QUAN NIỆM CỦA C MÁC ĂNGGHEN VÀ LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUAN NIỆM CỦA C MÁC ĂNGGHEN VÀ LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI":

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VE CONG TAC CAN BO TƯ TƯỞNG CỦA V I LÊNIN VỀ CÁN BỘ, CÔNG TÁC CÁN BỘ,

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VE CONG TAC CAN BO TƯ TƯỞNG CỦA V I LÊNIN VỀ CÁN BỘ, CÔNG TÁC CÁN BỘ,

MỞ ĐẦU Cán bộ, công tác cán bộ và công tác bảo vệ Đảng là một trong những vấn đề có tầm quan trọng quyết định đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Bởi vì, cán bộ là người góp phần tích cực vào quá trình xây dựng tổ chức đảng, giữ gìn và cụ thể hoá, phát triển, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Bảo vệ Đảng góp phần làm cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu những tư tưởng làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” C.Mác đã khẳng định: Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn1, tr181. C.Mác và Ph.Ăngghen đã thấy rõ vai trò quan trọng của công tác bảo vệ Đảng, liên quan đến sự tồn tại, phát triển của Đảng và sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trong thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc. V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, rất coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cho đảng công nhân dân chủ xã hội Nga: Những nhà chính trị của giai cấp, những nhà chính trị vô sản. Để lật đổ chế độ Nga Hoàng, ngay từ ngày thành lập Đảng, V.I.Lênin đã coi trọng cán bộ và công tác cán bộ, công tác bảo vệ Đảng. Người đã đấu tranh bền bỉ không khoan nhượng với bọn cơ hội phản động, nhất là bọn Menêvích trong Đảng, xây dựng Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga trở thành một Đảng kiểu mới. Đây là một nhân tố quyết định đi đến thành công của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Những tư tưởng của V.I.Lênin về cán bộ, công tác cán bộ và công tác bảo vệ Đảng được đề cập một cách toàn diện và sâu sắc qua các tác phẩm trước cách mạng Tháng Mười như: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao?; Làm gì?; Một bước tiến, hai bước lùi; Nhà nước và cách mạng; Hai sách lược của Đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ. Ngoài ra, những tư tưởng này của V.I.Lênin, còn đề cập rất nhiều trong các tác phẩm khác. Những tư tưởng đó của V.I.Lênin, là kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Những tư tưởng của V.I.Lênin về cán bộ, công tác cán bộ và công tác bảo vệ Đảng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn. Những tư tưởng đó, đã chỉ ra cho các Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga lúc bấy giờ và các Đảng Cộng sản trên thế giới sau này những cơ sở vững chắc để xây dựng một chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Những tư tưởng thể hiện ở vị trí, vai trò của cán bộ; công tác lựa chọn, sử dụng, đào tạo cán bộ,... Đó là những nhân tố cốt lõi để Đảng Cộng sản có đủ lực lượng và sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành. Đồng thời đem tình hình báo cáo cho Đảng và Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng9, tr269. Hồ Chí Minh cho rằng để hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang, Đảng phải vững mạnh, để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng thì phải tiến hành công tác bảo vệ Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nhiệm vụ này cùng với công tác cán bộ có tính quyết định đối với quá trình tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.
Xem thêm

36 Đọc thêm

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TRẦN LÊ BẢO KHÁNH TCHH K15 1

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TRẦN LÊ BẢO KHÁNH TCHH K15 1

hướng XHCN. Trong suốt chặn đường đổi mới đã qua, chúng ta đã khẳng địnhhướng đi của mình là một lựa chọn đúng đắn. Khẳng định này thể hiện rõ nétqua những thành tựu to lớn đã đạt được thời gian đổi mới trên tất cả các lĩnhvực đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội.2.2.1. Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trườngĐạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của ý thức xã hội,một mặt bị quy định bởi cơ sở hạ tầng của tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng cótính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồntại xã hội. Vì vậy trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa đạo đức có vai trò rất to lớn.Một là, đạo đức góp phần định hướng mục tiêu chủ nghĩa xã hội.Hiện nay nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướngxã hội chủ nghĩa. Ở đây xã hội mới không phải là sự cộng sinh giữa chủ nghĩatư bản và chủ nghĩa xã hội mà là sự phản ánh tổng thể các mối quan hệ biệnchứng của các nhân tố xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu củasự định hướng, vừa hiện diện từ đầu ngay trong sự định hướng đó với biểuhiện là những nhân tố hợp thành mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Những nhântố đó là “nhà nước của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo,cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng”, “tăng trưởng kinh tế gắn liền vớitiến bộ và công bằng xã hội”.Như vậy, mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa của cách mạng nước tađồng nhất với mục tiêu của chủ nghĩa nhân đạo là làm cho mọi người đều cócơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Hai là, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,ngay từ trong bản chất đã chứa đựng yếu tố luân lý đạo đức.HV: Trần Lê Bảo Khánh10
Xem thêm

27 Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ - vận DỤNG QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về mối QUAN hệ GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ - vận DỤNG QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về mối QUAN hệ GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ TRONG PHÁT HUY VAI TRÒ của hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội. Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị xã hội của đất nước. Do hạn chế về nhận thức, vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cho nên nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải những sai lầm trong quá trình cải tổ, đổi mới. Nước ta, trong thời kỳ đầu việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm triết học Mác Lênin còn ở những mức độ nhất định. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trước thời kỳ đổi mới.
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU đặc TRƯNG cơ bản của lối SỐNG xã hội CHỦ NGHĨA và NHỮNG vấn đề xây DỰNG lối SỐNG XHCN ở nước TA HIỆN NAY

TÀI LIỆU ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LỐI SỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG LỐI SỐNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội. Vì vậy, lối sống một phẩm chất của con người cũng được hình thành theo đúng qui luật chung đó. Lối sống được hình thành và bộc lộ ra trong cuộc sống của họ như là kết quả của một quá trình sống, hoạt động và giao tiếp xã hội. Trong cuộc sống, hoạt động của con người bao giờ cũng gắn với điều kiện, hoàn cảnh nhất định và chịu sự quy định của điều kiện và hoàn cảnh đó.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Hệ thống đề thi đáp án 08 câu kinh tế chính trị cao cấp lý luận chính trị

Hệ thống đề thi đáp án 08 câu kinh tế chính trị cao cấp lý luận chính trị

Câu 1: Học thuyết giá trị của C.Mác; nội dung, cơ chế hoạt động, chức năng, biểu hiện của quy luật giá trị, ý nghĩa đối với Việt Nam Một trong những nội dung trọng tâm của học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác Lênin là chỉ rõ các quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và tất yếu diệt vong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, trên cơ sở đó chỉ ra tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để làm rõ điều đó, kinh tế chính trị học Mác Lênin bắt đầu từ việc xây dựng học thuyết giá trị, nghiên cứu quy luật giá trị bắt đầu từ phạm trù hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 1. Một số khái niệm Hàng hóa là sản phẩm của lao động được sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và dùng để trao đổi (mua bán) với nhau. Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, hàng hóa tiền tệ khác hàng hóa thông thường ở chỗ nó có giá trị sử dụng đặc biệt, nó đo lường được giá trị của hàng hóa khác. Cạnh tranh là sự ganh đua đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh. Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ mua bán trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử kinh tế xã hội nhất định. Cung cầu và giá cả: + Cung: là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các chủ thể kinh tế đem ra bán trên thị trường trong một thời kỳ nhất định, căn cứ vào mức giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất xác định. + Cầu là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế xác định. + Quan hệ cung cầu là quan hệ giữa người bán và người mua, là những quan hệ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. + Giá cả hàng hóa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. 2. Nội dung học thuyết giá trị của C.Mác bao gồm: Học thuyết giá trị là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của c. Mác. Bằng việc phân tích hàng hoá, Mác vạch ra quan hệ giữa người với người thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá, đó chính là lao động, cơ sở của giá trị hàng hoá. Chất của giá trị: Giá trị của hàng hoá là lượng lao động xã hội cần thiết của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Giá trị trao đổi chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hoá. Giá trị của hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, vì một loại hàng hoá đưa ra thị trường là do nhiều người sản suất ra nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá của họ khác nhau, do đó lượng giá trị cá biệt của hàng hoá mà từng người sản xuất ra là khác nhau. Để trao đổi hàng hoá đó với nhau, không thể căn cứ vào giá trị cá biệt của hàng hoá mà phải căn cứ vào giá trị xã hội của nó, vào lượng lao động xã hội cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Lượng giá trị hàng hóa:
Xem thêm

Đọc thêm

QUAN ĐIỂM CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN CỦA CHỦ NHĨA MÁC LÊNIN VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

QUAN ĐIỂM CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN CỦA CHỦ NHĨA MÁC LÊNIN VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

1.Lý do chọn đề tàiNhư ta đã biết V.I.Lênin là người đã kế thừa và phát huy sáng tạo học thuyết của C.Mác để làm nên hệ thống lý luận Chủ nghĩa Mác Lênin, là người đã cống hiến toàn bộ sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp đấu tranh để giành, giữ chính quyền Xô Viết và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước Nga. Trước những biến động chính trị xã hội dữ dội làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm cuối thế kỷ XX, đã xuất hiện những quan điểm cho rằng cần có quan niệm mới về thời đại ngày nay thay thế quan niệm cũ đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua. Họ khăng định thời đại ngày nay là thời đại hậu công nghiệp, thời đại văn minh tin học, văn minh trí tuệ…Thực chất là họ quá đề cao kỹ thuật mà không gắn với tính chất các chế độ xã hội khi xem xét về thời đại. Chính cách tiếp cận đó nên khó đi sâu vào bản chất, nguồn gốc các động lực thực sự của sự chuyển biến hợp quy luật từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác. Đối lập với các quan điểm trên. Đảng ta vẫn khẳng định: “Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản bắt đầu từ cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại”. Quan điểm chuyên chính vô sản do MácLênin xây dựng là một bài học vô cùng quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam khi xác định, tính chất nội dung, và các lực lượng chủ yếu của thời đại là phải xem xét toàn diện về chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa tư bản hiện đại, phong trào cộng sản và công nhân Quốc tế, phong trào hòa bình độc lập dân tộc và dân chủ. Mặt khác chuyên chính vô sản còn là căn cứ khoa học vững chắc của toàn bộ quá trình lịch sử chủ yếu diễn ra trong thế kỷ XX: Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, các cuộc chiến tranh thế giới do chủ nghĩa tư bản gây ra, những sai lầm của một số Đảng Cộng sản cầm quyền dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở một loạt các nước, những thành tựu của xã hội chủ nghĩa hiện thực… Để tiếp tục khẳng định những giá trị bất hủ của chuyên chính vô sản đối với cách mạng Việt Nam, đồng thới góp phần làm rõ bản chất khoa học của chuyên chính vô sản đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa tôi chọn đề tài “ Quan điểm chuyên chính vô sản của chủ nhĩa MácLênin và việc vận dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay ” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần.
Xem thêm

29 Đọc thêm

sự vận dụng quan điểm của v i lênin về đảng viên, và các nguyên tắc tổ chức của đảng của đảng ta tiểu luận cao học

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V I LÊNIN VỀ ĐẢNG VIÊN, VÀ CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG CỦA ĐẢNG TA TIỂU LUẬN CAO HỌC

V.I LêNin (2241870 – 2101 1924). Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức Nga tiến bộ tại thành phố XimBiếc. Khi còn nhỏ. Ông là một người học rất xuất sắc và luôn đạt kết quả học tập rất cao. Sau khi tốt nghiệp trường trung học cổ điển ở XimBiếc. Năm 1877 LêNin vào học khoa luật ở trường Đại học CaDan. Năm 17 tuổi LêNin bị bắt và đày về làng Côcưsơkinô, cách CaDan cách 40 dặm Nga. Tại đây ông đã tham gia vào phong trào đấu tranh cách mạng ở Nga (Vào tháng chạp 1887) Sau cách mạng Tháng Mười vấn đề Đảng cầm quyền luôn được V.I.Lênin quan tâm và đã được ông đề cập trong nhiều bài viết và tác phẩm lý luận. Năm 1894 LêNin viết tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao”. Năm 1895 ông viết bản “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mùa hè năm 1896 ông viết bản “Dự thảo và thuyết minh cương lĩnh của Đảng dân chủ xã hội”. “Thuyết minh về cương lĩnh”. Cuối năm 1897, trong khi bị đày ở Xibêri. LêNin viết tác phẩm “Nhiệm vụ của những người dân chủ xã hội Nga”. Năm 1899. Ông viết tác phẩm “Sự phát triển của nghĩa tư bản ở Nga”.v.v… Năm 1904 ông viết tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi”. Và đặc biệt hơn cả ông đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như vấn đề đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng và các nguyên tắc tổ chức của Đảng trong tác phẩm “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mặc dù bước đầu còn khó khăn, nhưng những nội dung trên là một thứ vũ khí sắc bén để chống lại phái Mensêvích lúc bấy giờ. Phát triển quan điểm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Nga đã thực hiện vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân Nga hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thế giới của mình. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một kỷ nguyên mới đưa cả loài người quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng. Đảng có vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức mới có khả năng tạo lập, giữ vững và không ngừng nâng cao được vai trò đó. Sức mạnh của Đảng được tạo thành và củng cố từ sự vững mạnh của mỗi tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên cùng với việc thực hiện đầy đủ, đúng đắn những nguyên tắc tổ chức của Đảng. Mặt khác, sức mạnh của Đảng cũng được tạo ra và nhân lên thông qua các tổ chức của Đảng và các đảng viên của đảng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: phải tự đổi mới và tự chỉnh đốn, chỉnh đốn Đảng là tiền đề để đổi mới xã hội. Là một Đảng chiến đấu, một Đảng hành động, Đảng ta coi công tác đảng viên là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu. Chất lượng của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phản ánh trực tiếp và cụ thể chất lượng của Đảng. Nâng cao chất lượng đảng viên sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng. Hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trọng và cần thiết, khi mà “Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Đảng, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nẩy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng…” . Trước yêu cầu khách quan và thực tế công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng ta hiện nay, em chọn vấn đề “Sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về đảng viên, và các nguyên tắc tổ chức của Đảng của Đảng ta” làm đề tài tiểu luận cho học phần: Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin Hồ Chí Minh về Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
Xem thêm

21 Đọc thêm

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG, CẬP NHẬT KIẾN THỨC CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỐI TƯỢNG 5

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG, CẬP NHẬT KIẾN THỨC CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỐI TƯỢNG 5

CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI. I. CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác Lênin Chủ nghĩa Mác Lênin đã trải qua trên 160 năm phát triển, nhưng vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong giai đoạn hiện nay. Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác Lênin thể hiện ở những điểm căn bản sau: 1.1. Phương pháp biện chứng duy vật Phương pháp duy vật biện chứng hay chủ nghĩa duy vật biện chứng là một bộ phận của học thuyết triết học do Karl Marx đề xướng. Đặc trưng của phương pháp duy vật biện chứng là coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác. Phương pháp biện chứng duy vật là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa trong lịch sử phát triển của phương pháp biện chứng từ thời cổ đại đến ngày nay. Mặc dù thực tiễn đã có nhiều đổi thay, khoa học có nhiều thành tựu vĩ đại nhưng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin vẫn giữ nguyên giá trị phương pháp luận. Những thành tựu của khoa học hiện đại chỉ làm giàu thêm, phong phú thêm những giá trị của phương pháp biện chứng duy vật mà thôi. Phương pháp duy vật biện chứng đòi hỏi xem xét sự vật, hiện tượng một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển; trong sự tương tác với điền kiện, môi trường, các sự vật, hiện tượng khác; mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân cơ bản trong chính nó… Khoa học hiện đại đạt được những thành tựu thần kỳ như ngày nay chính là nhờ các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật, dù sự sử dụng đó diễn ra một cách tự giác hay tự phát. 1.2. Phương pháp duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của triết học MácLênin, là kết quả của sự vân dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong ba bộ phận hợp thành của triết học macxit, khoa học về những quy luật chung nhất của xã hội, là hai phát kiến khoa học của Mác đã đặt cơ sở khoa học cho sự tồn tại, phát triển học thuyết của mình. Phương pháp duy vật lịch sử vạch ra được căn nguyên của những động cơ vật chất, đặc biệt là động cơ lợi ích kinh tế trong hoạt động lịch sử của loài người. Phương pháp duy vật lịch sử xuất phát từ trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất xã hội lý giải những quan niệm, tư tưởng cũng như những điều kiện xã hội của đời sống của nhân dân cùng vai trò của họ trong lịch sử; đồng thời, xem xét xã hội như một chỉnh thể, nhìn nhận một cách toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy vong của các hình thái kinh tế xã hội. Thông qua các xu hướng, các mâu thuẫn khác, sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cấu thành…, từ đó tìm ra cơ sở của các quá trình từ điều kiện sinh hoạt và sản xuất vật chất của xã hội. Phương pháp duy vật về lịch sử xuất phát từ đời sống vật chất để lý giải đời sống tinh thần của xã hội. Tuy nhiên, phương pháp duy vật về lịch sử của C.Mác khác với phương pháp duy vật kinh tế, phương pháp duy vật thuần túy chỉ nhấn mạnh một chiều yếu tố kinh tế, yếu tố vật chất trong quan hệ với yếu tố tinh thần. Phương pháp duy vật lịch sử đòi hỏi trong khi xem xét vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, kinh tế đối với chính trị, không được hạ thấp sự tác động trở lại của đời sống tinh thần đến đời sống vật chất, của chính trị đối với kinh tế, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, vv… Mặc dù các quy luật xã hội chỉ có thể nảy sinh, tồn tại, vận động thông qua hoạt động có ý thức của con người, nhưng con người không thể tùy tiện thay thế hay xóa bỏ các quy luật. Đồng thời, thông qua nhận thức và hoạt động một cách tự giác, con người có thể tác động để các quy luật xã hội diễn ra nhanh hoặc chậm, với những biểu hiện khác. 1.3. Lý luận hình thái kinh tế xã hội Lý luận hình thái kinh tế xã hội trình bày về các quy luật vận động cơ bản của xã hội loài người trong lịch sử. Sự phát triển của lịch sử nhân loại hết sức phức tạp, quanh co, khúc khuỷu, nhưng vẫn diễn ra theo quy luật khách quan, theo một “lôgích” lịch sử tự nhiên. Lịch sử loài người là sự thay thế tất yếu của các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Sự thay thế này không phải tuần tự mà có sự đan xen, tiếp nối lẫn nhau. Chính điều này làm cho lịch sử thế giới phát triển ngày càng phức tạp, khó nhận thức. Tuy vậy, dòng chảy lịch sử của nhân loại vẫn diễn ra theo sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Điều này diễn ra do những mâu thuẫn trong lòng của mỗi hình thái hinh tế xã hội quy định. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, vv… Những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội mới. Quá trình này diễn ra không phụ thuộc vào ý chí của con người. 1.4. Lý luận giá trị thặng dư Lý luận giá trị thặng dư cho ta thấy bản chất của xã hội tư bản và một nguồn gốc cơ bản sinh ra giàu có của xã hội là sản xuất giá trị thặng dư. Ngày nay, sản xuất giá trị thặng dư vẫn là cơ sở phát triển của xã hội hiện đại. Trong khi nghiên cứu các quy luật sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác cũng đã phát kiến ra các quy luật sản xuất sản phẩm thặng dư trong các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Cùng với lý luận giá trị thặng dư, lý luận về sở hữu, về chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, về sự ra đời tất yếu của sở hữu xã hội là những giá trị bền vững của lý luận kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác Lênin. 1.5. Lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Giai cấp công nhân là một giai cấp cách mạng, là lực lượng tiên tiến có sứ mệnh lịch sử là giải phóng giai cấp mình, đồng thời giải phóng nhân dân lao động và toàn nhân loại khỏi chế độ người bóc lột người, áp bức, bất công, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Tất nhiên, giai cấp luôn luôn phát triển theo sự phát triển của xã hội. Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức, giai cấp công nhân cũng trở thành giai cấp công nhân trí thức, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không thay đổi. 1.6. Lý luận về chủ nghĩa xã hội Lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định tính tất yếu sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội và sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản là do tất yếu kinh tế quy định và đều tất yếu như nhau; mỗi quốc gia, dân tộc có thể có phương pháp, cách thức đi lên chủ nghĩa xã hội khác nhau; chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển tổng hợp của tinh hoa mọi thời đại, mọi dân tộc, vv… 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Thực tiễn Việt Nam và thế giới đã chứng minh tính đúng đắn, sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện trên những nội dung cơ bản sau đây: a, Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Trong thời đại ngày nay, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới vững chắc. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là con đường bảo vệ và phát triển vững chắc nhất thành quả của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, mới bảo đảm cho nhân dân thực sự được tự do, ấm no, hạnh phúc. Mặt khác, độc lập dân tộc lại là điều kiện, tiền đề, cơ sở để thực hiện chủ nghĩa xã hội. Phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển đúng đắn và hợp quy luật khách quan của Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghã xã hội là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. b, Tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản trong sạch, vững mạnh Để thực hiện được mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, điều kiện tiên quyết là phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Vì vậy, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải giúp cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội; để họ nhận rõ mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi. Nhưng Đảng muốn làm được điều đó thì Đảng phải trong sạch, vững mạnh. Hồ Chí Minh nói: Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, đây là cội nguồn sức mạnh của Đảng, đặc biệt khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền lại càng phải có ý thức sâu sắc mình là “đày tớ” của Nhân dân chứ không phải là “ông chủ” của Nhân dân, không tự cho phép mình đứng trên dân, trên Nhà nước, trên pháp luật. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Hồ Chí Minh xác định rằng cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, nhưng đức là gốc. Cán bộ phải liên hệ mật thiết với dân, học dân, hỏi dân, nghe dân góp ý phê bình. Để xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính, Đảng phải thường xuyên chăm lo đổi mới, chỉnh đốn Đảng để hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi, tẩy trừ mọi tệ nạn do chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng… gây ra, đồng thời phát huy những mặt tốt, tích cực, tiến bộ trong Đảng, c) Tư tưởng về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “dân là gốc của nước”, “nước lấy dân làm gốc”, đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức, xây dựng Nhà nước Việt Nam. Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nên nhân dân là người chủ đất nước. Tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn là của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân; kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Dân có quyền bầu cử, ứng cử và bãi miễn, có quyền tham gia công việc quản lý nhà nước; phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước; có trách nhiệm đóng góp sức người, sức của để xây dựng và bảo vệ Nhà nước. Trong Nhà nước kiểu mới, dân là chủ thể duy nhất của quyền lực thì cán bộ, công chức nhà nước, theo Hồ Chí Minh, phải là “đầy tớ”, công bộc tận tụy, trung thành của dân, phải gần dân, sát dân, hiểu dân, tin dân… Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vai trò của nhân dân, về thực hành dân chủ. Dân chủ, theo Người, là “dân là chủ” và “dân làm chủ”, dân chủ là cái chìa khóa vạn năng. Trong bầu trời không có gì quý bằng quần chúng Nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân; dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong. Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nên Nhà nước phải đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết và trước hết. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh. Trong quá trình xây dựng nhà nước kiểu mới, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một Nhà nước hợp pháp và hợp hiến, được nhân dân tổ chức nên thông qua tuyển cử, được xây dựng và hoạt động theo các nguyên tắc của Hiến pháp. Pháp luật là cơ sở bảo đảm thực hiện các quyền tự do, dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. d) Tư tưởng về văn hóa Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn, loài người sáng tạo ra văn hóa. Văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống con người, là động lực, là mục tiêu của cách mạng. Văn hóa góp phần bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và phong cách tốt đẹp, lành mạnh để không ngừng hoàn thiện bản thân, hướng con người vươn tới những giá trị chân thiện mỹ. Văn hóa soi đường cho quốc dân đi; phải chống giặc dốt cũng như giặc đói và giặc ngoại xâm, phải nâng cao dân trí. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Văn hóa là một mặt trận mà mỗi văn nghệ sỹ là những chiến sỹ trên mặt trận đó. Muốn xây dựng nền văn hóa mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, phải giữ gìn cốt cách (bản sắc) văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là một nền văn hóa mà nhân dân đóng vai trò chủ thể. Họ không chỉ là người sáng tạo ra của cải vật chất mà còn là người sáng tác, tức sáng tạo ra của cải tinh thần, đồng thời có quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa. Đó cũng chính là nền văn hóa tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc, văn hóa vì nhân dân, do nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. đ) Tư tưởng về đạo đức cách mạng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống những quan điểm toàn diện sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới, khác về chất so với nền đạo đức cũ. Đạo đức cách mạng là cái gốc của người cách mạng. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được cách mạng vẻ vang. Đảng ta là một Đảng cầm quyền nên mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trên cơ sở kế thừa những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại, nhất là đạo đức của chủ nghĩa Mác Lênin, đạo đức cộng sản được vận dụng phù hợp với cách mạng Việt Nam, đưa những nội dung mới vào trong nhiều khái niệm, phạm trù, mệnh đề của đạo đức truyền thống. Hồ Chí Minh đã xây dựng những tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng. Đó là trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương và giúp đỡ con người, sống có nghĩa có tình; tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung. Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra những nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, đó là; tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, chủ yếu trong thực tiễn cách mạng; nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm; phải đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức, nhất là chống chủ nghĩa cá nhân. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí…” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t9, tr. 292). Chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc nội xâm, nó ẩn nấp trong mỗi con người, chờ dịp để ngóc đầu dậy. Tuy nhiên, theo Người, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân với lợi ích cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. II. SỰ VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản ViệtNam đã có sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 1. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội Từ Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đã khắc phục được một số hạn chế trong nhận thức trước đây về chủ nghĩa xã hội, làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội ngày càng sâu sắc hơn. Đại hội VII của Đảng đánh dấu mốc quan trọng trong phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm đổi mới, Đại hội VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991). Cương lĩnh đã nêu sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là: Do Nhân dân lao động làm chủ. Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đận đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với Nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Đến Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội. Nội hàm của khái niệm xã hội chủ nghĩa đã được Đại hội X nêu cụ thể hơn với tám đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới” (Đảng Công sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.68) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã hoàn thiện hơn quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với
Xem thêm

47 Đọc thêm

111 câu trắc nghiệm mác lênin

111 CÂU TRẮC NGHIỆM MÁC LÊNIN

1. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 1 NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN Trắc nghiệm phần triết học Mác Lênin 1.Môn khoa học nào sau đây không thuộc Chủ nghĩa Mác Lênin? a. Triết học MácLênin. b. Kinh tế chính trị MácLênin. c. Lịch sử Đảng CộngSản Việt Nam. d. Chủ nghĩa Xã Hội Khoa Học. 2. Chủ nghĩa Mác – Lênin là gì? Chọn câu trả lời sai. a.Chủ nghĩa Mác – Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác, Ăngghen và sự phát triển của V.I. Lênin; b. là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; c. là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bót lột và tiến tới giải phóng con người. d. là học thuyết của Mác,Angghen và Lênin về xây dựng chủ nghĩa cọng sản. 3.Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác? Chọn câu trả lời đúng. a.Sự củng cố và phát triển của PTSX tư bản Chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp. b.Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lượng chính trị xã hội độc lập. c.Thực tiễn cách mạng cuả giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác. d. Các phán đoán kia đều đúng. 4.Tiền đề lý luận của sự ra đời chủ nghĩa Mác? Chọn câu trả lời đúng. a. Chủ nghĩa duy vật triết học của Phoiơbắc, Kinh tế học Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. b. Triết học biện chứng của Hêghen, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Pháp. c.Kinh tế học của Anh, Chủ nghĩa xã hội Pháp. Triết học cổ điển Đức d.Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng. 5.Tiền đề khoa học tự nhiên của sự ra đời chủ nghĩa Mác? Chọn phán đoán sai. a.Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, b.Thuyết tiến hoá của Dacuyn.2. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 2 c. Nguyên tử luận. d. Học thuyết tế bào. 6. Triết học Mác Lênin là gì ? Chọn phán đoán đúng. a. là khoa học của mọi khoa học . b. là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên. c. là khoa học nghiên cứu về con người. d. là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí , vai trò của con người trong thế giới ấy “. 7. Đối tượng của triết học Mác Lênin là gì? Chọn phán đoán đúng. a. Nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể và tìm ra bản chất qui luật cụa nó. b. Nghiên cứu thế giới siêu hình c. Nghiên cứu những quy luật của tinh thần. d. Nghiên cứu những quy luật của giới tự nhiên 8. Triết học có tính giai cấp không? Chọn câu trả lời đúng a.Không có. b. Chỉ có trong xã hội tư bản c. Có tính giai cấp trong mọi trường phái triết học. d. Chỉ có trong một số hệ thống triết học . 9. Vấn đề cơ bản của triết học là gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Vấn đề mối quan hệ giữa Trời và Đất b. Vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức c. Vấn đề hiện sinh của con người. d. Các phán đoán kia đều đúng. 10. Chức năng của triết học mácxít là gì? Chọn câu trả lời đúng a. Chức năng làm cầu nối cho các khoa học. b. Chức năng làm sáng tỏ cấu trúc ngôn ngữ. c. Chức năng khoa học của các khoa học. d. Chức năng thế giới quan và phương pháp luận. 11. Chủ nghĩa duy vật triết học bao gồm trường phái nào? Chọn câu trả lời đúng . a. Chủ nghĩa duy vật cổ đại. b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình. c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng. d. Các phán đoán kia đều đúng. 12.Khoa học nào là hạt nhân của thế giới quan? Chọn câu trả lời đúng . a. Toán học b. Triết học. c. Chính trị học. d. Khoa học tự nhiên. 13. Thế giới thống nhất ở cái gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Thống nhất ở Vật chất và Tinh thần . b. Ta cho nó thống nhất thì nó thống nhất . c. Thống nhất ở tính vật chất của nó .3. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 3 d. Thống nhất vì do Thượng đế sinh ra. 14.Nguồn gốc tự nhiên của ý thức? Chọn câu trả lời đúng. a. là sản phẩm của bộ óc động vật. b. là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào bản thân con người. . c. bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc người. d. là quà tặng của thượng đế. 15. Nguồn gốc xã hội của ý thức? Chọn câu trả lời đầy đủ. a. ý thức ra đời nhờ có lao động của con người. b. ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ có lao động và ngôn ngữ và những quan hệ xã hội. c. ý thức ra đời nhờ có ngôn ngữ của con người. d. ý thức ra đời nhờ có những quan hệ xã hội của con người. 16.Bản chất của ý thức? Chọn câu trả lời đúng. a. ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; b. ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. c. Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời, tồn tại của ý thức chịu sự chi phối không chỉ các QL tự nhiên mà còn của các QL xã hội, d. Các phán đoán kia đều đúng. 17.Phán đoán nào là của Chủ nghĩa duy vật biện chứng? Chọn câu trả lời đúng. a. Vật chất và ý thức là hai lĩnh vực riêng biệt không cái nào liên quan đến cái nào. b. Ý thức có trước vật chất và quyết định vật chất. c. Vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức. d. vật chất và ý thức không cái nào quyết định cái nào. 18. Hiểu theo nghĩa chung nhất vận động là gì? Chọn phương án đúng. a.Bao gồm tất cả mọi sự thay đổi b.Moị quá trình diễn ra trong vũ trụ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy. c. Vận động là phương thức tồn tại của vất chất.…là thuộc tính cố hữu của vật chất. d. Các phán đoán kia đều đúng. 19. Theo anh (chị) bệnh chủ quan, duy ý chí biểu hiện như thế nào? a. chỉ căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử để định ra chiến lược và sách lược cách mạng. b. chỉ căn cứ vào quy luật khách quan để định ra chiến lược và sách lược cách mạng c. chỉ căn cứ vào kinh nghiệm của các nước khác để định ra chiến lược và sách lược cách mạng d. chỉ căn cứ vào mong muốn chủ quan để định ra chiến lược và sách lược cách mạng 20. Phép biến chứng duy vật là gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến. b. phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức4. Trắc nghiệm Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin – Đại học Võ Trường Toản Trang 4 hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng. c. Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. d. Các phán đoán kia đều đúng. 21. “Phép biện chứng duy vật” bao gồm những nguyên lý cơ bản nào? Chọn câu trả lời đúng. a. Nguyên lý về mối liên hệ . b. Nguyên lý về tính hệ thống , cấu trúc c. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,và sự phát triển d. Nguyên lý về sự vận động và sự phát triển . 22. Từ nguyên lý về “mối liên hệ phổ biến” của “Phép biện chứng duy vật” chúng ta rút ra những nguyên tắc phương pháp luận nào cho họat động lý luận và thực tiễn? a. Quan điểm phát triển. b. Quan điểm lịch sử cụ thể. c. Quan điểm tòan diện. d. Quan điểm tòan diện , lịch sử cụ thể. 23. Phán đoán nào về phạm trù Chất là sai. a. Chất là phạm trù triết học… b. Chất chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,… c. Chất là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác. d. Chất là bản thân sự vật. 24. Lượng của sự vật là gì? Chọn câu trả lời đúng. a. Là số lượng các sự vật , b. Là phạm trù của số học , c. Là phạm trù của khoa học cụ thể để đo lường sự vật . d. Là phạm trù của triết học, chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật về mặt số lượng, qui mô….. 25. Cách mạng tháng 81945 của VN là
Xem thêm

16 Đọc thêm

hướng dẫn tự học ôn thi môn mác lenin 1

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC ÔN THI MÔN MÁC LENIN 1

Chương mở đầuNHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNINI. Khái lược về chủ nghĩa và chủ nghĩa Mác Lênin 1. Chủ nghĩa Mác Lênin và ba bộ phận cấu thành. Chủ nghĩa Mác Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học do C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng, V.I.Lênin bảo vệ và phát triển; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác Lênin được cấu thành bởi ba bộ phận: Triết học Mác Lênin, Kinh tế chính trị Mác Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.+ Triết học Mác Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.+ Kinh tế chính trị Mác Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.+ Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin. a, Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác. Điều kiện kinh tế xã hội.+ Chủ nghĩa Mác Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ. Các cuộc cách mạng công nghiệp đã đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.+ Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 và hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản, tiêu biểu: cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (Pháp) năm 1831, 1834; Phong trào Hiến chương ở (Anh) từ năm 1835 – 1848; Cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức) năm 1844…+ Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đặt ra yêu cầu khách quan là cần có lý luận khoa học soi đường. Chủ nghĩa Mác ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan đó. Tiền đề lý luận.+ Triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là tư tưởng triết học của G.W.Ph.Hêghen và L.Phoiơbắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.+ Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu lớn: A.Xmít và Đ.Ricácđô đã góp phần tích cực vào quá trình hình thành các quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác.+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng với các nhà tư tưởng tiêu biểu: H.XanhXimông, S.Phuriê, R.Ôoen. Chủ nghĩa xã hội không tưởng mang tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản, dự đoán về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai. Nhưng chủ nghĩa xã hội không tưởng chưa luận chứng được cho vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Tiền đề khoa học tự nhiên.+ Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh khoa học về sự không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn các hình thức vận động của vật chất.+ Thuyết tiến hóa đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.+ Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển trong mối liên hệ của chúng. b, Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác. Giai đoạn từ những năm 1842 1843 đến những năm 1847 1948.+ Những tác phẩm tiêu biểu như Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, Gia đình thần thánh (1845), Luận cương về Phoiơbắc (1845), Hệ tư tưởng Đức (1845,1846),… đã thể hiện rõ nét việc Mác và Ăngghen kế thừa tinh hoa trong quan điểm duy vật và phép biện chứng của các bậc tiền bối để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật.+ Đến những tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), chủ nghĩa Mác đã được trình bày như một chỉnh thể các quan điểm nền tảng với ba bộ phận lý luận cấu thành của nó. Giai đoạn từ năm 1849 đến năm 1895.Những tác phẩm tiêu biểu như bộ Tư bản đã làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản; sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh của giai cấp công nhân; tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875) đã đề cập đến những vấn đề về nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, những giai đoạn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản… c, Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác.+ Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩa tư bản ngày càng bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản ngày càng sâu sắc.+ Khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực khoa học ra đời đặc biệt trong vật lý học, nhưng một số nhà khoa học tự nhiên do bấp bênh về phương pháp luận triết học duy vật nên rơi vào tình trạng khủng hoảng về thế giới quan. Sự khủng hoảng này bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành động của các phong trào cách mạng.+ Thời kỳ này ở nước Nga, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại… đã mang danh đổi mới chủ nghĩa Mác.→ Thực tiễn mới đặt ra yêu cầu phải phân tích, khái quát những thành tựu mới của sự phát triển khoa học tự nhiên nhằm tiếp tục phát triển thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác. Vai trò của V.I.Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.+ Những năm 1893 1907 , với các tác phẩm như: Những “người bạn dân là thế nào” và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao? (1894); Làm gì (1902); Hai sách lược của đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ (1905). Lênin đã phê phán quan điểm sai lầm của các phái duy tâm đang nổi lên trong quan điểm về lịch sử xã hội, đồng thời ông cũng đã phát triển chủ nghĩa Mác về những vấn đề phương pháp cách mạng, nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, vai trò của quần chúng nhân dân…+ Những năm 1907 1917, các tác phẩm tiêu biểu như: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909), Bút ký triết học (19141916)… Lênin không chỉ bảo vệ thành công mà còn phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới. Đặc biệt sau cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917, thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân đặt ra những yêu cầu mới, Lênin đã tổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng và phát triển chủ nghĩa Mác về nhân tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơ bản của giai cấp vô sản… d, Chủ nghĩa Mác Lê nin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới. Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hướng lớn lao đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp có thể coi là sự kiểm nghiệm vĩ đại đối với tư tưởng của chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một kiểu nhà nước kiểu mới nhà nước chuyên chính vô sản (Công xã Pari) được thành lập. Tháng Tám năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên của giai cấp vô sản được xây dựng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác Đảng Bôsêvích Nga. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác Lênin trong lịch sử. Năm 1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922, liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết ra đời. Sau chiến tranh thế giới thứ hai một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời như Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Anbani… Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa khủng hoảng và rơi vào thoái trào, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX. Mặc dù vậy, tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trên phạm vi toàn cầu; quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có. Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước tiến mới”.II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lênin 1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu. Đối tượng của việc học tập, nghiên cứu môn học là những quan điểm cơ bản, nền tảng và mang tính chân lý bền vững của chủ nghĩa Mác Lênin trong phạm vi ba bộ phận lý luận cấu thành nó. Mục đích của việc học tập, nghiên cứu môn học là: + Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin; hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng.+ Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin và lý tưởng cách mạng.+ Vận dụng sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu. Những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin được thể hiện trong những bối cảnh cụ thể khác nhau, nên khi học tập, nghiên cứu cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; chống xu hướng kinh viện, giáo điều. Sự hình thành phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin là một quá trình, nên khi học tập nghiên cứu cần phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác. Phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin của Đảng ta trong từng giai đoạn lịch sử. Quá trình học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng xã hội. Quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời phải là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học và tính nhân văn vốn có của nó. Chương 1CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGI. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng 1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.Ăngghen nói: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các nhà triết học Vấn đề cơ bản của triết học bao gồm hai mặt: Mặt 1 Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt 2 Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Cơ sở để phân biệt CNDV và CNDT là việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học như thế nào:+ CNDT cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Các hình thức của CNDT CNDT chủ quan: họ thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người và khẳng định tất cả mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp của cảm giác. CNDT khách quan: thừa nhận tinh thần khách quan, ý thức khách quan (chúa, thượng đế, ý niệm, tinh thần tuyệt đối) là cái tồn tại trước, quyết định thế giới vật chất. CNDT gần gũi với tôn giáo, nó bắt nguồn từ việc xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá vai trò của thần thánh.+ CNDV cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất vào đầu óc con người.Các hình thức của CNDV CNDV chất phác thô sơ, trực quan, cảm tính CNDV siêu hình CNDV biện chứng Giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học chia quan điểm nhận thức thành hai phái:+ Khả tri luận: bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người+ Bất khả tri luận: bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng nhận thức của con người. 2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.Chủ nghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức: Chủ nghĩa duy vật chất phát, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại. Là hình thức sơ khai của CNDV. Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác là mặc dù thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, song đã lý giải toàn bộ thế giới được sinh thành từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính. Tuy còn hạn chế nhưng họ đã lấy bản thân vật chất của tự nhiên để giải thích về tự nhiên. Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII và đạt đỉnh cao vào đầu thế kỷ XIX. Đặc điểm lớn nhất là phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức về thế giới. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được Lênin bảo vệ và phát triển. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị của lịch sử triết học và những thành tựu quan trọng của khoa học tự nhiên thời kỳ đó, nó đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Trên cơ sở phản anh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã trở thành công cụ vĩ đại cho hoạt động nhân thức khoa học và thực tiễn cách mạng.II. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 1. Vật chất.a) Phạm trù vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm. Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.CNDT cho rằng cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần, như là: chí của thượng đế, ý niệm tuyệt đối....CNDV cho rằng cơ sở của mọi tồn tại là vật chất, là cái tồn tại vĩnh cửu tạo nên mọi sự vật hiện tượng cùng với những thuộc tính của nó. Thời cổ đại các nhà triết học đã đồng nhất vật chất với một số chất tự có, là cơ sở đầu tiên của thế giới: “giới hạn tột cùng”. Chẳng hạn: Trung Quốc cho những hạt vật chất đầu tiên ấy là Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ; Ở Hy Lạp, Talet cho những hạt vật chất đầu tiên ấy là nước, Hêracrit quan niệm là Lửa, Đêmôcrit khẳng định là nguyên tử. Nguyên tử là phần tử cực nhỏ, cứng, không thể xâm nhập được. Sự kết hợp hoặc tách rời của nguyên tử mà tạo nên sự đa dạng của thế giới. Và quan niệm này giữ cho đến tận thế kỷ XX). Thế kỷ XVII, XVIII quan niệm của các nhà triết học Tây Âu cận đại: Ph. Bêcơn, R.Đềcáctơ, T.Hôpxơ... không có thay đổi trong quan niệm về vật chất. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với một loạt những phát minh khoa học làm cho con người hiểu biết sâu sắc hơn về nguyên tử. Năm 1895, Rơghen phát hiện ra tia X. Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Năm1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử và đã chứng minh được điện tử là một phần cấu tạo nên nguyên tử. Năm1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử. Những phát minh trên đã bác bỏ quan điểm duy vật về những chất được coi là “giới hạn tột cùng”. Tạo nên cuộc khủng hoảng trong nghiên cứu vật lý. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới và khẳng định vai trò của lực lượng siêu nhiên trong việc tạo ra thế giới. Trước hoàn cảnh đó, Lênin đã tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên và chỉ rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học của chủ nghĩa duy tâm. Từ đó, ông đưa ra định nghĩa vật chất: Định nghĩaVật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Ở định nghĩa này Lênin đã phân biệt những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất Cần phân biệt khái niệm “vật chất” – phạm trù triết học (khái quát thuộc tính chung nhất, cơ bản nhất và phổ biến nhất) với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành. Thứ hai Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại khách quan, tồn tại ngoài ý thức, độc lập không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó. Thứ ba Vật chất, dưới các hình thức cụ thể của nó có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất; vật chất là cái được ý thức phản ánh Ý nghĩa: Một là: bằng việc tìm ra thuộc tính cơ bản nhất là tồn tại khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách của các khoa học chuyên ngành. Từ đó, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng những quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội. Hai là: Lênin đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật; khẳng định con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan.b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.Ph. Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất. Nghĩa là, vật chất tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Vận động của vật chất là tự thân vận động. Vận động được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất.Ăngghen đã phân chia vận động của vật chất thành 5 hình thức vận động cơ bản: Vận động cơ học: Sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt, điện... Vận động hoá học: Sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong quá trình hóa hợp và phân giải Vận động sinh học: Sự biến đổi của các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen… Vận động xã hội: Sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,... của đời sống xã hội.Lưu ý: Các hình thức vận động trên khác nhau về chất Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó các hình thức vận động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau, nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản. Đặc điểm cơ bản của đứng im tương đối, tạm thời: Hiện tượng đứng im tương đối chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong mọi mối quan hệ cùng lúc. Đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc. Đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối. Vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật hiện tượng ổn định nào đó, còn vận động nói chung, tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng làm cho tất cả không ngừng biến đổi. Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất: Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác. Sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa… Tính chất của không gian và thời gian:+ Tính khách quan: Không gian và thời gian luôn gắn liền với vật chất. Vật chất tồn tại khách quan thì không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan.+ Tính vĩnh cửu và vô tận. Nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả quá khứ lẫn tương lai, cả phía trên lẫn phía dưới, cả đằng trước lẫn đằng sau.+ Không gian luôn có 3 chiều: chiều dài, c
Xem thêm

53 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

TIỂU LUẬN: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

CHƯƠNG I: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC I. Quan điểm Trong lịch sử triết học, các nhà triết học duy vật trước Mác không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội. Mac-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắng, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng. II. Hoạt động của thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung. Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội là hình thức hoạt động đặc thù của con người. Thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được đặt ra từ trước. Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới. Trong quá trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy, không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở
Xem thêm

23 Đọc thêm

tiểu luận cao học đã sửa lịch sử học thuyết kinh tế thời kỳ quá độ trình bày lý luận của lê nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội quá trình nhận thức và vận dụng lý luận này trong việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội

TIỂU LUẬN CAO HỌC ĐÃ SỬA LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TRÌNH BÀY LÝ LUẬN CỦA LÊ NIN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN NÀY TRONG VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng dự báo trên những nét lớn về những đặc trưng cơ bản của xã hội mới, đó là: có lực lượng sản xuất xã hội cao, chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc người bị thủ tiêu, sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội , nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã hội, sự phân phối sản phẩm bình đẳng, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay bị xóa bỏ... Để xây dựng xã hội mới có những đặc trưng như trên cần phải trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (giai đoạn đầu) và giai đoạn sau (giai đoạn cao). Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoan sau là chủ nghĩa cộng sản. C.Mác gọi giai đoạn đầu xã hội chủ nghĩa là thời kỳ quá độ chính trị lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thời kỳ này ở các nước có trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau có thể diễn ra với khoảng thời gian dài ngắn khác nhau. Đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao khi tiến lên xã hội chủ nghĩa thời kỳ quá độ có thể tương đối ngắn. Những nước trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình, đặc biệt là những nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu thì thời kỳ quá độ tương đối khó khăn, phức tạp. Ở nước ta thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 trên phạm vi cả nước sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi, đất nước hòa bình và thống nhất quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Đảng ta vẫn quyết định nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Nước ta tiến lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua tư bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan, do nó phù hợp với sự phát triển chung của xã hội loài người, và trong thời đại ngày nay, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa do đất nước ta giành độc lập dân tộc tất yếu phải đi lên chủ nghĩa xã hội.Đó là lý do tôi chọn đề tài “Trình bày lý luận của Lê nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận thức và vận dụng lý luận này trong việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta”.
Xem thêm

22 Đọc thêm

PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Tính tất yếu khách quan về phương thức lãnh đạo của đảng 1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin thì lý luận về chiến lược và sách lược là một bộ phận quan trọng. đó là khoa học về những nguyên tắc hành động chính trị của đảng, về các phương pháp vạch ra con đường và phương sách đạt đến các mục đích cuối cụng của phong trào công nhân, về những nguên tắc cơ bản trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, của tất cả nhân dân lao động.Trong học thuyết về đảng của giai cấp công nhân, Mác Ăngghen đòi hỏi đảng phải có cương lĩnh và sách lược của mình. Những nguyên tắc cơ bản trong hoat động chính trị của những người cộng sản đã được Mác Ăngghen nêu ra trong tuyên ngôn của đảng cộng sản, cương lĩnh cách mạng của giai cấp vô sản toàn thế giới.Trong chiến lược, sách lược của đảng không được xa rời nguyên tắc quốc tế chủ nghĩa. Trước hết đảng cần tính đến những đặc điểm chủ yếu của hoàn cách lịch sử thuộc một thời đại nhất định, chứ không phải chỉ căn cứ trên những sự kiện lịch sử của một nước, thì mới có thể vạch ra một đường lối chính trị đúng đắn. Không những vậy, đảng phải cần xuất phát từ lơi ích của phong trào công nhân cách mạng quốc tế và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân cách mạng cuả nước mình để xác định sách lược và chiến lược cách mạng của chính nước mình hình thành trên cơ sở áp dụng một cách khéo léo, sáng tạo những nguên tắc cơ bản của cách mạng xã hội khoa học phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và đặc điểm dân tộc đất nước mình. Lê Nin nhận xét rằng: sách lược của một đảng là thái độ chính trị của đảng đó, hay là tính chất, phương pháp hoạt động chính trị của đảng đó.Theo Mác Ăng ghen, cơ sở của sách lược của giai cấp vô sản phải là lợi ích của đấu tranh giai cấp và cách mạng của giai cấp vô sản, đồng thời có tính toán một cách khách quan đến tất cả mọi quan hệ xã hội.Phân tích quan điểm của Mác, Lênin viết: chỉ có nghiên cứu một cách khách quan toàn bộ những mối liên hệ qua lại giữa các giai cấp trong một xã hội nhấ nhất định, không trừ một giai cấp nào, và cho đó hiểu biết được trình độ phát triển khách quan của xã hội ấy và những mối quan hệ qua lại giữa xã hội ấy với xã hội khác thì mới có thể có cơ sở cho một sách lược đúng đắn của giai cấp tiên phong được.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Tiểu luận vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở quảng bình hiện nayi

Tiểu luận vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở quảng bình hiện nayi

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Tuyên ngôn của đảng cộng sản

TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” (C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, HN, t. 4, 1995, tr. 591646) GS,TS. Trịnh Quốc Tuấn Th.S. Trần Kim Cúc Mở đầu Tuyên ngôn của Đảng cộng sản gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen. Tuyên ngôn là tác phẩm khoa học xuất sắc, đánh dấu sự chín muồi về tư tưởng, quan điểm và phương pháp luận khoa học của Mác và Ăngghen. 40 năm sau lần đầu tiên xuất bản tác phẩm bất hủ này, trong “Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888”, Ph.Ăngghen có viết: Hiện nay, hiển nhiên đó là tác phẩm phổ biến hơn cả, có tính quốc tế hơn cả trong tất cả các văn phẩm xã hội chủ nghĩa, đó là cương lĩnh được thừa nhận bởi hàng triệu công nhân từ Xibia đến Caliphoócnia1. Và cho đến nay, có thể nói rằng, trong kho tàng văn hoá nhân loại, có lẽ đối với giai cấp vô sản toàn thế giới chưa có một tác phẩm nào có tính phổ biến như vậy. Trong di sản lý luận của hai ông, “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đây có thể coi là một tác phẩm then chốt, nền tảng của lý luận chính trị trong chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên, tác phẩm của hai ông đã hệ thống hoá những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác, thể hiện đầy đủ ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác kinh tế chính trị học, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa xã hội khoa học dưới dạng cô đọng nhất. Với vị trí quan trọng và nội dung phong phú như vậy, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là một trong những tác phẩm mà mọi chuyên ngành lý luận Mác Lênin không thể bỏ qua. Người ta có thể tiếp cận, khai thác nội dung, ý nghĩa tác phẩm một cách khác nhau dưới giác độ chuyên ngành khác nhau. Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi giới thiệu tác phẩm dưới góc độ chính trị học. Theo đó, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được coi là văn kiện lý luận chính trị quan trọng bậc nhất vào giữa thế kỷ XIX, báo hiệu sự trưởng thành về tư tưởng, chính trị và tổ chức của phong trào vô sản, của đảng cộng sản đội tiên phong của giai cấp vô sản trong sự nghiệp đấu tranh nhằm tự giải phóng mình và giải phóng toàn nhân loại khỏi ách thống trị tư bản chủ nghĩa. Giới thiệu tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản dưới góc độ chính trị học nhằm giúp người đọc hiểu rõ những nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu, nắm vững tinh thần của Tuyên ngôn, để từ đó rút ra những bài học chính trị và có sự vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hiện nay, đó là mục tiêu mà chuyên đề này hướng tới. I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời là kết tinh của những yếu tố khách quan và chủ quan sau đây: 1 . Yếu tố khách quan Yếu tố khách quan dẫn đến sự ra đời của Tuyên ngôn là những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội đã chín muồi trong lịch sử. Về kinh tế, giữa thế kỷ XIX phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đạt tới trình độ phát triển, đại công nghiệp ở một số nước châu Âu đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cùng với sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và xã hội hoá với quan hệ sản xuất chật hẹp trong hình thức chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng bộc lộ gay gắt. Về chính trị xã hội, có thể kể đến những điểm cơ bản như: sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản hiện đại và mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp vô sản và tư sản ngày càng tăng; phong trào đấu tranh của công nhân đã có những bước phát triển đáng kể. Tiêu biểu cho bước phát triển mới đó của phong trào vô sản là những cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Liông (Pháp) năm 1831, cuộc nổi dậy của công nhân dệt vùng Xilêdi (Đức) năm 1844 và phong trào Hiến chương có quy mô toàn quốc ở Anh kéo dài suốt mười năm trời (18381848). Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa của giai cấp công nhân đều bị dìm trong biển máu. Từ những thất bại trong thực tiễn đấu tranh, giai cấp công nhân buộc phải đi tới chỗ nhận thức về những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng mình phải có một chính đảng lãnh đạo và hệ thống lý luận soi đường. Một sự kiện chính trị quan trọng phải kể đến là sự ra đời của Liên đoàn những người cộng sản tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản và yêu cầu bức thiết phải có một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng, của phong trào vô sản. Vấn đề Cương lĩnh của Liên đoàn được đặt ra từ Đại hội lần thứ nhất của Liên đoàn vào mùa hè năm 1847 và là vấn đề chủ yếu trong chương trình nghị sự của Đại hội lần thứ hai của Liên đoàn ngày 29111847. Sau một cuộc thảo luận dài về những dự thảo cương lĩnh trình lên Đại hội, trong đó có dự thảo cẩm nang về chủ nghĩa cộng sản do Hátxơ biên soạn và Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản do Ph.Ăngghen biên soạn cuối cùng, C.Mác và Ph.Ăngghen được Đại hội uỷ thác biên soạn Cương lĩnh dưới hình thức bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Một điểm cần lưu ý khi nói đến điều kiện chính trị xã hội ra đời của tác phẩm, là yếu tố về tư tưởng chính trị. Tác phẩm ra đời vào thời điểm quyết định trong quá trình chuyển biến của chủ nghĩa xã hội khoa học đấu tranh với các trào lưu tư tưởng lỗi thời và phản động để thâm nhập phong trào công nhân. Các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng tồn tại và thống trị cho đến lúc đó đã bộc lộ nhiều hạn chế: không giải thích đúng bản chất của ách bóc lột tư bản chủ nghĩa, chưa phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội đó, chưa nhìn thấy vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng muốn xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, nhưng bằng con đường thuyết phục, giáo dục, nêu gương, chứ không phải bằng con đường đấu tranh cách mạng, cải biến cách mạng. Bên cạnh ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng, giữa thế kỷ XIX còn có những người xã hội chủ nghĩa tư sản kiểu LuiBlăng, chủ trương điều hoà tư sản với vô sản, kiểu Pruđông chủ trương xoá bỏ chế độ tư hữu lớn tư bản chủ nghĩa nhưng duy trì mãi mãi chế độ tư hữu nhỏ của những người sản xuất. Ngoài ra, lúc này còn có cả những người cộng sản không tưởng kiểu Vâytơlinh. Những người này đang có ảnh hưởng mạnh trong phong trào vô sản. Tuy họ đã nhận thức được rằng chỉ làm cải cách chính trị thì không đủ mà phải có một cuộc cải biến xã hội về căn bản, nhưng thứ chủ nghĩa cộng sản này mới được phác hoạ ra một cách tự phát theo bản năng chứ chưa có cơ sở khoa học, chưa xuất phát từ sự hiểu biết các quy luật phát triển của xã hội, chưa thấy rõ nguyên nhân quyết định sự phát triển của xã hội là phương thức sản xuất của cải vật chất và người đi đầu trong quá trình sáng tạo ra xã hội mới là giai cấp công nhân. Do không có cơ sở khoa học và thực tiễn, các trào lưu tư tưởng trên đây đều trở nên lỗi thời và gây tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của phong trào vô sản. Việc vạch trần những tư tưởng phản động và khẳng định những quan điểm lý luận khoa học là một yếu tố để Tuyên ngôn ra đời. 2 . Yếu tố chủ quan Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là kết quả của quá trình trưởng thành về lập trường, quan điểm, sự thành thục về phương pháp luận là kết quả của quá trình hoạt động sáng tạo về lý luận và thực tiễn của C.Mác và Ph.Ăngghen. Hai ông đã phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan, nhờ đó cả hai đã chuyển biến từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường xã hội chủ nghĩa. Nhân tố chủ quan phải kể đến ở đây là: sự uyên bác về trí tuệ; lòng trung thành vô hạn với lợi ích của giai cấp công nhân; sự kiên trì, bền bỉ và sáng tạo trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn; tinh thần kế thừa một cách có phê phán những tri thức của nhân loại. Làm cơ sở cho Tuyên ngôn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác và Ph.Ăngghen đề xướng ra. Đó là kết quả của một quá trình nghiên cứu và quan sát khoa học hết sức tỉ mỉ và sâu sắc để đi đến hệ thống hoá và phát triển các quan điểm lý luận đã được các ông đề cập đến trong các tác phẩm viết trước Tuyên ngôn như: Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen do C.Mác viết năm 1843; Bản thảo kinh tế triết học do C.Mác viết năm 1844; Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh do Ph.Ăngghen viết năm 1845; Gia đình thần thánh do C.Mác và Ph.Ăngghen viết chung năm 1845; Hệ tư tưởng Đức do hai ông viết năm 1846; Sự khốn cùng của triết học do C.Mác viết năm 1847 và Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản do Ph.Ăngghen viết năm 1847. ở thời điểm viết Tuyên ngôn là lúc C.Mác và Ph.Ăngghen đã đạt đến trình độ phân tích và khái quát lý luận cao, đã vận dụng nhuần nhuyễn phép biện chứng duy vật vào việc xem xét bản chất các quan hệ kinh tế và xã hội, kinh tế và chính trị của hiện thực xã hội tư sản đương thời, rút ra những kết luận mang tính quy luật của sự phát triển lịch sử. Sự thống nhất hữu cơ của tất cả các nhân tố đó và sự thể hiện nó thông qua thiên tài sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen kết hợp với cảm quan nhân đạo chủ nghĩa của các ông, hướng toàn bộ tư tưởng, tình cảm, niềm tin, ý chí và hành động vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng con người đã giúp các ông đạt đến đỉnh cao nhận thức khoa học ở thời đại mình. Giữa tháng Chạp năm 1847, sau khi được Đại hội thứ hai của Liên đoàn những người cộng sản giao nhiệm vụ biên soạn bản Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đến Bruyxen để cùng viết. Nhưng đến cuối tháng chạp 1847 Ph.Ăngghen phải trở lại Pari dự họp, do đó toàn bộ công việc soạn thảo bản Tuyên ngôn đều do Mác gánh vác. Cuối tháng giêng 1848, ông đã hoàn thành việc biên soạn lần cuối tác phẩm này và gửi bản thảo sang Luân đôn cho BCHTW Liên đoàn những người cộng sản. US được BCHTW hoàn toàn tán thành và được in vào tháng 2 tại một nhà in nhỏ ở Luân đôn. II Một số nội dung tư tưởng chính trị chủ yếu Như đã nói từ đầu, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là văn kiện lý luận chính trị quan trọng nhất của Đảng cộng sản vào giữa thế kỷ XIX, do đó những nội dung tư tưởng chính trị được thể hiện rõ nét trong tác phẩm này. Có thể kể đến một số nội dung sau: chính trị, quyền lực chính trị, đấu tranh chính trị; sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đảng chính trị, vấn đề nhà nước và nhà nước của giai cấp vô sản. Sau đây chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến từng nội dung nói trên. 1 Chính trị Trong lời tựa cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Ph.Ăngghen có viết: Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại28. Luận điểm hạt nhân đó xuyên suốt Tuyên ngôn giúp cho chúng ta thấy rõ nhận thức nhất quán của C.Mác và Ph.Ăngghen về chính trị. Ở đây chính trị như một thành tố của kiến trúc thượng tầng được quyết định bởi cơ sở hạ tầng phương thức sản xuất và cơ cấu xã hội của nó. Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, quan hệ chính trị xuất hiện như một tất yếu lịch sử trong các xã hội đã phân chia thành giai cấp. Sự xuất hiện của giai cấp và cùng với nó là sự xuất hiện của Nhà nước đã làm cho chính trị ra đời. Quan điểm chính trị gắn liền với giai cấp ấy được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn: Mỗi bước phát triển của giai cấp tư sản đều có một bước tiến bộ chính trị tương ứng29. Bước tiến về chính trị ấy của giai cấp tư sản được thể hiện ở chỗ, giai cấp tư sản từ khi đại công nghiệp và thị trường thế giới được thiết lập, đã độc chiếm hẳn được quyền thống trị chính trị trong nhà nước đại nghị hiện đại. Như vậy, ở đây có thể hiểu chính trị là quan hệ của các giai cấp và các tầng lớp xã hội đối với nhà nước và chính phủ, là lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp. Vấn đề chính trị là vấn đề động chạm đến chính quyền, đến nhà nước. Chính trị cũng có thể là một chế độ và một hình thức thực hiện quyền lực của một giai cấp nhất định. Trong Tuyên ngôn C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho thấy giai cấp tư sản đập tan xiềng xích của chế độ phong kiến để thiết lập chế độ xã hội và chính trị thích ứng với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản.. Chính trị trong Tuyên ngôn còn được hiểu là những trào lưu tư tưởng của một giai cấp nhất định. Chẳng hạn, khi phê phán chủ nghĩa xã hội phong kiến, C.Mác và Ph.Ăngghen có viết: Trong hoạt động chính trị, họ tích cực tham gia vào tất cả những biện pháp bạo lực chống giai cấp công nhân30. Trào lưu tư tưởng này mà đại diện của nó là giai cấp quý tộc phong kiến đã thể hiện thái độ và hành động chống lại giai cấp công nhân. Như vậy rõ ràng đây là vấn đề quan hệ giữa các giai cấp và vì thế là vấn đề chính trị. Với quan điểm duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu rõ mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế. kinh tế quyết định chính trị, vì chính trị được hình thành trên cơ sở kinh tế: sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị31. Kinh tế quyết định chính trị còn được thể hiện ở chỗ kẻ nào nắm được quyền lực kinh tế thì sẽ nắm được quyền lực chính trị. Hay nói cách khác, kinh tế là biểu hiện tập trung về chính trị. Trong Tuyên ngôn có đoạn: Giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và dân sự. Nó tập trung dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị32. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ rằng, chính trị luôn luôn vận động và phát triển cùng với sự vận động của kinh tế. Các ông viết: Lịch sử tư tưởng chứng minh cái gì nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị33. Cho nên, muốn thay đổi về chính trị, thì trước hết phải thay đổi tận gốc về kinh tế. Phân tích mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ sự tác động của chính trị đối với kinh tế. Các ông cho rằng, chính trị là phương thức để đoạt được lợi ích kinh tế. Nếu như giai cấp tư sản dùng sự thống trị chính trị của nó trong nhà nước, dùng chính quyền nhà nước phục vụ cho lợi ích của nó, từ hệ thống pháp luật đến chính sách thuế khoá tất thảy đều là phương tiện để tước đoạt lợi ích kinh tế, thì đối với giai cấp vô sản, chính trị cũng là phương thức để đoạt được lợi ích kinh tế. Tuyên ngôn nói rõ: Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất34. Những luận điểm về chính trị mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra trong Tuyên ngôn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cho đến nay vẫn rất có ý nghĩa, giúp chúng ta có cách nhìn nhận và phân tích đúng đắn, xử lý hợp lý những vấn đề chính trị hiện nay như mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, vấn đề chính trị gắn với lợi ích, các vấn đề quản lý nhà nước v.v... 2 Quyền lực chính trị Như đã nêu ở trên, chính trị là vấn đề gắn với giai cấp và nhà nước. Quyền lực chính trị do đó cũng là quyền lực của một giai cấp nhất định trong việc giành, giữ và quản lý nhà nước. Tuyên ngôn cho thấy rằng, cùng với sự thiết lập thị trường và nền đại công nghiệp, giai cấp tư sản đã nắm giữ quyền lực chính trị trọn vẹn. Quyền lực chính trị ở đây được hiểu là quyền lực nhà nước vì nhà nước đó hoàn toàn thuộc về quyền của giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: Chính quyền quốc gia hiện nay đó chỉ là uỷ ban điều hành các công việc chung của toàn bộ giai cấp tư sản35. Khái niệm về quyền lực chính trị được C.Mác và Ph.Ăngghen nêu rõ trong Tuyên ngôn: Quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác36. Bạo lực có tổ chức ấy được thể hiện ra là gì? Đó là một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, hàng rào thuế quan thống nhất v.v... Một giai cấp có được những cái đó chỉ khi nó nắm được chính quyền. Đối với giai cấp tư sản cũng vậy, bất cứ ở chỗ nào mà nó chiếm được chính quyền thì nó đạp đổ những quan hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên, nghĩa là nó đã thực thi quyền lực chính trị. Chính vì quyền lực chính trị gắn với việc nắm chính quyền, do đó Tuyên ngôn cũng chỉ rõ rằng, muốn nắm được quyền lực chính trị thì giai cấp vô sản phải giành được chính quyền. Cũng vì vậy, vấn đề giành chính quyền được xác định là mục đích của Đảng cộng sản: Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền37. Tuy nhiên, sẽ không bền vững nếu quyền lực chính trị không gắn với quyền lực kinh tế, vì quyền lực kinh tế quyết định quyền lực chính trị. kẻ nào nắm được quyền lực kinh tế thì sẽ nắm được quyền lực chính trị. tư liệu sản xuất và tài sản tập trung vào tay ai thì quyền lực chính trị cũng tập trung vào đấy. Luận điểm này trong Tuyên ngôn thể hiện rất rõ và thực tế hiện nay ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng chứng minh điều đó. Đồng thời, Tuyên ngôn cũng cho thấy rằng quyền lực chính trị tác động, chi phối quyền lực kinh tế. Giai cấp thống trị dùng công cụ quyền lực của mình để phục vụ cho lợi ích kinh tế, củng cố quyền lực kinh tế của giai cấp mình. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước... và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất38. Các quan sát về hệ thống chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay cho thấy, dù đảng nào chi phối chính phủ, các chính sách của nó đều nhất quán trong việc bảo vệ các lợi ích kinh tế của giới tư bản. Trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế, nhà nước sẵn sàng gạt bỏ các xem xét về việc làm và phúc lợi xã hội, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của người lao động với chiêu bài phục hưng nền kinh tế quốc dân vì lợi ích quốc gia. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nền chính trị Mỹ bị chi phối một cách căn bản bởi khoảng 7000 nhân vật. Đó là các chủ nhà băng, chủ các công ty lớn, những người nắm giữ các tổ hợp công nghiệp, các tổ hợp truyền thông đại chúng khổng lồ. Còn trên thế giới như một tổng thể thì có thể nói rằng, có một hệ thống tinh vi và hùng mạnh được dựng lên để kiểm soát nền kinh tế thế giới. Các nước trong nhóm G7 (Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Italia, Anh, Canada) gặp nhau hàng năm để phối hợp các chính sách kinh tế và đặt ra mục tiêu phát triển. Thông qua tổng số phiếu bầu của mình, 7 nước này kiểm soát các tổ chức quốc tế quan trọng nhất về kinh tế: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Uỷ ban tài trợ phát triển (DAC thuộc OECD), và Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Các nước này thiết lập và điều hành một hệ thống tổ chức không phải để các nước chậm phát triển trở thành phát triển, mà là để bảo vệ vị trí thống trị cũng như các đầu tư của mình trên thế giới. Như vậy, những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về quyền lực chính trị và nhất là về mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế thể hiện trong Tuyên ngôn, cho đến nay vẫn còn đúng và không thể phủ nhận được. Mặc dầu, so với trước đây, những hình thức thể hiện của nó có vẻ phong phú hơn, tinh vi hơn, song về bản chất không thể khác được. Khi nghiên cứu về quyền lực chính trị, cũng cần lưu ý đến một luận điểm nữa trong Tuyên ngôn. Đó là luận điểm nói về sự mất đi tính chất chính trị của quyền lực công cộng khi đối kháng giai cấp không còn nữa. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: Khi những đối kháng giai cấp đã mất đi trong tiến trình của sự phát triển và toàn bộ sản xuất đã tập trung trong tay những cá nhân đã liên hợp lại với nhau thì quyền lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó39. Dĩ nhiên, luận điểm đó hoàn toàn mang tính nguyên tắc và phù hợp với lôgích của khái niệm quyền lực chính trị mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ở trên: quyền lực chính trị là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác. Do đó khi đối kháng giai cấp không còn nữa thì bạo lực ấy cũng không cần thiết nữa. 3 Đấu tranh chính trị Khái niệm về đấu tranh chính trị đã được C.Mác và Ph.Ăngghen nêu rõ trong Tuyên ngôn: Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị40. Như vậy, về thực chất, đấu tranh chính trị là đấu tranh giai cấp. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định trong một tác phẩm khác mà ông đã viết về sau: Tất cả cuộc đấu tranh chính trị đều là đấu tranh giai cấp41. Đấu tranh giai cấp, hay đấu tranh chính trị là một chủ đề lớn xuyên suốt tác phẩm Tuyên ngôn. Với chủ đề này trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ phân tích cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, mà ở mức độ cao hơn, các ông đã khái quát nâng lên thành lý luận về đấu tranh chính trị, nêu rõ khái niệm và những đặc điểm của nó. Theo các ông, đấu tranh chính trị có những đặc điểm sau đây: Đặc điểm thứ nhất: đấu tranh chính trị xuyên suốt lịch sử xã hội có giai cấp và là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: Lịch sử tất cả các xã hội từ trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp42. Với nhận định đó, Tuyên ngôn đã đưa ra nguyên lý về đấu tranh giai cấp như là một nguyên lý phổ biến, là đặc trưng và là động lực thúc đẩy những biến đổi xã hội trong các xã hội đã phân chia thành giai cấp. Đặc điểm thứ hai: đấu tranh chính trị là cuộc đấu tranh mang tính chất quyết liệt giữa hai giai cấp đối kháng và bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau43. Luận giải cho điều đó, Tuyên ngôn đã phân tích quá trình phát triển của cuộc đấu tranh chính trị giữa giai cấp vô sản và tư sản, tính chất triệt để của nó, đồng thời khẳng định niềm tin chắc chắn rằng sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau. Đặc điểm thứ ba: đấu tranh chính trị giữa giai cấp vô sản và tư sản là cuộc đấu tranh có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng. Trong Tuyên ngôn C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng, từ thực tiễn đấu tranh, những người vô sản bắt đầu liên hiệp lại và đi đến thành lập các đoàn thể chuẩn bị trước cho những cuộc đấu tranh. Sự tổ chức ấy của những người vô sản tạo điều kiện cho sự ra đời của chính đảng vô sản. Tuyên ngôn có đoạn: Sự tổ chức như vậy của những người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau phá vỡ. Nhưng nó luôn luôn được tái lập và luôn luôn mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, hùng mạnh hơn44 .Như vậy, sự lãnh đạo của chính đảng vô sản là cần thiết khách quan. Nó đánh dấu bước trưởng thành của phong trào vô sản từ tự phát đến tự giác, hướng cuộc đấu tranh theo lý tưởng chính trị nhất định, là điều kiện để bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp vô sản. Đặc điểm thứ tư: đấu tranh chính trị là đấu tranh có mục đích rõ ràng: giành, giữ chính quyền. Chính vì vậy, Tuyên ngôn đã xác định rõ mục đích trước mắt của những người cộng sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản là giành lấy chính quyền. Đặc điểm thứ năm: đấu tranh chính trị về thực chất là nhằm giải phóng về kinh tế. Tuyên ngôn cho thấy rằng, việc giai cấp tư sản lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến là nhằm thiết lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo ra lực lượng sản xuất mới. Cũng như vậy, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị, thì nó sẽ dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Quan điểm này về sau được Ph.Ăngghen khái quát lại: Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh chính trị, xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế45. Đặc điểm thứ sáu: đấu tranh chính trị còn là đấu tranh giữa các ý thức hệ, được tiến hành thường xuyên và liên tục. Vì chính trị là vấn đề quan hệ giữa các giai cấp, do đó đấu tranh chính trị còn được diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng, giữa các hệ tư tưởng của các giai cấp đối kháng. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng xác định rõ nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng đối với Đảng cộng sản: Không một phút nào Đảng cộng sản lại quên giáo dục cho công nhân một ý thức hết sức sáng rõ về sự đối kháng kịch liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, để khi có thời cơ thì công nhân Đức biết sử dụng những điều kiện chính trị và xã hội do sự thống trị của giai cấp tư sản tạo ra, như là vũ khí chống lại giai cấp tư sản46. Luận điểm này trong Tuyên ngôn cho đến nay vẫn còn rất có ý nghĩa. Thực tiễn cho thấy rằng cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng vẫn diễn ra hằng ngày hằng giờ ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình ở nước ta là một bằng chứng cho thấy tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh này. Cho nên, trong các văn kiện nghị quyết, Đảng Cộng sản Việt Nam đều coi công tác tư tưởng lý luận là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Khi nghiên cứu vấn đề đấu tranh chính trị trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, cũng cần lưu ý một luận điểm nữa về cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, cuộc đấu tranh này sẽ dẫn tới giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp vô sản sẽ trở thành giai cấp thống trị, tiêu diệt những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đồng thời nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp. 4 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một bước tiến quan trọng trong lý luận chính trị thời bấy giờ và đây là một luận thuyết quan trọng của chủ nghĩa xã hội khoa học mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra. Trong khi các trào lưu tư tưởng chính trị khác không nhìn thấy vai trò của giai cấp công nhân, không nhận thấy ở giai cấp vô sản một tính chủ động lịch sử nào, một cuộc vận động chính trị nào của bản thân giai cấp vô sản cả thì lần đầu tiên, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tuyên bố đây là lực lượng đào huyệt chôn giai cấp tư sản, xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng một xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mặc dầu ý kiến cho rằng việc giải phóng giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân đã được C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên trong một loạt tác phẩm của hai ông, bắt đầu từ những năm 40 của thế kỷ XIX song ở Tuyên ngôn, tư tưởng này được thể hiện ở dạng cô đúc, mang tầm khái quát lý luận cao. Trong Lời tựa cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ph.Ăngghen đã nhận định rằng, tư tưởng đó ắt phải đánh dấu một bước tiến trong khoa học lịch sử, giống như học thuyết của Đácuyn trong sinh vật học. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao gồm: Một là, lật đổ giai cấp tư sản, tổ chức thành giai cấp thống trị: Giai cấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản47 . Hai là, xoá bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới: Những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá huỷ hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu và làm nổ tung toàn bộ cái thượng tầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội quan phương48. Ba là, giải phóng toàn xã hội khỏi ách áp bức, bóc lột. Giai cấp vô sản không còn có thể tự giải phóng khỏi ách của giai cấp bóc lột và áp bức mình, tức là giai cấp tư sản, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn xã hội khỏi ách bóc lột, áp bức khỏi tình trạng phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp49. Trong Tuyên ngôn cũng nêu rõ rằng, con đường để thực hiện sứ mệnh lịch sử đó là bạo lực cách mạng. Tuyên ngôn cũng lý giải những đặc điểm quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sở dĩ giai cấp công nhân có được sứ mệnh lịch sử đó là do địa vị xã hội, điều kiện sinh hoạt và bản chất cách mạng của nó quy định. Về địa vị, giai cấp công nhân là những người công nhân làm thuê hiện đại (không có tư liệu sản xuất và phải bán sức lao động của mình để sống) và chiếm số đông trong xã hội. về điều kiện sinh hoạt, vì là những người bị bóc lột, bị áp bức, do đó điều kiện sinh hoạt của giai cấp công nhân hết sức thấp kém. Về bản chất giai cấp, đây là giai cấp tiên tiến, đại biểu cho xu hướng tiến lên của đại công nghiệp. Hơn ai hết, họ là những người được rèn luyện về tính kỷ luật, có tri thức nhất định, có ý thức chính trị và vì thế trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng50. Để làm nổi rõ bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa các giai cấp khác ra so sánh. Chẳng hạn: Các tầng lớp trung đẳng là những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương, thợ thủ công và nông dân, tất cả đều đấu tranh chống giai cấp tư sản để cứu lấy sự sống còn của họ với tính cách là những tầng lớp trung đẳng. Do địa vị xã hội của mình nên họ không có tính cách mạng mà có tính bảo thủ. Đôi khi họ lại còn trở thành phản động: họ tìm cách làm cho bánh xe lịch sử quay ngược trở lại; còn tầng lớp vô sản lưu manh, cái sản phẩm tiêu cực ấy của sự thối rữa của những tầng lớp bên dưới nhất trong xã hội cũ, thì đây đó, có thể được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng điều kiện sinh hoạt của họ lại khiến họ sẵn sàng bán mình cho những mưu đồ của phe phản động. Trong khi đó, những người vô sản chẳng có gì là của mình để bảo vệ cả, họ phải phá huỷ hết thảy những cái gì, từ trước đến nay, vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu. Trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản, họ chẳng có gì để mất, ngoài xiềng xích áp bức bóc lột của giai cấp tư sản. Tuyên ngôn khẳng định rằng sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân tất yếu sẽ được hoàn thành và điều kiện để nó hoàn thành sứ mệnh đó là có Đảng lãnh đạo. 5 Đảng chính trị Những luận điểm về đảng đã được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày rải rác ở nhiều tác phẩm, chẳng hạn như Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức, Chủ nghĩa xã hội ở Đức, Bàn về quyền uy v.v...Nhưng với Tuyên ngôn, thì đây là lần đầu tiên những luận điểm ấy được các ông khái quát thành lý luận. Khái niệm về đảng trong Tuyên ngôn được hiểu như sau: Đảng là đội tiên phong, là bộ phận giác ngộ nhất của giai cấp vô sản. C.Mác và Ph.Ăngghen nêu rõ: Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản51. Sự hình thành của Đảng bắt nguồn từ sự liên hiệp của những người vô sản thành các đoàn thể, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh. Sự tổ chức ấy của những người vô sản tạo điều kiện cho sự ra đời của chính đảng vô sản. Tuyên ngôn cho rằng, sự ra đời của chính Đảng vô sản là một tất yếu khách quan phù hợp với quy luật đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản: Sự tổ chức như vậy của những người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau phá vỡ. Nhưng nó luôn luôn được tái lập và luôn luôn mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, hùng mạnh hơn52. Nghiên cứu về đảng, cũng cần nắm vững những đặc điểm của nó mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã đúc kết lại trong Tuyên ngôn. Có thể kể đến những đặc điểm sau: Đảng mang tính giai cấp, đại diện cho lợi ích của giai cấp: Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào khác tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản53. Đảng là tổ chức có mục đích, nhiệm vụ rõ ràng. Tuyên ngôn tuyên bố rằng, mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản là lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, và giành lấy chính quyền. Đảng có lý luận soi đường cho hoạt động của mình. Lý luận đó không phải là giáo điều mà là những nguyên lý được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu54. Đảng có cương lĩnh chính trị, có chiến lược, sách lược cách mạng. Tuyên ngôn tuyên bố rằng, đã đến lúc những người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình và phải có một Tuyên ngôn của đảng của mình. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản chính là cương lĩnh chính trị của đảng vô sản, trong đó trình bày quan điểm, mục đích, nhiệm vụ, chiến lược và sách lược của Đảng. Lý luận về đảng trong Tuyên ngôn còn bao gồm những nguyên tắc xây dựng đảng. Tuyên ngôn thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức Đảng là: Đảng cộng sản được xây dựng từ đội ngũ đảng viên là những người vô sản cách mạng nhất cả trong hành động và trong nhận thức. Tuân thủ nguyên tắc này mới đảm bảo cho Đảng trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân. Trong sinh hoạt đảng, đảng tuân thủ các nguyên tắc phê bình và tự phê bình, nguyên tắc công khai. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, cần phê phán những lời nói suông và những ảo tưởng trong nhận thức. Đồng thời, các ông quan niệm rằng những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình55. Đoàn kết quốc tế vô sản cũng là một nguyên tắc trong xây dựng Đảng. Tuyên ngôn tuyên bố rằng, những người cộng sản ở mọi nơi đều phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hợp của các đảng dân chủ ở tất cả các nước. Nguyên tắc này được C.Mác và Ph.Ăngghen cô đúc lại thành khẩu hiệu vô sản tất cả các nước đoàn kết lại. 6 Vấn đề nhà nước và nhà nước của giai cấp vô sản Vấn đề nhà nước đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến trong nhiều tác phẩm như Hệ tư tưởng Đức (viết trước Tuyên ngôn) và Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước (do Ph.Ăngghen viết năm 1884). Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu kiềm chế những sự đối kháng giai cấp và đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên nhà nước là của giai cấp có thế lực nhất, của giai cấp thống trị. Khái niệm nhà nước như là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị đã được thể hiện ở ngay từ tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, đó là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ56. Đến Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, vấn đề nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước lại được C.Mác và Ph.Ăngghen làm sáng rõ trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nhà nước tư sản ra đời cũng là sản phẩm của mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và phong kiến. Bản chất giai cấp của nhà nước tư sản được C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: Chính quyền nhà nước hiện đại chỉ là một uỷ ban quản lý những công việc chung của toàn thể giai cấp tư sản57. Giai cấp tư sản sử dụng nhà nước của mình làm công cụ đạp đổ các quan hệ phong kiến, gia trưởng. Nó thay chế độ bóc lột thời nô lệ và phong kiến được che đậy bằng tôn giáo và chính trị bằng chế độ bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp tàn nhẫn. Như vậy, về thực chất, Nhà tư sản làm chức năng là công cụ thống trị xã hội và là cơ quan trấn áp của riêng giai cấp tư sản. Ngoài ra, khi bàn đến chức năng của nhà nước nói chung, cũng cần lưu ý đến chức năng xã hội của nó. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, muốn áp bức một giai cấp nào đó thì cần phải bảo đảm cho giai cấp ấy những điều kiện sinh sống khiến cho họ, chí ít, cũng có thể sống được trong vòng nô lệ. Cho nên giai cấp thống trị chỉ bảo vệ được địa vị thống trị của mình chừng nào nó biết thực hiện các chức năng xã hội. Luận điểm này thể hiện rõ ở cuối chương I của Tuyên ngôn. Việc tiếp cận vấn đề nhà nước từ cơ sở kinh tế và đưa nội dung giai cấp vào khái niệm nhà nước và pháp quyền trong Tuyên ngôn đã làm cho vấn đề nhà nước trở nên hiện thực hơn. Nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, nó càng không phải là cái hiện thực của ý niệm đạo đức, hay hình ảnh và hiện thực của lý tính như quan điểm của Hê ghen. Tính hiện thực của nhà nước chỉ có thể bảo đảm trước hết bằng nội dung kinh tế. Điều dó được thể hiện rõ qua phân tích của C.Mác và Ph.Ăngghen rằng giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất, về tài sản và dân cư. Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người. Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị. Nội dung kinh tế và tính chất giai cấp đã quy định những đặc trưng của nhà nước tư sản: một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất58 Một trong những đặc trưng của nhà nước là pháp luật. Khi nói về pháp quyền tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định59. Như vậy, Tuyên ngôn cho thấy rằng nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội đồng thời xuất hiện, đều có bản chất giai cấp và cho điều kiện sinh hoạt vật chất quyết định, đều là công cụ thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Quan điểm duy vật lịch sử ấy về vấn đề nhà nước và pháp luật luôn nhất quán và nổi rõ trong Tuyên ngôn. Nếu như vấn đề nhà nước đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến từ những tác phẩm trước Tuyên ngôn và được các ông phát triển lên ở Tuyên ngôn, thì vấn đề nhà nước của giai cấp vô sản lại là một vấn đề mới. Có thể nói, vấn đề này được đặt ra như là một kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản, vì mục đích của cuộc đấu tranh này là giành chính quyền. Chỉ có nắm được chính quyền thì giai cấp vô sản mới tổ chức thực thi quyền lực chính trị của mình được. Khi bàn về khái niệm nhà nước của giai cấp vô sản, V.I.Lênin cho rằng một trong những định nghĩa rất hay về nó là ở tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Trong tác phẩm này, nhà nước của giai cấp vô sản có thể được hiểu là nhà nước trong đó giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị và đại diện cho lợi ích của đa số những người lao động. Tuyên ngôn chỉ rõ: Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị...60. ở đây, khi nói đén dùng sự thống trị chính trị của mình tức là nói đến việc giai cấp vô sản cầm quyền đứng ra thành lập bộ máy nhà nước đại diện cho lợi ích của giai cấp mình, chứ không phải chỉ đơn thuần là sử dụng bộ máy nhà nước sẵn có và bắt nó hoạt động phục vụ mình. Điều này đã được Ph.Ăngghen nói rõ trong Lời tựa cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 Tuyên ngôn của Đảng cộng sản: giai cấp công nhân không thể chỉ nắm lấy bộ máy nhà nước sẵn có và bắt nó hoạt động phục vụ mình61. Giai cấp vô sản sẽ điều hành nhà nước trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, văn hoá giáo dục để phục vụ cho lợi ích của mình. Tuyên ngôn cũng nêu 10 biện pháp mà nhà nước của giai cấp vô sản ở những nước tiên tiến có thể áp dụng. Dù mới chỉ là những nét phác thảo, nhưng Tuyên ngôn cũng cho thấy rõ tính ưu việt của nhà nước của giai cấp vô sản là ở tính nhân văn của nó, một nhà nước vì con người sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người62 III – Ý nghĩa của tác phẩm. Với tính chất là cương lĩnh chính trị của Đảng, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản có một ý nghĩa hết sức to lớn cả về mặt lý luận và trong việc chỉ đạo thực tiễn đối với các Đảng cộng sản và phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới. Đánh giá về tác phẩm này, V.I.Lênin viết: Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh63. Với ý nghĩa là cương lĩnh chính trị của giai cấp vô sản, Tuyên ngôn đã nêu rõ quan điểm, mục đích, chiến lược và sách lược của Đảng cộng sản chỉ ra tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản, những nhiệm vụ, biện pháp mà giai cấp vô sản cần áp dụng để đạt được mục đích cuối cùng giải phóng vĩnh viễn xã hội khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp, đem lại tự do vĩnh viễn cho con người. Tuyên ngôn đã trang bị về lý luận cách mạng cho giai cấp vô sản, trang bị thế giới quan cách mạng, phương pháp tư duy biện chứng duy vật cho giai cấp vô sản, giúp cho giai cấp vô sản tránh được tình trạng mò mẫm và tính chất tự phát trong tiến trình cách mạng của giai cấp mình. Ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn của Tuyên ngôn với tính chất là cương lĩnh chính trị của giai cấp vô sản được thể hiện ở chỗ, sau khi Tuyên ngôn ra đời, nó đã được dịch và in ra nhiều thứ tiếng, tái bản nhiều lần và phổ biến rộng rãi trong công nhân tất cả các nước. Nó đã cổ vũ tinh thần đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản trên toàn thế giới trong công cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp. Những nguyên lý trình bày trong Tuyên ngôn đã được vận dụng và kiểm nghiệm trong thực tiễn qua Công xã Pari, Cách mạng tháng Mười và các phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới. 157 năm đã trôi qua kể từ khi Tuyên ngôn của đảng cộng sản ra đời. Trong khoảng thời gian ấy rất nhiều biến đổi to lớn đã diễn ra trên thế giới. Thực tiễn thời đại ngày nay khẳng định sự đúng đắn của các nguyên lý cơ bản mà Mác, Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn đồng thời đòi hỏi vận dụng các nguyên lý đó với tinh thần sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh mới. 1. Về chủ nghĩa t¬ư bản. Trải qua thêm một thế kỷ rưỡi phát triển của chủ nghĩa tư bản kể từ khi Tuyên ngôn ra đời đến nay ngư¬ời ta vẫn thấy sự phân tích về sự phát sinh, phát triển và dự báo về vận mệnh của giai cấp tư sản và của chủ nghĩa tư bản mà Mác và Ăngghen nêu ra trong Tuyên ngôn là đúng đắn. Theo đó, giai cấp tư sản đã ra đời từ những tầng lớp dân cư¬ thành thị, thể hiện nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đòi đ¬ược giải phóng khỏi sự kìm hãm của quan hệ sản xuất phong kiến. Chính vì thế, giai cấp tư sản đã từng đóng vai trò là giai cấp tiến bộ, cách mạng và trong thời kỳ đầu mà nó thống trị đã “tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”64. Chủ nghĩa tư bản đã được nhìn nhận trên quan điểm tiến hoá lịch sử nh¬ư là nấc thang tất yếu mà những thành tựu do nó tạo ra sẽ là những tiền đề không thể thiếu cho các nấc thang tiếp theo của sự phát triển xã hội. Nh¬ưng cũng lại chính ở mức độ mà lực lượng sản xuất đạt tới trong thời đại thống trị của giai cấp tư sản, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu t¬ư nhân tư bản chủ nghĩa trở nên không còn thích hợp nữa. Lực lượng sản xuất “trở thành quá mạnh đối với quan hệ sở hữu…, các quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở sự phát triển của nó”.65 Khủng hoảng sản xuất thừa, thất nghiệp, kéo theo hàng loạt hiện t¬ượng suy thoái là những dấu hiệu đầu tiên và sẽ trở thành cố hữu chứng tỏ sự lỗi thời của quan hệ sản xuất tư bản, sự bất lực của giai cấp tư sản… Giống nh¬ư các xã hội trước nó, chủ nghĩa tư bản tạo nên những nhân tố phủ định bản thân nó. Bư¬ớc chuyển tiếp sang một giai đoạn lịch sử mới được chuẩn bị tiền đề ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản. Chính sự tiến bộ xã hội làm xuất hiện nhu cầu khách quan chuyển giao vai trò quản lý xã hội từ giai cấp tư sản sang một giai cấp mới giai cấp vô sản. Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn là chủ nghĩa tư bản nên mâu thuẫn cơ bản của nó vẫn là mâu thuẫn chung cho chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu t¬ư nhân tư bản chủ nghĩa. Cũng vẫn như¬ trước đây, ngày nay mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư¬ nhân tư bản chủ nghĩa luôn biểu hiện thành mâu thuẫn xã hội mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Ngày nay, cơ cấu xã hội giai cấp của xã hội tư bản hiện đại phức tạp hơn trước đây nhiều, sự phân công lao động trong xã hội tư bản hiện đại tạo ra rất nhiều ngành nghề mới với sự phân tầng xã hội phức tạp, các ngành nghề đó không hoàn toàn biệt lập với nhau mà lại đan xen chằng chịt vào nhau. Tuy thế, các trục cơ bản của sự vận động giai cấp xã hội của xã hội tư bản vẫn là mối quan hệ giữa lao động và tư bản. Đại bộ phận dân cư¬ của xã hội hiện đại là lao động làm thuê hoặc là cho các hãng tư bản hoặc là cho nhà n¬ước tư sản. Đối diện với khối nhân dân lao động trí óc và chân tay đông đảo là giai cấp các nhà tư sản, giai cấp này cũng phân tầng theo một cách mới, có thể không hoàn toàn giống với hồi đầu thế kỷ. Tuy nhiên, họ vẫn là một giai cấp thống trị, là giới chủ trong xã hội, có vai trò chi phối nhà n¬ước phục vụ chủ yếu cho lợi ích của mình. Mối quan hệ giữa lao động và tư bản về bản chất mang tính chất đối kháng. Giai cấp tư sản cầm quyền hiểu rất rõ điều này và một trong những hướng chủ yếu trong chính sách xã hội của các đảng và nhà nước tư sản là xả van an toàn, tháo ngòi nổ cho các đối kháng xã hội, không để các mâu thuẫn dẫn đến xung đột xã hội, tạo ra một sự ổn định xã hội tương đối cho trật tự tư bản chủ nghĩa. Tận dụng được cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và do những nguyên nhân khác nữa, chủ nghĩa tư bản đã có những thành tựu đáng kể trong sự phát triển kinh tế xã hội, đã giải quyết được ở mức độ nhất định vấn đề việc làm và thu nhập cho ngư¬ời lao động. Ngư¬ời lao động dưới chủ nghĩa tư bản vẫn bị bóc lột, và nếu xét theo tỷ xuất giá trị thặng d¬ư thì còn nặng nề hơn trước, như¬ng đời sống vật chất và tinh thần của họ cũng đã được cải thiện đáng kể so với trước đây; sự tha hoá lao động là điều đau khổ nhất đối với người lao động mà Mác đã chỉ ra và phân tích ngay cả trong các tác phẩm trước Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đặc biệt trong tác phẩm Bản thảo kinh tế Triết học 1844 thì nay đã bớt đi phần nào những biểu hiện tàn bạo, phi nhân tính, phản nhân đạo của nó, nh¬ưng về căn bản không hề mất đi trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong chế độ tư bản hiện đại vẫn diễn ra các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ. Hơn nữa, so với các cuộc đại khủng hoảng rất điển hình trong các năm 1929 1933, các cuộc khủng hoảng trong nửa sau thế kỷ XX có chu kỳ rút ngằn hơn. Từ những năm 70 trở lại đây, chủ nghĩa tư bản đã trải qua 5 lần khủng hoảng kinh tế thế giới 1957 1958; 1965 1967; 1973 1974; 1979 1982; 1990 1991; Ngoài khủng hoảng kinh tế chu kỳ, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại còn tồn tại song song loại khủng hoảng kinh tế cơ cấu. Khủng hoảng kinh tế cơ cấu là những sự mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế do các nhân tố không có tính chất chu kỳ tạo ra nh¬ư khủng hoảng năng l¬ượng, nguyên liệu (giá tăng vọt) khủng hoảng tài chính, tiền tệ thế giới, khủng hoảng tín dụng, nợ nần quốc tế, lạm phát mang tính thế giới… Nh¬ư vậy, mặc dù có những thay đổi so với giai đoạn trước đây, chủ nghĩa tư bản vẫn giữ nguyên bản chất của nó. Mọi mâu thuẫn cơ bản vẫn tồn tại nguyên vẹn trong xã hội tư bản và mỗi b¬ước phát triển của chủ nghĩa tư bản đều làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn đó. Đó là nhận xét khách quan của nhiều người từ những lập trư¬ờng, chính kiến khác nhau. Richard Bergeron trong cuốn “Phản phát triển cái giá của chủ nghĩa tự do” đã trích lời của Edgar Morin nói về sự suy đồi của nền văn minh tư sản: “Trong các nền văn minh gọi là phát triển của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trí tuệ, đạo đức và tình người”66. Quan sát các nư¬ớc tư bản trong một bức tranh tổng thể, nữ học giả người Mỹ Joycc Kolko trong cuốn sách nổi tiếng “Cải cách cơ cấu nền kinh tế thế giới” đã vạch ra thảm trạng của những người lao động ở các n¬ước tư bản: “Thất nghiệp đang tàn phá thoả thích cuộc sống hiện tại của các gia đình giai cấp công nhân, đồng thời cản trở tư¬ơng lai của các gia đình giai cấp trung lưu…mọi đặc điểm của sự nghèo khổ đang tăng lên đói kém, các cuộc phát chẩn, không nhà cửa, lạm dụng ma tuý, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và các cuộc tự sát” 67. Lucien Sère, nhà triết học mác xít người Pháp, trong cuốn “chủ nghĩa cộng sản làn sinh khí thứ hai” (Pari, 1990) cho rằng chủ nghĩa tư bản ngày càng đồng hoá với sự tha hoá không bờ bến. Do đó, không chỉ giai cấp công nhân, mà cả các tầng lớp lao động khác tập hợp lại thành toàn bộ những lực lượng lao động sáng tạo tham gia cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Nh¬ư vậy, từng bư¬ớc phát triển của chủ nghĩa tư bản vẫn không ngừng làm chín muồi thêm những điều kiện phủ định nó. Tóm lại, sự phân tích của Mác và Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản về sự phát sinh, phát triển và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị là cơ sở lý luận và ph¬ương pháp luận để nghiên cứu chủ nghĩa tư bản hiện đại. 2. Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sự phân tích về giai cấp công nhân và sự khẳng định về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà Mác và Ăngghen nêu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cũng vẫn còn nguyên giá trị là cơ sở lý luận và phương pháp luận để nghiên cứu về giai cấp công nhân hiện đại. Trái với luận đi
Xem thêm

36 Đọc thêm

Tiểu luận: Khả năng – hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp

TIỂU LUẬN: KHẢ NĂNG – HIỆN THỰC, LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP

Tiểu luận: Khả năng – hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức. Triết học được coi là “khoa học của mọi khoa học”, nội dung chính của nó bàn về con người và vị trí của con người trong thế giới mà họ đang sinh sống, có lẽ chính vì vậy mà triết học vừa mang tính tổng quát vừa mang tính cụ thể đối với mọi hoạt động trong xã hội cả về lý luận và thực tiễn. Cùng với sự phát triển của xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêng cũng có những bước phát triển mạnh mẽ và nằm trong tiến trình phát triển đó, triết học Mác Lênin ra đời như một sự tất yếu ngẫu nhiên. Không chỉ đứng trên lập trường của giai cấp công nhân (giai cấp tiến bộ nhất) để quan sát, phản ánh và lý giải về vấn đề con người và vị trí của con người trong thế giới tự nhiên cũng như mọi hiện tượng, các mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống kinh tế xã hội, triết học Mác – Lênin còn là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học Mác –Lênin là sự kế thừa có chọn lọc, là sự kết hợp thế giới quan duy vật và phép biện chứng của các nhà triết học đi trước, đồng thời phát triển nó ở một trình độ cao hơn để rồi nó không chỉ là thế giới quan của giai cấp công nhân, mà như Ăngghen khẳng định, nó còn trở thành sự cần thiết tuyệt đối, trở thành hình thức tư duy quan trọng nhất, cao nhất, thích hợp nhất với sự phát triển của khoa học. Nó đem lại cho khoa học hiện đại những chức năng có ý nghĩa phương pháp luận trong việc xem xét, luận giải bản thân sự phát triển của mình. Trong kho tàng tri thức đồ sộ của mình, xuất phát từ những vấn đề tưởng chừng là rất đơn giản như những nguyên lý, quy luật và các cặp phạm trù cơ bản … Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ ra con đường phát triển xã hội của nhân loại từ thấp đến cao thông qua cả lý luận và thực tiễn. Các tư tưởng đó đã được rất nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của quốc gia mình. Đối với Việt Nam chúng ta, một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác Lênin nói riêng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Đảng ta đã vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo triết học Mác Lênin, Chủ nghĩa Mác – Lênin nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mặc dù không đi vào các vấn đề mang tính cụ thể mà chỉ đưa ra những quan điểm, chủ trương, giải pháp một cách chung nhất về con người và các vấn đề có liên quan đến con người trên phạm vi toàn thế giới, nhưng trong lĩnh vực sản xuất nói chung triết học Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rất nhiều vấn đề có liên quan đến công tác sản xuất và quản lý sản xuất của các doang nghiệp như: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; các mối liên hệ phổ biến (ta cụ thể hóa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh); chỉ ra mâu thuẫn nội tại; quy trình của sự phát triển … mà trên cơ sở đó từng doanh nghiệp có thể vận dụng một cách linh hoạt trong điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình. Nhận thức được vai trò cực kỳ quan trọng của triết học Mác – Lênin đối với đời sống xã hội nói chung và hoạt động cụ thể của mỗi doanh nghiệp nói riêng nên tác giả đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu về triết học Mác – Lênin và sự vận dụng vào thực tiễn trong công tác quản lý doanh nghiệp hiện nay. Cùng với sự hiểu biết của bản thân, sự giảng dạy và hướng dẫn tận tâm của thầy giáo PGSTS. Lê Thanh Sinh, tác giả hy vọng sẽ làm rõ được những vấn đề mà hiện nay các doanh nghiệp có thể vận dụng từ lý luận của triết học Mác – Lênin nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường tính cạnh tranh trong nước và quốc tế ... Tuy nhiên do khối lượng kiến thức của triết học Mác – Lênin quá đồ sộ, pham vi nghiên cứu quá rộng trong khi điều kiện về thời gian, trình độ có hạn nên tác giả đã giới hạn đề tài nghiên cứu của mình là: “Khả năng – Hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp” với hy vọng sẽ có được sự hiểu biết vững chắc hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn lý luận của triết học Mác – Lênin về cặp phạm trù Khả năng – Hiện thực và khả năng vận dụng vào thực tiễn quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Bài tập Vận dụng những tư tưởng cốt lõi của lê nin về công tác tư tưởng vào thực tiễn nước ta hiện nay

BÀI TẬP VẬN DỤNG NHỮNG TƯ TƯỞNG CỐT LÕI CỦA LÊ NIN VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VÀO THỰC TIỄN NƯỚC TA HIỆN NAY

Môn: Quan điểm của Lênin về Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước Đề bài: Vận dụng những tư tưởng cốt lõi của Lê nin về công tác tư tưởng vào thực tiễn nước ta hiện nay? Trả lời: Trong hệ thống quan điểm của Lênin về vấn đề xây dựng Đảng, vấn đề xây dựng Đảng về tư tưởng có vai trò hết sức quan trọng, được Lênin đánh giá cao. Người coi lý luận cách mạng là điều kiện thiết yếu để hình thành và thúc đẩy phong trào cách mạng cũng như khẳng định vai trò tiên phong của đảng cách mạng: “Không có lý luận thì xu hướng cách mạng mất quyền tồn tại và sớm hay muộn, nhất định sẽ rơi vào tình trạng phá sản về chính trị”. V.I. Lênin đã chỉ ra: Không thể có một lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa Mác cả, chủ nghĩa Mác là lý luận cách mạng duy nhất của giai cấp vô sản. Vì sao chủ nghĩa Mác lại giữ được địa vị độc tôn như vậy đối với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản? Theo Người, trước hết là vì đối với C.Mác, tiêu chuẩn duy nhất của lý luận là phải trung thành với hiện thực, phải diễn đạt và giải thích về mặt lý luận nguyên nhân của cuộc đấu tranh đang diễn ra giữa các giai cấp xã hội và giữa những lợi ích kinh tế.
Xem thêm

11 Đọc thêm

ÔN THI KHOA HỌC MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ÔN THI KHOA HỌC MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

KHOA HỌC MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Huỳnh Toàn 1. Đại hội nào của Đảng xác định thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải trải qua nhiều chặng đường? a. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V. b. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI. c. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. d. Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đại hội VII. Trả lời: a 2. Công nghiệp hóa là quy luật bắt buộc của mọi nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. Nhận định trên đúng hay sai? a. Đúng b. Sai Trả lời: b 3. Triết học ra đời trong: a. Xã hội công xã nguyên thủy b. Xã hội chiếm hữu nô lệ c. Xã hội phong kiến Trả lời: b 4. Định nghĩa về vật chất được trình bày trong tác phẩm: a. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản b. Chống Duyrinh c. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán d. Biện chứng của tự nhiên Trả lời: c 5. Nội dung của phép biện chứng duy vật bao gồm: a. Hai nguyên lý ( Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự vận động phát triển) b. Hai nguyên lý, ba quy luật c. Hai nguyên lý, ba quy luật cơ bản và sáu cặp phạm trù Trả lời: c 6. Hê ghen (1770 1831) là: a. Nhà triết học duy vật b. Nhà triết học duy tâm chủ quan c. Nhà triết học duy tâm khách quan Trả lời: c 7. Ai là tác giả câu nói “Tất cả các khoa học khác đều cần thiết hơn chính triết học, nhưng không có một khoa học nào tốt đẹp hơn triết học”? a. Aristôte b. Platon c. Heghen d. Mac Trả lời: a 8. Ông được xem là nhà triết học, nhà chính trị nổi tiếng đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh thế kỷ 17. Ông là ai? a. Hêghen b. Francis Bacon c. Phơ bách d. Spinoza Trả lời: b 9. Sự mở đầu cho một thời đại mới được đánh dấu bằng: a. Sự xuất hiện một giai cấp mới b. Sự xuất hiện một hình thái kinh tế xã hội mới c. Sự xuất hiện một lực lượng sản xuất mới Trả lời: b 10. V. Lênin viết tác phẩm “Bút ký triết học” trong khoảng thời gian nào? a. 1912 1916 b. 1913 1916 c. 1914 1916 d. 1915 1916 Trả lời: c 11. Ai là người sáng lập ra chủ nghĩa Mác? a. Các Mác b. Các Mác và Angghen c. Các Mác và Lênin d. Các Mác, Ang ghen và Lênin Trả lời: b
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG QUỐC PHÒNG HỌC PHẦN 1

ĐỀ CƯƠNG QUỐC PHÒNG HỌC PHẦN 1

Câu1. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về Chiến tranh Chiến tranh là một hiện tượng lịch sử – xã hội + Các Mác, Angghen đã chứng minh: quá trình phát triển của xã hội loài người đã có giai đoạn chưa từng có chiến tranh. Đó là thời kỳ công xã nguyên thuỷ(CXNT) kéo dài hàng vạn năm con người chưa biết chiến tranh là gì. + Vì sao thời kỳ CXNT chưa có chiến tranh? Đặc trưng của chế độ này là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) hết sức thấp kém, tổ chức xã hội còn sơ khai, con người sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên. Động lực cơ bản của sự phát triển xã hội công xã nguyên thuỷ là cuộc đấu tranh giữa con người với tự nhiên. + Trong xã hội CXNT có các mâu thuẫn và xung đột giữa các bộ lạc (kể cả xung đột vũ trang) chỉ là thứ yếu, không mang tính xã hội. Nhưng cuộc tranh giành đất đai, các khu vực săn bắn, hái lượm, các bãi chăn thả, các hang động chỉ là đấu tranh để sinh tồn. Trong các cuộc xung đột ấy đã có yếu tố bạo lực vũ trang, tuy nhiều yếu tố bạo lực vũ trang chỉ có ý nghĩa để thoả mãn các nhu cầu kinh tế trực tiếp của các bộ lạc. Vì vậy, Các Mác, Ăngghen coi đây như là một hình thức lao động nguyên thuỷ. + Bất chấp thực tế đó, các học giả tư sản cho rằng, chiến tranh đã có ngay từ đầu khi xuất hiện xã hội loài người và không thể nào loại trừ được. Mục đích của họ là che đậy cho chiến tranh xâm lược do giai cấp tư sản phát động.
Xem thêm

27 Đọc thêm

20120223010740 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP TRIẾT HỌC (TƯ LIỆU THAM KHẢO)

20120223010740 TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP TRIẾT HỌC (TƯ LIỆU THAM KHẢO)

1.2. Những giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết học Mác 1. Giai đoạn MácĂngghen a) Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. Bước đầu hoạt động chính trị xã hội và khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen.

110 Đọc thêm

Cùng chủ đề