DƯƠNG KIỀU HƯNG NGUYỄN ANH TUẤN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "DƯƠNG KIỀU HƯNG NGUYỄN ANH TUẤN":

Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)

Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)

Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)Những dấu hiệu cách tân trong thơ Dương Kiều Minh (LV thạc sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

BÍ MẬT BÁN BIỆT THỰ BIỂN VINPEARL THÀNH CÔNG

BÍ MẬT BÁN BIỆT THỰ BIỂN VINPEARL THÀNH CÔNG

vào sự nghiệp bán biệt thự biển nghỉ dưỡng Vinpearl.Tôi hy vọng khi bạn đọc những dòng chia sẻ của tôi,chúng sẽ hỗ trợ bạn làm sale chuyên nghiệp. Tuy nhiên,tôi cũng hy vọng bạn đừng bao giờ đem những chia sẻcủa tôi để phá vỡ hay dùng thủ đoạn để phá vỡ một thịtrường cần cạnh tranh lành mạnh – nơi không bao giờtồn tại cho những môi giới chỉ biết “chộp giật”.Trước khi chia sẻ về những gì mình trải nghiệm, tôi xin chân thành cảm ơn một vịkhách hàng đã giúp tôi có động lực mạnh mẽ khi chọn bán biệt thự biển nghỉ dưỡng caocấp Vinpearl. Chị khách đã từng nói: “em tìm hiểu đi để chị đầu tư 1 căn”. Sự thật là chịấy đã không mua căn nào và cho đến giờ này cũng chưa mua. Dù vậy tôi và chị vẫn liênlạc với nhau, tôi cung cấp thông tin cho chị ấy. Tôi học được ở chị ấy một điều là đưa ralựa chọn cho con đường mình đi.Tôi cũng cảm ơn chị Mai Khanh bên Viethousing – người đã giúp tôi được tiếp cậnbuổi đào tạo đầu tiên về biệt thự biển Vinpearl và tôi nhớ rất rõ lần đó có rất ít sales thamdự. Số lượng được tăng dần khi cả thị trường bất động sản bắt đầu sôi sục về dòng sảnphẩm biệt thự biển. Cho đến khi Chủ đầu tư mở cuộc Traning biệt thự biển Vinpearl PhúQuốc 3 thì số sales ở lại còn rất ít nhưng họ đều là những người đã bán biệt thự biển rấttốt. Tôi chỉ tiếc một điều là chị Khanh không thể tập trung được nhiều vào biệt thự biểnVinpearl vì chị còn đang hoàn thành giỏ hàng Vinhomes Royal City.Người đóng vai trò hết sức quan trọng giúp tôi có được thành công như hiện tại là2NGUYỄN TUẤN – TRẦN MINH – NGUYỄN ĐẠI HƯNGBÍ MẬT BÁN BIỆT THỰ BIỂN VINPEARL THÀNH CÔNGchị Ngọc Linh và anh Tuấn Nam bên đại diện Minh Hưng. Đây là những người tôi hếtsức ngưỡng mộ vì cách làm việc rõ ràng của họ - điều mà tôi ít thấy. Chính anh chị đãgiúp tôi lấy nguồn hàng, be khách và an tâm bán hàng, đặt cọc cho khách hàng ở những
Xem thêm

23 Đọc thêm

Tác giả Nguyễn Du

TÁC GIẢ NGUYỄN DU

Nguyễn Du (1766-1820) Hiệu là Tố Như, Thanh Hiên, con Nguyễn Nghiễm, làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Nghệ Tĩnh) văn chương vượt hẳn bạn bè, nhưng học vị chỉ là tam trường (tú tài). Nguyễn Du gặp nhiều khó khăn hồi con thanh niên. Mười một tuổi mồ côi cha, mười ba tuổi mất mẹ, suốt đời trai trẻ ăn nhờ ở đâu: hoặc ở nhà anh ruột (Nguyễn Khản), nhà anh vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà, và nhận chức nhỏ: chánh thủ hiệu uý. Do tình hình đất nước biến động, chính quyền Lê Trình sụp đổ, Tây Sơn quét sạch giặc Thanh, họ Nguyễn Tiên Điền cũng sa sút tiêu điều:“Hồng Linh vô gia, huynh đệ tán”. Nguyễn Du trải qua 10 năm gió bụi. Năm 1802, ra làm quan với triều Nguyễn được thăng thưởng rất nhanh, từ tri huyện lên đến tham tri (1815), có được cử làm chánh sứ sang Tàu (1813). Ông mất vì bệnh thời khí (dịch tả), không trối trăng gì, đúng vào lúc sắp sửa làm chánh sứ sang nhà Thanh lần thứ hai.     Nguyễn Du có nhiều tác phẩm. Thơ chữ Hán như Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Cả ba tập này, nay mới góp được 249 bài nhờ công sức sưu tầm của nhiều người. Lời thơ điêu luyện, nhiều bài phản ánh hiện thực bất công trong xã hội, biểu lộ tình thương xót đối với các nạn nhân, phê phán các nhân vật chính diện và phản diện trong lịch sử Trung Quốc, một cách sắc sảo. Một số bài như Phản chiêu hồn, Thái Bình mại ca giả, Long thành cầm giả ca đã thể hiện rõ rệt lòng ưu ái trước vận mệnh con người. Những bài viết về Thăng Long, về quê hương và cảnh vật ở những nơi Nguyễn Du đã đi qua đều toát lên nỗi ngậm ngùi dâu bể. Nguyễn Du cũng có gắn bó với cuộc sống nông thôn, khi với phường săn thì tự xưng là Hồng Sơn liệp hộ, khi với phường chài thì tự xưng là Nam Hải điếu đồ. Ông có những bài ca dân ca như Thác lời con trai phường nón, bài văn tế như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, chứng tỏ ông đã tham gia sinh hoạt văn nghệ dân gian với các phường vải, phường thủ công ở Nghệ Tĩnh. Tác phẩm tiêu biểu cho thiên tài Nguyễn Du là Đoạn trường tân thanh và Văn tế thập loại chúng sinh, đều viết bằng quốc âm. Đoạn trường tân thanh được gọi phổ biến là Truyện Kiều, là một truyện thơ lục bát. Cả hai tác phẩm đều xuất sắc, tràn trề tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, phản ánh sinh động xã hội bất công, cuộc đời dâu bể. Tác phẩm cũng cho thấy một trình độ nghệ thuật bậc thầy. Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá Việt Nam. Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển hình cho những mẫu người trong xã hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và đều đi vào thành ngữ Việt Nam. Khả năng khái quát của nhiều cảnh tình, ngôn ngữ, trong tác phẩm khiến cho quần chúng tìm đến Truyện Kiều, như tìm một điều dự báo. Bói Kiều rất phổ biến trong quần chúng ngày xưa. Ca nhạc dân gian có dạng Lẩy Kiều. Sân khấu dân gian có trò Kiều. Hội họa có nhiều tranh Kiều. Thơ vịnh Kiều nhiều không kể xiết. Giai thoại xung quanhi cũng rất phong phú. Tuồng Kiều, cải lương Kiều, phim Kiều cũng ra đời. Nhiều câu, nhiều ngữ trong Truyện Kiều đã lẫn vào kho tàng ca dao, tục ngữ. Từ xưa đến nay, Truyện Kiều đã là đầu đề cho nhiều công trình nghiên cứu, bình luận và những cuộc bút chiến. Ngay khi Truyện Kiều được công bố (đầu thế kỷ XIX) ở nhiều trường học của các nho sĩ, nhiều văn đàn, thi xã đã có trao đổi về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Đầu thế kỷ XX, cuộc tranh luận về Truyện Kiều càng sôi nổi, quan trọng nhất là cuộc phê phán của các nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phản đối phong trào cổ xuý Truyện Kiều do Phạm Quỳnh đề xướng (1924). Năm 1965, Nguyễn Du chính thức được nhà nước làm lễ kỷ niệm, Hội đồng hoà bình thế giới ghi tên ông trong danh sách những nhà văn hoá thế giới. Nhà lưu niệm Nguyễn Du được xây dựng ở làng quê ông xã Tiên Điền. Trường viết văn để đào tạo những cây bút mới mang tên ông. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÂN ĐỘNG ỨNG DỤNG TRONG HỆ THỐNG CÂN TÀU HỎA

XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÂN ĐỘNG ỨNG DỤNG TRONG HỆ THỐNG CÂN TÀU HỎA

(như trong hình 2.1), khi chọn được phương án hợp lý, sẽ đi thiết kế hệthống.Thiết kế phần cứngHiển thịCó rất nhiều cách thiết kế phần cứng, mục tiêu là làm sao phải đạt đượccác tiêu chí sau:• Hiệu quả, chính xác: Mỗi toa tàu, có thể nặng đến 120 tấn, (hoạtđộng bình thường tại công ty than Uông bí là 50-60 tấn), với sai sốyêu cầu là không quá 0.5%, tức là: sai số m ≤ 0.0005∗120, 000(kg) =60(kg)cho mỗi toa. Yêu cầu Loadcell (Cảm biến đo khối lượng) phảichịu được sức nặng lên đến 120 tấn, bộ khuếch đại nằm trong dải0 − 10v hoặc 4 − 20mA (Tín hiệu theo chuẩn công nghiệp) và bộchuyển đổi tín hiệu tương tự sang số (ADC) phải thỏa mãn yêu cầutheo sai số như trên.• Nhanh chóng: Tốc độ tàu yêu cầu khi cân là 3 − 15km/h, có nghĩalà trong thời gian đó, phải thu thập đủ dữ liệu để có thể tính toán.Tính toán được khối lượng của mỗi toa bằng cách tính tổng khốilượng trên 2 trục bánh. Muốn tính được khối lượng, ta phải dùngthuật toán như lọc, FFT, xác định đỉnh ,... Tất cả các thuật toántrên đều cần nhiều mẫu mới có thể làm được. Tiêu chí đặt ra là ítnhất, cần có khoảng ≥ 100 mẫu/một cụm bánh.Luận văn: Thiết kế hệ thống cân động.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái NguyênNguyễn Tuấn Anhhttp://www.lrc-tnu.edu.vn
Xem thêm

41 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG VIỄN THÔNG ACOM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG VIỄN THÔNG ACOM

chịu ảnh hưởng của thước đo giá trị đồng tiền- với những thay đổi trên thịtrường của nó.LUẬN VĂN THẠC SỸ QTKD- 7-Nguyễn Anh TuấnTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘIVIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝVề chi phí cũng vậy việc xác định đại lượng này không dễ dàng. Vìchi phí cũng chịu ảnh hưởng của đồng tiền hơn thế nữa có thể một chi phíbỏ ra nhưng nó liên quan đến nhiều quá trình trong hoạt động kinh doanhthì việc bổ xung chi phí cho từng đối tượng chỉ là tương đối, và có khikhông phải chỉ là chi phí trực tiếp mang lại kết quả cho doanh nghiệp màcòn rất nhiều chi phí gián tiếp như: giáo dục, cải tạo môi trường, sức khoẻ...có tác động không nhỏ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chiphí đó rất khó tính toán trong quá trình xem xét hiệu quả kinh tế.1.3. Phân loại của hiệu quả kinh doanh.Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiệndước các dạng khác nhau. Mỗi dạng có những đặc trưng và ý nghĩa cụ thểhiệu quả theo hướng nào đó. Việc phân chia hiệu quả kinh doanh theo cáctiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh.Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và định mức hiệu quả kinh doanh để từđó có biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.a) Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân.Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu
Xem thêm

92 Đọc thêm

TÓM TẮT CÁC CÔNG THỨC TÍNH TOÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP

TÓM TẮT CÁC CÔNG THỨC TÍNH TOÁN BÊ TÔNG CỐT THÉP

Khoa Xây Dựng – Trường Đại học Kiến Trúc TP.HCMTS. NGUYỄN HỮU ANH TUẤNTÓM TẮT CÁC CÔNG THỨCTÍNH TOÁN CẤU KIỆN BTCTTham khảo TCVN 5574-2012 và các tài liệu của GS Nguyễn Đình CốngVersion 1- nháp1Cường độ của vật liệuCấu kiện chịu uốn (tiết diện thẳng góc)Cấu kiện chịu nén đúng tâmCột chịu nén lệch tâmCột chịu nén lệch tâm xiênPP thực hành tính CK chịu uốn trên tiết diện nghiêngCấu kiện chịu uốn-xoắnTính toán theo TTGH II2Nguyen Huu Anh Tuan - v1- DraftI. CƯỜNG ĐỘ BÊTÔNG1. Cường độ trung bình2. Cường độ đặc trưng
Xem thêm

10 Đọc thêm

Soạn bài: “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU

SOẠN BÀI: “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU   I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du có ảnh hưởng đến việc sáng tác Truyện Kiều: - Thời đại có nhiều biến động: cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh, rồi phong trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn được thiết lập. Những biến cố lớn lao của thời đại in dấu ấn trong sáng tác của Nguyễn Du, như chính trong Truyện Kiều ông viết: Trải qua một cuộc bể dâu - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. - Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học: cha là Nguyễn Nhiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản từng làm quan to dưới triều Lê - Trịnh. Nhưng sớm mồ côi cha mẹ (mồ côi cha từ năm 9 tuổi, mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi). Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động đến sáng tác của Nguyễn Du. - Cuộc đời phiêu bạt: sống phiêu bạt nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc… Vốn hiểu biết sâu rộng, phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải nghiệm nhiều tạo thành. 2. Tóm tắt Truyện Kiều theo ba phần. Có thể dựa vào gợi ý dưới đây để tóm lược nội dung chính của từng phần một cách ngắn gọn nhất: - Gặp gỡ và đính ước: + Kiều xuất thân như thế nào? Có đặc điểm gì về tài sắc? + Kiều gặp Kim Trọng trong hoàn cảnh nào? + Mối tình giữa Kiều và Kim Trọng đã nảy nở ra sao? Họ kiếm lí do gì để gần được nhau? + Kiều và Kim Trọng đính ước. - Gia biến và lưu lạc: + Gia đình Kiều bị mắc oan ra sao? + Kiều phải làm gì để cứu cha? Làm gì để không phụ tình Kim Trọng? + Kiều bị bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào cuộc sống lầu xanh; + Kiều được Thúc Sinh cứu ra khỏi lầu xanh; + Kiều trở thành nạn nhân của sự ghen tuông, bị Hoạn thư đày đoạ; + Kiều trốn đến nương nhờ cửa Phật, Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà - Kiều rơi vào lầu xanh lần thứ hai; + Thuý Kiều đã gặp Từ Hải như thế nào? + Tại sao Từ Hải bị giết? + Kiều bị Hồ Tôn Hiến làm nhục ra sao? + Kiều trẫm mình xuống sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu. - Đoàn tụ: + Kim Trọng trở lại tìm Kiều như thế nào? + Tuy kết duyên cùng Thuý Vân nhưng Kim Trọng chẳng thể nguôi được mối tình với Kiều; + Kim Trọng lặn lội đi tìm Kiều, gặp Giác Duyên, gặp lại Kiều, gia đình đoàn tụ; + Chiều ý mọi người, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước điều gì? II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Rèn luyện cách tóm tắt và kể lại nội dung văn bản.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1 MÔN MARKETING CĂN BẢN

BÁO CÁO THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1 MÔN MARKETING CĂN BẢN

BÁO CÁO THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1 MÔN MARKETING CĂN BẢN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NƯỚC KHOÁNG VĨNH HẢO. GVHD: THẦY ThS NGUYỄN ANH TUẤN SVTH: LÊ HỒNG QUYÊN TRƯỜNG ĐH TÀI CHÍNH MARKETING KHOA MARKETING

75 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT THUÝ VÂN TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT THUÝ VÂN TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Thuý Vân là mẫu người hài hoà, quân bình, nàng được xây dựng đểđối lập với Thuý Kiều nhân vật đa sầu đa cảm. Thuý Vân chủtỉnh, Thuý Kiều chủđộng. Cùng là chịem gái, cùng là con một nhà nhưng bẩm thụhai người khác nhau, mỗi người một vẻ, hình dạng khác nhau, tính khí khác nhau, cách nhìn nhận vấn đềcũng hoàn toàn khác nhau.Thếnên tuy cùng cảnh ngộ, cùng cơn gia biến mà cách giải quyết của họchẳng giống nhau, dẫn đến vận mệnh mỗi người mỗi khác. Nguyễn Du chỉdùng 4 câu thơ cũng đủkhắc họa Thuý Vân từcốt cách, diện mạo, ngôn ngữđến tính khí, mệnh vận:Vân xem trang trọng khác vờiKhuôn trăng đầy đặn, nét ngài nởnang,Hoa cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.Thuý Vân là con gái thứcủa Vương Ông, đối chiếu với Dịch Lý,Thuý Vân tương hợp với quẻLy.Theo Kinh Dịch, quẻLy bao gồm các hình tượng: Trung nữ(con gái thứ), lửa, lệthuộc, mặt trời, trái tim, sáng suốt.QuẻLy gồm có một hào âm ởgiữa, nương tựavào một hào dương ởtrên và một hào dương ởdưới. Vì vậy Ly có nghĩa là lệthuộc. Trong Truyện Kiều, Thuý Vân là hiện thân của hình tượng này, và đúng như cách nghĩ của nhiều người, Vân sống lệthuộc người khác, nàng sống đểtrảnợân tình cho Thuý Kiều, lo toan cho cha, cho mẹ, cho chị, cho em, cho chồng, cho con. Thuý Vân không sống cho bản thân mình.Hào âm ởgiữa là phản thân của hào dương, hào dương là vạch liền, đặc ruột biểu hiện tính cách trung thực, hào âm là vạch đứt, rỗng ruột, biểu hiện hình tượng trong lòng trống không, hư tâm. Hư tâm là tâm không bịvọng nhiễm chứkhông phải là vô tâm với nghĩa vô tình, ích kỷ
Xem thêm

10 Đọc thêm

(Tóm tắt luận án tiến sĩ Ngữ văn bằng tiếng anh) NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN BẰNG TIẾNG ANH) NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

25 Đọc thêm

SOẠN BÀI CHIẾU DỜI ĐÔ VÀ HỊCH TƯỚNG SĨVĂN 8

SOẠN BÀI CHIẾU DỜI ĐÔ VÀ HỊCH TƯỚNG SĨVĂN 8

Soạn bài: Chiếu dời đô Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài Soạn bài: Hịch tướng sĩ HỊCH TƯỚNG SĨ (Trần Quốc Tuấn) I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Tác giả Trần Quốc Tuấn (1231 1300), tức Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc. Năm 1285 và năm 1287, quân Mông Nguyên xâm lược nước ta........

21 Đọc thêm

Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều

Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều

Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Trong giao tiếp hằng ngày con người luôn cần đến lập luận, dùng lập luận để chứng minh, để thanh minh, để giải thích, để thuyết phục hay để bác bỏ một ý kiến. Lập luận là một chiến lược hội thoại nhằm dẫn dắt người nghe, người đọc nắm bắt được kết luận mà người lập luận muốn hướng tới, là cách tổ chức mang chất luận lí đưa đến hiệu quả cao trong giao tiếp. Vì vậy mà lí thuyết lập luận đã được ngành Ngữ dụng học chú ý rất nhiều trong những năm gần đây. Việc nghiên cứu lập luận của nhân vật trong tác phẩm văn học cũng là một hướng nghiên cứu mới để thấy các nhân vật trong tác phẩm khi tham gia hội thoại đã thuyết phục, dẫn dắt vấn đề mình cần trình bày hay muốn thuyết phục đối tượng mà họ đang giao tiếp như thế nào. Từ đó thấy rõ chất triết lí và trí tuệ, tài năng của người viết, góp phần làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Truyện Kiều – Tập đại thành văn học trung đại Việt Nam, một tác phẩm tâm huyết của Nguyễn Du “Như có máu chảy trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy” và thể hiện con mắt “trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường) của ông. Tác phẩm là sự cống hiến to lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ của ngôn ngữ văn học dân tộc. Nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều là góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về tài năng sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của Nguyễn Du. Nguyễn Du đã tạo nên Truyện Kiều với chiều sâu ở nội dung cùng với nghệ thuật tuyệt vời. Nói đến thành công của tác phẩm thì không thể không nhắc tới những lập luận mà nhân vật trong tác phẩm đã đưa ra trong giao tiếp với sự chặt chẽ, đầy lí do để thuyết phục hay minh họa cho hành động của mình. Những điều này được thực hiện qua lối hành văn và ngôn ngữ sống động. Ngày nay Truyện Kiều trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đời sống tâm hồn người Việt nói chung và văn học nói riêng, nhiều người còn thuộc lòng Truyện2 Kiều, người ta kể Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều, đố Kiều. Cho nên những lập luận của các nhân vật trong tác phẩm luôn rất được đông đảo người đọc chú ý và sử dụng. Các nhân vật trong Truyện Kiều khi tham gia hội thoại đều sử dụng lập luận để giao tiếp. Trong đó lập luận của nhân vật Thúy Kiều là những lập luận tạo nên sức hút lớn mà người đọc rất thích thú khi tiếp xúc với những lập luận mà nhân vật này đưa ra.Vì vậy, việc nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều là đề tài cần thiết giúp phân tích rõ hơn về cách mà nhân vật đã lập luận. Đồng thời cùng với niềm yêu mến Truyện Kiều cũng như các cách mà nhân vật trong tác phẩm lập luận đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều cho luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1. Lịch sử nghiên cứu về lập luận trong ngữ dụng học Trước đây lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và trong logic học. Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre đã đặc biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận. Ở Việt Nam: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên... cũng quan tâm đến vấn đề lập luận trong ngữ dụng học. Trong cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học” (tập 2) Đỗ Hữu Châu đã trình bày khá cụ thể về lí thuyết lập luận. Tác giả đã chỉ ra bản chất ngữ dụng học của lập luận, từ đó xem xét lập luận như là một nội dung quan trọng của ngữ dụng học. Với các nội dung về khái niệm lập luận, bản chất ngữ dụng học của lập luận, lập luận là một hành động ở lời nói, các đặc tính của quan hệ lập luận, tác tử lập luận và kết tử lập luận, tác giả cũng chỉ ra các lẽ thường là cơ sở của lập luận. Như vậy với những khái niệm và những vấn đề cơ sở của lập luận mà tác giả Đỗ Hữu Châu đã trình bày không chỉ mở ra một hướng đi mới trong lĩnh vực ngữ dụng học, không chỉ có thêm căn cứ để xử lí và phân tích diễn ngôn mà còn có thêm cơ sở lí thuyết và thực tiễn để nhìn nhận sự phát phát triển của ngành Ngữ dụng học.3 Tác giả Nguyễn Đức Dân với công trình nghiên cứu “Ngữ dụng học” (tập 1) đã nêu lên những vấn đề về lí thuyết lập luận nói chung và lập luận trong ngôn ngữ nói riêng. Trong công trình này tác giả đặc biệt chú ý đến các tín hiệu ngôn ngữ trong lập luận. Trong cuốn “Nhập môn logic hình thức, logic phi hình thức” (NXB ĐHQG Hà Nội) tác giả tiếp tục trình bày những vấn đề như: Đại cương về lập luận, mô hình khái quát, lập luận theo logic, theo logic tự nhiên, những vấn đề chung về chứng minh và bác bỏ, những sai lầm trong lập luận… Trong cuốn sách “Ngữ dụng học” của tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã nghiên cứu lập luận trong hội thoại. Tác giả cũng nêu ra các đặc điểm của lập luận trên các phương diện về cấu tạo, quan hệ, tính chất luận cứ, vị trí. Tác giả cũng đã xem xét mối quan hệ giữa lập luận và các lẽ thường nhưng có tính hệ thống và đầy đủ hơn. Mai Ngọc Chừ chủ biên cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học” cũng đã có nhắc đến phần ngữ dụng học với một số nội dung về lập luận. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp với cuốn “Dụng học Việt ngữ” cũng có đề cập đến vấn đề lập luận trong nghiên cứu của mình. Trong cuốn “Ngữ dụng học và văn hóa – ngôn ngữ học” của Trần Ngọc Thêm cũng đã nghiên cứu về lập luận. Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản” (NXB GD, Hà Nội) có bàn đến quan hệ lập luận – sự biểu hiện của mạch lạc trong văn bản. Trong công trình này những vấn đề cơ bản về các bộ phận lập luận, các kiểu lập luận khái quát, quan hệ lập luận cũng được bàn tới. Bên cạnh đó trong các số báo, các tạp chí ngôn ngữ cũng có một số bài viết đề cập đến vấn đề lập luận như: “Thử vận dụng lí thuyết lập luận để phân tích màn đối thoại Thúy Kiều xử Hoạn thư” của tác giả Đỗ Thị Kim Liên, “Chuyện về sự đa nghĩa trong thành ngữ, tục ngữ” của Nguyễn Thị Thu Hồng. Tác giả Nguyễn Đức Dân với bài viết “Logic và liên từ tiếng Việt”, “Logic và sự phủ định trong tiếng Việt” v.v. Một số khóa luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ…cũng đề cập đến vấn đề lập luận cụ thể như: “Tam đoạn luận diễn đạt trong văn xuôi nghệ thuật” (Luận văn thạc sĩ,4 Nguyễn Thị Hường, 1993); “Lí thuyết lập luận và lí thuyết đoạn văn và hệ thống các bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh cấp 3” (Luận văn thạc sĩ, Bùi Thị Xuân, 1997); “Lập luận trong văn miêu tả” (Luận văn thạc sĩ, Nguyễn Thị Nhin, 2003); “Lập luận trong đoạn văn qua khảo sát văn chính luận Hồ Chí Minh” (Luận văn thạc sĩ, Nguyễn Thị Thanh Bình, 2006); “Các kết tử lập luận “nhưng”, “tuy nhưng”, “thế mà”, “vậy mà..” (Luận văn thạc sĩ, Kiều Tập, 1996); “Hiệu lực lập luận của đoạn văn miêu tả của thực từ và các tác tử “chỉ”, “những”, “đến”…” (Luận văn thạc sĩ, Lê Quốc Thái, 1997); “Các kết tử lập luận “thực ra/ thật ra”, “mà” và quan hệ lập luận” (Luận văn thạc sĩ, Kiều Tuấn, 2000) v.v. 2.2. Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Du Đã có nhiều nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết để tìm hiểu về Nguyễn Du và các tác phẩm của ông (trong đó đặc biệt là Truyện Kiều). Các tác giả tập trung bàn về hình tượng nghệ thuật, triết lí nhân văn hay mâu thuẫn tư tưởng và nhân cách của nhà thơ. Đó là những công trình có giá trị như “Từ điển Truyện Kiều” và “Khảo luận về Truyện Thúy Kiều” của Đào Duy Anh, “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử; “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều” của Phan Ngọc; “Một vài đặc điểm của Truyện Kiều” của Đào Thản; “Giảng văn Truyện Kiều” và “ Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm” của Đặng Thanh Lê; “Nghệ thuật điển hình hóa và ngôn ngữ trong Truyện Kiều” của Nguyễn Lộc, “Triết lí đạo Phật trong Truyện Kiều” của Đỗ Đức Hiếu; “Mấy lời bình luận về văn chương Truyện Kiều” của Nguyễn Tường Tam, “Nghệ thuật tái tạo nhân vật trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du” của Nguyễn Thị Thanh Hằng v.v. Gần đây có một số công trình nghiên cứu về mặt ngôn ngữ của Truyện Kiều như “Tìm hiểu về Truyện Kiều” của Lê Xuân Lít, “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ trong Truyện Kiều” (Luận văn thạc sĩ) của Cao Thị Phương Lan; “Tìm hiểu hư từ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” (Luận văn thạc sĩ) của Nguyễn Thị Ninh Ngọc; “Tìm hiểu lập luận miêu tả trong Truyện Kiều” (Luận văn thạc sĩ) của Lưu Thị Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều Luận văn: Nghiên cứu Truyện Kiều theo hướng ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH VỤ ÁN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VẬN DỤNG ĐỂ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢI CỦA HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ

PHÂN TÍCH VỤ ÁN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VẬN DỤNG ĐỂ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢI CỦA HUỲNH THỊ HUYỀN NHƯ

Từ tháng 5-2010 đến 11-2011, ACB của Bầu Kiên ủy thác cho 19 nhân viên gửi tổng cộng gần 719 tỷ đồng vàoVietinBank song bị Huyền Như chiếm đoạt toàn bộ.Từ tháng 5/2011 đến tháng 9/2011, Huyền Như đã làm giả 100 hợp đồng tiền gửi và phụ lục hợp đồng với Công ty PhúcVinh, Thịnh Phát, Hưng Yên, Huyền Như ký giả 47 chữ ký của Hà Tuấn Anh - Giám đốc và 53 chữ ký của Võ Anh Tuấn,Phó Giám đốc Vietinbank Chi nhánh Nhà Bè để huy động của Công ty Phúc Vinh 1.015,8 tỷ đồng, Công ty Thịnh Phát948,2 tỷ đồng, Công ty Hưng Yên 537 tỷ đồng.Huyền Như còn huy động rất nhiều tiền của các môi giới, nhà đầu tư cổ phiếu OTC lừa đảo, quỵt nợ.2.1.2. Đánh tráo hồ sơ mở tài khoản, giả chứng từ để chuyển tiền rút tiền Là trưởng phòng Giao dịch của VietinBank, Huyền Như đã lập hồ sơ mở tài khoản giả, chữ ký giả, dấu giả để đánh tráohồ sơ mở tài khoản của khách hàng, lập lệnh chi giả, lệnh chuyển tiền giả để chiếm đoạt tiền trên tài khoản tiền gửi củakhách hàng. Với thủ đoạn như vậy, Huyền Như đã lập 16 thẻ tiết kiệm với số tiền hơn 81 tỷ đứng tên khách hàng gửi tiền, làm giả127 lệnh chi, ký giả chữ ký của các ông Vũ Đắc Phúc, Giám đốc Công ty Phúc Vinh, ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốcCông ty Thịnh Phát, ông Tạ Duy Hùng, Giám đốc Công ty Hưng Yên trên các Lệnh chi đó chiếm đoạt 1.598 tỷ ; 50 tỷ đồng của hai cá nhân Nguyệt và Bé Năm, chiếm đoạt 210 tỷ đồng từ tài khoản của Công ty CP CK SaigonbankBerjaya (SBBS); 550,35 tỷ từ tài khoản của Công ty Phương Đông và Công ty An Lộc; 125 tỷ đồng từ tài khoản củaCông ty cổ phần bảo hiểm Toàn cầu
Xem thêm

46 Đọc thêm

Tổng hợp các bài văn nghị luận phàn 2

TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÀN 2

Dàn ý: So sánh bài thơ Mộ (Chiều tối) với khổ cuối Tràng giang. Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tài tình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cảm nhận của em về hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ qua Hồi thứ 14 “Hoàng Lê nhất thống chí”. Phân tích đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều. “Ôi sống đẹp là thế nào, hỡi bạn ?” Viết một bài văn trình bày suy nghĩ của mình về câu thơ của Tố Hữu Giải thích câu nói của nhà văn Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống Giá trị nhân đạo trong đoạn trích “Trao Duyên” Phân tích ấn tượng về thiên nhiên trong 4 câu thơ đầu của bài thơ cảnh ngày xuân. Tâm hồn trong sáng lạc quan dù cuộc sống đầy gian khổ của 3 cô gái trong truyện Những ngôi sao xa xôi. Em hãy viết bài văn để thuyết phục các bạn chăm học hơn. Phân tích nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi” Nhận xét về 2 bài thơ “Nhớ rừng” (Thế Lữ) và “Khi con tu hú” (Tố Hữu). Quan niệm của em về một người bạn tốt. Phân tích Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn. Nghị luận về vấn đề tài và đức của con người. Chất dân gian được thể hiện trong bài Tương Tư của Nguyễn Bính Phân tích đoạn thơ Chí khí anh hùng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Phân tích bài Chiếu Dời Đô của Lý Công Uẩn. NLXH: Lý tưởng là ngọn đèn soi sáng. Anh Chị suy nghĩ gì về quan niệm “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” Suy nghĩ của em về hình ảnh “đôi vai”. ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA THỊ VÀ MỊ, GIỮA APHỦ VÀ TRÀNG TRONG TÁC PHẨM VỢ CHỒNG APHỦ VÀ VỢ NHẶT Nghị luận xã hội về nghị lực sống của con người. Sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam qua văn học. Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người. Bằng các tác phẩm văn học đã học, em hãy chứng minh ý kiến trên. Viết đoạn văn ngắn về người chiến sĩ cộng sản của bài Con Chim Tu Hú. Nghị luận xã hội về vấn đề an toàn giao thông Văn nghị luận nói về tác hại của chơi game của các bạn nghiện game. Phân tích khổ thơ đầu trong bài “Sang thu” của Hữu Thịnh. Nghị luận xã hội về nghiện Facebook. Nghị luận “chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới” của Cựu phó thủ Tướng Vũ Khoan. Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Nghị luận: BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG. Nghị luận xã hội về vấn đề vứt rác bừa bãi của con người . Nghị luận “Bản chất của thành công”. “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Viết bài văn trình bày suy nghĩ của AnhChị. Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh tượng xưa nay chưa từng có Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên – từ “Cậy em em có chịu lời.,.” đến “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nghị luận xã hội về sống có trách nhiệm. Chứng minh rằng văn học của dân tộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân và nghiêm khắc phê phán nhũng kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” – Nguyễn Tuân. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, thể hiện trong cảnh ngộ từ khi cô bị bắt về nhà thống lý Pá Tra cho đến đêm cởi trói cho A Phủ Phân tích hình ảnh Nồi cháo cám trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Nghị Luận về trang phục và văn hóa của giới trẻ hiện nay. Em suy nghĩ như thế nào về học sinh hư hiện nay đối với giáo viên. Bài viết số 6 lớp 8 đề 3: Từ bài “Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ về mối quan hệ của “học” và “hành”. Bài viết số 6 lớp 8 đề 2: Câu nói của M. Gorơki ” Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” . gợi cho em suy nghĩ gì ? Bài viết số 6 lớp 8 đề 1: Dựa vào văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn với vận mệnh của đất nước. Nghị luận xã hội về văn hóa cảm ơn.  
Xem thêm

207 Đọc thêm

Tìm hiểu nguyễn du và truyện kiều

TÌM HIỂU NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU

Tác giả Nguyễn Du (1765-1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiện, quê ở Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc thời Lê, có truyền thống văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ làm tể tướng. Anh là Nguyễn Khản, đỗ tiến sĩ, làm đại quan trong phủ chúa. Triều Lê - Trịnh sụp đổ, Nguyễn Du trôi giạt về quê vợ ở Thái Bình suốt "mười năm gió bụi" rồi về sống ở Hà Tĩnh quê nhà, sống ẩn giật, tự xưng là "Nam Hải điếu đổ", "Hồng Sơn liệp hộ". Tây Sơn đổ, Gia Long thiết lập triều đại mới. Năm 1802, Gia Long triệu ông ra àm quan cho nhà Nguyễn. Năm 1813, Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, có lúc giữ chức Tham tri bộ Lễ, Cần chánh điện đại học sĩ. Tác phẩm 1. - Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh). - Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh) - Thác lời trai phường Nón. 2. Thơ chữ Hán: - Thanh Hiên thi tập. - Nam trung tạp ngâm. - Bắc hành tạp lục. Truyện Kiều 1. Nguyễn Du dựa vào cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân, đời Thanh Trung Quốc để sáng tạo ra truyện Kiều, dài 3254 câu thơ lục bát, kiệt tác số một, "tập đại thành" của nền thơ ca cổ điển Việt Nam. 2. Cốt truyện Về đời Minh, có gia đình Vương Viên ngoại ở Bắc Kinh sinh thành được ba người con: Thuý Kiều, Thuý Vân, Vương Quan. Hai chị em Kiều nhan sắc tuyệt trần, riêng Kiều còn có tài thi hoạ, ca, ngâm. Nhân ngày hội Đạp Thanh ba chị em Kiều đi chơi xuân, gặp một văn nhân tên là Kim Trọng "tình trong như đã mặt ngoài còn e". Kim Trọng tìm cách gặp gỡ Kiều, nhờ cành kim thoa mà hai người ước hẹn, thề nguyền dưới trăng "trăm năm tạc mộ chữ đồng đến xương". Kim Trọng phải về Liễu Dương hộ táng chú. Gia đình Kiều gặp tai biến, Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền chuộc cha. Nàng trao duyên cho Thuý Vân rồi theo họ Mã về Lâm Trụy. Kiều mắc lận Sở Khanh, bị Tú Bà làm nhục. Kiều vào lầu xanh lần thứ nhất. Kiều được Thúc Sinh chuộc ra lấy làm vợ lẽ. Hoạn Thư đánh ghen. Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư, lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh. Kiều vào lầu xanh lần thứ hai tại Châu Thai. Kiều được Từ Hải chuộc, lấy từ Hải trở thành mệnh phụ phu nhân. Kiều báo ân báo oán. Kiều và Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến. Từ Hải bị giết chết, Kiều bị ép lấy viên thổ quan, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử nhưng được cứu thoat rồi đi tu. Kim Trọng trở lại vườn Thuý, kết duyên với Thuý Vân. Kim Trọng và Vương Quan thi đỗ được bổ đi làm quan. Cả gia đình qua sông Tiền Đường may mắn gặp vãi Giác Duyên, tìm đến ngôi chùa Kiều đi tu. Kiều gặp lại cha mẹ, hai em và chàng Kim sau 15 năm trời lưu biệt... 3. Giá trị nội dung a. Giá trị tố cáo hiện thức: lên án xã hội phong kiến thối nát, những thế lực hắc ám tàn bạo, dã man đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc con người như bọn quan lại tham ô thối nát, bọn buôn thịt bán người, bọn ma cô lưu manh tàn ác; lên án mặt trái của đồng tiền hôi tanh... b. Giá trị nhân đạo: xót thương cho nỗi đau khổ của con người, tài sắc bị dập vùi, nói lên ước mơ về hạnh phúc, tự do và công bằng, đề cao quyền sống của con người, v.v... 4. Giá trị nghệ thuật a. Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, tạo ra những mẫu người với những tính cách tiêu biểu cho cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác... trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát. b. Nghệ thuật tự sự, hấp dẫn, cảm động, tạo ra những tình huống, những bi kịch. Lúc miêu tả, lúc tả cảnh ngụ tình, lúc đối thoại, câu truyện về nàng Kiều diễn biến qua trên ba nghìn câu thơ liền mạch. c. Ngôn ngữ thi ca: Nguyễn Du đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bác học, sử dụng điển tích, thi liệu văn học cổ Trung Hoa với ca dao, tục ngữ, thành ngữ... nâng lên thành một ngôn ngữ văn chương trong sáng, trau chuốt, mượt mà, mẫu mực. Cho đến nay chưa có nhà thơ Việt Nam nào viết thơ lục bát trên ba nghìn câu hay bằng Nguyễn Du. "Truyện Kiều" xứng đáng là "tiếng thương như tiếng mẹ du những ngày" (Tố Hữu). Những ý kiến, những lời thơ hay và đẹp nói về "Truyện Kiều" 1… "Tố Hữu tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có cái mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thi tài nào có cái bút lực ấy..." (Mộng Liên Đường) 2... "Ngọc diện khởi ưng mai thuỷ quốc Băng tâm tự khả đối Kim Lang..." (Phạm Quí Thích) "Mặt ngọc nỡ sao vùi đáy nước, Lòng trinh không thẹn với Kim Lang" (Nguyễn Quảng Tuân dịch) 3… Mười năm qua, nay trở lại hoà bình. Trăng ly biệt lại đoàn viên trước cửa. Cảo thơm đặt trước đèn, tôi giở Mỗi trang Kiều rung một bóng trăng thanh. Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc Sắc tài sao mà lại lắm truân chuyên Cành xuân phải trao tay khi nước mất Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên. Bỗng quý cô Kiều như đời dân tộc Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường Chàng Kim đã đến tìm, lau giọt khóc Và lò trầm đêm ấy toả bay hương... ("Đọc Kiều"- Chế Lan Viên) 4... Trải qua một cuộc bể dâu Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình Nỗi chìm kiếp sống lênh đênh Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều... ("Bài ca mùa xuân 1961"- Tố Hữu). 5... Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời ngàn thu Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du, Tiếng thương như tiếng mẹ ru mhững ngày. Hỡi Người xưa của ta nay, Khúc vui xin lại so đây cùng Người! ("Kính gửi cụ Nguyễn Du"- Tố Hữu)
Xem thêm

2 Đọc thêm

KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG NICOTIN NIỆU CỦA CÔNG NHÂN TRONG NHÀ MÁY THUỐC LÁ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG NICOTIN NIỆU CỦA CÔNG NHÂN TRONG NHÀ MÁY THUỐC LÁ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012Nghiên cứu Y họcKHẢO SÁT HÀM LƯỢNG NICOTIN NIỆU CỦA CÔNG NHÂN TRONGNHÀ MÁY THUỐC LÁ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHNguyễn Thị Trúc Ly*, Phan Bích Hà*, Trần Thị Kiều Anh**TÓM TẮTĐặt vấn đề: Ở Việt Nam, nhiễm độc Nicotin là một trong những bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm (4). Theothống kê của các nhà nghiên cứu, công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với Nicotin có tỷ lệ ung thư phổi là 4%, caohơn rất nhiều so với công nhân làm việc trong môi trường không tiếp xúc với Nicotin (1). Để cảnh báo trìnhtrạng nhiễm độc Nicotin của công nhân tiếp xúc với Nicotin, việc xét nghiệm hàm lượng Nicotin trong nướctiểu là một chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết và mang tính chất thường qui.Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát hàm lượng Nicotin trong nước tiểu của công nhân trong nhà máy thuốc látại TP. Hồ Chí Minh năm 2011.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 251 công nhân (có và không có hút thuốc)làm việc trong nhà máy thuốc lá ở bộ phận tiếp xúc trực tiếp với Nicotin. Xét nghiệm Nicotin niệu và đánh giámức độ nhiễm Nicotin niệu theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường(5,4).Kết quả nghiên cứu: 147/251 trường hợp (58,6%) có hàm lượng Nicotin ≤ 0,3 mg/L (dưới ngưỡng nồngđộ cho phép) và 104/251 trường hợp (41,1%) có hàm lượng Nicotin > 0,3mg/L. 55/251 trường hợp (21,9%) phảitheo dõi thấm nhiễm Nicotin đối với bệnh nghề nghiệp. Tuổi nghề cứ tăng lên 1 năm thì nguy cơ bị theo dõiNicotin tăng lên 1,04 lần. Thời gian hút thuốc cứ tăng lên một năm thì nguy cơ bị theo dõi thấm nhiễm Nicotintăng lên 1,09 lần.Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trường hợp có hàm lượng Nicotin niệu vượt tiêu chuẩn chophép khá cao. Những trường hợp có hàm lượng Nicotin cao phần lớn là những mẫu của công nhân có tiền sửhút thuốc lá. Doanh nghiệp cần tăng cường trang bị bảo hộ lao động cho công nhân trong quá trình làm việc.Từ khóa: Thuốc lá, Nicotin, nhiễm độc Nicotin.ABSTRACTSURVEY NICOTINE CONTENT IN URINE OF WORKERS IN TOBACCO FACTORY AT HO CHI
Xem thêm

5 Đọc thêm

106 bài tập chọn lọc môn Toán chuyên đề lượng giác có lời giải chi tiết

106 BÀI TẬP CHỌN LỌC MÔN TOÁN CHUYÊN ĐỀ LƯỢNG GIÁC CÓ LỜI GIẢI CHI TIẾT

1Quảng TrịTHPT Chuyên Lê Quý Đôn22Đắk LắkThí sinh vãng lai23TP HCMTHPT Trung Phú14Hà NộiTHPT Minh Khai15Bắc NinhTHPT Quế Võ 116Hà NộiTHPT ứng Hoà A17Hà NộiTHPT Yên Lãng18TP HCMTHPT Trần Hữu Trang19Hải PhòngTHPT Lê Ích Mộc110Kon TumTHPT Nguyễn Trãi111Ninh BìnhTHPT Yên Khánh A112Quảng NinhTHPT Quảng Hà113Đồng NaiTC nghề Đinh Tiên Hoàng114Vĩnh PhúcTHPT Tam Dương115Hà TĩnhTHPT Vũ Quang116Nam ĐịnhTHPT Trần Hưng Đạo117Khánh HòaTHPT Nguyễn Trãi118Quảng NinhTHPT Mông Dương119TP HCMTHPT Lương Thế Vinh120Ninh BìnhTHPT Yên Khánh B1
Xem thêm

42 Đọc thêm

BAI 23 CO CAU TRUC KHUYU THANH TRUYEN

BAI 23 CO CAU TRUC KHUYU THANH TRUYEN

Chào mừng cô và các bạn đến với bài học hôm nay !!!•Nguyễn Thị Trường Nga•Mai Dương Thảo•Nguyễn Minh AnhBài 23:CƠ CẤU TRỤC KHUỶU THANH TRUYỀNThanhtruyềnPit tôngTrục khuỷuGIỚI THIỆUCHUNGI- GIỚI THIỆU CHUNG

32 Đọc thêm

Giới thiệu sắc phong thần hưng đạo vương trần quốc tuấn của vua thiệu trị

Giới thiệu sắc phong thần hưng đạo vương trần quốc tuấn của vua thiệu trị

Vương triều Nguyễn, triều đại quân chủ phong kiến cuối cùng của Việt Nam với suốt chiều dài lịch sử kể từ Chúa Nguyễn đến vương triều Nguyễn đã tồn tại trên 400 năm. Một thiên lịch sử với những sự kiện bi hùng gắn với một triều đại đầy biến động. Trải qua bao cuộc bể dâu, kinh đô Huế đã trở thành cố đô nhưng những gì còn lại vẫn toát lên sự oai hùng của một vương triều vang bóng một thời. Trải qua thời gian cùng với thiên tai bão lũ và bom đạn chiến tranh, các văn bản hành chính của vương triều này còn lại khá nhiều, đặc biệt là các sắc phong. Tuy mất mát hư hỏng nhưng vẫn đang được các làng quê và dòng họ Việt Nam nâng niu và gìn giữ như một báu vật. Phần lớn các đình làng của người Việt đều được các triều đại quân chủ nối tiếp nhau ban sắc phong. Để có một góc nhìn chi tiết hơn về sắc phong thời Nguyễn, hôm nay nhóm xin giới thiệu về một sắc phong cụ thể của thời Nguyễn đó là sắc phong của vua Thiệu Trị phong thần cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn năm 1845.
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá tác động môi trường cho một dự án nghĩa trang

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHO MỘT DỰ ÁN NGHĨA TRANG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHO MỘT DỰ ÁN QHNT NHỮNG BƯỚC THỰC HIỆN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : NGUYỄN VƯƠNG LONGNHÓM 7 : NGUYỄN HỮU TRƯỜNG VŨ ANH TUẤN NGUYỄN VĂN HOẠCH NGUYỄN ĐÌNH TUẤN

27 Đọc thêm

Cùng chủ đề