CÁC ĐỀ TÀI TRONG CA DAO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁC ĐỀ TÀI TRONG CA DAO":

CA DAO VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI MÀ CA DAO THỂ HIỆN

CA DAO VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI MÀ CA DAO THỂ HIỆN

I. GIỚI THIỆU VỀ CA DAO VÀ TIẾNG ĐÀN MÀ NÓ THỂ HIỆNDân tộc Việt Nam của chúng ta có một nền ca dao lâu đời và rất phong phú.Trải qua bốn ngàn năm thăng trầm,người Việt đã đúc kết một kho tàng dân ca thấmđẫm tình yêu Quê hương đất nước. Nghệ thuật gìn giữ và phát triển ca dao từ ngànxưa đã trở thành nét văn hoá đặc biệt của người Việt Nam.Ca dao từ ngàn xưa gắn với cuộc sống vất vả và những sinh hoạt đời thườngnhất của người dân Việt Nam. Nó là những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn,đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lý dân gian sâu sắc.Có ý kiến cho rằng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”.Không vội vàng nói về tính đúng sai của ý kiến này mà chúng ta hãy đi tìm hiểuxem nó có phải là muôn điệu không? Và điều gì đã tạo ra tính muôn điệu của cadao?Ca Dao là cây đàn muôn điệu của đời sống tâm hồn quần chúng. Hình ảnh sosánh ví von ca dao như một cây đàn thật là đặc biệt. Cây đàn thì trong chúng takhông một ai là không biết nó như thế nào rồi. Nhưng ở đây chúng ta hãy nói vềtiếng đàn khi những sợi dây đàn hay phím đàn vang lên. Khi dây đàn chưa rung,phím đàn chưa đánh thì chúng ta chưa thể biết rằng cái gì sẽ đến tiếp theo nữa đây.Tiếng đàn, lúc trầm, lúc bổng, khi thì ngân lên những khúc tráng ca anh hùng,mạnh mẽ, đôi khi lại ngân lên những khúc ca thê lương, ai oán. Số phím, số dâyđàn trên một cây đàn thì ta có thể đếm được, đoán được nhưng những tình cảm,tâm tư trong một giai điệu không ai có thể đếm cho hết được cả. Khi nó vang lênhùng hồn, mãnh liệt, khi thì lại ai oán tới não lòng. Nó rất phù hợp với ca dao bởivì chưa có một mảng nào trong đời sống con người mà ca dao không phản ánhđược hết cả. Ca dao chính là tiếng lòng của con người, là tiếng cười của cuộc sốnghàng ngày và tiếng than thân trách phận.Để nói về tính muôn điệu của ca dao chúng ta hãy đi tìm hiểu về những đề tàimà ca dao thể hiện. Những đề tàica dao thể hiện bắt nguồn từ thực tế cuộcsống lao động, sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tếtrước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động. Chính vìvậy, những hình ảnh của ca dao mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình,những nổi niềm thân phận. Toát lên từ những lời ca, ý thức về phẩm giá, nhân
Xem thêm

25 Đọc thêm

ca dao và những đề tài mà ca dao thể hiện

CA DAO VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI MÀ CA DAO THỂ HIỆN

Dân tộc Việt Nam của chúng ta có một nền ca dao lâu đời và rất phong phú. Trải qua bốn ngàn năm thăng trầm,người Việt đã đúc kết một kho tàng dân ca thấm đẫm tình yêu Quê hương đất nước. Nghệ thuật gìn giữ và phát triển ca dao từ ngàn xưa đã trở thành nét văn hoá đặc biệt của người Việt Nam. Ca dao từ ngàn xưa gắn với cuộc sống vất vả và những sinh hoạt đời thường nhất của người dân Việt Nam. Nó là những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn, đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lý dân gian sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: “Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”. Không vội vàng nói về tính đúng sai của ý kiến này mà chúng ta hãy đi tìm hiểu xem nó có phải là muôn điệu không? Và điều gì đã tạo ra tính muôn điệu của ca dao?
Xem thêm

24 Đọc thêm

Khoá luận tốt nghiệp nghi thức nói vòng trong ca dao việt nam

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGHI THỨC NÓI VÒNG TRONG CA DAO VIỆT NAM

... đây, luận văn góp phần làm sáng tỏ lí thuyết nghi thức nói vòng ca dao Việt Nam sở để tạo kiểu nói vòng ca dao Việt Nam biện pháp nghệ thuật ẩn dụ Đề tài khẳng định nghi thức nói vòng ca dao, ... mà dịu dàng Từ ta thấy rõ mục đích nghi thức nói vòng ca dao Việt Nam Nói vòng sử dụng nhiều ca dao tỏ tình, đôi lứa Không có ca dao mà ca dao sau mục đích nói vòng thể rõ, nhằm thể ý tứ tỏ tình... 20 7.9% Nói vòng nhăm mục đích khác (từ chôi, từ phủ định đến khẳng định ) 2.2 Miêu tả nghi thức nói vòng ca dao Việt Nam 2.2.1 Nói vòng nhằm mục đích tỏ tình Ca dao Việt Nam có nhiều ca dao thể
Xem thêm

52 Đọc thêm

Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ

VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ QUA CA DAO, TỤC NGỮ

Trong những sáng tạo của con người thì ăn, mặc, ở, đi lại là những lĩnh vực gần gũi nhất, trực tiếp nhất với đời sống con người cho nên nó có ý nghĩa rất quan trọng để nhận diện đặc trưng văn hóa thông qua những sáng tạo trong văn hóa đảm bảo đời sống. Với ý nghĩa đó để triển khai một đề tài rộng lớn hơn thì bước đầu chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu ở cấp độ nhỏ là: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ làm cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu ở cấp độ lớn hơn.
Xem thêm

93 Đọc thêm

TỔ CHỨC DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ, TÍCH HỢP CA DAO, TỤC NGỮ VÀO MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN”

TỔ CHỨC DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ, TÍCH HỢP CA DAO, TỤC NGỮ VÀO MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN”

MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tàiViệt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước. Viễn cảnh sôi động, tươi đẹp nhưng cũng nhiều thách thức, đòi hỏingành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộvề mọi mặt. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy họcvà phương tiện dạy học. Trong kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Trungương 2 khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và nguyên nhân: “Hoạt động họctập trong các nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là hướng vào mục đíchkhoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy ,người học, người quản lý coitrọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn. Phương pháp giáo dục nặng vềáp đặt thường khuyến khích tiếp thu một cách máy móc, chưa khuy ến khíchsự năng động, sáng tạo của người học...”Những thiếu sót trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 24.2“Phương pháp giáo d ục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đemlại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. (Luật giáo dục năm 2005).Chúng ta biết rằng, môn giáo dục công dân về thực chất là giáo dục conngười, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Nhưng giáo dụcnhư thế nào để hiệu quả, giáo dục như thế nào là đủ, là đúng thì chúng ta vẫnchưa có câu trả lời chính xác. Học sinh thường có tư tưởng xem nhẹ môn họccoi đó là môn phụ, thấy môn học khô khan, dễ nhàm chán, trừu tượng, khóhiểu, những điều học xong thường không được thực hành. Việc học môn họcnày đối với học sinh thường mang tư tưởng đối phó, học vẹt. Một tuần chỉ họccó một tiết mà môn học lại không thi tốt nghiệp nên học sinh thờ ơ, xem nhẹ.Học sinh thường tỏ ra không hứng thú, thiếu đầu tư cho môn học, thiếunghiêm túc khi học.1
Xem thêm

84 Đọc thêm

kinh nghiệm dự báo thời tiết

kinh nghiệm dự báo thời tiết

Đề tài : “Tìm hiểu kinh nghiệm dự báo thời tiết khí hậu của nhân dân qua một số câu tục ngữ và ca dao Việt Nam” góp phần giúp học sinh học địa lý hiểu rõ được cơ sở khoa học của các câu tục ngữ, ca dao dự báo thời tiết khí hậu được lưu truyền trong dân gian, đồng thời qua đó đối chứng kiểm nghiệm kiến thức đã học trong sách vở với thực tế trong nhân dân.”

Đọc thêm

Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ

Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài luận văn Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng. Nó là nơi thể hiện rõ nhất điệu tâm hồn dân tộc (Tố Hữu), phô diễn trực tiếp thế giới tâm hồn của con người, biểu đạt những tình cảm, cảm xúc đa dạng của nhân dânNó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lao động. Bởi vậy, ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người Việt Nam. Nó là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam qua bao thế hệ. Từ cái thủa vẫn còn nằm nôi, chúng ta đã được nghe những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà, của mẹ. Tuy vậy, ca dao có sự khác biệt giữa vùng miền, cụ thể là sự khác biệt giữa ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ đã khá quen thuộc với chúng ta còn ca dao Nam Bộ đang trong quá trình khảo cứu. Đó là bởi vì ca dao Nam Bộ ra đời muộn. Nam Bộ là một mảnh đất được khai sinh trong hành trình lịch sử Nam tiến của dân tộc. Đây là vùng đất “sinh sau đẻ muộn” , nhưng đây thường được gọi là vùng đất nhiều tài nguyên và mang nét văn hóa đặc sắc. Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này cũng đã để lại những dấu ấn văn hóa riêng. Đáng chú ý là ca dao bởi nó được xem là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con người nơi đây. Ca dao miền Nam vẫn có sức sống mãnh liệt. Nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được. Tuy vậy, từ trước đến nay, ca dao Nam Bộ chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước. Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ bác học; hay đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử... Chương trình văn học có sự mất cân đối, nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót. Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế. Sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh Nam Bộ trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ. Chúng ta cần dành một chỗ đứng thích đáng cho ca dao miền Nam. Trả lại cho văn chương và ca dao miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều người. Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông đã bổ dung thiếu sót này bằng việc yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ cũng là điều cần thiết và bổ ích trong quá trình giảng dạy của mình. Trong ca dao Nam Bộ có những hình ảnh thường gặp phản ánh rõ nét thiên nhiên, đời sống con người Nam Bộ. Những hình ảnh ấy đơn giản mộc mạc như chính vùng đất non trẻ này của đât nước. Chất nôm na, chất phác của lớp người bình dân đã thấm đẫm trong cái nhìn về cuộc sống, vạn vật. Qua cái nhìn của người dân Nam Bộ, ta thấy vẻ hoang vu của thiên nhiên một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước. Ta còn thấy những sự vật đặc trưng của Nam Bộ như cái cầu khỉ, bông điên điển, trái bần,…hay con sấu, con rắn,… Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:“Tới đây sứ sở lạ lùngChim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghꔓ Chèo ghe sợ sấu ăn chưngXuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma”. Cùng với đó là hình ảnh con người Nam Bộ chất phác. Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này. Họ đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng lực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật. Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:Chiều chiều ông Ngữ thả câu Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông (sưu tầm ở Phú TânAn Giang) Đem đối sánh với ca dao Bắc Bộ, ta sẽ có những phát hiện thú vị. Nếu ca dao Bắc Bộ ngọt ngào thì Nam Bộ chân chất. Nếu Bắc Bộ giàu hình ảnh miền Bắc thì Nam Bộ mang hình ảnh của một thiên nhiên mới khai phá, cùng nếp sống đậm chất miền Nam. Nếu con người Bắc Bộ nhẹ nhàng, trừ tình thì con người Nam Bộ mang nét đẹp khỏe khắn của người mở cõi.Vì vậy, chúng tôi chọn khảo cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ là đối tượng nghiên cứu cho đề tài này. Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung.2. Lịch sử nghiên cứu Từ trước đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn. Đầu tiên là các công trình về ca dao Nam Bộ. Tiêu biểu là công trình “Ca dao dân ca Nam Bộ”(1984) của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình này có những bài nghiên cứu chung về ca dao Nam Bộ. Tiếp theo là công trình “Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long” (1999) của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Cần Thơ, NXB Giáo Dục. Công trình này chủ yếu công bố những tư liệu đã sưu tầm được về các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian ở đồng bằng sông Cửu Long. “Ca dao Đồng Tháp Mười” của Đỗ Văn Tân chủ biên, Sở VHTT Đồng Tháp xuất bản, 1984 cũng là cuốn sách có nhiều tư liệu để nghiên cứui đối chiếu. Ngoài ra, có nhiều công trình lẻ tẻ nói về ca dao từng tỉnh Nam Bộ, như công trình “Văn học dân gian Bến Tre” (1988) của Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đã chú ý nét riêng và nhấn mạnh một hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt hình thức là hiện tượng là những bài ca có ba dòng lời . Tác giảcó nêu sốliệu khảo sát nhưng không lý giải. Về ngôn ngữ ca dao, tác giả khái quát mang đặc điểm của phương ngữ, nhất là phương ngữ Nam bộ, ngôn ngữ đầy sức sống, tươi rói, tác động mạnh vào cách nhìn, cách nghe của con người . Đối với vấn đề này, tác giả chỉ dừng lại bằng việc nêu ví dụ. Tuy nhiên, đây là những gợi ý quý báu mà trong luận văn này chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn. Phần sau là công bốnhững tư liệu đã sưu tầm về các thể loại. Trong đó ca dao là 88 trang (với 900 bài). Tiếp đó là công trình nghiên cứu “Văn học dân gian Bạc Liêu” do Chu Xuân Diên chủ biên, NXB Văn nghệ TP HCM, 2005. Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 354 bài ca dao. Để đối chiếu, so sánh, chúng tôi có nghiên cứu bổ sung về ca dao Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ phong phú hơn và được nghiên cứu từ rất lâu. Ở đây, để lấy được các hình ảnh trong ca dao Bắc Bộ mà so sánh với Nam Bộ, chúng tôi đã xem xét các tài liệu như: “Ca dao ngạn ngữ Hà Nội” 20 và Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh Phú 119 , Dân ca quan họBắc Ninh 113, song tài liệu 20 và tài liệu 119 có số lượng bài ít.Như vậy, qua những công trình giới thiệu trên đây chúng tôi không thấy công trình nghiên cứu riêng về hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ chưa có. Phần lớn những nghiên cứu về hình ảnh ca dao Nam Bộ được viết chung trong phần nghiên cứu về ca dao Nam Bộ. Việc khảo sát những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ vẫn chưa trở thành đề tài nghiên cứu trọn vẹn. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ khảo sát những hình ảnh xuất hiện trong ca dao Nam Bộ một cách có hệ thống.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Đề tài nhằm góp phần vào việc tìm hiểu diện mạo chung của ca dao Nam Bộ. Làm rõ những hình ảnh thường gặp của ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ và qua đó hiểu thêm đời sống văn hoá tinh thần của con người Bến Tre. Đề tài cũng khẳng định những giá trị đã tạo nên vẻ đẹp, sức sống của ca dao Nam Bộ. Từ đó phát huy những vẻ đẹp đó để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần bảo tồn ca dao Nam Bộ.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: chúng tôi chọn nghiên cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ. Phạm vi nghiên cứu:Trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát ca dao Nam Bộ về hình ảnh quen thuộc trong so sánh với ca dao Bắc Bộ. Theo định hướng đã đề ra như trên, đối tượng mà người viết khảo sát là những bài ca dao trữ tình của dân tộc Việt ở đất Nam Bộ, không khảo sát ca dao lao động và nghi lễ. Việc gọi câu hát dân gian, bài hát dân gian, bài ca, lời thơ dân gian, đơn vị tác phẩm trong luận văn này đều là một, chỉ bài ca dao. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận vănTrong quá trình thực hiện đềtài luận văn, chúng tôi sửdụng một sốphương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp sưu tầm: Văn học dân gian ra đời sớm và được lưu lại trong trí nhớcủa nhân dân bằng con đường truyền miệng. Trước đây, việc sưu tầm ca dao đã được tiến hành nhưng chưa thể nào tập hợp hết những bài ca dao tồn tại trong trí nhớ của nhân dân. Để có thêm tư liệu trong quá trình khảo sát, cũng như góp phần nhỏ trong công tác sưu tầm tập hợp, chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm. Phương pháp thống kê: Việc sửdụng phương pháp thống kê giúp chúng tôi tính toán được sốlượng nhiều hay ít của các từngữ, công thức, hình ảnh… trong ca dao. Phương pháp này giúp đưa ra được những số liệu cụ thể, chính xác về vấn đề cần khảo sát. Từ đó dẫn đến những kết luận khách quan. Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệthống là cách đặt những bài ca dao Nam Bộ trong cùng một hệthống như hệthống ca dao cả nước để thấy được nét chung cũng như nét riêng của nó. Phương pháp phân tích, so sánh: Tìm ra những điểm giống và điểm khác của ca dao Nam Bộ với ca dao của Bắc Bộ, người viết phải phân tích, đối chiếu những bài ca dao Nam Bộ với những bài ca dao Bắc Bộ. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này dùng để lý giải cho những hình ảnh ca dao Nam Bộ. Kiến thức của nhiều ngành khác nhau như: lịch sử, địa lí,dân tộc học, văn hóa học… sẽrất hữu ích trong việc nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lí luận:Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung. Ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương, đặc biệt ở miền Trung và Nam. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ nói chung và hình ảnh trong ca dao Nam Bộ nói riêng là điều cần thiết và bổ ích. Nó sẽ là tư liệu bổ sung cho việc giảng dạy kiến thức địa phương ở các trường THPT miền Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm 3chương: Chương I: Nhìn chung về ca dao Nam Bộ. Chương II: Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ Chương III: Đặc điểm nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ.
Xem thêm

Đọc thêm

Đặc trưng giới tính biểu hiện qua ca dao Nam Bộ

ĐẶC TRƯNG GIỚI TÍNH BIỂU HIỆN QUA CA DAO NAM BỘ

Ca dao Việt Nam là lời ăn tiếng nói của nhân dân truyền từ bao đời, là trí tuệ tình cảm của xã hội đúc kết từ ngàn đời.Ca dao Nam Bộ là một bộ phận không thể thiếu trong dòng chảy từ ngàn đời ấy. Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao Nam Bộ chiếm một vị trí khá phong phú. Đến với ca dao Nam Bộ, chúng ta như đặc chân đến vườn hoa rực rỡ hương sắc. Vẻ đẹp của ca dao Nam Bộ là vẻ đẹp của những bông hoa đồng nội. Nó là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, là lời than vãn về thân phận tủi hờn đắng cay, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, là lời phản kháng các thế lực, tình yêu namnữ, tình yêu quê hương đất nước, là những kinh nghiệm quý báo rút kết từ ngàn đời. Nó là một trong những thửa ruộng vô cùng quý báo đang hiện hữu, nuôi dưỡng mọi thế hệ tâm hồn con người của vùng đất Nam Bộ. Do vị trí đặc biệt quan trọng, ca dao Nam Bộ là một phần trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, cũng như trong lòng đọc giả thưởng thức. Cho nên, việc tìm hiểu ca dao Nam Bộ ở bắt cứ lĩnh vực nào cũng được xem là một bước khám phá rất có ý nghĩa. Đã có một mảng đề tài phản ánh nhận thức, tình cảm của xã hội hiện nay trong ca dao, khá đậm nét đó là đặc trưng giới tính. Trong những năm gần đây, ngôn ngữ học xã hôimột ngành mới phát triển rất quan tâm về vấn đề giới tính. Nhưng giới tính thể hiện qua ca dao Nam Bộ thế nào thì vấn đề đó còn là một câu hỏi cần có sự giải đáp cụ thể qua điều tra, khảo sát và phân tích ngữ liệu. Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “Đặc trưng giới tính biểu hiện qua ca dao Nam Bộ”.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Tình yêu lứa đôi trong ca dao

Tình yêu lứa đôi trong ca dao

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian , kho tàng qúi giá của đất nước đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành một thành tố quan trọng trong nền văn học Việt Nam. Có rất nhiều mảng đề tài về ca dao như: ca dao về tình cảm gia đình, ca dao tình yêu quê hương đất nước, ca dao về sản xuất lao động, ca dao sản vật thiên nhiên, nhưng không thể bỏ qua mảng đề tài “Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”. Từ xưa đến nay tình yêu luôn là một đề tài vô tận của văn chương, các nhà thơ nổi tiếng viết về tình yêu như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh, Nguyễn Bính... tùy vào mỗi phong cách mà nhà thơ có cách cảm nhận về tình yêu khác nhau, trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính có hai câu thơ, mang nỗi niềm cảm xúc của một người đang yêu, nhớ nhung đến phát bệnh: “Nắng mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Xuân Diệu thốt lên rằng: “ Làm sao sống được mà không yêu, Không nhớ không thương một kẻ nào”. Đó là cách cảm nhận về tình yêu trong thơ ca có một sự mạnh mẽ, dám thổ lộ hết cảm xúc của mình, đến với “Tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” không hoa mĩ trau chuốt mà thể hiện một cách rất là bình dị mộc mạc, dễ hiểu, rất thật với cuộc sống và gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, chàng trai yêu mà chẳng dám thổ lộ tình cảm , nhếnh nhác bằng hành động ngắt cọng ngò: “Đưa tay anh ngắt cọng ngò, Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất thấp, kênh rạch chằng chịt, dòng sông là vẻ đẹp của thiên nhiên tạo hóa, cho nên ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cây cầu khỉ bắc ngang những con sông nhỏ, những con đò đưa khách sang sông, bến nước...đó là những hình ảnh quá quen thuộc, rất là gần gũi với người dân miệt sông nước, chính vì điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên tạo thành một khoảng cách cho các cuộc gặp gỡ của các đôi nam nữ đang yêu nhau. Hình ảnh cây cầu đã được phổ nhạc, nếu đã là người dân miệt sông nước thì chắc hẳn ai cũng đã nghe qua bài hát “Cây cầu dừa ”rất nổi tiếng do nhạc sĩ Hàn Châu sáng tác, đó là hình ảnh của một cô gái xa quê đã lâu, nhưng về quê lại không đi qua được cầu dừa, đó là một hình ảnh rất thực nhưng lại ngộ nghĩnh và đáng yêu. Không chỉ dừng lại ở đó cây cầu đã đi vào trong “ ca dao tình yêu”, bằng sự mời mộc chân thành của chàng trai: “Bắc cầu cho kiến leo qua, Cho ai bên ấy sang nhà tôi chơi”. Để tìm hiểu con người và tình cảm gắn bó chân thành của con người Đồng bằng sông Cửu long. Nơi tôi được sinh ra và lớn lên và là vùng đất hoang sơ, huyền bí “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh” là mảnh đất được hình thành sau nhất của bản đồ Việt Nam. Là nơi tạo nên tình yêu của những chàng trai hiền lành chất phác, thiệt thà đáng yêu, bên cạnh đó với những cô gái tuổi mới trăng tròn, đang độ tuổi biết yêu , e thẹn, nụ cười hồn nhiên, mang chút gì đó dễ thương của người miền Tây. Các anh chàng cô gái cũng rất mạnh mẽ và táo bạo trong tình yêu. Vì thế tôi muốn đi sâu tìm hiểu mảng đề tài “ Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” người dân vùng sông nước đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng đất được mệnh danh là “ Chín Rồng”. 2. Lịch sử vấn đề Ca dao là kho tàng qúi giá về tinh thần của người Việt Nam. Bởi thế ca dao luôn là đề tài đối các nhà nghiên cứu văn học dân gian nói riêng và những người đam mê văn học nói chung. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về ca dao nói chung là vấn đề được nhiều người quan tâm tìm hiểu. Sau đây là một số công trình nghiên cứu: Năm 1986, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh có công trình Ca dao – dân ca Nam Bộ bài viết đã thể hiện đặc điểm cũng như tính chất của ca dao Nam Bộ là luôn gắn liền với quê hương đất nước, lao động sản xuất tình duyên gia đình hay là bằng hữu bằng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc: “Trong văn học dân gian có một bộ phận sáng tác bằng thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làng điệu âm nhạc, để diễn đạt các khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình quan hệ bằng hữu các vấn đề xã hội đó là một bộ phận của Ca dao dân ca Nam Bộ 1;19 Năm 1992, Nguyễn Xuân Kính có công trình Thi pháp ca dao. Bài viết này, tác giả đã phân tích đầy đủ các yếu tố thi pháp của ca dao như ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật… đã cho ta cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn về nghệ thuật trong ca dao Việt Nam cũng như sự khác biệt cơ bản của loại hình văn học dân gian với các loại hình văn học khác: “Xét về mặt thi pháp bên cạnh những đặc điểm giống thơ của các tác giả thuộc dòng văn viết, ca dao có những đặc điểm riêng biệt. Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, về thể thơ 95% ca dao cổ truyền được sáng tác theo thể lục bát, thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, diễn xướng, không gian nghệ thuật chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị”3;289 Năm 2007, Bích Hằng có công trình nghiên cứu Ca dao Việt Nam trong đó có nhận định “ Ca dao Việt Nam là viên ngọc qúy luôn tỏ sáng trong kho tàng văn hohjc dân gian việt Nam. Với ngôn ngữ tinh tế, sinh động, duyên dáng, giàu hình tượng và đày chất thơ, ca dao luôn đi vào lòng người, được người người thuộc nhớ, trau chuốt và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác”3;5 Nghiên cứu về ca dao nói chung có rất nhiều công trình như đã nêu trên. Riêng về tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông cửu Long thì có công trình nghiên cứu: Năm 1997, Chu Xuân Diên có công trình Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long bài viết này tác giả đã bao quát tương đối đầy đủ các loại chính của văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long như truyện địa danh và các sản vật địa phương, truyện loài vật, truyện liên quan đến lịch sử và văn hóa, ca dao¬ dân ca… Nó cho ta biết thực trạng tồn tại của văn học dân gian trong nhân dân thuộc một vùng được xác định cả về không gian và thời gian: “Vùng văn học dân gian đã được biết đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX qua các tài liệu sách báo. Từ sau thế kỉ XX đặc biệt là những thập niên gần đây đã làm phong phú rất nhiều những hiểu biết về văn học dân gian này”4;3 Đối với đề tài “ Tình yêu đôi lứa” tôi muốn hướng người đọc đến với cái nhìn rộng hơn, đa chiều về con người và vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài, chúng tôi hướng đến mục đích sau: khám phá, thể hiện, nét đẹp về tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng. Chỉ ra được nét đặc sắc về nghệ thuật thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Làm rõ nét riêng của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long khi viết về tình yêu lứa đôi. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: nội dung ca dao rất phong phú đa dạng nhưng do yêu cầu của đề tài người viết chỉ tìm hiểu “Tình yêu lứa đôi trong ca dao”. Phạm vi nghiên cứu: những bài ca dao viết về tình yêu trong cuốn văn học nhân gian Đồng bằng sông Cửu Long của khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp khảo sát: khảo sát các bài có liên quan đến đề tài. Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: tìm kiếm các tài liệu có liên quan đến đề tài. Phương pháp phân tích: phân tích rõ những vấn đề trong ca dao. Phương pháp bình giảng: làm sáng tỏ kết hợp với đánh giá các bài ca dao, nhằm mục đích chỉ ra cái hay cái đẹp trong ca dao. Ngoài ra người viết còn kết hợp thêm các thao tác: chứng minh, giải thích, so sánh, bình luận… Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Vài nét về vùng đất và con người Đồng bằng sông Cửu Long 1.1.1 Vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 1.1.2. Con người Đồng bằng sông Cửu |Long 1.2. Vài nét về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 1.2.1. Khái niệm 1.2.2. Đặc điểm ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Chương 2 NHỮNG CUNG BẬC CẢM XÚC TÌNH YÊU TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2.1. Sự gặp gỡ và lời tỏ tình trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.1.1. Sự gặp gỡ 2.1.2. Lời tỏ tình 2.2. Nỗi nhớ nhung và tương tư trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.2.1.Nỗi nhớ nhung 2.2.2. Nỗi tương tư 2.3. Lời thề nguyền và hẹn ước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.3.1. Lời thề nguyền 2.3.2. Lời hẹn ước 2.4. Nỗi đau khổ và oán trách khi tình yêu không trọn vẹn 2.4.1. Nỗi đau khổ 2.4.2. Nỗi oán trách Chương 3 THUẬT NGHỆ THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3.1. Cách xưng hô của tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.2. Nghệ thuật so sánh và nghệ thuật ẩn dụ thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.2.1. Nghệ thuật so sánh thể hiện tình yêu đôi lứa 3.2.2 Nghệ thuật ẩn dụ thể hiện tình yêu đôi lứa 3.3. Nghệ thuật nhân cách hóa và biểu tượng tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.3.1. Nhân cách hóa 3.3.2. Biểu tượng tình yêu đôi lứa 4. KẾT LUẬN
Xem thêm

Đọc thêm

CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP

CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP

CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP cơ sở khoa học của đề tài; nhân vật trữ tình, hoàn cảnh điển hình, kết cấu và thể thơ lục bát của ca dao; hình ảnh văn học và ngôn ngữ ca dao

18 Đọc thêm

Biểu tượng dòng sông trong ca dao trữ tình người việt (KL07168)

BIỂU TƯỢNG DÒNG SÔNG TRONG CA DAO TRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT (KL07168)

... trên, ngƣời viết lựa chọn đề tài Biểu tƣợng dòng sông ca dao trữ tình ngƣời Việt Mục đích nghiên cứu Chọn đề tài Biểu tƣợng dòng sông ca dao trữ tình ngƣời Việt , ngƣời viết mong muốn đóng... hình ảnh dòng sông đƣợc gợi nhắc ca dao nhƣ lẽ tất yếu để qua nói lên nỗi lòng Trong viết: “Hình tƣợng sông nƣớc ca dao trữ tình Nam Bộ”, Trần Thị Diễm Thúy có nói: Trong ca dao dân ca Việt Nam... thuyết biểu tƣợng biểu tƣợng dòng sông Chƣơng 2: Dấu ấn địa – văn hóa biểu tƣợng dòng sông ca dao Chƣơng 3: Các dạng thức ý nghĩa biểu trƣng dòng sông ca dao NỘI DUNG Chƣơng GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU
Xem thêm

60 Đọc thêm

Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao đồng bằng sông cửu long

CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1. Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là tiếng nói tâm tình của người bình dân, là nơi bộc lộ những tư tưởng tình cảm, những nỗi nhớ thương, là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của nhân nhân lao động thời xưa. Nói đến ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nói đến cái sâu lắng với muôn nghìn cung bậc tình cảm của con người. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay ca dao luôn có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu. 1.2. Khi bàn về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan mà người ta thường quan tâm đến đối tượng này từ góc độ văn học. Cánh cửa ngôn ngữ học, đặc biệt là phân môn Ngữ dụng học vẫn còn là một lối đi khá mới mẻ và hấp dẫn những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này. 1.3. Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu văn học dân gian nói chung, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là vấn đề thời sự được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bước đầu đã có những kết quả tốt. Trên ý nghĩa đó việc tiếp tục tìm hiểu ca dao Đồng bằng sông Cửu Long dưới ánh sáng của Ngữ dụng học là một việc làm cần thiết giúp đối tượng này được soi chiếu dưới nhiều chiều khác nhau của ngôn ngữ. Và đó chính là nguyên nhân giúp chúng tôi chọn đề tài “Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”
Xem thêm

86 Đọc thêm

 TIẾNG CƯỜI TRONG CA DAO

TIẾNG CƯỜI TRONG CA DAO

Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đã chứa đựng nghệ thuật sống của người bình dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời       Bên canh mảnh ca dao trữ tình, ca dao hài hước cũng phản chiếu một khía canh khác trong tâm hồn của người bình dân ngày xưa, chứa đựng tinh thần lạc quan, sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng của nhân dân. Không những thế, tiếng cười trong ca dao cũng chính là những uất ức bất bình, những thái độ ứng xử, điều chỉnh hành vi, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp công bằng hơn.       Ca dao hài hước chứa đựng cái nhìn, thái độ, tình cảm của người bình dân trước các hiện tượng đời sống mối quan hệ tình cảm giữa người với người. Không những thế tiếng cười còn là vũ khí tinh thần giúp họ vượt lên bao khó khăn của đời sống. Tiếng cười trong ca dao phong phú nhiều cung bậc, có khi là tiếng cười trào lộng dí dỏm, có khi là tiếng cười chua chát trước sự thật đáng cười đáng chán, cũng có khi là tiếng cười phản kháng trước thực trạng xã hội còn nhiều thứ bất công ngang trái.      Từ thực tại còn nhiều vất vả cay cực, người bình dân đến với nhau trong tiếng đùa vui, mượn tiếng cười ngỏ bày tâm tình một cách ý vị: “Cưới nàng anh toan dẫn voi, Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn”.       Chàng trai ngỏ lòng với cô gái bằng lối nói khoa trương để cho thấy ngay rằng anh đang đùa. Nhưng liệu có phải hoàn toàn là một. lời nói đùa không? Có thể hình dung ra hoàn cảnh của đôi nam nữ yêu nhau qua bài ca dao: họ sống nghèo khổ nhưng vô cùng lạc quan. Lời đối đáp có chút tinh nghịch nhưng cũng thoáng chút ngậm ngùi cho phận nghèo. Ngôn ngữ phóng đại khoa trương khỏa lấp đi một sự thật mà người đời quen gọi là “nói khoác” thực ra đã mang một ý vị chua chát đả phá vào những hủ tục ngăn cách con người tìm đến với nhau. Chàng trai đã có những lễ vật dẫn cưới thật sang trọng: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò... nhưng cuối cùng lại là con chuột béo thật ấn tượng. Lí giải thật hợp tình hợp lẽ: con voi to đùng kia là hàng quốc cấm - phép nước luật vua không cho phép, dẫn trâu dẫn bò thì lo họ hàng nhà gái máu hùn, co gân - chứng tỏ chàng trai là người “chu đáo” với đàng gái biết bao! Sợ cho nhà gái hay là một lời đay nghiến, mỉa mai những người đã nghĩ ra chuyện thách cưới ác nghiệt khiến cho đôi lứa phải chịu cảnh dở khóc dở cười. Con chuột béo là một thái độ đáp lại bằng cách giễu cợt cay chua. Nhưng lời đáp lại của cô gái dù đùa vui mà lại ẩn chứa một nỗi lòng đáng quý: “Chàng dẫn thế em lấy làm sang, Nỡ nào ern lại phá ngang như là... Người ta thách lợn thách gà, Nhà em thách cưới một nhà khoai lang...”       Ngầm chứa trong lời đáp là sự động viên chàng trai vững tâm để đi đến hạnh phúc, vẫn là thách cưới nhưng chàng trai hoàn toàn có thể đáp ứng được bằng chính sức lao động của mình. Cái tinh tế trong lời cô gái vừa là phản ứng trước việc thách cưới phá ngang, vừa là mong mỏi chàng trai là người cần cù siêng năng xứng đáng với tấm tình của cô. Không những thế, cô còn đem tới lời nhắn nhủ về sự cần kiệm: củ to mời làng, củ nhỏ mời họ, và không bỏ sót củ mẻ, củ rím, củ hà. Lời đáp khéo léo ấy đem lại niềm hi vọng và lạc quan về hạnh phúc.        Ca dao hài hước còn mang theo những suy ngẫm về thực trạng xã hội phong kiến vốn dành ưu ái đặc quyền cho nam giới, vẫn là mô típ làm trai cho đáng nên trai nhưng không phải là lời ca ngợi vào khả năng “vá trời lấp bể” mà chỉ là: “Làm trai cho đáng sức trai, Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng.”       Từ bản chất của những người yêu lao động, người bình dân phê phán và chế giễu những kẻ lười biếng mà huênh hoang. Ý nghĩa hài hước toát ra từ hình ảnh đối nghịch: sức dài vai rộng mà lại Khom lưng chống gối chì để gánh hai hạt vừng. Động tác kia chẳng khác nào mô phỏng hình ảnh các vị chức sắc quan lại chỉ giỏi khom lưng luồn cúi, chống gối quỵ lụy để tiến thân. Người bình dân chế giễu những kẻ vô tích sự ấy, mang tiếng là gánh vác sơn hà nhưng thực tế chẳng khác nào những bọn vô công rỗi nghề ăn bám người khác. Thật bất hạnh cho những ai vớ phải một ông chồng như thế! Ca dao cũng sẫn những lời ta thán của những người phụ nữ: “Chồng người đi ngược về xuôi, Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”        Trong quan hệ gia đình, có lẽ phải gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ thì người vợ mới có chuyện so sánh chồng minh với chồng người. Hình ảnh anh chồng thật thảm hại trong tương quan đi ngược về xuôi với sờ đuôi con mèo. Bất cứ người phụ nữ nào cũng mong muốn chồng mình giỏi giang cáng đáng việc quốc gia đại sự hay chí ít cũng là trụ cột gia đình. Còn anh chồng trong bài ca dao này cứ quẩn quanh xó bếp, nhu nhược hèn kém. Nhưng lời than thở giận hờn ấy không thay đổi được số phận. Than thở thế thôi, dẫu gì cũng vẫn là chồng em, vẫn là nghĩa tình duyên nợ với nhau. Đằng sau lời ca dao ấy là nỗi lòng trĩu nặng, phản chiếu một mong mỏi chồng mình cũng được bằng anh bằng em, để người vợ có thể mở mày mở mặt.      Trong ca dao không chỉ có tiếng cười chế giễu mà còn bao tiếng cười đầm ấm tình thương yêu gắn bó với nhau. Người bình dân biết cười đời và cũng biết cách cường điệu phóng đại những tật xấu của mình để tự cười mình. Không phải là tiếng cười thiên lệch dành cho nam giới mà cả giới nữ cũng có nhiều cái đáng cười. Điểm đặc biệt là tất cả những sự lệch chuẩn ấy đã thành cái đáng yêu trong một gia đình hạnh phúc: “Lỗ mũi em mười tám gánh lông, Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho. Đêm nằm thì ngáy o o... Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Đi chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm. Trên đầu những rác cùng rơm, Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!”       Chắc không người phụ nữ nào lại tự lôi ra tất cả những “thói hư tật xấu” của mình đầy đủ đến thế với một cách nói phóng đại tô đậm những cái hoàn toàn ngược với chuẩn mực “Công - Dung - Ngôn - Hạnh” phong kiến. Không hề gò mình ép khuôn vào một cách sống giả tạo gò bó, điều mong muốn của người bình dân là có một gia đình hạnh phúc, một sự thông cảm chia sẻ trong đời sống vợ chồng. Điệp khúc chồng yêu chồng bảo... không hề che giấu niềm tự hào có một người chồng tuyệt vời. Có lẽ các triết lí của các học giả đáng kính cũng rút tỉa ra từ thực tại cuộc sống phong phú đáng yêu này mà thôi: “vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng thiếu nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ tình si” (Kant). Người chồng yêu vợ như thế quả là hiếm có trong một xã hội vốn khắt khe với những chuẩn mực nặng nề, những quy tắc cứng nhắc. Không những thế, đó chính là sự điều chỉnh hành vi của người bình dân bởi lẽ không người phụ nữ nào lại muốn giữ những nét xấu trong mắt chồng. Cười vui là thế nhưng cũng có ý nghĩa cảnh tỉnh nhẹ nhàng cho việc giữ gìn hạnh phúc. Bởi lã chồng yêu thì hạnh phúc nhưng chồng ghét, thì là tai họa, là tan vỡ.        Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đã chứa đựng nghệ thuật sống của người bình dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời. Tiếng cười ấy là sức sống tâm hồn khỏe khoắn của những con người luôn ý thức giá trị bản thân, luôn mong muốn cuộc sống tốt đẹp công bằng. Trích:loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐẠO VỢ CHỒNG TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM

ĐẠO VỢ CHỒNG TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM

nên sức mạnh trường tồn của dân tộc. Đạo vợ chồng trong văn hóa Việt Namlà những chuẩn mực đạo đức luân lý, cách ứng xử của người vợ với ngườichồng và người chồng với người vợ được mọi người thừa nhận, trở thành mựcthước để xem xét, đánh giá, điều chỉnh hành vi vợ chồng, giữ gìn nề nếp giaphong. Đạo vợ chồng trong quá trình hình thành và phát triển có tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại trên cơ sở giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, do vậynó mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đạo vợ chồng đã đóng vai trò quan trọngtrong văn hóa Việt Nam, nó không những đã đóng góp phần làm thành hệ giátrị cốt lõi của đạo làm người của dân tộc ta. Nó là nền tảng nhân sinh quan đểhình thành nên lối sống, cách cư xử của người vợ, người chồng Việt nói riêng1và của con người Việt Nam nói chung. Đồng thời, đạo vợ chồng là nét vănhóa riêng của người Việt, là nét riêng để bảo đảm cho dòng chảy văn hóa Việtcó sức sống trường tồn.Tục ngữ, ca dao là sản phẩm được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân,nội dung gần gũi với tập quán sinh hoạt của con người. Được thử thách quakhông gian, thời gian và lòng người, được gọt giũa, chau chuốt bởi hàng vạnnhà thơ dân gian vô danh, tục ngữ, ca dao đã trở thành những viên ngọc quýtrong kho tàng văn hóa dân gian dân tộc. Cha ông ta đã sử dụng tục ngữ, cadao để bày tỏ tâm tư, tình cảm và những quan niệm sống của mình. Có rấtnhiều hình thức khác nhau để chuyển tải đời sống tinh thần của con người,nhưng không có hình thức nào lại gần gũi và dễ đi vào lòng người như tụcngữ, ca dao. Tư tưởng triết học và tính lí luận về đạo vợ chồng được tục ngữ,ca dao Việt Nam đề cập và truyền tải, truyền tụng một cách dễ dàng cho cácthế hệ người Việt. Tục ngữ, ca dao về đạo vợ chồng đã góp phần hình thành,phát triển nhân cách, cách ứng xử trong quan hệ vợ chồng người Việt Nam từhàng nghìn năm nay và trong giai đoạn hiện nay nó vẫn còn nguyên giá trị sâu
Xem thêm

99 Đọc thêm

HTTPS DRIVE GOOGLE COM OPEN ID 0BWTFEPXEVUFJCTJ3C25MCLPROEU

HTTPS DRIVE GOOGLE COM OPEN ID 0BWTFEPXEVUFJCTJ3C25MCLPROEU

Trên cơ sở hiểu biết về thể loại ca dao, ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, thí sinhcó thể cảm nhận về thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa:- Giới thiệu về ca dao: khái niệm, đặc điểm,- Ca dao than thân: thường tập trung phản ánh thân phận người phụ nữ- Hình tượng người phụ nữ trong ca dao than thân được thể hiện ở những phương diện:+ Họ là những người bị coi thường trong chế độ xã hội phụ quyền với tư tưởng"trọngnam khinh nữ". Qua những bài ca dao than thân về thân phận những người phụ nữ trong xã7hội cũ, phần nào tôi hiểu được nỗi đau khổ mà họ phải chịu đựng.Trong xã hội ấy, họ bị tước đi những quyền lợi cơ bản của con người. Họ bị biến thành nô lệcho những luật lệ, những ràng buộc nghiêm khắc của lễ giáo phong kiến và những quanniệm cổ hủ lạc hậu. Họ không có quyền quyết định số phận mình mà hoàn toàn phụ thuộcvào người khác bởi quy định "tam tòng" quá nghiêm khắc của Nho giáo "Tại gia tòng phụ,xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" (ở nhà theo bố mẹ, lấy chồng nghe lời chồng, chồng chếtphụ thuộc con). Điều giàng buộc ấy dẫn theo bao nhiêu bất hạnh của người phụ nữ, vì thế họcất lên tiếng hát thân thở về thân phận của mình:Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai.Thân em như hạt mưa saHạt vào giếng ngọc, hạt ra ruộng cày.Thân em như giếng giữa đàngNgười không rửa mặt, người phàm rửa chân.+ Họ so sánh "Thân em…" với rất nhiều thứ, thể hiện nhiều bình diện khác nhau song vẫn cómột điểm chung là: khẳng định giá trị của bản thân và than về số phận phụ thuộc của mình.Dù là "tấm lụa đào" quý giá hay"giếng giữa đàng" mát trong thì họ vẫn không biết tương lainhư thế nào. Những hình ảnh so sánh ấy làm nổi bật thân phận bơ vơ, bất trắc của họ.+ Họ không thể tự quyết định số phận của mình. May mắn thì được chỗ yên lành hạnh phúc,bất hạnh thì bị rơi vào chốn lao đao và dù trong hoàn cảnh nào họ cũng phải chấp nhận bởi
Xem thêm

9 Đọc thêm

Cùng chủ đề