KHI KỂ LẠI HÀNH ĐỘNG CỦA NHÂN VẬT CẦN CHÚ Ý ĐIỀU GÌ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KHI KỂ LẠI HÀNH ĐỘNG CỦA NHÂN VẬT CẦN CHÚ Ý ĐIỀU GÌ":

MÔ PHỎNG HÀNH ĐỘNG NHÂN VẬT TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH 3D

MÔ PHỎNG HÀNH ĐỘNG NHÂN VẬT TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH 3D

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 771LỜI GIỚI THIỆUTrong những năm gần đây công nghệ thông tin đã đạt được những bướcphát triển nhảy vọt cả về phần cứng lẫn phần mềm. Những ứng dụng của nó vàocuộc sống ngày càng phong phú, đa dạng và thiết thực hơn. Từ các lĩnh vực cơbản như khoa học cơ bản, kinh tế, kỹ thuật cho đến các lĩnh vực như giải trí, dulịch, không lĩnh vực nào không có sự ứng dụng thiết thực và hiệu quả của côngnghệ thông tin. Sự phát triển không ngừng của sức mạnh máy tính đã làm chomột số lĩnh vực khó phát triển trước kia nay đã có khả năng phát triển và đã đạtđược những thành tựu đáng kể. Chúng ta có thể kể đến cả các lĩnh vực như: cáchệ chuyên gia, các hệ xử lý thời gian thực…và một lĩnh vực khác cũng cần phảinói là Thực tại ảo (Virtual reality) và những ứng dụng của nó trong công nghệ.Trong thực tại ảo thì Particle lại là một thành phần vô cùng quan trọng. Chính vìvậy mà đợt làm đồ án tốt nghiệp này, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của Th.SNguyễn Văn Huân bộ môn Các hệ thống thông tin – Khoa công nghệ thông tin Đại hoc Thái Nguyên. Em được hướng dẫn tìm hiểu đề tài : “Mô phỏng hànhđộng nhân vật trong xây dựng mô hình 3D”Báo cáo gồm 4 phần chính: Tổng quan về thực tại ảo và hành động của nhân vật trong thực tại ảo. Kỹ thuật mô phỏng. Xây dựng chương trình. Kết luận và hướng phát triển.2CHƯƠNG I
Xem thêm

77 Đọc thêm

Tập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vật

TẬP LÀM VĂN LỚP 4 KỂ LẠI HÀNH ĐỘNG CỦA NHÂN VẬT

Tập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vậtTập làm văn lớp 4 kể lại hành động của nhân vật

15 Đọc thêm

Phân tích tâm trạng và hành động nhân vật Mỵ khi cứu A Phủ

PHÂN TÍCH TÂM TRẠNG VÀ HÀNH ĐỘNG NHÂN VẬT MỴ KHI CỨU A PHỦ

Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.   Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Đó là nét tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.    Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân.    Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa… Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.   Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.   Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân – hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài – một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…   Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.   Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ]. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn – giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 – 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.   Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn Đời Thừa.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài: Luyện nói: tự sự kết hợp với biểu cảm, nghị luận, chuyển đổi ngôi kể

SOẠN BÀI: LUYỆN NÓI: TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI BIỂU CẢM, NGHỊ LUẬN, CHUYỂN ĐỔI NGÔI KỂ

LUYỆN NÓI: TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI BIỂU CẢM, NGHỊ LUẬN, CHUYỂN ĐỔI NGÔI KỂ I. HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ Với các đề bài: 1) Tâm trạng của em sau khi gây ra một chuyện không hay cho bạn. 2) Kể lại buổi sinh hoạt lớp, ở đó em đã phát biểu ý kiến chứng một bạn là người tốt. 3) Dựa vào đoạn đầu truyện Chuyện người con gái Nam Xương (từ đầu cho đến Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi), hãy đóng vai Vũ Nương để kể lại câu chuyện theo ngôi kể thứ nhất. 4) Hãy đóng vai Trương Sinh để thực hiện yêu cầu như trên. Hãy lập dàn ý cho bài kể miệng để trình bày trước lớp. Gợi ý: - Đây là bài văn nói nên không viết thành bài văn mà chỉ lập dàn ý để dựa vào đó trình bày bằng miệng trước lớp. - Dựa vào gợi ý trong bài Tập làm văn ở bài 8 và bài 12 để lập dàn ý cho đề (1) và (2). Với đề (3) (với đề 4 cũng tương tự), cần chú ý một số thao tác sau: + Chuyển đổi ngôi kể: không chỉ là việc thay thế ngôi kể thứ ba bằng ngôi kể thứ nhất; việc chuyển đổi ngôi kể sẽ kéo theo những thay đổi trong lời dẫn chuyện (ví dụ, không thể chỉ đổi là: “Tôi, người con gái quê ở Nam Xương,…) và lời kể về nhân vật Vũ Nương (không thể tự mình kể về mình là: …, tính tình thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.), lời kể về các nhân vật khác,… + Đảm bảo nguyên tắc: “tôi” chỉ kể những gì “tôi” chứng kiến, “tôi” biết (tức là không thể kể những gì Vũ Nương không chứng kiến, không biết); nếu vẫn giữ đầy đủ các nội dung như kể ở ngôi thứ ba thì phải có cách chuyển đổi thích hợp. - Luyện nói trước ở nhà theo dàn ý đã chuẩn bị: tưởng tượng ra người nghe, hướng tới người nghe để nói; chú ý dẫn dắt mở đầu, chuyển đoạn và kết thúc; trong khi nói kết hợp với cử chỉ, điệu bộ để lời nói đạt được hiệu quả tác động cao hơn. II. HƯỚNG DẪN LUYỆN NÓI TRÊN LỚP 1. Có thể trao đổi, tham khảo các dàn ý khác trước giờ luyện nói; 2. Nói trước lớp theo dàn ý đã chuẩn bị ở nhà: - Chú ý diễn đạt tự nhiên, rõ ràng, mạch lạc; - Trong khi nói phải hướng tới người nghe để điều chỉnh sắc thái, âm lượng, biểu cảm cho thích ứng; - Rèn tác phong đĩnh đạc, ngay ngắn trước đám đông. 3. Lắng nghe, ghi chép những nhận xét của thầy, cô giáo và các bạn; sửa chữa những lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt, đặc biệt chú ý bài nói với yêu cầu chuyển đổi ngôi kể.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài: Tổng kết phần tập làm văn lớp 6

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT PHẦN TẬP LÀM VĂN LỚP 6

TỔNG KẾT PHẦN TẬP LÀM VĂN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hãy phân loại các văn bản trong SGK Ngữ văn 6 theo các phương thức biểu đạt và dẫn ra một số ví dụ để điền vào bảng sau: STT Các phương thức biểu đạt Tên văn bản 1 Tự sự 2 Miêu tả 3 Biểu cảm 4 Nghị luận Gợi ý: - Trong một văn bản, người ta thường sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt khác nhau. Tuy nhiên, có thể dựa vào phương thức chính được sử dụng để phân loại văn bản. - Có thể lấy một số văn bản làm ví dụ tiêu biểu cho các phương thức biểu đạt như sau: + Tự sự: Các truyện truyền thuyết (Con Rồng, cháu Tiên, Bánh chưng, bánh giầy,...) , cổ tích (Sọ Dừa, Thạch Sanh,...), ngụ ngôn (Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi,...), truyện cười (Treo biển, Lợn cưới, áo mới,...), truyện trung đại (Con hổ có nghĩa, Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng,...), truyện ngắn (Bức tranh của em gái tôi),.... + Miêu tả (kết hợp với tự sự): Bài học đường đời đầu tiên, Vượt thác, Mưa,... + Biểu cảm: Đêm nay Bác không ngủ, Lượm,... - Chú ý một số văn bản có sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt: Cây tre Việt Nam, Bài học đường đời đầu tiên, Đêm nay Bác không ngủ,... 2. Trong chương trình Ngữ văn 6, em đã được tập làm các loại văn bản theo những phương thức nào trong số các phương thức sau: - Tự sự - Miêu tả - Biểu cảm - Nghị luận Gợi ý: Biểu cảm, nghị luận là hai kiểu bài chưa được tập làm ở chương trình Ngữ văn 6. 3. Xem xét bảng sau và cho biết văn bản tự sự, miêu tả khác với đơn từ ở những điểm nào? Loại văn bản Mục đích Nội dung Hình thức Tự sự thông báo, giải thích, nhận thức nhân vật, sự việc, thời gian, địa điểm, diễn biến, kết quả văn xuôi, thơ, tự do Miêu tả để hình dung, cảm nhận tính chất, thuộc tính, trạng thái sự vật, cảnh vật, con người văn xuôi, thơ, tự do Đơn từ đề nghị, yêu cầu lí do, yêu cầu theo mẫu hoặc không theo mẫu, đúng quy cách 4. Từng phần trong bố cục của bài văn tự sự hay miêu tả thể hiện những nội dung gì? Cách thể hiện ra sao? Hãy điền những nội dung cần thiết vào bảng sau: Các phần Tự sự Miêu tả Mở bài Thân bài Kết bài Gợi ý: Nhớ lại cách làm một bài văn tự sự, miêu tả. So sánh cách viết từng phần của mỗi kiểu bài. Ví dụ: Phần Tự sự Miêu tả Mở bài giới thiệu nhân vật, tình huống, sự việc giới thiệu đối tượng miêu tả (cảnh hoặc người) 5. Trong văn tự sự, sự việc - nhân vật - chủ đề quan hệ với nhau như thế nào? Cho ví dụ. Gợi ý: Xem lại bài Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự. Chú ý: sự việc, nhân vật,... phải tập trung làm nổi bật được chủ đề của bài văn; chủ đề được thể hiện thông qua hệ thống các nhân vật, sự việc. Ví dụ: chủ đề phê phán những kẻ hiểu biết cạn hẹp mà lại huênh hoang, khuyên nhủ người ta phải biết mở rộng tầm hiểu biết của mình, không chủ quan, kiêu ngạo của truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng được thể hiện qua nhân vật chú ếch và sự việc ếch ở đáy giếng, ếch ra ngoài, ếch bị trâu dẫm bẹp. 6. Nhân vật trong văn tự sự thường được thể hiện những gì? Cho ví dụ. Gợi ý: Nhân vật trong văn tự sự được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm,... Có thể thấy đặc điểm này rõ nhất trong các truyện kể dân gian. 7. Trong văn tự sự, thứ tự kể và ngôi kể có tác dụng gì? Cho ví dụ. Gợi ý: - Trong văn tự sự, các sự việc có thể được kể theo thứ tự trước - sau một cách tự nhiên (các truyện kể dân gian thường kể theo thứ tự này). Nhưng để tạo bất ngờ, gây hứng thú, thể hiện tình cảm của nhân vật,... người ta có thể linh hoạt thay đổi thứ tự kể bằng cách kể đảo ngược, kết quả kể trước, diễn biến kể sau hoặc kể bổ sung các sự việc theo dòng hồi nhớ của nhân vật (các truyện kể hiện đại thường kể theo thứ tự này). - Ngôi kể cũng có một vai trò quan trọng trong văn tự sự. Có khi người kể giấu mình đi, gọi nhân vật bằng tên gọi của chúng, kể theo ngôi thứ ba; khi đó, người kể có thể linh hoạt, tự do kể lại những gì diễn ra đối với nhân vật; ví dụ: Các truyện kể dân gian, Vượt thác,...  Có khi, người kể tự xưng là "tôi" để kể theo ngôi thứ nhất; khi đó, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, hoặc chính mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra cảm tưởng, suy nghĩ của mình; ví dụ: Bài học đường đời đầu tiên, Bức tranh của em gái tôi, Buổi học cuối cùng,... 8. Quan sát có vai trò gì trong văn miêu tả? Cho ví dụ. Gợi ý: Quả là muốn viết được, nhất thiết phải biết lối quan sát để ấn sâu thêm trí nhớ, giúp sức thêm cho trí tưởng tượng... Muốn viết được, thứ nhất phải do có trải, có biết sự thật kĩ lưỡng, do thấy cảm hứng và lòng hăm hở mới có chỗ bấu víu chắc chắn được.[...] Cái cách, cái lối quan sát không có gì đặc biệt và bí ẩn. Đó chỉ là thói quen mài giũa cái nhìn, cái nghe, cái nghĩ, đó là công việc bắt sức óc phải chăm chú tìm tòi, đổi mới lọc lõi đến tận chi tiết cho phong phú. Quan sát giỏi là phải thấy những nét chính, thấy những đặc điểm riêng, móc ra được những ngóc ngách của sự vật, vấn đề. Nhiều khi chẳng cần ghi dàn đủ việc, chỉ chép lại những đặc sắc mà mình cảm nhất, như một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên thì trong bụng mình thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được... [...] từ chỗ tìm bới trong la liệt hiện tượng quanh mình mà phát hiện ra bản chất và quy luật hiện tượng chính, tránh lối phỏng đoán sai lầm, công thức, đơn giản và loá mắt không tách bạch được đâu là chủ yếu, thứ yếu. ( Theo Tô Hoài, Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả, NXB GD, 2000) 9. Có những cách miêu tả nào? Gợi ý: Tuỳ theo từng đối tượng miêu tả mà có thể có những cách miêu tả khác nhau, nhưng nhìn chung, làm một bài văn miêu tả cần chú ý một số điểm chung sau: - Xác định được đối tượng miêu tả (tả cảnh hay tả người); - Lựa chọn được những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu để khắc hoạ đối tượng miêu tả; - Miêu tả đối tượng theo một trình tự nhất định nào đó; có thể tả từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ chi tiết, bộ phận đến toàn thể hoặc ngược lại; - Biết sử dụng những hình ảnh liên tưởng, so sánh để gợi tả đối tượng; - Sắp xếp nội dung miêu tả theo bố cục ba phần của một bài văn hoàn chỉnh. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG  1. Trong vai anh đội viên, hãy kể lại câu chuyện cảm động trong bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ. Gợi ý: Để làm đề văn này, cần chú ý một số điểm như sau: - Kiểu bài: đây là bài văn kể chuyện; - Lập dàn ý: + Nhân vật: Bác Hồ và anh đội viên (người kể chuyện, có thể xưng tôi); + Câu chuyện: Trên đường đi chiến dịch, vào một đêm khuya trời mưa và lạnh, ở một mái lều tranh, ba lần anh đội viên thức dậy vẫn thấy Bác chưa ngủ. Anh đội viên cảm động trước tình cảm của Bác đối với các chiến sĩ, anh thức luôn cùng Bác. Nên kể câu chuyện theo diễn biến của các lần anh đội viên thức giấc. + Tình cảm cần thể hiện: Câu chuyện được kể bằng tình cảm của anh đội viên. Anh đội viên chứng kiến và kể lại, mọi sự việc đều được tái hiện qua con mắt của nhân vật này. Chú ý diễn tả được tình cảm xúc động, gần gũi mà kính phục của anh đội viên với Bác Hồ. 2. Dựa vào bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa, hãy tả lại trận mưa rào mà em có dịp quan sát. Gợi ý: - Yêu cầu: + Kiểu bài: văn tả cảnh; + Nội dung: tả trận mưa rào. Mọi hình ảnh, suy nghĩ tuy có thể được sáng tạo nhưng vẫn phải trung thành với bài thơ. Bài viết phải thể hiện được tình yêu thiên nhiên qua bức tranh thiên nhiên được miêu tả. 3. Một bạn dự định viết một lá đơn với các mục như sau: - Quốc hiệu và tiêu ngữ - Nơi làm đơn; ngày, tháng, năm - Tên đơn - Nơi gửi - Họ tên, nơi công tác, địa chỉ của người gửi đơn - Cam đoan và cảm ơn - Kí tên Theo em, các mục của một lá đơn như trên đã đầy đủ chưa? Nếu phải bổ sung thì bổ sung nội dung nào? Gợi ý: Dàn ý của đơn trên đã có mục trình bày lí do và nguyện vọng đề nghị được giải quyết chưa? Đây là nội dung không thể thiếu đối với một lá đơn.
Xem thêm

4 Đọc thêm

thời gian nghệ thuật trong bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh

thời gian nghệ thuật trong bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh

Nghệ thuật tự sự ở đây vừa tiến lên để “kể” vừa “ngưng lại” để soi tỏ tâm trạng. Sống trong những định kiến những thù hằn dai dẳng nhưng tâm hồn những đứa trẻ vẫn có những giây yên bình, vẫn mang một tâm hồn thánh thiện, không bon chen, không cố nhoi lên để rồi dẫm dập lên nhau như những cánh diều của người lớn, như lời nhân vật Quý Anh nói “chúng ta là con đẻ của một cuộc đời không thù hận”. Chính những đoạn ngưng này trong cuộc đời đầy những oán ân của các nhân vật đã đem lại chất thơ cho tác phẩm, ước mong xóa nhòa những lời nguyền cay độc đó càng được chú ý hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

DÀN ý 15 đề ôn LUYỆN văn MIÊU tả lớp 6

DÀN Ý 15 ĐỀ ÔN LUYỆN VĂN MIÊU TẢ LỚP 6

DÀN Ý 15 ĐỀ ÔN LUYỆN VĂN MIÊU TẢ LỚP 6 ĐỀ 1: QUANG CẢNH MỘT PHIÊN CHỢ THEO TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CỦA EM A. Mở bài. Em định tả một phiên chợ ở đô thị, ở đồng bằng, vùng núi hay vùng biển? Chợ quê em có đặc điểm gì nổi bật nhất? B. Thân bài. Tả lần lượt theo trình tự thời gian. + Lúc chợ chưa họp (Quang cảnh như thế nào? Các lều chợ ra sao? Dấu hiệu còn lại của buổi chợ hôm trước?). + Chợ bắt đầu họp (mọi người đổ về chợ đông như thế nào? Các hàng quán bắt đầu bày bán ra sao? Không khí lúc này thay đổi thế nào,…). + Lúc ta chợ (không khí, sự bừa bộn,…). Đặc điểm riêng (nếu có) ở khu chợ quê em? C. Kết bài. Kỉ niệm đẹp nhất của em với ngôi chợ ấy là gì? (là những lần đi chợ tết, hay là những lần theo mẹ đi mua sắm,…). ĐỀ 2: HÃY TẢ MỘT NHÂN VẬT CÓ HÀNH ĐỘNG VÀ NGOẠI HÌNH KHÁC THƯỜNG MÀ EM ĐÃ CÓ DỊP QUAN SÁT, ĐÃ ĐỌC TRONG SÁCH HOẶC NGHE KỂ LẠI Có thể chọn ngay các nhân vật đã học như: Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Sọ Dừa,…hoặc chọn một nhân vât mà em biết qua các phương tiện thông tin khác. Dưới đây là một dàn ý khái quát chung: A. Mở bài. Giới thiều về nhân vật mà em sẽ tả (Tên nhân vật, nhân vật xuất hiện trong tác phẩm nào? Nhân vật có đặc điểm gì gây ấn tượng?…). B. Thân bài. Miêu tả những nét khác thường về chân dung của nhân vật đó? (lúc sinh ra, vóc dáng, sức mạnh,…). Miêu tả những hành động khác thường của nhân vật (diệt giặc, diệt yêu tinh, các hành động vướt quá sức của người thường,…). Nhận xét về nhân vật (đó là một người tốt hay xấu, nhân vật biểu tượng cho ước mơ gì hay cho điều gì mà con người mong muốn?). C. Kết bài. Nhân vật mà em vừa miêu tả để lại trong em cảm xúc và ấn tượng gì? Từ nhân vật ấy, em mong ước điều gì hay rút ra được bài học gì cho bản thân. ĐỀ 3: TỪ BÀI VĂN LAO XAO CỦA DUY KHÁN,EM HÃY TẢ LẠI KHU VƯỜN TRONG MỘT BUỔI SÁNG ĐẸP TRỜI. I.Mở bài Giới thiệu chung: Khu vườn của ai?Rộng hay hẹp? Khu vườn được tả vào thời điểm nào? II.Thân bài Tả cảnh khu vườn: Vườn trồng những loại cây gì? Tả đặc điểm của từng loại cây trái trong vườn. Vẻ đẹp bao quát của khu vườn như thế nào?( màu sắc, hình ảnh, âm thanh…) III.Kết bài Cảm nghĩ của em: Yêu mến, gắn bó với khu vườn. Có ý thức cùng mọi người chăm sóc để khu vườn tươi tốt, đem lại nguồn thu nhập ngày càng tăng cho gia đình
Xem thêm

12 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 75

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN ĐỀ SỐ 75

I. trắc nghiệm Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bằng cách khoanh tròn vào chữ cái đầu dòng, trước mỗi câu trả lời đúng nhất. “- Trời ơi, chỉ còn có năm phút ! Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già. - Ô ! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này ! Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi. – Chào anh – đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh – Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại.  Tôi ở với anh ít hôm được chứ ? Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng rõ ràng, như người ta cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh – những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy. - Chào anh.” 1. Đoạn trích trên nằm ở tác phẩm nào ? A. Lặng lẽ Sa Pa B. Chiếc lược ngà C. Làng 2. Tác giả là ai ? A. Nguyễn Thành Long B. Nguyễn Quang Sáng C. Kim Lân D. Nguyễn Khoa Điềm 3. Đoạn trích kể về ai, về sự việc gì ? A. Kể việc anh thanh niên xuống núi gặp bác lái xe. B. Kể về phút chia tay giữa họa sĩ, cô kĩ sư và anh thanh niên C. Kể về lời hứa quay lại gặp anh thanh niên của ông họa sĩ. 4. Người kể chuyện trong đoạn trích này xuất hiện ở hình thức nào ? A. Ngôi thứ nhất                               B. Ngôi thứ ba 5. Những câu : “Anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ” ; “Nhà họa sĩ tiếc rẻ đứng dậy” ; “Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi” là lời người kể chuyện giấu mình nhưng có mặt ở khắp nơi trong văn bản. Đúng hay sai ? A. Đúng                                                          B. Sai 6. Nhận định nào sau đây đúng nhất về vai trò người kể chuyện trong văn bản tự sự ? A. Người kể chuyện là người đứng ra kể câu chuyện trong tác phẩm để thể hiện tình cảm. B. Người kể chuyện là người dường như biết hết mọi việc, mọi hành động, tâm tư, tình cảm nhân vật. C. Người kể chuyện là người dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện : giới thiệu nhân vật và tình huống, tả người và tả cảnh vật, đưa ra các nhận xét, đánh giá về những điều được kể. D. Cả A, B. II. tự luận. Cảm nhận của em về nhân vật ông họa sỹ trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa   Đáp án  I. Trắc nghiệm Câu Nội dung trả lời 1 A 2 A 3 B 4 B 5 A 6 C II. Tự luận Cảm nhận của em về nhân vật ông họa sĩ trong Lặng lẽ Sa Pa Bài làm Trong truyện Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long, ngoài nhân vật chính – anh thanh niên, các nhân vật khác như ông già họa sĩ, cô kĩ sư, bác lái xe, không chỉ tham gia vào câu chuyện, làm rõ nét hơn cho nhân vật chính mà còn làm phong phú, sâu sắc hơn chủ đề của truyện. Trong số nhân vật phụ đó, đáng chú ý nhất là nhân vật ông họa sĩ già. Người kể chuyện trong tác phẩm hầu như nhập vai vào cái nhìn, suy nghĩ  của ông họa sĩ để quan sát, miêu tả từ cảnh thiên nhiên đến nhân vật chính trong truyện. Ngay từ phút giây đầu gặp anh thanh niên, cùng trước đó với những lời giới thiệu của bác lái xe làm nhà họa sĩ già xúc động mạnh về hình dáng một người con trai có tầm vóc nhỏ bé, nhưng nét mặt rạng rỡ. Những phút đầu gặp gỡ, bằng sự từng trải nghề nghiệp, niềm khao khát của người nghệ sĩ đi tìm đối tượng của nghệ thuật, khiến họa sĩ già xúc động và bối rối “bắt gặp một điều thực ra ông vẫn ao ước được biết. Một nét thôi đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đủ là giá trị của một chuyến đi dài”. ở tuổi già, tuổi của những nghỉ ngơi, trái tim người nghệ sĩ này bỗng như trẻ lại, thấy cuộc sống còn bao ý nghĩa, khát khao sống, khát khao sáng tạo. Ông họa sĩ muốn ghi lại hình ảnh anh thanh niên bằng nét bút ký họa : “Người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm người ta suy nghĩ về anh, và về những điều anh suy nghĩ… cuồn cuộn hiện ra khi gặp người”. Với nhà họa sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó nhọc, gian nan. Cảm giác “nhọc mệt” mà người thanh niên cho ông chính là niềm vui, hạnh phúc, sung sướng được gặp con người ngoài đời, chân dung nghệ thuật mà ông khát khao đi tìm. Một trái tim nghệ thuật, một khát khao tiếp tục được sáng tạo, được cống hiến sống dậy, thúc dục ông phải vẽ. Giây phút xúc động ấy, ông nhận ra được những âm vang đẹp đẽ, ngọt ngào của cuộc đời, để rồi vang vọng mãi trong tâm hồn ông, biến thành tac phẩm nghệ thuật. Những lời nói, suy nghĩ, ứng xử, thái độ chân thành của anh thanh niên đã bắt ông suy nghĩ về những cái đã làm và chưa làm được, cái ông dám nghĩ mà không dám làm. Những nghĩ suy về nghệ thuật với sức mạnh và sự bất lực“có sẵn mà chưa rõ hay chưa đúng” về mảnh đất Sa Pa mà ông nghĩ đến “nghỉ ngơi trong giai đoạn cuối đời”. Cho nên nhân vật hoạ sĩ già còn là hoá thân bằng xương thực của một tuyên ngôn nghệ thuật. Nhân vật ông họa sĩ già là nét đẹp trong cuộc sống, một con người ý thức được vị trí, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nước, là người nhạy cảm trước cái đúng, cái sai, ái đẹp luôn hướng thiện, mong muốn làm điều tốt đẹp cho cuộc sống. Hình ảnh ông cùng các nhân vật khác để lại cho Lặng lẽ Sa Pa những vang vọng, tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của mỗi người.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn bài: Tóm tắt văn bản tự sự

SOẠN BÀI: TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tóm tắt văn bản tự sự là gì? Tóm tắt văn bản nói chung, tóm tắt văn bản tự sự nói riêng là việc làm xuất phát từ nhu cầu thực tế. Trong cuộc sống, nhiều trường hợp chúng ta muốn thông báo ngắn gọn nội dung một sự việc, một câu chuyện nào đó đã được biết cho người khác. Khi ấy, chúng ta cần đến thao tác tóm tắt. Để thông báo những nội dung chính của một văn bản tự sự nào đó đến người khác, chúng ta cần đến thao tác tóm tắt văn bản tự sự. Có thể hiểu ngắn gọn: Tóm tắt văn bản tự sự là ghi lại một cách ngắn gọn, trung thành những nội dung chính của văn bản tự sự. 2. Cách tóm tắt văn bản tự sự a) Văn bản tóm tắt phải đảm bảo những yêu cầu nhất định - Văn bản sau đây kể lại nội dung của văn bản nào? Vua Hùng thứ mười tám có người con gái đẹp tên là Mị Nương. Nhà vua muốn kén một chàng rể xứng đáng. Sơn Tinh và Thuỷ Tinh cùng một lúc đến cầu hôn. Cả hai người đều có tài, vua Hùng không biết gả con cho ai, bèn ra điều kiện thách đố để dễ bề lựa chọn. Sơn Tinh thắng cuộc, cưới Mị Nương rồi đưa về núi. Thuỷ Tinh tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng bị thua. Từ đó hằng năm Thuỷ Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng đều thất bại. Gợi ý: Văn bản trên kể lại nội dung của văn bản Sơn Tinh, Thuỷ Tinh; - So sánh văn bản trên với văn bản Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và tự rút ra nhận xét về đặc điểm của văn bản tóm tắt. Gợi ý: - So sánh nội dung của văn bản trên với nội dung của văn bản gốc. - So sánh về độ dài, lời văn, số lượng nhân vật, sự việc,… giữa văn bản trên với văn bản gốc. Văn bản tóm tắt phải đảm bảo giữ được nội dung chính của văn bản gốc: nhân vật chính, sự việc chính. Lời văn của văn bản tóm tắt là lời văn của người tóm tắt; lời văn của văn bản tóm tắt phải ngắn gọn. Tóm lại, văn bản tóm tắt truyền tải trung thành nội dung (sự việc, nhân vật) chính của tác phẩm trong một dung lượng ngắn hơn nhiều so với dung lượng của văn bản gốc. b) Các bước tóm tắt một văn bản tự sự: - Đọc văn bản, xác định chủ đề (việc xác định chủ đề văn bản sẽ quyết định việc lựa chọn nhân vật, sự việc,…) - Xác định nội dung chính cần tóm tắt: + Nhân vật chính; + Sự việc chính; - Sắp xếp nhân vật, sự việc theo trật tự nhất định, phản ánh trung thành câu chuyện được kể trong văn bản gốc; - Viết bằng lời văn của mình nội dung cần tóm tắt. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Kiểm tra xem những sự việc dưới đây đã đảm bảo đầy đủ những sự việc chính của truyện ngắn Lão Hạc chưa? (1) Con trai lão Hạc đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn lại “cậu Vàng”. (2) Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó vàng. (3) Lão mang tiền dành dụm được gửi ông giáo và nhờ ông trông coi mảnh vườn. (4) Vì muốn để lại mảnh vườn cho con, lão phải bán con chó. (5) Một hôm lão xin Binh Tư một ít bả chó. (6) Cuộc sống mỗi ngày một khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và bị ốm một trận khủng khiếp. (7) Lão bỗng nhiên chết - cái chết thật dữ dội. (8) Ông giáo rất buồn khi nghe Binh Tư kể chuyện ấy. (9) Cả làng không hiểu vì sao lão chết, trừ Binh Tư và ông giáo. Gợi ý: Đọc lại truyện ngắn Lão Hạc. Ghi lại những sự việc chính của câu chuyện. Các sự việc đã được liệt kê đầy đủ ở trên. Lưu ý: có những sự việc, nhân vật không được liệt kê vì không quyết định chủ đề của câu chuyện (chẳng hạn: chuyện bán sách của ông giáo, người vợ ông giáo). Các sự việc và nhân vật được xem là đầy đủ khi chúng ta tóm tắt một văn bản tự sự nào đó nghĩa là nếu thiếu đi một trong số đó thì chủ đề của truyện sẽ bị sai lệch đi. Với chủ đề: số phận bi thương của lão Hạc - người nông dân trong xã hội cũ, 9 sự việc trên đã đủ để viết một văn bản tóm tắt. 2. Trật tự sắp xếp các sự việc từ (1) đến (9) như trên đã chính xác chưa? Nếu chưa, hãy sắp xếp lại cho đúng. Gợi ý: Một trong những thao tác quan trọng khi tóm tắt văn bản tự sự là khi đọc văn bản ta phải lưu ý ghi lại những sự việc của cốt truyện theo đúng trình tự xuất hiện của nó trong câu chuyện. Trình tự diễn biến của câu chuyện được kể chứ không phải là trình tự của các sự việc trong lời kể. Như vậy, trình tự hợp lí của các sự việc trong câu chuyện về số phận lão Hạc sẽ là (2)-(1)-(4)-(3)-(6)-(5)-(8)-(7)-(9). Nếu là trình tự sự việc theo lời kể thì mở đầu truyện đã là sự việc (4), truyện ngắn này được kể theo lời kể của ông giáo - nhân vật của truyện và theo hồi ức của lão Hạc. 3. Dựa theo trình tự các sự việc chính đã xác định được, bằng lời văn của mình, hãy viết văn bản tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc. 4. Hãy tóm tắt văn bản trích Tức nước vỡ bờ. Gợi ý: Thực hiện theo trình tự các bước: đọc lại đoạn trích, ghi lại những nhân vật, sự việc chính và sắp xếp theo trật tự hợp lí, viết thành văn bản tóm tắt bằng lời văn của mình. - Các nhân vật chính: chị Dậu, anh Dậu, cai lệ, người nhà lí trưởng. - Các sự việc chính: + Chị Dậu vừa múc bát cháo lên cho chồng ăn, anh Dậu còn chưa kịp ăn thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào đòi bắt trói; + Chị Dậu khẩn thiết van xin hai tên tay sai vì chồng mình vừa ốm nặng nhưng không được mà còn bị cai lệ đánh; + Tức quá, chị Dậu vùng lên quật ngã cả hai tên tay sai. Chú ý: Trong văn bản tóm tắt, cần làm nổi bật sự đối kháng giữa cai lệ và chị Dậu, sức mạnh phản kháng của chị Dậu. 5. Văn bản Tôi đi học của Thanh Tịnh và Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng rất khó tóm tắt. Em hãy thử tóm tắt hai văn bản này và cho biết tại sao lại như vậy. Gợi ý: Hai văn bản Tôi đi học và Trong lòng mẹ tuy là văn bản tự sự nhưng giàu tính trữ tình. Đối với văn bản tự sự, sự việc là quan trọng, kể chuyện là kể những sự việc và nhân vật trong sự việc. Đối với văn bản trữ tình, tình cảm, cảm xúc là quan trọng, sự việc chỉ là cái cớ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Trong hai văn bản trên, vẫn có những sự việc và hành động của nhân vật nhưng nhà văn đã dồn nhiều vào việc diễn tả dòng cảm xúc, những suy nghĩ của nhân vật. Hơn nữa, trong lời kể, các sự việc lại xuất hiện không theo như câu chuyện xảy ra trong thực tế, thời gian liên tục đảo ngược theo mạch hồi ức của nhân vật, các sự việc của hiện tại và quá khứ đan cài, hoán đổi trình tự nên rất khó sắp xếp cho đúng mạch diễn biến. Điều này là bình thường đối với tác phẩm tự sự hiện đại, nhất lại là những tác phẩm giàu tính trữ tình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài: Câu trần thuật đơn

SOẠN BÀI: CÂU TRẦN THUẬT ĐƠN

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài CÂU TRẦN THUẬT ĐƠN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Câu trần thuật đơn là gì? Đọc các câu sau đây và trả lời câu hỏi: (1) Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ mạnh. (2) Rồi, với bộ điệu khinh khỉnh, tôi mắng: - (3) Hức! (4) Thông ngách sang nhà ta? (5) Dễ nghe nhỉ! (6) Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. (7) Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. (8) Đào tổ nông thì cho chết! (9) Tôi về, không một chút bận tâm. (Tô Hoài) Gợi ý: Chú ý tới mục đích nói của mỗi câu. - Câu (1), (2), (6), (9): kể + tả + nhận xét; - Câu (4): hỏi; - Câu (3), (5), (8): biểu cảm, bộc lộ thái độ, cảm xúc; - Câu (7): cầu khiến. 2. Với những kiến thức đã học ở Tiểu học, em hãy cho biết trong các câu trên, đâu là câu trần thuật? Gợi ý: Câu (1), (2), (6), (9) là câu trần thuật (còn gọi là câu kể). 3. Xác định thành phần chủ ngữ, vị ngữ của các câu (1), (2), (6), (9). Gợi ý: tôi đã hếch răng lên xì một hơi rõ dài CN VN tôi mắng CN VN Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. CN VN CN VN Tôi về, không một chút bận tâm. CN VN 4. Câu trần thuật đơn là câu do một cụm chủ – vị tạo thành, dùng để tả, giới thiệu, nêu ý kiến nhận xét về một đối tượng nào đó. Trong các câu trần thuật trên, câu nào là câu trần thuật đơn? Gợi ý: Câu (6) không phải câu trần thuật đơn. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Căn cứ vào mục đích nói và thành phần cấu tạo (chủ – vị) để xác định câu trần thuật đơn trong đoạn văn sau: (1) Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa. (2) Từ khi có vịnh Bắc Bộ và từ khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu của sự sống con người thì, sau mỗi lần dông bão, bao giờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy. (3) Cây trên núi đảo lại xanh mượt, nước biển lại lam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa. (4) Và nếu cá có vắng tăm biệt tích trong ngày động bão, thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi. (Nguyễn Tuân) Gợi ý: Xác định thành phần chủ ngữ, vị ngữ của từng câu. Loại những câu có nhiều hơn một cụm chủ - vị ra, vì câu trần thuật đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị. Về mục đích nói, câu trần thuật đơn là câu dùng để giới thiệu, tả hoặc kể về một sự việc, sự vật hay để nêu lên một ý kiến. Câu (1), gồm một cụm C - V, dùng để giới thiệu và tả, là câu trần thuật đơn. Câu (2), gồm một cụm chủ vị làm thành phần chính (C: bầu trời Cô Tô; V: cũng trong sáng như vậy.), dùng để nêu ý kiến nhận xét, là câu trần thuật đơn. Các câu (3), (4) cũng là câu trần thuật nhưng không phải là câu trần thuật đơn vì có nhiều hơn một cụm chủ vị làm thành phần chính của câu, đây là câu trần thuật ghép. 2. Các câu dưới đây thuộc loại câu nào, dùng để làm gì? a) Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. (Con Rồng, cháu Tiên) b) Có một con ếch sống lâu ngày trong một giếng nọ. (Ếch ngồi đáy giếng) c) Bà đỡ Trần là người huyện Đông Triều. (Vũ Trinh) Gợi ý: Xác định tác dụng (mục đích nói) của từng câu để xem nó có phải là câu trần thuật không. Phân tích chủ ngữ, vị ngữ của từng câu để xác định nó có phải là câu trần thuật đơn không. Các câu trên đều là câu trần thuật đơn dùng để giới thiệu nhân vật. 3. So sánh cách giới thiệu nhân vật trong các câu trên với cách giới thiệu nhân vật trong các câu dưới đây. a) Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. (Thánh Gióng) b) Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn. (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh) c) Ngày xưa, có một ông vua nọ sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi. Viên quan ấy đã đi nhiều nơi, đến đâu quan cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người. Đã mất nhiều công tìm kiếm nhưng viên quan vẫn chưa thấy có một người nào thật lỗi lạc. Một hôm, viên quan đi qua cánh đồng làng kia, chợt thấy bên vệ đường có hai cha con nhà nọ đang làm ruộng [...]. (Em bé thông minh) Gợi ý: Chú ý đến sự khác nhau trong cách giới thiệu nhân vật chính. Để xác định được điều này cần nhớ lại nhân vật trong các truyện đã được học, nhân vật nào là nhân vật chính? (Nhân vật chính trong truyện Thánh Gióng là Gióng; trong truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là Sơn Tinh và Thuỷ Tinh; trong truyện Em bé thông minh là em bé). Sau khi nắm được nhân vật chính trong các truyện rồi, hãy đọc các câu và so sánh. Các câu trong bài tập 2 giới thiệu thẳng vào nhân vật chính khác với các câu ở bài tập này, người kể không giới thiệu ngay vào nhân vật chính mà giới thiệu các nhân vật phụ trước. 4. Những câu mở đầu truyện sau đây có tác dụng gì ngoài tác dụng giới thiệu nhân vật? a) Xưa có một người thợ mộc dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày. (Đẽo cày giữa đường) b) Người kiếm củi tên mỗ ở huyên Lạng Giang, đang bổ củi ở sườn núi, thấy dưới thung lũng phía xa, cây cỏ lay động không ngớt mới vác búa đến xem, thấy một con hổ trán trắng, cúi đầu cào bới đất, nhảy lên, vật xuống, thỉnh thoảng lấy tay móc họng, mở miệng nhe cái răng, máu me, nhớt dãi trào ra. (Vũ Trinh) Gợi ý: Người kể chuyện chỉ giới thiệu nhân vật hay còn kể, tả về những gì của nhân vật? - Không chỉ giới thiệu người thợ mộc - nhân vật chính của truyện (có một người thợ mộc), tác giả dân gian còn kể chuyện anh ta "dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày". - Không chỉ giới thiệu một người nào đó "ở huyện Lạng Giang", mà còn cho ta thấy người này "đang bổ củi", trông "thấy một con hổ"; và miêu tả hình dạng, hoạt động của con hổ - nhân vật chính của truyện: trán trắng, cúi đầu cào bới, nhảy lên, vật xuống,... Như vậy, ngoài tác dụng giới thiệu, đồng thời, các câu trần thuật trên còn dùng để tả, kể về hành động, hình dạng của nhân vật.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tiết 72 Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng

TIẾT 72 CHIẾC LƯỢC NGÀ CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG

Giáo án dự thi GV giỏi Soạn ngày: 16112015 Tiết 72: CHIẾC LƯỢC NGÀ Nguyễn Quang Sáng A. Mục tiêu: 1. Kiến thức: Nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong đoạn truyện Chiếc lược ngà. Cảm nhận được tình cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Sự sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, miêu tả tâm lí nhân vật. 2. Kĩ năng: Đọchiểu văn bản truyện hiện đại sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Vận dụng kiến thức về thể loại và sự kết hợp các phương thức biểu đạt trong tác phẩm tự sự để cảm nhận một văn bản truyện hiện đại. KNS: kĩ năng tự nhận thức tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. 3. Thái độ: Yêu quí nhà văn, trân trọng tình cảm gia đình. B. Chuẩn bị: GV: Giáo án, tư liệu nhà văn, máy móc giảng dạy. Phương pháp nêu vấn đề, tích hợp, bình giảng. HS: Đọc văn bản, soạn trả lời hệ thống câu hỏi sgk. C. Tiến trình lên lớp: 1. Ổn định lớp 2. Bài cũ: Nêu cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” và nêu ý nghĩa của truyện? 3. Bài mới: Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt Ghi chú Hướng dẫn tìm hiểu chung về tác giả, và đoạn trích. ? Nêu những hiểu biết của em về nhà văn Nguyễn Quang Sáng? HS dựa vào Sgk để nêu. Tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, viết văn; Ông viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim; đề tài chính: cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Bộ; Là tác giả của những truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng: Đất lửa; Cánh đồng hoang; Mùa gió chướng… I. Tìm hiểu chung 1.Tác giả: Nguyễn Quang Sáng (19322014), quê huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chiếu chân dung tác giả ? Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết trong thời gian nào? Nêu xuất xứ của đoạn trích? HS trả lời. GV: Truyện được viết trong thời kì kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra quyết liệt. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhưng lại tập trung nói về tình ngườicụ thể ở đây là tình cảm cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Vì thế tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống của bao người. 2. Văn bản a. Xuất xứ: Tác phẩm “Chiếc lược ngà” viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Đoạn trích thuộc phần giữa của truyện. Chiếu ảnh bìa một số tác phẩm Gv hướng dẫn đọc: Giọng kể của tác giả đọc hơi trầm buồn; phân biệt giọng nhân vật cho phù hợp. GV đọc mẫu một đoạn rồi gọi HS đọc(2 HS). ? Em hãy tóm tắt văn bản và giải nghĩa từ khó. HS thực hiện Tóm tắt: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không giống với người cha trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến khi Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con. Trong một trận càn, ông Sáu hi sinh. Trước lúc ra đi mãi mãi, ông đã kịp trao cây lược cho bác Ba, nhờ bạn chuyển cho con gái. Giải nghĩa từ khó: (chú thích sgk) b. Đọc – Hiểu chú thích Chiếu phần tóm tắt ? Em hãy xác định thể loại và phương thức biểu đạt của văn bản? HS thực hiện. ? Đoạn trích có thể chia làm mấy phần? Nêu ý chính của từng phần? HS chia bố cục GV thống nhất (3 phần) Gợi ý: 3 phần: P1: “… chị cũng không muốn bắt nó về”. > Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ông Sáu là cha. P2: “Sáng hôm sau, … từ từ tuột xuống”. > Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra ông Sáu là cha. P3: (đoạn còn lại) > Những ngày ông Sáu ở chiến khu. c. Thể loại và PTBĐ: Thể loại: Truyện ngắn. PTBĐ: Tự sự, miêu tả, biểu cảm. d. Bố cục: 3 phần Trình chiếu bố cục ? Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con ông Sáu và bé Thu? HS trả lời GV bổ sung nhận xét: Tình huống đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con ông Sáu và bé Thu được thể hiện trong hai tình huống: Sau 8 năm xa cách, hai cha con gặp nhau nhưng bé Thu lại không nhận cha, đến lúc Thu nhận ra cha và biểu lộ tình cảm mãnh liệt thì ông Sáu lại phải ra đi. > Tình huống gay cấn nhắm bộc lộ tình cảm của bé Thu dành cho cha. Ở khu căn cứ, ông dồn hết tình yêu thương, monh nhớ vào việc làm một chiếc lược ngà cho con. Nhưng chưa kịp trao cho con thì ông Sáu hi sinh. > Tình huống biểu lộ sâu sắc tình cảm người cha dành cho con. Cách tạo tình huống bất ngờ nhưng hợp lí. Chiếu tình huống Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bé Thu. ? Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu diễn ra ở mấy thời điểm? Đó là những thời điểm nào? HS: 2 thời điểm (Trước khi nhận ông Sáu là cha và khi nhận ra cha) ? Khi mới gặp ông Sáu từ chiến khu trở về, thái độ và hành động của bé Thu được thể hiện qua những chi tiết nào? HS nêu trả lời: Khi mới gặp ông Sáu: + Giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng + Tái mặt, vụt chạy, kêu thét lên: Má Má ? Qua đó em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả? Nghệ thuật miêu tả tâm lí rất cụ thể, sinh động, hợp lí diễn tả thái độ ngạc nhiên, bất ngờ, sợ hãi. II. ĐọcHiểu văn bản 1. Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần ông Sáu về thăm nhà: a. Trước khi nhận ông Sáu là cha: Khi mới gặp ông Sáu: > Ngạc nhiên, bất ngờ, sợ hãi. Trình chiếu các chi tiết ? Trong hai ngày đêm tiếp theo, thái độ và tình cảm của bé Thu đối với ông Sáu được thể hiện qua những chi tiết nào? HS trả lời Hai ngày đầu: + Vô ăn cơm + Cơm chín rồi + Con kêu rồi mà người ta không nghe + Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái ... ? Bằng cách nói ấy, bé Thu muốn tỏ thái độ như thế nào đối với ông Sáu? > Không chấp nhận ông Sáu là cha. ? Khi ông Sáu gắp bỏ trứng cá, bé Thu đã phản ứng như thế nào? + Hất miếng trứng cá, cơm văng tung tóe + Bị đánh, bỏ sang nhà ngoại ? Phản ứng ấy cho thấy bé Thu là người như thế nào? > Ương bướng, ngang ngạnh, cự tuyệt quyết liệt tình cảm của ông Sáu. ? Hãy nhận xét thái độ và hành động của bé Thu trước khi nhận ông Sáu là cha? ? Thái độ và hành động của bé Thu có đáng trách không? =>Từ chối sự quan tâm, chăm sóc của ông Sáu, vì nghĩ ông Sáu không phải là cha mình> Là đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ, yêu thương cha hết mực. Phản ứng tâm lí tự nhiên, hành động của bé Thu là không đáng trách. ? Em hãy nhận xét nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích vừa tìm hiểu? Gợi ý: Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật rất tinh tế, sâu sắc; Xây dựng tình huống truyện; Lựa chọn ngôi kể thích hợp. Hai ngày đầu: > Không chấp nhận ông Sáu là cha. > Ương bướng, ngang ngạnh, cự tuyệt quyết liệt tình cảm của ông Sáu. =>Từ chối sự quan tâm, chăm sóc của ông Sáu, vì nghĩ ông Sáu không phải là cha mình. > Là đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ, yêu thương cha hết mực. Phản ứng tâm lí tự nhiên, hành động của bé Thu là không đáng trách. Trình chiếu các chi tiết 4. Củng cố: Tiểu kết: ? Em hãy khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn trích vừa tìm hiểu? Về nội dung: Thu là một cô bé có cá tính mạnh mẽ, tình cảm chân thành, có một tình yêu sâu sắc đối với người cha (trong ảnh) của em. Về nghệ thuật: Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật rất tinh tế, sâu sắc; Xây dựng tình huống truyện; Lựa chọn ngôi kể thích hợp. Bài tập trắc nghiệm: ? Theo em, văn bản sử dụng ngôi kể nào? A. Ngôi kể thứ nhất B. Ngôi kể thứ hai C.Ngội kể thứ ba ? Ai là nhân vật chính trong truyện? A. Bác Ba và ông Sáu B. Bác Ba và bé Thu C. Bé Thu và mẹ D. Bé Thu và ông Sáu 5. Hướng dẫn về nhà: Soạn bài: Chiếc lược ngà. Nội dung: Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu khi nhận ra cha và tình cảm của người cha dành cho con. D. Rút kinh nghiệm: .............. ..................................................................................................................................................
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Đọc tiểu thuyết và truyện ngắn

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : ĐỌC TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN

ĐỌC TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN I. Những yêu cầu về đọc tiểu thuyết và truyện ngắn Tiểu thuyết và truyện ngắn thuộc loại tác phẩm tự sự. Tác phẩm được cấu tạo bởi các yếu tố cốt truyện, nhân vật, lời kể của người kể chuyện, chi tiết, tình tiết, tình huống... Khi đọc tiểu thuyết và truyệnngắn cần lưu ý 1. Phân tích hình tượng nhân vật Tư tưởng của nhà văn thể hiện ở hệ thống nhân vật, tập trung ở nhân vật chính. Khi phân tích nhân vật chú ý: + Các chi tiết miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố, ngôn ngữ. Các yếu tố này thể hiện tính cách, bản chất và số phận nhân vật. + Quan hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác, với hoàn cảnh. + Nhân vật thể hiện tư tưởng gì của nhà văn? 2. Phân tích chi tiết, cốt truyện Cốt truyện là hệ thống sự kiện xảy ra trong đời sống nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận của nhân vật. Các chi tiết cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của nhân vật này đối với nhân vật khác... 3. Phân tích sự miêu tả hoàn cảnh trong tác phẩm. Hoàn cảnh nghệ thuật biểu hiện tâmtình, địa vị của nhân vật và thể hiện tư tưởng của nhà văn. 4. Phân tích kết cấu để thấy được tính cách, quan hệ, số phận của nhân vật. Kết cấu tác phẩm là một yếu tố rất quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm và  thể hiện tư tưởng của tác giả. Kết cấu là cách tổ chức, sắp xếp các chi tiết, sự kiện, tình tiết trong tác phẩm. 5. Phân tích ngôn ngữ của tác phẩm. Trong đó có ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ của nhân vật, nội dung và hình thức của ngôn ngữ để từ đó phântích nhân vật và tác phẩm.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận_bài 1

LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ NGHỊ LUẬN_BÀI 1

1. Viết một đoạn văn kể lại buổi sinh hoạt lớp, trong đó em đã phát biểu ý kiến chứng minh một bạn đã có hành động rất tốt. Cho biết em đã sử dụng nghị luận trong kể chuyện như thế nào. Gợi ý: - Xác định các sự việc, nhân vật dự định sẽ kể: Buổi sinh hoạt lớp bắt đầu, diễn biến và kết thúc như thế nào? Ai là người điều khiển buổi sinh hoạt? Buổi sinh hoạt đề cập đến những vấn đề gì của lớp? Không khí của buổi sinh hoạt ra sao? - Em đã phát biểu điều gì, vào thời điểm nào? Tại sao em lại phát biểu điều đó? - Em đã thuyết minh cả lớp về hành động tốt của bạn nào? Tại sao phải làm như vậy? Vì sao có thể xem hành động đó là hành động tốt (lí lẽ)? Cụ thể hành động đó là gì (dẫn chứng)? Mọi người phải noi gương ra sao? Để làm gì? 2. Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới: MỘT HỌC SINH XẤU TÍNH  Trong lớp chúng tôi có một đứa rất khó chịu, đó là Phran-ti. Tôi ghét thằng này vì nó là một đứa rất xấu bụng. Khi thấy một ông bố nào đấy đến nhờ thầy giáo khiển trách con mình, là nó mừng rỡ. Khi có người khóc là nó cười. Nó run sợ trước mặt Ga-rô-nê, nhưng lại đánh cậu bé thợ nề không đủ sức tự vệ. Nó hành hạ Grốt-xi, cậu bé bị liệt một cánh tay, chế giễu Prê-cốt-xi mà mọi người đều nể, nhạo báng cả Rô-bét-ti, cậu học lớp hai, đi phải chống nạng vì đã cứu một em bé. Nó khiêu khích những người yếu nhất, và khi đánh nhau thì nó hăng máu, trở nên hung tợn, cố chơi những miếng rất hiểm độc. Có một cái gì làm cho người ta ghê tởm ở cái trán thấp ấy, trong cái nhìn vẩn đục ấy, được che dấu dưới cái mũi có lưỡi trai bằng vải dầu [...]. Sách, vở, sổ tay của nó đều giây mực bê bết, rách nát và bẩn thỉu; thước kẻ thì như có răng cưa, ngòi bút thì toè ra, móng tay thì cắn bằng mồm, quần áo thì rách tứ tung trong những lúc đánh nhau… (Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, Những tấm lòng cao cả, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1979.) - Nhân vật “tôi” đã đưa ra nhận xét về Phran-ti trong những câu văn nào? - Nhân vật “tôi” đã làm gì để chứng minh cho những nhận xét của mình về Phran-ti? - Hãy tóm tắt dàn ý của đoạn văn trên để tìm hiểu việc kết hợp nghị luận với tự sự. Gợi ý: Nhân vật “tôi” đã nhận xét về Phran-ti như thế nào trong hai câu văn đầu đoạn? Những nội dung tiếp theo có phải để chứng minh cho nhận xét ấy không? Đó là những nội dung nào? (Phran-ti đối xử với mọi người ra sao? Hình dạng Phran-ti như thế nào? Tính nết Phran-ti biểu hiện ở những điểm nào?) Để thuyết phục về sự đánh giá của mình về Phran-ti, nhân vật tôi đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể như thế nào? Nếu không sử dụng yếu tố nghị luận, liệu nhân vật “tôi” có thực hiện được ý đồ của mình trong câu chuyện không? Vì sao? 3. Viết đoạn văn kể về việc làm hoặc những lời dạy bảo của người bà kính yêu. 4. Tóm tắt dàn ý của đoạn trích dưới đây và đối chiếu với đoạn văn vừa viết để tự rút ra bài học về viết đoạn văn tự sự có yếu tố nghị luận: BÀ NỘI [...] Tôi ngẩng cao đầu mới thấy tuổi của bà; chứ cứ nhìn bà nhặt củi, nhổ sắn, nhìn bà đứng, bà đi thì không ai biết bà đã gần bảy mươi. Bà làm nhanh, đi nhanh, lưng thẳng. Bà không hút thuốc lào như u tôi, không ăn giầu. Bà như một chiếc bóng; lặng lẽ, đi không ai biết, về không ai hay. Bà tất bật khi đi giồng sắn ở trại, khi đi bắt cua bán, lúc đi cấy thuê. Có lần bà bỏ nhà bốn năm ngày. Tôi hỏi Lĩnh, nó rớm nước mắt. Tuần phu đi rầm rập bắt thuế. Trống dồn sôi cả bụng, đập thình thịch vào cái ngực bé nhỏ của tôi. Cả làng đã im ắng. Bà như chiếc bóng giở về. Ít khi tôi thấy bà nói chuyện, nói trò với ai khác ngoài các cháu ra. Ít khi tôi thấy bà đôi co với ai. Dân làng bảo bà hiền như đất. Nói cho đúng, bà hiền như chiếc bóng. Nếu ai lành chanh lành chói, bà rủ rỉ khuyên. Bà nói nhiều bằng ca dao, tục ngữ. Những chị mồm năm miệng mười, sau khi  bà khuyên chỉ còn mồm một miệng hai. Người ta bảo: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Bà như thế thì chúng tôi hư làm sao được. U tôi như thế, chúng tôi không nỡ hư nỡ hỏng. [...] Bà tôi có học hành gì đâu, một chữ cắn đôi không biết. Bà lặng lẽ, cứ tưởng bà không biết gì. Bà thuộc như cháo hàng trăm hàng nghìn câu ca. Bà nói những câu sao mà đúng thế. Bà bảo U tôi : Dạy con từ thuở còn thơ Dạy vợ từ thủơ bơ vơ mới về Người ta như cây. Uốn cây phải uốn từ non. Nếu để lớn lên mới uốn, nó gẫy. Có khi nó còn bật vỡ mặt mình. (Theo Duy Khán, Tuổi thơ im lặng, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1996) Gợi ý: Tác giả kể chuyện gì về người bà của mình? (những sự việc nào được kể) Kể chuyện về bà, tác giả muốn thể hiện điều gì, chứng minh điều gì? Trong câu chuyện về bà, người viết có sử dụng nghị luận không? Lí lẽ là gì? Dẫn chứng ra sao? Lập luận theo trình tự nào? Nếu bỏ đi yếu tố nghị luận thì câu chuyện sẽ ra sao? Để tìm hiểu yếu tố nghị luận trong đoan trích văn bản tự sự này, chú ý đoạn từ “Người ta bảo” cho đến hết) Khi kể chuyện về người bà kính yêu của mình, tác giả đã bày tỏ tình cảm như thế nào? Việc kết hợp giữa tự sự với miêu tả, biểu cảm, nghị luận có tác dụng gì?  loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Truyện cổ tích là gì?

TRUYỆN CỔ TÍCH LÀ GÌ?

I.KHÁI NIỆM VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH : 1.Ðịnh nghĩa : Truyện cổ tích là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhân vật quen thuộc như nhân vật tài giỏi , nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con người.2.Phân loại truyện cổ tích :Căn cứ vào nhân vật chính và tính chất sự việc được kể lại, có thể chia truyện cổ tích ra làm 3 loại:Truyện cổ tích về loài vât.,truyện cổ tích thần kỳ,truyện cổ tích thế tục (cổ tích sinh hoạt). II.CÁC LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH : 1.Truyện cổ tích về loại vật (truyện cổ tích động vật) :a.Nhóm đề tài nói về con vật nuôi trong nhà. Loại truyện này khi miêu tả đặc điểm các con vật thường nói đến nguồn gốc các đặc điểm đó (kế thừa các motif suy nguyên luận của thần thoại) (Trâu và ngựa, Chó ba cẳng …). b.Nhóm đề tài nói về con vật hoang dã, thường là các con vật sống trong rừng Nổi bật trong nhóm này là hệ thống truyện về con vật thông minh, dùng mẹo lừa để thắng các con vật mạnh hơn nó. Nhóm truyện này có ý nghĩa ca ngợi trí thông minh của người bình dân Nhìn chung, truyện cổ tích loài vật nêu lên những nhận thức, hiểu biết của con người về thế giới các con vật Một bộ phận truyện cổ tích loài vật có nhân vật là con người tham gia, một bộ phận khác nhân vật trong truyện hoàn toàn là các con vật. Những nhân vật chính thường là các con vật gần gũi( trâu ,ngựa, bồ câu, sáo) các con vật trong rừng tuy hoang dã nhưng lại quen thuộc( hổ, khỉ, thỏ ,rùa…) các con vật ở vùng sông nước( sấu, cá…), Những con vật nầy ít nhiều có ảnh hưởng đến đời sống con người. Truyện dân gian về loài vật không chỉ có cổ tích mà còn có thần thoại và ngụ ngôn. Với ba thể loại trên, con vật đều được nhân cách hóa. Nhưng nếu nhân cách hóa trong thần thoại gắn với quan niệm vạn vật hữu linh, vạn vật tương giao của người cổ đại thì trong truyện cổ tích sự kế thừa tư duy thần thoại đó còn nhằm phản ánh xã hội loài vật. Ðối với truyện ngụ ngôn, tác giả dân gian đã có ý thức dùng câu chuyện để diễn đạt ý niệm trừu tượng. Tuy nhiên , cũng cần lưu ý đến hiện tượng 2-3 mangcủa một số tác phẩm. Chẳng hạn, truyện Cóc kiện Trờivừa là thần thoại vừa là cổ tích loài vật, truyện Công và quạvừa là thần thoại, cổ tích vừa là ngụ ngôn. Trong kho tàng truyện dân gian Nam Bộ về loài vật, có thể tìm thấy thể loại truyền thuyết( Tại sao có địa danh Bến Nghé, Sự tích rạch Mồ Thị Cư, Sự tích cù lao Ông Hổ…). Ngoài ra, truyện loài vật còn bị hút vào chuỗi Truyện Bác Ba Phi (Cọp xay lúa). 2.Truyện cổ tích thần kỳ :a.Ðặc điểm chung : Cổ tích thần kỳ kể lại những sự việc xảy ra trong đời sống gia đình và xã hội của con người.Ðó có thể là những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền, vấn đề tình yêu hôn nhân , những quan hệ xã hội ( Tấm Cám, Cây khế, Sự tích con khỉ…)Nói cách khác, nội dung chính của truyện cổ tích thần kỳ là đời sống xã hội và số phận con người. Ðối tượng chính của sự miêu tả, phản ánh là con người. Nhân vật thần kỳ không phải và không thê ølà đối tượng chính ( Nếu vai trò của nhân vật thần kỳ lớn hơn con người thì truyện kể sẽ trở thành thần thoại ) Tuy nhiên, cần nhớ rằng, lực lương thần kỳ cũng giữ một vai trò quan trọng trong sự diễn biến và đi đến kết thúc của câu chuyện. Thế giới trong cổ tích thần kỳ là thế giới huyền ảo và thơ mộng ,có sự xâm nhập lẫn nhau giữa thế giới trần tục và thế giới siêu nhiên. Ở đó, con người có thể đi váo thế giới siêu nhiên, thần linh có thể xuất hiện trong thế giới trần tục. Do có sự giống nhau về cốt truyện nên có những kiểu truyện trong cổ tích thần kỳ (kiểu truyện Tấm Cám, Thạch Sanh). b.Nhóm truyện về các nhân vật tài giỏi, dũng sĩ : Nhân vật có tài đặc biệt, phi thường về một lãnh vực nào đó (bắn cung, lặn, võ nghệ, chữa bệnh …). Nội dung kể lại những cuộc phiêu lưu ly kỳ của nhân vật chính. Cuối cùng nhân vật chính lập chiến công, diệt cái ác, bảo vệ cái thiện, mưu cầu hạnh phúc cho con người (Thạch Sanh, Người thợ săn và mụ chằng). c.Nhóm truyện về các nhân vật bất hạnh : Nhân vật bất hạnh thường là người mồ côi, người em út, người con riêng, người đi ở, người xấu xí. Về mặt xã hội, họ bị ngược đãi, bị thiệt thòi về quyền lợi. Về mặt tính cách, họ trọn vẹn về đạo đức nhưng thường chịu đựng (biểu hiện xu hướng hoài cổ) trừ nhân vật xấu xí mà có tài ( Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc …). Nhân vật chính trải qua thử thách ( thử thách của các trở lực và có khi của nhân vật trợ thủ ) và đổi đời, được hạnh phúc dài lâu. Bên cạnh nhân vật chính còn có nhân vật đế vương và lực lượng thần kỳ. Nhân vật đế vương có liên quan tới phần thưởng dành cho nhân vật chính Lực lượng thần kỳ ( bên thiện ) là nhân vật trợ thủ, có khi phải thử thách nhân vật chính trước khi giúp đỡ. 3.Truyện cổ tích thế tục : a.Ðặc điểm chung : Truyện cũng kể lại những sự kiện khác thường ly kỳ, nhưng những sự kiện này rút ra từ thế giới trần tục. Yếu tố thần kỳ, nếu có, thì không có vai trò quan trọng đối với sự phát triển câu chuyện như trong cổ tích thần kỳ. Nhân vật trung tâm trong cổ tích thế tục thường chủ động và tích cực hơn so với nhân vật trung tâm trong cổ tích thần kỳ cho dù một số nhân vật bất hạnh thường gặp bế tắc và kết cục bi thảm . Bế tắc ở đây là bế tắc của hiện thực khác với cái đổi đờicủa mơ ước, ảo tưởng trong cổ tích thần kỳ.Nếu xung đột trong cổ tích thần kỳ được giải quyết trong cõi huyền ảo thì xung đột trong cổ tích thế tục được giải quyết theo logic của hiện thực. Chính vì vậy mà chàng Trương Chi phải ôm mối sầu xuống mộ còn anh Sọ Dừa hạnh phúc daì lâu . b.Nhóm truyện có đề tài nói về nhân vật bất hạnh : Ðây là nhóm truyện kế thừa truyện cổ tích thần kỳ về nhân vật bất hạnh nhưng không kết thúc có hậu (Trương Chi , Sự tích chim hít cô , Sự tích chim quốc…). c.Nhóm truyện có nội dung phê phán những thói xấu, những hành vi độc ác của con người : bất hiếu, khoe giàu, hách dịch…( Ðứa con trời đánh , Gái ngoan dạy chồng …) d.Nhóm truyện về người thông minh : Nhân vật dùng sự thông minh của mình để phân xử, ứng xử (Xử kiện tài tình , Em bé thông minh …) Nhân vật dùng mẹo lừa để thể hiện trí thông minh (Cái chết của bốn ông sư, Nói dối như Cuội…). e.Nhóm truyện về người ngốc nghếch : Nhân vật chính ngốc nghếch thực sự, hành động máy móc, đôi khi gặp may mắn nên thành công, nhưng thông thường phải trả giá đắc cho hành vi ngu xuẩn của mình ( Chàng ngốc được kiện , Làm theo vợ dặn…) Nhân vật giả vờ ngốc để đạt được mục tiêu nào đó. Ðây là dạng đặc biệt của nhân vật thông minh Nhân vật chẳng những không ngốc mà còn đóng vai chàng ngốc thành công (Làm cho công chúa nói được). III.NỘI DUNG TRUYỆN CỔ TÍCH : 1.Những xung đột cơ bản trong gia đình và xã hội : Truyện cổ tích phản ánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình. Những mâu thuẫn này mang tính chất riêng tư nhưng lại phổ biến trong toàn xã hội có giai cấp : xung đột giữa anh em trai (Cây khế, Hầm vàng hầm bạc),xung đột giữa chị em gái (Sọ Dừa, Chàng Dê).xung đột giữa dì ghẻ con chồng, giữa chị em cùng cha khác mẹ (Tấm Cám),xung đột giữa con ruột và con nuôi (Thạch Sanh),xung đột có tính bi kịch về hôn nhân, gia đình (Trầu cau, Ba ông Bếp, Sao hôm – sao mai, Ðá vọng phu). Những xung đột xã hội diễn ra bên ngoài gia đình được phản ánh muộn hơn, ít tập trung hơn. Do vậy ít tác phẩm tiêu biểu hơn (Cái cân thủy ngân, Của trời trời lại lấy đi , Diệt mãng xà).Một số truyện chứa đựng cả xung đột gia đình và xung đột xã hội (Thạch Sanh). Dù gắn với đề tài gia đình hay đề tài xã hội, ý nghĩa xã hội của truyện cổ tích cũng rất sâu sắc. Nó phản ánh được những xung đột, mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, xung đột giữa các tầng lớp trong một xã hội phân chia giai cấp. Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội phụ quyền thể hiện qua xung đột giữa nhân vật bề trên và ” bề dưới, đàn anh và đàn em. Truyện cổ tích có khuynh hướng ca ngợi, bênh vực nhân vật bề dưới, đàn em , lên án nhân vật ” bề trên ” , ” đàn anh ” (trong thực tế không phải người em, người con nào cũng tốt , người mẹ ghẻ , người anh trưởng nào cũng xấu) nghĩa là chống cái bất công, vô lý của xã hội phụ quyền nói chung (không đi vào từng số phận riêng) , thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả. 2.Lý tưởng xã hội thẩm mỹ của nhân dân : Truyện cổ tích cho thấy sự bế tắc của tầng lớp nghèo khổ trong xã hội cũ. Nhân vật đàn em, bề dưới càng có đạo đức bao nhiêu, càng thật thà bao nhiêu thì càng thiệt thòi bấy nhiêu. Ðây là thực trạng của xã hội có giai cấp và có áp bức giai cấp. Tác giả dân gian , trong cổ tích , đã giải quyết vấn đề bằng tưởng tượng. Họ nhờ vào lực lượng thần kỳ và nhân vật đế vương. Lực lượng thần kỳ là phương tiện nghệ thuật giúp tác giả dân gian đạt tới một xã hội lý tưởng , một xã hội có đạo lý và công lý. Lực lượng thần kỳ đứng về phía thiện, trợ giúp cho nhân vật đau khổ, đưa họ tới hạnh phúc. Trong quá trình đó, lực lượng thần kỳ cũng giúp nhân vật cải tạo xã hội. Nhân vật đế vương vừa là phương tiện nghệ thuật vừa là biểu tượng cho lý tưởng xã hội của nhân dân. Vua Thạch Sanh, hoàng hậu Tấm là hiện thân của một xã hội tốt đẹp , xã hội lý tưởng. 3.Triết lý sống, đạo lý làm người và ước mơ công lý của nhân dân : Triết lý sống của tác giả dân gian trong truyện cổ tích trước hết là chủ nghĩa lạc quan .Tinh thần lạc quan trong cổ tích chính là lòng yêu thương quý trọng con người, từ đó mà yêu đời , tin vào cuộc đời( cho dù cuộc sống hiện tại đầy khổ đau , người ta vẫn luôn hướng về cuộc sống ngày mai tốt đẹp ) Kết thúc có hậu là biểu hiện dễ thấy của tinh thần lạc quan, nhưng không phải là biểu hiện duy nhất. Kết thúc bi thảm vẫn chứa đựng tinh thần lạc quan. Nhân vật chính chết hoặc ra đi biệt tích. Nhưng cái chết hoặc ra đi của nó để lại niềm tin vào phẩm giá con người, niềm tin vào cuộc đời. Hầu hết truyện cổ tích đều gián tiếp hoặc trực tiếp nêu lên vấn đề đạo đức . Ðạo đức luôn gắn với tình thương , lấy tình thương làm nền tảng ( Ðứa con trời đánh , Giết chó khuyên chồng …) Niềm tin Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác vừa là triết lý sống lạc quan vừa là đạo lý, ước mơ công lý của nhân dân trong cổ tích. IV.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỆN CỔ TÍCH : 1. Cốt truyện: Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện cổ tích là tính chất bịa đặt của câu chuyện kể. Cần nói thêm rằng, tính chất tưởng tượng của cốt truyện cổ tích ngoài nghĩa nói trên còn là tính khác thường” của sự kiện và hành động cổ tích. Cốt truyện cổ tích thường được xây dựng theo một vài sơ đồ chung,có thể tìm thấy các kiểu cốt truyện quen thuộc như kiểudũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp, người xấu xí mà có tài… 2. Nhân vật Nhân vật trong cổ tích là hành động của nó. Từ hành động của nhân vật ta có thể rút ra tính cách. Nhân vật cổ tích chưa được cá thể hóa, tâm lý hóa. Trong kho tàng truyện cổ tích có những kiểu nhân vật (nhân vật bất hạnh, nhân vật tài giỏi…). 3. Các yếu tố cố định Ðó là những motif trong truyện cổ tích: Những chi tiết nghệ thuật có mặt trong nhiều truyện cổ tích của nhiều dân tộc (vật báu mang lại hạnh phúc, Cái mâm thần, chém chằn tinh…). Các motif nầy là những đơn vị hợp thành của cốt truyện. 4. Thế giới cổ tích Thế giới cổ tích có những yếu tố của thực tế hòa lẫn với yếu tố hư cấu tạo thành thế giới huyền ảo, thơ mộng. Ðể giải mã thế giới cổ tích thường người ta dựa vào dân tộc học.  loigiaihay.com
Xem thêm

4 Đọc thêm

Phân tích đoạn trích "Người cầm quyền khôi phục uy quyền"

PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH "NGƯỜI CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN"

Ông nói gì với chị? Người đàn ông bị ruồng bỏ ấy có thể nói gì với người đàn bà đã chết? Những lời ấy là lời gì vậy? Chẳng ai trên thế gian này nghe được. Kẻ đã chết có nghe thấy không? Có những ảo tưởng cảm động có thể là những sự thực cao cả. Điều mà chẳng ai nghi ngờ là bà xơ Xem-pli-xơ, người độc nhất chứng kiến cảnh ấy, thường kể lại rằng lúc Giăng Van-giăng thì thầm bên tai Phăng-tin bà trông thấy rõ ràng một nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt và trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng của chị khi đi vào cõi chết(1) (Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 2, NXB Giáo dục, 2007, tr.79). Cuối cùng thì người cầm quyền cũng khôi phục lại uy quyền của mình sau hơn hai mươi năm đổi mới và cải cách. [Đoạn văn trên được rút ra từ cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của Victor Hugo Những người khốn khổ (1869)]. Đoạn trích giảng này từng được sử dụng trong sách giáo khoa trích giảng văn học cấp ba những năm tám mươi trở về trước, nay nó trở lại với bạn đọc học sinh trong một hoàn cảnh khác. Dĩ nhiên như một vòng tròn biện chứng, sự trở lại này sau hai mươi năm không hề là một sự lặp đơn thuần mà là có nâng cao thông qua cách hiểu, cách đọc mới cũng như theo yêu cầu của cách giảng dạy tích hợp mà người soạn sách dành cho học sinh. Sách giáo khoa đã sử dụng bản dịch duy nhất sau năm 1945 ở miền Bắc của nhóm dịch giả Lê Quý Đôn cho việc giảng dạy trong nhà trường. Đoạn văn trích trên nằm ở cuối phần thứ nhất, trọn vẹn chương 4 Người cầm quyền khôi phục uy quyền (l’autorité reprend ses droits) sau khi Giăng Van-giăng quyết định ra tự thú trước pháp luật để cứu một người bị Gia-ve bắt nhầm. Cảnh miêu tả cuộc gặp gỡ của ba người: Gia-ve, Giăng Van-giăng và Phăng-tin đang hấp hối dưới sự chứng kiến của bà xơ Xem-pli-xơ. Nhân vật bà xơ được nhắc đến một lần duy nhất trong cảnh không đóng vai trò đáng kể nào cho hành động kịch của cảnh truyện, nhưng giúp cho việc dẫn dắt cách diễn giải câu chuyện, định hướng người đọc. Đoạn văn dịch gồm bảy câu, trong đó có bốn câu hỏi, một câu trả lời trực tiếp, một câu phức mở rộng miêu tả mang giọng điệu trữ tình cảm thán. Trong số bốn câu hỏi, xét thực chất chỉ có một câu được láy đi láy lại với những biên độ, chiều kích mở rộng khác nhau mang dấu ấn phong cách tu từ học rất rõ và tiêu biểu của Hugo. Ông nói gì với chị, đó là nội dung câu hỏi duy nhất được đặt ra. Nhưng với cách sắp xếp các câu được lặp ý trong đoạn văn theo trật tự đan xen ngắn-dài, nên người đọc như nghe thấy nhịp điệu luyến láy của thuật hùng biện. Câu khẳng định Chẳng ai trên thế gian này nghe được vừa láy lại ý hai câu hỏi trước (nói cái gì), vừa chuyển hướng sang câu hỏi tu từ cuối cùng để làm đà bật lên câu văn trữ tình quen thuộc của Hugo (hiệu quả việc nghe như thế nào). Câu văn vừa mang tính triết lý, lại vừa có tính khoa trương hùng biện, vừa để trả lời lại vừa để suy tư thông qua phần miêu tả. Sự kết hợp của những hình ảnh tương phản trong câu văn: nụ cười và cái chết, nhợt nhạt và xa xăm, bà xơ (đại diện cho đức Chúa) và Phăng tin (từng làm nghề bán thân) đã làm cho câu văn mang giọng điệu tha thiết, buồn nhưng không đau xót. Nghệ thuật trữ tình hùng biện này, hẳn là Hugo học được trong các tác phẩm cổ đại, đã góp phần làm cho tác phẩm của ông mang âm vang sử thi. Các thao tác diễn giảng truyền thống như thế góp phần truyền cảm hứng đọc thông qua việc khám phá những thủ pháp nghệ thuật thiên về tu từ học. Thế mà có một câu hỏi bỗng được đặt ra: ai nói trong đoạn văn trên? Nói với ai? Cách đọc truyền thống sẽ trả lời rằng đó chính là Hugo. Theo cách nói mới hơn, người ta có thể trả lời rằng ở đây là chuyện giữa người kể chuyện (narrator/narrateur) và người nghe kể (narrataire). Trả lời câu hỏi này, chúng ta rẽ sang hướng nghiên cứu văn bản. Chính thực người kể chuyện toàn năng (narrateur omniprésent) – nhân vật thường gặp trong tiểu thuyết cổ điển, trong đó có Hugo – là kẻ dẫn chuyện duy nhất cho tác phẩm cũng như trong đoạn trích này. Người kể chuyện đó hiện ra với tư cách người biết hết, thông báo cho người nghe tất cả mọi chuyện. Kẻ ấy thâm nhập vào mọi ngóc ngách tâm hồn của tất thảy các nhân vật, để mách bảo cho người nghe chuyện, để báo trước cho người nghe. Ông ta có thể nói tất cả hay chỉ một phần nhằm phục vụ cho tiến trình kể chuyện của mình, lựa chọn những điều cần nói ở từng thời điểm sao cho câu chuyện trở nên hấp dẫn. Có thể hiểu một cách đơn giản, ít nhất là ở đoạn trích này, đó chính là tác giả. Mặc định là người kể toàn năng trong các tiểu thuyết cổ điển luôn có quyền lực dàn xếp tất thảy mọi thứ cho phù hợp với ý đồ riêng mình. Người nghe chuyện (narrataire) có thể hiểu một cách đơn giản chính là người đọc. Do thế, trong một số trường hợp khi nhân vật được bạn đọc yêu thích, họ có thể yêu cầu tác giả kéo dài tác phẩm để có được một kết quả như ý. Quay trở lại văn bản của Hugo, câu phỏng đoán có những ảo tưởng cảm động có thể là những sự thực cao cả có thể là của chính người kể Hugo. Nó thực ra là một lời khẳng định theo lối hàm ẩn những chuyện mà Giăng Van-giăng đã và sẽ làm cho Phăng-tin (cứu Cô-dét khỏi nhà Tê-nác-đi-ê và nuôi dạy cô bé thành người). Người kể chuyện này giữ quyền chi phối góc nhìn của ít nhất là toàn bộ đoạn văn này, và nói chung là của toàn bộ tiểu thuyết. Người kể chuyện ấy thuyết minh, lý giải, trình bày cho người nghe, định hướng cách hiểu cho người đọc, không cho phép hiểu sai. Trong tiểu thuyết của Hugo cũng như của những nhà văn đương thời, ta bắt gặp mẫu hình người kể chuyện toàn năng (hay toàn tri – tùy theo cách diễn đạt). Có thể lấy một ví dụ như câu văn sau của Hugo cũng ở trong đoạn trích: Chị không thể chịu đựng được bộ mặt gớm ghiếc ấy, chị thấy như chết lịm đi, chị lấy tay che mặt và kêu lên hãi hùng. Câu kể dường như miêu tả từ điểm nhìn của nhân vật với động từ thấy, chủ ngữ là chị (chỉ Phăng-tin), nhưng thực ra lại do người kể chuyện nhận xét với những tính từ gớm ghiếc, hãi hùng gắn với điểm nhìn từ bên ngoài. Chúng là lời định giá của người kể chuyện về cảm xúc, phản ứng của nhân vật chứ không thể là của nhân vật. Hãy hình dung, nếu là Phăng-tin, cô không thể diễn đạt một cách rõ ràng, minh bạch, và ngắn gọn những điều ấy đến như thế. Chính điều này lý giải vì sao tâm lý nhân vật của Hugo đơn giản, nguyên phiến. Tất cả các nhân vật đều chịu sự quản lý của một điểm nhìn, một giọng điệu duy nhất. Đơn giản là ông đã “chuyển mã” chúng theo một giọng điệu của chính mình. Giọng điệu của tiểu thuyết Hugo trở nên đơn thanh chứ không đa thanh như trong tiểu thuyết của Flaubert sau này. M. Bakhtine không xếp ông vào diện nhà văn đa thanh đã đành, mà ngay cả một nghiên cứu về phong cách và tính chất thực tại cuộc sống của E. Auerbach cũng không đặt ông vào dòng chảy các nhà văn hiện thực. Dù cho có sự xuất hiện nhiều loại ngôn ngữ xã hội khác nhau trong văn bản của ông thì không có nghĩa là ông với tư cách người kể đã chấp nhận chúng, cho phép chúng tồn tại một cách bình đẳng với mình. Giọng điệu của ông với tư cách người kể chuyện toàn năng luôn lấn át toàn bộ các giọng điệu khác, đồng hóa chúng, đưa tất cả về cùng một mặt phẳng, về cùng một góc nhìn và lập trường của người kể chuyện để đánh giá, phán xét mọi sự. Trong cảnh này, có những đoạn vẫn như được nhìn dưới góc độ của nhân vật của Phăng-tin qua nhiều cách diễn đạt: chị lấy tay che mặt; nghe thấy tiếng Gia-ve, Phăng tin lại mở mắt ra; chị thấy tên mật thám... Nhưng như chúng tôi vừa nói ở trên, thực ra đó là một cách tạo điểm nhìn giả của Hugo nhằm tạo kịch tính cho cảnh. Ông “giả vờ” mượn con mắt của Phăng-tin - một kẻ ngoài lề xã hội cũng đã bị thanh tra mật thám Gia-ve truy đuổi - để miêu tả cuộc chạm trán giữa Gia-ve và Giăng Van-giăng, một cuộc chạm trán nảy lửa giữa người tù khổ sai có những chiêu trốn chạy tuyệt kỹ và một thanh tra mật thám mẫn cán, tài giỏi nhưng cũng cực kỳ khắc nghiệt. Việc mượn điểm nhìn này về cơ bản sẽ diễn ra cho đến lúc Phăng-tin tắt thở, tức là hết lớp thứ ba. Cũng có những chỗ người kể chuyện trực tiếp tham gia việc bình luận cảm xúc nhân vật: Sự thật là Gia-ve run sợ. Lời bình luận ngắn gọn, ở đúng chỗ gay cấn nhằm chuẩn bị cho khoảng lặng sắp tới, của cuộc trò chuyện riêng tư giữa Giăng Van-giăng và Phăng-tin. Nó hé lộ cho bạn đọc một điều: Gia-ve không hẳn là con người của công việc và không bao giờ biết run sợ trước những kẻ khốn cùng. Lời trữ tình ngoại đề này sẽ chuẩn bị cho chi tiết Gia-ve phải lùi bước trước Giăng Van-giăng sẽ diễn ra ngay sau đó: nhường bước cho cuộc trò chuyện của người tù khổ sai và cô gái điếm. Nói cách khác, đó là một thuật kể chuyện kiểu Hugo nhằm làm lộ ra trong hoàn cảnh này, trong chương này, đứng trước con người nắm cán cân công lý của xã hội vốn không bao giờ biết nhân nhượng không hẳn là một tên tù khổ sai và một gái điếm, mà là những con người có tâm hồn lương thiện. Cách mượn điểm nhìn này gợi chúng ta nhớ đến nghệ thuật dựng kịch của Shakespeare trong vở Hamlet. Theo phân tích của Vygosky, người nghệ sĩ đã khéo léo đưa toàn bộ điểm nhìn của khán giả vào điểm nhìn của chính nhân vật Hamlet. Do thế đã diễn ra một sự va chạm giữa ba dòng thời gian: thời gian thực mà vở kịch diễn ra, thời gian quy ước mà nhân vật Hamlet có để đi từ chỗ biết sự thật đến chỗ quyết định hành động, và thời gian mà khán giả tự hình dung. Chính sự giao thoa ấy (Vygosky gọi là vòng cung nghệ thuật) đã khiến cho vở kịch này của Shakespeare trở nên đa nghĩa. Đoạn văn ngắn này của Hugo không thể có cái nghệ thuật được Shakespeare dồn toàn bộ tâm sức. Nhưng một so sánh như thế, có phần khập khiễng, cũng cho thấy sự dụng công trong nghệ thuật kể của Hugo. Toàn bộ cuộc chạm trán có thể chia thành bốn lớp, trong đó ba lớp đầu là qua cái nhìn của Phăng tin, còn lớp cuối là qua cái nhìn của một người khác mà chúng tôi sẽ nhắc tới ngay sau đây. Ba lớp đầu tiên thực ra cũng là ba mức phát triển của cuộc chạm trán qua tâm trạng Phăng-tin: lo sợ cầu cứu ông thị trưởng (từ đầu đến chị rùng mình), ngạc nhiên kinh hoảng khi chứng kiến sự đổi vai (ông thị trưởng bị túm áo cho tới khi Phăng tin run lên bần bật), và tuyệt vọng khi biết tin về đứa con. Cái chết của Phăng-tin được miêu tả trong đoạn văn kết thúc lớp thứ ba (kết thúc bằng câu văn đơn Phăng tin đã tắt thở) hết sức giản dị, chính xác với những mệnh đề đơn kế tiếp nhau. Bắt đầu từ đây là một điểm nhìn của một nhân vật khác: bà xơ Xem-plit-xơ. Nhưng dấu hiệu cho thấy cảnh được nhìn qua con mắt của bà xơ này, người đọc lại chỉ nhận ra ở những dòng gần cuối khi Giăng Van-giăng trò chuyện với người đã khuất. Có thể thấy dấu ấn của người kể chuyện qua lối miêu tả ám gợi (của chủ nghĩa lãng mạn) trong tình huống mà người đọc nhận ra. Chẳng hạn tư thế của nhân vật Gia-ve trước Giăng Van-giăng. Thoạt tiên là tiếng thét của Gia-ve đi kèm với lời bình của ngư¬ời kể chuyện: Không còn là tiếng ng¬ười nói mà là tiếng thú gầm. Hắn vừa gầm vừa như¬ thôi miên con mồi bằng động tác cứ đứng lì một chỗ, rồi phóng vào con mồi cặp mắt nhìn như¬ cái móc sắt. Sau đó hắn mới lao tới, tiến vào giữa phòng, ngoạm lấy cổ con mồi túm lấy cổ áo... Hắn đắc ý, phá lên cư¬ời, phô ra tất cả hai hàm răng. Thế là hình ảnh Gia-ve trong con mắt người kể chuyện, hay là của chính Phăng-tin, như gắn liền với hình ảnh con thú ăn thịt đang chuẩn bị vồ mồi. Hiệu quả đạt được như thế một phần là nhờ vào chính cách mượn điểm nhìn của Hugo. Thêm nữa, mượn điểm nhìn làm cho câu chuyện được kể thêm phần gay cấn. Người đọc được đẩy về phía tâm trạng của nhân vật nữ Phăng-tin, người đang quan sát tình thế truyện dường như liên quan đến chính số phận của mình. Cũng như thế với hình ảnh Giăng Van-giăng ở cuối đoạn trích trước cái chết của Phăng-tin. Ông ngăn cản Gia-ve một cách đầy uy quyền, rồi ông cúi xuống thì thầm với Phăng-tin làm cho cô như hé nụ cười trước khi bước vào cõi vĩnh hằng. Đó là một người bảo trợ, một Đấng cứu vớt đối với những người cùng khổ như Phăng-tin. Khuôn mặt rạng ngời của Phăng-tin tỏa sáng cùng lời bình (chết tức là đi vào bầu sáng vĩ đại) làm hình ảnh của Giăng Van-giăng giống hình ảnh Đức Chúa của Hugo trong tôn giáo Tình thương. Nhân vật bà xơ, như chúng tôi đã nói ở trên, gắn với lớp cảnh thứ tư và là nhân vật duy nhất trong truyện chứng kiến cảnh này, theo lời người kể chuyện. Bà chỉ được nhắc đến trong chương truyện sau khi Phăng-tin tắt thở. Trong lớp cuối cùng này, người ta chỉ còn thấy hai nhân vật, nhưng thực ra là một con người đang trò chuyện. Đó là Giăng Van-giăng. Như thế là người kể chuyện đã đột nhiên loại bỏ Gia-ve ra khỏi khung cảnh quan sát của mình. Nói cho chính xác thì nhân vật bà xơ cũng dường như đột nhiên hiện ra trong khung cảnh câu chuyện, và cũng sẽ đột nhiên bước ra khỏi cảnh không nguyên cớ. Dù rằng trước đó đã có hình ảnh chiếc giường dành cho các xơ trong những hôm trực đêm, nhưng chừng đó không đủ để cho thấy nhân vật này đã hiện diện một cách đầy đủ trong cảnh. Câu văn người duy nhất chứng kiến cảnh ấy như gợi ý cho ta một điều: phải chăng tất cả những cảnh vừa chứng kiến cũng được miêu tả qua con mắt của chính bà? Như vậy ở đây đã diễn ra một quá trình loại bỏ dần dần tất cả các nhân vật và điểm nhìn nhân vật. Quá trình đơn giản hóa ấy giúp tập trung điểm nhấn vào hai nhân vật như là hai võ sĩ đang thượng đài: Gia-ve và Giăng Van-giăng qua con mắt của Phăng-tin hoặc của bà xơ. Sự xuất hiện của bà xơ ở lớp cuối góp phần “chính danh hóa” cho những lời ngoại đề mà ngay sau đó người kể chuyện sẽ cất lên để ngợi ca hành động của Giăng Van-giăng. Sự xuất hiện bất ngờ này khiến cho lời ngợi ca mang âm hưởng thánh ca nhà thờ, như một lời rửa tội cho những kẻ nghèo khó vốn không bao giờ dám bước chân vào thánh đường, cho linh hồn người đàn bà phải bán thân để nuôi con được siêu thoát lên cùng Đức Chúa. Chính vì thế, Hugo mới hạ một câu kết cảnh, ngắn gọn nhưng cũng rất lãng mạn bởi tính chất tương phản trong bút pháp: chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại. “Điểm nhìn” của bà xơ thế là giúp người kể chuyện thơ hóa cái chết của nữ nhân vật. Cái chết không còn là điều gì nặng nề mà nhẹ nhàng, thanh thản đối với người phụ nữ này. Nó xua tan ám khí cho câu chuyện để chuẩn bị chuyển sang một cao trào mới ở cuối lớp kịch thứ tư. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một thủ thuật kể của Hugo mà thôi, chứ không phải điều bắt buộc. Có những chỗ không thể tìm thấy ai để mượn điểm nhìn thì người kể chuyện “xông thẳng” vào không gian tiểu thuyết để trình bày cảm xúc trữ tình. Những chương về cống ngầm của Những người khốn khổ hay con bạch tuộc trong Những người lao động biển cả là những ví dụ tiêu biểu. Tới đây, người ta có thể tự hỏi, vậy bà xơ đã đi vào và biến mất khỏi cảnh truyện từ khi nào? Câu hỏi ấy thực ra không quan trọng nếu xét theo thỏa ước hư cấu mà đôi khi chúng ta vẫn nói với nhau: điều đó chỉ xảy ra trong truyện cổ tích/tiểu thuyết. Đặt câu hỏi như thế, người đọc đã chú ý tới chất có thực của sự kiện mà quên rằng mình từng tham gia vào một thỏa ước văn bản mà người kể chuyện đã chìa cho anh ta ngay từ những dòng đầu tiên: đừng cố đi tìm hiện thực có thật (bao gồm cả những trật tự tất yếu của cuộc sống) trong những văn bản hư cấu. Trong văn bản của Hugo, thỏa ước này còn một điều khoản đòi hỏi người đọc chấp nhận: tính chức năng của các nhân vật và hành động. Một loạt các yếu tố, cả con người lẫn đồ vật, đều chỉ mang tính chức năng. Thực chất, người kể chuyện của Hugo chỉ mượn họ, bà xơ hay Phăng-tin, như những bệ đỡ để đưa lên kính ngắm của mình. Họ chỉ có tính chất chức năng để cho diễn biến của cảnh, cuộc chạm trán giữa người tù khổ sai chạy trốn cả đời mình và người phục vụ pháp luật, diễn ra theo đúng ý đồ tác giả. Ngay cả hai nhân vật này rốt cục cũng chỉ mang tính chất chức năng. Vậy, tâm lý hay tính cách đều chỉ cần giản đơn mà thôi. Cứ theo trục ấy mà suy thì thực tế các nhân vật khác cũng đều chỉ là những nhân vật chức năng hoạt động trong một tổng thể kịch được sắp đặt của tiểu thuyết Hugo. Vì thế, không thể đòi hỏi ở họ những suy tư phức tạp, những ý nghĩa trừu tượng mang tính triết lý. Trừ phi chúng ta nói tới tính triết lý trong giọng điệu người kể chuyện của Hugo. Nhưng khi đó chúng ta lại bàn sang một loại không gian khác của văn bản. Đặc điểm nguyên phiến này quy định một loạt những đặc điểm khác trong tiểu thuyết của Hugo. Người ta không thể và không nên quy chiếu những điều được kể trong tiểu thuyết của ông vào thực tại đời sống đương thời, trừ phi tiến hành một nghiên cứu xã hội học văn học một cách có hệ thống. Mặc dù người kể chuyện miêu tả trong góc phòng có chiếc giường sắt đã ọp ẹp dùng để các bà xơ ngả lưng những hôm phải trực đêm, nhưng có lẽ chiếc giường ấy cũng không hiện thực hơn hình ảnh Phăng-tin hay Giăng Van-giăng. Nói như R. Barthes thì chiếc giường này không để nằm mà là để chứng minh sức khỏe của nhân vật Giăng Van-giăng, cũng như sẽ là một phương tiện để nhân vật này dùng cho việc đe dọa Gia-ve. Phần trữ tình ngoại đề giữa người kể và người nghe này rõ ràng là lộ liễu, nó cũng nhấn mạnh thêm vào tính “ảo tưởng” của thế giới văn bản. Sự hiện diện của đoạn trữ tình ngoại đề khẳng định sự hiện diện của người kể chuyện toàn năng mà giới phê bình phương Tây thích sử dụng khái niệm ẩn dụ - nhưng cũng thích hợp trong hoàn cảnh này - đấng tạo hóa toàn năng (Démiurge). Tất cả mọi nguyên nhân, kết quả, trình tự câu chuyện được người kể chuyện ấy quyết định, đều quy về một mối là người kể chuyện đó. Thế giới đó không quy chiếu vào đâu ngoài chính nó. Người kể chuyện luôn hiện ra khi cần để thêm thắt những lời bình luận có cánh. Trong toàn tác phẩm có lúc là cả những trường đoạn dài trọn vẹn một chương như chương Paris dưới cánh cú bay hay về cống ngầm Paris chẳng hạn chỉ dùng để phô diễn tài miêu tả và hùng biện của Hugo. Không phải không có lúc chúng làm người đọc mệt mỏi, nhưng phải thừa nhận rằng chúng là những áng tản văn rất hay, giàu sức quyến rũ. Đoạn trữ tình ngoại đề này, sau cả một quá trình xung đột căng thẳng giữa các nhân vật, có thể gợi cho ta nhớ đến đoạn trữ tình trong sử thi Odyssée của Hy Lạp cổ đại (Uy-lít-xơ trở về) mà học sinh đã được học ở lớp 10. Đoạn văn ấy miêu tả cảm xúc những người thủy thủ sau những cơn bão đã đặt chân được lên đất liền với một niềm hạnh phúc lớn lao. Nhưng có một sự khác nhau căn bản về nghệ thuật và ý thức về nghệ thuật trong việc sử dụng trữ tình ngoại đề. Nếu như nhà thơ Hy Lạp cổ đại miêu tả cảm xúc ấy như một cách nói ẩn dụ trực tiếp cho cảm xúc của chàng dũng sĩ Uy-lít-xơ thì nhà văn thế kỷ XIX lại sử dụng lối ẩn dụ nghệ thuật. Nếu Homère sử dụng đoạn ngoại đề như một phần tất yếu trong mạch thời gian của tác phẩm liên quan đến tư duy cổ đại, thì đối với Hugo lại là một thủ pháp nghệ thuật. Nếu với Homère, tất cả được trình lên cho người thưởng thức ở cùng một bình diện, thì với Hugo đó là một thủ pháp kéo giãn thời gian nhằm che giấu những điều khác(2). Có những điều đối với Homère là đích, thì với Hugo lại là phương tiện và ngược lại. Nói cách khác, trữ tình ngoại đề được Hugo sử dụng một cách có ý thức trong mối liên quan với lối tư duy duy lý, có tính nhất quán của thời hiện đại. Do thế, nó tạo ra được một hiệu quả mang tính thẩm mỹ: đó là sự chậm rãi, là khoảng lặng của thời gian kể sau một cao trào. Vai trò người kể-toàn năng tham dự vào việc điều tiết, giữ nhịp cho cảm nhận của người đọc thông qua sự phối hợp các dòng thời gian. Còn đối với Homère, ngoại đề là điều mà người kể chuyện hướng tới nhằm đưa người đọc, người nghe bước hoàn toàn vào trong không gian sử thi. Trên kia, chúng tôi vừa nói tới dấu ấn người kể chuyện trong việc tạo điểm nhìn kể. Vai trò người kể chuyện của Hugo cũng được thể hiện thông qua cách xây dựng các lớp cảnh trong đoạn trích. Trước tiên, mở đầu đoạn trích, người kể chuyện thông báo bằng câu “từ ngày ông thị trưởng gỡ cho Phăng tin thoát khỏi Gia-ve...”. Cách gọi này đặt một điểm nhìn từ phía một người dân thành phố với Giăng Van-giăng, ở đây có thể chính là Phăng-tin. Ngay sau đó, người kể chuyện đính chính và cho biết nên gọi ông là Giăng Van-giăng để trả nhân vật này trở về đúng vai của mình. Như thế là bằng cách thay đổi tên gọi, người kể chuyện đã thay đổi tình huống truyện đặt Giăng Van-giăng trở lại tình huống ban đầu của tiểu thuyết khi phải trốn chạy trước Gia-ve, chánh thanh tra mật thám. Với tư thế ấy, chúng ta bắt gặp lời lẽ đầy tự tôn, mà khiêm cung của Giăng Van-giăng với Gia-ve. Đó là lời lẽ của một tù khổ sai bỏ trốn trước ông thanh tra khét tiếng Gia-ve từng làm biết bao kẻ đầu trộm đuôi cướp phải khiếp sợ, người chưa bao giờ biết sợ trước bất kỳ những ai bị coi là vi phạm pháp luật. Thế mà lần này, ông ta lại run sợ. Trong lớp thứ ba, khi những lời van xin của Giăng Van-giăng với Gia-ve trở nên vô ích, thì những lời của Gia-ve với Giăng Van-giăng lại trở thành sự đe dọa với Phăng-tin dẫn tới việc Giăng Van-giăng vô tình làm lộ ra bí mật đối với Phăng-tin là chưa cứu được Cô-dét. Cái chết của chị khiến cho tình huống bất ngờ đảo ngược. Không còn van xin, khiêm cung mà là lời lẽ cứng rắn của Giăng Van-giăng với Gia-ve, của một người tù khổ sai hai mươi năm với ông chánh thanh tra đại diện cho chính quyền và luật pháp. Thêm vào đó là hành động mang đậm chất kịch của nhân vật khiến cho chính Gia-ve phải lùi bước. Giăng Van-giăng đã khôi phục lại quyền uy của mình trước Gia-ve, nhưng không phải nhờ vào chức thị trưởng mà do nghĩa vụ mà ông tự đặt với mình trước người đã khuất. Cái chết của Phăng-tin mang lại sức mạnh cho ông. Đến dòng cuối cùng của đoạn trích, khi Giăng Van-giăng đã hứa xong với người đã khuất, chúng ta lại chứng kiến một sự đảo ngược thú vị: Giăng Van-giăng tự giao nộp mình cho Gia-ve - người đại diện cho pháp luật. Đây chính là cao trào thứ hai của chương truyện và đoạn trích sau cao trào thứ nhất khi Phăng-tin chết và ông thanh tra bị tên tù khổ sai đe dọa. Người kể chuyện lần này không như thói thường thâm nhập vào đầu óc của nhân vật để mách bảo mọi thứ cho người nghe chuyện. Ông ta im lặng đúng ở cao trào. Lối dàn cảnh của người kể chuyện liên quan tới những lối tương phản đặc trưng trong thi pháp của Hugo. Việc lên tiếng mách bảo người đọc trong lúc dẫn chuyện tạo tình huống và im lặng trong những khoảng cao trào của người kể chuyện tạo nên nhiều dư âm trái ngược nhau cho người đọc(3). Nhưng các nhân vật của Hugo chắc chắn không phải là những con người đầy suy tư trong các tiểu thuyết của Stendhal, Flaubert hay Gide. Vì thực chất họ chỉ là những nhân vật chức năng. Người kể chuyện toàn năng này cũng thể hiện quyền uy của mình thông qua việc đặt tất cả các nhân vật trong truyện ở ngôi thứ ba. Chúng ta có thể so sánh một cách đơn giản với truyện kể của Daniel Defoe Robinson Crusoe đã được giới thiệu trong chương trình cấp hai. Người kể chuyện xuất hiện trong vai trò nhân vật chính, tức là giữ ngôi thứ nhất. Vì thế về mặt nguyên tắc anh ta cũng không biết những chuyện khác xảy ra mà không có mặt mình. Dĩ nhiên vì kể chuyện kiểu cổ điển luôn mang tính quy ước nên người ta mặc định với nhau là câu chuyện đã xảy ra. Tức là kết thúc chuyện đã hoàn thành một cách rõ ràng, dù nhân vật chính trong vai người kể chuyện có gặp nguy hiểm đến đâu thì cuối cùng anh ta cũng vượt qua bình an vô sự để ngày nay ngồi kể lại cho bạn đọc. Nhân đây chúng tôi nghĩ cũng có thể nói thêm vài lời về vai trò và sự hiện diện người dịch trong tư cách người kể chuyện toàn năng thứ hai của bản dịch, ở đó người kể chuyện dàn xếp hệ thống đại từ tiếng Việt dành cho các nhân vật. Trong tiếng Pháp, người kể chuyện đối xử bình đẳng với các nhân vật bằng hệ thống đại từ, vì khó mà nói tới sắc thái đánh giá nhân vật thông qua vẻn vẹn chỉ hai đại từ: il (ông ta) và elle (cô ta). Người dịch tiếng Việt, với tư cách người đọc mẫu, phải chuyển đổi hai đại từ đơn sắc ấy của tiếng Pháp sang một hệ thống cực kỳ phong phú, nhưng cũng phức tạp vô cùng của đại từ tiếng Việt. Hệ chuyển đổi đó tất yếu đã bao hàm một cách mặc định cách đánh giá, dẫn giải của người dịch định hướng cho độc giả. Chúng ta thấy, Giăng Van-giăng thì được dịch là ông, cũng đại từ đó (il) thay cho Gia-ve thì được dịch là hắn, nhân vật Phăng-tin được dịch là chị từ chữ elle có thể được dùng trong tiếng Pháp chỉ cả bà xơ Xem-pli-xơ. Hệ thống đại từ đó đã phân xuất một cách vô tình và hữu ý, theo cách đánh giá của các dịch giả, các nhân vật trong đoạn trích và tác phẩm thành hai nhóm: những kẻ độc ác và những người lương thiện. Nhưng biết đâu đó lại chưa hẳn là chủ ý của Hugo? Chúng ta hãy hình dung một bản dịch khác dùng chữ hắn để chỉ Giăng Van-giăng, thị hay ả để chỉ Phăng-tin, ông để chỉ Gia-ve; khi đó chắc người đọc sẽ lại có một dịp khác để xem xét cách hiểu của mình với câu chuyện rất hấp dẫn và lý thú này với những cảm giác tương phản mới trong người đọc. Cuối cùng, chúng ta chú ý tới tiêu đề đoạn trích. Người biên soạn giữ nguyên tên của chương sách dịch vốn thể hiện phong cách hùng biện độc đáo của Hugo, đồng thời thể hiện toàn bộ quá trình đảo ngược tình thế trong chương truyện. Là một nhà thơ thế kỷ XIX, ông ưa những lối diễn đạt giàu ý vị dựa trên sự lỏng lẻo, mơ hồ của kết cấu câu văn. Những dịch giả - có lẽ cũng là những trí thức nghệ sĩ - đã gắng truyền đạt điều ấy qua lối diễn đạt nhịp nhàng, mang âm hưởng biền ngẫu của thơ ca Việt Nam: l’autorité reprend ses droits được chuyển thành người cầm quyền khôi phục uy quyền. Chữ người cầm quyền ở số ít như trong trường hợp này còn có thể hiểu là người có uy tín, chứ không chỉ là nhà cầm quyền vốn luôn được dùng ở số nhiều (les autorités). Vậy ở đây có thể hiểu nó hướng một cách mơ hồ đến cả hai đối tượng, tùy theo sự lựa chọn của người đọc: Giăng Van-giăng và Gia-ve. Gia-ve trong những chương trước đã tự thấy xấu hổ vì dám “nghi ngờ” ông Ma-đơ-len. Sau khi đích thân Giăng Van-giăng ra tự thú thì ông ta thấy khả năng đánh hơi của mình không tồi. Thế là từ chỗ là chánh thanh tra mật thám nhưng cúi mình trước ông thị trưởng Ma-đơ-len, nay ông ta cảm thấy mãn nguyện vì đã giành lại quyền lực trước con mồi khổ sai trốn tù đã lẩn trốn mình trong bao năm. Đó là việc khôi phục uy quyền của ông ta được hiểu như là quyền lực nhà nước trong chữ droits. Mặt khác, như trên kia chúng ta đã thấy, có một sự chuyển đổi thế và lực giữa các cảnh trong truyện. Nhân vật Giăng Van-giăng trước tiên là một ông thị trưởng có uy tín trong những chương trước. Vì để cứu một người vô tội bị bắt oan mà ông ra tự thú trước tòa án. Bắt đầu chương truyện này, ông tự đặt mình vào vị trí tội phạm, không quyền lực, không sức mạnh. Trong cảnh hai và cảnh ba, ông từ chối sức mạnh của mình. Điều ấy được thể hiện thông qua lời khẩn cẩu chánh thanh tra mật thám Gia-ve. Nhưng cho đến cuối đoạn trích, ông lại trở thành người nắm giữ sự chủ động, với sức mạnh/quyền lực khiến chính Gia-ve - người chưa từng biết sợ ai và luôn khiến cho (theo lời người kể chuyện) mọi tên tội phạm hoảng sợ - phải lùi bước. Ông đã giành lại sức mạnh/quyền lực để làm những điều thuộc về nghĩa vụ mà ông tự đặt ra cho mình. Nghĩa vụ cứu và nuôi nấng cô bé Cô-dét, con của Phăng-tin. Chữ droits được dịch thành uy quyền còn có thể hiểu như là những nghĩa vụ tất yếu của một người trung thực như ông đã hứa trước người đã khuất. Chúng ta lại bắt gặp ở đây tính chất hùng biện, nghệ thuật tu từ thường gặp trong sáng tác của Hugo. V. Hugo - nhà văn dưới con mắt nhiều nhà nghiên cứu văn bản học hiện đại không có những cách tân độc đáo hướng đến hiện đại. Tuy nhiên phong cách với những thủ pháp kể chuyện khéo léo tới mức bậc thầy của ông - dấu ấn của lối kể dân gian trong tiểu thuyết báo chí đương thời - vẫn để lại những dư âm thú vị, mang đến sự say mê cho người đọc. Sự phối hợp những thủ pháp, kỹ thuật kể chuyện của Hugo chỉ có ý nghĩa với người đọc, chỉ vượt được biên giới các quốc gia khi nó được chỉ hướng bằng một tình cảm cao cả. Đó là lý tưởng nhân văn, trân trọng giá trị con người. Xúc cảm ấy đã thấm đẫm trong toàn tác phẩm, trong từng câu từng chữ, từng cách sắp xếp lớp cảnh. Những phân tích về mặt kỹ thuật như trên vẫn chỉ là một cách rất hạn chế, rất thô sơ để thấy rõ hơn xúc cảm và lý tưởng của ông mà thôi. Một bài đọc chi tiết, cẩn trọng toàn đoạn trích sẽ mang đến cho người đọc những xúc cảm không thể nói thành lời.
Xem thêm

4 Đọc thêm

SOẠN BÀI: ÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 9

SOẠN BÀI: ÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 9

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài ÔN TẬP PHẦN TẬP LÀM VĂN Ôn lại những kiến thức đã học, hệ thống hoá thành đề cương ôn tập theo những định hướng sau: 1. Phần Tập làm văn trong chương trình Ngữ văn 9, tập một có những nội dung lớn nào? Cần chú ý vào nội dung trọng tâm nào? Gợi ý: Xem lại các tên bài ở phần Tập làm văn, tổng kết để rút ra những nội dung cơ bản, trọng tâm. Nhìn chung, chương trình Tập làm văn 9, tập một xoay quanh những vấn đề chính sau: - Văn bản thuyết minh; kết hợp giữa thuyết minh với miêu tả, lập luận và một số biện pháp nghệ thuật; - Văn bản tự sự: + Kết hợp tự sự với miêu tả (miêu tả bên ngoài và miêu tả bên trong), lập luận; + Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong tự sự; người kể và ngôi kể trong văn bản tự sự. - Trong các nội dung trên, cần tập trung tìm hiểu kĩ các nội dung mới, nâng cao so với chương trình Tập làm văn ở các lớp dưới như: thuyết minh kết hợp với các biện pháp nghệ thuật; tự sự kết hợp với miêu tả nội tâm, phân biệt đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm; nhận diện người kể chuyện trong văn bản tự sự, cách chuyển đổi ngôi kể.  2. Phân biệt giữa thuyết minh và miêu tả; Phân tích tác dụng của miêu tả trong thuyết minh. Gợi ý: - Thuyết minh: phản ánh chính xác, khách quan, trung thành với đối tượng được thuyết minh; hạn chế sử dụng yếu tố tưởng tượng, sử dụng nhiều đến số liệu cụ thể; dùng nhiều trong các lĩnh vực giao tiếp nhật dụng; ngôn ngữ đơn nghĩa. - Miêu tả: dựa vào đặc điểm, tính chất khách quan của đối tượng, phát huy trí tưởng tượng, hư cấu; sử dụng nhiều yếu tố so sánh, liên tưởng, ít sử dụng số liệu cụ thể; dùng nhiều trong sáng tác văn học nghệ thuật; ngôn ngữ thường đa nghĩa. - Sử dụng miêu tả trong thuyết minh giúp người đọc (nghe) hình dung cụ thể, sinh động hơn về đối tượng, làm tăng sức hấp dẫn cho văn bản thuyết minh. 3. Lấy ví dụ về sự kết hợp giữa thuyết minh với giải thích, miêu tả. Phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa các thao tác trong ví dụ đó. Gợi ý: Tìm trong các văn bản trong chương trình Ngữ văn đã được học, trong các loại sách hướng dẫn nấu ăn, sách hướng dẫn cắm hoa, sách hướng giới thiệu về di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh,… 4. Nêu vai trò của yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận trong tự sự. Gợi ý: Phân biệt giữa miêu tả bên ngoài và miêu tả bên trong (miêu tả nội tâm). Con người trong thực tiễn đời sống ngoài những biểu hiện về hành động, cử chỉ, nói năng,… tức là những biểu hiện bên ngoài còn có đời sống bên trong: suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng,… Để con người hiện lên sinh động, đầy đủ, sâu sắc, bên cạnh việc miêu tả những biểu hiện bên ngoài, trong khi tự sự cần thiết phải khắc hoạ được những diễn biến tâm trạng, trạng thái tâm lí,… tóm lại là miêu tả đời sống bên trong. Trong lời kể, có khi người kể chuyện muốn thể hiện một sự đánh giá, nhận xét hoặc suy luận nào đó trước đối tượng, khi đó nghị luận được sử dụng. Nghị luận là một thao tác quan trọng giúp cho người kể bộc lộ tư tưởng, quan điểm của mình; hoặc được dùng để xây dựng tình huống triết lí nào đó trong truyện. 5. Tìm ba đoạn văn tự sự: một đoạn có sử dụng yếu tố miêu tả nội tâm, một đoạn có sử dụng yếu tố nghị luận và một đoạn có sử dụng kết hợp cả ba yếu tố tự sự, miêu tả nội tâm và nghị luận. Gợi ý: Tìm trong các văn bản Ngữ văn trong chương trình Ngữ văn 9, tập một hoặc trong chương trình Ngữ văn ở các lớp trước, có thể tìm trong những tác phẩm mình đã được đọc,… Có thể tham khảo: - “Thực sự mẹ không lo lắng đến nỗi không ngủ được. Mẹ tin đứa con của mẹ lớn rồi. Mẹ tin vào sự chuẩn bị rất chu đáo cho con trước ngày khai trường. Còn điều gì để lo lắng nữa đâu! Mẹ không lo, nhưng vẫn không ngủ được. Cứ nhắm mắt lại là dường như vang bên tai tiếng đọc bài trầm bổng: “Hằng năm cứ vào cuối thu… Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”.” (Lí Lan, Cổng trường mở ra) - “Phải, người hoạ sĩ già vừa nói chuyện, tay vừa bất giác hí hoáy vào cuốn sổ tì lên đầu gối. Hơn bao nhiêu người khác, ông biết rất rõ sự bất lực của nghệ thuật, của hội hoạ trong cuộc hành trình vĩ đại là cuộc đời. […] Thế nhưng, đối với chính nhà hoạ sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó, nặng nhọc, gian nan. Làm một bức chân dung, phác học như ông làm đây, hay rồi vẽ dầu, làm thế nào làm hiện lên được mẫu người ấy? Cho người xem hiểu được anh ta, mà không phải hiểu như một ngôi sao xa? Và làm thế nào đặt được chính tấm lòng của nhà hoạ sĩ vào giữa bức tranh đó? Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài. Mặc dù vậy, ông đã chấp nhận sự thử thách.” (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa) - “Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi trên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.” (Thanh Tịnh, Tôi đi học) 6. Phân biệt giữa đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. Gợi ý: Dựa trên những dấu hiệu về nội dung và hình thức nào để phân biệt giữa đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm? 7. Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm có vai trò gì trong văn bản tự sự? Cho ví dụ và phân tích. Gợi ý: Xem lại Gợi ý ở mục I.4 - bài 13. 8. Tìm ba đoạn văn: một đoạn kể theo ngôi thứ nhất, một đoạn kể theo bằng ngôi thứ ba (đại từ nhân xưng ngôi thứ ba hoặc tên nhân vật) và một đoạn kể bằng lời của người kể chuyện (vốn giấu mặt) lộ diện. Gợi ý: Người kể chuyện là gì? Phân biệt các hình thức kể chuyện (ngôi thứ nhất: người kể chuyện <có thể đồng thời là nhân vật trong câu chuyện> - xưng “tôi”; và ngôi thứ ba: xưng theo đại từ nhân xưng ngôi thứ ba hoặc theo tên nhân vật). Trong hình thức kể chuyện theo ngôi thứ ba (lời kể thuộc về nhân vật) có khi người kể chuyện lộ diện, kể từ đứng bên ngoài quan sát và kể lại. Nhận diện hình thức kể chuyện theo ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba không khó. Điều cần lưu ý là việc nhận diện lời của người kể chuyện “giấu mặt” - người kể trong hình thức kể theo ngôi thứ ba, khi chủ thể này xuất hiện và phát ngôn; trong nhiều trường hợp, lời của người kể chuyện dạng này có sự hoà phối nhất định với giọng, lời của nhân vật. Ví dụ: Cô nhìn thẳng vào mắt anh - những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy; thì không chỉ là lời của người kể mà có sự nhập thân ở một mức độ nhất định giữa người kể và nhân vật anh thanh niên, lời ở đây vừa như cụ thể (của nhân vật) vừa như khái quát, vang lên từ một nhân vật vô hình nào đó.
Xem thêm

2 Đọc thêm

GIÁO ÁN LỚP 3 TUẦN 5 BUỔI CHIỀU

GIÁO ÁN LỚP 3 TUẦN 5 BUỔI CHIỀU

Việc leo trèo của các bạn nhỏ gây hậu quả gì ?(Hàng rào đổ, tướng sĩ ngã…)- HS đọc thầm đoạn 3, trả lời câu 3- Thầy giáo chờ mong điều gì ở học sinh? (HS dũng cảm nhận lỗi)- Vì sao khi đó chú lính nhỏ run lên?- HS đọc thầm đoạn 4 trả lời câu hỏi:- Phản ứng của chú lính như thế nào khi nghe lệnh “Về thôi” của viên tướng?- Thái độ của các bạn ra sao trước hành động của chú lính nhỏ?- Ai là ngời lính dũng cảm trong truyện này? Vì sao? (Chú lính chỉ chui quahàng rào lại là người dũng cảm nhận lỗi và sửa lỗi)- Bài học giúp em hiểu ra điều gì? (khi mắc lỗi phải dám nhận lỗi và sửa lỗi.)- Có khi nào em dám dũng cảm nhận lỗi và sửa lỗi không?d. Luyện đọc diễn cảm :- GV hướng dẫn - Đọc mẫu- HS đọc đoạn sau đó đọc cả bàie. Kể chuyện :- GV nêu nhiệm vụ: Xếp 4 tranh theo thứ tự sau đó chọn kể lại câu chuyện- Hướng dẫn kể chuyện- HD học sinh hiểu yêu cầu kể chuyệnGiáo án lớp 3A\Năm học 2015-2016\ Nguyễn Quang QuýPHT: Trần Phương Thành\đã duyệt tuần 5\ngày 21/9/20153- HS sắp xếp các tranh, nhận các nhân vật trong tranh- GV hướng dẫn kể mẫu đoạn 1 – HS kể trong nhóm- HS kể trước lớp từng đoạn- HS kế cả truyện 1, 2 em- HS nhận xét, bình chọn bạn kể hay.3. Củng cố - dặn dò:
Xem thêm

11 Đọc thêm

Luyện tập làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

LUYỆN TẬP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH)

. HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ Ở NHÀ 1. ôn lại để nắm vững cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): Nhận diện được đề bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), phân biệt với đề bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. - Nắm vững các bước làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). - Biết sắp xếp ý của bài văn theo bố cục 3 phần: Mở bài có vai trò gì? Thân bài có vai trò gì? Kết bài có vai trò gì? 2. Đọc lại đoạn trích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, chú ý suy nghĩ trên từng phương diện: cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật kể chuyện. II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP TRÊN LỚP Hãy lập dàn ý chi tiết cho bài văn nghị luận với đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. 1. Tìm hiểu đề và tìm ý - Tìm hiểu đề: + Xác định vấn đề nghị luận: Đoạn trích Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. + Yêu cầu: trình bày cảm nhận. - Tìm ý: Em dự định trình bày cảm nhận của mình về những nội dung nào của đoạn trích Chiếc lược ngà? + Câu chuyện về tình cha con sâu nặng của truyện lấy bối cảnh vào thời kì nào? Cần có hiểu biết nhất định về hoàn cảnh lịch sử của miền Nam giai đoạn kháng chiến chống Mĩ để thấy rằng tình cảnh của cha con ông Sáu là phổ biến. Nêu cảm nhận của em về hoàn cảnh câu chuyện. + Cảm nhận về tình cha con sâu nặng, cảm động: Cảm nhận của em về tình yêu thương con vô hạn của ông Sáu, những mất mát, hi sinh mà ông đã gánh chịu. Cảm nhận của em về tính cách của bé Thu… + Tình cảm giữa ông Sáu và bé Thu được thể hiện qua những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc nào? (Cử chỉ, hành động, lời nói, diễn biến tâm trạng của ông Sáu và của bé Thu). + Câu chuyện cảm động ở điểm nào? Tác giả đã xây dựng tình huống truyện eo le ra sao, xây dựng lời kể giản dị, tự nhiên như thế nào? 2. Lập dàn bài chi tiết a) Em dự định Mở bài như thế nào? b) ở phần Thân bài, em dự định triển khai vấn đề thành những luận điểm nào (mỗi luận điểm viết thành một câu văn hoàn chỉnh). Em lựa chọn những chi tiết, hình ảnh nào để chứng minh cho luận điểm của mình? (chú ý sắp xếp các dẫn chứng tương ứng với từng luận điểm). c) Em sẽ khẳng định điều gì ở phần Kết bài? Nên suy nghĩ để mở rộng liên hệ với đời sống hiện tại. loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Chọn sự việc, chi tiết tiểu biểu trong văn tự sự

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIỂU BIỂU TRONG VĂN TỰ SỰ

CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Sự việc là “cái xảy ra được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái xảy ra khác” (Theo Từ điển tiếng Việt). Sự việc tiêu biểu là những mốc quan trọng góp phần hình thành bố cục, từ đó dẫn dắt câu chuyện, từng bước hoàn chỉnh văn bản. 2. Mỗi sự việc tiêu biểu bao gồm một số chi tiết đặc sắc. Chi tiết có thể là một lời nói, một cử chỉ, một hành động của nhân vật… Những chi tiết đặc sắc tập trung thể hiện rõ nét sự việc tiêu biểu. 3. Muốn chọn được chi tiết, sự việc tiêu biểu khi viết bài văn tự sự, trước hết cần nắm được yêu cầu của đề văn. Cần phải hình dung được cốt truyện, các nhân vật và quan hệ của chúng. Các chi tiết, sự việc đưa vào bài văn có thể do ta đọc, hoặc tự phát hiện, hoặc ghi lại trong cuộc sống nhưng nhất thiết phải nổi bật, hấp dẫn, tô đậm tính cách nhân vật và tập trung biểu hiện tư tưởng chủ đề của bài văn. II. RÈN KĨ NĂNG 1. a) Trong "Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy", tác giả dân gian kể : -  Chuyện về tình cha con: là câu chuyện về nỗi đau đớn của người cha khi dứt ruột kết liễu đứa con mình vì cô công chúa ngây thơ đã vô tình có tội với dân với nước. - Chuyện về tình vợ chồng chung thủy: là câu chuyện về mối tình ngang trái nhưng son sắt thủy chung của Trọng Thủy - Mị Châu. Hai vợ chồng tuy đứng ở hai bên chiến tuyến nhưng tình cảm của họ vẫn vô cùng sâu nặng. Vì thế mà họ đã sống chết thủy chung với lời thề. - Chuyện về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của cha ông ta xưa: trong câu chuyện này, tác giả dân gian muốn giả thích một cách “nhẹ nhàng” nỗi đau mất nước và nhấn mạnh tinh thần cảnh giác, phê phán tính chủ quan trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  b) Sự việc Trọng Thuỷ và Mị Châu chia tay nhau là một sự việc tiêu biểu trong truyền thuyết này. Trong sự việc ấy có hai chi tiết được coi là quan trọng. Chi tiết Trọng Thuỷ hỏi Mị Châu: “…Ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?” và chi tiết Mị Châu đáp lời: “Thiếp có áo lông ngỗng, đi đến đâu sẽ rứt lông ngỗng rắc ở ngã ba đường”. Hai chi tiết này đều là những mốc quan trọng góp phần vào việc dẫn dắt sự phát triển của câu chuyện. Chi tiết 1 như là sự báo trước về cuộc chiến tranh sẽ xẩy ra. Còn chi tiết 2 lôgíc với phần sau của truyện. Có chi tiết này mới có chuyện Trọng Thuỷ biết dấu đuổi theo, cha con An Dương Vương cùng đường và đều phải tìm đến cái chết. Giả sử ta bỏ không kể sự việc này hoặc bỏ chi tiết “Mị Châu rắc lông ngỗng” thì câu chuyện chắc chẵn sẽ không tiếp nối được. Bởi sự việc ấy và chi tiết này là tiền đề cho các sự việc và chi tiết tiếp theo. 2. Có thể kể tiếp câu chuyện anh con trai lão Hạc trở về theo gợi ý sau : - Anh con trai về, nghe ông giáo kể về cha. Sự việc trọng tâm là ông lão đã sống như thế nào và ông lão đã giữ mảnh vườn ra sao ? Có thể kể các chi tiết : + Lão Hạc đau khổ khi phải bán chú chó vàng + Làng mất vè sợi, Lão Hạc phải ăn củ chuối, sung luộc để sống. + Lão Hạc bòn tiền gửi ông giáo để lo việc tang ma. + Cái chết đau đớn đầy tự trọng của Lão Hạc. + Ông giáo trao kỉ vật cho cậu con trai. - Cùng ông giáo, anh con trai xúc động ra viếng mộ cha. Có thể kể theo các chi tiết : + Nói với cha về những năm tháng vất vả của đời mình. + Ân hận vì đã bỏ ra đi. + Hứa với cha sẽ sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của cha. - Anh con trai lão Hạc gửi lại ông giáo những di vật và ra đi. Sự việc chính là giải thích cho ông giáo nghe lí do của cuộc ra đi. Chọn các chi tiết kể sau: + Cảm ơn ông giáo vì đã quan tâm giúp đỡ cha mình. + Kể cho ông giáo biết anh đã giác ngộ và là một người cách mạng. + Xin gửi lại ông giáo những kỉ vật của cha để lại tiếp tục ra đi chiến đấu. + Hứa hẹn ngày về. Chú ý : Chúng ta vẫn có thể sáng tạo bằng cách nghĩ ra cốt truyện khác hay lựa chọn những sự việc, chi tiết tiêu biểu khác để thêm vào. Ví như ở sự việc thứ nhất, trong cốt truyện nêu trên có thể thêm việc ông giáo phải quyết tâm chiến đấu thế nào với bọn địa chủ thì mới giữ cho được mảnh vườn đến hôm nay. Hoặc ở sự việc thứ ba, có thể kể ra lí do tại sao anh con trai lại đi theo cách mạng (gặp một người cách mạng cùng cảnh ngộ ở đồn điền cao su. Anh được giúp đỡ, hiểu ra và đi theo làm cách mạng,…) Xin lưu ý, sự sáng tạo không có nghĩa là cứ phải nghĩ ra một cốt truyện hoàn toàn mới. Điều quan trọng tạo nên sự khác nhau ấy chính là ở các sự việc, chi tiết tiêu biểu, cái được ta lựa chọn và sắp xếp theo một trình tự thế nào. 3. Những công việc cần thiết khi chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự: - Xác định mục đích của việc lựa chọn (để kể lại, để viết bài văn tự sự hoặc để làm dẫn chứng cho một việc làm nào đó…). - Xác định đề tài của văn bản: Kể về một trận đánh, về tình mẹ con, vợ chồng..vv..kể về một tấm gương người tốt hoặc kể về cả về một cuộc đời với nhiều mối quan hệ vô cùng phức tạp… - Dự kiến cốt truyện + Cốt truyện truyền thống, thường gồm các phần: Trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút). + Cốt truyện phóng khoáng kiểu hiện đại: Là cốt truyện không theo lôgíc kể trên, có thể đảo lộn hoặc thiếu một phần nào đó hoặc có loại tự sự mà không có… chuyện (chỉ miêu tả những dòng cảm xúc). Dù kể theo cách nào thì người kể (người viết) cũng cần chú ý chuẩn bị các yếu tố cấu thành truyện như: Đề tài, bố cục, các sự việc, chi tiết tiêu biểu, các nhân vật (chính, phụ), diễn biến câu chuyện và kết quả. - Cuối cùng ta hãy chia cốt truyện thành các đoạn, mỗi đoạn chọn một vài sự việc, chi tiết tiêu biểu  nổi bật. Công việc này đòi hỏi ta phải quan sát và suy ngẫm, phải khôi phục những ấn tượng đặc biệt mà ta đã đọc hay học được trong sách vở, trong cuộc sống. Đồng thời phải biết điều phối chúng sao cho cân xứng trong suốt cả bài văn. 4. a) Sự việc “Một hôm, có nhà thiên văn về làng…chở hòn đá đi” là một sự việc quan trọng. Vì vậy khi kể rõ ràng không thể lược bỏ được sự việc này. Trong câu chuyện, nó chính là bước ngoặc cho toàn bộ những gì đang và đã diễn ra. Nếu không có sự việc ấy thì chắc người làng và đám trẻ kia sẽ không bao giờ “nhận ra” vẻ đẹp của hòn đá. Nó chắc sẽ vẫn cứ nằm đấy xấu xí, xù xì và vô dụng mà thôi sự việc này làm đổi thay tiến trình của truyện. Đồng thời, chính nó tạo ra nội dung tư tưởng của bài văn. b) Từ sự việc này có thể rút ra bài học: Khi lựa chọn sự việc và chi tiết tiêu biểu để kể chuyện hoặc để viết bài văn tự sự cần cân nhắc kĩ càng và thận trọng. Các sự việc chi tiết được chọn, phải đảm bảo yêu cầu về sự quan trọng và nổi bật, phải góp phần dẫn dắt cốt truyện, phải tô đậm tính cách của nhân vật, tạo ra sự hấp dẫn và tập trung vào chủ đề của bài văn. 5. Trong đoạn trích “Uy-lít-xơ trở về”, tác giả Hô-me-rơ đã kể lại toàn bộ quá trình Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ trước khi hai người chính thức nhận ra nhau bằng “chìa khoá” là chiếc giường bí mật. Trong màn đoàn tụ ấy, ở cuối đoạn, tác giả có kể một sự việc quan trọng đó là việc Pê-nê-lốp chính thức nhận ra Uy-lít-xơ. Trong sự việc này các chi tiết tiêu biểu là các chi tiết miêu tả chiếc giường đặc biệt (gian phòng của hai vợ chồng được xây quanh cây cảm lãm, gốc cây được đẽo thành một chiếc chân giường làm thành chiếc giường bất di bất dịch…). Đoạn kể này có thể coi là một thành công trong nghệ thuật kể chuyện sử thi của Hô-me-rơ. Nó độc đáo, bất ngờ và lôgíc bởi nó làm tô lên vẻ đẹp tính cách và phẩm chất của các nhân vật sử thi. Lối kể này cũng tạo ra sự hấp dẫn li kì. Vì thế mà nó lôi cuốn, dục dã tính tò mò và sự quan tâm khám phá của người đọc sách.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đề thi học kì 1 lớp 6 môn ngữ văn năm 2014 - Triệu Phong

ĐỀ THI HỌC KÌ 1 LỚP 6 MÔN NGỮ VĂN NĂM 2014 - TRIỆU PHONG

PHÒNG GD&ĐT TRIỆU PHONG                      ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I.          ĐỀ CHÍNH THỨC                              NĂM HỌC: 2013-2014                                                              MÔN: NGỮ VĂN 6                                                     Thời gian: 90 phút. (không kể thời gian giao đề) Câu 1: (1 điểm)             Thế nào là truyền thuyết? Kể tên các truyền thuyết đã học trong  chương trình ngữ văn 6 kì I (kể cả những truyền thuyết đọc thêm). Câu 2: (1 điểm)             Thế nào là nghĩa của từ?  Giải thích nghĩa của từ “trung niên” .  Câu 3: (1,5 điểm)               Cho câu sau: “Vua cha yêu thương Mị Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.”           a. Xác định cụm danh từ có trong câu trên?           b. Phân tích cấu tạo của cụm danh từ vừa tìm được? Câu 4: (1,5 điểm)             Kể tên các loại động từ đã học? Đặt một câu có động từ làm vị ngữ? Gạch chân dưới động từ ấy.  Câu 5: (5điểm)             Kể lại một truyền thuyết đã học bằng chính lời văn của em. Đáp án đề thi học kì 1 lớp 6 môn ngữ văn năm 2014 - Triệu Phong  Câu Nội dung Điểm Câu1 - HS Nêu đúng khái niệm. -HS Kể đúng 5 truyền thuyết sau: Con Rồng cháu Tiên, Bánh chưng bánh giầy, Thánh Gióng, Sơn Tinh-Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm. (0.5đ)   (0,5đ) Câu2 -Nghĩa của từ : là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động , quan hệ … ) mà từ biểu thị. -Nghĩa của từ “trung niên”: đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già. (0.5đ)   (0.5đ)   Câu3 a.Cụm danh từ: một người chồng thật xứng đáng. b. Cấu tạo: Phần phụ trước Phần trung tâm Phần phụ sau một người chồng thật xứng đáng   (0.5đ)   (1đ)     Câu4 -Các loại động từ:    + Động từ tình thái:    +Động từ hành động, trạng thái: -HS đặt câu có chứa động từ làm vị ngữ -HS xác định đúng động từ trong câu vừa đặt    (0,5đ)     (0,5đ) (0,5đ) Câu5 - Hs có thể tùy thích chọn bất kì truyền thuyết nào để kể,song cần dùng lời văn của mình, và chọn ngôi kể phù hợp theo các yêu cầu sau 1. Mở bài:     -Giới thiệu được một truyền thuyết mà em định kể. 2. Thân bài:     - Giới thiệu được nhân vật và sự kiện có trong truyền thuyết ấy.     -Các nhân vật ấy đã làm những  gì? Làm như thế nào? Những hành động việc làm ấy nhằm mục đích gì?    -Truyền thuyết  đó nhằm giải thích vấn đề gì? 3. Kết bài:   -Kết thúc câu chuyện   -Tình cảm của em đối với câu chuyện đó.       (0.5đ)     (4đ)         (0.5đ) *. BIỂU ĐIỂM: - Điểm 4.5-5: Bài viết đảm bảo tốt các yêu cầu cả về bố cục, nội dung cũng như cách thức diễn đạt.  Vào bài sáng tạo, hấp dẫn. Sử dụng đúng ngôi kể. Trình bày sạch, đẹp. - Điểm 3.5-4 : Bài viết đảm bảo nội dung nhưng vào bài và kết bài chưa hấp dẫn. - Điểm 2-3: Bài viết có thực hiện các yêu cầu trên. Nhưng diễn dạt chưa chặt chẽ, chưa biết dùng lời của mình. Ngôi kể chưa phù hợp. - Điểm 1-2: Bài viết mới đảm bảo một vài yêu cầu trên. Kể chưa chính xác, chưa đầy đủ, tẩy xóa và sai chính tả nhiều. - Điểm 0: Bài nộp giấy trắng. Trên đây là đề thi và đáp án môn ngữ văn 6 năm 2014 - Triệu Phong. Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật đề thi của các trường, các em thường xuyên theo dõi.  
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề