LUẬT KHIẾU NẠI TỐ CÁO NĂM 2005

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LUẬT KHIẾU NẠI TỐ CÁO NĂM 2005":

Quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng khiếu nại quyết định hành chính

Quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng khiếu nại quyết định hành chính

Quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính Chuyên mục Bài tập học kỳ, Thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo Bài tập học kỳ Thanh tra khiếu tố có đáp án. Lời mở đầu Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Tuy nhiên việc thực hiện khiếu nại trong thực tế còn nhiều hạn chế do người dân còn e ngại vì chưa hiểu rõ về quyền khiếu nại cũng như về đối tượng khiếu nại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để hiểu rõ hơn về đối tượng khiếu nại, bài viết dưới đây sẽ Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính. Nội dung I. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm Khiếu nại Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật khiếu nại 2011 thì Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Như vậy khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỉ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm. Cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể kết luận có vi phạm hay không khi đã xem xét một cách khác khách quan và thận trọng vụ việc với điều kiện được cung cấp đầy đủ tài liệu có liên quan. Hay ta có thể hiểu một cách khác khiếu nại là sự không hài lòng của người khiếu nại liên quan đến một cụ việc cụ thể, yêu cầu người có thẩm quyền xem xét lại, giải quyết lại, thực hiện lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Việc khiếu nại thể hiện mối quan hệ giữa người khiếu nại người bị khiếu nại người giải quyết. 2. Khái niệm quyết định hành chính Theo quy định tại khoản 8 điều 2 luật khiếu nại thì Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quyết định hành chính được hiểu là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thực hiện trên cơ sở và thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lí hành chính trong lĩnh vực hoặc vấn đề được phân công phụ trách. Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Từ Liêm, thành phố Hà Nội ban hành Quyết định thu hồi 100m2 đất ở đối với ông Nguyễn Văn A để giải phóng mặt bằng, mở rộng đường giao thông tại phường Cổ Nhuế 1, quận Từ Liêm. Không nhất trí, ông A gửi đơn khiếu nại Quyết định thu hồi đất nêu trên đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Từ Liêm. 3. Khái niệm hành vi hành chính Theo khoản 9 điều 2 Luật Khiếu nại thì Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Hành vi hành chính được quan niệm là hành vi của người có thẩm quyền trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ trong quản lí hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Bà D đến Sở T để tố cáo nhưng cán bộ tiếp dân không tiếp nhận đơn dù bà đã ghi đầy đủ họ tên và địa chỉ của mình trong đơn cũng như có giấy tờ tùy thân theo yêu cầu của cán bộ tiếp dân. Do đó bà D có quyền khiếu nại hành vi không tiếp nhận đơn tố cáo của cán bộ tiếp dân. II. Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính 1. Đối tượng khiếu nại quyết định hành chính Khái niệm quyết định hành chính trong luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. Quy định về khái niệm quyết định hành chính trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trên thực tế. Đó là: Quyết định hành chính phải là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định do cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành; Các loại văn bản thể hiện dưới hình thức khác như: kết luận, thông báo, công văn… thì không được coi là quyết định hành chính và không thuộc đối tượng được khiếu nại; Hay quyết định hành chính bao gồm cả văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định và văn bản thể hiện dưới hình thức khác do cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành. Từ các cách hiểu khác nhau này nên việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trên thực tế trong thời gian qua chưa được thống nhất đối với một số cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại. So với quy định khái niệm quyết định hành chính trong luật Khiếu nại, tố cáo 2005 thì khái niệm Quyết định hành chính trong Luật Khiếu nại 2010 hiện hành thì đối tượng của khiếu nại quyết định hành chính được hiểu rộng hơn. Nếu như trước kia, quyết định hành chính phải là quyết định bằng văn bản thì hiện nay Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Qua đó cho thấy, đối tượng khiếu nại quyết định hành chính hiện hành không chỉ bao gồm các văn bản được ban hành dưới hình thức một quyết định mà bao gồm cả các văn bản dù không dưới hình thức quyết định nhưng chứa đựng những quy định xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và doanh nghiệp. Như vậy, quyết định hành chính thuộc đối tượng khiếu nại là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khiếu nại cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó). Ví dụ 1: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa thành phố Hà Nội ra quyết định phá dỡ hàng quán lấn chiếm vỉa hè dành cho người đi bộ của một số gia đình làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông... Bà Nguyễn Thị B không đồng ý với quyết định này thì bà B có quyền khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. 2. Đối tượng khiếu nại hành vi hành chính Quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo 2005 thì khái niệm “hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. . Khái niệm hành vi hành chính trong Luật Khiếu nại 2011 điều chỉnh, bổ sung và được hiểu hành vi hành chính có thể là hành động hoặc không hành động, nếu như Luật Khiếu nại, tố cáo 2005 chủ yếu tập trung vào hành vi “hành động” của người có thẩm quyền mà chưa tập trung giải quyết khiếu nại liên quan đến hành vi “không hành động” thì Luật Khiếu nại 2011 tập trung hơn đối với hành vi “không hành động” thể hiện thường gặp là khi người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính không thực hiện hay từ chối thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà theo quy định họ phải thực hiện. Thứ nhất, hành vi của người hoặc cơ quan có thẩm quyền khi thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật được hiểu là hành vi hành động. Loại hành vi này được thể hiện dưới các dạng họ thực hiện các hành vi công vụ như: UBND xã, phường, thị trấn tiến hành việc hòa giải tranh chấp đất đai; hành vi cắm mốc giao đất cho người được nhận đất theo quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền hay hành vi khám xét hành chính theo quy định... Ví dụ: ông A (cán bộ chuyên trách của UBND) được giao nhiệm vụ cắm mốc tứ cận một lô đất để làm sổ cho dân. Nhưng khi thực hiện nhiệm vụ, ông A cắm sai vị trí, ảnh hưởng đến người dân thì lúc này hành vi hành chính sai trái đó là hành vi hành động. Thứ hai, hành vi của người hoặc cơ quan có thẩm quyền không thực hiện công vụ theo quy định của pháp luật là hành vi không hành động. Nó được thể hiện dưới dạng họ không thực hiện các hành vi công vụ được giao như: UBND có thẩm quyền không cấp số đỏ cho người dân, phòng đăng ký kinh doanh không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp... Ví dụ: ông B là người có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ nhưng lấy nhiều lý do để từ chối dẫn đến bị khiếu nại thì đó là khiếu nại hành vi hành chính không hành động. 3. Quyết định hành chính, hành vi hành chính không thuộc đối tượng khiếu nại Theo quy định tại Điều 11 của Luật Khiếu nại 2011, không phải quyết định hành chính và hành vi hành chính nào cũng thuộc đối tượng khiếu nại. Cụ thể, các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc các trường hợp sau thì không được thụ lý giải quyết: Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan Nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định; Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại; Các khiếu nại mà đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại; Các khiếu nại đã có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại. Ví dụ: Anh Nguyễn Văn C đến Ủy ban Nhân Dân khiếu nại quyết định hành chính của chủ tịch Ủy Ban Nhân dân về việc thu hồi đất để giải phóng mặt đường, nhưng sợ bị gây khó dễ nên đã không kí tên vào đơn khiếu nại. Do vậy, cán bộ tiếp dân không nhận đơn của anh. Kết luận Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận trong Hiến pháp. Hiện nay, dù đã có Luật khiếu nại riêng để cho mọi người nắm rõ hơn về quyền của mình nhưng do trình độ nhận thức pháp luật của người dân còn thấp nên việc thực hiện quyền này còn nhiều hạn chế. Hiện nay, Nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Do đó, chỉ khi nào người dân thực sự làm chủ, nhận thức rõ hơn về quyền lợi của mình thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mới thành công.
Xem thêm

Đọc thêm

Chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo

Chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo

VII.Chế độ pháp lý về việc giải quyết các khiếu nại,tố cáo 2.Tố cáo và chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo a.Khái niệm,đặc điểm của tố cáo Theo Luật Tố cáo 2011: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định,báo cho cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,tổ chức,cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước,quyền,lợi ích hợp pháp của công dân,cơ quan,tổ chức. Đặc điểm của tố cáo: + Người tố cáo là cá nhân công dân thực hiện quyền tố cáo.Việc tố cáo có thể gây ảnh hưởng đến uy tín,danh dự của người khác,vì vậy,để phòng ngừa,ngăn chặn sự lợi dụng quyền tố cáo nhằm vu khống,xúc phamjdanh dự,nhân phẩm của người khác,pháp luật qui định chỉ có cá nhân mới có quyền thực hiện việc tố cáo.các tổ chức không phải là chủ thể của quyền tố cáo. + Đối tượng của việc tố cáo là những hành vi vi phạm pháp luật của mọi cơ quan,tổ chức và cá nhân mà người tố cáo biết được.Với trách nhiệm công dân mà pháp luật quy định,người tố cáo thông báo về hành vi vi phạm pháp luật đó,đồng thời yêu cầu các cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền xử lý nhằm bảo đảm kỷ cương và trật tự an toàn xã hội. + Khi thực hiện việc tố cáo,người tố cáo không vì lợi ích của bản thân mà với mục đích để bảo vệ lợi ích của nhà nước,của các tổ chức và cá nhân khác. b.Chế độ pháp lý về giải quyết tố cáo Luật tố cáo năm 2011 phân biệt hai loại tố cáo: b.1:Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức,viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ: Là việc công dân báo cho cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức,viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ. Theo điều 12 của Luật Tố cáo năm 2011,nguyên tắc xác định thẩm quyền được quy định như sau: + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiêm vụ,cong vụ của cán bộ,công chức,viên chức do người đứng đầu cơ quan,tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ,công chức,viên chức đó giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của người đứng đầu,cấp phó của người đứng đầu cơ quan,tổ chức do người đứng đầu cơ quan,tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan tổ chức đó giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của cán bộ,công chức,viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan,tổ chức do người đứng đầu cơ quan,tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ,công chức,viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan,tổ chức có liên quan giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ của cán bộ,công chức,viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Theo điều 13,14,15,16,17 Luật Tố cáo 2011: Thẩm quyền giải quyết tố cáo: + Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành,vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước là: Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã;Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện;Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh;Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh;Tổng cục trưởng,Cục trưởng và cấp tương đương;Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;Thủ tướng Chính phủ. + Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiêm vụ,công vụ của cán bộ,công chức trong cơ quan khác nhà nước là: Chánh án tòa án nhân dân,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp;Tổng Kiểm toán nhà nước;Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành,Kiểm toán nhà nước khu vực…(điều 14). + Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. + Người đứng đầu cơ quan của tổ chức chính trị,tổ chức chính trịxã hội có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ,công chức,viên chức do mình quản lý trực tiếp. + Người đứng đầu cơ quan,đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ,công vụ mà không phải là cán bộ,công chức,viên chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ. b.2: Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: Là viêc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,tổ chức,cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Theo điều 31 Luật Tố cáo năm 2011,quy định như sau: + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan,tổ chức,cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó chịu trách nhiệm giải quyết.Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. + Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết;tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết. + Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. b.3: Trình tự,thủ tục giải quyết tố cáo Trình tự: Tiếp nhận,xử lý thông tin tố cáo Xác minh nội dung tố cáo Kết luận nội dung tố cáo Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Công khai kết luận nội dung tố cáo,quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo. Thủ tục: Theo điều 19 Luật Tố cáo năm 2011,việc tố cáo được thực hiên bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.Người tố cáo phải gửi đơn tố cáo có đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật đến cơ quan,tổ chức,cá nhân có thẩm quyền;đơn tố cáo phải ghi rõ họ,tên,địa chỉ người tố cáo.Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người có trách nhiệm tiếp nhận phải ghi lại nội dung tố cáo,họ,tên,địa chỉ của người tố cáo,có chữ ký của người tố cáo.Các tố cáo nặc danh là bất hợp pháp,không được xem xét,giải quyết.Tuy nhiên,khi nhận được đơn tố cáo nặc danh,các cơ quan có thẩm quyền cũng phải có trách nhiệm kiểm tra,xác minh để kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật mà xử lý hoặc bảo vệ uy tín,danh dự của người bị tố cáo. Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày,kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo;đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày.Trường hợp cần thiết,người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày,đối với vụ việc phức tạp không quá 60 ngày. Khi nhận được tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình,cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải thụ lý để giải quyết.Trong trường hợp cấp thiết,cơ quan,tổ chức,cá nhân tiếp nhận tố cáo phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật;áp dụng biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tố cáo khi họ yêu cầu.Cơ quan,tổ chức,cá nhân tiếp nhận,giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo;không được tiết lộ họ,tên,địa chỉ,bút tích của người tố cáo. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo,kết luận và giải quyết việc tố cáo;công khai kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết quả giải quyết cho người tố cáo khi được yêu cầu.Việc giải quyết tố cáo cũng phải được lập thành hồ sơ và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo theo thời hạn và thủ tục do Tố cáo quy định. Các cơ quan Thanh tra trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ cũng có thẩm quyền xác minh hoặc xem xét,kết luận về các nội dung tố cáo;đồng thời kiến nghị với người có thẩm quyền về biện pháp xử lý tố cáo theo quy định của pháp luật. c.Bảo vệ người tố cáo,trách nhiệm của cơ quan,tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo Theo điều 34,35 chương V Luật Tố cáo 2011: Việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại nơi cư trú,công tác,làm việc,học tập,nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định. Đối tượng bảo vệ gồm có:người tố cáo,người thân thích của người tố cáo Thời gian bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc,mức độ,tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI dự THI luật khiếu nại tố cáo

BÀI dự THI luật khiếu nại tố cáo

LÒI NÓI ĐẦU Khiếu nại, tô cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo hiện nay vẫn đang diễn biến phức tạp, việc khiếu nại vượt cấp, một vụ việc nhưng lại gửi nhiều nơi, tình hình công dân kéo về trụ sở trực tiếp công dân của các cơ quan trung ương nay một nhiều. Trong những năm gần đây tình hình khiếu nại, tố cáo ở nước ta có xu hướng gia tăng cả về số lượng vụ việc và tính chất phức tạp của khiếu nại, tố cáo. Hàng năm các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đã tiếp nhận và giải quyết hàng trăm nghìn đơn thư khiệu nại, tố cáo. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo Nhà nước ta đã không ngừng nâng cao chất lượng hoàn thiện chính sách pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, cơ quan. Ngày 11112011, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật khiếu nại và Luật tố cáo (có hiệu lực thực thi kể từ nay 0172012) thay thế cho Luật khiếu nại, tố cáo 1998, với nhiều nội dung được quy định mới, tạo cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo chặt chẽ khả thi hơn. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, thể chế hóa quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được Hiến pháp ghi nhận. Tiếp nối những thành tựu đã đạt được trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về tố cáo nói riêng, ngày 1572013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1133QĐ TTg phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án “Tiếp tục tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2013 2016”. Thực hiện kế hoạch số 02KHBTC nay 2262016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu về việc tổ chức cuộc thi viết “Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo”. Tôi xin đóng góp những hiểu biết của bản thân mình về những nội dung cơ bản của Luật khiếu nại và Luật tố cáo. Với mong muốn nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, từng bước hình thành nếp sống và phương pháp làm việc theo pháp luật, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tam Đường nói riêng và tỉnh Lai Châu nói chung. Nâng cao ý thức, trách nhiệm, kỹ năng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị, các xã, phường, thị trấn trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tôi xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO TỔNG KẾT 3 NĂM THỰC HIỆN LUẬT TIẾP CÔNG DÂN TẠI TRƯỜNG THPT

BÁO CÁO TỔNG KẾT 3 NĂM THỰC HIỆN LUẬT TIẾP CÔNG DÂN TẠI TRƯỜNG THPT

c) Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiếp công dân;d) Nhận thông báo về việc tiếp nhận, kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị, phản ánh;đ) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không sử dụngthông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng người phiên dịch;e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.2. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cócác nghĩa vụ sau đây:a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếucó);b) Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân;c) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nộidung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nộidung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại;d) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp công dân và hướng dẫn của ngườitiếp công dân;đ) Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về mộtnội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị, phản ánh;e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình.Điều 8. Trách nhiệm của người tiếp công dân1. Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải bảo đảm trang phục chỉnh tề,có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định.2. Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên, địachỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc trình bàyrõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông tin, tài liệucần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc.3. Có thái độ đứng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà ngườiđến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày.
Xem thêm

24 Đọc thêm

ĐÁP ÁN MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐÁP ÁN MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

lý đảm bảo pháp chế trong trong quản lý hành chính Nhà nước bao gồm:+ Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước.+ Hoạt động kiểm tra của các cơ quan hành chính Nhà nước.+ Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.+ Hoạt động của Thanh tra Nhà nước và Thanh tra nhân dân.+ Hoạt động kiểm tra của các tổ chức xã hội (kiểm tra xã hội).19+ Hoạt động khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.5. Nguyên tắc dân tộc trong hoạt động hành chính nhà nướcTrong quản lí hành chính nhà nước nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc được biểuhiện cụ thể như sau:- Thứ nhất, trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ, Nhà nước có chính sách ưu tiêncon em các dân tộc ít người, giúp đỡ về mặt vật chất, động viên về mặt tinh thần để họtích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, nhà nước bao giờ cũng dành tỉ lệ nhấtđịnh số cán bộ công chức là người dân tộc trong biên chế của các cơ quan nhà nước,đặc biệt là cơ quan nhà nước đóng trên địa bàn miền núi, biên giới hải đảo, nơi cónhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống và có những chính sách khuyến kích nhữngngười đến phục vụ tại những khu vực này.- Thứ hai, trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế văn hóa xã hội, Nhà nướcluôn quan tâm đưa ra những giải pháp chính sách phù hợp để tạo điều kiện phát triểnmọi mặt của đồng bào dân tộc ít người.Câu 31: Các nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật trong hành chính nhà nước Việt Nam:Kết hợp hành chính theo ngành và theo lãnh thổ; Kết hợp quan hệ trực tuyến vớichức năng trên cơ sở trực tuyến; Kết hợp chế độ lãnh đạo tập thể và chế độ thủtrưởng; Trực thuộc hai chiều.1. Nguyên tắc kết hợp hành chính theo ngành và theo lãnh thổTrong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợpchặt chẽ với quản lý theo địa giới hành chính. Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý
Xem thêm

135 Đọc thêm

TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC

TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC

Kéo dài thời gian giải quyết các thủ tục hành chính so với qui định.Phiền hà người làm các thủ tục hành chính phải đi lại nhiều lần.Cán bộ trực tiếp giải quyết các thủ tục hành chính tỏ thái độ hách dịchkhông hướng dẫn cụ thể các bước, quy trình, cách điền hồ sơ cho ngườiđi làm các thủ tục hành chínhCác cơ quan chức năng đùn đẩy trách nhiệm trong quá trình giải quyếtcác thủ tục hành chính, đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân.Cán bộ trực tiếp giải quyết các công việc hành chính có biểu hiện vòivĩnh, đòi bồi dưỡng đối với người đi làm các thủ tục hành chính.Quy trình giải quyết các thủ tục hành chính, đơn, thư khiếu nại, tố cáocủa công dân phải qua nhiều cửa, nhiều khâu, nhiều bước khác nhau.Cán bộ trực tiếp giải quyết các công việc hành chính thường vắng mặttrong giờ làm việc.Khác4.5.6.7.8.Sốlượng19913740Tỷ lệ(%)
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LÃNG NGÂM HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 2012 2014

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LÃNG NGÂM HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 2012 2014

cả anh em trong nhà. Đất đai có vai trò quan trọng như vậy nhưng lại là tàinguyên không tái tạo, hạn chế về số lượng và giới hạn về diện tích. Vì vậychúng ta phải quản lý và sử dụng đất đai sao cho hợp lý và có hiệu quả cao nhất.Hiện nay, với nền kinh tế ngày càng phát triển, tốc độ đô thị hóa diễnra mạnh mẽ, dân số gia tăng cũng kéo theo nhu cầu sử dụng đất tăng lên.Chính vì vậy, các vấn đề tiêu cực liên quan đến đất đai cũng ngày càng nhiều.Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của đất đai, Đảng và Nhà nước ta đãđưa ra nhiều chính sách pháp luật để quản lí chặt chẽ, khai thác có hiệu quảquỹ đất. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn lại gặp phải rất nhiều khó khăn.Do đất đai là tài sản có giá trị lớn, mà công tác quản lí về đất đai còn tồn tạinhiều hạn chế và bất cập nên việc phát sinh tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tốcáo về đất đai là điều không thể tránh được. Tình trạng này diễn ra trên tất cảcác địa phương trong cả nước. Việc giải quyết vấn đề này là rất trọng yếu, vìnếu làm tốt sẽ củng cố thêm niềm tin cho người dân vào sự quản lí của Nhànước. Đồng thời ngăn chặn việc phát sinh thêm nhiều vụ việc mới, giảmthiểu tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp do công tác giải quyết chưa đạtđược hiệu quả.Xã Lãng Ngâm là một xã miền núi thuộc huyện Ngân Sơn, tỉnh BắcKạn. Trong những năm gần đây, công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt2được một số kết quả tích cực góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương. Song bên cạnh đó vẫn tồn tại những vấn đề gây ra tranh chấp,khiếu nại, tố cáo về đất đai làm ảnh hưởng đến ổn định chính trị, kìm hãm sựphát triển đời sống xã hội nói chung. Do những vấn đề liên quan đến đất đaiđều rất nhạy cảm và phức tạp. Vậy nên, yêu cầu đặt ra là việc giải quyết cácvụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai phải được thực hiện một cách chặtchẽ, hợp tình hợp lí và giải quyết dứt điểm những vụ còn tồn đọng.
Xem thêm

72 Đọc thêm

Câu hỏi luật khiếu nại hành chính (Công chức 2015)

CÂU HỎI LUẬT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH (CÔNG CHỨC 2015)

Câu 1. Trình bày trình tự khiếu nại chung và cho 01 ví dụ cụ thể để làm rỏ trình tự này.Trả lời : Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.Ví dụ : Ông Nguyễn Tiến D, ngụ ấp BPQ, xã BT, huyện LV, tỉnh ĐT, khiếu nại Quyết định số 95QĐUBND ngày 19102015 của UBND huyện LV, về việc bản thân bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: tổ chức đánh bạc, mức phạt tiền là 15.000.000đ, với lý do bản thân D chỉ tham gia đánh bạc chứ không phải tổ chức đánh bạc, nên việc UBND huyện LV ra quyết định xử phạt như vậy là sai hành vi vi phạm của D. D đề nghị UBND huyện LV hủy bỏ quyết định số 95QĐUBND ngày 19102015 của UBND huyện LV và ra quyết định xử lý hành vi tham gia đánh bạc của D với mức xử phạt với số tiền là 1.500.000đ.Các bước thực hiện sau : Khi có căn cứ cho rằng Quyết định số 95QĐUBND ngày 19102015 của UBND huyện LV là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông D thì ông D khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch UBND huyện LV hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp ông D không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh ĐT hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Xem thêm

20 Đọc thêm

THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

xuyên xảy ra khiếu nại, tố cáo nhiều hơn các lĩnh vực khác càng thể hiện rõ nét.Mặc dù vấn đề đất đai luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặt mối quan tâm sâusắc nhƣng trên thực tế quản lý về đất đai vấn còn rất khó khăn. Những tranh chấpvề đất đai thƣờng rất phức tạp, kéo dài và gây tổn thất không ít cho chính nhữngngƣời khiếu nại, tố cáo và tài sản Nhà nƣớc; ảnh hƣởng đến hoạt động làm ăn sinhsống của ngƣời dân, ảnh hƣớng đến tiến độ hay hiệu quả của các dự án. Nhƣ vậy,3hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là vấn đề rất quan trọng, cấp thiết,cần đƣợc quan tâm đúng mực. Nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết khiếunại, tố cáo về đất đai vừa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của ngƣời dân, đảmbảo quản lý hiệu quả về đất đai, tránh thất thoát ngân sách. Có nhƣ vậy đời sốngnhân dân mới đƣợc đảm bảo ổn định, kinh tế phát triển hiệu quả, bền vững. Cầnnghiên cứu và tìm hiểu về cơ chế, chính sách về đất đai và giải quyết khiếu nại, tốcáo để hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Pháp luật vềqiải quyết khiếu nại, tố cáo đã hoàn thiện hay chƣa, còn tồn tại những vấn đề nàodẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn là vấn đề nóng bỏng của xã hộiViệt Nam và biện pháp nào để khắc phục tình trạng này là những vấn đề cầnnghiên cứu.Nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, Quảng Ninh có vị trí “địa chiến lƣợcvề chính trị, kinh tế”, hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên và xã hội của cả nƣớc, đƣợcví nhƣ “nƣớc Việt Nam thu nhỏ”. Quảng Ninh là địa phƣơng có quỹ đất dồi dàovới 601.000 ha, trong đó 50.364 ha đất nông nghiệp đang sử dụng, 146.019 ha đấtlâm nghiệp với nhiều diện tích đất có thể trồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi, khoảnggần 20.000 ha có thể trồng cây ăn quả [46]. Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế,một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, hội tụ đầy đủ các yếu tố đặc thùvề điều kiện vị trí, địa hình, tự nhiên, xã hội, kinh tế, con ngƣời Việt Nam. Nhữngtiềm năng và thế mạnh đó là cơ sở để Quảng Ninh thực hiện đổi mới mô hình tăngtrƣởng, cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển bền vững; tăng cƣờng huy động và sử
Xem thêm

22 Đọc thêm

Đánh giá tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị

Đánh giá tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị

Bài viết này nhằm mục đích làm rõ tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Đọc thêm

Tham khảo các tên đề tài về Quản lý đất đai

Tham khảo các tên đề tài về Quản lý đất đai

6. Ngành: Quản lý đất đaiSTTHọ và tên học viênHọ và tên GV hướng dẫnTên đề tài1Đào Xuân CườngGS.TS. Nguyễn Thế ĐặngĐánh giá công tác đấu giá quyền sử dụng đất của một số dự án trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội2Phạm Thái HoàngGS.TS. Nguyễn Thế ĐặngĐánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 200820133Phạm Thị Phương HuệGS.TS. Nguyễn Thế ĐặngNghiên cứu lựa chọn loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả bền vững trên địa bàn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang4Mã Thị HàGS.TS. Nguyễn Thế ĐặngNghiên cứu đánh giá tình hình giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn
Xem thêm

Đọc thêm

NHỮNG ĐIỂM CƠ BẢN LUẬT KHIẾU NẠI

NHỮNG ĐIỂM CƠ BẢN LUẬT KHIẾU NẠI

nại, giải quyết khiếu nại.Hai là, trong những năm qua có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước đã đềcập tới công tác giải quyết khiếu nại, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong cảicách hành chính nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Nghị quyết số 48/NQ-TW,ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam đến năm 2010 và định hướng năm 2020 đã nêu: “hoàn thiện pháp luật về khiếu nại,tố cáo, bảo đảm mọi quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và cóthể bị khởi kiện trước toà án; đổi mới thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và thủ tục giải quyếtcác vụ án hành chính theo hướng công khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời đảm bảotính thông suốt, hiệu quả của quản lý hành chính”; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứIX của Đảng chỉ rõ: “Khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, gâykhó khăn, chậm trễ trong công việc và giải quyết khiếu kiện của dân”; Thông báo Kết luận số130- TB/TW ngày 10/1/2008 của Bộ Chính trị về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáotừ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới đã xác định: “Đẩy mạnh công tác xâydựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất là phápluật về đất đai và khiếu nại, tố cáo…. Khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Khiếu nại vàgiải quyết khiếu nại, Luật Tố cáo và giải quyết tố cáo”. Tuy nhiên, các chủ trương, quan điểmtrên chưa được thể chế hóa đầy đủ trong pháp luật về khiếu nại.Ba là, thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010 và định hướng năm 2020, ngày 21/11/2007 Quốc hội khóa XII đã ra Nghị quyết số11/2007/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) vànăm 2008, quyết định xây dựng Luật Khiếu nại và đưa vào chương trình chuẩn bị; đồng thờingày 17/6/2009, Quốc hội khóa XII có Nghị quyết số 31/2009/QH12 đã đưa dự án Luật Khiếunại vào chương trình chính thức để Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8, dự kiến vào tháng10/2010.Từ những lý do trên, việc xây dựng và ban hành Luật Khiếu nại là nhằm thể chế hoáchủ trương, quan điểm của Đảng về công tác giải quyết khiếu nại, đáp ứng yêu cầu thực tiễn,góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong giai đoạn đẩy mạnh
Xem thêm

14 Đọc thêm

 ĐỀ TÀI “LÀM RÕQUYỀN KHIẾU NẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ”2

ĐỀ TÀI “LÀM RÕQUYỀN KHIẾU NẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ”2

MỤC LỤC1A. MỞ BÀIQuyền khiếu nại là quyền chính trị cơ bản của công dân được ghi nhậntại Hiến pháp, Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyềnkhiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việclàm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Khiếu nại là một phươngthức thể hiện quyền dân chủ của nhân dân và là một trong những phươngthức thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy Nhà nước. Xuấtphát từ tư tưởng “lấy dân là gốc”, từ bản chất chính trị của chế độ dân chủnhân dân, ngay từ khi mới thành lập chính thể mới, cùng với việc thiết lậpchính quyền các cấp, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã khẳng định quyền làmchủ của nhân dân, quan tâm đến việc kiểm soát hoạt động của bộ máy Nhànước, việc giải quyết khiếu kiện của dân, chống phiền hà, nhũng nhiễu dân.Để cụ thể hóa nội dung đó, quyền khiếu nại được quy định chi tiết hơn tạiLuật Khiếu nại năm 2011. Và đặc biệt, đối với quyền khiếu nại trong thihành án dân sự được quy định rõ ràng, cụ thể trong luật Thi hành án dân sự2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chủ thể cóquyền khiếu nại gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định rõ ràng, chínhxác quyền lợi, nghĩa vụ của mình, cũng như khó khăn trong việc thực hiệnquyền, xác định các quy định khác của pháp luật liên quan đến khiếu nại.Dựa trên việc tổng hợp, phân tích các văn bản pháp luật hiện hành liên quanđến lĩnh vực khiến nại trong thi hành án dân sự với mục đích làm rõ vấn đềtrên, đồng thời tìm ra giải pháp khắc phục em xin chọn đề tài: “Làm rõquyền khiếu nại trong thi hành án dân sự”.2
Xem thêm

Đọc thêm

QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH và QUY CHẾ TIẾP CÔNG DÂN

QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH và QUY CHẾ TIẾP CÔNG DÂN

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ PHƯỚC THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Số: 2014QĐUBND Phước Thành, ngày tháng năm 2014 QUYẾT ĐỊNH Về việc ban hành Quy chế tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phước Thành ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ PHƯỚC THÀNH Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004; Căn cứ Luật Tiếp công dân ngày 25 tháng 11 năm 2013; Căn cứ Nghị định số 912006NĐCP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004; Căn cứ Nghị định số 642014NĐCP ngày 2662014 về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân; Xét đề nghị của Văn phòng HĐNDUBND xã Phước Thành, QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở UBND xã Phước Thành. Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 05 ngày kể từ ngày ký. Điều 3. Văn phòng HĐNDUBND xã; Trưởng các cơ quan, ban, ngành cấp xã; Trưởng các thôn và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.. Nơi nhận: Như điều 3; Phòng Tư pháp; Thanh tra huyện; TV Đảng uỷ, TT HĐND xã; CT, các PCT UBND xã; LưuVT. TM. ỦY BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH Hồ Văn Phen ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ PHƯỚC THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc QUY CHẾ Tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phước Thành (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2014QĐUBND ngày tháng năm 2014 của Ủy ban nhân dân xã Phước Thành) Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Quy chế này quy định về việc tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của UBND xã, của người có thẩm quyền trong UBND xã. Điều 2. Việc tiếp công dân nhằm mục đích 1. Tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánh, góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan, đơn vị. 2. Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp mình để xem xét, ra quyết định thụ lý giải quyết hoặc trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại, tố cáo theo đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. 3. Hướng dẫn để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến đúng cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết. Điều 3. Ủy ban nhân dân xã bố trí địa điểm tiếp công dân tại Phòng của Văn phòng HĐNDUBND xã để công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị được dễ dàng, thuận lợi. Nơi tiếp công dân có niêm yết: Lịch tiếp công dân (ghi cụ thể ngày, giờ tiếp); nội quy tiếp công dân (ghi rõ trách nhiệm người tiếp; quyền, nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo); phải có đủ sổ sách (theo mẫu) ghi chép, theo dõi việc tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư theo đúng quy định. Điều 4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức tiếp công dân tại nơi tiếp dân (trong trường hợp có lý do chính đáng không thể tiếp được thì phân công cấp Phó tiếp thay và bố trí thời gian hợp lý tiếp công dân để đảm bảo theo quy định của pháp luật). Điều 5. Đơn khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến người có thẩm quyền giải quyết đều phải được tiếp nhận. Cá nhân được giao nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý, quản lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân phải tiến hành nghiên cứu, phân loại, xác định chính xác nội dung để xử lý, quản lý theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Xem thêm

Đọc thêm

Công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa

Công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa

Trong tiến trình thực hiện Cải cách hành chính, thì việc cải cách thủ tục hành chính là việc làm cần thiết, đòi hỏi chính quyền các cấp phải xây dựng quy chế làm việc; ban hành các văn bản đúng luật, đúng thẩm quyền; giảm thời gian họp hội, tăng thời gian đi cơ sở; xây dựng quy chế tiếp dân, giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo, đơn giản hóa các thủ tục hành chính; công khai niêm yết hồ sơ thủ tục giải quyết các hồ sơ thủ tục cho tổ chức, công dân đúng trình tự, thẩm quyền, nhanh chóng, thuận lợi, chính xác.
Xem thêm

Đọc thêm

Khái niệm khiếu nại tố cáo

Khái niệm khiếu nại tố cáo

Khái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáoKhái niệm khiếu nại tố cáov
Xem thêm

Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THANH TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2010 2014

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THANH TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2010 2014

thúc hợp đồng nên dẫn đến tranh chấp.- Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: Tranh chấp này thườngphát sinh sau khi kết thúc hợp đồng do bên có nghĩa vụ không thực hiện xong nghĩavụ hoặc trong thời hạn thế chấp việc định giá đất không chính xác, từ đó khó có thểthương lượng, gây lên tranh chấp.- Tranh chấp đất thừa kế: do nguyên nhân người có quyền sử dụng đất chếtkhông để lại di trúc hoặc có di trúc nhưng không rõ ràng về phân chia thừa kế,người có quyền sử dụng đất chết có để lại di trúc nhưng do không hiểu pháp luật, ditrúc không đúng quy định của pháp luật gây tranh chấp.- Tranh chấp do bị lấn, chiếm đất đai: Loại tranh chấp này diễn ra khá phổbiến giữa những người sử dụng đất, thường là lấn chiếm ranh giới đất hoặc chiếmtoàn bộ diện tích đất của người khác hoặc do không nắm vững pháp luật về đất đaitrước đó đã cho hoặc cho mượn này đòi lại dẫn đến tranh chấp.- Tranh chấp tài sản gắn liền với đất: Tài sản gắn liền với đất bao gồm: Nhàở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm... loại tranh chấp này (dưới các hình thức như:tranh chấp sở hữu, thừa kế, mua bán tài sản...) luôn gắn liền với việc công nhận việcsử dụng đất.15- Tranh chấp gây cản trở thực hiện quyền sử dụng đất: Tranh chấp này rất ítxẩy ra nhưng khá phức tạp do khu đất của một hộ bên ở sâu hoặc xa mặt tiền, mộtbên so có thành kiến cá nhân nên cản trở bên kia thực hiện quyền sử dụng đất.- Tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn: Loại hình tranh chấp này xẩy rakhi hai vợ chồng ly hôn, nó liên quan đến phân chia tải sản và quyền sử dụng đất cảhai bên khi ly hôn đều cho rằng mình có quyền và lợi ích nhiều hơn về quyền sửdụng đất.- Tranh chấp đất công: Loại hình tranh chấp này là do cá nhân, tổ chức và hộgia đình tự ý chiếm dụng đất của Nhà nước hoặc do hoàn cảnh lịch sử để lại việc sửdụng đất của nhân dân qua nhiều lần biến động, việc quản lý đất trước đây còn nhiều
Xem thêm

85 Đọc thêm

Xây dựng phần mềm ứng dụng quản lí tiếp công dân và xử lí đơn thư Khiếu nại, Tố cáo trên nền web

Xây dựng phần mềm ứng dụng quản lí tiếp công dân và xử lí đơn thư Khiếu nại, Tố cáo trên nền web

Nội dung của đồ án: Đồ án trình bày quy trình Xây dựng phần mềm ứng dụng quản lí tiếp Công dân và xử lý đơn thư Khiếu nại, Tố cáo trên nền web bao gồm tìm hiểu nghiệp vụ quản lí tiếp Công dân và xử lý đơn thư Khiếu nại, Tố cáo trên nền web, từ đó đi vào phân tích thiết kế hệ thống để đưa ra một sản phẩm phần mềm có các chức năng cần thiết, cấu trúc đồ án này gồm bốn chương: Chương 1: Tổng quan về phần mềm ứng dụng quản lí tiếp Công dân và xử lí đơn thư khiếu nại, tố cáo của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Vinh. Chương 2: Tổng quan về ngôn ngữ lập trình được sử dụng. Chương 3: Phân tích thiết kế hệ thống. Chương 4: Lập trình xây dựng và mô tả hệ thống. Kết luận và hướng phát triển đề tài. Đối tượng nghiên cứu: Các quá trình quản lý đồ án, lưu trữ, thống kê, tìm kiếm đồ án, qua đó Xây dựng phần mềm ứng dụng quản lí tiếp Công dân và xử lí đơn thư khiếu nại, tố cáo của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Vinh. Phạm vi nghiên cứu: Chương trình được áp dụng Xây dựng phần mềm ứng dụng quản lí tiếp Công dân và xử lí đơn thư khiếu nại, tố cáo của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Vinh.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ( GIAI ĐOẠN 2013 2015)”

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ( GIAI ĐOẠN 2013 2015)”

giảm. Công tác giải quyết khiếu nại liên quan đến đất đai có nhiều bướcchuyển biến tích cực, số lượng đơn thư khiếu nại không thuộc cấp thẩm quyền23qua các năm giảm nhờ công tác tiếp dân và tuyên truyền phổ biến pháp luật,chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện tốt, góp phần ổn định đời sốngchính trị, và hơn hết là quyền lợi của nhân dân được bảo đảm.2.3. Một số hạn chế còn tồn đọng trong công tác giải quyết khiếu nạivề đất đaiMặc dù những năm qua thành phố đã không ngừng cố gắng nâng caohiệu quả công tác giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, quá trình giải quyết khiếunại đất đai còn tồn tại những hạn chế sau:Thứ nhất, khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cưĐể thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội, tỉnh đã tiến hànhthu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án đầu tư. Tuy nhiên,vấn đề bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho những diện bị thu hồi đất ở cácđịa phương gặp không ít khó khăn và vướng mắc như: chưa có khu tái địnhcư, giá đất bồi thường không hợp lý, công tác thực hiện ở các địa phươngchưa tốt dẫn đến tình trạng kéo dài không giải phóng được mặt bằng,... cụ thểmột số trường hợp điển hình như:- Vụ khiếu nại về việc đền bù, giải tỏa và bố trí tái định cư đối với các hộdân ở thôn Hà An, huyện Nam Đông.- Vụ khiếu nại của các hộ bờ sông Hương, phường Phú cát ( 41/600 hộ )liên quan đến việc đền bù, giải toả khi thực hiện dự án xây dựng chỉnh trangđô thị dọc bờ sông Hương, phường Phú Cát, thành phố Huế.Thứ hai, khiếu nại về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Đây là dạng khiếu nại phổ biến hiện nay. Phát sinh một phần do sai sótcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp, thu hồi giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất: không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có
Xem thêm

38 Đọc thêm

300 CAU TRAC NGHIEM KHO BAC NHA NUOC

300 CAU TRAC NGHIEM KHO BAC NHA NUOC

tai lieu 300 cau trac nghiem kho bac nha nuoc hay trắc nghiệm môn nghiệp vụ kho bạc nhà nước dành cho ngạch chuyên viên và kế toán viên Nội dung: Ngạch chuyên viên nghiệp vụ: Luật ngân sách nhà nước số 012002QH11 năm 2002, các văn bản hướng dẫn Luật ngân sách nhà nước số 012002QH11 năm 2002 và Luật ngân sách số 832015QH13 năm 2015. Trường hợp tuyển dụng chuyên viên nghiệp vụ vào công tác tại cơ quan KBNN: + Đối với chuyên viên luật: Kiến thức về pháp luật hành chính nhà nước và pháp luật kinh tế, trong đó tập trung chủ yếu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 802015QH13 (có hiệu lực từ ngày 0172016); Luật ngân sách nhà nước số 012002QH11 năm 2002, Luật ngân sách số 832015QH13 năm 2015; Luật đầu tư công số 492014QH13, Luật đấu thầu số 432013QH13, Luật xử lý vi phạm hành chính số 152012QH13, Luật khiếu nại số 022011QH13, Luật tố cáo số 032011QH13 và các văn bản hướng dẫn các luật này. + Đối với chuyên viên xây dựng cơ bản: Kiến thức về xây dựng dân dụng, kiến trúc, trong đó tập trung chủ yếu Luật xây dựng số 502014QH13, Luật đấu thầu số 432013QH13, Luật đầu tư công số 492014QH13 và các văn bản hướng dẫn các luật này. Ngạch chuyên viên tin học: Kiến thức chung về công nghệ thông tin, hệ điều hành; lập trình; cơ sở dữ liệu; quản trị mạng và truyền thông. Ngạch kế toán viên: Luật ngân sách nhà nước số 012002QH11 năm 2002, các văn bản hướng dẫn Luật ngân sách nhà nước số 012002QH11 năm 2002 và Luật ngân sách số 832015QH13 năm 2015; Luật kế toán số 032003QH11 năm 2003, các văn bản hướng dẫn và Luật kế toán số 882015QH13 năm 2015.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Cùng chủ đề