CHI PHÍ KIỂM TRA SỨC KHỎE TỔNG QUÁT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHI PHÍ KIỂM TRA SỨC KHỎE TỔNG QUÁT":

Chi phí ẩn của cháy rừng : Giá trị kinh tế ảnh hưởng đến sức khoẻ con người khi tiếp xúc khói bụi cháy rừng ở miền Nam California

CHI PHÍ ẨN CỦA CHÁY RỪNG : GIÁ TRỊ KINH TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHOẺ CON NGƯỜI KHI TIẾP XÚC KHÓI BỤI CHÁY RỪNG Ở MIỀN NAM CALIFORNIA

Liệt kê nội dung có tại Science Direct Tập chí kinh tế Lâm Nghiệp Trang chủ tập chí: www.elsevier.dejfe Chi phí ẩn của cháy rừng : Giá trị kinh tế ảnh hưởng đến sức khoẻ con người khi tiếp xúc khói bụi cháy rừng ở miền Nam California Leslie A. Richardson a,∗, Patricia A. Champ b, John B. Loomis c Khảo sát địa chất Mỹ, Pháo đài Collins Khoa học Center, 2150 Trung tâm Ave., Fort Collins,CO 80526, Hoa Kỳ Hoa Kỳ Rừng Dịch vụ, núi đá trạm nghiên cứu, 2150 Trung tâm Ave., Fort Collins, CO 80526, Đại học Colorado Nhà nước Hoa Kỳ, Ban của Nông nghiệp và Tài nguyên Kinh tế học, Clark B 320, Fort Collins, CO 80523, Hoa Kỳ Thông tin bài báo Lịch sử bài báo : Nhận ngày 23 tháng mười hai năm 2010 Bài báo được công nhận ngày 6 tháng năm năm 2011 Từ khoá : C31 C36 I12 Q51 Q53 Từ khoá : Ảnh hưởng sức khỏe Giá sẵn lòng trả Phương pháp hành vi phòng hộ để trả Chi phí bệnh tật Trạm chửa cháy Tóm tắt Con người ngày càng quan tâm đến các vấn đề về ảnh hưởng sức khỏe con người do tiếp xúc với khói cháy rừng đã bị bỏ qua trong các ước tính về thiệt hại được quy ra thành tiền từ cháy rừng. Nghiên cứu hiện nay nhấn mạnh nhu cầu cần thu thập dữ liệu tốt hơn và phân tích ảnh hưởng của các tác động này. Sử dụng dữ liệu chính duy nhất, bài báo này định lượng chi phí kinh tế của ảnh hưởng sức khoẻ con người từ đám cháy rừng lớn nhất trong lịch sử tính đến thời điểm hiện nay tại quận Los Angeles. Chi phí bệnh tật ước tính là 9.50 mỗi người bị phơi nhiễm mỗi ngày. Tuy nhiên, lý thuyết và thực nghiệm của nghiên cứu đã chỉ ra rằng biện pháp này phần lớn đánh giá thấp chi phí kinh tế thực sự của sự ảnh hưởng sức khỏe do tiếp xúc với các tác nhân gây ô nhiễm trong khi đó phương pháp này lại đã bỏ qua các chi phí của những hành động phòng hộ được thực hiện cũng như sự không hài lòng của các chi phí bỏ ra. Lần đầu tiên, phương pháp hành vi phòng hộ được đưa vào để tính giá sẵn lòng trả để làm suy giảm những nguyên nhân gây ra các vụ cháy rừng hằng ngày, và phương pháp này được ước tính khoảng 84.42 cho mỗi người tiếp xúc với các tác nhân mỗi ngày. Xuất bản bởi Elsevier GmbH thay mặt cho phân ban khoa Kinh tế học về rừng SLU Umeå, Thụy Điển. Giới thiệu Khi các đám cháy rừng ngày càng gia tăng cả cường độ và chiều dài ở nhiều nơi trên thế giới, nó là đang ngày càng trở nên quan trọng để bao gồm toàn bộ tổng chi phí thiệt hại từ các vụ cháy rừng trong bất kì đánh giá về các chính sách quản lý cháy rừng tự nhiên trong tương lai. Không một nơi nào gặp phải vấn đề này hơn tại California, tiểu bang này đã có hơn ba triệu mẫu đất của nó bị ảnh hưởng bởi cháy rừng từ năm 2007 (Cal Fire, 2011). Gia tăng mức độ quản lý và ngăn ngừa phòng chống cháy, cách thực hiện thường được đề nghị trong bang California như là một cách để giảm thiểu thiệt hại trong tương lai do cháy rừng trong tự nhiên. Những hoạt động bao gồm các hoạt động quản lý thực vật như quy định về phòng cháy là tỉa thưa rừng, nâng cao nhận thức cộng đồng và giáo dục, sự sáng tạo của Hội đồng An toàn cháy địa phương và cộng đồng cùng với sự tham gia chương trình Firewise của Mỹ. Mặc dù cách thực hiện này có thể giúp ngăn ngừa những thiệt hại từ các vụ cháy rừng trong tương lai mang lại, việc thi hành những việc trên thường bị hạn chế bởi nguồn kinh phí tài trợ. Để xác định liệu gia tăng kinh phí cho các hoạt động này hợp lý, các nhà hoạch định chính sách cần có khả năng đánh giá chính xác sự đánh đổi có liên quan bằng việc sử dụng phân tích các chính sách về kinh tế. Ở cấp liên bang, Chính sách quản lý phòng cháy ở vùng đất hoang tại Federal năm 1995 nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết đến là hiệu quả kinh tế của việc quản lý đám cháy và thông báo cho công chúng về lợi ích kinh tế của các dự án quản lý nhiên liệu và các rủi ro liên quan khi chúng ta không thực hiện chúng (USDI Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, 1995). Một trong các nguyên tắc chính chỉ đạo được cập nhật năm 2001, chính sách là Chương trình quản lý phòng cháy và các hoạt động khả thi về mặt kinh tế có thể thực hiện được, dựa trên những giá trị: phải được bảo vệ, chi phí, và mục tiêu quản lý đất và nguồn tài nguyên ( NWCG, 2001 ). Ở cấp độ Nhà nước, Chiến lược tận dụng Lửa (Strategic Fire Plan) tại California năm 2010 kêu gọi việc sử dụng các dự án phục hồi nhiên liệu có hiệu quả về mặt kinh tế theo quy định về phòng chống cháy rừng và quy định về việc tỉa thưa cây rừng. Tuy nhiên, cách duy nhất cho nhà hoạch định chính sách để đánh giá chính các hoạt động quản lý phòng cháy trên dựa vào tiêu chí hiệu quả kinh tế, dựa trên nhận thức đầy đủ về những lợi ích kinh tế của mỗi hoạt động quản lý trên, trong đó bao gồm các chi phí kinh tế phát sinh khi không tham gia các hoạt động quản lý phòng cháy. Trong khi chi phí ngăn chặn và tiền bồi thường thiệt hại được đảm bảo cho phía chủ nhà thường được báo cáo như các chi phí kinh tế chính sinh ra từ các đám cháy rừng tự nhiên, có một mối quan tâm ngày càng tăng rằng điều này thể hiện một biện pháp rất không đầy đủ các chi phí của các thiệt hại từ vụ cháy rừng (Butry và những người khác, 2001 ; Morton và những cộng sự, 2003 ; Dale, 2009 ; Zybach và những cộng sự, 2009). Một trong những vấn đề chính là sức khoẻ con người bị tác động đến từ khói bụi đám cháy thường bị bỏ qua trong lúc ước tính về thiệt hại để quy ra tiền bồi thường. Ảnh hưởng sức khỏe con người do tiếp xúc với khói các đám cháy rừng đã được đề cập từ nhiều thập kỷ nhưng hiếm khi định lượng trong các chính sách. Trong một báo cáo kỹ thuật Lâm nghiệp USDA, Gorte và Gorte (1979) giải thích rằng sự biện minh kinh tế của chi phí quản lý cháy rừng đã được kêu gọi từ những năm 1920. Họ phác thảo đường lối chỉ đạo kinh tế để xác định có bao nhiêu nên được sử dụng để bảo vệ rừng khỏi lửa và giải thích rằng mức độ tối ưu về kinh tế tài chính cho quản lý lửa dựa trên chi phí tối thiểu nhất, phương pháp cộng mất mát là những hạn chế tối đa trong tổng chi phí, chi phí phòng cháy và chi phí tổn tài nguyên, bao gồm những thiệt hại đối với sức khỏe con người. Hai mươi hai năm sau, theo Butry và những cộng sự (2001) giải thích rằng trong khi tiêu chuẩn này được phác thảo bởi Gorte (1979) yêu cầu phải tính toán có hệ thống về các chi phí có liên quan, những được và mất của một vụ cháy rừng nhất định , không có bất kì tổ chức nào ở Hoa Kỳ cố gắng định lượng ảnh hưởng tác động kinh tế hoàn chỉnh. Khi đánh giá chương trình phòng cháy chữa cháy, phân tích chính xác sẽ yêu cầu bao gồm các tác động của chi phí kinh tế về thiệt hại sức khoẻ con người từ một vụ cháy rừng có thể được bằng cách thực hiện các chương trình nên trên. Lửa lan nhanh điều đó có thể được ngăn chặn bằng cách triển khai các chương trình này. Bỏ qua những phúc lợi về mặt y tế sức khỏe trong phân tích chi phí lợi ích của chương trình như vậy có thể dẫn đến việc thiếu đầu tư vào các biện pháp ngăn ngừa như là quản lý đám cháy hoặc tỉa bớt cây rừng. Gần đây hơn , Abt et al. (2008) đã đề xuất cải tiến ngay trong bộ sưu tập dữ liệu được dùng trong đánh giá các ảnh hưởng tác động kinh tế đối với các chương trình phòng chống cháy rừng của bộ Lâm nghiệp Hoa Kỳ. Họ kêu gọi nghiên cứu thêm để có được sự đánh giá ước lượng nhất quán trong những tổn thất về tài nguyên khác nhau liên quan đến cháy rừng, trong đó bao gồm cả tác động ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Tác giả dẫn chứng hai nghiên cứu đã từng được thử nghiệm trong việc cố gắng định lượng chi phí kinh tế của các tác động ảnh hưởng sức khoẻ từ cháy rừng, Butry et al. (2001) và Rittmaster et al. (2006), cùng nhau kết luận rằng cần nghiên cứu thêm để thực hiện sâu hơn về việc đánh giá ước lượng sự tác động của ảnh hưởng sức khoẻ con người từ các hoạt động chương trình phòng chống cháy rừng. Theo Kochi et al. (2010) đã tiến hành xem xét mở rộng các tài liệu xã hội dựa trên những chính sách về chi phí kinh tế bồi thường thiệt hại cho sức khỏe con người do việc tiếp xúc khói bụi của đám cháy rừng và kết luận rằng trong khi chi phí này nên được xem xét trong chính sách quản lý cháy rừng, dựa trên nghiên cứu hiện có sẵn là khan hiếm và không đầy đủ. Nghiên cứu này tìm cách khắc phục khe hở này trong các tài liệu xã hội bằng cách phác thảo phương pháp thực nghiệm để định lượng chi phí kinh tế của ảnh hưởng sức khoẻ liên quan đến tiếp xúc khói bụi cháy rừng mà có thể sử dụng trong đánh giá thiệt hại của cháy rừng trong tương lai. Phương pháp này được chứng minh bằng một nghiên cứu điển hình về định lượng chi phí cho một mẫu cá nhân tiếp xúc với khói của đám cháy rừng từ Trạm cứu hỏa của bang California năm 2009. Trong phần dưới đây, các phương pháp sau có thể được điều chỉnh phù hợp với cách tính toán chi phí kinh tế cho sự thiệt hại sức khỏe con người do việc tiếp xúc với khói bụi từ đám cháy rừng. Cụ thể phương pháp này được ứng dụng vào phác đồ của trạm cứu hỏa bang California năm 2009, bao gồm mô tả về lĩnh vực nghiên cứu, giải thích dữ liệu thu thập, mức độ ô nhiễm và thông kê mô tả của mẫu. Cuối cùng, một phương pháp kinh tế lượng để phân tích được trình bày tiếp theo là cuộc thảo luận về kết quả, hạn chế và các tác động của việc phân tích. Phương pháp định lượng giá trị kinh tế về sự bồi thường thiệt hại cho sức khỏe Phần lớn nghiên cứu đã cố định lượng chi phí bồi thường thiệt hại cho sức khoẻ con người từ việc tiếp xúc với khói bụi từ cháy rừng, việc này được giới hạn trong chi phí bệnh tật (COI) hoặc sự bồi thường cho các chức năng tiếp cận. Chi phí bệnh tật tiếp cận được tính bằng tổng nguồn tài nguyên và chi phí cơ hội của việc phát bệnh để đạt được kết quả cuối cùng là chi phí bệnh tật ước tính từ việc tiếp xúc với các tác nhân gây ô nhiễm. Các giá trị này bao gồm chi phí chăm sóc sức khỏe y tế và tiền thuốc men, chi phí cơ hội của thời gian trong việc chăm sóc y tế và chi phí tiền lương bị mất đi do không thể làm việc vì mắc bệnh. Các cách tiếp cận chức năng thiệt hại ước tính mức độ khác nhau của một chất gây ô nhiễm như thế nào ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe của con người (được gọi là chức năng đáp ứng liều) và sau đó liên kết những kết quả sức khỏe và chi phí liên quan thu được trước đó để đi đến một chi phí cuối cùng để dự toán bệnh tật. Hai phương pháp này đã được áp dụng cho một số vụ cháy rừng trên toàn thế giới. Hon (1999), Shahwahid và Othman (1999) và Ruitenbeek (1999) tính toán các chi phí kinh tế kết hợp với ảnh hưởng sức khỏe vào năm 1997 khi trận khói mù ở Đông Nam Á xảy ra. Hon (1999) và Shahwahid và Othman (1999) ước tính chức năng đáp ứng liều lượng ban đầu để có được dự đoán về kết quả y tế do đám cháy rừng ở Singapore và Malaysia và sau đó kết nối với những kết quả này với chi phí quốc gia cụ thể là chi phí điều trị để đạt được kết quả là chi phí chung của bệnh tật. Ruitenbeek (1999) áp dụng phương pháp ước tính chức năng đáp ứng liều lượng từ Shahwahid và Othman (1999) để chuyển đổi mật độ khói bụi ở Indonesia vào kết quả chuẩn đoán y tế. Các tác giả sau này đã được sử dụng chi phí kinh tế từ các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới để tính toán chi phí y tế và giá trị của tiền lương bị mất đi từ đám cháy rừng trong tự nhiên và những trận sương mù. Butry et al. (2001) đã sử dụng kết quả thu được từ Sorenson et al. (1999) về ảnh hưởng sức khỏe của con người trải qua từ các đám cháy trong năm 1998 ở Florida (hen suyễn và viêm phế quản) và rồi liên kết với các ước tính thu được trước đó của chi phí y tế để ước tính tổng chi phí của bệnh từ các đám cháy rừng hoang trong tự nhiên. Tuy nhiên, phương pháp này đã được hiểu rõ và ghi nhận trong nhiều năm trong các tài liệu kinh tế học là chi phí của bệnh tật và chi phí tổn thương các chức năng, phương pháp đánh giá thấp chi phí kinh tế kết hợp với ảnh hưởng sức khỏe do tiếp xúc với các chất ô nhiễm (Dickie, 2003; Freeman, 2003), bao gồm cả những chất chứa trong khói bụi của đám cháy rừng. Đầu tiên, ảnh hưởng sức khỏe do khói bụi từ những đám cháy gây ra làm suy yếu khả năng nhận thức của con người, chẳng hạn như đau, khó chịu, hoặc mất những ngày vui chơi giải trí và điều này sẽ không thể đạt được chỉ trong một cách tính chi phí đơn giản của phương pháp tiếp cận bệnh. Thứ hai, nhiều người dân ở các khu vực dễ bị cháy rừng đã biết về những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến khói bụi từ đám cháy và có những hành động phòng hộ tốn kém để tự bảo vệ mình chống lại nó. Trong suốt năm 2003 cháy rừng ở miền Nam Californ Kunzli et al. (2006) phát hiện ra rằng trẻ em bị hen suyễn có nhiều khả năng hành động nhằm phòng ngừa như đeo mặt nạ, ở trong nhà và tối thiểu hóa tiếp xúc với khói bụi. Mott et al. (2002) nhận thấy rằng trong một vụ cháy rừng năm 1999 ở Bắc California gần dải phân cách thung lũng Valley Quốc gia Ấn Độ, người dân đã hành động như đeo mặt nạ, sơ tán, dùng hóa chất tẩy sạch không khí trong nhà sau các khuyến nghị trong thông báo dịch vụ công cộng. Ngay cả nếu họ không biết những rủi ro tiềm tàng này, các cư dân ở các khu vực tiếp xúc với khói từ đám cháy thường được ban hành cảnh báo về khói, tư vấn và thông báo cho họ về hành động của họ có thể làm và nên làm để tránh tổn hại sức khoẻ. Theo giải thích của Cropper (1981), cải thiện chất lượng không khí sẽ làm giảm các hành động phòng ngừa, và chi phí tiết kiệm này cần phải được đưa vào khi xác định giá trị các lợi ích của kiểm soát ô nhiễm. Xem xét lại một tài liệu nghiên cứu về chi phí kinh tế về thiệt hại sức khỏe từ khói bụi của các đám cháy rừng, Kochi et al. (2010) đã kết luận rằng một sự hiểu biết tốt hơn về hành động phòng ngừa rút ra từ các đám cháy là cần thiết khi đánh giá các chi phí liên quan đến sức khỏe của việc tiếp xúc với ô nhiễm khói bụi. Nếu cơ quan được đánh giá chính sách dựa trên tiêu chí hiệu quả kinh tế, các đo lường mức độ phù hợp của các chi phí thiệt hại sức khỏe do tiếp xúc với khói của các đám cháy sẽ là chi phí kinh tế đầy đủ của những thiệt hại. Các biện pháp chính xác về mặt lý thuyết kinh tế là giá sẵn lòng trả (WTP) để tránh thiệt hại vì nó bao gồm tất cả các chi phí cá nhân gặp phải khi tiếp xúc với khói từ các đám cháy: Chi phí y tế, tiền lương bị mất, đầu tư thời gian và tiền bạc trong việc thực hiện các hoạt động phòng ngừa để giảm tiếp xúc, và suy giảm liên quan đến các triệu chứng hoặc bị mất trí. Các phương pháp tiếp cận chức năng COI và thiệt hại bỏ qua hai thành phần cuối cùng này. Các cơ quan như: Cục bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đã nhận ra những bất cập của việc sử dụng chi phí bệnh tật và thiệt hại chức năng nhưng họ lý giải: “Hiện nay, nhiều triệu chứng bệnh lý quan trọng ít được nghiên cứu từ quan điểm sẵn lòng trả của người dân... Do đó, lợi ích được ước tính dựa trên cách tiếp cận chức năng thiệt hại trực tiếp được sử dụng trong nhiều ứng dụng bởi EPA” (U.S. EPA, NCEE). Chỉ có một số ít các nghiên cứu ước tính các chi phí kinh tế của việc sức khỏe bị các ảnh hưởng từ khói của đám cháy rừng kết hợp với các giá trị WTP vào dự toán của họ. Tuy nhiên, trên thực tế không có giá trị WTP nào ước tính được thiệt hại về mặt sức khỏe tránh được từ khói từ cháy rừng. Cả Martin et al. (2007) và Rittmasteret al. (2006) đều sử dụng hàm phản ứng theo liều lượng để ước tính trong các nghiên cứu trước đây và kết nối các kết quả y tế được ước tính đó vớilo ước tính COI, và WTP để tính toán chi phí kinh tế của việc sức khỏe bị ảnh hưởng từ một đám cháy giả định trong rừng quốc gia Kaibab và cháy Chisholm ở Canada năm 2001, tương ứng với nhà khoa học Cardoso de Mendonça et al. (2004) đã sử dụng hàm phản ứng theo liều lượng và tính toán các chi phí kinh tế của việc thiệt hại sức khỏe từ việc sử dụng lửa của nông dân ở Amazon, áp dụng các giá trị WTP chuyển từ Seroa da Motta et al. (2000a, b). Cuối cùng, Hon (1999) và Ruitenbeek (1999) nghiên cứu điều chỉnh dự toán COI bằng việc sử dụng giả định WTP: tỷ lệ COI là 2:1. Tỷ lệ này được lấy từ một loạt các giả thuyết về WTP và dự toán COI từ các tài liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (1996) mà cụ thể là những triệu chứng của chứng bệnh hen suyễn. Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào ước tính chính xác được các chi phí kinh tế lý thuyết của những thiệt hại về sức khỏe từ khói cháy rừng bằng cách sử dụng dữ liệu sơ cấp. Một phương pháp phổ biến mà có thể được sử dụng để tính toán giá trị WTP này là phương pháp hành vi phòng hộ. Nghiên cứu này sẽ áp dụng phương pháp hành vi phòng hộ để tính toán giá trị của việc giảm thiểu các thiệt hại về sức khỏe con người từ khói của vụ cháy Trạm cứu hỏa California năm 2009 và đối chiếu với chi phí ước tính khi bị bệnh. Phương pháp hành vi phòng hộ Phương pháp hành vi phòng hộ, còn được gọi là phương pháp hành vi ngăn ngừa, là một phương pháp tiếp cận ưa thích dựa vào hàm sản xuất sức khỏe được tiết lộ lần đầu bởi Grossman vào năm 1972 với sự mở rộng thành các mô hình được thực hiện bởi Cropper (1981), Harrington và Portney (1987). Khuôn khổ của mô hình được dựa trên tiền đề rằng một cá nhân đã mắc phải một số triệu chứng về sức khỏe, chẳng hạn như số ngày ốm, hàm lợi ích của mình, gây ra sự phản hiệu dụng. Biểu hiện sức khỏe này lần lượt bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như mức độ ô nhiễm, tiền đề sức khỏe tổng thể của cá nhân, các yếu tố nhân khẩu học, các yếu tố lối sống và cuối cùng, hành động tự vệ được thực hiện bởi các cá nhân để giảm nguy cơ có một sức khỏe không tốt. Hành động tự vệ được chia thành những hành động ngăn ngừa và giảm nhẹ, trong đó có các phần khác nhau. Các cựu nhân viên đang hành động để giảm nguy cơ tiếp xúc với các chất ô nhiễm đã gây ra triệu chứng y tế tiêu cực, chẳng hạn như ở trong nhà hoặc sử dụng một bộ lọc không khí trong gia đình. Các tác động tiêu biểu được nêu ra sau khi đã trải qua các nỗ lực giảm thiểu các tác động tiêu cực của những triệu chứng sức khỏe, chẳng hạn như đi bác sĩ hoặc sử dụng thuốc. Tổng chi phí để giảm nhẹ các tác động và tiền lương bị tổn thất do giảm thiểu bệnh tật là đại diện cho chi phí của bệnh và thường được tính là chi phí thiệt hại sức khỏe do tiếp xúc với khói của đám cháy rừng. Mô hình này có thể được sử dụng để tính toán WTP của cá nhân bỏ ra để tránh ô nhiễm nói chung, hoặc các đo lường triệu chứng mà kết quả từ việc tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm. Phương pháp hành vi phòng hộ và các lý thuyết nguyên tắc cơ bản của nó được giải thích chi tiết theo hai nhà khoa học Dickie (2003) và Freeman (2003). Phần tiếp theo đây chúng tôi sẽ trình bày một phép tính dựa trên thời gian đã được thiết lập thành các giai đoạn để phân tích thực nghiệm của chúng tôi đang nghiên cứu. Theo một hàm sản xuất sức khỏe (còn được gọi là một hàm sản xuất triệu chứng) đưa ra một cá nhân sẽ xuất hiện một số triệu chứng tiêu cực về mặt sức khỏe như sau: S = S(P, A, M, Z) (1) S thể hiện năng lượng sức khỏe của cá nhân, mà chúng tôi chỉ định cho số ngày bị ốm, P mang chức năng đại diện cho việc tiếp xúc với chất ô nhiễm, A đại diện cho các hoạt động ngăn ngừa dùng để làm giảm tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, từ đó giảm bớt hoặc tránh tốn thời gian bị ốm, M đại diện cho hoạt động có thể được thực hiện để giảm nhẹ đi thời gian bị bệnh, và Z đại diện cho một tập hợp các yếu tố ngoại sinh có thể ảnh hưởng đến thời gian dành cho bệnh nhân, chẳng hạn như nhân khẩu học và tình trạng sức khỏe trước khi tiếp xúc với chất ô nhiễm. Có thể giả định rằng ngày bệnh càng tăng trong khi việc tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm nhiều hơn và giảm trong việc ngăn ngừa và giảm thiểu các hành động tiếp xúc. Thông tin này sau đó có thể được sử dụng để tính toán các giá trị biên của cá nhân giảm ô nhiễm (theo Freeman, 2003 cho một nguồn gốc đầy đủ): PA⌈(∂S∂P)(∂S∂A)⌉ (2a) Hoặc PM⌈(∂S∂P)(∂S∂PM)⌉ (2b) Giá của bất kỳ hoạt động ngăn ngừa hoặc giảm thiểu nhân với tỷ lệ thay thế biên kỹ thuật giữa mức độ ô nhiễm và ngăn chặn hay hoạt động giảm nhẹ trong sản xuất một số triệu chứng tiêu cực nhất định của ngày bị ốm. Các giá trị cận biên của việc giảm thời gian dành cho bệnh bằng: (P_A)(∂S∂A) (3a) Hoặc có thể tính (P_M)(∂S∂M) (3b) Sự sẵn lòng trả biên cho việc giảm thời gian bị bệnh có thể được tính toán như giá của bất kỳ hoạt động ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ chia bởi các hiệu ứng cận biên của việc sử dụng các biện pháp ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ hoạt động trên thời gian bị bệnh. Chúng tôi sẽ minh họa về sự thích hợp của mô hình này qua khói thải ra do cháy rừng bằng cách tính toán sự sẵn sàng chi trả của một cá nhân để giảm bớt việc khói cháy rừng gây ra sẽ làm phát những triệu chứng bệnh ở con người. Một chi phí đơn giản của ước lượng bệnh sẽ được so sánh bằng giá sẵn lòng trả ở cận biên này để tính toán giá trị định lượng độ lớn của sự đánh giá quá thấp. Ngoài ra, chúng tôi sẽ tính toán tỷ lệ của WTP: COI đã thể hiện một tỷ lệ dựa trên lý thuyết mà các cá nhân có thể đo lường được chi phí của bệnh cũng như ước tính được mong muốn sẵn sàng chi trả của cá nhân. The Station Fire Không gia nghiên cứu Được biết như là đám cháy rừng lớn nhất trong lịch sử hiện đại ở Los Angeles và lớn thứ 10 ở California, vụ cháy năm 2009 đã ảnh hưởng đến đời sống của hàng ngàn người. Ngọn lửa bắt đầu bùng phát vào ngày 26 tháng 8 năm 2009 trong rừng quốc gia Angeles, tiếp giáp với khu vực đô thị của quận Los Angeles, và theo thời gian ngọn lửa ngày càng khó bị dập tắt do điều kiện thời tiết nóng, cây cối rậm rạp, cũng như địa hình gồ ghề và dốc làm nhân viên cứu hỏa khó tiếp cận. Vào thời điểm vụ cháy lớn nhất vào ngày 16 tháng 10 năm 2009 nó đã thiêu rụi 160.577 mẫu Anh, hai nhân viên cứu hỏa thiệt mạng, làm bị thương 22 người, và phá hủy 209 công trình, 89 trong số đó là nhà dân. Trong khi cháy, ngọn lửa đã đe dọa 12.000 ngôi nhà thuộc khu dân cư xung quanh và buộc hàng ngàn cư dân phải di tản khỏi nhà của họ (InciWeb, 2009). Trong suốt vụ cháy, một số cộng đồng phải đối mặt với mức chất lượng không khí rất kém như đã được khuyến cáo và tư vấn cảnh báo về khói bởi các cơ quan quản lý chất lượng không khí dọc bờ biển miền Nam và Sở Y tế công cộng ở quận Los Angeles. Những lời cảnh báo khuyên người dân trong tất cả các khu vực có nguy cơ tiếp xúc trực tiếp với khói nên tránh các hoạt động ngoài trời không cần thiết, đóng hết cửa và cửa sổ, mở máy điều hòa không khí. Các cá nhân nhạy cảm như những người có bệnh tim hoặc phổi, người già và trẻ em được khuyến cáo ở trong nhà. Hình 1 cho thấy địa điểm của vụ cháy trạm cứu hỏa ở Hoa Kỳ. Hình 1 Vị trí Station Fire Dữ liệu thu thập Để thực hiện phương pháp hành vi ngăn chặn, một cuộc khảo sát đã được thực hiện trong mùa hè năm 2009 và đã tập trung một số nhóm được tổ chức tại Anaheim, bang California vào mùa hè với bài kiểm tra khảo sát được làm trước. Khoảng sáu tuần sau khi Trạm cháy bắt đầu cuộc điều tra, một mẫu ngẫu nhiên của cư dân trong 5 thành phố trong vùng lân cận của Station Fire đã được gửi một bảng khảo sát. Năm thành phố được khảo sát bao gồm Duarte, Monrovia, Sierra Madre, Burbank và Glendora thuộc bang California. Chúng được chọn dựa trên khi đã bảng cảnh báo về chất lượng khói bụi và sự sẵn có của số liệu quan trắc chất lượng không khí để xác nhận rằng các thành phố có bị ảnh hưởng bởi khói từ đám cháy rừng tự nhiên hay chưa. (trạm quan trắc chất lượng không khí hiện tọa lạc trong các thành phố Burbank và Glendora, những trạm còn lại đã tạm ngưng hoạt động). Các thành phố cũng nằm tại vị trí đủ xa so với ngọn lửa từ đám cháy, nhà dân không bị hư hỏng hay bị phá hủy, cho phép người trả lời khảo sát tập trung vào các tác hại từ khói cháy rừng ảnh hưởng đến sức khỏe chứ không phải là thiệt hại do cháy gây ra. Cần lưu ý rằng nhiều thành phố khác ở miền Nam California không nằm trong mẫu nghiên cứu của bảng khảo sát này cũng đã được ban hành khuyến cáo về tình hình của khói lửa. Trong khi quá trình khảo sát các thành phố, chúng tôi đã không thực hiện việc rút ngẫu nhiên từ dân số toàn thành phố tiếp xúc với khói từ đám cháy rừng trong năm 2009 từ trạm kiểm soát cháy, chúng tôi hy vọng rằng các cư dân trong năm thành phố này có khả năng mang tính đại diện cho cư dân khác bị ảnh hưởng bởi vụ cháy. Chúng tôi không cố gắng để suy luận kết quả của toàn bộ sự việc và những người dân đã tiếp xúc với khói từ đám cháy rừng trong năm 2009 từ Station Fire. Việc gửi thư khảo sát đầu tiên đã diễn ra trong khoảng sáu tuần sau khi các đám cháy rừng bùng phát. Tại thời điểm này, khi xảy ra đám cháy có đến gần 99% phản hồi là đã có đủ thời gian để trở về nhà và kiểm tra thư của họ nếu họ đã sơ tán khỏi ngọn lửa. Điều này giúp ta đảm bảo rằng ngay cả những cá nhân rời nhà để tránh những ảnh hưởng sức khỏe tồi tệ nhất từ tiếp xúc với khói của đám cháy vẫn còn có trong mẫu của bảng khảo sát. Trong thời gian nhóm tập trung, người tham gia chỉ ra rằng việc chờ đợi quá lâu để gửi phản hồi khảo sát có thể làm cho nó khó khăn cho người trả lời để nhớ chính xác tất cả các thông tin cần thiết để thực hiện các phương pháp hành vi phòng hộ. Cuộc khảo sát thứ 2 được thực hiện đã không mang lại phản hồi tích cực vì ngay sau khi gửi bảng khảo sát cho các hộ dân, ngọn lửa đã tràn lan thư bị thiêu trụi. Cuộc khảo sát thứ ba diễn ra trong một khoảng thời gian hai tháng. Một khía cạnh quan trọng của việc áp dụng các phương pháp phòng hộ là để nắm bắt tất cả các cá nhân tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm có trong tay, dù có hoặc không có kinh nghiệm nào về việc ảnh hưởng sức khỏe do tiếp xúc gây ra này. Để tránh nhận được phản hồi từ chỉ những cá nhân có kinh nghiệm ảnh hưởng sức khỏe do tiếp xúc với khói đám cháy, một thư xin việc trước việc điều tra ở cả ba thư. Trong thư đầu tiên, thư xin nhấn mạnh bằng chữ đậm rằng điều quan trọng là được nghe từ mọi người trong khu vực cho dù họ đã bị ảnh hưởng bởi khói đám cháy hay không. Trong thư xin việc thứ hai tuyên bố này được mở rộng, một lần nữa bằng chữ đậm, nhấn mạnh để người trả lời rằng họ là một trong một số ít hộ gia đình được khảo sát và điều quan trọng là họ điền vào bảng khảo sát ngay cả khi gia đình của họ cảm thấy sức khỏe không hề bị ảnh hưởng. Cuối cùng, trong thư xin việc gửi thư thứ ba, một lần nữa trong chữ in đậm, người trả lời đã được nhắc nhở rằng ngay cả khi gia đình của họ cảm thấy không có ảnh hưởng sức khỏe ở tất cả các khía cạnh từ khói của đám cháy rừng, chúng tôi muốn biết làm thế nào họ tránh được những ảnh hưởng sức khỏe và họ sẽ chỉ cần điền vào một phần của cuộc điều tra. Các từ ngữ trên các chữ cái bìa đã được lựa chọn một cách cẩn thận trong một nỗ lực để khuyến khích các mẫu khảo sát đầy đủ dễ đáp ứng với từng cá nhân, ngay cả khi họ không có kinh nghiệm ảnh hưởng sức khỏe do tiếp xúc với khói thải ra từ đám cháy rừng tự nhiên. Trả lời bảng khảo sát, những người không ở nhà từ ngày đầu tiên khi đám cháy rừng đã bắt đầu kéo dài qua hai tuần sau kể từ ngày bắt đầu này đã được yêu cầu trở lại nhưng không hoàn thành việc khảo sát. Nó là rất khó vì điều này sẽ có cá nhân bị loại trừ những người sơ tán do thực tế rằng đêm đầu tiên Station Fire xảy ra, nó đã được tiên đoán là có tiềm năng phát triển, lan rộng thấp và không có mối đe dọa tiềm năng trong tương lai. Khích cỡ cuối cùng của vụ cháy lên đến 15 mẫu Anh trong khi nó được ước tính đạt đám cháy lan đến diện tích đó vào 1 giờ chiều ngày hôm sau. Mãi cho đến một vài ngày sau đó, đám cháy rừng đã trở thành khó khăn để dập tắt do thời tiết không thuận lợi và địa hình khu vực. Kết quả dựa theo những người trả lời cuộc khảo sát những người không có ở nhà trong thời gian này đã có khả năng không có ở nhà vì những lý do không liên quan đến cháy rừng. Nếu được hỏi rời nhà của họ vào bất kỳ ngày sau ngày đầu tiên ngọn lửa bắt đầu, họ được yêu cầu hoàn thành toàn bộ cuộc điều tra. Bằng cách này, các cá nhân người sơ tán vẫn có thể giữ. Kích thước mẫu ban đầu cho nghiên cứu này là 1.000 cá nhân thu được từ khảo sát lấy mẫu quốc tế, 40 cuộc điều tra không thể tiến hành, và 458 cuộc điều tra hoàn chỉnh đã được trả lại cho một tỷ lệ phản ứng tổng thể lên đến 48%. Sau khi loại bỏ các cuộc điều tra chưa đầy đủ và các cuộc điều tra từ những người trả lời không có ở nhà trong khoảng thời gian cháy, có vẫn còn là một tổng cộng 413 cuộc điều tra có thể sử dụng. Để thu thập dữ liệu cho các phương pháp hành vi phòng hộ, các điều tra đặt câu hỏi phỏng vấn về về những ảnh hưởng sức khỏe mà họ đã trải qua trong khi đám cháy rừng xảy ra, thời gian dành cho việc ngăn ngừa và giảm thiểu những thiệt hại, cùng với các chi phí của những hành động thích hợp, lịch sử y tế được hỏi, các yếu tố lối sống, và thông tin nhân khẩu học. Các hoạt động ngăn ngừa và giảm nhẹ khác nhau được trình bày cho người trả lời, và họ có thể chỉ ra hay từng việc họ đã thực hiện. Trước khi trình bày trả lời với những hành động này, họ đã nói để xác định chỉ những hành động để giảm thiểu khả năng ảnh hưởng sức khỏe đều là do tiếp xúc với khói từ Station Fire mà không cho là do bất kỳ lý do nào khác. Điều này đảm bảo rằng tác động biên của việc sử dụng các hành động vào những ngày phát triệu chứng được tính toán chính xác. Các hoạt động ngăn ngừa được lựa chọn dựa trên các khuyến nghị từ các Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ về những gì phải làm khi một đám cháy xảy ra để tránh tiếp xúc trực tiếp với khói, cũng như những gì nghiên cứu trước đây đã tìm thấy liên quan đến các hành động của người làm trong thực tế, trong suốt những trận cháy rừng (Mott et al, 2002;.. Künzli Y et al, 2006). Một mô tả của tất cả các biến nghiên cứu và thống kê tóm tắt có thể được tìm thấy trong Bảng 1 Mức độ ô nhiễm Các đám cháy rừng trong tự nhiên đã chiếm phần lớn các chất gây ô nhiễm, cụ thể là hạt vật chất nhỏ chính là vấn đề ảnh hưởng nguy hiểm đến sức khỏe của con người trong khoảng thời gian tiếp xúc ngắn. Trong các loại chất được tạo thành từ khói của các chất gây ô nhiễm, thì hạt vật chất mới là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sức khỏe con người do tiếp xúc ngắn hạn. (Lipsett et al., 2008). Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, các loại hạt gây nguy hiểm thường có kích thước là 10 µm và có đường kính nhỏ hơn vì vậy chúng có thể dễ dàng xâm nhập vào phổi và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Khói từ các đám cháy tự nhiên bao gồm các hạt có đường kính 2,5 µm và nhỏ hơn thế nữa và cả các hạt có đường kính 10 µm và nhỏ hơn, gọi tắt là PM 10 (U.S. EPA, Particulate Matter Dựa theo thang đo cụ thể của U.S EPA.). Khi tiếp xúc với carbon monoxide ở nồng độ thấp (CO) từ các đám cháy rừng có thể gây ra các triệu chứng mệt mỏi ở một người khỏe mạnh và ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng hơn như đau ngực ở những người đang bị bệnh tim ( theo U.S. EPA, Indoor Air Quality). Trong các vụ cháy xảy ra năm 2009, mức trung bình mỗi ngày của PM 2.5 đạt mức cao nhất 82,9 µgm3 ở Glendora và 38 µgm3 ở Burbank, vượt quá chuẩn 24h theo tiêu chuẩn trung bình được Liên Bang đưa ra là 35 µgm3 trong ba ngày tại Glendora và một ngày ở Burbank trong suốt tuần đầu tiên khi vụ cháy xảy ra. Nồng độ hàng ngày cao nhất vào lúc 1h đo được là PM 2.5, ở Glendora lên đến 223 µg m3 và 189 µg m3 ở Burbank. Những thông số về chất lượng không khí thu được là PM 10 duy nhất tại thành phố của Glendora nơi mà nồng độ trung bình hàng ngày đạt như bảng dưới đây: Bảng 1: Biến định lượng và các số liệu thống kê. Biến số Mã hóa Mean Std. dev. Min Max Mức độ ô nhiễm: Thời gian khói tồn tại trong nhà Thời gian khói tồn tại ở môi trường bên ngoài 0 = không ngày; 3 = 15 ngày; 8 = 610 ngày; 13 = 1115 ngày; 16 = hơn hơn 15 ngày 3.43 7.77 4.21 4.91 0 0 16 16 Mục tiêu ô nhiễm: Lượng CO trung bình tối đa ngày ppm 1.47 0.11 1.4 1.8 Thông tin bệnh: Triệu chứng bộc phát vào ban ngày Triệu chứng về bệnh tai, mũi, họng Các triệu chứng về đường hô hấp Các triệu chứng tim mạch Các triệu chứng khác Count 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 3.28 0.36 0.18 0.4 0.9 6.06 0.48 0.39 0.20 0.28 0 0 0 0 0 45 1 1 1 1 Sự ngăn ngừa Sơ tán Đeo mặt nạ bảo hộ Sử dụng bộ lọc không khí Tránh đi làm việc Loại bỏ tro bụi khỏi các vật dụng trong nhà Chạy điều hòa nhiều hơn Ở lại trong nhà Tránh ra ngoài giải trí, tập thể dục 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 0.06 0.07 0.21 0.05 0.57 0.60 0.73 0.78 0.23 0.26 0.41 0.21 0.50 0.49 0.44 0.42 0 0 0 0 0 0 0 0 1 1 1 1 1 1 1 1 Giảm bớt các hoạt động: Chăm sóc y tế sử dụng thuốc theo toa Lấy thuốc không theo toa bác sĩ Đến nơi chăm sóc sức khỏe hiện đại Tránh làm việc Tránh các hoạt động vui chơi giải trí 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 0.06 0.13 0.01 0.04 0.28 0.24 0.33 0.11 0.19 0.45 0 0 0 0 0 1 1 1 1 1 Bệnh sử sức khỏe: Tình trạng hô hấp hiện tại Nhịp tim hiện tại Ảnh hưởng của khói của khí nổ (Wildfire smoke) đến sức khỏe hiện tại 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 0.12 0.09 0.24 0.32 0.28 0.42 0 0 0 1 1 1 Sức khỏe và đời sống: Số lần tập thể dục Hút thuốc Số lượng sử dụng đồ uống có cồn tuần Sức khỏe đang trong tình trạng tốt nhất Sức khỏe đang trong tình trạng tốt Sức khỏe đang trong tình trạng bình thường Sức khỏe đang trong tình trạng xấu Số giờ giải trí trong nhà tuần Số giờ giải trí ngoài trời tuần Có một bác sĩ thường xuyên 0 = 0 lần tuần; 1 = 12 lần tuần; 2 = 35 lần tuần; 3 = nhiều hơn 5 lần tuần 1 = có, 0 = không 0 = không; 1 = 17 đồ uống tuần; 2 = 814 thức uống tuần; 3 = hơn 14 đồ uống tuần 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không Liên tục Liên tục 1 = có, 0 = không 1.62 0.08 0.60 0.29 0.55 0.14 0.02 2.95 4.95 0.89 0.92 0.28 0.73 0.45 0.50 0.35 0.14 5.89 7.11 0.31 0 0 3 2 3 1 1 1 1 91 77 1 Nhân khẩu học: Nam Đã kết hôn Tuổi Da trắng Tốt nghiệp đại học Cao đẳng trung cấp nghề Làm việc fulltime Làm việc parttime Không làm việc + Thất nghiệp + Nghỉ hưu Có bảo hiểm y tế Tháng mã y tế còn hiệu lục Số trẻ em dưới 18 tuổi trong gia đình Số thành viên trong gia đình Sống ở Duarte Sống ở Monrovia Sống ở Sierra Madre Sống ở Burbank Sống ở Glendora Thu nhập 1 = nam, 0 = nữ 1 = có, 0 = không Liên tục 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không Liên tục Liên tục Liên tục 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 15 = < 19.999; 25 = 20,00029,999; 35 = 30,00039,999; 45 = 40,00049,999; 55 = 50,00059,999; 65 = 60,00069,999; 75 = 70,00079,999; 85 = 80,00089,999; 95 = 90,00099,999; 125 = 100,000149,999; 175 = 150,000199,999; 200 = > 200.000 0.60 0.69 59.11 0.79 0.20 0.62 0.48 0.08 0.42 0.08 0.35 0.92 258.66 0.43 0.90 0.13 0.20 0.08 0.19 0.40 83.52 0.49 0,46 15.37 0,41 0.40 0.49 0.50 0.27 0.49 0.27 0.48 0.27 184.96 0,83 1.27 0.34 0.40 0.26 0.40 0.49 53.50 0 0 24 0 0 0 0 0 0 0 0 0 7 0 0 0 0 0 0 0 15 1 1 94 1 1 1 1 1 1 1 1 1 816 4 6 1 1 1 1 1 200 Sự tin cậy: Nghe hoặc đọc những thứ ảnh hưởng tốt đến sức khỏe Tin rằng khói có thể ảnh hưởng đến sức khỏe 1 = có, 0 = không 1 = có, 0 = không 0.86 0.90 0.35 0.31 0 0 1 1 L.A. Richardson et al. Journal of Forest Economics 18 (2012) 14–35 Hình 2. Nồng độ trung bình hàng ngày của PM 2.5, PM 10 và CO – 2408 09092009 93,8 µg m3 vượt quá tiêu chuẩn Nhà nước đưa ra là 24h chỉ trong vòng ba ngày. Nồng độ đạt đến đỉnh điểm 214,4 µg m3 trong một giờ ở Glendora so với tiêu chuẩn quốc tế cảnh báo không được vượt quá đối với carbon monoxide. Những con số đưa ra đã thể hiện mức độ các hạt vật chất trong khói rất giống với dự báo về những đám cháy rừng lớn. Ngọn lửa Hayman tại Colorado vào năm 2002 (Sutherland et al. (2005) trong hai ngày liền tăng vọt lên mức dự báo 24h, tại PM 2,5 nồng độ đạt 63,1 µg m3. Một vụ cháy tương tự khác (Vedal and Dutton, 2006), đám cháy xảy theo dự báo 24h, có nồng độ PM 2.5 đạt 4448 µg m3 và nồng độ cao nhất có thể lên đến là 200 µg m3. Theo Wu et al. (2006) ước tính tại PM 2,5 vụ cháy ở Nam California năm 2003 có nồng độ từ 7590 µg m3. Đồ thị số 2 cho thấy CO trong các thành phố tại Glendora trung bình hàng ngày ở mức PM 2,5 và Burbank ở mức PM 10 trong hai tuần từ khi Glendora xảy ra vụ cháy. Hai đồ thị minh họa cho mức 24h cho tiêu chuẩn trung bình của liên bang Mỹ EPA tại PM 2.5 và tiêu chuẩn riêng biệt Bộ Tài Nguyên Không Khí tại California Air PM 10. Khoảng một tuần sau khi đám cháy diễn ra thì tất cả năm thành phố được khảo sát cho nghiên cứu này đã được cảnh báo là chất lượng không khí không đạt ngưỡng đảm bảo sức khỏe do Khu Quản Lí Chất Lượng Không Khí các vùng duyên hải phía Nam đặt ra. Thông kê mẫu trả lời của đáp viên Các số liệu quan trắc chỉ thể hiện chất lượng không khí ở Glendora và Burbank, hiện nay với việc chủ động tìm kiếm biện pháp, về phía cộng đồng biện pháp xử lý ô nhiễm theo hướng khách quan (Kunzli et al., 2006) là những khảo sát về cảm nhận của người dân về khói trong nhà và ngoài nhà khi vụ cháy xảy ra trong một tuần. Trong số 413 đáp viên được khảo sát, 90% cho biết họ tin rằng khói của vụ cháy có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ, 38% người nói rằng họ đã bệnh sau khi tiếp xúc với khói. Bảng 2 tóm tắt số lượng và tỷ lệ phần trăm của tất cả người trả lời khảo sát có kinh nghiệm khi mắc bệnh, cũng như số lượng và tỷ lệ phần trăm số người được hỏi trải qua từng loại triệu chứng dựa trên số ngày khói tồn tại bên trong và bên ngoài nhà. Ví dụ trong 175 bệnh nhân không ngửi thấy khói trong nhà, có 36 người trong số họ (21%) bị bệnh. Một mô hình được đề xuất thể hiện tỷ lệ phần trăm người mắc bệnh sẽ như thế nào khi số ngày khói gây mùi bên trong hoặc ngoài một ngôi nhà tăng lên. 42% cá nhân không tiếp xúc với khói trong nhà của họ, 62% không bị ảnh hưởng sức khỏe khi tiếp xúc với khói. Cuộc điều tra đã chia ra được nhóm những cá nhân bị ảnh hưởng nặng nề bởi khói cũng như những cá nhân ít được tiếp xúc hoặc ít bị ảnh hưởng bởi khói. Bảng 2: Ảnh hưởng sức khỏe từ khói của những vụ cháy Ít nhất là một triệu chứng Tai, mũi, họng Hô hấp Tim Các triệu chứng khác Tất cả người trả lời (n = 413) Số người trả lời Không có mùi khói trong nhà: 175 Mùi khói tồn tại trong nhà 15 ngày: 138 Mùi khói tồn tại trong nhà 610 ngày: 66 Mùi khói tồn tại trong nhà 1115 ngày: 23 Mùi khói tồn tại trong nhà >15 ngày: 11 Không có mùi khói ngoài nhà: 22 Mùi khói tồn tại ngoài nhà 15 ngày: 137 Mùi khói tồn tại ngoài nhà 610 ngày: 133 Mùi khói tồn tại ngoài nhà 1115 ngày: 67 Mùi khói tồn tại ngoài nhà >15 ngày: 54 156 (38%) 36 (21%) 50 (36%) 43 (65%) 16 (70%) 8 (73%) 0 (0%) 26 (19%) 53 (40%) 37 (55%) 40 (74%) 147 (36%) 36 (21%) 48 (35%) 41 (62%) 15 (65%) 7 (64%) 0 (0%) 26 (19%) 48 (36%) 35 (52%) 38 (70%) 76 (18%) 11 (6%) 28 (20%) 25 (38%) 9 (39%) 3 (27%) 0 (0%) 10 (7%) 25 (19%) 19 (28%) 22 (41%) 18 (4%) 2 (1%) 7 (5%) 5 (8%) 2 (9%) 2 (18%) 0 (0%) 2 (1%) 7 (5%) 3 (4%) 6 (11%) 36 (9%) 3 (2%) 13 (9%) 11 (17%) 6 (26%) 3 (27%) 0 (0%) 4 (3%) 12 (9%) 7 (10%) 13 (24%) Phương pháp hành vi phòng hộ dựa trên giả định rằng các cá nhân có những hành động ngăn ngừa và giảm nhẹ khi tiếp xúc với một chất gây ô nhiễm môi trường như khói để đảm bảo cho cuộc sống con người được tốt đẹp, người trả lời phải tham gia vào hành động trước khi áp dụng phương pháp này (Dickie, 2003). 89% số người được phỏng vấn đã có ít nhất một hành động ngăn ngừa và 16% có ít nhất một hành động để giảm nhẹ những ảnh hưởng của khói gây ra trong những tuần sau vụ cháy xảy ra. Bảng 3 nêu ra số lượng và tỷ lệ phần trăm người được phỏng vấn thực hiện ngăn ngừa và giảm thiểu hành động cùng với chi phí trung bình khi họ thực hiện hành động đó. Bốn đáp viên đã trả lời họ cắt giảm chi tiêu trung bình, vì vậy bất kì chi tiêu nào của bốn người lớn hơn 3 độ lệch chuẩn từ giá trị trung bình mẫu sẽ được mã hóa lại với giá trị cao nhất để không có số liệu bất thường. Bảng 3 với những số liệu bất thường không được tái mã hóa có thể được tìm thấy trong Phụ lục A, Bảng A.1. Chi phí y tế của các cá nhân trong bảng 3 không phải là tổng chi phí phát sinh bởi các nhà cung cấp bảo hiểm và các nhà cung cấp y tế. Cuối cùng để xác định mẫu đại diện cho các quan sát trong 5 thành phố, bảng 4 của các biến nhân khẩu học. Dữ liệu về các đặc điểm dân số cộng đồng được lấy từ 20052009 của Cục điều tra dân số Mỹ ước tính trung bình trong 5 thành phố trên. Trường hợp số liệu trung bình có sẵn, một mẫu so sánh trung bình Ttest được dùng để kiểm tra sự bằng nhau của phân phối mẫu và các giá trị dân cư. Các giả thuyết mẫu có cũng một giá trị trung bình như dân số có thể được loại bỏ ở mức 5% cho tất cả các biến ngoại trừ biến thất nghiệp. Do đó, các mẫu quan sát đại diện là nam giới, kết hôn, da trắng, có trình độ nhưng không có việc làm trong năm thành phố. Các mẫu của người trả lời khảo sát có khả năng chứa một tỷ lệ nam giới cao hơn do thực tế cuộc điều tra được gửi đến người đứng đầu gia đình ,vì thế nó được liệt kê như là người đàn ông trong gia đình . Bảng 3 Sự ngăn ngừa và giảm thiểu của các đáp viên với chi tiêu trung bình của họ (n = 413) Số người trả lời khảo sát Tỷ lệ phần trăm số người trả lời khảo sát Chi phí trung bình Hành động ngăn ngừa: Sơ tán Đeo mặt nạ bảo hộ Sử dụng bộ lọc không khí Tránh đi làm việc Loại bỏ tro bụi khỏi các vật dụng trong nhà Chạy điều hòa nhiều hơn bình thường Ở lại trong nhà nhiều hơn bình thường Tránh ra ngoài giải trí, tập thể dục Các hoạt động giảm nhẹ: Chăm sóc sử dụng thuốc theo toa Sử dụng thuốc không theo toa bác sĩ Đi đến nơi chăm sóc sức khỏe hiện đại Tránh đi làm việc Tránh các hoạt động vui chơi giải trí 23 29 88 19 237 249 302 321 26 52 5 15 114 5.6 % 7.0 % 21.3 % 4.6% 57.4 % 60.3 % 73.1 % 77.7 % 6.3% 12.6 % 1.2% 3.6% 27.6 % 257.95 6.04 26.93 219.41 (a) 8.67 27.66 (b) NA NA 77.87 (c) 16.86 33.00 691.76 NA a Khoản thu nhập mất đi do đáp viên cung cấp b Đáp viên không được yêu cầu báo cáo chi phí này. Giá được tính bằng kWh điện mỗi ngày sử dụng trong chạy máy điều hòa × chi phí cho mỗi kilowatt giờ × số ngày trung bình của người trả lời có hành động ngăn chặn này. Theo Ủy ban Năng lượng California, cư dân California trung bình sử dụng 27 kW h để chạy máy điều hòa không khí trung tâm trong thời gian 12 giờ ngày (giả sử các điều hòa không khí được hoạt động cho 120 ngày trong năm). Theo U.S. Energy Information Administration các cư dân tại California vào tháng Chín năm 2009 phải trả 15,76 cent cho mỗi kilowatt giờ sử dụng . Đáp viên sử dụng máy điều hòa không khí nhiều hơn là kết quả của khói sinh ra từ những vụ cháy cho trunh bình là 6.5 ngày, tốn một khoản chi phí là 27.66. c Các chi phí cơ hội trong du lịch và chăm sóc y tế được tính bằng số giờ làm việc trong các hoạt động này x tỷ lệ tiền lương do đáp viên đề cập. Ước lượng khả năng mô phỏng tối đa của hàm sản xuất về sức khỏe Để tính toán các chi phí kinh tế của việc sức khỏe bị ảnh hưởng do tiếp xúc với khói của đám cháy từ rừng, một hàm sản xuất về sức khỏe như đã nêu ra ở phương trình (1) được ước tính bằng cách sử dụng phân tích hồi quy. Số ngày phát triệu chứng đã trải qua của người trả lời khảo sát là biến phụ thuộc được quan tâm, biến hồi quy độc lập mà được cho là sẽ ảnh hưởng. Điều này thì bao hàm tất cả mọi thứ ở phía phải của hàm sản xuất về sức khỏe, gồm mức độ ô nhiễm, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động, tiền sử sức khỏe của cá nhân, các yếu tố lối sống và các yếu tố nhân khẩu học. Bảng 4 So sánh các mẫu với nhân khẩu học Mẫu Dân số Kiểm tra thống kê (pvalue) Giới tính 59.8 % 48.2% 4.775 (0.001) Hôn nhân 69 % 50.7% 7.946 (0.001) Người da trắng 78.8 % 68.5% 5.012 (0.001) Tốt nghiệp đại học 20 % 13.9% 3.084 (0.002) Cao đẳngđại học kỹ thuật 61.6 % 45.5% 6.693 (0.001) Tốt nghiệp trung học 95.8 % 87.7% 8.211 (0.001) Có việc làm 56.2 % 61.3% 2.756 (0.038) Thất nghiệp 7.7 % 6.3% 1.024 (0.307) Thu nhập 83,517 90,586 2.579 (0.010) Thu nhập trung bình 75,000 69,071 (L.A. Richardson et al. Tạp chí Kinh tế Lâm nghiệp 18 (2012) 1435) Phát hiện trước đây cho thấy rằng, ngăn ngừa và giảm nhẹ tác động thường xuất hiện cùng nhau với kết quả sức khỏe và sự điều chỉnh cho biến nội sinh này là quan trọng đối với ước lượng của các tham số hồi quy (Joyce et al., 1989; Alberini et al., 1996; Dickie, 2005). Các biến nội sinh thường phát sinh do sự tương quan giữa các yếu tố không quan sát được ảnh hưởng đến cả các kết quả sức khỏe cũng như sự lựa chọn các hành động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động (Dickie, 2003). Một giải pháp điển hình cho vấn đề các biến nội sinh là áp dụng một biến công cụ để tiếp cận, như là bình phương ít nhất hai giai đoạn. Tuy nhiên, có khuynh hướng cho rằng các biến phụ thuộc trong phân tích của chúng tôi là một biến đếm (số ngày triệu chứng đã trải qua), việc ngăn ngừa và giảm nhẹ các biến động nội sinh có khả năng là biến nhị phân (có hoặc không có các hành động được quả quyết), phương pháp hai giai đoạn đơn giản sẽ không cung cấp đủ ước lượng phù hợp (Wooldridge, 2002; Terza et al., 2008; Staub, 2009). Để kiểm soát các yếu tố nội sinh tiềm tàng trong khuôn khổ phi tuyến tính, chúng tôi đã áp dụng triệt để mô hình mô phỏng khả năng tối đa được phát triển bởi Partha Deb và Pravin Trivedi. Theo Deb và Trivedi (2006a, b) các mô hình có các phương trình sau cho kết quả về sức khỏe và các biến nhị phân nội sinh hồi quy độc lập: PrYi = yi|xi, di, li = f (x’iβ + γdi + λli) (4) Prdi = 1|zi, li = g(z’iα + δli) (5) Đối với mục đích của chúng tôi, trong kết quả của phương trình (4), yi đại diện cho tổng số các ngày phát triệu chứng đã trải qua kể từ khi tiếp xúc với khói đám cháy và xi đại diện cho một vector của các biến ngoại sinh ảnh hưởng đến số ngày phát bệnh, chẳng hạn như sự đánh giá hoặc nhận thức về mức độ ô nhiễm, loại triệu chứng đã trải qua, tiền sử sức khỏe, nhân khẩu học và các yếu tố lối sống, với thông số liên quan là β. Những đại diện cho các biến ngoại sinh được tìm thấy đã ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe của một cá nhân (see Dickie, 2003; Freeman, 2003). Mức độ ô nhiễm nhận thức hay kể cả trong thực tế cao hơn được kỳ vọng sẽ dẫn đến các ngày phát triệu chứng nhiều hơn dự kiến, trong khi các yếu tố khác không đổi. Cá nhân có các bệnh mãn tính hay có một lối sống tổng thể kém lành mạnh được dự kiến sẽ có nhiều ngày phát triệu chứng. Đó là không chắc chắn những các yếu tố nhân khẩu học khác được kỳ vọng sẽ xuất hiện trong những ngày phát triệu chứng dự kiến. Các biến nhị phân hồi quy độc lập có khả năng nội sinh (tức là ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động) được đại diện bởi di với thông số liên quan γ. Các biến này được dự kiến sẽ có tác động tiêu cực đến ngày phát triệu chứng dự kiến. Phần sai số trong mỗi phương trình được phân chia thành vector của các yếu tố tiềm ẩn li và mỗi số hạng sai số ngẫu nhiên phân phối độc lập. Các yếu tố tiềm ẩn đại diện cho đặc điểm cụ thể mà cá nhân không quan sát được mà ảnh hưởng đến cả sự lựa chọn ngăn ngừa giảm thiểu các tác động cũng như kết quả của sức khỏe. Họ đã liên kết thông số λ trong phương trình kết quả sức khỏe, được gọi là hệ số tải nhân tố. Trong phương trình (5), mô hình các biến nhị phân nội sinh hồi quy độc lập, zi đại diện cho một vector của các biến ngoại sinh mà có thể ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ tác động của biến nội sinh, với thông số liên quan α. Đó có thể là mức độ ô nhiễm độc, loại triệu chứng đã trải qua, tiền sử sức khỏe, nhân khẩu học, các yếu tố lối sống, cũng như lòng tin về sự ảnh hưởng của khói cháy đối với sức khỏe. Mức độ ô nhiễm cao được dự kiến sẽ có một tác động tích cực đến khả năng tiến hành các hành động ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động, cũng như là lòng tin rằng khói cháy rừng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Đó không chắc chắn là những tác động của các yếu tố khác trong phương trình (4) và (5) có thể có các biến ngoại sinh y hệt nhau. Tuy nhiên, để những khẳng định chắc chắn hơn, các biến công cụ được dùng trong các phương trình biến nội sinh nhị phân, nhưng loại ra khỏi phương trình kết quả có thể được sử dụng. Một lần nữa, phần sai số được phân chia thành các yếu tố tiềm ẩn li với tham số liên δ và sai số ngẫu nhiên được phân phối độc lập. Các kết quả quan sát ngẫu nhiên biến yi và quan sát nội sinh hồi qui độc lập di được mô hình hóa bằng cách sử dụng hàm phân phối có điều kiện f (cho một biến đếm) và g (cho một biến nhị phân). Theo Deb và Trivedi (2006a,b), sự phân bố chung về kết quả sức khỏe và biến nội sinh hồi quy độc lập, tùy theo điều kiện vào các yếu tố tiềm ẩn chung, có thể được quy định như sau: PrYi = yi, di = 1|xi, zi, li = f (x’iβ + γdi + λli) ∗ g(z’iα + δli) (6) Mặc dù các yếu tố tiềm ẩn li là chưa xác định, nó được giả định rằng phân phối của nó được biết đến và có thể có hàm mật độ có điều kiện phụ thuộc. Phương pháp mô phỏng khả năng tối đa (Gourieroux et al., 1984) được áp dụng. Ước tính khả năng mô phỏng tối đa của một hàm log, đó là tương đương với tối đa hàm log nếu rút ra đủ mô phỏng để sử dụng. Kết quả Để tính toán các chi phí kinh tế của việc sức khỏe bị ảnh hưởng do phơi nhiễm với khói cháy từ nhà ga ta sử dụng phương trình (3a) hoặc (3b), các nhà nghiên cứu cần phải đánh giá ảnh hưởng cận biên của bất kỳ ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động vào những ngày phát triệu chứng theo dự kiến, cùng với toàn bộ chi phí của các tác động này. Phân tích sơ bộ cho thấy rằng “Sử dụng bộ lọc không khí trong nhà” chỉ là ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ biến động bên trong và đó là biến số duy nhất: có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê vào các ngày phát triệu chứng theo dự kiến. Kết quả là, biến này được tập trung cho khả năng mô phỏng tối đa và được dùng để tính toán trong phương trình 3a. Chất làm sạch không khí và máy lọc không khí được khuyến cáo và nên được thường xuyên sử dụng trong gia đình để giúp giảm mức độ bụi trong nhà từ các vụ cháy (Lipsett et al., 2008; U.S. EPA, Indoor Air Quality) và đó là ý kiến của 21% số người trả lời khảo sát, những người sử dụng máy lọc không khí để phòng ngừa thiệt hại sức khỏe từ khói cháy nhà ga. Kết quả từ mô hình hồi quy mô phỏng khả năng tối đa các ngày phát triệu chứng, bao gồm các biến mà đã có tác động đáng kể về mặt thống kê vào ngày phát triệu chứng theo dự kiến, có thể được thấy trong Bảng 5. Ngày phát triệu chứng theo dự kiến được mô hình hóa với một nhị thức phân phối dữ liệu số tiêu cực và sự suy thoái của biến nhị phân nội sinh, “Sử dụng một bộ lọc không khí trong nhà”, được giả định theo phân phối chuẩn. Hai nghi
Xem thêm

42 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CHI PHILỢI ÍCH CỦA CHI TIÊU HỘ GIA ĐÌNH VÀ CAN THIỆP Y TẾ

PHÂN TÍCH CHI PHILỢI ÍCH CỦA CHI TIÊU HỘ GIA ĐÌNH VÀ CAN THIỆP Y TẾ

BÀI DỊCH THUẬT HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN PHÂN TÍCH CHI PHILỢI ÍCH CỦA CHI TIÊU HỘ GIA ĐÌNH VÀ CAN THIỆP Y TẾ Nhóm Lý Thị Chi B1309248 Trần Thiên Duy B1309253 Trương Cẩm Duyên B1309257 Trần Huỳnh Diễm Phúc B1309312 Trần Ngọc Mỹ Phương B1309315 Nguyễn Lê Cẩm Tú B1309352 LỜI MỞ ĐẦU Trên toàn thế giới, hơn 3 tỷ người nấu ăn bằng củi, phân hữu cơ, than đá và nhiên liệu rắn khác trên bếp lửa mở hoặc bếp lò truyền thống. Kết quả tình trạng ô nhiễm không khí trong nhà là hơn 1,5 triệu người chết do các bệnh hô hấp hàng năm chủ yếu là trẻ em và phụ nữ. Giải pháp hiệu quả để giảm mức độ ô nhiễm không khí trong nhà và để cải thiện sức khỏe thực sự tồn tạilà phải sử dụng các loại nhiên liệu sạch hơn và hiệu quả hơn, bếp lò cải tiến, đốt nhiên liệu rắn hiệu quả hơn và hoàn toàn, và hoạt động thông gió tốt hơn. Tuy nhiên, đối với những giải pháp có hiệu quả và bền vững có thể trong thời gian dài, họ phải đi kèm với những thay đổi trong hành vi. Ngoài ngăn ngừa tử vong, cải thiện sức khỏe và giảm chi phí bệnh tật liên quan đến can thiệp năng lượng hộ gia đình có nhiều tác động, ở cấp độ hộ gia đình, cải thiện đời sống gia đình, và mật độ dân số, kích thích phát triển và đóng góp vào sự bền vững môi trường. Những lợi ích này bao gồm tiết kiệm thời gian do ít bị bệnh, cần giảm thu nhiên liệu và thời gian nấu ngắn hơn. Phân tích chi phílợi ích (CBA) là một công cụ mà sẽ đưa vào tài khoản tất cả các chi phí và lợi ích của các can thiệp năng lượng hộ gia đình để giảm ô nhiễm không khí trong nhà từ góc độ xã hội. Do đó nó có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn hoạch định chính sách và đầu tư vào các can thiệp năng lượng hộ gia đình. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã phối hợp với Viện Nhiệt Đới Thụy Sĩ, đã phát triển một gói ấn phẩm về CBA năng lượng hộ gia đình và can thiệp y tế, bao gồm ba ấn phẩm. WHO đã tiến hành CBA toàn cầu và công bố kết quả đánh giá các chi phí và lợi ích của năng lượng hộ gia đình và các can thiệp y tế ở các cấp độ toàn cầu và khu vực. Báo cáo kỹ thuật này được thiết kế cho các chuyên gia làm việc trên năng lượng hộ gia đình, môi trường và sức khỏe. Ngoài ra, một họ còn cung cấp một bản tóm tắt các phát hiện quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách về năng lượng, môi trường và các lĩnh vực y tế ở các cấp địa phương, quốc gia và quốc tế. Các ấn phẩm đã đề cập ở trên đều dựa trên Hướng dẫn để tiến hành phân tích chi phílợi ích của can thiệp năng lượng và sức khỏe gia đình. Những hướng dẫn này giới thiệu các khuôn khổ chi phílợi ích và phác thảo các bước khác nhau trong quá trình phân tích: việc lựa chọn biện pháp can thiệp, xác định ranh giới, ước tính chi phí và tác động, thực hiện phân tích độ nhạy và trình bày kết quả và tác động của chúng. Các ấn phẩm kỹ thuật hiện nay là dành cho các nhà kinh tế và các chuyên gia quan tâm trong việc thực hiện CBA ở cấp quốc gia và địa phương. 1. Giới thiệu 1.1 Ô nhiễm không khí trong nhà trên thế giới hiện nay Trong năm 2003, khoảng một nửa dân số thế giới hơn 3 tỷ người vẫn sử dụng nhiên liệu rắn để đáp ứng nhu cầu năng lượng của họ. Tỷ lệ dao động từ dưới 20 phần trăm ở Châu Âu và Trung Á tới 80 phần trăm và nhiều hơn nữa ở tiểu vùng Sahara châu Phi và châu Á (Bruce và cộng sự, 2000; Smith và cộng sự, 2004; Rehfuess và cộng sự, 2006). Việc đốt hiệu quả các nhiên liệu rắn, chẳng hạn như phân hữu cơ, củi, than củi và than, kết hợp với thông gió kém, sản xuất ở mức độ cao của hàng trăm các chất ô nhiễm (Ezzati và cộng sự, 2002)1. Tiếp xúc với ô nhiễm không khí trong nhà (IAP) từ quá trình đốt cháy các nhiên liệu rắn đã được liên quan, với mức độ dấu hiệu khác nhau, như là một yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh ở các nước đang phát triển, bao gồm nhiễm trùng dưới cấp tính đường hô hấp (ALRI) và viêm tai giữa (viêm tai giữa), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), ung thư phổi (từ khói than), hen suyễn, ung thư vòm họng và thanh quản, lao phổi, điều kiện chu sinh và cân nặng sơ sinh thấp, và các bệnh của mắt như đục thủy tinh thể và mù quáng (Bruce và cộng sự, 2006;. Ezzati Kammen, 2002)2. 1 Các chất ô nhiễm trong sinh khối và khói than bao gồm các hạt vật chất, CO, NO2 , SOx (chủ yếu từ than đá), CH2O và chất hữu cơ đa vòng, trong đó có chất gây ung thư. Các hạt nhỏ được coi là nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng nhất và phổ biến rộng rãi của IAP từ sử dụng nhiên liệu rắn. 2 Bằng chứng mạnh nhất cho ALRI là ở trẻ em dưới 5 tuổi, COPD ở người lớn, và ung thư phổi do tiếp xúc than ở người lớn; Hiện nay tại các cơ sở bằng chứng là không đủ mạnh để bao gồm các bệnh khác trong tính toán của gánh nặng bệnh tật từ việc tiếp xúc với IAP. Ô nhiễm không khí trong nhà được ước tính gây ra 3,7% các khuyết tật điều chỉnh giá trị cuộc sống (DALYs) trong tỷ lệ tử vong cao các nước đang phát triển, giảm khoảng 1,9% trong tỷ lệ tử vong thấp nước đang phát triển, theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (WHO, 2000a). Ước tính bảo thủ của tỷ lệ tử vong toàn cầu do IAP từ nhiên liệu rắn cho thấy trong năm 2002, có khoảng 1,5 triệu ca tử vong là do tiếp xúc với IAP (WHO, 2006). Những ước tính này chỉ bao gồm tử vong và tàn tật do ALRI, COPD và bệnh ung thư phổi (từ khói than), tức là những kết quả sức khỏe có dấu hiệu là do IAP gây ra. Ngoài ảnh hưởng sức khỏe trực tiếp do tiếp xúc với IAP, ảnh hưởng sức khỏe khác bao gồm vết bỏng do cháy mở và bố trí nấu ăn không an toàn và những rủi ro từ củi, chẳng hạn như những rủi ro mang tải nặng và nguy hiểm từ các mỏ, tai nạn. (Bruce và cộng sự, 2006). Như một dấu hiệu về mức độ tiếp xúc với IAP trên thế giới hiện nay, Bảng 1 cho thấy tỷ lệ hộ sử dụng nhiên liệu rắn và bếp truyền thống vào năm 2003, sử dụng nhiên liệu rắn cao trong tất cả các tiểu vùng phát triển trong WHO, với củi là nhiên liệu đucợ sử dụng nhiều nhất. Bảng 1 cũng cho thấy sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, cho thấy tỷ lệ cao hơn đáng kể của việc sử dụng nhiên liệu rắn ở các khu vực nông thôn. Bảng 1. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng các loại nhiên liệu rắn khác nhau Nhiên liệu rắn WHO tiểu vùng Than than non Than Củi Phân và chất thải nông nghiệp Đô thị (%) Nông thôn (%) Đô thị (%) Nông thôn (%) Đô thị (%) Nông thôn (%) Đô thị (%) Nông thôn (%) AFRD 2.8 0.6 16.2 4.0 28.1 41.0 31.5 49.5 AFRE 8.8 1.6 15.1 15.0 24.6 57.9 4.4 12.1 AMRB 0.7 4.3 0.5 2.1 3.0 46.5 0.6 0.8 AMRD 9.6 0.1 11.7 2.2 0.7 66.8 2.8 6.2 EMRB 0.7 0.7 0.0 0.0 0.1 0.1 18.6 51.1 EMRD 0.4 0.5 0.5 1.1 20.8 47.8 1.2 8.8 EURB 0.4 0.4 0.1 0.1 4.6 31.7 0.7 1.7 EURC 0.9 1.1 0.2 0.4 4.9 6.0 0.2 0.0 SEARB 0.4 0.0 25.7 0.3 0.0 85.4 0.0 0.0 SEARD 3.5 1.2 7.2 1.3 16.2 71.1 1.4 16.1 WPRB 7.1 3.3 12.4 14.3 14.6 44.5 1.2 4.6 AFR, khu vực châu Phi; AMR, khu vực châu Mỹ; EMR khu vực Địa Trung Hải phía đông; EUR, khu vực châu Âu; SEARB , khu vực Châu áđông; WPR, khu vực Tây Thái Bình Dương. Tỷ lệ tử vong tầng lớp nhân dân: a, trẻ em rất thấp, người lớn rất thấp; b, trẻ em thấp, người lớn thấp; c trẻ em thấp, người lớn cao; d, trẻ em cao, người lớn cao; e, trẻ em cao, người lớn rất cao. Nguồn: cho 49 quốc gia điều tra y tế thế giới 2003; cho 33 quốc gia có sẵn nguồn khác; cho còn lại 36 quốc gia thu nhập trung bình và phát triển ước tính dựa trên dữ liệu mô hình hóa. Phụ nữ, trẻ em và người già bị ảnh hưởng đặc biệt bởi IAP, vì khi họ không tiếp xúc nhiều với chúng nhưng lại bị ảnh hưởng rất lớn (Smith và cộng sự, 2000). Ước tính gần đây nhất của WHO cho thấy gần 800 000 trẻ em tử vong là do các yếu tố rủi ro từ môi trường này. Hơn nữa, IAP chịu trách nhiệm cho khoảng 511 000 trường hợp tử vong ở phụ nữ so với chỉ 173 000 ở nam giới (WHO, 2006). Hình 1 và 2 cho thấy sự phân bố toàn cầu của những yếu tố này, nêu bật những gánh nặng cao của tỷ lệ tử vong ở vùng cận Sahara châu Phi, Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương. Hình 1 và 2 Bệnh gây ra do tiếp xúc với IAP được xem là các bệnh của nghèo đói, bởi vì khi mọi người trở nên giàu có hơn họ có xu hướng chuyển các năng lượng từ phân hữu cơ, củi và than đến sử dụng năng lượng tốt hơn như khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), khí đốt và điện. Những người sử dụng các nguồn năng lượng sạch hơn, hiệu quả hơn và thuận tiện hơn thì ít bị các bệnh liên quan IAP (WHO, 2002). Xét gánh nặng bệnh quan trọng gắn với IAP, và tình trạng kinh tế xã hội thấp của các nhóm dễ bị tổn thương nhất là người mang gánh nặng này, nó là rất quan trọng để giải quyết các bệnh tật và gánh nặng kinh tế liên quan đến các tác động sức khỏe khi tiếp xúc với IAP. Giảm tiếp xúc với IAP và cải tiến trong hoạt động năng lượng hộ gia đình được dự kiến sẽ đóng góp quan trọng để đáp ứng một số các phát triển Thiên niên kỷ về an ninh lương thực mục tiêu giảm nghèo (mục tiêu 1), bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (Mục tiêu 3), giảm tỷ lệ tử vong trẻ em (Mục tiêu 4 ), cải thiện sức khỏe bà mẹ (Mục tiêu 5), giảm bệnh tật truyền nhiễm bao gồm cả bệnh lao (Mục tiêu 6) và phát triển bền vững (Mục tiêu 7). 1.2 Tại sao phải phân tích kinh tế? Phân tích kinh tế liên quan đến việc so sánh chi phí và hậu quả của các can thiệp khác nhau, cho phép kết luận được rút ra về hiệu quả tương đối của họ. Một số loại phân tích kinh tế có thể xảy ra, bao gồm mô tả chi phí và phân tích chi phí, mô tả kết quả và phân tích kết quả, và đánh giá kinh tế (Drummond và cộng sự, 1997). Trong khi nghiên cứu chi phí kiểm tra đầu vào kinh tế để can thiệp, và các nghiên cứu kết quả kiểm tra các kết quả y tế hoặc kinh tế của một can thiệp, đánh giá kinh tế xem xét cả các chi phí và kết quả thu được từ các can thiệp tương tự. Chỉ sau khi phân tích mạnh mẽ của các chi phí và kết quả của một quá trình hoạt động kết luận có ý nghĩa có thể được rút ra về hiệu quả kinh tế. Vì vậy, đánh giá kinh tế cho phép so sánh rõ ràng và định lượng về hiệu quả của các biện pháp can thiệp, sử dụng hiệu quả một bản tóm tắt chi phí biện pháp đơn giản để giải thích cho mỗi tác động đạt được như những biện pháp kết cục thường thấy. Giả sử rằng các nghiên cứu đánh giá kinh tế khác nhau sử dụng các phương pháp tương tự cho việc định lượng hiệu quả chi phí hoặc chi phílợi ích của các can thiệp khác nhau, các biện pháp hiệu quả có thể được so sánh giữa các phân tích. Điều này cho phép hoạch định chính sách trong khu vực công và tư nhân sự đa dạng của dữ liệu so sánh để làm cơ sở quyết định chính xác. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu và vấn đề phân phối có thể được xem xét một cách rõ ràng trong đánh giá kinh tế, là những người hưởng lợi của các can thiệp khác nhau có thể được xác định và trọng lượng được phân công phụ thuộc vào các mục tiêu công bằng xã hội. Các kết quả đánh giá kinh tế có thể được sử dụng trong nhiều cách khác nhau: Như một công cụ phân tích dự án, để quyết định cho những lựa chọn giữa các lựa chọn thay thế đang được xem xét cho các dự án quy mô lớn. Như một công cụ hoạch định chính sách của chính phủ, kết hợp với biện pháp can thiệp hiệu quả chi phí hoặc chi phílợi ích mới vào chính sách công hoặc vào chính phủ có kế hoạch (và do đó cung cấp dịch vụ công cộng), hoặc ngừng can thiệp chi phíhiệu quả. Như một công cụ để đánh giá tác động xã hội của các can thiệp, bởi cụ thể việc xác định các nhóm đang đạt được hay không đạt được, và hình thành một chính sách hoặc sự can thiệp của các nhóm mục tiêu đã xác định. Như một công cụ quyết định để sử dụng bởi một cơ quan thực hiện, chẳng hạn như một bệnh viện, công ty hoặc tổ chức phi chính phủ (NGO). Có một loạt các cơ quan, người quan tâm đến việc sử dụng kết quả đánh giá kinh tế. Bao gồm: Cơ quan chính phủ, chẳng hạn như của Bộ, trong đó quan tâm đến việc sử dụng tiền công quỹ để cung cấp dịch vụ miễn phí hoặc được trợ cấp, hoặc để thúc đẩy thị trường tư nhân. Các tổ chức phi chính phủ, trong đó phần lớn tồn tại để thúc đẩy các lợi ích xã hội, đặc biệt là cho các thành viên và các nhóm dân cảm nhận như có nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng. Các nhà hoạch định cá nhân hay tổ chức, chẳng hạn như bệnh viện và chủ sở hữu ngân sách khác, những người muốn tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực, hoặc các bác sĩ đang phải đối mặt với lựa chọn điều trị khác nhau cho một bệnh nhất định. Doanh nghiệp tư nhân, sản xuất hàng hoá, nơi có nhu cầu và tiềm năng lợi nhuận. Cá nhân hoặc người tiêu dùng, những người đưa ra quyết định mua hàng dựa trên sự giàu có của cá nhân họ (hàng hóa, tiền bạc), cơ hội kinh doanh hoặc mua hàng của họ, và nhận thức của họ về nhu cầu. Các nhà tài trợ bên ngoài, trong đó có thể bao gồm các cơ quan chính quyền song phương, các cơ quan đa phương và các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Một phân tích kinh tế của vấn đề năng lượng hộ gia đình, IAP và y tế có thể được áp dụng để giải quyết một số vấn đề sau đây. Khi các chính phủ tìm lĩnh vực can thiệp nơi xã hội có tỷ lệ lợi nhuận cao, đánh giá kinh tế có thể được sử dụng để biện minh cho sự ra đời của các can thiệp mới có hiệu quả, hoặc sự rút lui của các can thiệp hiện nay không hiệu quả. Kiểu phân tích này được hỗ trợ bởi hầu hết các hướng dẫn đánh giá kinh tế hiện có, và được gọi là phân tích gia tăng (Drummond Jefferson, 1996; Weinstein và cộng sự, 1996). Một mặt, có thể có một sự can thiệp mới, chẳng hạn như một loại nhiên liệu sinh khối xử lý hiện đại (như ethanol hoặc nhà máy dầu), hứa hẹn lợi ích lớn với chi phí thấp. Đánh giá kinh tế có khả năng hoạt động như một công cụ quảng cáo cho việc can thiệp mới được chấp nhận và đưa vào chính sách. Mặt khác, có thể có một chính phủ trợ cấp hỗ trợ cho một sự can thiệp đó được biết đến là rất tốn kém, nhưng có lợi ích hạn chế đối với xã hội hay các phân đoạn cụ thể của xã hội. Ví dụ, Chính phủ Ấn Độ đầu tư mạnh vào trợ cấp LPG, một chính sách đã thất bại trong việc đạt giảm nghèo mà nó đã được giới thiệu (Gangopadhyay và cộng sự, 2005). Đánh giá kinh tế có khả năng giúp xác định sự kém hiệu quả của các khoản trợ cấp của chính phủ như vậy và góp phần vào sự thay đổi chính sách. Sự khác nhau của phân tích kinh tế đánh giá tất cả các can thiệp với một cơ sở không can thiệp là tiềm năng về hiệu quả kinh tế của chúng. Kết quả tỷ lệ lợi íchchi phí thông báo cho các nhà phân tích là làm thế nào để kết hợp các biện pháp can thiệp một cách tối ưu. Giả sử nguồn tài nguyên hiện đang làm việc cho các thiết lập hiện tại của các can thiệp có thể được phân bổ lại, kiểu phân tích này tối đa hóa lợi ích cho xã hội với một mức độ nhất định của nguồn lực đầu vào. Trong khi phân bổ lại như vậy là ít xảy ra trong ngắn hạn, chính sách của chính phủ và các quyết định phân bổ nguồn lực có thể được định nghĩa một cách di chuyển theo hướng kết hợp này của các can thiệp. Tên thường được gọi cho kiểu phân tích này là phân tích trung bình, và nó đã được mô tả bởi WHO là phân tích ngành trong hướng dẫn tổng quát của mình về phân tích chi phíhiệu quả (Murray và cộng sự, 2000;. Baltussen, 2002; Tân Torres Edejer và cộng sự, 2003). Như lập luận của WHO, điều quan trọng là phải hiểu không chỉ hiệu quả của lựa chọn mới, nhưng cũng có những lựa chọn hiện nay, để chọn (hoặc di chuyển hướng tới) hỗn hợp tối ưu của các biện pháp can thiệp. Hơn nữa, đánh giá hiệu quả can thiệp chống lại một không làm gì thay thế làm tăng sự liên thông của kết quả. Tuy nhiên, có rất nhiều thách thức về phương pháp luận và các dữ liệu để phân tích ngành. Một bất lợi là người ra quyết định phải đối mặt với những quyết định phân bổ nguồn lực quan tâm nhiều hơn trong các tác động gia tăng của các thay đổi rời rạc trong phân bổ ngân sách, cho rằng họ hiếm khi ở một vị trí để tái phân bổ các nguồn lực hiện tại sử dụng. 1.3 Các loại phân tích kinh tế Có hai loại chính của đánh giá kinh tế: (. Drummond và cộng sự, 1997) phân tích chi phílợi ích (CBA) và phân tích hiệu quả chi phí (CEA). Sự khác biệt lớn giữa CBA và CEA là đơn vị đo của các kết quả can thiệp. Trong lĩnh vực đánh giá sức khỏe, CEA đo lợi ích của các can thiệp y tế tại các đơn vị y tế. Phân tích chi phílợi ích (CUA) đại diện cho một phần của CEA đo kết quả sức khỏe trong thuật ngữ chung để cho phép so sánh giữa các can thiệp y tế giải quyết các kết quả sức khỏe khác nhau. Phân tích chi phílợi ích, mặt khác, giá trị của tất cả các kết quả của những biện pháp can thiệp bằng tiền tệ. Điều này đưa ra ba loại tỷ lệ: Tỷ lệ chi phíhiệu quả: kết quả sức khỏe (người được cứu sống hoặc các trường hợp ngăn chặn) trên một đơn vị tiền tệ chi tiêu. Tỷ lệ chi phí tiện ích: kết quả sức khỏe (giá trị cuộc sống đã đạt được, DALYs ngăn chặn, năm tánh mạng chất lượng điều chỉnh tăng) trên một đơn vị tiền tệ chi tiêu. Tỷ lệ chi phí lợi ích: lợi ích bằng tiền hoặc phúc lợi trên một đơn vị tiền tệ chi tiêu. CEA và CUA quan tâm chủ yếu với quan điểm của ngành y tế và do đó chỉ có lợi ích liên quan trực tiếp đến những cải thiện sức khỏe (Gold cộng sự, 1996). Các khuôn khổ hiệu quả chi phí hạn hẹp hiểu là phù hợp, ví dụ, khi đánh giá hiệu quả của chương trình tiêm chủng phòng bệnh sởi hoặc kháng sinh điều trị viêm phổi. Tuy nhiên, đối với các can thiệp đó có nhiều tác động y tế khác nhau và không ảnh hưởng sức khỏe, chẳng hạn như can thiệp năng lượng và sức khỏe gia đình, các khuôn khổ chi phíhiệu quả là không thích hợp vì nó có nguy cơ không bao gồm một số lợi ích quan trọng. Ví dụ, một nghiên cứu chi phílợi ích về những can thiệp để cải thiện cấp nước và vệ sinh môi trường được định lượng và giá trị lợi ích phi y tế chọn lọc và so sánh các chi phí can thiệp (Hutton Haller, 2004). Một kết luận quan trọng của nghiên cứu là lợi ích không liên quan sức khỏe, chẳng hạn như tiết kiệm thời gian, làm cho một đóng góp đáng kể vào lợi ích kinh tế tổng thể, như vậy bằng chứng một phân tích ngành chéo rộng hơn. Hơn nữa, các can thiệp năng lượng và sức khỏe gia đình hiếm khi được tài trợ và thực hiện bởi các lĩnh vực y tế và thực hiện chủ yếu có thể được thúc đẩy bởi những mối quan tâm của các ngành khác hơn sức khỏe, chẳng hạn như nạn phá rừng (lĩnh vực môi trường), xói mòn đất (khu vực nông nghiệp) và xóa đói giảm nghèo ( ngành kinh tế). Do đó, khi xem xét năng lượng hộ gia đình và các can thiệp y tế, nó có liên quan để đánh giá chi phí và lợi ích toàn diện trong một khuôn khổ CBA xã hội (Layard, 1972). Ngoài ra, để ra quyết định trong các lĩnh vực y tế, CEA là đơn giản hơn và ít gây tranh cãi về đo lường tác động y tế tại các đơn vị y tế hơn là trong các đơn vị tiền tệ. 1.4 Kết quả phân tích chi phílợi ích Mục tiêu của CBA là xác định phần chênh lệch giữa chi phí và lợi ích của can thiệp đó. Một lợi ích ròng xã hội tích cực cho thấy rằng một sự can thiệp là đáng giá từ góc độ kinh tế. Tuy nhiên, các quỹ công cộng còn hạn chế, một số bảng xếp hạng các giải pháp thay thế là cần thiết để cho phép các nhà sản xuất quyết định để lựa chọn các biện pháp can thiệp có lợi nhuận cao nhất về đầu tư hoặc mang lại lợi ích lớn nhất cho mục tiêu dân số. Vì vậy, đầu ra chính của một CBA là: Tỷ lệ lợi íchchi phí (BCR), trong đó cho thấy các yếu tố mà theo đó lợi ích kinh tế vượt quá chi phí kinh tế. Tuy nhiên, tỷ lệ bản thân nó không phải là thông tin chỉ quan tâm đến người ra quyết định, ai cũng có thể muốn biết làm thế nào nhanh chóng đầu tư sẽ được trả lại, sự hấp dẫn của đầu tư so với cách đặt các quỹ tại một ngân hàng và hưởng lãi suất. Do đó, các biện pháp tóm tắt sau đây là kết quả đầu ra bổ sung quan trọng của một CBA, và có thể giúp cho các trường hợp đầu tư vào các can thiệp để làm giảm tiếp xúc với dân để IAP (xem chương 8): Tỷ lệ lợi nhuận kinh tế nội bộ (EIRR) cho biết lợi nhuận trên đầu tư của can thiệp, đó là tỷ lệ chiết khấu mà tương lai dự kiến dòng các lợi ích tương đương với các dòng tương lai dự kiến chi phí. Giá trị hiện tại ròng (NPV) cho thấy mức tăng tiền tệ hoặc phúc lợi ròng có thể được dự kiến từ các can thiệp trong các đơn vị tiền tệ của giai đoạn cơ sở (khởi đầu của dự án). Điểm hòa vốn cho thấy khoảng thời gian sau đó các lợi ích kinh tế từ một can thiệp sẽ bằng các nguồn lực đầu tư vào các can thiệp. Bên cạnh những kết quả đầu ra bản tóm tắt của CBA, các bộ phận cấu thành chính nó, chẳng hạn như chi phí hay kết quả dữ liệu, có thể được sử dụng để ra quyết định. Ví dụ, một phân tích chi phí so sánh của một sản xuất bếp lò và chương trình phân phối tại một số khu vực của một quốc gia sẽ cho phép rút ra kết luận về mà những người thực hiện tốt hơn và lý do. Một tính toán chi phí kinh tế cũng góp phần thiết lập giá thuế quan đối với các dịch vụ công cộng, và để phân bổ ngân sách của chính phủ. Hơn nữa, theo quan điểm tài chính có thể được trình bày bằng cách phân tách dữ liệu chi phí và kết quả vào tác động tài chính so với tác động kinh tế thuần tuý. Phần tiếp theo sẽ làm rõ về sự phân biệt giữa phân tích kinh tế và tài chính. 1.5 Phân tích kinh tế với phân tích tài chính Như đề cập ở trên, sự phân biệt giữa phân tích kinh tế và tài chính là rất quan trọng. Sự khác biệt chính được tóm tắt trong Bảng 2. Bảng 2. Sự khác nhau giữa phân tích tài chính và kinh tế Biến số Phân tích tài chính Phân tích kinh tế Kết quả lợi ích của đầu ra Thu nhập; chi phí; dòng tiền; lợi nhuận cuối cùng của giai đoạn cân bằng;;Tỷ lệ lợi nhuận kinh tế nội bộ ;giá trị tài chính hiện tại ròng Tỷ lệ lợi íchchi phí; tỷ lệ kinh tế nội bộ trở lại; giá trị hiện tại ròng. Chi phí Tất cả các khoản chi tiêu tài chính, hiện tại hay tương lai, trong đó có một chi phí tiền tệ. Mọi sử dụng các nguồn lực, hiện tại hay tương lai, trong đó có một kinh tế (cơ hội) chi phí. Các ví dụ bao gồm các khoản thanh toán tiền tệ thực tế về nhân lực, vật liệu, hoặc cơ sở hạ tầng. Ví dụ như việc sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm nhân lực, cơ sở hạ tầng có sử dụng thay thế, và hàng biếu tặng Xác định giá trị chi tiêu trong tương lai là giá trị hiện tại bằng cách sử dụng lãi suất thị trường. Xác định giá trị chi tiêu trong tương lai là giá trị hiện tại bằng cách sử dụng một tỷ lệ chiết khấu phản ánh ưu tiên thời gian xã hộia Hậu quả hoặc kết quả Tất cả hậu quả tài chính của một can thiệp nhất định, bao gồm cả chi phí liên tục, tiết kiệm chi phí hoặc doanh thu. Tất cả hậu quả tài nguyên liên quan với một sự can thiệp nhất định, bao gồm cả giải phóng lên công suất dự phòng để sử dụng thay thế, cải tiến trong các chỉ tiêu chất lượng, và giá trị kinh tế của các khoản tiết kiệm tài nguyên. Phân tích tài chính nói chung là đánh giá của thu nhập, chi tiêu, lưu chuyển tiền tệ, lợi nhuận và kết thúc của sự cân bằng thời gian (bảng cân đối). Phân tích tài chính của một can thiệp do đó ước tính tác động tài chính của các can thiệp vào các cơ quan thực hiện, hoặc bị ảnh hưởng về tài chính. Phân tích kinh tế, mặt khác, cuối cùng hiểu về tác động của can thiệp vào nền kinh tế của đất nước, và xem xét sử dụng tài nguyên chung và hậu quả, dựa trên tiền đề của các nguồn lực khan hiếm. Trong kinh tế học, một nguồn tài nguyên được định nghĩa như là một đối tượng có giá trị kinh tế. Giá trị kinh tế được hiểu là chi phí cơ hội của một tài nguyên cơ hội trong ý nghĩa rằng nếu một nguồn lực không được sử dụng cho một lần, nó có sử dụng thay thế mà cũng mang lại lợi ích phúc lợi. Những lợi ích phúc lợi là không nhất thiết phải trả tài chính theo nghĩa hẹp nó có thể tăng sức khỏe, giảm ô nhiễm, hoặc tiêu chuẩn sống cao hơn, mà phương pháp định giá thích hợp phải được lựa chọn. Thuế, trợ cấp, tiền phạt và biện pháp trừng phạt tài chính không có giá trị kinh tế, cho rằng nó chỉ phản ánh chuyển giao, không sử dụng, các nguồn tài nguyên. Vì lý do này, chúng được đưa vào phân tích. Tuy nhiên, trong một đánh giá về phân phối của một can thiệp, được và mất của các nhóm khác nhau sẽ xuất hiện để giải quyết vấn đề công bằng. 1.6 Những hạn chế và cơ hội của các phân tích kinh tế Ô nhiễm không khí trong nhà đã nhận được tương đối ít sự chú ý từ các nhà nghiên cứu kiểm tra hiệu quả kinh tế của năng lượng hộ gia đình, sức khỏe công cộng hoặc các can thiệp thay đổi lối sống. Một lời giải thích có thể là thay đổi tiếp xúc với IAP là một sự can thiệp kéo dài nhiều lĩnh vực, và là ở rìa các hoạt động của ngành y tế. Ngoài ra, IAP và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của nó là một vấn đề mà chủ yếu ảnh hưởng đến các nước đang phát triển. Với 9010 khoảng cách được mô tả bởi Diễn đàn toàn cầu cho nghiên cứu y tế (tức là toàn cầu 90% của nguồn lực nghiên cứu được chi tiêu cho các vấn đề sức khỏe của 10% dân số thế giới), quả là không đáng ngạc nhiên rằng khu vực này là nghiêm trọng chưa được nghiên cứu (Diễn đàn toàn cầu về Nghiên cứu y tế, 1999). Hơn nữa, mặc dù ngành y tế có trách nhiệm đối với việc nâng cao nhận thức về tác động sức khỏe của IAP và thúc đẩy các can thiệp để làm giảm tiếp xúc, các công cụ đánh giá kinh tế chính của sự lựa chọn của chính sách y tế, với các nhà sản xuất CEA là mục tiêu của họ là tối đa hóa sức khỏe của người dân để có một ngân sách nhất định. Các câu hỏi về hiệu quả kinh tế rộng lớn hơn, như giải quyết thông qua CBA, không phải là một mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách y tế (Hutton, 2000). Số lượng nghiên cứu kinh tế được công bố về năng lượng và sức khỏe gia đình là rất nhỏ (Habermehl, 1999; Larson Rosen, 2002; Dhanapala, 2003; Larsen, 2004; Tse et al 2004;. Wyon, 2004). Một nghiên cứu được tiến hành như một phần công việc của WHO về tổng quát CEA, xem xét các lợi ích sức khỏe của các can thiệp để giảm IAP từ sử dụng nhiên liệu rắn. Nó trình bày chi phí mỗi năm thu được khi cải thiện tiếp cận với các loại nhiên liệu sạch hơn (prôpan LPG, dầu hỏa dầu lửa), cải thiện bếp đơn, và các loại nhiên liệu sạch hơn và cải thiện bếp kết hợp (Mehta Shahpar, 2004). Tuy nhiên, những ghi nhận của người nhận xét khác nhau, đánh giá các can thiệp y tế môi trường có tác động rộng lớn hơn cần phải kết hợp các lợi ích ngoài việc cải thiện sức khỏe trực tiếp vào đánh giá kinh tế tiêu chuẩn, bao gồm tiết kiệm thời gian, giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên, và tiện lợi (Hutton, 2000; Smith, 2002;. Hutton et al, 2006; WHO, 2006). Trong nhiên liệu sản xuất của mình cho cuộc sống: năng lượng hộ gia đình và sức khỏe (WHO, 2006), WHO dựa trên một nghiên cứu chi phílợi ích toàn cầu về các can thiệp năng lượng và sức khỏe gia đình (. Hutton et al, 2006) để kết luận rằng đầu tư vào năng lượng hộ gia đình phải tốn chi phí. 1.7 Tổng quan về các nguyên tắc Chương 2 giới thiệu các khuôn khổ và các giai đoạn chính để thực hiện một CBA. Chương 3 cung cấp hướng dẫn về làm thế nào để chọn năng lượng hộ gia đình và can thiệp y tế để được đánh giá. Chương 4 các chi tiết về làm thế nào để chọn các ranh giới để phân tích. Chương 5 mô tả các phương pháp tiếp cận chi phí dự toán và chương 6 phương pháp để tác động đến dự toán. Chương 7 khảo sát làm thế nào để đối phó với sự không chắc chắn. Chương 8 lời khuyên hữu ích để có kết quả tốt nhất trong một bài thuyết trình, và chương 9 kết luận. 2. KHUÔN KHỔ CHI PHÍ – LỢI ÍCH Hướng dẫn về đánh giá kinh tế đã có từ những năm cuối thập niên 1960, khi CBA đã trở thành một phần công việc thẩm định dự án phát triển của Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ song phương phát chính phủ với việc xuất bản hai hướng dẫn tài liệu tham khảo quan trọng cho các thẩm định kinh tế của các dự án phát triển (Little Mirrlees, 1968; Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, 1972). Kể từ đó, công trình tham khảo khác đã trở nên phát triển và làm rõ các khuôn khổ cơ bản đánh giá kinh tế (Little Mirrlees, 1968; Dasgupta, 1970; Layard, 1972; Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, 1972; Little Mirrlees, 1974; Mishan, 1975; Sugden Williams, 1978; Pearce Nash, 1981, Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1997; MacArthur, 1997). Hướng dẫn về đánh giá kinh tế cũng đã được sản xuất cho các ngành cụ thể, bao gồm sức khỏe (Levin, 1983; Philips et al 1993,;. Rovira, 1994; Gold et al 1996,;. McGuire et al, 1989; Johannesson, năm 1996; Drummond et al, 1997;. Preker et al, 1997;. Drummond McGuire, 2001;. TanTorres Edejer et al, 2003), cung cấp nước (ment Ngân hàng Phát Châu Á, 1999), nông nghiệp (Gittinger, 1984) và môi trường (Hanley Spash, 1993; Field, 1997; Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển năm 1995; Postle, 1997). Ngoài ra, có một số lượng ngày càng tăng của chi phí hướng dẫn xác định chi tiết các ứng dụng cụ thể của chi phí, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (WHO, 1979; WHO, 1988; Creese Parker, 1994; Pepperall et al, 1994;. Baladi năm 1996; Luce et al, 1996;. Sawert, 1996; WHO, 1998; Kumaranayake et al, 2000;.. Johns et al, 2002; Hutton Baltussen, 2005). Ngành y tế là một trong những lĩnh vực mà đánh giá kinh tế đã được áp dụng rộng rãi, với một sự gia tăng lớn trong nghiên cứu được công bố diễn ra vào cuối năm 1980 và đầu năm 1990 (Elixhauser et al., 1993). Sau khi công bố vào năm 1987 về một cuốn sách giáo khoa của Drummond et al, đánh giá kinh tế được hưởng các chương trình chăm sóc sức khỏe (Drummond et al, 1987;.. Drummond et al, 1997) đã có một khuôn khổ đánh giá kinh tế thường được chấp thuận. Việc xuất bản sách giáo khoa phân tích chi phíhiệu quả trong y tế và thuốc bởi Gold và cộng sự trong năm 1996 là một đóng góp quan trọng đối với việc áp dụng các đánh giá kinh tế trong lĩnh vực y tế. Vào giữa những năm 1990 hai bộ quan trọng của ấn phẩm tạp chí xuất hiện, dựa trên hai cuốn sách giáo khoa đã đề cập ở trên, mà mục đích là để thiết lập định mức, tiêu chuẩn cho bản đệ trình kinh tế đến các tạp chí học thuật (Drummond Jefferson năm 1996;. Weinstein et al, 1996) . Gần đây hơn, WHO đã xuất bản hướng dẫn riêng của mình, trong đó mô tả những gì được gọi là khái quát CEA một phương pháp phổ biến cho các ứng dụng toàn cầu của CEA để can thiệp y tế (TanTorres Edejer et al., 2003). Khuôn khổ chung của đánh giá kinh tế, với một ứng dụng cụ thể để can thiệp y tế, tốt nhất là tóm tắt danh sách kiểm tra 10 điểm của Drummond et al. (Hình 3). Danh sách kiểm tra chứa 10 câu hỏi thiết yếu cần được trả lời bởi một nghiên cứu đánh giá kinh tế trong lĩnh vực y tế. Danh sách kiểm tra phản ánh sự đồng thuận chung của cộng đồng kinh tế y tế tại thời điểm công bố. Hình 3. Khung đánh giá kinh tế danh sách 10 điểm kiểm tra Câu hỏi 1. Một câu hỏi định nghĩa rõ ràng có được đặt theo hình thức trả lời? Câu hỏi 2. Các lựa chọn thay thế cạnh tranh nhất định có đucợ trình bày cụ thể? Câu hỏi 3. Hiệu quả của các chương trình hoặc dịch vụ có được hình thành ? Câu hỏi 4. Tất cả các chi phí và hậu quả quan trọng có liên quan của từng phương án thay thế có được xác định không? Câu hỏi 5. Đo lường kết quả và chi phí bằng các đơn vị vật lý thích hợp có chính xác hay không? Câu hỏi 6. Chi phí và hậu quả có giá trị đáng tin không ? Câu hỏi 7. Chi phí và hậu quả có được điều chỉnh cho thời gian chênh lệch không? Câu hỏi 8. Phân tích gia tăng chi phí và hậu quả của các phương pháp có được thực hiện hay không ? Câu hỏi 9. Trợ cấp có làm cho sự không chắc chắn trong ước tính chi phí và hậu quả không? Câu hỏi 10. Trình bày và thảo luận về kết quả nghiên cứu có bao gồm tất cả vấn đề liên quan đến người sử dụng không ? Với những ứng dụng rộng rãi trong danh sách kiểm tra đánh giá kinh tế này, các văn bản dưới đây mô tả một số điểm chính để được xem xét theo từng câu hỏi với tham chiếu đến các chương hoặc phần trong đó mỗi điểm được đề cập nhiều hơn trong các hướng dẫn hiện nay. Câu hỏi 1. Một câu hỏi định nghĩa rõ ràng có được đặt theo hình thức trả lời? Tầm quan trọng kinh tế của các câu hỏi nghiên cứu nên được vạch ra. Các giả thuyết đang được thử nghiệm, hoặc câu hỏi được giải quyết, trong đánh giá kinh tế cần phải. Quan điểm (s) ví dụ, hệ thống y tế, bệnh nhân, người tiêu dùng, xã hội được sử dụng để phân tích cần phải được nêu rõ ràng và hợp lý. được nêu rõ ràng và hợp lý. Các hình thức (s) đánh giá được sử dụng ví dụ, phân tích chi phígiảm thiểu (CMA), CBA, CEA hoặc chi phí tiện ích phân tích (CUA) Cần nêu và chứng minh. Điều đó là rất quan trọng cho một phân tích chính sách thích hợp để hỏi những câu hỏi đúng, như các thiết lập khuôn khổ cho toàn bộ phân tích. Điều này đòi hỏi phải xác định các giải pháp thay thế khả thi trong bối cảnh chính sách bao gồm tất cả những can thiệp đó là giá cả phải chăng, công nghệ phù hợp và chấp nhận được về mặt văn hóa. Vì vậy, việc phân tích lý tưởng nên so sánh các chính sách và biện pháp can thiệp khả thi mà có thể được thực hiện trong một khoảng thời gian 510 năm. Hơn nữa, phân tích nên bao gồm cả các chi phí và tác động của các biện pháp can thiệp, và đặt chúng vào bối cảnh ra quyết định cụ thể. Câu hỏi này được giải quyết trong chương 3 Lựa chọn thay thế biện pháp can thiệp để đánh giá. Câu hỏi 2. Các lựa chọn thay thế cạnh tranh nhất định có đucợ trình bày cụ thể? Các biện pháp can thiệp thay thế nên được mô tả đầy đủ chi tiết cho phép người đọc đánh giá độ phù hợp với khung cảnh hoặc bối cảnh khác nhau đó là: ai đã làm những gì, với ai, ở đâu, và bao lâu. Một khi các biện pháp can thiệp để so sánh đã được lựa chọn, điều quan trọng là làm cho có sẵn một mô tả đầy đủ của mỗi giải pháp công nghệ và thực hiện nó. Tất cả các lựa chọn cùng loại có liên quan và có tính khả thi phải được bao gồm và các tùy chọn của người thay thế không có hành động bỏ qua. Kiến thức về thiết kế can thiệp là rất quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu hoặc người thực hiện để đánh giá sự phù hợp và tính khái quát về kết quả phân tích kinh tế để thiết lập khác nhau. Điều này cũng sẽ cho phép họ thích ứng với các can thiệp ở điều kiện khác nhau. Câu hỏi này cũng được ghi nhận trong chương 3 Lựa chọn thay thế biện pháp can thiệp để đánh giá. Câu hỏi 3. Hiệu quả của các chương trình hoặc dịch vụ có được hình thành ? Nếu đánh giá kinh tế dựa trên hiệu quả duy nhất hoặc nghiên cứu tác động, chẳng hạn như là một thử nghiệm lâm sàng, các chi tiết của thiết kế và kết quả cần được đưa ra ví dụ, lựa chọn của quần thể nghiên cứu, phương pháp phân bổ của các đối tượng, phân tích theo chủ định điều trị, và độ hiệu quả với khoảng tin cậy. Nếu đánh giá kinh tế dựa trên một cái nhìn tổng quan hoặc phân tích tổng hợp của một số nghiên cứu hiệu quả, chi tiết nên được đưa ra trong những phương pháp tổng hợp, phân tích tổng hợp của các bằng chứng cho ví dụ, chiến lược tìm kiếm và tiêu chí để nhận các nghiên cứu. Cơ sở lý luận nên được đưa ra với sự lựa chọn của các mô hình và các thông số quan trọng. Điểm khởi đầu cho một nghiên cứu đánh giá kinh tế mà các biện pháp can thiệp hiệu quả là phải có bằng chứng có sẵn về tính hiệu quả của các biện pháp can thiệp được chọn. Nếu một lựa chọn can thiệp mới không có tác dụng có lợi hay có tác động, nó không có ý nghĩa để tiến hành một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của nó. Nếu một lựa chọn can thiệp mới được biết là có hiệu quả tương tự như các chiến lược đang làm việc, một nghiên cứu chi phí so sánh có thể có liên quan đến điều tra xem liệu có sự can thiệp mới là ít tốn kém, và biện minh cho một nghiên cứu đánh giá kinh tế. Có nhiều thách thức để thiết lập hiệu quả của các biện pháp can thiệp y tế liên quan. Các nghiên cứu có kiểm soát đầy đủ kích thước mẫu được yêu cầu để đảm bảo rằng lợi ích can thiệp có liên quan đến sự can thiệp của chính nó và không phải là kết quả của sự khác biệt về yếu tố hoàn cảnh. Do đó, điểm khởi đầu của bất kỳ đánh giá kinh tế cần được Có đầy đủ bằng chứng khoa học để chỉ ra một hiệu ứng can thiệp? Tiếp theo tầm quan trọng của hiệu quả là gì? Theo truyền thống, các nguồn thông tin tốt nhất về hiệu quả can thiệp là một ngẫu nhiên có kiểm soát dùng thử (RCT), giả sử nó là một thử nghiệm thực tế phản ánh điều kiện thực tế. Trong sự vắng mặt của một RCT, tuy nhiên, đó là chấp nhận được để vẽ trên các loại thiết kế nghiên cứu, chẳng hạn như trường hợp kiểm soát hoặc nhóm nghiên cứu. Khi làm như vậy, giá trị khoa học cần được kiểm tra chặt chẽ, và kết quả diễn giải phù hợp. Khi một mô hình được sử dụng để dự đoán kết quả dịch tễ ngoài quan sát cuối điểm, biện minh và tài liệu tham khảo cần được cung cấp. Câu hỏi này được giải quyết trong chương 3 Lựa chọn thay thế biện pháp can thiệp để đánh giá và chương 6 Ước tính tác động. Câu hỏi 4. Tất cả các chi phí và hậu quả quan trọng có liên quan của từng phương án thay thế có được xác định không? Các chi phí và hậu quả nên được trình bày đầy đủ, trước một sự lựa chọn hợp lý được trình bày cho sự bao gồm của những người có liên quan nhất. Tác động trực tiếp và gián tiếp hoặc ảnh hưởng thứ cấp cần được phân biệt rõ ràng. Nếu những thay đổi về năng suất (lợi ích gián tiếp) được bao gồm chúng phải được báo cáo và thảo luận một cách riêng biệt. Chi phí và hậu quả bị loại khỏi kịch bản cơ bản có thể được đưa vào phân tích kịch bản. Khi hiệu quả của các biện pháp can thiệp chọn được thiết lập, các ranh giới của phân tích phải được xác định. Tùy thuộc vào bản chất của sự can thiệp, có thể có nhiều nguồn lực đầu vào khác nhau, cũng như một loạt các hậu quả hay tác động. Các tác động can thiệp có thể thay đổi kích thước và bản chất qua thời gian vì có thể được thêm vào hiệu ứng trên hoặc thứ cấp kết hợp với hiệu ứng tức thời của sự can thiệp. Vì vậy, nó là rất quan trọng để xác định điểm bắt đầu của việc phân tích những gì các yếu tố đầu vào có khả năng và tác động này, những người mà họ ảnh hưởng mà trong số họ phải được đo đường trong khoảng thời gian nào đó. Việc lựa chọn để bao gồm hoặc loại trừ các chi phí và lợi ích nên đưa vào tài khoản các yêu cầu mà ít hoặc không được giới thiệu đến. Các ranh giới cần phản ánh các vấn đề nghiên cứu (s) và bản chất cụ thể của các biện pháp can thiệp. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rằng có những tác động (nghiên cứu) chi phí thực hiện các phân tích có ranh giới khác nhau. Câu hỏi này được giải quyết trong chương 4 Ranh giới phân tích chi phílợi ích, và chương 5 mục 5.1 và chương 6 phần 6.1 liên quan đến chi phí và tác động tương ứng. Câu hỏi 5. Đo lường kết quả và chi phí bằng các đơn vị vật lý thích hợp có chính xác hay không? Kết quả đo lường (s) cho việc đánh giá kinh tế cần phải được nêu rõ ràng ví dụ, trường hợp phát hiện, số năm sinh sống, chất lượng cuộc sống được điều chỉnh (QALYs), DALYs, sẵn sàng chi trả. Tác động can thiệp với những hậu quả kinh tế nên được đo bằng đơn vị vật lý thích hợp, để chuẩn bị cho việc định giá bằng đơn vị tiền tệ. Phương pháp để tính số lượng đơn giá nên được đưa ra. Một khi các mặt hàng xác định đã được đo lường chính xác, quá trình đo lường cần được xác định để nắm bắt các nguồn lực đầu vào và hậu quả một cách thích hợp. Đây là một bước đầu tiên quan trọng trong việc ước tính giá trị kinh tế, như các tác động tài nguyên hình thành cơ sở cho việc định giá sau đó (xem Câu hỏi 6). Hơn nữa, trình bày kết quả bằng đơn vị vật lý cho phép tính toán lại đơn giản hơn dựa trên mức giá khác nhau và hỗn hợp đầu vào xảy ra trong bối cảnh khác. Các giả định được thực hiện ở giai đoạn này cần phải được nêu rõ ràng và có thể bị phân tích độ nhạy cảm sau này. Câu hỏi này được giải quyết trong chương 5 mục 5.3 và chương 6 phần 6.3 liên quan đến chi phí và tác động tương ứng Câu hỏi 6. Chi phí và hậu quả có giá trị đáng tin không ?  Phương pháp cho ước tính giá của đơn vị chi phí cần được đưa ra.  Điều chỉnh để quan sát giá thị trường hoặc phi thị trường cần được chứng minh.  Giá trị tiền tệ ( tỷ giá hối đoái ) và giá hang hóa và dịch vụ được áp dụng vào ngày mà nó đã được ghi lại và các chi tiết điều chỉnh nào về lạm phát, hoặc chuyển đổi tiền tệ, được đưa vào.  Chi tiết cần được đưa ra trong những phương pháp được sử dụng trong việc định giá các hậu quả Ví dụ, phương pháp time tradeoff, standard gamble ( một phương pháp để gợi ra sở thích mà nó đo lường rủi ro một người sẵn lòng đánh đổi giữa nâng cao chất lượng cuộc sống ( nghĩa là được chữa khỏi ) và khả năng rõ ràng rằng việc điều trị sẽ dẫn đến tử vong. Phương pháp standard gamble là công cụ chính được sử dụng để đo lường tình trạng sức khỏe ), đánh giá ngẫu nhiên – và các đối tượng cho những giá trị đã đạt được – ví dụ, bệnh nhân, các thành viên trong trung tâm chăm sóc sức khỏe. Như được mô tả trong chương giới thiệu các nguyên tắc này, các tài nguyên được sử dụng hoặc bị ảnh hưởng bởi biện pháp có giá trị để phản ánh những tác động kinh tế chung của sự can thiệp. Do đó, điều quan trọng là chứng minh và tuyên bố nguồn giá trị kinh tế cho tài nguyên được sử dụng. Nơi giá trị thị trường hoặc chính phủ đã được điều chỉnh hoặc nơi giá trị kinh tế đã được tính từ các nguồn dữ liệu khác, cơ sở lý luận và phương pháp cần được mô tả.  Câu hỏi này được đề cập trong chương 5, phần 5.4 và chương 6, phần 6.4 liên quan đến chi phí và ảnh hưởng. Câu hỏi 7. Chi phí và hậu quả có được điều chỉnh cho thời gian chênh lệch không?  Phạm vi thời gian mà chi phí và lợi ích được xem là cần được báo cáo.  Lãi suất chiết khấu cần được nêu rõ và lựa chọn tỉ lệ hợp lý.  Nếu chi phí hoặc lợi ích không được chiết khấu cần đưa ra một lời giải thích. Chi phí và tác động trong tương lai cần được điều chỉnh để phản ánh những giá trị xã hội đặt trên tài nguyên qua thời gian. Sự tồn tại của lãi suất chứng minh một thực tế rằng đơn vị tiền tệ đáng giá bây giờ hơn bất kỳ thời điểm nào trong tương lai, hiện tượng này được gọi là “ ưu đãi thời gian ”. Về phía này, ưu đãi thời gian có thể lien quan đến thực tế rằng mọi người thích tiêu dùng bây giờ hơn là tiêu dùng trong tương lai ( gọi là “ tỉ lệ thuần ưu đãi thời gian ”). Mặt khác, mọi người có thể mong đợi thu nhập thực của họ tăng qua thời gian, và do đó giá trị danh nghĩa của tiền giảm khi thu nhập tăng lên. Mọi người cũng có thể thích tiêu thụ trong hiện tại do khả năng chết sớm hay sự tiến bộ của công nghệ mà làm hàng lỗi thời qua thời gian. Do đó, chi phí và tác động trong tương lai cần được chiết khấu bằng một tỉ lệ chiết khấu phù hợp với giai đoạn hiện nay, sử dụng tỉ lệ phản ánh ưu đãi thời gian của xã hội.  Câu hỏi này được đề cập trong chương 5, phần 5.4 và chương 6, phần 6.4 liên quan đến chi phí và ảnh hưởng. Câu hỏi 8. Phân tích gia tăng chi phí và hậu quả của các phương pháp có được thực hiện hay không ?  Một phân tích gia tăng – ví dụ, chi phí gia tăng mỗi năm cuộc sống kiếm được cần được báo cáo, so sánh các giải pháp thay thế liên quan. Các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với phạm vi giới hạn sự can thiệp có thể được tài trợ, và hiếm khi ( nếu có ) họ có cơ hội để hoàn toàn phân phối lại ngân sách khu vực. Vì vậy, nó có liên quan để đưa ra những gì được gọi là “ tỉ lệ chi phí lợi ích gia tăng ”. Tỉ lệ này so sánh chi phí và ảnh hưởng theo tập hợp hiện thời của các sự can thiệp với chi phí và tác động dự kiến theo các tập hợp thay thế các biện pháp can thiệp. Thông tin này cung cấp cho nhà lập chính sách một dấu hiệu cho thấy nơi để giảm hoặc tăng phân bổ ngân sách.  Câu hỏi này được đề cập trong chương 3 “ lựa chọn sự can thiệp khác để đánh giá ” và chương 8 “ trình bày và giải thích ”. Câu hỏi 9. Trợ cấp có làm cho sự không chắc chắn trong ước tính chi phí và hậu quả không ?  Chi tiết cần được đưa ra cho bất kỳ mô hình được dung trong nghiên cứu kinh tế, mô hình cây quyết định hay mô hình hồi quy.  Khi dữ liệu ngẫu nhiên được báo cáo, thông tin cần được cung cấp liên quan đến việc kiểm tra thống kê thực hiện và khoảng tin cậy xung quanh những biến chính.  Phương pháp phân tích độ nhạy cần được phản ánh rõ ràng – ví dụ, đa biến, đơn biến, phân tích ngưỡng và chứng minh đưa ra cho sự lựa chọn các biến và vi phạm vi khác nhau. Phân tích chi phí lợi ích là đầy đủ của sự không chắc chắn, do tính chất giả định chi phí và tác động của các biện pháp can thiệp hiện nay. Do đó, các loại và mức độ không chắc chắn cần được nhận biết, và các biến có ảnh hưởng lớn đến kết quả tổng thể xác định chính xác để cho phép phân tích không chắc chắn được tiến hành. Điều này thường liên quan đến việc trình bày các kết quả phân tích chi phí lợi ích theo đầu vào các dữ liệu thay thế cho các biến bao hàm, cũng như sự lựa chọn các ranh giới khác nhau ( chẳng hạn như đưa vào hay loại bỏ các biên ). Các phạm vi dẫn đến tỉ lệ chi phí lợi ích cho biết mức độ tin cậy trong trường hợp cơ sở hoặc tỉ lệ chi phí lợi ích. Nơi mà các biến có sự thay đổi ngẫu nhiên, khoảng tin cậy có thể được trình bày cho tỉ lệ chi phílợi ích, ví dụ phản ánh 95% độ tin cậy.  Câu hỏi này được đề cập trong chương 7 “đề cập đến sự không chắc chắn ”. Câu hỏi 10. Trình bày và thảo luận về kết quả nghiên cứu có bao gồm tất cả vấn đề liên quan đến người sử dụng không ?  Câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu ban đầu cần được đưa ra; bất khì kết luận nào nên đi theo rõ rang từ dữ liệu báo cáo và cần được đi cùng với năng lực thích hợp hoặc đặt thích hợp.  Kết quả quan trọng – ví dụ, tác động đến chất lượng cuộc sống cần được trình bày một cách tổng hợp cũng như hình thức phân tách.  Số lượng tài nguyên cần được báo cáo riêng lẻ từ các giá (đơn giá ) của các nguồn tài nguyên đó.  Bất cứ sự so sánh nào với sự can thiệp của y tế ví dụ, xét về lợi íchchi phí tương đối – nên chỉ được thực hiện khi gần tương tự nhau trong phương pháp nghiên cứu và hoàn cảnh có thể được chứng minh.  Dữ liệu kèm theo cần được cung cấp để hỗ trợ giải thích các kết quả trong bối cảnh nghiên cứu và cho phép khái quát bối cảnh để đưa ra quyết định khác. Làm thế nào kết quả được trình bày và giải thích là quan trọng đến sự hữu ích và sử dụng CBA. Người ra quyết định thường yêu cầu các biện pháp tóm tắt về chi phí và tác động, kèm theo năng lực chứng chỉ liên quan, như phạm vi tin cậy về tỉ lệ chi phí lợi ích, cho phép giải thích các số liệu một cách thích hợp. Các nhà hoạch định chính sách cần tin rằng phân tích được tiến hành một cách khách quan với khuynh hướng tối thiểu hoặc nguy cơ kết luận sai lệch. Hơn nữa, so sánh với kết quả các nghiên cứu tương tự, phân tích dữ liệu tương lai và thông tin cơ bản về các vấn đề thi hành có thể cần đến để hỗ trợ việc giải thích kết quả và đặt chúng vào bối cảnh ra quyết định.  Câu hỏi này được đề cập trong chương 8 “ trình bày và giải thích kết quả ”. Tóm lại, sơ đồ 4 trình bày các trình tự tiến hành một CBA, từ xây dựng câu hỏi chính sách, qua tính rõ nét và thực hiện khung phân tích cho việc tiến hành một CBA, đến sự đóng góp của kết quả ra quyết định chính sách. Sơ đồ 4 không thể hiện thong tin phản hồi theo quyết định phân bổ nguồn lực hoặc chính sách thay đổi lien quan đến CBA ban đầu. Vòng thong tin phản hồi này, qua theo dõi và đánh giá chương trình, giúp xác định những câu hỏi nghiên cứu mới và cung cấp dữ liệu tốt hơn cho các CBA sau này. Sơ đồ 4. Từng bước tiếp cận để phân tích lợi ích – chi phí từ xây dựng câu hỏi chính sách để đưa ra quyết định chính sách. 3. LỰA CHỌN NHỮNG CAN THIỆP 3.1. Những giải pháp liên quan chính sách Để tối đa hóa sự liên quan chính sách của CBA, các sự can thiệp thay thế được lựa chọn phải phản ánh lựa chọn chính sách thực tế cho sự thiết lập nghiên cứu. Lựa chọn chính sách gồm những can thiệp có thể được hỗ trợ thông qua chính sách công và tài nguyên công cộng, và những can thiệp có sẵn và khả thi để thực hiện thông qua khu vực phi chính phủ ( NGOs hoặc công ty tư nhân ), và thích hợp cho các quyết định riêng của hộ gia đình và cộng đồng. Các sự can thiệp năng lượng hộ gia đình liên quan chính sách để giảm tiếp xúc với IAP ở các nước đang phát triển được liệt kê trong Bảng 3. Sự can thiệp sử dụng 3 phương pháp chính: (1) sửa đổi các nguồn ô nhiễm; (2) thay đổi môi trường sống; và (3) thay đổi hành vi người tiêu dùng (Bruce, 2006). Nhận thấy rằng vị trí các sự can thiệp của một trong ba loại có thể khó, như một số biện pháp can thiệp có thể dễ dàng được tính nhiều hơn một loại ( ví dụ, nhà ở hiệu quả như nhau có thể thuộc môi trường sống; thực phẩm chế biến sẵn thay vì được đưa vào với giảm nhu cầu về lửa; và việc nóng lên của năng lượng mặt trời có thể được phân loại như sự kết hợp giữa nhiên liệubếp lò ). Khi không có giải pháp thay thế thì việc phân loại hiện nay được áp dụng cho các mục đích của những hướng dẫn này. Bảng 3 minh họa nhiều sự lựa chọn can thiệp. Đánh giá tất cả trong số đó trong bất kỳ thiết lập không phù hợp. Do đó, liên quan của mỗi lựa chọn can thiệp cho các thiết lập của chương trình can thiệp nên được đánh giá theo tiêu chí sau:  Sự liên quan và phù hợp. Điều này bao gồm các vấn đề chấp nhận văn hóa, tính khả thi kỹ thuật ( chẳng hạn như sự tuân theo để thay đổi hoặc làm mới các tòa nhà ), tài nguyên có sẵn ( như điện và LPG ) và khả năng chi trả. Việc lựa chọn can thiệp trong phân tích cũng có thể phản ánh tiềm năng trong tương lai, như nhiên liệu sinh học ( nhiên liệu sinh học là bất kỳ nhiên liệu xử lý ở dạng khí hoặc lỏng có nguồn gốc từ sinh khối, đặc biệt là sinh khối thực vật và chất thải đô thị và công nghiệp được xử lý. Một danh sách dài các nguồn nhiên liệu sinh học có thể gồm gỗ, chất thải gỗ, than bùn, liên quan đường sắt, bùn gỗ, dầu thực vật, sử dụng rượu lưu huỳnh, chất thải nông nghiệp, rơm, vỏ xe, cá, các loại dầu, dầu cao, chất thải bùn, chất thải cồn, chất thải rắn dô thị, khí hố chôn rác, chất thải khác và hỗn hợp etanol vào động cơ xăng. Etanol và methanol là 2 nhiên liệu sinh học nhiều người biết và phổ biến ), hoặc nhắm đến mục tiêu của nhóm, chẳng hạn như các hộ gia đình nghèo, như đã được thực hiện trong CBS toàn cầu bởi WHO (Hutton, 2006).  Tính sẵn có của bằng chứng. Bằng chứng được hạn chế về chi phí hoặc các tác động của sự can thiệp có thể bị loại ra sự can thiệp từ việc đánh giá. Đối với một số lựa chọn, không có bằng chứng tài liệu nào từ nghiên cứu địa phương các nguồn quốc tế có thể tồn tại, cho thấy nhu cầu cần phải nghiên cứu thêm. Người đọc được chuyển đến bằng chứng khoa học trên hiệu quả của sự can thiệp khác nhau (Bruce, 2000; Bruce, 2006) và khuyến khích tiến hành các tìm kiếm thêm về văn học.  Mức độ phân tích. Khi tiến hành CBA ở các mức độ khác nhau của tập hợp dân số, các biện pháp can thiệp sẽ được quy định ở các cấp độ khác nhau của các chi tiết. Về khía cạnh này, một phân tích mức độ toàn cầu hoặc chỉ đơn giản là đất nước có thể kiểm tra hậu quả của việc chuyển từ truyền thống đến các nguồn nhiên liệu sạch hơn, cho tỉ lệ kết quả ở dân số trung bình (Hutton, 2006). Mặt khác khi một địa phương được lựa chọn trong một quốc gia, các mô hình sử dụng nhiên liệu của nhóm dân số cụ thể có thể được nhận biết và sự can thiệp theo mô hình phù hợp. Vì thế, quy mô có liên quan đến ranh giới xác lập cho phân tích.  Hơn
Xem thêm

87 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC VỚI HỌC BẠ ĐIỆN TỬ TẠI TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC VỚI HỌC BẠ ĐIỆN TỬ TẠI TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI

Thông tin về khối lớp và lớp học.Trang thiết bị, cơ sở vật chất.Mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.Tài liệu giảng dạy.Đồng thời, hệ thống này còn tích hợp các phân hệ quản lý giáo dục chi tiết đến từng lĩnhvực như:••••Quản lý tài chính của nhà trường: Quản lý các khoản thu, chi, ngân sách nhà nước,… tàisản cố định của nhà trường.Quản lý Học sinh: Quản lý các thông tin đến từng hồ sơ học sinh như sơ yếu lý lịch, tìnhtrạng sức khỏe; Quản lý điểm, môn học, chất lượng, hạnh kiểm, danh hiệu, kết quả kiểmtra và thi của từng học kỳ, hay thi học sinh giỏi các cấp,…; Quá trình học tập của họcsinh trong suốt bậc học đại học: nghỉ học, học sinh chuyển đi, chuyển đến, lên lớp, lưuban, bỏ học, khen thưởng, kỷ luật,…Quản lý nhân sự nhà trường: Quản lý các thông tin chi tiết đến từng hồ sơ cán bộ, giáoviên,…; Quản lý việc thuyên chuyển cán bộ; Quản lý lương; Quá trình đào tạo, bồidưỡng, khen thưởng, kỷ luật,…Quản lý công việc giảng dạy của nhà trường: Quản lý thời khóa biểu: Tạo thời khóa biểucho lớp học, cho giáo viên theo tuần, học kỳ của năm học; Theo dõi, lập kế hoạch thayđổi giảng dạy; Quá trình thực hiện và chất lượng giảng dạy.78
Xem thêm

Đọc thêm

KIEM TOAN DU AN DAU TU XAY DUNG CONG TRINH

KIEM TOAN DU AN DAU TU XAY DUNG CONG TRINH

Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, bản vẽ thiết kế, hoàn công và các tài liệu có liên quan, chọn mẫu những khối lượng xây lắp có giá trị lớn, những phần công việc có nhiều khả năng trùng lắp để đi sâu kiểm tra chi tiết. Bước một: Kiểm tra thực tế tại hiện trường (Với những dự án nhóm A, quan trọng quốc gia hoặc với dự án khác nếu có điều kiện) KTV tiến hành kiểm tra tổng thể công trình về khối lượng, chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật công trình...; chọn mẫu một số công việc, hạng mục, kiểm tra kích thước thông qua các phương pháp đo, đếm; kiểm tra quy cách, tiêu chuẩn vật tư, vật liệu; sử dụng các thiết bị kiểm tra sự phù hợp của thực tế với bản vẽ hoàn công, biên bản nghiệm thu kỹ thuật và nhật ký thi công; kiểm tra xem xét địa điểm, địa hình, địa vật công trình để xác định điều kiện áp dụng các hệ số vận chuyển, khoảng cách vận chuyển trong quyết toán so với thực tế thi công. Bước hai: Sau khi kiểm tra thực tế tại hiện trường, KTV tiến hành kiểm tra việc tính khối lượng và việc lập đơn giá xây lắp trong thanh toán, quyết toán: Căn cứ thiết kế, bản vẽ hoàn công, biên bản nghiệm thu kỹ thuật, nhật ký thi công, các kết quả kiểm tra hiện trường tính toán lại khối lượng so với số liệu trong thanh toán, quyết toán. Kiểm tra đơn giá xây lắp trong thanh toán, quyết toán giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành theo từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào hình thức hợp đồng giao nhận thầu. Tính hợp pháp của các trường hợp có sự thay đổi thiết kế và chủng loại vật liệu trong quá trình thi công làm thay đổi giá quyết toán so với giá trúng thầu. Việc áp dụng các phụ phí xây lắp theo chế độ quy định cho từng thời kỳ như chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT. Đối với chi phí đầu tư phát sinh, trượt giá thực hiện kiểm toán theo các điều kiện nêu trong hợp đồng và các tài liệu khác có liên quan. Bước ba: Sau khi kiểm tra chi tiết các nội dung trên KTV tiến hành các bước để tổng hợp: Đối chiếu các nội dung, khối lượng trong bảng tính giá trị đề nghị quyết toán của chủ đầu tư với biên bản nghiệm thu khối lượng để xác định khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu đúng quy định. Đối chiếu sự phù hợp giữa đơn giá trong bản tính giá trị đề nghị quyết toán của Chủ đầu tư với đơn giá trong dự toán được duyệt. Giá trị quyết toán bằng khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu đúng quy định ở bước (a) nhân (x) với đơn giá đã kiểm tra ở bước trên.
Xem thêm

126 Đọc thêm

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TINH DẦU VÀ CÁC SẢN PHẨM TỰ NHIÊN

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TINH DẦU VÀ CÁC SẢN PHẨM TỰ NHIÊN

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 LỢI NHUẬN – NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, với sự tham gia của rất nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo thành môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp . Do đó, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thương trường thì đòi hỏi tất yếu là doanh nghiệp đó phải kinh doanh có hiệu quả, cụ thể là phải có lợi nhuận. Vậy lợi nhuận là gì? Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu đem lại so với các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó trong một thời kỳ nhất định. Lợi nhuận được biểu diễn bằng công thức sau: LN = DT – CP Trong đó: LN : là tổng lợi nhuận doanh nghiệp đạt được trong một kỳ nhất định. DT : là tổng doanh thu doanh nghiệp thu được trong kỳ CP : là tổng chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ Lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được có mối quan hệ chặt chẽ với các khoản doanh thu và chi phí bỏ ra trong kỳ. Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ các khoản tiền thu được do các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại. Đó là doanh thu từ hoạt động bán hàng, doanh thu bán thành phẩm lao vụ và các dịch vụ, doanh thu từ các hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính, doanh thu từ các hoạt động bất thường,... Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để có doanh thu , doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các khoản chi phí nhất định. Đó là chi phí trong quá trình sản xuất ra sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu, chi phí trả lương cho người lao động,...; chi phí trong khâu tiêu thụ sản phẩm như chi phí quảng cáo, chi phí bán hàng...Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải bỏ ra các khoản chi phí thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước như các khoản thuế, cụ thể là: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng... Như vậy, lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua chỉ tiêu này, doanh nghiệp đánh giá tổng quát hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình để từ đó khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Xem thêm

78 Đọc thêm

KẾ HOẠCH THANH TRA KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DỊP TẾT

KẾ HOẠCH THANH TRA KIỂM TRA VIỆC CHẤP HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DỊP TẾT

- Điều kiện bảo đảm ATTP của cơ sở, trang thiết bị, dụng cụ, con người;- Quy trình chế biến, bảo quản, vận chuyển thực phẩm;- Nguồn gốc nguyên liệu, phụ gia thực phẩm;- Nguồn nước dùng cho chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống;- Lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu ATTP theo quy định khi cần thiết.b) Đối với cơ sở dịch vụ ăn uống, tập trung xem xét:- Giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP;- Giấy chứng nhận sức khỏe đối với chủ cơ sở, người lao động;- Giấy xác nhận kiến thức ATTP của chủ cơ sở và người lao động;- Nguồn nước dùng cho chế biến thực phẩm;- Điều kiện vệ sinh cơ sở, trang thiết bị, dụng cụ chế biến, điều kiện về conngười, thực hành quy định về an toan thực phẩm;- Quy trình chế biến bảo quản thực phẩm;- Nguồn gốc nguyên liệu, phụ gia thực phẩm;- Lưu mẫu thức ăn theo quy định;- Lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu ATTP khi cần thiết.c) Đối với cơ sở thức ăn đường phố:- Cơ sở phải bảo đảm cách biệt nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm;- Thức ăn được bày bán trên bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm ATTP;- Kiểm tra nguyên liệu;- Kiểm tra dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm;- Kiểm tra bao gói và các vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;- Kiểm tra dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, côn trùng và động vật gây hại;- Kiểm tra nguồn nước phục vụ việc chế biến, kinh doanh;- Kiểm tra điều kiện về sức khoẻ, kiến thức và thực hành của chủ cơ sở vàngười trực tiếp chế biến, kinh doanh thực phẩm;- Lấy mẫu kiểm nghiệm khi cần thiết.III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN1. Quy trình chung trong quá trình kiểm tra- Nghe báo cáo việc chấp hành các quy định bảo đảm ATTP của cơ sở.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Chi phí kinh tế của bệnh tiểu đường ở mỹ năm 2012

CHI PHÍ KINH TẾ CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG Ở MỸ NĂM 2012

Chi phí kinh tế của bệnh tiểu đường ở Mỹ năm 2012 Mục tiêu: Nghiên cứu này cập nhật những tính toán trước của gánh nặng kinh tế của bệnh tiểu đường được chẩn đoán và đánh giá về sự gia tăng sử dụng nguồn tài nguyên sức khỏe và năng suất bị mất liên kết với bệnh tiểu đường vào năm 2012. THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận phổ biến dựa trên kết hợp các nguồn lực của nhóm dân số Hoa Kỳ năm 2012 với sự phổ biến của bệnh tiểu đường, số liệu lan truyền, chi phí chăm sóc sức khỏe, và các dữ liệu kinh tế thành một chi phí của mô hình tiểu đường. Sử dụng tài nguyên y tế và chi phí y tế liên quan được phân tích theo độ tuổi, giới tính, chủng tộc dân tộc, bảo hiểm, điều kiện y tế, và các loại hình dịch vụ y tế. Nguồn dữ liệu bao gồm các cuộc điều tra quốc gia, các tài liệu phân tích tiêu chuẩn của Medicare (chương trình bảo hiểm sức khỏe dành cho: những người từ 65 tuổi trở lên, những người dưới 65 tuổi mà bị một số khuyết tật, những người thuộc bất cứ lứa tuổi nào bị Bệnh Thận Giai Đoạn Cuối, Tàn tật và không có khả năng lao động) của liên bang và do liên bang quản lý, và một trong những cơ sở dữ liệu yêu cầu lớn nhất đối với dân cư thương mại được bảo hiểm ở Mỹ Kết quả: Tổng chi phí ước tính của bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong năm 2012 là 245 tỷ USD, gồm 176 tỷ USD cho việc chi trả chi phí y tế trực tiếp và 69 tỷ USD làm giảm năng suất. Các thành phần lớn nhất về việc chi trả cho y tế là chăm sóc bệnh nhân nội trú (43% tổng chi phí y tế), thuốc theo toa để điều trị các biến chứng của bệnh tiểu đường (18%), các nguồn cung cấp và đại lý có thuốc chữa tiểu đường (12%), viếng thăm văn phòng bác sĩ (9%), lưu giữ lại trang thiết bị điều dưỡng (8%). Người bị tiểu đường được chẩn đoán phải chịu chi phí y tế bình quân khoảng 13.700 mỗi năm, trong đó có khoảng 7.900 là do bệnh tiểu đường. Người bị tiểu đường được chẩn đoán trung bình có chi phí y tế cao hơn so với những gì chi khi không mắc bệnh tiểu đường khoảng 2,3 lần. Đối với các loại chi phí phân tích, care for people with diagnosed diabetes accounts for more than 1 in 5 health care dollars in the U.S, và hơn một nửa trong số các chi phí liên quan trực tiếp đến bệnh tiểu đường. Chi phí gián tiếp bao gồm ngỉ việc tăng (5 tỷ USD) và giảm năng suất trong khi tại nơi làm việc (20,8 tỷ USD) không có khả năng để làm việc xem như khuyết tật (21,6 tỷ USD), và mất khả năng sản xuất do chết sớm (18,5 tỷ USD). Kết luận: Các ước tính tổng chi phí kinh tế của bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong năm 2012 là 245 tỷ USD, tăng 41% so với ước tính trước đó là 174 tỷ USD (năm 2007). Ước tính này làm nổi bật những gánh nặng đáng kể bệnh tiểu đường mà áp đặt lên xã hội. Bệnh tiểu đường áp đặt một gánh nặng đáng kể vào nền kinh tế của Mỹ trong các hình mẫu chi phí về y tế tăng lên và chi phí gián tiếp từ việc liên quan đến sự nghỉ việc, làm giảm năng suất công việc và ở nhà, giảm tham gia lực lượng lao động từ tàn tật kinh niên, và tử vong sớm. Ngoài gánh nặng kinh tế đã được định lượng, tiểu đường gây ra chi phí vô hình cao đối với xã hội về mặt giảm chất lượng cuộc sống và nỗi đau khổ của những người bị bệnh tiểu đường, gia đình và bạn bè. Cải thiện sự hiểu biết về các chi phí kinh tế của bệnh tiểu đường và các yếu tố chính của nó giúp để thông báo cho hoạch định chính sách và thúc đẩy các quyết định giảm tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường và gánh nặng. Các chi phí trước đó của nghiên cứu bệnh tiểu đường do Hiệp hội tiểu đường Mỹ (ADA) ước tính có gần 17,5 triệu người sống ở Mỹ với loại 1 trong 2 loại được chẩn đoán năm 2007. Tỷ lệ dân số mắc bệnh tiểu đường được chẩn đoán tiếp tục tăng, với một nghiên cứu dự đoán rằng có đến một phần ba người Mỹ trưởng thành có thể mắc bệnh tiểu đường vào năm 2050 nếu xu hướng này tiếp tục. Trong chi phí đước cập nhật của nghiên cứu về bệnh tiểu đường, ước tính tổng gánh nặng kinh tế quốc gia của bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong năm 2012 phản ánh sự tăng trưởng liên tục về tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường và các biến chứng của nó; thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe, công nghệ, và chi phí điều trị; và thay đổi các điều kiện kinh tế. THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này theo sau các phương pháp được sử dụng trong các năm 2002 và 2007 được nghiên cứu bởi ADA, với những sửa đổi để tinh chỉnh các phân tích ở nơi thích hợp. Phân tích tỷ lệ chẩn đoán bệnh tiểu đường, sử dụng và chi phí liên quan đến bệnh tiểu đường bởi nhóm tuổi (dưới 18 tuổi, 1834, 3544, 4554, 5559, 6064, 6569, và hơn 70 năm tuổi), giới tính, chủng tộc dân tộc (sắc dân da trắng, không Tây Ban Nha màu đen, không Tây Ban Nha khác, và Tây Ban Nha), và tình trạng bảo hiểm (tư nhân; chính phủ bao gồm cả Medicare, Medicaid, Chương trình bảo hiểm y tế cho trẻ em, và do chính phủ khác bảo hiểm tài trợ và bảo hiểm). Dự toán Nhà nước cụ thể về tỷ lệ và chi phí bổ sung được cung cấp trong Bảng 11. Nguồn dữ liệu lớn được phân tích bao gồm National Health Interview Survey (NHIS), American Community Survey (ACS), Behavioral Risk Factor Surveillance System (BRFSS), Medical Expenditure Panel Survey (MEPS),… Để ước tính chi phí y tế cho các loại dịch vụ y tế ít phổ biến hơn như chăm sóc bệnh nhân nội trú, cấp cứu, sức khỏe tại nhà, và bệnh về chân, kết hợp 5 năm của MEPS dữ liệu để giảm phương sai trong việc sử dụng và chi phí. Các nhân khẩu học của dân số Hoa Kỳ năm 2012 với tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường, liệu dịch tễ học, chi phí chăm sóc sức khỏe, và các dữ liệu kinh tế sau đó được kết hợp thành một chi phí của bệnh tiểu đường Model. Bảng 1 mô tả cách bổ sung các nguồn dữ liệu được sử dụng, cùng với những ưu và nhược của mình, thích hợp cho nghiên cứu này. Tất cả các dự toán chi phí và sử dụng được ngoại suy cho dân số Mỹ dự kiến trong năm 2012 (4), với dự toán chi phí tính vào năm 2012 đô la bằng cách sử dụng các thành phần thích hợp của chỉ số giá tiêu dùng y tế hoặc tổng số giá tiêu dùng (5). Ước tính quy mô của dân số mắc tiểu đườg: Để ước tính số lượng người mắc bệnh tiểu đường được chẩn đoán vào năm 2012, kết hợp số liệu với US Census Bureau để ước tính tỷ lệ bệnh tiểu đường qua nhóm tuổi, giới tính, chủng tộc dân tộc, bảo hiểm, và cả cư trú tại một nhà dưỡng lão. Kết hợp các NHIS số liệu năm 2009, 2010, và 2011 được sản xuất một mẫu đủ để ước tính tỷ lệ bệnh tiểu đường bằng nhân khẩu học và bảo hiểm bảo hiểm (n = 123.185). Tỷ lệ này dựa trên phỏng vấn trả lời có cho câu hỏi Bạn đã bao giờ được kể bởi một bác sĩ hoặc y tế chuyên nghiệp mà bạn có bệnh tiểu đường hoặc đường tiểu đường?. Nghiên cứu trước đây cho thấy rằng tự báo cáo chẩn đoán của bác sĩ của bệnh tiểu đường là chính xác trong việc ước tính tỷ lệ bệnh tiểu đường được chẩn đoán (6). Đối với nghiên cứu chi phí năm 2007, tỷ lệ ước tính của bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong dân số được thể chế (24%) đến từ một phân tích của năm 2004 NNHS. Kết hợp dữ liệu NHIS và NNHS, chúng tôi ước tính tỷ lệ bệnh tiểu đường được chẩn đoán trong những nhóm dân số (bởi nhóm tuổi, giới tính, chủng tộc dân tộc, và bảo hiểm). Bảng bổ sung 3 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tăng lên theo tuổi tác, có phần cao cho nam giới so với nữ, và cao nhất là ở người da đen không Tây Ban Nha. Phản ánh tỷ lệ cao trong số những người cao tuổi, 13,4% dân số có bảo hiểm y tế chính phủ tài trợ (ví dụ, Medicare, Medicaid) đã được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường so với 4,6% trong số người được bảo hiểm tư nhân và 3,7% trong dân số có bảo hiểm. Ước tính chi phí y tế trực tiếp do bệnh tiểu đường Ước tính sử dụng tài nguyên y tế giữa các dân số mắc bệnh tiểu đường trong quá sử dụng tài nguyên đó sẽ được dự kiến trong sự vắng mặt của bệnh tiểu đường. Tiểu đường làm tăng nguy cơ phát triển thần kinh, mạch máu ngoại biên, bệnh tim mạch, thận, nội tiết trao đổi chất, nhãn khoa, và các biến chứng khác (xem bảng phụ 2 cho một danh sách toàn diện hơn về các bệnh đi kèm) (2). Bệnh tiểu đường cũng làm tăng chi phí điều trị các điều kiện chung không liên quan trực tiếp tới bệnh tiểu đường (2,1113). Vì vậy, một phần của chi phí chăm sóc sức khỏe cho các điều kiện y tế là do bệnh tiểu đường. Như nói rõ trong các nghiên cứu năm 2007, các phương pháp được sử dụng để định lượng sự gia tăng sử dụng tài nguyên sức khỏe liên quan với bệnh tiểu đường bị ảnh hưởng bởi bốn hạn chế dữ liệu: 1) sự vắng mặt của một nguồn dữ liệu duy nhất cho tất cả các ước tính, 2) kích thước mẫu nhỏ trong một số nguồn dữ liệu, 3) sự tương quan của cả bệnh tiểu đường và các bệnh đi kèm với các yếu tố khác như tuổi tác và bệnh béo phì, và 4) được khai báo hết bệnh tiểu đường và các bệnh đi kèm của nó trong các nguồn dữ liệu nhất định. Do những hạn chế, chúng tôi ước tính chi phí bệnh tiểu đường là do sử dụng một trong hai cách tiếp cận đối với từng thành phần chi phí. Các phương pháp tiếp cận phần do kết hợp các phân số yếu tố gây bệnh (ɛ) với tổng dự của Mỹ sử dụng dịch vụ y tế (U) trong năm 2012 cho từng nhóm tuổi (a), giới tính (s), điều kiện y tế (c), và quan tâm thiết lập giao hàng (H) điều trị nội trú bệnh viện, khoa cấp cứu, và các chuyến thăm ngoại trú (khám tại phòng mạch bác sĩ kết hợp với thăm khám ngoại trú bệnh viện phòng khám): 1 phần bênh được tính bằng tỷ lệ bệnh tiểu đường được chẩn đoán (P) và tỷ lệ lãi suất tương đối (R): Tỷ lệ lãi suất cho ngày điều trị nội trú bệnh viện, thăm cấp cứu, và các chuyến thăm cấp cứu đại diện cho bao trên đầu người sử dụng dịch vụ y tế hàng năm cho dân số mắc bệnh tiểu đường so với dân số không bị tiểu đường: Đối với 10 điều kiện y tế đục thủy tinh thể, viêm mô tế bào, rối loạn dẫn truyền và rối loạn nhịp tim, tình trạng sức khỏe tổng quát, suy tim, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính khác, suy thận và di chứng của nó, và nhiễm trùng đường tiết niệu là những thứ đóng góp lớn nhất trong chi phí tổng thể của bệnh tiểu đường, chúng tôi ước tính hai hồi quy Poisson đa biến, sử dụng dữ liệu từ các MEPS, để xác định mức độ mà chỉ kiểm soát tuổi tác và giới tính các tỷ lệ lãi suất. Đầu tiên, chúng tôi ước tính một mô hình giản đơn liên quan đến tỷ lệ bệnh tiểu đường cho ngày điều trị nội trú bệnh viện, và các chuyến thăm cấp cứu kiểm soát về tuổi và giới tính. Sau đó, chúng tôi ước tính một mô hình đầy đủ bao gồm tình trạng bệnh tiểu đường như là biến giải thích và dự đoán khác nhau của việc sử dụng dịch vụ y tế bao gồm cả tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân, tình trạng bảo hiểm y tế, và chủng tộc dân tộc như đồng biến. Đối với mô hình đầy đủ, chúng tôi không tập trung vào mối quan hệ giữa việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các đồng biến (ngoài bệnh tiểu đường), mà là những biến số để kiểm soát đối với đặc điểm bệnh nhân không có sẵn trong dữ liệu y tế có thể được tương quan với cả hai điều kiện y tế và hành vi sức khỏe. Các mô hình đầy đủ bỏ qua các chỉ số cho sự hiện diện của điều kiện cùng tồn tại hoặc biến chứng của bệnh tiểu đường (ví dụ, tăng huyết áp), vì như vậy có thể bao gồm cả các biến đánh giá thấp mối quan hệ giữa bệnh tiểu đường và ước tính sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mỗi trong số 10 điều kiện y tế. Các hệ số tỷ lệ lãi suất cho biến tiểu đường trong các mô hình giản đơn và đầy đủ được so sánh. Các phát hiện cho thấy ước lượng quá ý nghĩa thống kê của các tỷ lệ cho thăm khẩn cấp khi sử dụng mô hình giản đơn cho năm loại điều kiện. Đối với bệnh nhân nội trú ngày, chúng tôi nhận thấy việc ước lượng đáng kể tỷ lệ lãi suất cho ba loại điều kiện. Đối với lần cấp cứu, tăng huyết áp chỉ được tìm thấy có một tỷ lệ lãi suất cao hơn đáng kể bằng cách so sánh các mô hình giản đơn MEPS và dựa trên mô hình đầy đủ. Để khắc phục sự đánh giá quá cao nguy cơ tương đối cho các loại điều kiện, chúng ta thu nhỏ tỷ lệ tỷ lệ ước tính từ dNHI và Medicare 5% mẫu sử dụng các kết quả hồi quy từ các phân tích MEPS bằng cách áp dụng một thang đo (tính bằng tỷ lệ mô hình đầy đủ chia cho tỷ số mô hình giản đơn) (2). Đối với lần khám tại khoa cấp cứu, tỷ lệ được giảm xuống cho nhồi máu cơ tim (scale = 0.94), bệnh tim thiếu máu mãn tính khác (0,93), tăng huyết áp (0,71), viêm mô tế bào (0,72), và suy thận (0,95). Đối với ngày điều trị nội trú, tỷ lệ được giảm xuống đối với tăng huyết áp (0.62), viêm mô tế bào (0,93), và suy thận (0,90). Thăm văn phòng bác sĩ được giảm xuống cho tăng huyết áp (0,89). Chúng tôi không tìm thấy một đánh giá quá cao đáng kể nào cho các điều kiện y tế chung cho ba công ty cung cấp dịch vụ y tế so sánh mô hình giản đơn MEPS và dựa trên mô hình đầy đủ. Tuy nhiên, so sánh các tỷ lệ khiếu nại với các tỷ lệ lãi suất tính từ mô hình giản đơn MEPS thấy rằng tỷ lệ khiếu nại dựa trên các điều kiện chung là cao hơn so với tỷ lệ lãi suất MEPSdựa cho lần khám tại khoa cấp cứu, bệnh viện ngày điều trị nội trú và ngoại trú. Vì vậy, để giữ dự toán của chúng tôi, chúng tôi điều chỉnh xuống tỉ lệ bồi thường cho lần khám tại khoa cấp cứu (0.70), ngày điều trị nội trú bệnh viện (0,68), và các chuyến thăm bệnh (0.66) cho các nhóm tình trạng chung bằng cách áp dụng một thang đo tỉ lệ mô hình giản đơn MEPS chia bởi tỷ lệ bồi thường. Ước tính sử dụng tài nguyên sức khỏe do bệnh tiểu đường được kết hợp với những ước tính về chi phí y tế bình quân, 2012 đô la, để tính toán tổng chi phí y tế do bệnh tiểu đường. Đối với ngày điều trị nội trú bệnh viện, thăm văn phòng, thăm khẩn cấp, và thăm bệnh nhân ngoại trú, chúng tôi sử dụng chi phí trung bình cho mỗi lần thăm ngày cụ thể các điều kiện y tế theo mô hình. Chúng tôi kết hợp dữ liệu từ 20082010 MEPS để ước tính chi phí trung bình cho mỗi trường hợp, trừ trường hợp đối với điều kiện ít phổ biến hoặc các loại chi phí, chúng tôi kết hợp giai đoạn 20062010 để có được một mẫu lớn hơn và do đó ước tính chi phí chính xác hơn Chi phí trung bình cho mỗi trường hợp hoặc ngày do điều kiện y tế được thể hiện trong Bảng bổ sung 4. Sử dụng thuốc theo toa (trừ insulin và thuốc chữa đái đường khác) cho mỗi điều kiện y tế được ước tính từ thuốc theo quy định trong văn phòng của bác sĩ, phòng cấp cứu, và các chuyến thăm ngoại trú do bệnh tiểu đường. Số lượng trung bình của thuốc theo quy định trong một chuyến thăm cho mỗi tầng tuổigiới tính chủng tộc được ước lượng từ 20082010 và 20072009 NAMCS dữ liệu NHAMCS. Chúng tôi tính toán tổng số người mắc bệnh tiểu đường có sử dụng insulin và thuốc chữa đái đường khác bằng cách kết hợp tỷ lệ bệnh tiểu đường và tỷ lệ sử dụng cho các thuốc chữa đái đường thu được từ 20092011 NHIS. Chi phí trung bình cho mỗi thuốc kê toa, insulin và thuốc chữa đái đường miệng và khác thu được từ các MEPS kết hợp 20082010. Chúng tôi kết hợp việc sử dụng của các loại thuốc này với chi phí trung bình cho mỗi toa thuốc để ước tính chi phí theo độ tuổi, giới tính, chủng tộc dân tộc, và tình trạng bảo hiểm. Các chi phí trung bình cho mỗi đầu người đối với tiểu đường bằng tuổigiới tính đã được tính toán từ các MEPS 20082010. Loại thuốc không cần toa không có mặt do thiếu dữ liệu về bệnh tiểu đường làm tăng việc sử dụng các loại thuốc này. Phù hợp với các nghiên cứu năm 2007, tổng điều dưỡng ngày do bệnh tiểu đường được ước tính bằng cách kết hợp các độ dài trung bình ở lại và điều dưỡng cư dân. Sử dụng 2004 NNHS, chúng tôi tính toán số người mắc bệnh tiểu đường trong từng tầng theo tuổi – giới tính, mà đã được điều chỉnh bằng cách sử dụng ước tính tỷ lệ bệnh tiểu đường 32,8% trong các cư dân nhà dưỡng lão, thu được từ tài liệu (7). Điều dưỡng dân cư sử dụng do bệnh tiểu đường đã được ước tính bằng cách sử dụng một cách tiếp cận rủi ro ở nơi phổ biến của bệnh tiểu đường ở người dân được so sánh với sự phổ biến của bệnh tiểu đường trong dân số chung trong cùng tầng với lứa tuổi giới tính. Các phân tích được thực hiện riêng cho lưu trú ngắn ngày, lưu trú dài ngày, và khu dân cư để ước tính tổng số ngày chăm sóc. Tương tự như các nghiên cứu năm 2007, chi phí cho mỗi ngày được lấy từ một chi phí đại diện địa lý của cuộc khảo sát chăm sóc cho năm 2012 (15). Ngày ở viện chăm sóc đặc biệt do bệnh tiểu đường đại diện cho một sự kết hợp của thời gian lưu trú và tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường của người dân sinh sống viện. 2007 NHHCS đã được sử dụng để tính toán số lượng cư dân ở viện với bệnh tiểu đường và những người có một chẩn đoán chính của bệnh tiểu đường cùng với chiều dài trung bình ở lại cho mỗi tầng tuổigiới tính chủng tộc. Chi phí cho mỗi cư dân mỗi ngày thu được từ Hiệp hội Hospice of America được kết hợp với những ngày cuối đời do bệnh tiểu đường để ước tính tổng chi phí chăm sóc tế bần do bệnh tiểu đường. Dữ liệu 20062010 MEPS đã được kết hợp để tăng kích thước mẫu để phân tích việc sử dụng sức khỏe tại nhà, dịch vụ xe cứu thương, và các thiết bị vật tư. Những thành phần chi phí được ước tính bằng cách so sánh chi phí cho mỗi đầu người hàng năm cho những người có và không có bệnh tiểu đường, kiểm soát về tuổi. Do cỡ mẫu nhỏ, giới tính và chủng tộc dân tộc không được bao gồm như là một tầng khi tính chi phí bình quân đầu người. Ước tính chi phí gián tiếp do bệnh tiểu đường Các chi phí gián tiếp liên quan đến bệnh tiểu đường bao gồm ngày công lao động bị mất do tình trạng sức khỏe (vắng mặt), làm giảm năng suất làm việc trong khi làm việc do điều kiện sức khỏe (presenteeism), giảm sự tham gia của lực lượng lao động do thương tật, và năng suất bị mất do thiếu tháng tỷ lệ tử vong (1618). Năng suất mất mát xảy ra giữa những người trong lực lượng lao động cũng như của người thất nghiệp. Để ước tính giá trị mất năng suất, chúng tôi tính toán số lượng ngày công đã bỏ lỡ do vắng mặt, làm giảm năng suất làm việc do bệnh, giảm sự tham gia của lực lượng lao động có liên quan với tình trạng khuyết tật kinh niên, và năm làm việc bị mất do tử vong sớm liên quan đến bệnh tiểu đường. Cách tiếp cận được sử dụng trong nghiên cứu năm 2007, với ngoại lệ của việc thêm chủng tộc dân tộc như một chiều. Nhiều nguồn dữ liệu gần đây đã được sử dụng với sự mất mát bình quân đầu người tính toán năng suất bằng cách kết hợp các ước tính có nguồn gốc từ 20092011 NHIS và thu nhập trung bình hàng năm từ năm 2011 CPS. Khoản thu nhập được thổi phồng lên đến 2012 đô la bằng cách sử dụng chỉ số giá tiêu dùng chung, và các ước tính bình quân đầu người đã được áp dụng cho số lượng người mắc bệnh tiểu đường bởi nhóm tuổi, giới tính và chủng tộc dân tộc. • Vắng mặt (Absenteeism) được định nghĩa là số lượng ngày công bị mất do sức khỏe kém, và nghiên cứu trước đó cho thấy rằng những người bị bệnh tiểu đường có mức giá cao hơn của vắng mặt so với dân số không bị tiểu đường (1618). Ước tính của vắng mặt kết hợp vớitiểu đường khoảng 1,87% của tổng số ngày công lao động (17,1922). Bình thường bình phương tối thiểu hồi quy với các NHIS 20092011 cho thấy, ngày công lao động bị mất hàng năm tự báo cáo là cao hơn về mặt thống kê đối với những người có bệnh tiểu đường. Các biến kiểm soát bao gồm nhóm tuổi, giới tính, chủng tộc dân tộc, tình trạng cao huyết áp chẩn đoán (có không), và tình trạng cân nặng cơ thể (bình thường, thừa cân, béo phì, không rõ). Tiểu đường được nhập như một biến nhị phân (bệnh tiểu đường được chẩn đoán = 1, nếu không 0), cũng như một thuật ngữ tương tác với các nhóm tuổi. Kiểm soát huyết áp cao và trọng lượng cơ thể sản xuất ra các ước tính bảo thủ hơn về tác động bệnh tiểu đường trên vắng mặt (Absenteeism) như các bệnh đi kèm của bệnh tiểu đường có liên quan với tình trạng cân nặng cơ thể và một phần của tăng huyết áp là do bệnh tiểu đường. Công nhân bị bệnh tiểu đường trung bình ba nhiều ngày làm việc bị mất so với đồng nghiệp của họ không bị tiểu đường, có dư thừa bỏ lỡ ngày công lao động khác nhau của nhóm nhân khẩu học • Presenteeism được định nghĩa là làm giảm năng suất trong khi làm việc, và thường được đo lường thông qua phản ứng lao động cho các cuộc điều tra. Các cuộc điều tra dựa trên các yếu tố đầu vào tự báo cáo về số giờ năng suất giảm phát sinh trên một khung thời gian nhất định. Nhiều nghiên cứu gần đây báo cáo rằng các cá nhân bị bệnh tiểu đường hiển thị tỉ lệ giảm năng suất cao hơn so với đồng nghiệp của họ không bị tiểu đường (19,21,22). Tỷ lệ giảm năng suất trong dân số mắc bệnh tiểu đường vượt quá mức giá cho các đồng nghiệp của họ mà không có bệnh tiểu đường với mức dư thừa khác nhau, 1,838% sản lượng hàng năm (17,1922). Những ước tính so sánh giảm năng suất cho người lao động bị bệnh tiểu đường so với những người không bị tiểu đường, tuy nhiên, không kiểm soát được các yếu tố khác có thể liên quan với bệnh tiểu đường (ví dụ, tuổi tác và tình trạng cân nặng). Do đó, chúng ta mô hình mất suất liên quan đến bệnh tiểu đường do giảm năng suất sử dụng ước tính (6,6%) từ các nghiên cứu năm 2007 điều khiển cho các tác động của các yếu tố tương quan với bệnh tiểu đường (2). • Không có khả năng làm việc (Inability to work) liên quan đến bệnh tiểu đường được ước tính bằng cách sử dụng một phương pháp tiếp cận tập trung vào tỷ lệ thất nghiệp liên quan đến khuyết tật lâu dài. CDC ước tính khoảng 65.700 ca cắt cụt chi dưới được thực hiện mỗi năm trên những người có bệnh tiểu đường (23). Những ca cắt cụt chi và các bệnh đi kèm khác của bệnh tiểu đường có thể gây khó khăn cho một số người mắc bệnh tiểu đường ở lại trong lực lượng lao động hoặc tìm được việc làm trong nghề nghiệp mà họ đã chọn (22,24). Để xác định số lượng người khuyết tật liên quan đến bệnh tiểu đường, chúng tôi xác định người trong 20092011 NHIS giữa độ tuổi 18 và 65 tuổi trở lên đã nhận được Supplemental Security Income (SSI) thanh toán cho người khuyết tật. Sử dụng hồi quy logistic, chúng tôi ước tính các mối quan hệ giữa bệnh tiểu đường và nhận thanh toán SSI đã kiểm soát các nhóm tuổi, giới tính, chủng tộc dân tộc, tăng huyết áp, và trọng lượng. Các kết quả phân tích này cho thấy những người bị bệnh tiểu đường có 2.4 phần trăm tỷ lệ ra khỏi lực lượng lao động cao hơn và nhận được trợ cấp so với các đồng nghiệp của họ không bị tiểu đường. Ảnh hưởng của bệnh tiểu đường tăng lên cùng với tuổi tác và thay đổi tùy theo nhân khẩu học khác nhau, từ 0,7 điểm phần trăm cho nam giới da trắng ở Mỹ trong độ tuổi 6569 tới 7,4 điểm phần trăm đối với nữ da đen trong độ tuổi 5559. Mô hình hóa thất nghiệp khuyết tật là cách tiếp cận để mô hình hóa các hiệu ứng của bệnh tiểu đường; Phân tích hồi quy của NHIS cho thấy rằng những người bị bệnh tiểu đường có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thực tế trung bình khoảng 10 điểm phần trăm thấp hơn so với đồng nghiệp của họ không bị tiểu đường. Thu nhập trung bình hàng ngày cho những người trong lực lượng lao động được sử dụng như là một proxy cho các tác động kinh tế của giảm việc làm do tàn tật kinh niên. SSI thanh toán được coi là thanh toán chuyển giao và do đó không được bao gồm trong chi phí xã hội của việc không làm việc do tàn tật. • Giảm năng suất (Reduced productivity )cho những người không trong lực lượng lao động được bao gồm trong ước tính của chúng tôi trong những gánh nặng quốc gia. Dân số này bao gồm tất cả người lớn dưới 65 tuổi không có việc làm (bao gồm cả những người tự nguyện hay không tự nguyện không trong lực lượng lao động). Sự đóng góp của mọi người không ở trong lực lượng lao động với năng suất quốc gia bao gồm thời gian cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em, hoạt động gia đình, và các hoạt động khác như hoạt động tình nguyện trong cộng đồng. Ước tính trước của giảm năng suất cho những người không trong lực lượng lao động được dựa trên ước tính của ngày giường (được định nghĩa là một ngày trên giường vì sức khỏe kém). Các NHIS không còn thu thập những dữ liệu về ngày giường. Do đó, chúng tôi sử dụng các ước tính mỗi vắng mặt bình quân đầu người của dân số làm việc như là một proxy cho giảm ngày năng suất giữa các người thất nghiệp trong nhân khẩu học. Trong khi đó, mỗi ngày làm việc bị mất do vắng mặt được dựa trên ước tính thu nhập bình quân hàng ngày, không có là biện pháp tính giá trị của một ngày mất đi đối với những người không ở trong lực lượng lao động. Các nghiên cứu thường sử dụng lương tối thiểu như là một proxy cho các giá trị của thời gian đã mất, nhưng điều này sẽ đánh giá thấp giá trị của thời gian. Sử dụng thu nhập trung bình cho các đối tác làm việc của họ sẽ đánh giá quá cao giá trị của thời gian. Tương tự như các nghiên cứu năm 2007, chúng tôi sử dụng 75% của thu nhập trung bình cho người dân trong lực lượng lao động như một proxy suất cho những người dưới 65 tuổi không trong lực lượng lao động (trong đó gần trung điểm giữa mức lương tối thiểu và lương trung bình theo giờ thu được của một nhân khẩu học tương tự cho những người thất nghiệp dưới 65 tuổi). • Tử vong sớm ( Premature mortality) do tiểu đường làm giảm năng suất trong tương lai (và không chỉ năng suất năm hiện hành). Lý tưởng nhất, để mô hình các giá trị của năng suất bị mất trong năm 2012 liên quan đến tử vong sớm, người ta sẽ tính toán số lượng và đặc điểm của tất cả những người đã có thể cứu sống được trong năm 2012 nhưng đã chết trước khi đến năm 2012 vì bệnh tiểu đường. Hạn chế dữ liệu ngăn chặn bằng cách sử dụng phương pháp này. Thay vào đó, chúng tôi ước tính số người chết sớm kết hợp với tiểu đường vào năm 2012 và tính toán giá trị hiện tại của các khoản thu nhập tương lai dự kiến của họ. Để ước tính tổng số người chết do bệnh tiểu đường, chúng tôi đã phân tích Nguyên nhân tử vong của CDC năm 2009 để có được số liệu tử vong theo độ tuổi, giới tính và chủng tộc dân tộc đối với bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, suy thận, và bệnh tiểu đường. Một tài liệu hỗ trợ các dự toán báo cáo năm ADA 2007 rằng ~16% các bệnh tim mạch (không bao gồm bệnh mạch máu não) tử vong có thể là do bệnh tiểu đường (1,2,25). Để ước tính phần của bệnh mạch máu não và tử vong do suy thận do đái tháo đường, chúng tôi sử dụng phân số yếu tố gây bệnh cho sử dụng phòng cấp cứu như là một proxy cho tỷ lệ tử vong phân số yếu tố gây bệnh (2). Ước tính của chúng tôi cho thấy rằng ~28% các ca tử vong niêm yết bệnh mạch máu não là nguyên nhân chính và ~55% các ca tử vong niêm yết suy thận là nguyên nhân chính có thể là do bệnh tiểu đường. Những người lớn tuổi đại diện cho các nhóm dân số lớn nhất, nơi tử vong do tiểu đường xảy ra, với ~71% các ca tử vong xảy ra ở những người trong độ tuổi ≥70 năm và 8% các ca tử vong xảy ra ở những người trong độ tuổi 6569 năm. Để tạo ra ước tính năm 2012, chúng ta dùng các số liệu tử vong CDC 2009, sử dụng tỷ lệ tăng dân số hàng năm tiểu đường 20092012 với từng nhóm tuổi, giới tính và chủng tộc dân tộc. Năng suất tổn thất liên quan đến tử vong sớm được tính bằng cách lấy giá trị hiện tại ròng của năng suất trong tương lai (PVFP) dành cho nam giới và phụ nữ theo độ tuổi và chủng tộc dân tộc bằng cách sử dụng cùng một tỷ lệ chiết khấu (3%), giả định, và phương trình nêu trong báo cáo ADA 2007 (2). Chúng tôi kết hợp các khoản thu nhập trung bình hàng năm từ các CPS, tỷ lệ tử vong dự kiến từ CDC, và tỷ lệ việc làm từ các CPS theo độ tuổi, giới tính và chủng tộc dân tộc để tính giá trị hiện tại ròng của các khoản thu nhập tương lai của một người chết sớm. Tỷ lệ việc làm trong năm 2007 (chứ không phải là năm 2012) được sử dụng để tính toán PVFP khi lãi suất cho năm 2007 là gần với trung bình lịch sử (trong khi tỷ lệ giai đoạn 20082012 là thấp hơn so với trung bình do suy thoái). Các kết quả kết hợp Cục Thống kê lao động phát hiện rằng nhiều công nhân lớn tuổi đang trì hoãn nghỉ hưu vì suy thoái kinh tế (với ~15% làm việc ở độ tuổi 65 năm và giảm dần đến ~5% làm việc ở độ tuổi 70 năm), với mô hình này dự kiến sẽ tồn tại ngay cả sau khi kinh tế phục hồi (2). Kết quả Trong năm 2012, ước tính có khoảng 22,3 triệu người Mỹ được chẩn đoán với bệnh tiểu đường, chiếm khoảng 7% dân số. Ước tính này là cao hơn nhưng phù hợp với những công bố của CDC cho năm 2010 (23,26). Các chi phí ước tính quốc gia của bệnh tiểu đường vào năm 2012 là 245.000.000.000 , trong đó176.000.000.000 (72%) đại diện cho chi phí chăm sóc sức khỏe trực tiếp do bệnh tiểu đường và 69 tỷ (28%) đại diện cho năng suất bị mất vì vắng mặt, làm giảm năng suất công việc và ở nhà, thất nghiệp từ tàn tật kinh niên, và tử vong sớm. Sử dụng tài nguyên sức khỏe do bệnh tiểu đường Bảng 1: Sử dụng tài nguyên y tế ở Mỹ do bệnh tiểu đường và thành phần chi phí, 2012 (đơn vị: triệu đơn vị) Dân số bị tiểu đường Do bệnh tiểu đường Do người bị tiểu đường Tài nguyên sức khỏe Đơn vị Tổng(%) Đơn vị Tổng(%) Bệnh khác Tổng cả nước Viện chăm sóc Ngày bệnh viện nội trú 26.4 15.7% 43.1 25.7% 124.9 168.0 Điều dưỡng 101.3 16.4% 198.4 32.2% 418.0 616.4 Chăm sóc đặc biệt 0.2 0.3% 9.3 12.8% 63.1 Chăm sóc bệnh nhân ngoại trú 1,026.7 Khám tại văn phòng bác sĩ 85.7 8.3% 174.0 16.9% 852.8 128.7 Khám tại khoa cấp cứu 7.3 5.7% 15.3 11.9% 113.5 100.7 Khám bệnh viện ngoại trú 7.8 7.8% 15. 14.9% 85.6 279.7 Khám tại nhà 25.7 9.2% 64.9 23.2% 214.7 72.4 Tự mua thuốc 361.4 11.8% 673.1 22.1% 2,377.9 3,051.1 Bảng 1 Sử dụng tài nguyên y tế ở Mỹ theo tình trạng bệnh tiểu đường và thành phần chi phí, năm 2012 (đơn vị: triệu ) Bảng 2 cho thấy rằng dân số từ 65 tuổi trở lên sử dụng một phần lớn hơn đáng kể các dịch vụ, đặc biệt là bệnh viện ngày điều trị nội trú, điều dưỡng ngày ,cơ sở dân cư, nhà tế bần, so với những người dưới 65 tuổi. Sự gia tăng đáng kể trong điều dưỡng ngày dân cư do bệnh tiểu đường từ các nghiên cứu năm 2007 phản ánh cả những chi phí ngày càng tăng và tỷ lệ tăng của bệnh tiểu đường (32,8%) nói chung, và trong số những người cao tuổi nói riêng. Tổng số sử dụng của các loại thuốc theo toa do bệnh tiểu đường đã tăng hơn gấp đôi so với ước tính trong nghiên cứu năm 2007, phản ánh một sự gia tăng đáng kể trong việc sử dụng các loại thuốc điều trị các bệnh đi kèm nói chung và bệnh tiểu đường ở những người có bệnh tiểu đường. Bảng bổ sung 5 cho thấy bình quân đầu người sử dụng tài nguyên sức khỏe của nhân khẩu học. Bảng 2 Sử dụng tài nguyên sức khỏe do bệnh tiểu đường ở Mỹ bởi nhóm tuổi và loại hình dịch vụ, năm 2012 ( đơn vị nghìn) Phân tích sử dụng tài nguyên sức khỏe do bệnh tiểu đường do điều kiện y tế (bảng 3), bao gồm cả bệnh tiểu đường, các biến chứng mãn tính của bệnh tiểu đường, và các điều kiện y tế nói chung, thể hiện rằng phần lớn sử dụng nguồn lực y tế do bệnh tiểu đường, đặc biệt là bệnh nhân nội trú bệnh viện và phòng cấp cứu là điều kiện cho y tế nói chung mà không phải là biến chứng mãn tính của bệnh tiểu đường. Như đã thảo luận trong chi phí năm 2007 của nghiên cứu bệnh tiểu đường, bệnh đái tháo đường góp phần vào do dai của bệnh viện còn lại của bất kể lý do nhập viện (và kiểm soát các yếu tố khác ảnh hưởng đến chiều dài nằm viện của) (2). Ngoài các điều kiện y tế nói chung, một số lượng đáng kể do sử dụng tài nguyên y tế là các biến chứng mạn tính của bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch và đặc biệt là biến chứng thận. Cuối cùng, hơn một phần ba số lần văn phòng bác sĩ và gần 40% số lượt khám ngoại trú bệnh viện đã bị tiểu đường được liệt kê như là lý do chính cho chuyến thăm. Bảng bổ sung 8 cho thấy tỷ lệ tổng sử dụng tài nguyên sức khỏe do bệnh tiểu đường cho mỗi điều kiện y tế. Bảng 3 Sử dụng tài nguyên sức khỏe do bệnh tiểu đường ở Mỹ do điều kiện y tế và loại hình dịch vụ, năm 2012 ( đơn vị hàng nghìn) Chi phí chăm sóc sức khỏe do bệnh tiểu đường Chi phí chăm sóc sức khỏe do bệnh tiểu đường phản ánh các khoản chi thêm các quốc gia phải gánh chịu vì bệnh tiểu đường. Điều này tương đương với chi phí chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người bị tiểu đường trừ đi mức dự chi mà có thể đã xảy ra đối với những người trong sự vắng mặt của bệnh tiểu đường. Bảng 4 tóm tắt chi tiêu quốc gia cho các thành phần chi phí phân tích, chiếm hơn 1,3 nghìn tỷ trong chi tiêu dự kiến cho năm 2012. Khoảng 306 triệu trong tổng số phát sinh bởi những người có bệnh tiểu đường, phản ánh 23% đô la chăm sóc sức khỏe toàn diện. Chi phí do bệnh tiểu đường tổng cộng 176 tỉ USD, tương đương 57% chi phí y tế phát sinh bằng tổng số người bị tiểu đường. Đối với các thành phần chi phí phân tích, nhiều hơn 1 lần trong mỗi 10 đô la chăm sóc sức khỏe là do bệnh tiểu đường. Chú thích: Neurological: biến chứng về thần kinh Peripheral vascular: mạch Cardiovascular: tim mạch Renal: thận Metabolic: trao đổi chất Ophthalmic: mắt Other: khác General medical: Hình 1 tóm tắt tỷ lệ chi phí y tế do bệnh tiểu đường biến chứng mãn tính so với tổng chi phí chăm sóc y tế Hoa Kỳ kết hợp chi phí cho bệnh nhân nội trú bệnh viện, điều trị ngoại trú bệnh viện, lần khám tại khoa cấp cứu, thăm văn phòng bác sĩ, và các loại thuốc theo toa. Hơn một phần tư chi phí, trong năm trong số tám điều kiện thể hiện trong bảng xếp hạng, được cho là do bệnh tiểu đường. Ngoài ra, 7, 11, và 21% chi phí điều trị y tế quốc gia xem như là điều kiện chung, biến chứng nội tiết trao đổi chất, và các biến chứng ở mắt là do bệnh tiểu đường. Dân số mắc bệnh tiểu đường là già hơn và yếu hơn so với dân số không bị tiểu đường, và do đó chi phí y tế hàng năm cao hơn nhiều (trung bình) so với những người không bị tiểu đường (Bảng 8). Sau khi điều chỉnh sự khác biệt tuổigiới tính trong hai quần thể này, những người có bệnh tiểu đường có chi phí chăm sóc sức khỏe mà là cao hơn 2,3 lần (13.741 so với 5,853) so với chi phí sẽ được dự kiến cho nhóm đối tượng này cùng trong sự vắng mặt của bệnh tiểu đường. Điều này cho thấy rằng bệnh tiểu đường chịu trách nhiệm cho 7,888 trong chi tiêu quá mức mỗi năm mỗi người mắc bệnh tiểu đường. Tỉ lệ 2.3 là không thay đổi từ các nghiên cứu năm 2007. Không điều chỉnh Điều chỉnh theo tuổi và giới tính Thành phần chi phí Có bệnh tiểu đường Không có bệnh tiểu đường Tỷ lệ có và không có tiểu đường Có bệnh tiểu đường Tỷ lệ có và không có tiểu đường Do bệnh tiểu đường Viện chăm sóc Điều trị nội trú tại bệnh viện 5.551 1.196 4.6 2.147 2.6 3.404 Điều dưỡng 1.284 203 6.3 622 2.1 662 Chăm sóc đặc biệt NA NA NA NA NA NA Chăm sóc bệnh nhân ngoại trú Văn phòng bác sĩ 1.411 528 2.7 728 2.9 683 Khẩn cấp 633 357 1.8 335 1.9 299 Dịch vụ xe cứu thương 20 5 3.9 11 1.9 10 Hospital outpatient and freestanding ambulatory surgical center 509 259 2 284 1.8 226 Home health 506 127 4 305 1.7 200 Điều trị chân 21 5 4.5 11 1.9 10 Thuốc điều trị ngoại trú và nguồn cung cấp Insulin 276 NA NA NA NA 276 Thuốc chữa tiểu đường 103 NA NA NA NA 103 Thuốc chữa tiểu đường khác 544 NA NA NA NA 544 thuốc theo toa 2.650 710 3.7 1.227 2.2 1.423 Thuốc khác 161 68 2.4 113 1.4 48 Tổng 13.741 3.495 3.9 5.853 2.3 7.888 Bảng 8: Chi phí chăm sóc y tế bình quân đầu người hàng năm ở Hoa Kỳ do bệnh tiểu đường, 2012 Chi phí Năng suất bị mất Chi phí do tiểu đường (tỉ ) Tỉ lệ trong chi phí gián tiếp Ngày nghỉ 25 triệu ngày 5 7% Giảm năng khi làm việc 113 triệu ngày 20.8 30% Giảm năng suất của người không trong lực lượng lao động 20 triệu ngày 2.7 4% Giảm lực lượng lao động vì bệnh tật 130 triệu ngày 21.6 31% Tử vong 246.000 ca tử vong 18.5 27% Tổng 68.6 100% Bảng 9: Gánh nặng gián tiếp của bệnh tiểu đường ở Mĩ năm 2012 Chi phí gián tiếp do bệnh tiểu đường Tổng chi phí gián tiếp của bệnh tiểu đường ước tính khoảng 68.6 tỉ(Bảng 9). Đa số các gánh nặng này xuất phát từ tình trạng thất nghiệp do thương tật vĩnh viễn ( 21.6 tỉ), giảm năng suất ( 20.8 tỉ), và tử vong sớm ( 18.5 tỉ). Ngày làm việc vắng mặt ( 5,0 tỷ) và giảm năng suất cho những người không trong lực lượng lao động ( 2,7 tỷ USD) chiếm một phần tương đối nhỏ trong tổng gánh nặng. Tử vong do tiểu đường Nguyên nhân chính Tổng số ca tử vong (ngàn) Số ca tử vong (ngàn) Tỉ lệ trong số ca tử vong Giá trị do năng suất bị mất (triệu ) Tiểu đường 73 73 100% 7.147 Bệnh thận 46 25 55% 2.004 Bệnh não mạch 136 38 28% 1.484 Bệnh tim mạch 687 110 16% 7.827 Tổng NA 246 NA 18.462 Bảng 10: Chi phí tử vong do tiểu đường ở Mỹ, 2012 Phân tích hồi quy logistic của chúng tôi cho thấy rằng bệnh tiểu đường được gắn với 2.4% gia tăng khả năng rời khỏi lực lượng lao động vì khuyết tật. Điều này tương đương với khoảng 541.000 người trong độ tuổi lao rời khỏi lực lượng lao động sớm và 130 triệu ngày công lao động bị mất trong năm 2012. Đối với các dân mà lá lực lượng lao động sớm vì bệnh tiểu đường liên quan đến khuyết tật, chúng tôi ước tính rằng thu nhập trung bình hàng ngày của họ sẽ là 166 mỗi người ( với số lượng khác nhau của nhân khẩu). Giảm năng suất trong khi làm việc chiếm 30% chi phí gián tiếp của bệnh tiểu đường. Các ước tính cho thấymột sự suy giảm 6,6% hàng năm về năng suất do bệnh tiểu đường (vượt quá sự suy giảm ước tính trong sự vắng mặt của bệnh tiểu đường) tương đương với 113 triệu ngày công lao động bị mất mỗi năm. Thu nhập trung bình hàng ngày là 185 cho dân làm việc bị bệnh tiểu đường, tương đương với 20.8 tỉ trong chi phí hàng năm do bệnh tiểu đường (sau khi thanh toán ra vắng mặt để tránh trùng lặp). Ước tính số người chết trong năm 2012 do bệnh tiểu đường là 246.000 (Bảng 10). Đối với 73.000 trường hợp tử vong (30%), bệnh tiểu đường được liệt kê như là nguyên nhân chính. Trong số 687.000 trường hợp tử vong nơi bệnh tim mạch được liệt kê như là nguyên nhân chính, khoảng 110.000 (16%) là do bệnh tiểu đường. Khoảng 38.000 trường hợp bệnh mạch máu não được liệt kê như là nguyên nhân chính của cái chết là do bệnh tiểu đường, và 25.000 trường hợp bệnh thận được liệt kê như là nguyên nhân chính của cái chết là do bệnh tiểu đường. Chi phí trung bình cho mỗi chết sớm suy giảm theo tuổi (phản ánh còn lại ít năm làm việc dự kiến), và trên tất cả các ca tử vong sớm trung bình khoảng 75,100 cho mỗi trường hợp. Giới tính Tuồi Vắng mặt Giảm năng suất khi làm việc Giảm năng suất của những người không trong lực lượng lao động Thất nghiệp do bệnh tật Tử vong sớm Tổng Nam 1834 170 1.147 61 769 2.408 4.556 3544 403 2.187 117 1.341 2.442 6.490 4554 811 1.691 336 1.416 2.591 6.844 5559 419 1.816 221 1.577 1.116 5.149 6064 211 1.530 188 1.413 493 3.805 6569 89 878 _ 417 209 1.593 70+ _ 305 _ 503 68 876 Tổng 298 1.246 135 1.034 1.100 3.813 Nữ 1834 114 769 66 798 1.100 2.847 3544 241 1.310 113 1.228 1.409 4.301 4554 436 908 297 1.241 1.340 4.222 5559 224 970 196 1.453 559 3.401 6064 93 679 142 1.224 256 2.394 6569 36 354 _ 343 116 849 70+ _ 132 _ 469 46 647 Tổng 149 614 111 901 548 2.322 Bảng 11: Mất mát năng suất hàng năm mỗi người có bệnh tiểu đường ở Mỹ theo độ tuổi, giới tính, và nguyên nhân, năm 2012 (bằng đô la thực tế) Các chi phí ngày công lao động bị mất do vắng mặt được ước tính khoảng 5,0 tỷ, chiếm 25 triệu ngày. Nếu mọi người không ở trong lực lượng lao động có mức giá tương tự của ngày mà họ không có khả năng lao động do sức khỏe kém như các đồng nghiệp làm việc của họ, điều này sẽ tương đương với 20 triệu, vượt quá ngày ốm với các tổn thất năng suất ước tính trị giá 2,7 tỷ USD. Chúng tôi không tính năng suất bị mất cho dân số dưới 18 tuổi. Trong khi trẻ em chiếm một tỷ lệ nhỏ dân số mắc bệnh tiểu đường, bỏ qua năng suất bị mất liên quan đến bệnh tiểu đường ở trẻ em sẽ có xu hướng thiên vị thấp dự toán chi phí. Ví dụ, chi phí kinh tế kết hợp với các bậc cha mẹ dành thời gian nghỉ làm để đưa con đến bác sĩ để thăm bệnh tiểu đường liên quan được bỏ qua từ các dự toán chi phí. Việc mất trung bình hàng năm năng suất mỗi người từ 18 tuổi trở lên mắc bệnh tiểu đường là 3,100. Bảng 11 cho thấy ước tính bình quân đầu người từ mức cao 6844 dành cho nam giới trong độ tuổi 4554 đến mức thấp 647 cho phụ nữ từ 70 tuổi trở lên, phản ánh sự khác biệt bởi nhân khẩu học trong xu hướng được trong lực lượng lao động, thu nhập trung bình, và tử vong rủi ro. Bổ sung Bảng 7 cho thấy sự mất mát năng suất hàng năm mỗi người mắc bệnh tiểu đường theo nguyên nhân và chủng tộc dân tộc. Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy đã có hơn 22,3 triệu người (khoảng 7% dân số Hoa Kỳ) mắc bệnh tiểu đường được chẩn đoán ở Mỹ trong năm 2012. Điều này là cao hơn đáng kể so với dự toán năm 2007 là 17,5 triệu người, phản ánh thay đổi nhân khẩu học, tăng tỷ lệ các yếu tố nguy cơ bao gồm béo phì, tỷ lệ tử vong giảm, và những cải tiến trong việc phát hiện bệnh đái tháo đường (2932). Tiểu đường tiêu tốn của quốc gia có tổng số 245.000.000.000 , trong đó bao gồm 176.000.000.000 trong chi phí y tế trực tiếp và 69 tỷ suất bị mất. Trong khi đa số (59%) của chi phí y tế trực tiếp là cho dân số từ 65 tuổi trở lên, khoảng 88% các chi phí gián tiếp được sinh ra bởi dân số dưới 65 tuổi. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng sau khi điều chỉnh theo tuổi và giới tính, chi phí chăm sóc y tế bình quân đầu người hàng năm là cao hơn 2,3 lần cho người bị tiểu đường hơn so với những người không bị tiểu đường. Tiểu đường là đặc biệt tốn kém khi nó được kết hợp với các biến chứng. Trong khi chúng tôi không thể tính toán chi phí bệnh tiểu đường do bởi nhóm biến chứng cho mọi thành phần chi phí trên các thiết lập cung cấp chăm sóc sức khỏe lớn (bệnh nhân nội trú bệnh viện và bệnh nhân ngoại trú, phòng mạch bác sĩ, và khoa cấp cứu), từ 25% (cấp cứu) đến 45% (bệnh viện điều trị nội trú) của các chi phí y tế tiểu đường do đã trải qua điều trị biến chứng của bệnh tiểu đường. Các nghiên cứu khác cho thấy người bị tiểu đường không kiểm soát được hoặc có biến chứng bệnh tiểu đường bệnh tiểu đường phải chịu chi phí 28 lần so với những người có bệnh tiểu đường được kiểm soát hoặc nonadvanced (33,34). Để so sánh, ước tính 174.000.000.000 tổng gánh nặng cho năm 2007 được công bố trước đó là tương đương với 202.000.000.000 khi tăng đến 2012 đô la bằng cách sử dụng tỷ lệ lạm phát trung bình chung của 3%. Sự gia tăng của 43 tỷ đồng từ dự toán năm 2007 tại 2.012 USD để ước tính mới của 245.000.000.000 phản ánh 1) tăng trưởng 27% trong tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường, 2) thay đổi nhân khẩu học của người bị tiểu đường, 3) tăng trưởng trong việc sử dụng một số loại sức khỏe dịch vụ chăm sóc điều trị bệnh tiểu đường và các bệnh đi kèm của nó như tăng cường sử dụng thuốc theo toa và điều trị tiên tiến cho bệnh tim mạch, 4) giá cả gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ y tế cao hơn mức chung của lạm phát, và 5) để sàng lọc các dữ liệu và các phương pháp được sử dụng để tính toán chi phí của bệnh tiểu đường. Chúng tôi thấy rằng tỷ lệ của tổng số dịch vụ y tế sử dụng quốc gia do bệnh tiểu đường và phát sinh bởi những người có bệnh tiểu đường tăng từ ước tính trong nghiên cứu năm 2007, bao gồm cả việc sử dụng các điều dưỡng ngày cơ sở khu dân cư, thăm văn phòng bác sĩ, lần khám tại khoa cấp cứu, thăm ngoại trú bệnh viện và dùng thuốc theo toa. Số lượng các bệnh viện ngày điều trị nội trú phát sinh bởi những người có bệnh tiểu đường và những người có liên quan đến bệnh tiểu đường của họ đều đã tăng từ mức 2007 khoảng 6 và 9%, tương ứng, mặc dù việc sử dụng quốc gia về chăm sóc bệnh nhân nội trú bệnh viện đã giảm khoảng 10% từ 186 triệu trong ngày 2007168,000,000 ngày trong năm 2012 dựa trên phân tích các dữ liệu NIS. Ngoài ra, ngay cả khi sử dụng MEPS dữ liệu đã được hiển thị để đánh giá thấp chi phí khi so sánh với yêu cầu dữ liệu, đặc biệt là cho các tư nhân tham gia bảo hiểm (35), chúng tôi thấy rằng giá của các dịch vụ y tế cho mỗi sự kiện (truy cập hoặc ngày) đã tăng 517 % so với tỷ lệ lạm phát chung từ cấp năm 2007 cho bệnh nhân nội trú bệnh viện, điều trị ngoại trú bệnh viện, phòng cấp cứu, insulin và các thuốc kê toa khác. Do sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường, sử dụng nguồn lực y tế, và trung bình mỗi chi phí hợp dịch vụ, chi phí y tế trực tiếp 176.000.000.000 do bệnh tiểu đường trong năm 2012 cao hơn so với các chung năm 2007 chi phí y tế trực tiếp điều chỉnh lạm phát của 135.000.000.000 30%. Ước tính chi phí gián tiếp của 69 tỷ cho năm 2012 bao gồm tăng vắng mặt ( 5 tỷ USD) và giảm năng suất trong khi tại nơi làm việc ( 20800000000) cho người dân có việc làm, giảm năng suất cho những người không trong lực lượng lao động ( 2,7 tỷ USD), tỷ lệ thất nghiệp là kết quả của khuyết tật bệnh liên quan đến ( 21600000000), và mất khả năng sản xuất do chết sớm ( 18500000000). 69 tỷ là cao hơn so với năm 2007 ước tính điều chỉnh lạm phát của 67 tỷ chỉ có 3%, mặc dù tốc độ tăng trưởng 27% trong tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường. Các yếu tố buồn với dự toán năm 2012 bao gồm sự suy giảm số lượng người tham gia vào lực lượng lao trong năm 2012 và dự kiến số tử vong do bệnh tiểu đường thấp hơn cho năm 2012. Bao gồm các chủng tộc dân tộc như một chiều, nghiên cứu cũng chán nản các quốc gia gián tiếp ước tính gánh nặng tương đối so với năm 2007, như người Tây Ban Nha và người da đen không Tây Ban Nha có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường cao hơn nhưng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp và thu nhập trung bình thấp. Kể từ khi nghiên cứu năm 2007, suy thoái kinh tế đã giảm tỷ lệ chung về việc làm trên tất cả các nhóm nhân khẩu học bất kể tình trạng bệnh tiểu đường. Một tỷ lệ suy giảm dân số người lớn trong lực lượng lao động làm suy yếu các ước tính của vắng mặt và presenteeism, trong khi tăng ước tính tổn thất năng suất tiểu đường cho dân số không trong lực lượng lao động. Ước tính của chúng tôi 245.000.000.000 chỉ đại diện cho các chi phí kinh tế của bệnh tiểu đường được chẩn đoán. Một nghiên cứu trước đó phát hiện ra rằng 6,3 triệu người Mỹ trưởng thành đã không được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường với một chi phí liên 18 tỷ trong năm 2007 (36). Hơn nữa, gần 57 triệu người trưởng thành trong nghiên cứu đó đã được ước tính để có tiền tiểu đường, tiền thân của bệnh tiểu đường, tốn thêm 25 tỷ trong chi tiêu y tế cao hơn (37,38). Trên bề mặt có vẻ là gánh nặng tài chính của bệnh tiểu đường rơi chủ yếu vào công ty bảo hiểm đã chi trả một phần đáng kể chi phí y tế, sử dụng lao động người kinh nghiệm mất năng suất, và những người bị bệnh tiểu đường và gia đình họ phải chịu outofpocket chi phí y tế cao hơn và giảm Lãi cơ hội tiềm năng hoặc việc làm. Cuối cùng, mặc dù, gánh nặng được chuyển tới tất cả các xã hội theo hình thức bảo hiểm cao hơn và các loại thuế, thu nhập giảm, và giảm mức sống. Dự toán chi phí được trình bày có thể là bảo thủ vì nhiều lý do: • Do giới hạn dữ liệu, chúng ta bỏ qua từ phân tích này thì tăng tiềm năng trong việc sử dụng quá mức các loại thuốc và nhãn khoa và nha khoa. Tiểu đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh nha chu, vì vậy người ta sẽ hy vọng chi phí nha khoa cao hơn đối với những người có bệnh tiểu đường. Chúng tôi đã khảo sát dữ liệu MEPS cho tính khả thi của chụp đo thị lực và chi phí nha khoa, nhưng các mẫu có kích thước nhỏ ngăn phân tích có ý nghĩa. Cũng bỏ qua từ dự toán chi phí là chi phí cho các chương trình phòng chống nhắm mục tiêu đến những người có bệnh tiểu đường (ví dụ như các chương trình quản lý bệnh), các hoạt động nghiên cứu (ví dụ, để phát triển loại thuốc mới), và chi phí quản lý (ví dụ, để quản lý các chương trình Medicare và Medicaid, để xử lý yêu cầu bảo hiểm). Chi phí hành chính cho các chương trình y tế của chính phủ và các công ty bảo hiểm tư nhân là ~ 150.000.000.000 mỗi năm. Chi tiêu công cộng và tư nhân cho nghiên cứu y tế và cơ sở hạ tầng y tế trên tổng số 130.000.000.000 cho mỗi năm (39). Nếu một phần các chi phí này là do bệnh tiểu đường, các chi phí quốc gia về bệnh tiểu đường sẽ có hàng tỷ đô la cao hơn so với ước tính của chúng tôi cho thấy. • Cũng bỏ qua từ dự toán chi phí là những chi phí vô hình của bệnh tiểu đường như đau, khổ đau, và giảm chất lượng cuộc sống, cũng như một số các chi phí phi y tế do bệnh tiểu đường. Cụ thể, bệnh nhân đái tháo đường có bệnh võng mạc tiểu đường tiên tiến, biến chứng thận giai đoạn cuối, hoặc cắt cụt thấp cực thường đòi hỏi nhà của họ và hoặc xe có động cơ phải được sửa đổi để đáp ứng nhu cầu hoạt động hàng ngày của họ. Bệnh tiểu đường là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp mới mù ở người lớn tuổi từ 2074 tuổi (23), và dự toán CDC rằng cắt bỏ khoảng 65.700 thấp hơn chi được thực hiện mỗi năm trên những người có bệnh tiểu đường (23). Các chi phí phi y tế liên quan đến những khuyết tật này có thể tiếp tục tăng tổng gánh nặng của bệnh tiểu đường. • Các ước tính năng suất lao là dành cho những cá nhân bị bệnh tiểu đường được chẩn đoán và loại trừ năng suất bị mất liên kết với các dịch vụ chăm sóc cho các thành viên trong gia đình bị bệnh tiểu đường. Ví dụ, việc mất năng suất kết hợp với người lớn cần có thời gian nghỉ việc để chăm sóc cho một đứa trẻ hoặc cha mẹ già bị bệnh tiểu đường không được bao gồm trong dự toán chi phí. Giá trị của việc chăm sóc không chính thức bị loại trừ khỏi chi phí ước tính của chúng tôi. Thời gian và chi phí liên quan đến du lịch đến thăm bác sĩ và cấp cứu y tế khác được bỏ qua (ngoại trừ trong phạm vi mà các chi phí đó được chụp một phần dưới chi phí xe cứu thương và các ước tính vắng mặt cho những người trong lực lượng lao động). • ước tính của chúng tôi mất năng suất do tàn tật kinh niên từ bệnh tiểu đường cũng có khả năng là bảo thủ do ba yếu tố: 1) bằng cách sử dụng thanh toán SSI để xác định các trường hợp khuyết tật có khả năng đánh giá thấp những trường hợp khuyết tật vì các tiêu chí để được hưởng SSI bao gồm các yêu cầu đối với các tài liệu của người khuyết tật từ một chuyên gia y tế và áp dụng các giới hạn thu nhập; 2) những ước tính này bỏ qua các giá trị tổn thất năng suất mà kết quả thu nhập giảm tiềm năng nhưng không ngăn cản làm việc; và 3) mất năng suất kết hợp với nghỉ hưu sớm không được bao gồm, và một nghiên cứu theo chiều dọc bằng cách sử dụng y tế và hưu trí Khảo sát tìm thấy rằng những người có bệnh tiểu đường có xu hướng nghỉ hưu ~1.2 năm sớm hơn so với đồng nghiệp của họ không bị tiểu đường (40). Một thách thức cho nghiên cứu này là để kiểm soát được sự tương quan giữa bệnh tiểu đường và việc sử dụng các nguồn lực y tế vì những lý do không trực tiếp do bệnh tiểu đường. Hành vi sức khỏe ảnh hưởng đến cả sự hiện diện của bệnh tiểu đường và sự hiện diện của các bệnh đi kèm khác, trừ khi kiểm soát cho, có thể dẫn đến một đánh giá quá cao của liên kết giữa bệnh tiểu đường và việc sử dụng các nguồn lực y tế. Kiểm soát về tuổi, giới tính và chủng tộc dân tộc giúp kiểm soát cho mối tương quan này. Ngoài ra, trong 10 trình điều khiển chi phí hàng đầu, chúng tôi tiến hành phân tích thêm kiểm soát các biến giải thích quan trọng khác bằng cách sử dụng dữ liệu MEPS. Dựa trên các kết quả, chúng tôi giảm phân số yếu tố gây bệnh cho nhiều biến chứng tiểu đường và cho các nhóm điều
Xem thêm

20 Đọc thêm

Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần đầu tư công trình Hà Nội

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH HÀ NỘI

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là thước đo trình độ tổ chức sản xuất, trình độ công nghệ của mỗi doanh nghiệp. Hạch toán đúng chi phí sản xuất kinh doanh, tính đúng giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp có được cái nhìn đúng đắn và tổng quát về thực tế quản lý và sử dụng các nguồn lực của mình. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp cải tiến công nghệ, cải tiến phương thức quản lý, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành thành sản phẩm ở mức độ hợp lý. Đây là cơ sở cho sự phát triển bền vững của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của sự hội nhập. Do đó việc hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp trở thành một nhu cầu cần thiết. Nhận thức được vấn đề này, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần đầu tư công trình Hà Nội” làm đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình. Thông qua khoá luận này, em mong muốn vận dụng cơ sở lý luận đã được trang bị trong nhà trường vào thực tiễn Công ty Cổ phần đầu tư công trình Hà Nội, từ đó thấy được những thành tựu Công ty đã đạt được và đưa ra một số biện pháp, phương hướng nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty. Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung Khoá luận tốt nghiệp gồm ba phần: Chương 1: Lý luận chung về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần đầu tư công trình Hà Nội Chương 3: Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần đầu tư công trình Hà Nội Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Thu Liên và toàn thể các anh chị trong Công ty Cổ phần đầu tư công trình Hà Nội đã giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành Khoá luận tốt nghiệp này.
Xem thêm

126 Đọc thêm

CHƯƠNG II. §8. PHÉP CHIA CÁC PHÂN THỨC ĐẠI SỐ

CHƯƠNG II. §8. PHÉP CHIA CÁC PHÂN THỨC ĐẠI SỐ

Trường THCS Trần Thị TiếtMôn: Đại số 8GV: Nguyễn Thị Minh NguyệtKIỂM TRA BÀI CŨCâu 1: a) Phát biểu quy tắc nhân hai phân thức. (2đ)b) Viết công thức tổng quát.c) Áp dụng: Làm tính nhân:Đáp án(2đ)x3 + 5 x − 7⋅ 3x−7 x +5(3đ)a) Quy tắc: Muốn nhân hai phân thức, ta nhân các tử thức vớinhau, các mẫu thức với nhau.A C A.C⋅ =b) Công thức:B D B.Dc) Áp dụng:x 3 + 5 x − 7 ( x 3 + 5)( x − 7)⋅==1x − 7 x 3 + 5 ( x − 7)( x 3 + 5)

7 Đọc thêm

10 vấn đề sức khỏe phụ nữ cần kiểm tra

10 VẤN ĐỀ SỨC KHỎE PHỤ NỮ CẦN KIỂM TRA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 1. Chụp X-quang tuyến vú Những phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thấp chỉ nên chụp nhũ ảnh hai năm một lần từ tuổi 50 trở lên. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ và các tổ chức y tế lại không đồng ý với quan điểm này. Nếu nguy cơ ung thư vú của bạn tăng cao do tiền sử của gia đình thì bạn nên chụp X-quang tuyến vú hàng năm kể từ tuổi 40 (hoặc sớm hơn). 2. Kiểm tra da Tỷ lệ người mắc bệnh ung thư da ngày càng gia tăng. Cách tốt nhất để ngăn ngừa chúng sớm là tự kiểm tra những nốt ruồi mới mọc hoặc có dấu hiệu bất thường mỗi tháng, đồng thời cần tiến hành việc khám da tổng quát ở những bệnh viện có chuyên khoa da liễu. 3. Khám mắt Hầu hết phụ nữ đều gặp những rắc rối có liên quan đến thị lực với nhiều mức độ khác nhau, do họ luôn có nguy cơ bị khô mắt, và các bệnh tự miễn dịch cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của mắt.   4. Khám tai Để kiểm tra khả năng nghe của tai, cần thực hiện việc đo đồ thị nghe mỗi năm một lần khi bước sang tuổi 50 - thời điểm thính giác bắt đầu suy giảm. Tuy nhiên, nếu cảm thấy nghe không được rõ, bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để được khám sớm hơn. 5. Kiểm tra răng miệng Mỗi năm một lần (hoặc sáu tháng một lần trong trường hợp bạn muốn lấy vôi và làm vệ sinh cho răng), bộ phận đảm nhiệm chức năng nhai của cơ thể cần được nha sĩ kiểm tra và chụp X-quang nhằm phát hiện kịp thời những bất thường. Tình trạng viêm nhiễm ở lợi hay sâu răng không chỉ khiến bạn khó chịu mà còn góp phần gây ra bệnh tim và tiểu đường. 6. Kiểm tra hormone kích thích tuyến giáp Lạnh, mệt mỏi, táo bón hay tăng cân đều là những triệu chứng phổ biến của tình trạng suy giảm hoạt động tuyến giáp, một sự sụt giảm khả năng tiết hormone của tuyến giáp mà khoảng 10% phụ nữ gặp phải. Thông thường, việc xét nghiệm sẽ được thực hiện trong những lần khám sức khỏe định kỳ. Tuy nhiên, bạn cũng nên đi xét nghiệm máu sớm hơn nếu cảm thấy mình đang gặp phải những triệu chứng được mô tả ở trên. 7. Xét nghiệm máu Từ tuổi 40 trở lên, phải kiểm tra mức cholesterol và đường huyết (nhằm phát hiện bệnh tiểu đường) mỗi năm, vì nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và đau tim sẽ tăng cao trong độ tuổi này. 8. Xét nghiệm Pap (phết tế bào cổ tử cung) Ngay từ độ tuổi 20, bất kể tiền sử về hoạt động tình dục như thế nào, mọi phụ nữ đều nên thực hiện xét nghiệm Pap (hay còn gọi là phết tế bào cổ tử cung - một xét nghiệm tế bào học để tìm ra những tế bào bất thường trong lớp mô của cổ tử cung) nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh ung thư cổ tử cung. 9. Nội soi Những người từ 50 tuổi trở lên sẽ được bác sĩ yêu cầu thực hiện xét nghiệm này và lặp lại khoảng 10 năm một lần. Trong trường hợp phát hiện có khối u thì việc nội soi phải được tiến hành thường xuyên hơn. Ngoài ra, bạn cũng cần được nội soi sớm nếu có người thân trong gia đình mắc bệnh ung thư ruột, hoặc gặp phải tình trạng chảy máu cùng những thay đổi bất thường khác có liên quan đến vấn đề tiêu hóa. 10. Kiểm tra về chứng trầm cảm Một số câu hỏi đơn giản từ chuyên gia tâm lý về những hoạt động thể chất hàng ngày sẽ xác định được tình trạng trầm cảm, vốn ảnh hưởng đến khoảng 1/4 phụ nữ nhưng thường không được chẩn đoán và điều trị. Nếu quan tâm đến “sự khỏe mạnh” của tinh thần, hãy yêu cầu bác sĩ thực hiện cuộc kiểm tra tâm lý này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Dạy mẹ cách đếm cử động thai nhi

DẠY MẸ CÁCH ĐẾM CỬ ĐỘNG THAI NHI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Không ít bà bầu thắc mắc cách theo dõi cử động của thai nhi và nên bắt đầu từ thời gian nào. Việc theo dõi những cử động của thai nhi trong bụng mẹ cũng là cách để kiểm tra sức khỏe em bé. Vì vậy, các bà mẹ nên tập thói quen theo dõi cử động thai từ tháng thứ 4. Cử động thai là gì? Khi thai nhi có những chuyển động như xoay trở mình, tay, chân hay vận động toàn thân mà người mẹ cảm nhận được thì gọi là cử động thai (thai máy). Những cử động giống như nhịp gõ vào thành bụng hay cảm giác thai búng búng trong bụng mẹ là cử động thường thấy ở thai nhi. (Thai máy khác với cảm giác khi thai gò thường làm cho bụng bà bầu cứng lên hoặc méo lệch sang một bên). Cử động thai cũng báo hiệu tình trạng sức khỏe của thai. Khi số lần thai máy giảm báo động sức khỏe thai nhi đang kém. Khi thai nhi đột nhiên không còn máy hoặc máy yếu, có thể bạn bị suy thai hoặc thai gặp nguy hiểm. Thời điểm thai máy Các bà mẹ bắt đầu cảm nhận được những cử động đầu tiên của thai vào tuần thứ 20 của thai kỳ. Thông thường ở những tháng giữa thai kỳ, các cử động này không đều nhưng khi bước vào ba tháng cuối (từ cuối tuần thứ 27 đến tuần 32) sẽ cử động nhiều và đều đặn hơn. Tốt nhất, khi mang thai đến tháng thứ 4, thai phụ nên tập thói quen đếm cử động thai thường xuyên để theo dõi sức khỏe thai nhi.   Theo dõi những cử động của thai nhi trong bụng mẹ cũng là cách để kiểm tra sức khỏe em bé. (ảnh minh họa) Nên kiểm tra 3 lần/ngày Mỗi ngày, các mẹ nên đếm cử động thai khoảng 3 lần, chia đều cho khoảng thời gian sáng, chiều và tối. Đếm trong khoảng 1 giờ. Nên chọn những lúc nghỉ ngơi yên tĩnh để đếm cử động thai được chính xác , tốt nhất là sau các bữa ăn. Thai nhi được xác định là khỏe mạnh khi cử động hơn 4 lần trong 1 giờ. Trong trường hợp thai máy chỉ khoảng 3 lần hoặc ít hơn 3 lần, bạn nên đếm lại thêm 1 giờ nữa để chắc chắn. Vì có thể thời gian bạn đếm lại là lúc thai nhi đang ngủ. Những lúc thực hiện đếm lại nên chọn nơi yên tĩnh, không suy nghĩ, lo lắng để việc theo dõi và đếm số lần thai máy được chính xác. Nếu trong lần đếm tiếp theo mà thai nhi vẫn cử động khoảng 3 lần hoặc ít hơn 3 lần, đây có thể là dấu hiệu nghi ngờ sức khỏe thai nhi yếu. Lúc này người mẹ không nên chần chừ mà đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để được nhân viên y tế thăm khám, đánh giá tình trạng sức khỏe của thai nhi được chính xác hơn. Lưu ý thêm, khi thai nhi ngủ thường sẽ không có cử động thai. Thời gian ngủ có thể thay đổi từ 20 phút đến 1 giờ đồng hồ.
Xem thêm

1 Đọc thêm

QUY TRÌNH VẬN HÀNH ĐƯỜNG DÂY 35KV

QUY TRÌNH VẬN HÀNH ĐƯỜNG DÂY 35KV

47.1.1. Nội dung của đại tu bao gồm các công việc : Thay mới hàng loạt bátcách điện, thay cột, thay dây dẫn, thay hàng loạt phụ kiện, thay hàng loạt xà, tiếpđịa,...hoặc khôi phục lại ĐZ bị hư hỏng nặng trong quá trình VH, sau thiên tai bão,lụt hoặc sau các sự cố lớn...47.1.2. Chu kỳ đại tu ĐZ là 6 năm. Kỳ hạn này có thể thay đổi theo theo tìnhtrạng cụ thể của ĐZ, căn cứ vào kết quả kiểm tra, thí nghiệm được lãnh đạo Côngty phê duyệt.47.2. Trung tu ĐZ bao gồm : Công việc sửa chữa, bảo dưỡng thay thế các bộphậónớm bị hao mòn hư hỏng, biến chất, bám bẩn trong quá trình VH giữa 2 lầntrung tu.Cần kết hợp việc sửa chữa lớn ĐZ với các công việc khác liên quan ( sửachữa TBA ...) để hạn chế thời gian cắt điện.47.3. Trình tự và thủ tục sửa chữa lớn thực hiệ theo quy chế sửa chữa lớn hiệnhành.III: sửa chữa cột thép, xà thép trên cột bê tôngĐiều 48 : Các bu lông bị lỏng phải được xiết lại đạt yêu cầu kỹ thuật. Bu lôngbị mất phải bổ xung đủ và đúng chủng loại và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật khác.Điều 49 : Những cột thép bị nghiêng quá tiêu chuẩn kỹ thuật cho phép phảiđược điều chỉnh lại cho thẳng bằng cách đặt tấm đệm bằng thép dưới bản đế châncột. Chiều dày tổng cộng của toàn bộ tấm đệm không quá 40 mm.49.1. Khi điều chỉnh cột nếu phải nới các ê cu của bu lông móng thì phải néohãm bằng cáp thép có tiết diện đủ lớn sao cho đạt hệ số AT 2,5. Dây néo phải đảmbảo KCAT với các bộ phận mang điện của bản thân ĐZ đang sử chữa cũng như củacác ĐZ khác lân cận.49.2. Điều chỉnh cột thép đứng vững bằng dây néo bị nghiêng quá tiêu chuẩncho phép điều chỉnh chiều dài và lực căng dây néo bằng các ê cu tăng đơ. Phải tínhtoán trước, bảo đảm cột không bị biến dạng sau khi điều chỉnh.Điều 50 : Đối với những cột sắt néo góc, néo thẳng , néo cuối bị nghiêng quátiêu chuẩn phải điều chỉnh lại thì trước hết phải xem xét đến sự cần thiết cắt điện,giải phóng toàn bộ dây mắc trên cột để cột không còn chịu lực căng rồi mới tiến
Xem thêm

25 Đọc thêm

Khỏe mạnh đón xuân với người bệnh đái tháo đường

KHỎE MẠNH ĐÓN XUÂN VỚI NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Để đề phòng bệnh trở nặng sau Tết cũng như gia tăng nguy cơ mắc các di chứng của bệnh, người bị đái tháo đường nên lên sẵn kế hoạch sinh hoạt thật khoa học từ những ngày trước Tết. Dưới đây là một vài gợi ý hữu ích: Kiểm tra sức khỏe trước Tết Đây được xem là bước chuẩn bị đón tết không thể thiếu của bệnh nhân đái tháo đường. Kiểm tra sức khỏe trước thềm năm mới sẽ giúp người bệnh yên tâm về tình hình sức khỏe của mình và được bác sĩ đưa ra lời khuyên phù hợp. Nếu muốn, họ có thể lên kế hoạch sinh hoạt rồi nhờ bác sĩ tham khảo để có cách xử lý đúng với tình trạng sức khỏe hiện tại. Ngoài ra, việc nhờ bác sĩ thay đổi chế độ sử dụng thuốc trong dịp năm mới cũng rất cần thiết (thêm thuốc gì trong trường hợp cấp bách chẳng hạn).   Đây được xem là bước chuẩn bị đón tết không thể thiếu của bệnh nhân đái tháo đường (Ảnh: Internet) Duy trì chế độ kiêng khem Ngày Tết, chuẩn bị món ăn, thức uống ngon, hấp dẫn đãi khách vốn được xem là “nghĩa vụ” của gia chủ. Chính vì vậy, dù có bệnh, bạn vẫn không thể bày biện sơ sài. Tuy nhiên, đừng quên rằng chế độ ăn uống của bạn sẽ quyết định tình trạng sức khỏe và tỷ lệ mắc các biến chứng của bản thân. Do đó, bạn cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ kiêng khem. Không cần từ chối hết những món ngon mà bạn chỉ cần cân nhắc mức độ ăn sao cho không làm lượng đường trong máu tăng cao quá ngưỡng quy định. Chẳng hạn, bạn cũng có thể uống rượu trong đêm giao thừa nhưng chỉ uống 1 – 2 ly nhỏ sau khi ăn xong, nên thay thế nước ngọt có gas bằng một loại thức uống khác, đặc biệt là phải chia nhỏ các bữa ăn trong ngày để hạn chế đường huyết tăng cao sau khi ăn quá nhiều. Bên cạnh đó, cần tăng cường các thực phẩm giàu chất xơ (rau xanh, đậu, ngũ cốc, trái cây) có thể cung cấp cho cơ thể một lượng đường hấp thu chậm (phải qua quá trình tiêu hóa mới trở thành đường hấp thu vào cơ thể). Việc này sẽ giúp lượng đường trong máu không quá cao hoặc quá thấp. Sinh hoạt khoa học Để giữ gìn sức khỏe trong những ngày xuân bận rộn, người bệnh đái tháo đường đừng quên: - Không thức quá khuya, dậy quá sớm để tránh làm rối loạn nhịp sinh học của cơ thể, dễ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. - Nếu buộc phải dự nhiều bữa tiệc trong ngày, cần lưu ý không ăn uống quá đà, vượt khỏi chế độ cho phép. - Chủ động, thường xuyên kiểm tra mức đường máu, huyết áp, nhịp tim, nếu thấy có gì “hơi bất thường” phải liên hệ ngay với bác sĩ để được tư vấn cách xử lý phù hợp. - Duy trì chế độ tập luyện thể dục thể thao đều đặn để giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt. Có thể tham gia các trò chơi xuân như một bài tập thể dục thay thế, tuy nhiên phải đảm bảo rằng sức khỏe bạn cho phép. - Với người đã có biến chứng của bệnh như biến chứng tim mạch, thần kinh ngoại biên… thì phải đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn những hoạt động lành mạnh. - Sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược tự nhiên có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh, làm giảm lượng đường huyết.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Kiểm tra công việc hành chính văn phòng

KIỂM TRA CÔNG VIỆC HÀNH CHÍNH VĂN PHÒNG

Mục lụcLỜI MỞ ĐẦUNỘI DUNG BÀI LÀM:I.Khái niệm kiểm traII.Vai trò của kiểm traIII.Mức độ kiểm tra 1.Kiểm tra chiến lược(Strategic control) 2.Kiểm tra chiến thuật(Tactical control) 3.Kiểm tra tác vụ,tác nghiệp(Operational control)IV.Các lĩnh vực kiểm traV.Nguyên tắc kiểm traVI.Phương pháp kiểm traVII.Tiến trình kiểm tra1.Tiến trình kiểm tra tổng quát2.Tiến trình kiểm tra hành chínha.Tiêu chuẩn đo lường công việc hành chínhb.Các công cụ kiểm soát của các cấp quản trịc.Các phương tiện kiểm soát của cấp quản trịKẾT LUẬN
Xem thêm

27 Đọc thêm

BÀI TẬP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (158)

BÀI TẬP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (158)

130.000Tuy nhiên cách tính này chỉ có lợi cho Delta, không hợp lý(phản ứng của các chi nhánh cònlại), không thể áp dụng lâu dài. Và về cơ bản, phương pháp này không khắc phục được các hạnchế của phương pháp mà Phil Johnson sử dụng hiện tại.Cách 2: Sử dụng hệ thống hạch toán chi phí trên cơ sở hoạt động(ABC)Phương pháp này được trình bày như sau:Coi bốn chi nhánh là bốn hoạt động, và bốn hoạt động này sẽ gây phát sinh chi phí của bộ phậnbảo dưỡng, cách thức xác định như sau:- Xác định các hoạt động làm phát sinh chi phí của bộ phận bảo dưỡng và tập hợp chi phí phátsinh vào hoạt động(chi nhánh) đó, ví dụ như khi Delta sử dụng dịch vụ thì số máy móc phải sửGlobal Advanced Master of Business Administration5GAMBA01.M0909KẾ TOÁN QUẢN TRỊdụng, số lần kiểm tra, số giờ máy hoạt động, nguyên vật liệu tiêu hao trực tiếp, nhân công trựctiếp, chi phí dịch vụ hỗ trợ,… .Một số chi phí phát sinh(chi phí chung) không thể tập hợp hoặcxác định trực tiếp cho các chi nhánh thì sẽ thực hiện phân bổ sau. Với cách tập hợp này, sẽ tínhsát chi phí phát sinh(chi phí trực tiếp) cho các hoạt động(chi nhánh).- Trên cơ sở xác định được riêng tổng chi phí đã tập hợp trực tiếp cho từng chi nhánh, sẽ là cơsở để thực hiện phân bổ chi phí chung cho các chi nhánh. Trên cơ sở này thì hoạt động(chinhánh) nào gây phát sinh chi phí nhiều thì sẽ chịu nhiều chi phí chung và ngược lại, cách phânbổ này sẽ khắc phục được điểm hạn chế của cách phân bổ chi phi theo số giờ mà Phil Johnsonđang sử dụng.
Xem thêm

7 Đọc thêm

TỔNG QUÁT VỀ ARDUINO

TỔNG QUÁT VỀ ARDUINO

Đề tài:TỔNG QUÁT VỀ ARDUINOI/ Khái niệm về Arduino-Arduino là một board mạch Vi Điều Khiển sử dụng chip AVR 8bit như ATmega328,Atmega168, ATmega8 của Atmel- Board mạch Arduino sử dụng dòng vi xử lý 8-bit megaAVR của Atmel với hai chip phổ biếnnhất là ATmega328 và ATmega2560. Các dòng vi xử lý này cho phép lập trình các ứng dụng điều khiểnphức tạp do được trang bị cấu hình mạnh với các loại bộ nhớ ROM, RAM và Flash, các ngõ vào ra digitalI/O trong đó có nhiều ngõ có khả năng xuất tín hiệu PWM, các ngõ đọc tín hiệu analog và các chuẩn giaotiếp đa dạng như UART, SPI, TWI (I2C).- Sức mạnh xử lý+ Xung nhịp: 16MHz+ EEPROM: 1KB (ATmega328) và 4KB (ATmega2560)+ SRAM: 2KB (Atmega328) và 8KB (Atmega2560)+ Flash: 32KB (Atmega328) và 256KB (Atmega2560)-Đọc tín hiệu cảm biến ngõ vào:Digital:Các board mạch Arduino đều có các cổng digital có thể cấu hình làm ngõ vào hoặc ngõ ra bằngphần mềm. Do đó người dùng có thể linh hoạt quyết định số lượng ngõ vào và ngõ ra.Tổng số lượng cổng digital trên các mạch dùng Atmega328 là 14, và trên Atmega2560 là 54.Analog:Các board mạch Arduino đều có trang bị các ngõ vào analog với độ phân giải 10-bit (1024 phânmức, ví dụ với điện áp chuẩn là 5V thì độ phân giải khoảng 0.5mV).
Xem thêm

11 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN XUẤT KINH DOANH MUỐI BẠC LIÊU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MUỐI BẠC LIÊU

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN XUẤT KINH DOANH MUỐI BẠC LIÊU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MUỐI BẠC LIÊU

2.1.2. Phƣơng pháp tiếp cận chuỗi giá trị của Michael E. PorterTheo Porter (1985), “lợi thế cạnh tranh” là khả năng mà một doanhnghiệp có thể cung cấp cho thị trƣờng một giá trị đặc biệt mà không có đối thủcạnh tranh nào có thể cung cấp đƣợc. Xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanhnghiệp có thể tạo ra cho khách hàng, lợi thế cạnh tranh có thể ở dạng giá cảthấp hơn hoặc cung cấp những lợi ích vƣợt trội hơn so với đối thủ, khiếnngƣời mua chấp nhận trả một mức giá cao hơn.Porter cho rằng cạnh tranh chính là vấn đề cơ bản quyết định sự thànhcông hay thất bại của doanh nghiệp. Để cạnh tranh trong bất kỳ ngành nghềnào, các công ty đều phải thực hiện một loạt những hoạt động riêng rẽ nhƣthực hiện đơn hàng, sản xuất, lắp ráp sản phẩm, tiếp xúc khách hàng,… Chínhcác hoạt động này mới là nơi phát sinh chi phí và tạo ra giá trị cho khách hàng,7là các đơn vị cơ bản của lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, nếu chỉ xét doanh nghiệpdƣới cái nhìn tổng thể thì không thể hiểu rõ về lợi thế cạnh tranh. “Chuỗi giátrị” theo cách tiếp cận của Michael E. Porter là khung mẫu cơ sở để tƣ duymột cách chiến lƣợc về các hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời đánh giáchi phí và vai trò tƣơng đối của chúng trong việc khác biệt hóa. Chuỗi giá trịcủa các doanh nghiệp trong cùng một ngành sẽ khác nhau tƣơng ứng với tiềmlực của lợi thế cạnh tranh và phản ánh quá trình phát triển, thực hiện chiếnlƣợc của mỗi doanh nghiệp.Trong chuỗi giá trị, các hoạt động của doanh nghiệp đƣợc phân thành hainhóm: hoạt động sơ cấp và hoạt động hỗ trợ.Hoạt động sơ cấp là những hoạt động mang tính vật chất liên quan đếnviệc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng nhƣ công táchỗ trợ sau bán hàng. Nói cách khác, hoạt động sơ cấp là các hoạt động có liênquan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm/dịch vụ của doanhnghiệp, bao gồm 5 loại tổng quát sau:
Xem thêm

71 Đọc thêm

Thuật ngữ y khoa tiếng anh

Thuật ngữ y khoa tiếng anh

THUẬT NGỮ Y TẾ (MEDICAL TERMINOLOGY) Dị ứng (Allergy) Kiểm tra sức khỏe tổng quát, khám bệnh (General CheckUp, Physical Examination) Khám bệnh (Examination) Nhập viện (Admission to Hospital) Xuất viện (Discharge from Hospital) Triệu chứng (Symptom) Dinh dưỡng (Nutrition) Tiểu sử bệnh xá (Clinical History) Chẩn đoán (Diagnosis) Chữa trị (Treatment) Phòng ngừa (Prevention) Hô hấp (Respiration) Ði cầu (Bowel Movement) Phân (Stool) Máu (Blood) Nhịp tim (Pulse Rate) Nước tiểu (Urine) Nhịp (Pulse, Pulsation) Loại máu (Blood Type) Huyết áp (Blood Pressure) Gây mê (Anesthesia) Gây mê tổng quát (General Anesthesia) Gây mê qua tĩnh mạch (Intravenous Anesthesia) Gây mê qua cột sống (Spinal Anesthesia) Gây mê cục bộ (Local Anesthesia) Phẫu thuật (Operation) Cắt bỏ (Resection) Phản ứng phụ (Side Effect) Dẫn lưu (Irrigation) Chích thuốc (Injection) Quang tuyến X (XRay) Tia Hồng Ngoại (Ultra RedRay) Mạn tính (Chronic) Cấp Tính (Acute) Xây (Build) Tương đối (Relative) Di truyền (Heredity) Miễn dịch (Immunity) Huyết thanh (Serum) Bệnh dịch (Epidemic) Thời kỳ ủ bệnh (Incubation Period) Siêu vi (Virus) Triệt sinh (Sterilization) Kháng sinh (Antibiotic) E.E.G (E.E.G) Dung dịch thụt (Enema) Phản ứng thử lao (Tuberculin Reaction) Đo nhiệt F (Fahrenheit) Celsius, Ðộ C (Celsius, Centigrade)
Xem thêm

Đọc thêm

GIAO AN THE DUC LOP 1 CA NAM CHUAN KTKN 20162017

GIAO AN THE DUC LOP 1 CA NAM CHUAN KTKN 20162017

BỘ GIÁO ÁN THỂ DỤC LỚP 1 NĂM HỌC 2016 - 2017(CHỈ VIỆC IN)BÀI 1:TỔ CHỨC LỚP - TRÒ CHƠII. MỤC TIÊU: Giúp học sinh:- Bước đầu biết được một số nội dung tập luyện cơ bản.- Biết làm theo GV sửa lại trang phục cho gọn gàng khi tập luyện.- Bước đầu biết cách chơi trò chơi.II. ĐỊA ĐIỂM PHƯƠNG TIỆN:- Địa điểm : Sân trường đảm bảo an toàn và vệ sinh.- GV chuẩn bị: Còi, tranh - ảnh một số con vật.III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LÊN LỚP:NỘI DUNGLVÐPHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨCI. MỞ ĐẦU:6 – 8’- GV nhận lớp, kiểm tra sĩ số sức khỏe- Lớp trưởng tập trung lớp 2 - 4 hànghọc sinh.ngang, báo cáo sĩ số cho giáo viên.- Phổ biến nội dung yêu cầu giờ họcngắn gọn, dể hiểu cho hs nắm.GV- Từ đội hình trên các HS di chuyểnsole nhau và khởi động.- Khởi động:+ Xoay cổ tay, chân, hông, gối …
Xem thêm

51 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH TƯ VẤN VÀ KHÁM SỨC KHỎE TIỀN HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH TƯ VẤN VÀ KHÁM SỨC KHỎE TIỀN HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

Thông thường, trước hôn nhân các cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn và gia đình hai bên, ngoài việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc sống mới của đôi vợ chồng trẻ thì chỉ quan tâm đến việc chuẩn bị tâm lý, còn vấn đề quan trọng khác như: trang bị kiến thức về kỹ năng sống, kiến thức và thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản; khám kiểm tra tình trạng sức khỏe, khả năng sinh con và phát hiện sớm các bệnh tật, điều trị bệnh; thực hiện các biện pháp dự phòng hầu như chưa được quan tâm.
Xem thêm

31 Đọc thêm

Cùng chủ đề