VỀ PHÍA CÁC NHÀ SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VỀ PHÍA CÁC NHÀ SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM":

Tìm hiểu quy trình sản xuất há cảo tại công ty TNHH thương mại chế biến thực phẩm vĩnh lộc

TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT HÁ CẢO TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI CHẾ BIẾN THỰC PHẨM VĨNH LỘC

Tìm hiểu quy trình sản xuất há cảo tại công ty TNHH thương mại chế biến thực phẩm vĩnh lộc

103 Đọc thêm

Giáo trình công nghệ chế biến thực phẩm

GIÁO TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

Khaí quát về thực phẩm và công nghệ thực phẩm. Công nghệ chế biến thực phẩm đóng hộp, sấy khô, lạnh đông, lên mem. Kỹ thuật chế biến một số sản phẩm thực phẩm khác. Khaí quát về thực phẩm và công nghệ thực phẩm. Công nghệ chế biến thực phẩm đóng hộp, sấy khô, lạnh đông, lên mem. Kỹ thuật chế biến một số sản phẩm thực phẩm khác.

389 Đọc thêm

Hoàn thiện công tác tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực tại công ty chế biến thực phẩm (Bia Vicoba) Thái Nguyên

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN THỰC PHẨM (BIA VICOBA) THÁI NGUYÊN

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN THỰC PHẨM THÁI NGUYÊN 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty. 1.1.1. Tên địa chỉ công ty: Tên Công ty: Công ty Cổ phần chế biến thực phẩm Thái Nguyên. Trụ sở Công ty Cổ phần chế biến thực phẩm Thái Nguyên: số 158, đường Minh Cầu, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên. Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần. Đăng ký kinh doanh số: . Vốn điều lệ: 2.000.000.000 đồng. Mã số thuế: 4600307512. Số tài khoản: 8501211000101 Giám đốc: Ông Nguyễn Văn Dũng. 1.1.2. Thời điểm thành lập, các mốc quan trọng trong quá trình phát triển Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm Thái Nguyên được xây dựng trên địa bàn đường Phan Đình Phùng thành phố Thái Nguyên. Tiền thân của Công ty là “xí nghiệp bánh kẹo Bắc Thái”, được xây dựng năm 1973, năm 1975 đi vào hoạt động. Sau hơn chục năm sản xuất bánh kẹo do thiết bị thủ công nên xí nghiệp bánh kẹo không tiêu thụ được hàng. Năm 1992 sở công nghiệp đã sáp nhập hai xí nghiệp “bánh kẹo Bắc Thái” và xí nghiệp “nước chấm” thành xí nghiệp “chế biến thực phẩm”. Ban lãnh đạo xí nghiệp đã tìm kiếm mặt hàng và thị trường tiêu thụ. Được sự ủng hộ giúp đỡ của các ban ngành xí nghiệp đã bắt đầu chuyển sang xây dựng dây chuyền sản xuất bia hơi có công suất 1000 lítngày. Năm 1993 mở rộng sản xuất với công suất 3000 lítngày. Năm 1994 liên doanh với Công ty than nội địa mở rộng dây truyền sản xuất 10.000lítngày. Hơn 10 năm liên doanh với Công ty Than nội địa, bia viccoba cũng đã được người tiêu dùng Thái Nguyên lựa chọn. Sản phẩm bia hơi được bán chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên và một số huyện trong tỉnh như Đại Từ, Võ Nhai, Phú Bình, Phổ Yên… Thực hiện quyết định số 4062QĐUB ngày 31122003 của ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Công ty đã cổ phần hóa 100 % là vốn của các cổ đông và đổi tên thành “Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm Thái Nguyên”. Sau khi cổ phần hóa được 1 năm Công ty đã nhận thấy thực tế hiện nay nhu cầu tiêu dùng bia trên các thị trường liên tục tăng nhanh, các đối tượng sử dụng bia được mở rộng trong phạm vi toàn tỉnh… 1.1.3. Quy mô hiện tại của doanh nghiệp Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm Thái Nguyên – Bia Viccoba hiện đang có hơn 70 lao động. Lao động gián tiếp có 13 người, còn lại là lực lượng sản xuất và phụ trợ. Qua lực lượng lao động nói trên có thể thấy quy mô của Công ty là quy mô nhỏ. 1.2. Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp • Chức năng: Sản xuất, kinh doanh bia đảm bảo chất lượng phục vụ cho nhu cầu của khách hàng. • Nhiệm vụ: Nhiệm vụ của Công ty là tập chung vào sản xuất bia hơi và từng bước đưa sản phẩm ra nhập thị trường. Do đó đòi hỏi công ty phải từng bước cụ thể hóa nhiệm vụ này theo các bước sau: 1. Duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm bia hơi của Công ty. 2. Từng bước chiếm lĩnh thị trường không chỉ riêng ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên mà phải cố gắng vươn ra các tỉnh lân cận. 3. Từng bước nâng cao trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ công nhân viên để lắm bắt kịp thời công nghệ mới của thế giới nhằm thúc đẩy sự phát triển của Công ty. 1.3. Quy trình sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm (Bia Vicoba) Thái Nguyên: Sản phẩm tạo thành có được khách hàng ưa chuộng và đứng vững trên thị trường hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của sản phẩm. Chính vì vậy mà Công ty rất chú trọng khi sản xuất cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Mà quy trình công nghệ lại ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất, chất lượng sản phẩm và kể cả hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quy trình công nghệ sản xuất Bia mang tính liên tục theo phương pháp sản xuất dây chuyền, đặc tính công nghệ khác nhau sẽ tạo ra Bia có các cấp chất lượng khác nhau. Nguyên liệu chính để sản xuất các loại Bia gồm Malt, gạo, hoa houblon, nước. Malt đại mạch: Là loại thóc malt được nảy mầm trong điều kiện thích hợp và được sấy khô theo một công nghệ đặc biệt. Malt có màu vàng sáng, hạt đều, có mùi thơm đặc trưng cần có, vị ngọt nhẹ. Malt được nhập ở các nước như: Đông Âu, Bỉ,Đan Mạch, Pháp. Malt đại mạch là nguyên liệu chính để sản xuất các loại bia. Quá trình quan trọng nhất mà hạt đại mạch trở thành hạt malt là sự nẩy mầm (mục tiêu chủ yếu của quá trình sản xuất malt) là hoạt hóa, tích lũy về khối lượng và hoạt lực của hệ enzym có trong đại mạch.  
Xem thêm

50 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGHIÊN CỨU SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ CỦA THIẾT BỊ SẢN XUẤT DUNG DỊCH SIÊU ÔXY HÓA ĐỂ KHỬ TRÙNG DỤNG CỤ VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG CƠ SỞ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGHIÊN CỨU SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ CỦA THIẾT BỊ SẢN XUẤT DUNG DỊCH SIÊU ÔXY HÓA ĐỂ KHỬ TRÙNG DỤNG CỤ VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG CƠ SỞ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

Thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh nếu không được đảm bảo vệ sinh. Nguồn gây bệnh từ thực phẩm có thể xuất hiện ở nhiều khâu từ sản xuất đến vận chuyển, bảo quản, chế biến, nấu ăn và cách ăn. Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm bảo vệ sinh. Do đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được đặt lên hàng đầu trong những chương trình phát triển của các quốc gia. Trong những năm gần đây, tình hình ngộ độc thực phẩm có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn qui mô tác hại ở nhiều nước. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam có 8 triệu người (chiếm xấp xỉ 1/10 tổng dân số) bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ độc do liên quan đến thực phẩm. Ngộ độc thực phẩm do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng trong số đó có đến 50% các vụ ngộ độc thực phẩm là do tác nhân vi sinh vật [16]. Hiện nay, xuất khẩu thực phẩm đang chiếm tỷ trọng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Sự hội nhập kinh tế theo xu hướng toàn cầu hóa có tác động rất lớn đến các tiêu chuẩn về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc đẩy mạnh xây dựng qui trình, cải tiến các trang thiết bị trong chế biến thực phẩm đóng vai trò quyết định giúp nâng cao năng lực kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong đó, khử trùng nước, dụng cụ và nhà xưởng sản xuất là những khâu thiết yếu của quá trình bảo đảm vệ sinh sản xuất. Trong số tất cả các loại dung dịch sát trùng có hoạt tính cao nhưng với độc tính thấp được biết từ trước đến nay, dung dịch Anolit trung tính sản xuất trên các thiết bị hoạt hóa điện hóa (HHĐH) có nhiều ưu điểm như: hoạt tính khử trùng vẫn được duy trì ở mức độ cao, trong khi nồng độ các chất ôxy hóa trong dung dịch rất thấp và thành phần của chúng luôn biến đổi theo thời gian nên vi khuẩn không có khả năng thích nghi chống lại.
Xem thêm

79 Đọc thêm

BCTT TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY TRÌNH PHÂN TÍCH VI SINH TRONG THỰC PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM SẠCH FRESH GREEN (FAG CORG)

BCTT TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY TRÌNH PHÂN TÍCH VI SINH TRONG THỰC PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM SẠCH FRESH GREEN (FAG CORG)

Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm cũng phát triển rất vượt bậc. Hàng loạt sản phẩm mới, hàng hoạt quy trình công nghệ, hàng loạt công ty, xí nghiệp, vùng sản xuất lương thực phẩm ra đời. Gần đây, trên các phương tiện thông tin truyền thông, có rất nhiều vụ phát hiện thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm ôi bẩn, đặc biệt là bị nhiễm các vi sinh vật, độc tố vi sinh vật,….Những con số báo động về số ca, số người bị tử vong do ngộ độc thực phẩm ngày càng tăng là hồi chuông báo động cho mọi người trong thói quen sản xuất và tiêu dùng thực phẩm. Làm thế nào để đảm bảo thực phẩm an toàn, kiểm soát các chỉ tiêu chất lượng về vi sinh, hóa sinh luôn đảm bảo ngưỡng giới hạn cho phép,…luôn là vấn đề không chỉ các nhà sản xuất mà người tiêu dùng luôn quan tâm hàng đầu. Việc kiểm soát chất lượng thực phẩm theo các tiêu chuẩn Việt Nam và Quốc tế ban hành là quyền và nghĩa vụ cấp bách đối với nhà sản xuất thực phẩm. Bởi lẽ, thực phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn thì khả năng cạnh tranh trên thị trường sẽ cao. Ngược lại, thực phẩm không đạt chất lượng thì sẽ không được người tiêu dùng chấp nhận. Có rất nhiều phương pháp để kiểm tra một số loại vi sinh vật cơ bản trong thực phẩm, tùy theo yêu cầu và tình hình của mỗi công ty, mỗi ngành hàng mà áp dụng các phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, các nhà sản xuất sẽ áp dụng theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tiêu chuẩn quốc tế (ISO) để định lượng cũng như định tính chất lượng thực phẩm của đơn vị mình.
Xem thêm

46 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM THẠCH

ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM THẠCH

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMKHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨMBỘ MÔN TP DINH DƯỠNG********BÁO CÁO THỰC HÀNHPHỤ GIA THỰC PHẨMTỔ THỰC HÀNH 02 (NHÓM 2)CHIỀU THỨ 7, TUẦN 10, 11(Ngày 22, 29/10/2016)Thời gian nộp báo cáo: Ngày …. Tháng 11 Năm 2016HÀ NỘI, 2016Phần 1SẢN XUẤT VÀ ỨNG DỤNG CHẤT MÀU TỰ NHIÊN TRONG CHẾ BIẾNTHỰC PHẨMGiới thiệu chung về chất màu hay phụ gia tạo màu:Phụ gia tạo màu hay chất màu là những chất được bổ sung vào thực phẩm với mụcđích tạo hoặc cải thiện màu sắc cho sản phẩm, làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩmđối với người tiêu dùng nhưng hoàn toàn không có giá trị về mặt dinh dưỡng.Những chất tạo màu phải nằm trong danh mục được phép sử dụng của bộ y tế, vớimột liều lượng nhất định.Các chất màu được tách ra từ các loại gia vị, các loài thực vật có sẵn trong tựnhiên, được ứng dụng làm chất tạo màu cho thực phẩm khoảng từ 1500 năm trướcở Trung Quốc và Ấn Độ.Nếu quá lạm dụng chất màu sẽ gây ảnh hưởng độc hại đến sức khoẻ người tiêu
Xem thêm

17 Đọc thêm

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ÁP DỤNG THỰC HÀNH NÔNG NGHIỆP TỐT CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ÁP DỤNG THỰC HÀNH NÔNG NGHIỆP TỐT CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT RAU Ở VIỆT NAM

1. Sự cần thiết của nghiên cứu PHẦN MỞ ĐẦU An toàn thực phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. An toàn thực phẩm được coi là một trong các nhóm thuộc tính quan trọng nhất của chất lượng thực phẩm, ba nhóm thuộc tính khác là các thuộc tính dinh d ưỡng, giá trị và đóng gói (Hooker và Caswell, 1996). Theo các tác giả Hooker và Caswell, các v ấn đề an toàn thực phẩm bao gồm các vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm, chất độc tự nhiên và dư lượng thuốc thú y. WHO và FAO (2009) cho rằng an toàn thực phẩm là khái niệm ch ỉ ra thực phẩm sẽ không gây nguy hại cho người tiêu dùng khi được chế biến ho ặc sử dụng đúng mục đích. Khi đề cập đến an toàn thực phẩm phải nghĩ ngay đến s ự có mặt của các mối nguy an toàn thực phẩm (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007). Mối nguy an toàn thực phẩm là các tác nhân sinh học, hóa học hoặc vật lý trong thực phẩm, làm thực phẩm mất an toàn, gây hại sức khỏe người tiêu dùng. Người tiêu dùng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng rất quan ngại về an toàn th ực phẩm do hàng loạt các vụ việc mất an toàn thực phẩm đã xảy ra trong thập kỷ v ừa qua và không có dấu hiệu giảm sút (Loc, 2006). Trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã triển khai các chương trình giám sát tập trung vào các sản phẩm có nguy cơ cao và nhiều dư luận bức xúc gồm rau, quả, chè, thịt lợn, thịt gà ở một số địa phương, vùng sản xuất tập trung, cung ứng số lượng lớn trên th ị trường. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2014), chương trình giám sát ô nhi ễm sinh học và tồn dư hóa chất trong nông sản đã lấy 450 mẫu đối với ba loại rau (rau ngót, đậu đũa và rau gia vị) trong vùng sản xuất tại thời điểm thu hoạch của 11 tỉnh/thành phố trong cả nước, trong đó 350 mẫu kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, 100 mẫu kiểm tra vi sinh vật. Kết quả cho thấy 19/350 mẫu (5,43%) có dư lượng vượt mức giới hạn cho phép, 21/100 mẫu (21%) không đạt chỉ tiêu vi khuẩn E. coli. Số liệu này cho thấy thực trạng an toàn thực phẩm ở nước ta chưa đảm bảo được yêu cầu của người tiêu dùng và thị trường, tỷ lệ mẫu vi phạm một số mặt hàng còn tương đối cao. Theo Caswell (1998), việc đảm bảo chất lượng thực phẩm, đặc biệt là an toàn thực phẩm, là mối quan tâm ngày càng tăng của các chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế có liên quan trong việc thiết lập tiêu chu ẩn vì các thuộc tính chất lượng thực phẩm đang ngày càng có giá trị cao trong mọi lĩnh vực liên quan đến sản xuất và chế biến thực phẩm. Ngày nay, ngành công nghiệp thực phẩm không chỉ chịu trách nhiệm sản xuất ra thực phẩm an toàn mà còn phải chứng minh rõ ràng an toàn thực phẩm đã được bảo đảm như thế nào trong quá trình s ản xuất. Reardon và Farina (2001) khẳng định một công ty sản xuất thực phẩm có thể tạo ra lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh nếu có áp dụng kỹ thuật nâng cao an toàn th ực phẩm. Theo FAO (2015), rau là s ản phẩm thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày của con ng ười. Sản xuất rau ở Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt vì trực tiếp đóng góp cho đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, rau là sản phẩm có nhiều nguy cơ về an toàn thực phẩm và có rất nhiều dư luận xã hội bức xúc về vấn đề VSATTP đối với s ản phẩm rau. Việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất rau, quả tươi ở các qu ốc gia trên thế giới đã được thực hiện thông qua thực hành nông nghiệp tốt (GAP - Good Agricultural Practices). Ở Việt Nam, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi (gọi tắt là VietGAP - Vietnamese Good Agricultural Practices) là nh ững nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008). Các bên liên quan đến GAP bao gồm nhà nước, các ngành công nghiệp chế biến và bán lẻ thực phẩm, nông dân - người sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng (FAO, 2003). Từ quan điểm sản xuất (cung cấp), người nông dân đã áp dụng GAP nhằm mục đích đạt được lợi ích kinh tế, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì các giá trị văn hóa, xã hội. Từ quan điểm nhu cầu, người tiêu dùng (liên quan đến cả các nhà chế biến và các nhà bán lẻ) quan tâm đến chất lượng an toàn thực phẩm và quá trình một số mặt hàng còn tương đối cao. Theo Caswell (1998), việc đảm bảo chất lượng thực phẩm, đặc biệt là an toàn thực phẩm, là mối quan tâm ngày càng tăng của các chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế có liên quan trong việc thiết lập tiêu chu ẩn vì các thuộc tính chất lượng thực phẩm đang ngày càng có giá trị cao trong mọi lĩnh vực liên quan đến sản xuất và chế biến thực phẩm. Ngày nay, ngành công nghiệp thực phẩm không chỉ chịu trách nhiệm sản xuất ra thực phẩm an toàn mà còn phải chứng minh rõ ràng an toàn thực phẩm đã được bảo đảm như thế nào trong quá trình s ản xuất. Reardon và Farina (2001) khẳng định một công ty sản xuất thực phẩm có thể tạo ra lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh nếu có áp dụng kỹ thuật nâng cao an toàn th ực phẩm. Theo FAO (2015), rau là s ản phẩm thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày của con ng ười. Sản xuất rau ở Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt vì trực tiếp đóng góp cho đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, rau là sản phẩm có nhiều nguy cơ về an toàn thực phẩm và có rất nhiều dư luận xã hội bức xúc về vấn đề VSATTP đối với s ản phẩm rau. Việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất rau, quả tươi ở các qu ốc gia trên thế giới đã được thực hiện thông qua thực hành nông nghiệp tốt (GAP - Good Agricultural Practices). Ở Việt Nam, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi (gọi tắt là VietGAP - Vietnamese Good Agricultural Practices) là nh ững nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008). Các bên liên quan đến GAP bao gồm nhà nước, các ngành công nghiệp chế biến và bán lẻ thực phẩm, nông dân - người sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng (FAO, 2003). Từ quan điểm sản xuất (cung cấp), người nông dân đã áp dụng GAP nhằm mục đích đạt được lợi ích kinh tế, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì các giá trị văn hóa, xã hội. Từ quan điểm nhu cầu, người tiêu dùng (liên quan đến cả các nhà chế biến và các nhà bán lẻ) quan tâm đến chất lượng an toàn thực phẩm và quá trình thuyết và đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng GAP của các cơ sở sản xuất rau, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm duy trì và nhân rộng việc áp dụng GAP tại các cơ sở sản xuất rau ở Việt Nam.
Xem thêm

244 Đọc thêm

ENZYME PROTEASE

ENZYME PROTEASE

IV.Rhizopus:V.Clostridium:VI.AspergillusVII.Streptomyces:3. Ứng dụng:Protease có nguồn gốc VSV được ứng dụng vào nhiều ngành công nghiệpnhưng nhiều nhất là ngành công nghiệp thực phẩm như:- Công nghiệp đồ hộp thịt- Trong công nghiệp sữa- Đặc biệt trong công nghệ sản xuất nước chấm như nước tương,tương hột, chao…đều sử dụng chế phẩm protease từ vi sinh vật.- Trong công nghiệp hương liệu mỹ phẩm,dùng chế phẩm protease pha lẫnxà bông, dầu gội đầu,kem chải tóc…làm cho tóc mềm mại,loại bỏ biểu bìđã chế t(sạch gầu).-Trong chế biến các loại bột giặt- Trong sản xuất tơ- Trong công nghiệp thuộc da- Trong y học
Xem thêm

19 Đọc thêm

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA

phẩm-thức ăn ị nhiễm khuẩn thường được phát hiện thấy ở các c sở dịch vụthức ăn đường phố, các bếp ăn tập thể, các nhà hàng và các c sở chế biếnthực phẩm hộ gia đình. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),hiện có h n 400 các ệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn. VSATTPđã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị Y tế và sức kh e cộngđồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như h ng được cải thiện bao nhiêu, nhấtlà khi thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng hiếm.Khi ngườin h ng có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gìmà họ ăn đã trở thành điều xa vời [21-23].Tổ chức Y tế Thế giới đang có chiến lược tăng cường tiếp cận tới ATTPvà đặc biệt tăng cường mối liên kết giữa các ngành khác nhau liên quan tớiATTP (từ trang trại đến àn ăn) ph ng chống các bệnh lây truyền từ động vậtsang người. Hiện nay, một số các nước thành viên đang trong giai đoạn củngcố nâng cấp hệ thống ATTP và dịch vụ thú y tại quốc gia mình. Do vậy, từ01/06/2005, giám sát các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm và ATTP trướcvà sau thu hoạch sẽ do Phòng về ATTP, bệnh động vật và các bệnh truyềnqua thực phẩm phụ trách theo sự quản lý của Tổ chức Y tế thế giới.Theo báo cáo gần đ y của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), h n 1/3n sốcác nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm.Đối với các nước đang phát triển, tình trạng lại càng trầm trọng h n nhiều,hàng năm g y tử vong h n 2,2 triệu người, trong đó hầu hết là trẻ em. Xuhướng ngộ độc thực phẩm, bệnh lây truyền qua thực phẩm xẩy ra ở quy mô4
Xem thêm

Đọc thêm

đồ án công nghệ sản xuất bột mì và các sản phẩm làm từ bột mì

đồ án công nghệ sản xuất bột mì và các sản phẩm làm từ bột mì

Ở Việt Nam tuy không trồng được lúa mì nhưng từ lâu bột mì và các sản phẩm chế biến từ bột mì đã được sử dụng rông rãi trong nhân dân và là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Vì thế để làm rõ hơn về nhưng vấn đề đó nhóm chúng em đã nghiên cứu về cây lúa mì trong đồ án công nghệ 3 về chế biến cây lương thực. Với mục đích nắm rõ được các thành phần hóa học cảu lúa mì, tình hình sản xuất và tiêu thụ của lúa mì, cũng như các sản phẩm làm từ lúa mì, các quy trình công nghệ sản xuất ra các sản phẩm từ lúa mì, như bột mì, mì ăn liền, bánh mì, bánh quy mà nhóm chúng em tìm hiểu.
Xem thêm

Đọc thêm

hóa sinh học thực phẩm

HÓA SINH HỌC THỰC PHẨM

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ sinh học, các chế phẩm enzyme được sản xuất càng nhiều và được sử dụng trong hầu hết trong các lĩnh vực như: chế biến thực phẩm, nông nghiệp, chăn nuôi, y tế… Hàng năm lượng enzyme được sản xuất trên thế giới đạt khoảng trên 300.000 tấn với giá trị trên 500 triệu USD, được phân phối trong các lĩnh vực khác nhau . Phần lớn enzyme được sản xuất ở quy mô công nghiệp đều thuộc loại enzyme đơn cấu tử, xúc tác cho phản ứng phân hủy. Khoảng 75% chế phẩm là enzyme thủy phân được sử dụng cho việc thủy phân cơ chất tự nhiên. Protease là enzyme được sử dụng nhiều nhất hiện nay trong một số ngành sản xuất như: sản xuất chất tẩy rửa, thuộc da, y tế, nông nghiệp đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm (làm mềm thịt , đông tụ sữa làm pho mát, bổ sung để làm tăng chất lượng sản phẩm trong sản xuất bia, xử lý phế phụ phẩm trong chế biến thực phẩm…)
Xem thêm

18 Đọc thêm

VỆ SINH CÔNG NGHIỆP

VỆ SINH CÔNG NGHIỆP

-Tiêu chuẩn GLOBALGAPGlobalGAP là một bộ tiêu chuẩn được xây dựng để áp dụngtự nguyện cho sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi vàthủy sản) trên toàn cầu.Đại diện hợp pháp của Ban thư kýGlobalGAP là tổ chức phi lợi nhuận mangtên FoodPLUS GmbH có trụ sở tại Đức.GlobalGAP là công cụ quản lý trang trạinhằm:Đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩmcho nông sản thực phẩm Hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản Sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn lực sản xuất nông nghiệp Làm giàu nông dân và phát triển nông thôn Bảo vệ môi trường và cảnh quan chung Bộ tiêu chuẩn-Tiêu chuẩn BRCTiêu chuẩn BRC là tiêu chuẩn của Hiệp hội các nhà bán lẻ Anh.Nội dungNội dungcung cấp các yêu cầu giúpTiêu chuẩn được ra đời
Xem thêm

68 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy sản xuất cồn 96 độ từ sắn lát khô năng suất 145 tấn nguyên liệungày

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT CỒN 96 ĐỘ TỪ SẮN LÁT KHÔ NĂNG SUẤT 145 TẤN NGUYÊN LIỆUNGÀY

Ngành công nghệ thực phẩm là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và giải quyết nhu cầu cần thiết về đời sống của con người. Ngày nay, ngành công nghệ thực phẩm đang phát triển mạnh mẽ góp phần làm giàu nguồn thực phẩm cho xã hội đồng thời làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp khác. Trong đó ngành công nghệ sản xuất cồn etylic có đóng góp đáng kể. Rượu etylic có tên khoa học là spiritus vini có công thức phân tử là C2H6O, được sản xuất chủ yếu theo phương pháp lên men từ các nguồn nguyên liệu chứa gluxit. Rượu etylic có vai trò quan trọng đối với các ngành công nghiệp như: Trong công nghiệp thực phẩm dùng để pha chế thành các loại rượu mùi, chế biến thức ăn, chế biến các loại hương hoa quả. Trong y tế cồn dùng để sát trùng, sản xuất dược phẩm,… Đặc biệt cồn etylic còn dùng để pha chế làm nhiên liệu cho ngành giao thông vận tải vì vậy trong tương lai nhu cầu về cồn etylic là rất cao. Ngoài việc ứng dụng sản phẩm rượu etylic thì các sản phẩm phụ của quá trình sản xuất như CO2, bã rượu, dầu fusel cũng mang lại những lợi ích rất to lớn. Do đó mà sản xuất cồn etylic sẽ càng phát triển mạnh trong tương lai và chiếm vị trí quan trọng trong ngành công nghiệp thực phẩm. Để sản xuất cồn có thể sử dụng nhiều loại nguyên liệu chứa đường lên men được như rỉ đường, nước quả,… chứa tinh bột như gạo, ngô, lúa mì, khoai, sắn,… và các loại có chứa xenluloza như gỗ, mùn cưa,… Nói chung là các nguyên liệu có hàm lượng hydrat cacbon cao. Ở Việt Nam sắn là loại cây lương thực quan trọng chứa nhiều tinh bột nên việc thiết kế và xây dựng nhà máy sản xuất cồn từ sắn lát khô với năng suất cao là hoàn toàn phù hợp. Sắn tươi thuộc loại nguyên liệu khó bảo quản. Vì vậy được sử dụng dưới dạng sắn khô: Dễ bảo quản, thuận lợi cho quá trình vận chuyển, đảm bảo quá trình sản xuất liên tục, giảm đáng kể hàm lượng HCN. Xuất phát từ tình hình đó, tôi được giao nhiệm vụ “Thiết kế nhà máy sản xuất cồn 96 0 từ sắn lát khô năng suất 145 tấn nguyên liệungày”.
Xem thêm

161 Đọc thêm

THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT XÚC XÍCH HEO TIỆT TRÙNG NĂNG SUẤT 9.000 TẤNNĂM + CAD

THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT XÚC XÍCH HEO TIỆT TRÙNG NĂNG SUẤT 9.000 TẤNNĂM + CAD

Đời sống con người ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng các sản phẩm ăn liền, ăn nhanh càng lớn. Nắm bắt được điều kiện đó, ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm ăn liền, ăn nhanh không ngừng phát triển – trong đó có công nghiệp chế biến xúc xích. Xúc xích là một loại thực phẩm có truyền thống lâu đời, là một trong những thực phẩm đa dạng và phong phú nhất. Nó là một loại thức ăn dự trữ, một loại thực phẩm giàu năng lượng. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại xúc xích khác nhau. Ở các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam thì xúc xích tiệt trùng là phổ biến hơn cả. Xúc xích tiệt trùng là sản phẩm được làm từ thịt có mùi vị thơm ngon và đa dạng, an toàn vệ sinh, tiện lợi trở thành món ăn nhanh thường ngày cho trẻ em trong vài năm qua, bổ sung nhanh năng lượng, dinh dưỡng, đạm, sắt, kẽm và các vitamin cần thiết có trong thịt.Nhìn chung, nước ta là một nước mạnh về nông nghiệp, phát triển cả về trồng trọt lẫn chăn nuôi – đặc biệt là nuôi heo – Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO năm 2009 đàn heo nước ta có tổng cộng 27,6 triệu con. Đó là một thế mạnh để nước ta phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp chế biến xúc xích. Mặt khác, do xúc xích tiệt trùng mới được sản xuất tại Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây, các nhà máy sản xuất xúc xích là đang còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân.
Xem thêm

57 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy bột mì theo phương pháp khô năng suất 60 tấn sản phẩmca

THIẾT KẾ NHÀ MÁY BỘT MÌ THEO PHƯƠNG PHÁP KHÔ NĂNG SUẤT 60 TẤN SẢN PHẨMCA

Bột mì là sản phẩm được chế biến từ hạt lúa mì. Ở nhiều nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, thực phẩm chế biến từ bột mì là rất phổ biến như bánh mì, bánh ngọt, các loại bánh xốp, mì sợi, kẹo… những món ăn rất ngon, bổ dưỡng và bánh mì là một trong những món ăn chính phổ biến nhất trong nước cũng như trên thế giới, những loại thực phẩm trên thuộc nhóm những thực phẩm cung cấp tinh bột và những chất dinh dưỡng khác. Bánh mì làm từ bột mì thô rất giàu vitamin E và B. Bánh qui, bánh xốp cũng được xếp vào danh sách những loại bánh chứa nhiều tinh bột, sau bánh mì. Bột mì cung cấp một lượng lớn gluxit, các axit amin không thay thế như lizin, treonin, phenylalanin, valin,... và một số axit amin khác. Bột mì nhập từ nước ngoài vào Việt Nam, trong quá trình vận chuyển, bảo quản gặp nhiều khó khăn, không chủ động được nguồn nguyên liệu bột cho các nhà máy chế biến. Giá thành bột cao hơn so với ta nhập lúa mì về nước để sản xuất thành bột mì. Trước những khó khăn đó đòi hỏi phải có giải pháp cho khâu nguyên liệu bột mì. Mặt khác, sự hạn chế về số lượng nhà máy bột mì hiện nay, đặc biệt là khu vực các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên đã đặt ra một vấn đề cấp thiết là phải xây dựng nhà máy sản xuất bột mì nhằm đáp ứng nhu cầu sử dung bột mì của khu vực. Chính vì lý do đó em được giao đề tài: “Thiết kế nhà máy bột mì theo phương pháp khô năng suất 60 tấn sản phẩmca”.
Xem thêm

98 Đọc thêm

Đánh giá độc tính của 3-monocloropropan-1,2-diol (3-MCPD) trên gan, máu và thần kinh của chuột nhắt (FULL TEXT)

ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CỦA 3-MONOCLOROPROPAN-1,2-DIOL (3-MCPD) TRÊN GAN, MÁU VÀ THẦN KINH CỦA CHUỘT NHẮT (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU Thực phẩm luôn là một phần thiết yếu của cuộc sống. Vì thế vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm và các nhà chức trách xã hội. Một số chất có thể gây độc cho cơ thể được cho vào thực phẩm nhằm mục đích bảo quản, tạo màu mùi thu hút, cũng có những chất khác được sinh ra ngay trong quá trình sản xuất. Việc làm rõ mức độ gây độc và kiểm soát những chất mới sinh này luôn là vấn đề nan giải. Năm 1999, lần đầu tiên ở Anh, nước tương nhập khẩu từ Trung Quốc được phát hiện có 3-MCPD với hàm lượng dao động từ 6 - 124mg/Kg [100]. Tuy nhiên, đây không phải là thời điểm đầu tiên 3-MCPD được biết đến mà ngay từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, các nhà khoa học đã biết rằng, những thực phẩm nào được chế biến bằng phương pháp thủy phân chất đạm thực vật bằng HCl đậm đặc đều có chứa 3–MCPD [99]. Năm 1991, sự có mặt của chất này trong thực phẩm đã bắt đầu được mô tả. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, người ta ít để ý đến cho dù hàm lượng 3– MCPD được tìm thấy trong thực phẩm là rất cao, phổ biến ở mức 100mg/kg [100]. 3-MCPD là chữ viết tắt của một chất có danh pháp hóa học là 3-monocloropropan- 1,2-diol, một hóa chất thuộc nhóm cloropropanol. Trong quá trình chế biến nhiều loại thực phẩm (như nước tương, dầu hào, các sản phẩm quay rán, nướng, bánh mì, bánh bích quy …) luôn luôn tồn tại một dư lượng 3-MCPD trong sản phẩm cuối cùng. Ngay cả những thức ăn được chế biến trong gia đình cũng tìm thấy có chứa 3-MCPD nhất là những món thịt được ướp muối và chiên, nướng …[100] Trước đây, nước tương hoặc sản phẩm nước chấm từ đậu nành được chế biến bằng phương pháp lên men truyền thống. Khi công nghệ phát triển, người ta thấy rằng nước tương hoặc sản phẩm đậu tương được sản xuất bằng phương pháp thủy phân bằng acid HCl đem lại hiệu năng rất cao về mặt chất lượng và hiệu suất thành phẩm. Vì thế, phương pháp này ngày càng được ứng dụng nhiều trong công nghệ chế biến nước tương, dầu hào và các sản phẩm từ đậu tương có thông qua quá trình thủy phân. Tuy nhiên, quy trình này lại sinh ra hợp chất 3-MCPD với nồng độ quá mức và được cho là có hại cho sức khỏe [105]. Ở Việt Nam, tháng 11/2001, lần đầu tiên các kiểm nghiệm về chất 3-MCPD được tiến hành và cũng xác minh là nồng độ 3-MCPD có mặt trong một số sản phẩm nước tương bán ở thị trường Việt Nam là cao quá ngưỡng cho phép so với tiêu chuẩn châu Âu. Cho dù đã được nhà nước kiểm soát chặt chẽ hơn, thì cho đến nay cũng đã xảy ra vài vụ nước tương có chứa hàm lượng 3-MCPD bị phát hiện trên thị trường. Điều này cho thấy, 3-MCPD vẫn luôn là mối quan tâm của xã hội, người tiêu dùng vẫn còn tâm lý hoang mang, e ngại còn cơ quan quản lý và các doanh nghiệp thì vẫn băn khoăn chưa tìm ra lời giải cho vấn đề 3-MCPD. Từ 2002, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát và thiết lập ngưỡng tiếp xúc được cho là tương đối an toàn đối với hoá chất này, đặc biệt ở những sản phẩm nước tương hay các thực phẩm được chế biến bằng sự thủy phân đạm thực vật trong môi trường HCl [97]. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu xác định độc tính của 3-MCPD được thực hiện, ví dụ như các nghiên cứu đánh giá độc tính trên thận, hệ sinh dục, thần kinh, và khả năng gây ung thư,…Các nghiên cứu cho thấy rằng 3-MCPD gây thương tổn hệ sinh sản của chuột cống đực, thương tổn dạng tăng sinh và tạo khối u ở thận trên mô hình thực nghiệm động vật, đồng thời có sự gia tăng thương tổn khi liều lượng tiếp xúc gia tăng [97]. Một số nghiên cứu độc tính trên thần kinh trung ương cho thấy 3-MCPD gây nhiều tổn thương trên chất xám, trải dài từ vỏ não cho đến cột sống, làm tăng thể tích nước trong bào tương, gây phù các tế bào hình sao [17], [18], [20]. Dựa trên một số kết quả nghiên cứu được về độc tính của 3-MCPD, giới khoa học phải chấp nhận suy luận ngoại suy là 3-MCPD vẫn có thể có nguy cơ gây hại cho con người. Tuy nhiên để có cái nhìn toàn diện hơn về độc tính của chất này, ngoài các độc tính đã biết của 3-MCPD trên thận và cơ quan sinh dục với nhiều bằng chứng thuyết phục, thì các nghiên cứu về độc tính trên những cơ quan mục tiêu khác như máu, gan, não cũng cần được nghiên cứu nhiều hơn và tìm hiểu sâu hơn. Vì vậy trong luận án này, chúng tôi đặt trọng tâm nghiên cứu đánh giá độc tính của 3-MCPD trên các cơ quan này nhằm cung cấp thêm các dữ liệu khoa học có ý nghĩa cho lĩnh vực an toàn thực phẩm. Đồng thời qua luận án này, chúng tôi cũng mong muốn đề xuất một số phương pháp nhằm có thể ứng dụng cho việc đánh giá độc tính của những hóa chất hay thuốc có nghi ngờ có thể gây ra độc tính trên các cơ quan đích. Cụ thể, mục tiêu của chúng tôi như sau: 1. Đánh giá độc tính của 3-MCPD trên huyết học sau khi gây phơi nhiễm mạn tính trong 6 tháng và 12 tháng. 2. Đánh giá độc tính của 3-MCPD trên nhiễm sắc thể ở các pha cấp tính, bán cấp tính và mạn tính bằng phương pháp vi nhân trên hồng cầu. 3. Đánh giá độc tính của 3-MCPD trên gan thông qua các enzym chức năng gan và khảo sát mô học tế bào gan. 4. Đánh giá độc tính của 3-MCPD trên não chuột nhắt qua sự biểu hiện c-fos và thoái hóa tế bào thần kinh.
Xem thêm

170 Đọc thêm

Nhà khoa học tiết lộ giá trị dinh dưỡng bất ngờ của bèo tấm

NHÀ KHOA HỌC TIẾT LỘ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG BẤT NGỜ CỦA BÈO TẤM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo các nhà khoa học, bèo tấm có thể không ngon miệng nhưng nó có tỉ lệ protein rất cao, thậm chí còn cao hơn tỉ lệ protein có trong đậu nành (45% so với 36%). Trong một hội nghị về công nghệ thực phẩm tại Chicago (Mỹ), các nhà khoa học của Pháp và Tây Ban Nha đã tiết lộ phương pháp làm khô bèo tấm và nghiền nó thành bột protein. Kết quả của quá trình chế biến là một loại thực phẩm màu xanh lá cây, được gọi là Lentein, trong đó chứa 68% protein cũng như chất xơ. Nó có thể dần dần thay thế các sản phẩm thực phẩm như sữa bột được làm từ sữa và đậu nành. Nó cũng khiến người ta yên tâm vì không phải thực phẩm biến đổi gen.   Bèo tấm được các nhà khoa học nói rằng có thể chế biến ra protein. Trước đây, những nhà văn khoa học viễn tưởng đã suy đoán rằng con tàu vũ trụ tương lai có thể mang những thùng nước rất lớn trong đó có các loài thực vật nhỏ có thể sản xuất ra khí oxy và thực phẩm. Công ty thực phẩm Parabel hiện đang làm việc trên một phiên bản màu trắng của Lentein. Công ty này cho biết bèo tấm có thể được thu hoạch từ bể chứa nước mưa mà không cần đất canh tác. Nó có thể được trồng hầu như ở bất cứ nơi nào, miễn là có một nguồn nước. Bèo tấm có thể tăng gấp đôi kích thước trong vòng 16 đến 32 giờ và có thể thu hoạch hàng ngày. Nó cũng có ưu điểm là sử dụng ít nước hơn so với bất kỳ loại cây trồng nào. Cecilia Wittbjers, giám đốc tiếp thị của công ty Parabel cho biết họ phát hiện ra khả năng biến bèo tấm thành thực phẩm vào năm 2011 khi tiến hành nghiên cứu nuôi trồng tảo làm thức ăn. Bà Wittbjers nói: “Đây là một loại cây rất phổ biến ở khắp nơi trên thế giới nhưng phát triển tốt nhất tại vành đai xích đạo. Bạn có thể làm bất cứ điều gì với nó giống như với đậu nành. Mọi người đều muốn củng cố các sản phẩm có protein. Điều đáng kinh ngạc nhất là khả năng sinh sôi nhanh chóng chỉ trong 24 giờ của nó”. Hiện tại công ty này đang xây dựng một nhà máy ở Uganda với công suất thiết kế là 2000 tấn lentein trong năm đầu tiên. Tuy nhiên, Giáo sư Duncan Cameron tại Đại học Sheffield, người không có liên quan gì với sản phẩm này cho biết có một mối quan tâm là cần bao nhiêu nước cho một nhà máy kiểu này và chất lượng dinh dưỡng của nó. Ông nói: “Tôi chưa bao giờ nghĩ nó có thể là một loại thực phẩm. Nhưng bất kỳ nguồn thay thế protein bền vững là quan trọng đối với an ninh lương thực toàn cầu”.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy chế biến thủy sản với 2 mặt hàng: Cá trích rán sốt cà chua và Lươn hun khói ngâm dầu

THIẾT KẾ NHÀ MÁY CHẾ BIẾN THỦY SẢN VỚI 2 MẶT HÀNG: CÁ TRÍCH RÁN SỐT CÀ CHUA VÀ LƯƠN HUN KHÓI NGÂM DẦU

Ngành công nghiệp đồ hộp ra đời khá sớm và trở thành một ngành cung cấp thực phẩm quan trọng cho nhân lọai. Với sự phát triển nhanh chóng, từ thực tiễn, ngành đồ hộp đã hình thành một bộ môn khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nguồn thực phẩm cung cấp cho mọi người. Hiện nay ngành đồ hộp nước ta đang phát triển mạnh, nhiều cơ sở sản xuất đồ hộp được trang bị hiện đại ra đời. Nước ta đã sản xuất hàng trăm mặt hàng đồ hộp và đã đưa vào sản xuất ổn định rất nhiều mặt hàng khác nhau, trong đó có nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Về mặt tiềm năng, chúng ta cũng có nhiều thuận lợi như bờ biển dài, vùng lãnh hải rộng lớn với nguồn nguyên liệu thủy sản phong phú , cộng thêm đó là hệ thống ao hồ, kênh rạch thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản và lươn là một trong những loài thủy sản đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong thực tế, các loại thủy sản được sử dụng để ăn tươi và chế biến thành nhiều mặt hàng nhằm cung cấp tức thời hoặc được dự trữ trong một thời gian nhất định. Nhưng đặc điểm nổi bật của nguồn nguyên liệu thủy sản là rất chóng ươn thối. Vì vậy, việc bảo quản và chế biến phải được đặt lên hàng đầu của khâu chất lượng. Ngoài việc kéo dài thời gian bảo quản, tăng giá trị thương mại của thủy sản thì đồ hộp còn giúp tiết kiệm thời gian chế biến. Việt Nam là nước nông nghiệp vì thế Nhà nước cũng đang có những chính sách để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại với quy mô lớn. Do đó việc xây dựng nhà máy chế biến thuỷ sản có những thuận lợi lớn, luôn được nhà nước tạo mọi điều kiện về nguyên liệu cũng như thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước. Xuất phát từ tình hình đó, tôi chọn đề tài: “Thiết kế nhà máy chế biến thủy sản với 2 mặt hàng: Cá trích rán sốt cà chua năng suất : 7 tấn nguyên liệu ngày Lươn hun khói ngâm dầu –năng suất : 70 Đvsp ca”
Xem thêm

126 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy bột mì theo phương pháp khô với năng suất 50 tấn sản phẩmca

THIẾT KẾ NHÀ MÁY BỘT MÌ THEO PHƯƠNG PHÁP KHÔ VỚI NĂNG SUẤT 50 TẤN SẢN PHẨMCA

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang từng bước phát triển không ngừng kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới năm 1986. Đặc biệt kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, WTO ngày 1112007, kinh tế Việt Nam thời hội nhập đã có những bước phát triển đáng để thế giới và khu vực. Nền kinh tế phát triển đã tạo điều kiện cho đời sống nhân dân ngày một tốt đẹp hơn. Người dân Việt Nam bây giờ không những đủ ăn đủ mặc mà dần nâng lên nhu cầu ăn ngon mặc đẹp. Thực phẩm có nhiều dinh dưỡng, ngon, lạ ngày càng được lựa chọn để bổ sung cho các bữa ăn hằng ngày hoặc các buổi đi chơi, tiệc tùng, họp mặt,…Các loại thực phẩm đó rất phong phú và đa dạng, và được làm từ các loại nguyên liệu khác nhau. Một trong những loại nguyên liệu phổ biến để chế biến các sản phẩm thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay phải kể đến bột mì, bột từ cây lúa mì. Ở Việt Nam tuy không trồng được lúa mì nhưng từ lâu bột mì và các sản phẩm chế biến từ bột mì đã được sử dụng rông rãi trong nhân dân và là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Bột mì nhập từ nước ngoài vào Việt Nam, trong quá trình vận chuyển, bảo quản gặp nhiều khó khăn, không chủ động được nguồn nguyên liệu bột cho các nhà máy chế biến. Giá thành bột cao hơn so với ta nhập lúa mì về nước để sản xuất thành bột mì. Trước những bức xúc đó đòi hỏi phải có giải pháp cho khâu nguyên liệu bột mì. Mặt khác sự hạn chế về số lượng nhà máy bột mì hiện nay, đặc biệt là khu vực các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên đã đặt ra một vấn đề cấp thiết là phải xây dựng nhà máy sản xuất bột mì nhằm đáp ứng nhu cầu sử dung bột mì của khu vực. Với nhiệm vụ đó, em được giao: “Thiết kế nhà máy bột mì theo phương pháp khô với năng suất 50 tấn sản phẩmca”.
Xem thêm

94 Đọc thêm

ĐỒ ÁN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

ĐỒ ÁN CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

Đồ án công nghệ thuộc chuyên ngành công nghệ thực phẩm và đồ uống nhằm tìm hiểu các quy trình chế biến trong công nghệ thực phẩm cũng những ảnh hưởng của các công đoạn trong quá trình sản xuất để tìm ra phương pháp thích hợp cho quá trình sản xuất

27 Đọc thêm

Cùng chủ đề