng nhằm đáp ứng ngày càng cao , yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Do vậy số lượng sinh viên cũng tăng nhanh và thường tập trung ở các thành phố lớn ( nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) nơi mà có nhiều trường cao đẳng, đại học. Việc tập trung một số lượng sinh viên tại các thành phổ đã và đang đặt ra những vấn đề xã hội cần phải được quan tâm giải quyết trong đó có vấn để nhà ở cho sinh viên. Mặc dù Nhà nước và bản thân các trường đã có rất nhiều cố gắng song nhà ở cho sinh viên vẫn là một trong những vấn để nan giải. Thực tế trong nhiều năm gần đây, ký túc xá của các trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội đã không được đáp ứng nhu cầu và chất lượng nơi của của sinh viên. Mặt khác trong số nhiều sinh viên theo học tại các trường đại học và cao đẳng có sinh viên ở tại Hà Nội và người thân, sinh viên sống ở ký túc xá chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn và phần đông sinh viên phải ra ngoài thuê nhà trọ. Tuy nhiên nơi ở của ký túc xá và nơi ở của sinh viên thuê trọ hiện nay đang gặp phải những khó khăn về số lượng và chất lượng. Vấn đề đặt ra là chất lượng học tậo của sinh viên ảnh hưởng như thế nào bởi sự tác động của nơi ở và điều kiện nơi ở. Để kiểm nghiệm và đánh giá khách quan tình trạng nhà ở của sinh viên và ảnh hưởng của nó tới chất lượng học tập của sinh viên. Trước yêu cầu về mặt lý luận, thực tiễn, được sự giảng dạy, giúp đỡ của các thầy cô trong khoa tuyên truyền, khoa xã hội học em mạnh dạn chọn đề tài “ Nơi ở cho sinh viên với việc nâng cao chất lượng học tập” khảo sát cụ thể tại trường đại học công đoàn.
Xem thêm

24 Đọc thêm

THỜI XA VẮNG – TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH (DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC)

THỜI XA VẮNG – TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH (DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC)

2. LịCH Sử VấN Đề 2.1. Tự sự học ở Việt Nam Trên thế giới, Tự sự học từ lâu đã không còn là thuật ngữ xa lạ, những vấn đề về lý thuyết đã được định hình thành hệ thống và Tự sự học ngày càng được mở rộng và phát triển. Với những ưu điểm của mình Tự sự học ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc khám phá lí giải thế giới nghệ thuật ngôn từ. Mặc dù thế giới đã đi qua hai giai đoạn của Tự sự học: Tự sự học kinh điển và Tự sự học hậu kinh điển nhưng ở Việt Nam Tự sự họcvẫn còn là một hướng nghiên cứu hết sức mới mẻ. Các vấn đề về dịch thuật, các khái niệm trong cấu trúc truyện kể như điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, phối cảnh trần thuật …vẫn còn phức tạp chồng chéo gây nhiều tranh cãi đặc biệt là các công trình quan trọng của ba nhà Tự sự học lớn R.Barthes, G.Genette, T.Todorov vẫn chưa được dịch thuật một cách hệ thống. Hội thảo Tự sự học đầu tiên do khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức vào năm 2001 (với 76 bản tham luận của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học và cơ quan nghiên cứu văn học trên cả nước tham gia) và tiếp đó là việc xuất bản công trình: Tự sự học –một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2003) đã đánh dấu mốc son chính thức ghi nhận sự xuất hiện của Tự sự học ở nước ta. Sau bảy năm, xuất phát từ nhu cầu lí luận, thực tiễn năm 2008 khoa Ngữ văn tiếp tục tổ chức hội thảo Tự sự học lần thứ với 62 bản tham luận. Bên cạnh các bài viết giới thiệu lí thuyết Tự sự học ở nhiều phương diện còn có các bài viết mang tính ứng dụng cao. Hai cuộc hội thảo đã cho thấy tình hình nghiên cứu Tự sự học ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Có thể coi đây là một hoạt động khoa học quan trọng trong việc xây dựng tiền đề cho ngành Tự sự học ở nước ta. Năm 2010 ban Văn học nước ngoài của Viện văn học đã triển khai thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng. Công trình khoa học này tập trung nghiên cứu tự sự từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dựng ở một số nền văn học như Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và chủ yếu là ở Việt Nam. Một phần các kết quả nghiên cứu đó (Với 10 mục bài được lựa chọn bao gồm cả hai phần lí thuyết và ứng dụng ) đã được tuyển tập trong chuyên đề Tự sự học in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm 2010. Có thể khẳng định rằng công trình khoa học của Viện văn học đã góp phần to lớn tạo nên sự phát triển của ngành khoa học còn khá mới mẻ này. Hiện nay GS Trần Đình Sử chủ nhiệm một đề tài lớn, đầy đủ và toàn diện vềTự sự học mang tên Nafosted tuy nhiên đề tài vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Cho nên xét trên những tài liệu đã được công bố thì có thể thấy tuy đến Việt Nam khá muộn nhưng Tự sự học đã được các nhà khoa học nước ta đón nhận và hưởng ứng rộng rãi với một tâm thế chủ động và bước đầu đã gặthái được những thành công đáng trân trọng. Trước hết các nhà nghiên cứu của ta đã nỗ lực dịch và giới thiệu những vấn đề lý thuyết Tự sự học trên các phương diện như lịch sử phát triển, các xu hướng, các khái niệm Tự sự học đương đại…Có thể kể đến các công trình dịch thuật như Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc dịch; Cơ sở của kí hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch; Thi pháp văn xuôi của T.Todorov do Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch; Dẫn luận về Tự sự học của Susanna Onega và J.A.Garcia Landa do Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch; Diễn ngôn mới của truyện kể của G.Genette do Lê Phong Tuyết trích dịch; Hai nguyên tắc của truyện kể của T.Todorov do Phùng Ngọc Kiên dịch;Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes do Tôn Quang Cường dịch; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX của nhóm những nhà nhiên cứu Nga do Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch...Những nghiên cứu trên mang ý nghĩa chủ yếu là giới thiệu lí thuyết Tự sự học dù bước đầu còn mới mẻ và ở các cấp độ khác nhau nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu.Vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung vào một số điểm cơ bản sau đây: 1Lịch sử quá trình phát triển và mục đích của Tự sự học khi xác định văn học như là đối tượng nghiên cứu cơ bản và chủ yếu, xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm Tự sự học; 2 Giới thiệu những vấn đề cơ bản của lí thuyết Tự sự học hiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật. Song song với việc biên dịch, giới thiệu, việc vận dụng lí thuyết Tự sự học vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triển khai một cách sâu rộng. Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu công phu 20 năm (19812001) của GS Trần Đình Sử mang tên Thi pháp truyện Kiều. Công trình Những vấn đề thi pháp của truyện của tác giả Nguyễn Thái Hòa xuất bản năm 2000. Năm 2008, tác giả Đào Duy Hiệp cho ra mắt tác phẩm Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại. Ở quy mô nhỏ hơn lí thuyết Tự sự học đã được các tác giả vận dụng khi tìm hiểu các tác phẩm trong và ngoài nước in trên các báo, tạp chí và đặc biệt là in chung trong hai cuốn sách Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do nhà xuất bản Đại học Sư phạm phát hành. Ngoài ra lý thuyết Tự sự học cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ đã cho thấy Tự sự học ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu nước nhà.Tự sự học là môn khoa học rất phức tạp bao gồm nhiều vấn đề do đó dẫn tới sự phong phú trong các đề tài nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu có thể chọn nhiều cách thức khác nhau như chọn một vấn đề trong cấu trúc tự sự (người kể chuyện, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian…) hoặc có thể tổng hợp nhiều vấn đề (nghệ thuật tự sự, thế giới nghệ thuật…). Tuy nhiên nghiên cứu Tự sự học ở Việt Nam chủ yếu tập trung ởTự sự học văn học rất ít đề tàimở rộng nghiên cứu Tự sự học trong các lĩnh vực khác đặc biệt là Tự sự học điện ảnh. Vì vậy Tự sự học điện ảnh chưa được ý thức rõ là một môn khoa học riêng biệt, nó chỉ được coi như sự mở rộng của Tự sự học văn học mà thôi. 2.2. Điện ảnh xuất hiện khi các loại hình nghệ thuật khác như văn chương, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu đã phát triển đến độ chín. Vì vậy điện ảnh có cơ hội kế thừa, tiếp thu những phương tiện nghệ thuật sẵn có đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới, hiện đại và phong phú. Thành công của tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật cùng với các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong các loại hình nghệ thuật thì văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành. Mối quan hệ giữa văn học và điệnảnh thể hiện rõ nhất qua hiện tượng phim chuyển thể. Chưa ai có thể thống kê nổi con số khổng lồ về những tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim. Chỉ biết rằng hầu hết các tác phẩm văn chương ưu tú của các dân tộc khác nhau, các thời đại khác nhau đều đã một lần hoặc hơn một lần được sống đời sống thứ hai trong ngôi nhà của nàng Muydơ thứ 7. Mặc dù phim chuyển thể xuất hiện từ sớm cùng với sự phát triển của điện ảnh nhưng lí thuyết về nó thì chưa nhiều chủ yếu là xuất hiện rải rác trên các báo, tạp chí. Nói về hiện tượng chuyển thể trước hết phải kể đến công trình “Bàn về cải biên tiểu thuyết thành phim” của Hạ Diễn, Mao Thuẫn và Dương Thiên Hỷ. Trong tác phẩm đó các tác giả đã bàn về các vấn đề montage, âm thanh trong điện ảnh đặc biệt là sự chuyển thể từ tiểu thuyết sang kịch bản điện ảnh. Tác phẩm đã cung cấp những hiểu biết cơ bản để chuyển thể một cuốn tiểu thuyết thành phim. Tác giả Nguyễn Mai Loan có bài “Các cấp độ chuyển thể” in trên Tạp chí Điện ảnh ngày nay số 124 năm 2005. Trong bài, người viết đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc về hiện tượng chuyển thể và khẳng định xu hướng chuyển thể sát nguyên bản vẫn được số đông các nhà điện ảnh Việt Nam ưa chuộng từ xưa tới nay. Đi vào cụ thể hơn của hiện tượng chuyển thể trong một bài viết khác mang tiêu đề“Phim chuyển thể tiểu thuyết” đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 6 năm 2005 tác giả Nguyễn Mai Loan đã đi tới khẳng định “khi chuyển thể các nhà làm phim phải nỗ lực tìm sự tương đương từ các từ ngữ đến hình ảnh…phải nắm được phong cách của tiểu thuyết, nhà làm phim phải đưa được hơi thở của cuộc sống ẩn sâu trong văn bản tự sự lên màn ảnh lớn” 40;76 Nhìn từ lí thuyết liên văn bản tác giả Lê Thị Dương có bài “Vấn đề chuyển thể văn học – điện ảnh từ góc độ liên văn bản” (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 11012). Đây là bài viết thể hiện cái nhìn bao quát sâu rộng về hiện tượng chuyển thể. Cung cấp cho người đọc những hiểu biết căn bản về hiện tượng chuyển thể là gì, các cấp độ của chuyển thể, montage – thủ pháp đặc trưng trong điện ảnh. Ngoài ra chuyển thể văn học sang điện ảnh đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, trong các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp tiêu biểu như: luận án “Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh” của Phan Bích Thủy, ĐHSP thành phố HCM; luận văn thạc sĩ “Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự) của Đỗ Thị Ngọc Diệp, ĐH KHXHNV; Trong khóa luận tốt nghiệp“Bước đầu tìm hiểu hoạt động chuyển thể tác phẩm văn học trong sáng tạo điện ảnh (Khảo sát qua một số bộ phim Việt Nam đương đại) của Nguyễn Thu Hồng, ĐHSPHN… 2. 3. Tác phẩm “Thời xa vắng” và phim chuyển thể cùng tên Lê Lựu viết Thời xa vắng từ 1984 nhưng đến 1986 tác phẩm mới ra mắt độc giả. Từ khi ra đời đến nay tác phẩm đã được tái bản nhiều lần. Ban đầu nó là đối tượng tranh luận sôi nổi của giới phê bình sau đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học chuyên sâu. Theo dõi qúa trình nghiên cứu nhìn chung Thời xa vắng được giới chuyên môn đánh giá cao.Họ đều khẳng định những đóng góp lớn lao của Lê Lựu và vị trí quan trọng của tác phẩm trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà thời kì đổi mới. Tiêu biểu là các bài viết: Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời xa vắng” của Nguyễn Văn Lưu; Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình của Đỗ Tất Thắng; Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến; Suy tư từ một “Thời xa vắng” của Nguyễn Hòa; Một đóng góp vào việc nhận diện con người Việt Nam hôm nay của Vương Trí Nhàn; Lê Lựu thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; Thời xa vắng một tâm sự nóng bỏng của Lê Thành Nghị…Các nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm này có “cách nhìn hiện thực mới”, vấn đề đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc đó là nhu cầu nhận thức lại thực tại. Tác phẩm đã thẳng thắn đề cập đến những mặt trái, mặt xấu của xã hội, điều mà trước năm 1975 văn xuôi của ta không dám nói, chưa được nói do nhu cầu của lịch sử cũng như sự vận động của thực tại đời sống. Lê Lựu cũng như các nhà văn cùng thời đã chú ý lắng nghe những âm thanh của cuộc đời để thể hiện sinh động hơn, tập trung hơn trong tác phẩm của mình. Đánh giá về tác phẩm này nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu đã nhận định: “Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận và đánh giá lại thực tại” 42;588. Tác phẩm đã “khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không nói tới”20;604. Nói về cuốn tiểu thuyết của mình Lê Lựu đã từng bộc bạch: “Cả một thời kỳ dài từ những năm đầu chiến tranh cho đến những năm đầu 80 người ta không nói đến cái bi kịch riêng. Tôi muốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể với niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ, có cái được và cái mất”. Tuy nhiên để làm nên tiếng vang cho Thời xa vắng không thể không kể đến những đóng góp nổi bật trên khía cạnh nghệ thuật. Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đặc biệt chú ý đến cách sử dụng các câu văn “lùa thùa có khi mềm và rối như bún nhưng lại rất được” 17;603 của Lê Lựu; PGS La Khắc Hòa lại quan tâm đến vấn đề người trần thuật của cuốn tiểu thuyết:“…lúc nào nó cũng lắm lời, lời kể của nó đã lùa thùa, dài dòng mà cái luận đề lộ rất rõ…”34;66. Bên cạnh đó giọng văn trần thuật cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Thiếu Mai cho rằng “cách nhìn thấu đáo của anh, tấm lòng thiết tha của anh đã thể hiện đầy đủ ở giọng văn, giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan không thêm bớt tô vẽ đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục hấp dẫn của tác phẩm”51;344. Cũng nhận xét về giọng văn PGS La Khắc Hòa lại tìm thấy ở tác phẩm chính là giọng giễu nhại rất độc đáo. Ông viết như sau: “Nó không cần sử dụng những thủ pháp lạ hóaquen thuộc như phóng đại hay vật hóa hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười. Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được một hình tượng giễu nhại. Nhờ thế lời văn của Thời xa vắng khi thì như bông đùa lúc lại xót xa, chì chiết nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng chủ đạo của nó”34;67. Mặc dù các ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại đều thống nhất cho rằng Thời xa vắng là một tác phẩm “đi tìm lại những giá trị từng bị đánh mất, từng bị lãng quên” là sự khái quát lịch sử bằng số phận của một cá nhân. Tác phẩm xứng đáng đưa Lê Lựu trở thành người tiên phong trong quá trình đổi mới nền văn học dân tộc. Gần đây một số báo cáo khoa học, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các khía cạnh của cuốn tiểu thuyết như: Thời xa vắng của Lê Lựu và tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975 (Thái Thị Mỹ Bình, ĐHSPHN), Đối thoại trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) của Phạm Thị Thúy Vinh, ĐHSPHP… Nhận ra được ý nghĩa sâu sắc ấy của tác phẩm đạo diễn Hồ Quang Minh đã quyết tâm chuyển thể cho nó sống đời sống thứ hai ở lĩnh vực điện ảnh. Đồng thời cũng là để hoàn thiện bộ ba phim nói về chủ đề thân phận con người trong và sau chiến tranh ở Việt Nam qua ba miền đất nước như mong muốn của ông:Con thú tật nguyền, Bụi hồng và Thời xa vắng. Bộ phim Thời xa vắng ngay từ khi khởi quay đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí, về tuyển chọn diễn viên, về xây dựng bối cảnh…trong quá trình quay phim. Tuy nhiên bằng sự nỗ lực hết mình của đạo diễn, sự giúp đỡ tận tình của nhà văn Lê Lựu, sự cố gắng của cả đoàn làm phim cuối cùng bộ phim cũng hoàn thành và đưa vào công chiếu gây được tiếng vang trong lòng khán giả và sự quan tâm của giới báo chí. Hàng loạt các bài viết về bộ phim như: Lận đận Thời xa vắng (Thanh Tân); Thời xa vắng –“mối nhân duyên”giữa nhà văn Lê Lựu và đạo diễn Hồ Quang Minh của Bùi Huyền Dung; Một thoáng với đoàn làm phim Thời xa vắng của Bùi Thị Huyền;Nhà văn Lê Lựu với phim Thời xa vắng của Phan Thúy Thảo; Gặp tác giả Thời xa vắng của Lê Lương Giang, Thời xa vắng – bộ phim chắp cánh cho văn học thăng hoa của Phan Bích Thủy…Tuy nhiên các bài viết chỉ mang tính chất như các bài phỏng vấn hay bài nghiên cứu nhỏ lẻ chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu nghiêm túc về bộ phim dưới khía cạnh của khoa học chuyên sâu. Mặc dù vậy có một điểm chung đó là giới chuyên môn có đánh giá cao về bộ phim, một trong số đó là nhà phê bình Ngô Minh Nguyệt,tác giả đã từng khẳng định như sau: “Thời xa vắng làm sống dậy bức tranh quê hồn hậu với những con người bình dị đã sống cách chúng ta nửa thế kỷ, những phong tục, lối sống…Thời xa vắng trau chuốt trong từng cảnh quay với những khuôn hình đẹp. Thời xa vắng cũng làm người xem day dứt, se lòng trước những đau thương của nhân vật truyện”. “Thông qua tấn bi kịch của cuộc đời Sài từ khi mới lên mười đến lúc về già là cả bức tranh xã hội hiện lên chân thực. Đây là chủ kiến của đạo diễn khi ông nói rằng với bộ phim Thời xa vắng ông coi trọng yếu tố chân rồi mới đến thiện và mỹ. Cái không khí thời đại ẩn vào trong từng nếp nghĩ, chi phối đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất”55;4.
Xem thêm

133 Đọc thêm

ĐỀ TÀI KIỂM TRA MÁC THÉP BẰNG TIA LỬA MÀI

ĐỀ TÀI KIỂM TRA MÁC THÉP BẰNG TIA LỬA MÀI

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG-------------------------------------------BÀI BÁO CÁOKIỂM TRA MÁC THÉP BẰNG TIA LỬAMÀIMÔN: VẬT LIỆU HỌCSINH VIÊN THỰC HIỆN:- VĂN TIẾN ĐẠT- NGUYỄN ĐOÀN LÂM- NGUYỄN ANH THIẾT- TRƯƠNG VĂN TIỂN- VIÊN TIỂU BẢOMỤC LỤC11. Các phương pháp kiểm tra hoa lửa.I.1I.2I.3Phương pháp thông thường dùng đá mài.Phương pháp dùng khí nén.Phương pháp kiểm tra tự động.2.Đặc điểm hoa lửa thép cacbon.2.1 Hoa lửa thép cacbon.2.2 Hoa lửa của thép hợp kim.
Xem thêm

17 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MÁY VẮT SỔ Ở KHOA MAY THỜI TRANG Ở TRƯƠNG CAO ĐĂNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG TPHCM

ĐỀ CƯƠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MÁY VẮT SỔ Ở KHOA MAY THỜI TRANG Ở TRƯƠNG CAO ĐĂNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG TPHCM

Tân Bình, tháng 4 năm 20142LỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập . nghiên cứu và hoàn thành đề cương, tác giả đãnhận được sự động viên , giúp đỡ tận tình , tạo điều kiện thuận lợi của các cấplãnh đạo , quý thầy cô , các bạn trong khoa và gia đình.Tác giả xIN chân thành cảm ơn tất cả quý giảng viên Trường Cao đẳngKỹ thuật Lý Tự Trọng đã tạo điều kiện tổ chức , giúp đỡ , giảng dạy , hướngdẫn nghiên cứu khoa học trong quá trình học của học phần nghiên cứu khoahọc của chúng tôi.Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TH.S NGUYỄNVĂN DŨNG người hướng dẫn khoa học , đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức ,phương pháp nghiên cứu , năng lực tư duy và trực tiếp giúp đỡ tác giả hoànthành đề cương.Xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân, gia đình đã động viên ,hỗ trợ chúng tôi trong quá trình học tập.Mặc dù hết sức cố gắng , nhưng đề cương không tránh khỏi nhữngthiếu sót , tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy côgiáo và các bạn trong khoa.Xin chân thành cảm ơn!TP.Hồ Chí Minh , tháng 4 năm 2014Tác giảLÊ THỊ MINH GƯƠNG3
Xem thêm

10 Đọc thêm

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã kýTuyên ngôn Boglona nhằm hình thành không gian Giáo dục đại học Châu Âu(European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dungquan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng HCTC (European CreditTransfer System-ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi choviệc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sv trong khu vực châu Âu và ưênthế giói. Như vậy, có thể nói từ cuối thế kỉ XIX, hệ thống CTĐT theo HCTC đã đượcnghiên cứu cho đến đầu thế kỉ XX thì được phát triển rộng ở châu Âu và một số nướcchâu Á.1.1.2. Ở Việt NamTrước năm 1975, một số trường đại học đã áp dụng phương thức đào tạo theoHCTC như Viện Đại học cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức ....Năm 1993-1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích các trường đại họcnhư Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt, Đại học Dânlập Thăng Long, Đại học Xây dựng Hà Nội...........thí điểm đào tạo theo HCTC vàbước đầu đã thu được những kết quả nhất định.14Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận thấy được vai trò và hiệu quả của cách thứcđào tạo này và chỉ thị yêu cầu các trường đại học triển khai đào tạo theo HCTC vàphải hoàn thành vào năm 2010. Đen nay, các trường đại học đã áp dụng phương thứcđào tạo theo hệ thống tín chỉ nhưng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đặcbiệt là các trường thuộc khối nghệ thuật.Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội đã bắt đầu thực hiện phươngthức đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm 2014, đây là một bước đi đã tác động và làmthay đổi nhiều khâu, nhiều bộ phận trong hoạt động đào tạo của trường. Những thayđổi đó mặc dù mới chỉ là những bước đầu tiên và mới chỉ dừng lại ở hình thức vớinhiều hạn chế, bất cập, song về cơ bản là đúng hướng.
Xem thêm

117 Đọc thêm

ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”

ĐỀ TÀI “VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ QUẢNG NINH”

ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được triển khai sâu, rộng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Do đó, đòi hỏi lực lượng lao động được đào tạo cơ bản theo hướng vừa “hồng”, vừa chuyên. Nghĩa là vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức, vừa có năng lực chuyên môn nghề nghiệp cao, sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn. Để đáp ứng yêu cầu trên, cần phải có sự đầu tư cả về qui mô và chất lượng, trong đó trách nhiệm quan trọng trước hết thuộc về ngành giáo dục và đào tạo. Đại hội XI khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Trong đó, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [24, 126]. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng gắn lý luận với thực tiễn là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đây là nhiệm vụ quan trọng không chỉ đối với đội ngũ giảng viên mà cả đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và toàn xã hội. Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học chính là thực hiện nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội, với sản xuất và trong từng môn học, rèn luyện năng lực sáng tạo nhằm nâng cao năng lực thực tiễn của người học. Đây là nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong thực tế việc dạy học các môn lý luận Mác - Lênin nói chung và môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng chưa thực sự tích cực, sáng tạo, trong việc phát hiện, tìm tòi, vận dụng vào thực tiễn, nên đã làm cho quá trình tiếp ĐỀ TÀI : “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạ y học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” 2 thu tri thức của sinh viên trở nên nặng nề và thụ động. Các kiến thức cơ bản về lịch sử cũng như về chính trị, kinh tế và xã hội chưa được sinh viên hiểu và vận dụng một cách có hiệu quả. Nội dung bài giảng của các giảng viên còn nặng về lý thuyết, ít được lý giải, minh chứng bằng thực tiễn sinh động. Thực trạng đó đã tác động không nhỏ tới thái độ sinh viên trong việc tiếp cận môn học. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi trong quá trình giảng dạy cần có sự gắn kết giữa nội dung của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn sinh động, qua đó sinh viên sẽ được rèn luyện kỹ năng, được giáo dục thái độ, hành vi ứng xử trong những tình huống thực tế, những biến đổi lớn lao của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Mặt khác, với một trường mang tính chất đặc thù cao như trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh, sinh viên là những người có xu hướng theo chuyên ngành đào tạo, vì thế, những bài học mang tính chất lý luận với các phương pháp truyền thống không tạo được tâm lý hứng thú cho sinh viên cả trong quá trình nghe giảng cũng như tự học, tự nghiên cứu. Điều này đã làm giảm sự ham muốn nghiên cứu của sinh viên, thậm chí tạo ra tâm lý sợ học môn này, sinh viên sẽ có những suy nghĩ chống đối học là để thi cho qua. Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi trong quá trình dạy học, đặc biệt với tư tưởng Hồ Chí Minh phải có sự gắn kết giữa nội dung (lý luận) của môn học với thực tiễn đời sống. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành lý luận và phương pháp giảng dạy giáo dục chính trị là cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu Đổi mới giáo dục Đại học, Cao đẳng là một trong những chủ đề nóng ĐỀ TÀI : “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạ y học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” 3 hiện nay ở Việt Nam. Trên nhiều diễn đàn, vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, gắn nội dung dạy học với thực tiễn cuộc sống là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cũng như chính đội ngũ cán bộ, giảng viên. Tiêu biểu cho ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh” ĐỀ TÀI “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”
Xem thêm

136 Đọc thêm

HUONG DAN CHUYEN DE MON HOC

HUONG DAN CHUYEN DE MON HOC

huong dan chuyen de mon hoc, đồ án đại học cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HCM Địa chỉ : Số 12 Nguyễn Văn Bảo, Phường 4, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh Điện thoại: 083.8940 390 Fax: 083.9940 954

6 Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học trình độ đại học hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn

Khoa giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sài Gòn, ngoài việc đào tạo chính quy lực lượng giáo viên tiểu học còn có nhiệm vụ đào tạo liên thông cho đội ngũ giáo viên ở các quận huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh từ trình độ cao đẳng lên trình độ đại học.

Đọc thêm

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC KỸ THUẬT CHO GIÁO SINH CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC KỸ THUẬT CHO GIÁO SINH CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT

Hồ Chí Minh, tháng LUẬN VĂN THẠC SĨ Hƣớng dẫn khoa học: NGÔ THỊ THU HƯƠNG KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC KỸ THUẬT CHO GIÁO SINH CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ[r]

110 Đọc thêm

Cùng chủ đề