LỊCH SỬ THỜI NHÀ NGUYỄN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LỊCH SỬ THỜI NHÀ NGUYỄN":

TRẮC NGHIỆM LỊCH sử 10

TRẮC NGHIỆM LỊCH sử 10

câu hỏi trắc nghiệm lịch sử lớp 10 HKII trong giai đoạn thời nguyên thủy đến thế kỉ 19, thời kì hình thành nhà nước Văn Lang Âu Lạc đến thời nhà Nguyễn, trải qua nhiều các triều đại phong kiến Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần Hồ, Hậu Lê

Đọc thêm

QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG VÀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VIỆT NAM (THẾ KỈ XVIIXVIII) QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍ THỜI NGUYỄN

QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG VÀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VIỆT NAM (THẾ KỈ XVIIXVIII) QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍ THỜI NGUYỄN

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về quá trình mở rộng và hoàn thiện lãnh thổ Việt Nam thời phong kiến đặc biệt là ở thế kỉ XVIIXVIII là vấn đề không phải hoàn toàn mới mẻ, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhiều mặt vấn đề này. Tuy nhiên việc tìm hiểu về quá trình mở rộng và từng bước xác lập chủ quyền lãnh thổ Việt Nam thông qua các bộ địa chí được biên soạn dưới triều Nguyễn thì lại chưa có công trình nào hoàn chỉnh. Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu hay các hội thảo, hội nghị được tổ chức nhằm nghiên cứu về địa lý lịch sử Việt Nam qua các thời đại ở rất nhiều khía cạnh. Đầu tiên phải kể đến tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh, NXB Thuận Hóa – Huế (1964). Đó là công trình nghiên cứu lịch sử về cương vực, địa lý, hành chính Việt Nam qua các đời từ thời Văn Lang Âu Lạc cho đến thời Nhà Nguyễn. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã có phần nói về sự mở mang lãnh thổ vào Nam qua các đời Lý, Trần, Hồ, Lê. Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng, cung cấp những tư liệu quý về cương vực lãnh thổ của nước ta qua các đời. Tác phẩm “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang, do Nhà sách khai trí xuất bản năm 1969. Đây là một công trình nghiên cứu về vùng đất phía Nam của Đại Việt, về vương quốc Chămpa và quốc gia Chân Lạp, về vùng đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Tác giả đã dành một phần nói về cuộc Nam tiến của Đại Việt từ thời Nguyễn Hoàng, công cuộc khai phá vùng đất Đàng Trong, về quá trình chiếm đất Chămpa, lấn đất Thủy Chân Lạp, mở đất Gia Định, về nhân vật Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên. Công trình đã cung cấp nhiều tư liệu quý, quan trọng về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của nước ta nhất là về quá trình mở đất phương Nam nền tảng cho sự hoàn thiện lãnh thổ dưới vương triều Nguyễn. Tiếp đó là hàng loạt những tác phẩm nghiên cứu về lịch sử Đàng Trong cũng như quá trình mở đất phương Nam. Đây là nguồn tư liệu quan trọng cung cấp cho chúng ta những thông tin về quá trình mở rộng và hoàn thiện lãnh thổ Việt Nam. Đó là các cuốn “Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII” của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, xuất bản năm 1995 tại nhà xuất bản Đồng Nai; “Xứ Đàng Trong năm 1621” của Critstophoro Borri, do NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998…
Xem thêm

133 Đọc thêm

TUẦN 22. NGHE-VIẾT: MỘT NHÀ THÔNG THÁI

TUẦN 22. NGHE-VIẾT: MỘT NHÀ THÔNG THÁI

nhiều hội nghiên cứu quốc tế. Ông để lạicho chúng ta hơn 100 bộ sách có giá trịvề ngôn ngữ, lịch sử, văn học, địa lí,Ngời đơng thời liệt ông vào hàng 18 nhàbác học nổi tiếng thế giới.Theo: Từ điển nhân tài lịch sử việt nam BT2a) Tìm các từ chứa tiếng bắt đầubằng r, d hoặc gi, có nghĩa nh sau:- Máy thu thanh, thờng dùng để nghe tintức.Ra đi ô- Ngời chuyên nghiên cứu, bào chế thuốcDợcsĩchữa bệnh.Giây- Đơn vị thời giannhỏ hơn đơn vị phút.• BT2b) T×m c¸c tõ chøa tiÕng có vần ươthoÆc ươc, cã nghÜa nh sau:- Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ.-Thi không đỗThước
Xem thêm

7 Đọc thêm

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ QUÝTỘC THỜI LÝ – TRẦN

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC QUÂN CHỦ QUÝTỘC THỜI LÝ – TRẦN

nét của bộ máy quân chủ quý tộc. Tuy nhiên mỗi triều đại lại sử dụng người đểphong quan khác nhau. Nhà Lý sử dụng cả đội ngũ quý tộc, đồng tộc và ngoạithích: Các chức tướng công, thái phó được hoàng đế nhà Lý ban cho những ngườicó nhiệm vụ trực tiếp điều khiển toàn bộ chính quyền. Lý Thái Tổ đã bổ nhiệm TrầnCảo làm tướng công. Lý Thánh Tông bổ nhiệm Lý Thường Kiệt làm Thái phó phụquốc thượng tướng quân… Còn đối với nhà Trần chỉ sử dụng đội ngũ quý tộc vàđồng tộc, không sử dụng ngoại thích. Để đề phòng nạn ngoại thích, củng cố sự vữngchắc của vương triều nhà Trần đã thực hiện chế độ hôn nhân đồng tộc. Nhiều nhàvua và vương hầu tôn thất nhà Trần đã lấy người trong họ hàng, đôi khi khá gần gũi(như Trần Thái Tông lấy chị dâu, Trần Thủ Độ lấy chị họ, Trần Quốc Tuấn lấy emhọ). Trần Thánh Tông thường căn dặn : “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tông, ngườinối giữ cơ nghiệp tổ tông nên cùng anh em trong tông thất chung hưởng phú quý. . .Anh em là xương thịt rất thân, gặp lúc lo thì cùng lo, gặp lúc vui thì cũng vui...".Biểu hiện của bộ máy quân chủ quý tộc thời Lý – Trần còn thể hiện ở sự trọng đãicác quan chức ở trung ương và địa phương. Tầng lớp quý tộc nắm giữ vị trí quantrọng trong tổ chức bộ máy nhà nước, nắm giữ hầu hết các trọng trách ở triểu đình,địa phương, trấn trị các vùng quan trọng, chỉ huy quân đội. Các hoàng tử đượcphong vương và được cử đi trấn trị ở các nơi trọng yếu, vương hầu tôn thất đượcphong cấp thực ấp, thực hộ, cho lập điền trang phủ để.3. Trong nhà nước quân chủ quý tộc, nhà vua được thế tộc.Nhà Trần lấy ngôi nhà Lý bằng biện pháp hôn nhân - từ vai trò là ngoại thích củanhà Lý đã giành ngôi. Do đó, để tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kếthôn với người trong họ. Nhà Trần khuyến khích hôn nhân nội tộc để củng cố sựvững chắc của vương triều. Theo tập quán dân gian và quan niệm Nho giáo, giữanhững người trong cùng họ đều không được kết hôn với nhau nhưng dòng họ Trầnlại khuyến khích nội tộc hôn nhân nhắm đảm bảo tính “thuần nhất” của dòng họ,bảo vệ ngôi vua được vững bền, ngăn ngừa ngôi vua để lọt vào tay dòng họ khác.Chúng ta có thể điểm qua một số cuộc hôn nhân nội tộc này: Năm 1225, Trần Cảnh,
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc việt nam

NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Tài liệu về các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam trong lịch sử. Các cuộc kháng chiến của dân tộc ta từ thời nhà Lý chống quân Tống, trải qua các thời kỳ nhà Trần, nhà Lê, đến anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ... được tóm lược khá đầy đủ trong tài liệu này.

134 Đọc thêm

THỜI XA VẮNG – TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH (DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC)

THỜI XA VẮNG – TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH (DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC)

2. LịCH Sử VấN Đề 2.1. Tự sự học ở Việt Nam Trên thế giới, Tự sự học từ lâu đã không còn là thuật ngữ xa lạ, những vấn đề về lý thuyết đã được định hình thành hệ thống và Tự sự học ngày càng được mở rộng và phát triển. Với những ưu điểm của mình Tự sự học ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc khám phá lí giải thế giới nghệ thuật ngôn từ. Mặc dù thế giới đã đi qua hai giai đoạn của Tự sự học: Tự sự học kinh điển và Tự sự học hậu kinh điển nhưng ở Việt Nam Tự sự họcvẫn còn là một hướng nghiên cứu hết sức mới mẻ. Các vấn đề về dịch thuật, các khái niệm trong cấu trúc truyện kể như điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, phối cảnh trần thuật …vẫn còn phức tạp chồng chéo gây nhiều tranh cãi đặc biệt là các công trình quan trọng của ba nhà Tự sự học lớn R.Barthes, G.Genette, T.Todorov vẫn chưa được dịch thuật một cách hệ thống. Hội thảo Tự sự học đầu tiên do khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức vào năm 2001 (với 76 bản tham luận của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học và cơ quan nghiên cứu văn học trên cả nước tham gia) và tiếp đó là việc xuất bản công trình: Tự sự học –một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2003) đã đánh dấu mốc son chính thức ghi nhận sự xuất hiện của Tự sự học ở nước ta. Sau bảy năm, xuất phát từ nhu cầu lí luận, thực tiễn năm 2008 khoa Ngữ văn tiếp tục tổ chức hội thảo Tự sự học lần thứ với 62 bản tham luận. Bên cạnh các bài viết giới thiệu lí thuyết Tự sự học ở nhiều phương diện còn có các bài viết mang tính ứng dụng cao. Hai cuộc hội thảo đã cho thấy tình hình nghiên cứu Tự sự học ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Có thể coi đây là một hoạt động khoa học quan trọng trong việc xây dựng tiền đề cho ngành Tự sự học ở nước ta. Năm 2010 ban Văn học nước ngoài của Viện văn học đã triển khai thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng. Công trình khoa học này tập trung nghiên cứu tự sự từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dựng ở một số nền văn học như Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và chủ yếu là ở Việt Nam. Một phần các kết quả nghiên cứu đó (Với 10 mục bài được lựa chọn bao gồm cả hai phần lí thuyết và ứng dụng ) đã được tuyển tập trong chuyên đề Tự sự học in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm 2010. Có thể khẳng định rằng công trình khoa học của Viện văn học đã góp phần to lớn tạo nên sự phát triển của ngành khoa học còn khá mới mẻ này. Hiện nay GS Trần Đình Sử chủ nhiệm một đề tài lớn, đầy đủ và toàn diện vềTự sự học mang tên Nafosted tuy nhiên đề tài vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Cho nên xét trên những tài liệu đã được công bố thì có thể thấy tuy đến Việt Nam khá muộn nhưng Tự sự học đã được các nhà khoa học nước ta đón nhận và hưởng ứng rộng rãi với một tâm thế chủ động và bước đầu đã gặthái được những thành công đáng trân trọng. Trước hết các nhà nghiên cứu của ta đã nỗ lực dịch và giới thiệu những vấn đề lý thuyết Tự sự học trên các phương diện như lịch sử phát triển, các xu hướng, các khái niệm Tự sự học đương đại…Có thể kể đến các công trình dịch thuật như Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc dịch; Cơ sở của kí hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch; Thi pháp văn xuôi của T.Todorov do Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch; Dẫn luận về Tự sự học của Susanna Onega và J.A.Garcia Landa do Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch; Diễn ngôn mới của truyện kể của G.Genette do Lê Phong Tuyết trích dịch; Hai nguyên tắc của truyện kể của T.Todorov do Phùng Ngọc Kiên dịch;Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes do Tôn Quang Cường dịch; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX của nhóm những nhà nhiên cứu Nga do Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch...Những nghiên cứu trên mang ý nghĩa chủ yếu là giới thiệu lí thuyết Tự sự học dù bước đầu còn mới mẻ và ở các cấp độ khác nhau nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu.Vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung vào một số điểm cơ bản sau đây: 1Lịch sử quá trình phát triển và mục đích của Tự sự học khi xác định văn học như là đối tượng nghiên cứu cơ bản và chủ yếu, xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm Tự sự học; 2 Giới thiệu những vấn đề cơ bản của lí thuyết Tự sự học hiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật. Song song với việc biên dịch, giới thiệu, việc vận dụng lí thuyết Tự sự học vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triển khai một cách sâu rộng. Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu công phu 20 năm (19812001) của GS Trần Đình Sử mang tên Thi pháp truyện Kiều. Công trình Những vấn đề thi pháp của truyện của tác giả Nguyễn Thái Hòa xuất bản năm 2000. Năm 2008, tác giả Đào Duy Hiệp cho ra mắt tác phẩm Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại. Ở quy mô nhỏ hơn lí thuyết Tự sự học đã được các tác giả vận dụng khi tìm hiểu các tác phẩm trong và ngoài nước in trên các báo, tạp chí và đặc biệt là in chung trong hai cuốn sách Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do nhà xuất bản Đại học Sư phạm phát hành. Ngoài ra lý thuyết Tự sự học cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ đã cho thấy Tự sự học ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu nước nhà.Tự sự học là môn khoa học rất phức tạp bao gồm nhiều vấn đề do đó dẫn tới sự phong phú trong các đề tài nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu có thể chọn nhiều cách thức khác nhau như chọn một vấn đề trong cấu trúc tự sự (người kể chuyện, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian…) hoặc có thể tổng hợp nhiều vấn đề (nghệ thuật tự sự, thế giới nghệ thuật…). Tuy nhiên nghiên cứu Tự sự học ở Việt Nam chủ yếu tập trung ởTự sự học văn học rất ít đề tàimở rộng nghiên cứu Tự sự học trong các lĩnh vực khác đặc biệt là Tự sự học điện ảnh. Vì vậy Tự sự học điện ảnh chưa được ý thức rõ là một môn khoa học riêng biệt, nó chỉ được coi như sự mở rộng của Tự sự học văn học mà thôi. 2.2. Điện ảnh xuất hiện khi các loại hình nghệ thuật khác như văn chương, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu đã phát triển đến độ chín. Vì vậy điện ảnh có cơ hội kế thừa, tiếp thu những phương tiện nghệ thuật sẵn có đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới, hiện đại và phong phú. Thành công của tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật cùng với các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong các loại hình nghệ thuật thì văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành. Mối quan hệ giữa văn học và điệnảnh thể hiện rõ nhất qua hiện tượng phim chuyển thể. Chưa ai có thể thống kê nổi con số khổng lồ về những tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim. Chỉ biết rằng hầu hết các tác phẩm văn chương ưu tú của các dân tộc khác nhau, các thời đại khác nhau đều đã một lần hoặc hơn một lần được sống đời sống thứ hai trong ngôi nhà của nàng Muydơ thứ 7. Mặc dù phim chuyển thể xuất hiện từ sớm cùng với sự phát triển của điện ảnh nhưng lí thuyết về nó thì chưa nhiều chủ yếu là xuất hiện rải rác trên các báo, tạp chí. Nói về hiện tượng chuyển thể trước hết phải kể đến công trình “Bàn về cải biên tiểu thuyết thành phim” của Hạ Diễn, Mao Thuẫn và Dương Thiên Hỷ. Trong tác phẩm đó các tác giả đã bàn về các vấn đề montage, âm thanh trong điện ảnh đặc biệt là sự chuyển thể từ tiểu thuyết sang kịch bản điện ảnh. Tác phẩm đã cung cấp những hiểu biết cơ bản để chuyển thể một cuốn tiểu thuyết thành phim. Tác giả Nguyễn Mai Loan có bài “Các cấp độ chuyển thể” in trên Tạp chí Điện ảnh ngày nay số 124 năm 2005. Trong bài, người viết đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc về hiện tượng chuyển thể và khẳng định xu hướng chuyển thể sát nguyên bản vẫn được số đông các nhà điện ảnh Việt Nam ưa chuộng từ xưa tới nay. Đi vào cụ thể hơn của hiện tượng chuyển thể trong một bài viết khác mang tiêu đề“Phim chuyển thể tiểu thuyết” đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 6 năm 2005 tác giả Nguyễn Mai Loan đã đi tới khẳng định “khi chuyển thể các nhà làm phim phải nỗ lực tìm sự tương đương từ các từ ngữ đến hình ảnh…phải nắm được phong cách của tiểu thuyết, nhà làm phim phải đưa được hơi thở của cuộc sống ẩn sâu trong văn bản tự sự lên màn ảnh lớn” 40;76 Nhìn từ lí thuyết liên văn bản tác giả Lê Thị Dương có bài “Vấn đề chuyển thể văn học – điện ảnh từ góc độ liên văn bản” (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 11012). Đây là bài viết thể hiện cái nhìn bao quát sâu rộng về hiện tượng chuyển thể. Cung cấp cho người đọc những hiểu biết căn bản về hiện tượng chuyển thể là gì, các cấp độ của chuyển thể, montage – thủ pháp đặc trưng trong điện ảnh. Ngoài ra chuyển thể văn học sang điện ảnh đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, trong các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp tiêu biểu như: luận án “Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh” của Phan Bích Thủy, ĐHSP thành phố HCM; luận văn thạc sĩ “Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự) của Đỗ Thị Ngọc Diệp, ĐH KHXHNV; Trong khóa luận tốt nghiệp“Bước đầu tìm hiểu hoạt động chuyển thể tác phẩm văn học trong sáng tạo điện ảnh (Khảo sát qua một số bộ phim Việt Nam đương đại) của Nguyễn Thu Hồng, ĐHSPHN… 2. 3. Tác phẩm “Thời xa vắng” và phim chuyển thể cùng tên Lê Lựu viết Thời xa vắng từ 1984 nhưng đến 1986 tác phẩm mới ra mắt độc giả. Từ khi ra đời đến nay tác phẩm đã được tái bản nhiều lần. Ban đầu nó là đối tượng tranh luận sôi nổi của giới phê bình sau đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học chuyên sâu. Theo dõi qúa trình nghiên cứu nhìn chung Thời xa vắng được giới chuyên môn đánh giá cao.Họ đều khẳng định những đóng góp lớn lao của Lê Lựu và vị trí quan trọng của tác phẩm trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà thời kì đổi mới. Tiêu biểu là các bài viết: Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời xa vắng” của Nguyễn Văn Lưu; Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình của Đỗ Tất Thắng; Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến; Suy tư từ một “Thời xa vắng” của Nguyễn Hòa; Một đóng góp vào việc nhận diện con người Việt Nam hôm nay của Vương Trí Nhàn; Lê Lựu thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; Thời xa vắng một tâm sự nóng bỏng của Lê Thành Nghị…Các nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm này có “cách nhìn hiện thực mới”, vấn đề đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc đó là nhu cầu nhận thức lại thực tại. Tác phẩm đã thẳng thắn đề cập đến những mặt trái, mặt xấu của xã hội, điều mà trước năm 1975 văn xuôi của ta không dám nói, chưa được nói do nhu cầu của lịch sử cũng như sự vận động của thực tại đời sống. Lê Lựu cũng như các nhà văn cùng thời đã chú ý lắng nghe những âm thanh của cuộc đời để thể hiện sinh động hơn, tập trung hơn trong tác phẩm của mình. Đánh giá về tác phẩm này nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu đã nhận định: “Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận và đánh giá lại thực tại” 42;588. Tác phẩm đã “khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không nói tới”20;604. Nói về cuốn tiểu thuyết của mình Lê Lựu đã từng bộc bạch: “Cả một thời kỳ dài từ những năm đầu chiến tranh cho đến những năm đầu 80 người ta không nói đến cái bi kịch riêng. Tôi muốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể với niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ, có cái được và cái mất”. Tuy nhiên để làm nên tiếng vang cho Thời xa vắng không thể không kể đến những đóng góp nổi bật trên khía cạnh nghệ thuật. Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đặc biệt chú ý đến cách sử dụng các câu văn “lùa thùa có khi mềm và rối như bún nhưng lại rất được” 17;603 của Lê Lựu; PGS La Khắc Hòa lại quan tâm đến vấn đề người trần thuật của cuốn tiểu thuyết:“…lúc nào nó cũng lắm lời, lời kể của nó đã lùa thùa, dài dòng mà cái luận đề lộ rất rõ…”34;66. Bên cạnh đó giọng văn trần thuật cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Thiếu Mai cho rằng “cách nhìn thấu đáo của anh, tấm lòng thiết tha của anh đã thể hiện đầy đủ ở giọng văn, giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan không thêm bớt tô vẽ đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục hấp dẫn của tác phẩm”51;344. Cũng nhận xét về giọng văn PGS La Khắc Hòa lại tìm thấy ở tác phẩm chính là giọng giễu nhại rất độc đáo. Ông viết như sau: “Nó không cần sử dụng những thủ pháp lạ hóaquen thuộc như phóng đại hay vật hóa hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười. Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được một hình tượng giễu nhại. Nhờ thế lời văn của Thời xa vắng khi thì như bông đùa lúc lại xót xa, chì chiết nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng chủ đạo của nó”34;67. Mặc dù các ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại đều thống nhất cho rằng Thời xa vắng là một tác phẩm “đi tìm lại những giá trị từng bị đánh mất, từng bị lãng quên” là sự khái quát lịch sử bằng số phận của một cá nhân. Tác phẩm xứng đáng đưa Lê Lựu trở thành người tiên phong trong quá trình đổi mới nền văn học dân tộc. Gần đây một số báo cáo khoa học, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các khía cạnh của cuốn tiểu thuyết như: Thời xa vắng của Lê Lựu và tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975 (Thái Thị Mỹ Bình, ĐHSPHN), Đối thoại trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) của Phạm Thị Thúy Vinh, ĐHSPHP… Nhận ra được ý nghĩa sâu sắc ấy của tác phẩm đạo diễn Hồ Quang Minh đã quyết tâm chuyển thể cho nó sống đời sống thứ hai ở lĩnh vực điện ảnh. Đồng thời cũng là để hoàn thiện bộ ba phim nói về chủ đề thân phận con người trong và sau chiến tranh ở Việt Nam qua ba miền đất nước như mong muốn của ông:Con thú tật nguyền, Bụi hồng và Thời xa vắng. Bộ phim Thời xa vắng ngay từ khi khởi quay đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí, về tuyển chọn diễn viên, về xây dựng bối cảnh…trong quá trình quay phim. Tuy nhiên bằng sự nỗ lực hết mình của đạo diễn, sự giúp đỡ tận tình của nhà văn Lê Lựu, sự cố gắng của cả đoàn làm phim cuối cùng bộ phim cũng hoàn thành và đưa vào công chiếu gây được tiếng vang trong lòng khán giả và sự quan tâm của giới báo chí. Hàng loạt các bài viết về bộ phim như: Lận đận Thời xa vắng (Thanh Tân); Thời xa vắng –“mối nhân duyên”giữa nhà văn Lê Lựu và đạo diễn Hồ Quang Minh của Bùi Huyền Dung; Một thoáng với đoàn làm phim Thời xa vắng của Bùi Thị Huyền;Nhà văn Lê Lựu với phim Thời xa vắng của Phan Thúy Thảo; Gặp tác giả Thời xa vắng của Lê Lương Giang, Thời xa vắng – bộ phim chắp cánh cho văn học thăng hoa của Phan Bích Thủy…Tuy nhiên các bài viết chỉ mang tính chất như các bài phỏng vấn hay bài nghiên cứu nhỏ lẻ chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu nghiêm túc về bộ phim dưới khía cạnh của khoa học chuyên sâu. Mặc dù vậy có một điểm chung đó là giới chuyên môn có đánh giá cao về bộ phim, một trong số đó là nhà phê bình Ngô Minh Nguyệt,tác giả đã từng khẳng định như sau: “Thời xa vắng làm sống dậy bức tranh quê hồn hậu với những con người bình dị đã sống cách chúng ta nửa thế kỷ, những phong tục, lối sống…Thời xa vắng trau chuốt trong từng cảnh quay với những khuôn hình đẹp. Thời xa vắng cũng làm người xem day dứt, se lòng trước những đau thương của nhân vật truyện”. “Thông qua tấn bi kịch của cuộc đời Sài từ khi mới lên mười đến lúc về già là cả bức tranh xã hội hiện lên chân thực. Đây là chủ kiến của đạo diễn khi ông nói rằng với bộ phim Thời xa vắng ông coi trọng yếu tố chân rồi mới đến thiện và mỹ. Cái không khí thời đại ẩn vào trong từng nếp nghĩ, chi phối đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất”55;4.
Xem thêm

133 Đọc thêm

Văn hóa thời nhà Trần

VĂN HÓA THỜI NHÀ TRẦN

1. Tôn giáo tín ngưỡng Nhìn chung, nhà Trần đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho. Đó chính là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo tịnh tồn ở thời kỳ này. Nói như Phan Huy Chú, “thời Lý – Trần, dù là chính đạo hay dị đoan đều được tôn chuộng, không phân biệt”. Trên nền tảng đó, nhìn chung các tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo và đặc biệt là Phật giáo đã được tôn sùng. 1.1. Các tín ngưỡng dân gian Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn với Đạo giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích. Trong hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, rất nhiều vị thiên thần và nhân thần, các anh hùng và danh nhân đã được truyền thuyết hóa và tôn vinh. Hình tượng Phật Mẫu Man nương (có nguồn gốc từ chùa Dâu) đã được sùng bái, thờ cúng ở rất nhiều nơi. 1.2. Các tôn giáo chủ yếu 1.2.1. Đạo giáo Các đạo sĩ Đạo giáo đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh thời Trần. Họ được triều đình mời đi trấn yểm các núi sông trong nước, vào cung làm lễ tống trừ ma quỷ đêm 30 Tết, làm phép cầu đảo chống hạn, trừ sâu lúa, giảng giải cho vua về phép tu luyện. Những đạo sĩ nổi tiếng là Thông Huyền, Hứa Tông Đạo Huyền Vân. Một số đạo sĩ kiêm thiền tăng như Trần Tuệ Long, Trịnh Trí Không, Nguyễn Bình An. Một số đạo quán đã được xây dựng như Thái Thanh cung, Cảnh Linh cung, Ngã Nhạc quán. Đạo học, cùng với Phật học và Nho học đã được đưa vào nội dung các kỳ thi Tam giáo.
Xem thêm

6 Đọc thêm

CÔNG NGHỆ LÀM LẠNH MỚI 2706

CÔNG NGHỆ LÀM LẠNH MỚI 2706

TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ CAO HÀ NỘIKHOA ĐIỆNĐIỆN TỬ BÁO CÁO Họ và tên : NGUYỄN VĂN ĐẠO Lớp : KTMLĐHKK 2 Khóa : II Khoa : Điện – Điện TửNgay từ thời cổ đại, con người đã biết đốt lửa sưởi ấm vào mùa đông và dùng quạt hoặc tìm vào các hoang động mát mẻ vào mùa hè.Năm 1845.Bác sĩ người Mỹ John gorrie đã chế tạo ra máy nen khí đầu tiên để điều hòa không khí cho bệnh viện tư của ông.Chính sự kiện này đã làm cho ông nổi tiếng thế giới và đi vào lịch sử của nghành kỹ thuật điều hòa không khí. Năm 1850, nhà thiên văn học piuzzi Smith người Scotland đầu tiên đưa ra dự án điều hòa không khí phòng ở bằng máy nén khí. Sự tham gia của nhà bác học nổi tiếng Rankine đã làm cho đè tái không những trở nên nghiêm túc mà còn được đông đảo người quan tâm theo dõi. Bắt đầu từ những năm 1860 ở Pháp, F. carre đã đưa ra những ý tưởng về điều hòa không khí cho các phồng ở và đặc biệt cho các phòng hát.
Xem thêm

16 Đọc thêm

NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ NHÀ NƯỚC CỦA TRIỀU NGUYỄN TRONG THỜI KỲ PHÁP THUỘC

NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ NHÀ NƯỚC CỦA TRIỀU NGUYỄN TRONG THỜI KỲ PHÁP THUỘC

Những chuyển biến về nhà nước của triều Nguyễn trong thời kỳ Pháp thuộc Bài tập học kỳ Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam 8 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam MỞ ĐẦU Từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến ở Việt Nam đã chuyển từ thịnh trị sang suy yếu nhưng chưa có mầm mống tư bản chủ nghĩa. THế kỷ XVIII XIX thế giới có những biến đổi sâu sắc về mặt chính quyền và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa đua nhau đi xâm chiếm thuộc địa. Ở Việt Nam lúc đó, chế độ quân chủ chuyên chế cực đoan, lỗi thời và bảo thủ của hà Nguyễn đã làm kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội, làm mất năng lực phong thủ đất nước làm nước ta rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp, dưới thời Pháp thuộc đi cùng những yếu tố ảnh hưởng về các mặt, triều đại nhà Nguyễn đã có những chuyển biến nhất định. Sau đây, em xin trình bày “Những chuyển biến về nhà nước của triều Nguyễn trong thời kỳ Pháp thuộc”. NỘI DUNG I. KHÁI QUÁT HOÀN CẢNH LỊCH SỬ Sau một thời gian thăm dò và chuẩn bị, ngày 191858, đế quốc Pháp nổ súng tấn công vào bán đao Sơn Trà mở đầu cho thời kỳ xâm lược và thống trị thực dân ở Việt Nam.Bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, Pháp phải thay đổi kế hoạch tấn công .Do cuộc kháng Pháp rộng phắp và bền bỉ của nhân dân ta mà kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp bị thất bại, kế hoạch xâm chiếm nước ta kéo dài gần ba thập kỷ. Trong quá trình đó, Pháp thực hiện phương thức chiếm dần đất, lấn dần chủ quyền và từng bước thiết lập bộ máy cai trị. Qua 4 bản hiệp ước kí với triều đình nhà Nguyễn,dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, nền kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam có nhiều biến đổi sâu sắc, đặc biệt là những chuyển biến về mặt nhà nước của triều Nguyễn. II. NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ MẶT NHÀ NƯỚC CỦA TRIỀU NGUYỄN DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC 1.Triều Nguyễn chính quyền bù nhìn tay sai của thực dân Pháp. Trong thời Pháp thuộc, triều Nguyễn ( Chính phủ Nam Triều) tuy vẫn mang hình thức chính thể quân chủ nhưng đất nước đã mất độc lập chủ quyền, dưới ách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho chính quyền phong kiến có những thay đổi đáng kể so với những thời đại trước. Về không gian lãnh thổ, Nam kỳ là đất “thuộc địa” nên chính quyền nhà Nguyễn, về hình thức chỉ tồn tại ở Trung kỳ và Bắc kỳ ( đất “bảo hộ” và “nửa bảo hộ”). Như vậy, về mặt hình thức, ở Trung kỳ và Bắc kỳ tồn tại song song hai hệ thống chính quyền: chính quyền của người Pháp và chính quyền của triều Nguyễn. Vua tuy vẫn mang danh hiệu hoàng đế nhưng đã trở thành bù nhìn, dưới sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp của viên Khâm sứ Pháp ở Trung kỳ. Các vị vua Nguyễn không còn quyền hành về quân sự và quyền thu thuế. Quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng bị hạn chế tới mức tối đa. Mọi quyết định quan trọng của nhà vua trước khi ban bố đều phải qua sự kiểm duyệt và chấp thuận của người Pháp. Từ năm 1894, ngân sách Nam triều bị sáp nhập vào ngân sách bảo hộ. Quan lớn, quan nhỏ và đến cả vua cũng do Pháp trả lương. Về quyền lực nhà nước, nhà Nguyễn không những chỉ còn tồn tại ở Trung kỳ và Bắc kỳ mà cũng không còn có quyền lực của một nhà nước và trở thành chính quyền tay sai bù nhìn, một bộ phận của chính quyền thực dân.Đây là sự biến đổi cơ bản của nhà Nguyễn. Chính quyền phong kiến Nguyễn tuy vẫn mang hình thức chính thể quân chủ phong kiến và hệ tư tưởng Nho giáo, nhưng cũng đã có biến đổi, do sự chỉ đạo của Pháp và do ảnh hưởng phần nào đó của thể chế tư sản phương Tây. Triều Nguyễn không còn là một nhà nước phong kiến độc lập, tự chủ mà đã mất hầu hết quyền lực, trở thành chính quyền bù nhìn tay sai của thực dân Pháp. 2. Hai yếu tố phong kiến và tư sản đan xen và cùng nhau tồn tại trong tổ chức bộ máy. Như đã phân tích ở trên, thời kỳ nàyVua chỉ là bù nhìn cho chính quyền thực dân Pháp.Vua chỉ có quyền bổ nhiệm các quan lại ở triều đình và ở Trung kỳ từ chánh nhất phẩm đến tòng tam phẩm nhưng phải được sự chuẩn y của Khâm sứ Pháp, còn quan lại từ chánh tứ phẩm trở xuống do chính Khâm sứ bổ nhiệm, ở Bắc kỳ tất cả quan lại đều do Thống sứ Pháp bổ nhiệm. Lục bộ vốn là cơ quan xương sống trong bộ máy quan liêu phong kiến. Đến thời Pháp thuộc lục bộ hầu như bị giải thể và thay vào đó có rất nhiều bộ, trong đó nhiều bộ thường thấy có ở các nước tư sản phương Tây và lần đầu tiên hiện diện trong nền hành chính ở Việt Nam như Bộ tài chính, Bộ tư pháp, Tòa án,…có những hững dấu hiệu bước đầu phân biệt giữa tư pháp và hành pháp nhưng về cơ bản vẫn chưa có sự rạch ròi giữa tư pháp và hành pháp. Bên cạnh đó, những cơ quan khác ở trung ương cũng có sự biến đổi như: Tứ trụ trong triều đình và Hội đồng phụ chính, Viện cơ mật và Hội đồng thượng thư, Viện Đô sát, Hội đồng Phủ tôn nhân, văn phòng của nhà vua… Viện cơ mật đặt dưới sự chủ toạ của nhà vua và giúp vua đưa ra đường lối chung bao trùm mọi lĩnh vực. Ban đầu Viện cơ mật chỉ gồm 4 thượng thư của các bộ quan trọng nhất. Cả 6 Thượngthư của lục bộ hợp thành Hội đồng Thượng thư. Đạo Dụ ngày 2791897 mở rộng thành phần Viện cơ mật, gồm cả 6 thượng thư, như vậy Hội đồng thượng thư không còn nữa. Viện Đô sát có chức năng kiểm soát mọi hoạt động của quan lại các cấp và giám sát việc thi hành luật pháp. Từ năm 1897, Viện Đô sát bị đặt dưới sự chủ toạ của Khâm sứ. Cũng từ năm 1897, Hội đồng phủ tôn quân bị đặt dưới sự chủ toạ của Khâm sứ.3. Hai hệ thốngchính quyền đô hộ, chính quyền Nam triều song song tồn tại trong một phạm vi lãnh thổ. Chính quyền đô hộ được xây dựng dựa trên nguyên tắc theo mẫu của nướcPháp: thành lập Liên bang Đông Dương đứng đầu là viên Toàn quyền Đông Dương. Ngoài ra còn có các cơ quan phụ tá của Toàn quyền Đông Dương. Chính quyền đô hộ được thiết lập ở cả 3 kỳ: Đứng đầu Bắc kỳ đất “nửa bảo hộ” là Thống sứ, nhưng chính quyền chỉ tổ chức tới cấp tỉnh; Trung kỳ là đất “bảo hộ” đứng đầu là Khâm sứ, chính quyền người Pháp cũng chỉ tổ chức tới cấp tỉnh; Nam kỳ là đất “thuộc địa”, đứng đầu chính quyền là Thống đốc, chính quyền người Pháp được tổ chức tới tất cả các cấp. Chính quyền Nam triều được tổ chức bộ máy từ cấp Tỉnh trở xuống: Cấp tỉnh: Đứng đầu mỗi tỉnh lớn là Tổng đốc phụ trách chung. Tỉnh loại vừa có Tuần Vũ (hay Tuần phủ) phụ trách chung. Tỉnh nhỏ, có tỉnh thì bố chánh phụ trách chung, có tỉnh thì Tuần vũ phụ trách chung. Các tỉnh miền núi phía Bắc, mỗi tỉnh có Quan lang đứng đầu, riêng tỉnh Hoà Bình là chức Chánh quan lang. Tỉnh Thừa thiên nơi đông đô của nhà Nguyễn, thì đứng đầu là chức Phủ doãn phụ trách chung.Quan lại của triều đình Huế ở các tỉnh phải chịu sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp của Công sứ Pháp. Cấp phủ huyện đạo châu: Từ năm 1919 trở đi, phủ, huyện, đạo, châu đều là cấp hành chính tương đương nhau, trong đó huyện lớn được gọi là phủ, châu lớn được gọi là đạo. Đứng đầu là Tri phủ, Tri huyện, Quản đạo, Tri châu. Cấp tổng: do Chánh tổng đứng đầu. Cấp xã: Trước thời Pháp thuộc, làng xã Việt Nam mang nặng tính tự quản. Đứng trước thực trạng đó đã có từ hàng ngàn năm ở Việt Nam, người Pháp đã sử dụng tổ chức vốn có ở làng xã, mặt khác can thiệp để hạn chế tính tự quản của làng xã. Tuy nhiên, các làng xã cổ truyền vẫn giữ được tính tự quản của mình. III. ĐÁNH GIÁ Những chuyển biến về nhà nước của triều Nguyễn tạo nên những nét mới trong bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam.Sự chuyển biến này vừa có những nét tích cực nhưng cũng lại vừa có những hạn chế. Về mặt tích cực, những chuyển biến mới này góp phần thay đổi cơ cấu bộ máy nhà nước theo hướng đơn giản hoá. Nhà Nguyễn bước đầu đã có sự tiếp thu những yếu tố chính trị pháp lí phương Tây vào xây dựng nhà nước và pháp luật. Làm nền tảng cho sự tiếp thu sau này của nhà nước Việt Nam. Về mặt hạn chế, bộ máy nhà nước cũng như quyền lực của triều đình phong kiến phụ thuộc sâu sắc vào chính quyền thực dân.Chế độ phong kiến Việt Nam trở nên mục ruỗng, thối nát.Bộ máy chính quyền phong kiến Nguyễn lỏng lẻo, thay vào đó là sự thống trị của chính quyền thực dân.Sự phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền thực dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho thực dân pháp đô hộ, tiến hành khai thác, áp bức bóc lột nước ta. Có thể nói những chuyển biến về mặt nhà nước dưới triều Nguyễn diễn ra một cách bị động, do đó nó mang nhiều hạn chế hơn là tích cực. KẾT LUẬN Qua việc phân tích những chuyển biến mới về nhà nước của triều Nguyễn, ta thấy rõ một điều rằng chính quyền nhà Nguyễn đã mất hoàn toàn tính tự chủ, bị lệ thuộc chặt chẽ vào chính quyền đô hộ.Điều này đã khiến chính quyền Nguyễn ngày càng thối nát và suy yếu. Vì vậy mà cuộc cách mạng của nhân dân ta hương tới cả 2 mục tiêu: đánh đuổi thực dân Pháp và đánh đổ triều đình phong kiến Nguyễn.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Quan hệ đối ngoại của triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược Đại Nam

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA TRIỀU NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC ĐẠI NAM

Giới thiệu Vấn đề đối ngoại giữa các quốc gia luôn là một điểm nhấn then chốt trong tiến trình của lịch sử. Ngoại giao là một yếu tố quan trọng đóng vai trò then chốt thúc đẩy kinh tế, xã hội quốc gia phát triển. Không một quốc gia trong giai đoạn hiện nay đóng kín cửa mà không thực hiện công tác ngoại giao với các quốc gia khác. Cũng không có một nước nào phát triển một cách ổn định, bền vững nếu nước đó không trao đổi, buôn bán với nước ngoài. Lịch sử Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử với biết bao sự hi sinh của các vị anh hùng dân tộc, các đồng bào chiến sĩ để ngày hôm nay chúng ta hưởng được nền độc lập, tự do. Do đó, một mặt chúng ta tôn trọng, biết ân, tôn vinh những đóng góp to lớn ấy. Mặt khác, chúng ta phải rút kinh nghiệm từ những sai lầm trong quá khứ để từ đó giúp chúng ta cũng cố xây dựng, phát triển, nâng cao tiềm lực kinh tế, chính trị của quốc gia mình. Từ trước đến nay, những vấn đề của triều Nguyễn đã thu hút được đông đảo sự chú ý của học giả trong và ngoài nước. Riêng trong lĩnh vực ngoại giao, những đóng góp và hạn chế của triều Nguyễn trong tiến trình xây dựng đất nước trong nửa đầu thế kỷ XIX (1802 – 1858), đã và đang đặt ra nhiều vấn đề thời sự và khoa học trong nghiên cứu lịch sử nói chung và lịch sử ngoại giao nói riêng. Nhận thấy, tầm quan trọng của việc nghiên cứu bộ môn Lịch sử Việt Nam, đặc biệt là đường lối đối ngoại. Nhóm 5 kính gửi tới thầy và các bạn một số nguồn tư liệu về quan hệ đối ngoại của triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta nhằm củng cố và nâng cao hiểu biết đối ngoại, cũng như rút ra được những bài học về công tác ngoại giao phục vụ cho nghề nghiệp sau này. Trong bài làm này, chúng ta sẽ chú trọng khảo sát đường lối đối ngoại của Việt Nam với các nước phương Tây qua các thời kỳ vua Gia Long (1802 – 1820), thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), thời vua Thiệu Trị (1841 – 1847) và Tự Đức (1847 – 1858). Ngoài ra, chúng ta cũng tìm hiểu công tác đối ngoại của triều Nguyễn với các quốc gia truyền thống là Trung Quốc, Chân Lạp, Champa… Mặt dù đã bỏ ra nhiều công sức trong việc biên soạn, nghiên cứu để rút ra những kiến thức cốt lõi cho bài nghiên cứu, sai sót là điều khó tránh khỏi. Nhóm 5 rất mong nhận được sự đóng góp từ Thầy cũng như các bạn để nhóm có thể hoàn thành bài nghiên cứu. Nhóm 5 xin chân thành cảm ơn. Sau đây là bài thu hoạch:
Xem thêm

25 Đọc thêm

Bài tập lớn cơ sở văn hóa: Khai thác giá trị lịch sử, văn hóa của di tích và lễ hội chùa Long Đọi Sơn ở tỉnh Hà Nam

BÀI TẬP LỚN CƠ SỞ VĂN HÓA: KHAI THÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA CỦA DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA LONG ĐỌI SƠN Ở TỈNH HÀ NAM

Hà Nam là một tỉnh mới thành lập được 19 năm nhưng có thể nói đây là mảnh đất địa linh nhân kiệt vì trước đó mảnh đất và con người nơi đây đã có lịch sử lâu đời, có bề dày truyền thống văn hiến. Với những điều kiện địa lýnhân văn thuận lợi, ngay từ thời dựng nước và giữ nước, Hà Nam là mảnh đất sớm được khai phá. Trải qua chiều dài lịch sử, tiền nhân đã để lại cho Hà Nam nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá: Trống đồng Ngọc Lũ dấu ấn thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hóa Đông Sơn thuở các Vua Hùng dựng nước; cuốn sách đồng Bắc Lý một trong 4 cuốn sách còn nguyên vẹn nhất, nội dung phong phú nhất của cả nước, tấm bia Sùng Thiện Diên Linh một trong những tấm bia quý còn lại của triều đình nhà Lý, có giá trị về lịch sử của đất nước, bia có kích thước khá lớn; tấm bia Đại Trị” thời Trần duy nhất ở Hà Nam.
Xem thêm

49 Đọc thêm

Thư viện câu hỏi lịch sử 7 cả năm chuẩn 3

THƯ VIỆN CÂU HỎI LỊCH SỬ 7 CẢ NĂM CHUẨN 3

8,: Chủ đề 8 : Kinh tế, văn hoá thế kỷ XVI XVIII Câu 1(0.5 đ) Chữ cái la tinh phiên âm tiếng Việt là công trình của : A. Các giáo sĩ phương Tây B. Giáo sĩ A lếch xăng đơ Rốt C. Các nho sĩ người Việt D. Sự hợp tác giữa người Việt và các giáo sĩ phương Tây Câu 2(0.5 đ) Ngày nay Hội An thuộc tỉnh : A. Thùa Thiên Huế C. Quảng Trị B. Quảng Bình D. Quảng Nam Câu 3(3.5 đ) Trình bày một số hiểu biết của em về Nguyễn Bỉnh Khiêm Câu 4(2.0 đ) Nêu sự ra đời của chữ quốc ngữ ? Câu 5(3.5 đ) Những công trình nghệ thuật dân gian mà em biết ? 9, Chủ đề 9 : Phong trào Tây Sơn. Câu 1(0.5 đ) Cuối năm 1788, 29 vạn quân Thanh kéo vào nước ta chia làm : A. 2 đạo C. 4 đạo B. 3 đạo D. 5 đạo Câu 2(0.5 đ) Khi quân ta tấn công đồn Đống Đa, tướng giặc khiếp sợ phải tự tử là : A. Tôn Sĩ Nghị C. Hứa Thế Hanh B. Sầm Nghi Đống D. Ô Đại Kinh Câu 3 (0.5 đ) Trận Rạch Gầm Xoài Mút được bố trí trên sông : A. Rạch Gầm C. Tiền Giang B. Xoài Mút D. Hậu Giang Câu 4(3.0 đ) Nêu những cống hiến to lớn của phong trào Tây Sơn đối với lịch sử dân tộc trong những năm 1771 1789 ? Câu 5(5.5 đ) Nêu nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của phong trào Tây Sơn ? 10, Chủ đề 10 : Chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Câu 1(0.5đ): Bộ luật gia long ban hành vào thời gian : A. Năm 1802 C. Năm 1815. B. Năm 1806. D. Năm 1831. Câu 2(0.5đ): Nhà Nguyễn được thành lập vào thời gian A. Tháng 61801 C. Năm 1806. B. Năm 1802. D. Năm 1812. Câu 3(0.5): Kinh đô nước ta dưới thời Nguyễn đặt tại : A. Thăng Long. C. Quy Nhơn. B. Bắc Hà. D. Phú Xuân. Câu 4(4.0đ): Em có nhận xét gì về tình hình kinh tế nước ta dưới triều Nguyễn ? Câu 5(4.5đ): Chính sách ngoại thương của nhà Nguyễn với các nước phương tây đựoc thể hiện như thế nào? 11, Chủ đề 11 Sự phát triển của văn hoá dân tộc (cuối thế kỷ XVII Nửa đầu thế kỷ XIX). Câu 1(0.5đ): Nhà thơ được gọi là “Bà chúa Thơ Nôm” là : A. Đoàn Thị Điểm. C. Huyện Thanh Quan. B. Ngô Chi Lan. D. Hồ Xuân Hương. Câu 2(0.5đ): Tác giả của Truyện Kiều : A. Huyện Thanh Quan. C. Nguyễn Du. B. Cao Bá Quát. D. Nguyễn Gia Thiều Câu 3(0.5đ): Công trình kiến trúc kinh đô Huế đựoc UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới vào thời gian : A. Năm 1993. C. Năm 1995. B. Năm 1994 D. Năm 1999. Câu 4(4.0đ): Sự phát triển của văn học chữ Nôm thể hiện như thế nào? Câu 5(4.5đ): Văn hóa Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX đạt những thành tựu gì ? PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH SƠN TRƯỜNG THCS CHU VĂN AN THƯ VIỆN CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP MÔN LỊCH SỬ LỚP 7 Thanh Sơn – Năm 2011
Xem thêm

10 Đọc thêm

Đất gia định thời nguyễn

ĐẤT GIA ĐỊNH THỜI NGUYỄN

Gia Định là một vùng đất được khai phá khoảng hơn 300 trăm năm trước đây. Tại vùng đất này, có nhiều biến cố lịch sử đã xảy ra, và nó đã ghi nhiều dấu ấn vào lịch sử Việt Nam. Chính vì thế tìm hiểu lịch sử của vùng đất là một công việc có nhiều ý nghĩa.

81 Đọc thêm

THỜI HOÀNG KIM CỦA CÁC NHÀ TOÁN HỌC HY LẠP

THỜI HOÀNG KIM CỦA CÁC NHÀ TOÁN HỌC HY LẠP

http://thayquocvuong.com/news/tin/toan-hoc-Hy-Lap-419.htmlThời hoàng kim của các nhà toán học Hy LạpThales, con người huyền thoạiVừa là cố vấn chính trị, kĩ sư quân sự, danh nhân, triết gia và nhà thiên văn học, Thales de Milet đã để lại rấtthiều phát hiện khoa học cực kì có giá trị. Đầu tiên phải kể đến phát hiện ra hiện tượng nhật thực ở Tiểu Á vàonăm 585 trước Công nguyên. Là kĩ sư cố vấn cho Vua Cresus Lydie, ông đã nghiên cứu và chuyển dòng mộtcon sông làm thuỷ lộ cho quân đội. Là người thích đi du lịch, ông đã đến nhiều nơi trên thế giới, gặp gỡ nhiềungười và giải thích cho các giáo sĩ Ai Cập cách tính chiều cao của Đại Kim tự tháp mà không cần phải thựchiện phép đo.Rất nhiều công trình nghiên cứu của ông bị thất lạc và đến nay chỉ còn lại sáu kết quả toán học quan trọng :trường hợp đồng dạng của tam giác suy ra từ tam giác có hai cạnh đều; sự đồng dạng của các góc đối qua đỉnh;trường hợp đồng dạng đầu tiên của tam giác; sự đối xứng của một vòng tròn qua một trong các đường kính củanó; nội tiếp của tam giác thẳng góc trong một nửa đường tròn; và cuối cùng, cách tính toán chiều cao của cáckim tự tháp nhờ bóng của nó phủ xuống một mặt phẳng.Các bạn có biết Thales làm thế nào để dựng đường thẳng góc với một đường thẳng qua một điểm, bất kì bằngthước kẻ và compa không ?10:56 SA, 12/10/2017Thời hoàng kim của các nhà toán học Hy Lạp3 trong 6http://thayquocvuong.com/news/tin/toan-hoc-Hy-Lap-419.html
Xem thêm

6 Đọc thêm

BAI 27 TIET 2 CHE DO PHONG KIEN NHA NGUYEN

BAI 27 TIET 2 CHE DO PHONG KIEN NHA NGUYEN

Tiết 60 – Bài 27 (tt)CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN NHÀ NGUYỄNTiết 60 – Bài 27 (tt)CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN NHÀ NGUYỄNII. CÁC CUỘC NỔI DẬY CỦA NHÂN DÂN1. Đời sống nhân dân dưới triều NguyễnĐời sống các tầng lớp nhân dân ngày càng khổ cực vì địa chủchiếm đoạt ruộng đất, quan lại tham nhũng, tô thuế phục dịchnặng nề. Nạn dịch bệnh, nạn đói hoành hành khắp nơi.Em có nhận xét gì về đời sông nhân dân dưới thời Nguyễn?Tiết 60 – Bài 27 (tt)CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN NHÀ NGUYỄNII. CÁC CUỘC NỔI DẬY CỦA NHÂN DÂN1. Đời sống nhân dân dưới triều Nguyễn2. Các cuộc nổi dậyKhắp cả nước có bao nhiêu cuộc nổi dậy?Nổi bậc là những cuộc khởi nghĩa nào?Khỏi nghĩaNông Văn VânKhỏi nghĩaCao Bá Quát
Xem thêm

7 Đọc thêm

BÀI 20NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ14281527

BÀI 20NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ14281527

Hãy kể tên một số vị trạngnguyên mà các bạn biếtNGUYỄN TRỰC( LƯỠNG QUỐC TRẠNGNGUYÊN)TRẠNG LƯỜNG LƯƠNG THẾ VINH2. Văn học, khoa học, nghệ thuậta) Văn họcCác bạn hãy nêu những tác phẩmtiêu biểu thời Lê sơVĂN HỌC CHỮ HÁNVĂN HỌC CHỮ NÔM2.Văn học, khoa học, nghệ thuậta) Văn họcThời Lê Sơ, văn học chữ Nôm có vị tríquan trọng so với văn học chữ Hán nói lênđiều gì?=> Chữ Nôm dần khẳng định giá trị, khả năng, vai trò của nền văn họcnước nhà.
Xem thêm

36 Đọc thêm

Cảm nhận về câu thơ của Phạm Hổ :Đó là niềm vui lớn cộng với nỗi đau dàiKết lại cho đời thành chất ngọc ức trai

Cảm nhận về câu thơ của Phạm Hổ :Đó là niềm vui lớn cộng với nỗi đau dàiKết lại cho đời thành chất ngọc ức trai

I. Mở bài  Giới thiệu một vài nét về Nguyễn Trãi: vị anh hùng văn võ song toàn, người đã cùng Lê Lợi làm nên sự nghiệp “bình Ngô” và thảo “Bình Ngó chứ cáo”: đỉnh cao của nền văn hóa Đại Việt trong thế kỉ 15 “viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời”, là tác giả hai tập thơ “ức Trai thi tập” và “Quốc âm thi tập”.  Nhưng Nguyền Trãi cũng là một người phải chịu những oan khiên thảm khốc, do xã hội cũ gây nên tới mức hiếm có trong lịch sử dân tộc.  Suy cảm vẻ Nguyễn Trãi, nhà thơ Phạm Hổ viết: II Thân bài 1. Giải thích qua khái niệm:  Niềm vui lớn: Niềm vui tỏa rộng trong không gian và thời gian, niềm vui của một người chan hòa trong niềm vui của dân tộc; niềm vui của cá nhân gắn liền với hạnh phúc cộng đồng…  Nỗi đau dài: Nỗi đau tê tái, trĩu lòng, triền miên theo năm tháng; nỗi đau của một con người, cái khổ đau của một con người gắn với nỗi khổ đau của dân lộc, kéo dài trong thời gian.  chất ngọc ức Trai: Một hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp. Ngọc là tên chung của các loài đá quý, cũng có loại thể tròn, rắn, bóng, màu sắc óng ánh ở trong cơ thể một số động vật: như ngọc trai. chất ngọc ức Trai: mọi tài năng, mọi thành tựu về quân sự, về văn hóa… mà Nguyễn Trãi để lại cho dân tộc, làm đẹp cho đất nước… Tóm lại, hai câu thơ của Phạm Hổ, bằng hình tượng đẹp, một lối nói độc đáo đã ca ngợi tài năng lỗi lạc của Nguyễn Trãi, đỉnh cao của trí tuệ về quân sự và văn hóa Đại Việt trong thời phong kiến. Tâm hồn của ức Trai (niềm vui lớn, nỗi đau dài) đã hòa nhịp với vận mệnh của non sông, của dân tộc. 2. Phần phân tích thơ văn để chứng minh Lưu ý: Không nên tách ra 3 vế (niềm vui lớn, nỗi đau dài, chất ngọc ức Trai) mà nên phân tích thơ để làm sáng tó ý nghĩa hai câu thơ đó. “Cuộc đời Nguyễn Trãi là cả “niềm vui lớn với nỗi đau dài”.  Nhà Trần hết vai trò lịch sử, nhà Hồ lên thay. Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi, cả hai cha con đều làm quan với tân triều, ước mong đem tài kinh bang tế thế xây dựng quốc gia Đại Việt trở nên hùng mạnh.  Giặc Minh hung tàn đã mang quân sang xâm lược nước ta: “Dối trời lừa dân đủ muốn nghìn kế Gây binh kết oán trải hai mươi năm…”. Chúng đã tàn sát nhân dân ta một cách vô cùng dã man: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Cha bị bắt, gia đình tan tác đau thương. Nguyễn Trãi bị giặc giam lỏng ở thành Đông Quan hơn mười năm trời. Ông đã trải qua những “nỗi đau dài”, lúc thì “trần trọc,… băn .....
Xem thêm

Đọc thêm

Đặc điểm trang phục của người việt dưới thời nhà Trần

Đặc điểm trang phục của người việt dưới thời nhà Trần

Tiểu luận môn lịch sử trang phục việt nam Đề tài Đặc điểm trang phục của người việt dưới thời nhà Trần Lịch sử trang phục Việt Nam qua các thời kỳ bài tập chi tiết nghiên cứu về trang phục truyền thống của người việt qua các thời kỳ phong kiến

Đọc thêm

CẢI CÁCH KHỐI CƠ QUAN VĂN PHÒNG CỦA MINH MỆNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

CẢI CÁCH KHỐI CƠ QUAN VĂN PHÒNG CỦA MINH MỆNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

Cải cách khối cơ quan văn phòng của Minh Mệnh dưới Triều Nguyễn 9 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam Bài tập học kỳ Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam có đáp án. Minh mạng là vị vua thứ hai của triều Nguyễn với thời gian cầm quyền là 20 năm (từ năm 1820 đến năm 1840). Khi tiếp quản ngai vàng từ Gia Long vào năm 1820 cũng như trong suốt thời gian tại vị của mình vua Minh Mạng đã phải đối mặt với nhiều biến động củ MỞ ĐẦU Triều Nguyễn là triều đại xây dựng nhà nước theo hình thức quân chủ,có quy mô lớn nhất trong lịch sử nền quân chủ phong kiến Việt Nam với mức độ quân chủ chuyên chế tăng cường. Triều Nguyễn đã trải qua 7 đời vua: Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phước. Trong đó, vua Minh Mệnh được xem là một vị vua năng động, quyết đoán, tinh thông Nho học, hiểu biết, coi trọng học vấn và là một nhà chính trị, quân sự tài ba. Dưới thời của ông, triều Nguyễn đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Đó là nhờ những chính sách cai trị sáng suốt mà phải kể đến là những cải cách khối cơ quan văn phòng. Để làm rõ hơn vấn đề này, trong bài tập nhóm lần 2 nhóm em sẽ đi sâu nghiên cứu, phân tích vấn đề cải cách khối cơ quan văn phòng dưới thời Minh Mệnh. NỘI DUNG Nguyên nhân cải cách khối cơ quan văn phòng thời Minh Mệnh Minh Mệnh là vị vua thứ hai của triều Nguyễn với thời gian cầm quyền là 20 năm (từ năm 1820 đến năm 1840). Khi tiếp quản ngai vàng từ Gia Long vào năm 1820 cũng như trong suốt thời gian tại vị của mình vua Minh Mệnh đã phải đối mặt với nhiều biến động của hoàn cảnh lịch sử khi đó. Vào đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn được thành lập đã tiếp kế thừa và duy trì nền phong kiến đã được hình thành ở trong nước từ nhiều thế kỉ trước đó. Tuy nhiên, đến giai đoàn này, chế độ phong kiến đã lỗi thời và lâm vào tình trạng khủng hoảng. Kỉ cương nhà nước bị xem nhẹ, tệ tham ô quan liêu phổ biến, ruộng đất tập trung phần lớn vào tay địa chủ, kinh tế trì trệ do chính sách thuế khóa và sự bảo thủ của triều đình; phong trào đấu tranh của nông dân và các dân tộc ít người diễn ra ngày càng mạnh mẽ, dưới thời Gia Long là khoảng 90 cuộc và dưới thời Minh Mệnh là khoảng hơn 250 cuộc đấu tranh, niềm tin của nhân dân vào triều đình phong kiến ngày cảng giảm đi. Trong khi đó, thực dân Pháp đang phát triển mạnh, tích cực chuẩn bị cho những hành động xâm lược nước ta. Giữa những khó khăn chồng chất như vậy, sau khi lên ngôi, Minh Mệnh đã tiến hành những cải cách bộ máy Nhà nước nhằm củng cố và phát triển nhà nước phong kiến trung ương tập quyền. Trong số những cải cách đó là cải cách khối cơ quan văn phòng. Nội dung những cải cách khối cơ quan văn phòng thời Minh Mệnh Khối cơ quan văn phòng của nhà Nguyễn đã có từ thời Gia Long với tên gọi là Tam Nội Viện. Năm 1820, năm đầu tiên sau khi lên ngôi, Minh Mệnh cải tổ Tam Nội Viện làm Văn Thư Phòng. Thành lập Văn Thư Phòng là một bước cải tổ cơ quan văn phòng trung ương so với Tam Nội Viện dưới thời Gia Long. Nhưng đến năm 1829, Minh Mệnh cho lập Nội Các để đáp ứng ngày càng cao chức năng của văn phòng trung ương đối với nền hành chính đất nước. Nội Các được thành lập nhằm thay thế Văn Thư Phòng, là cơ quan văn phong trung ương của Hoàng Đế và về tổ chức, nhiệm vụ lại phỏng theo quy chế Nội Các của nhà Minh và nhà Thanh ở Trung Quốc. Chức năng, nhiệm vụ của Nội Các Chức năng của Nội Các là trung tâm điều hành chính sự của các vua Nguyễn, nơi tập trung thông tin, tổng hợp tình hình, tư vấn, tâu trình lên vua những công việc thiết yếu, nơi phụ trách công việc văn thư, lưu trữa văn bản, sổ sách, giấy tờ. Nội Các có nhiệm vụ nhận các Chương, Từ, Biểu, Tấu, Sớ đang vua trong các buổi thiết triều hoặc Ngự Điện Thính Chánh; nhận Chỉ Dụ của vua để thảo văn bản điều mọi hoạt động của triều đình và các đơn vị hành chính tỉnh. Nội Các còn có nhiệm vụ giám sát lục bộ, soát xét Phiếu nghĩ, bản tấu của các cơ quan nhà nước, nếu thấy chỗ nào không hợp thì được quyền trích ra tham hạch. Như vậy, so với khối cơ quan văn phòng dưới Lê Thánh Tông và Gia Long, khối cơ quan văn phòng theo cải cách của Minh Mệnh có chức năng lớn hơn, có nhiệm vụ rõ ràng, chặt chẽ, phục vụ đắc lực cho công việc quản lý đất nước của nhà Vua. Cơ cấu tổ chức Nội Các Nội Các gồm 4 tào là Thượng bảo tào, Ký chú tào, Đồ thư tào và Biểu bạ tào với những nhiệm vụ được quy định cụ thể để thực hiện chức năng của Nội Các. Khác với Tam Nội Viện được thành lập ngay khi Gia Long mới lên ngôi gồm Thị Thư viện, Thị Hàn viện và Nội Hàn viện hay một số cơ quan có chức năng văn phòng của vua Lê Thánh Tông như Hàn lâm viện, Đông các viện, Trung thư giám, Hoàng môn tỉnh, Bí thư giám. Quan lại của Nội Các Quan lại của Nội Các do nhà vua trực tiếp lựa chọn từ các bộ, viện. Quan lại phụ trách Nội Các gồm có 4 viên quan : Hai chánh tam phẩm (lấy Thị lang các bộ Hàn Lâm viện chưởng viện học sỹ), một người kiêm lãnh Thượng bảo khanh (Thượng bảo tự); hai chánh tứ phẩm (lấy Hàn Lâm viện Thị học sỹ), một người kiêm lãnh Thượng bảo thiếu khanh. Thuộc viên gồm 28 người: phẩm trật từ chánh ngũ phẩm đến tòng cửu phẩm (5a – 9b) đều gọi là “Nội các Hành Tẩu”. Đến năm 1835, thuộc viên Nội Các là 30 người. Năm 1844 Thiệu Trị cải tổ Nội Các nâng số nhân viên lên 34 người. Nhận thấy vai trò to lớn của Nội Các dễ dẫn đến chuyên quyền nên Minh Mệnh đã tìm cách hạn chế quyền lực của Nội Các, đây là điểm tiến bộ trong cải cách của Minh Mệnh so với Triều đình nhà Minh, nhà Thanh. Ông cho rằng, nếu không có một Nội Các đủ mạnh thì không khống chế nổi quyền lực 6 bộ. Nhưng nếu giao quyền lực cho Nội Các quá lớn, thì như: “đầu nhà Minh sợ Tể tướng chuyên quyền mà đặt Nội Các, nhà Thanh cũng làm theo. Xét đến cốt yếu, dẫu không có danh tể tướng mà quyền hành không khác gì tể tướng đều không đủ bắt chước cả”. Do đó, Minh Mệnh đã cơ cấu một Nội Các có vai trò quan trọng nhưng chức phận vẫn dưới 6 bộ. Phẩm hàm của trưởng quan Nội Các cao nhất chỉ là chánh tam phẩm, đứng sau thượng thư 6 bộ. Trong khi Nội Các thời Minh, Thanh ở Trung Quốc là Đại học sĩ có hàm Thượng Thư, trật chánh nhất phẩm, cao tột bậc ở trong nước, dẫn tới tệ chuyên quyền. Còn dưới thời Lê Thánh Tông, các quan khối cơ quan văn phòng có phẩm hàn từ tứ phẩm đến lục phẩm, không đủ quyền lực để khống chế cơ quan khác. Như vậy, cách đặt quan chức của Minh Mệnh so với Lê Trịnh và triều Minh Thanh đã có sự sáng tạo. Nhà vua vừa hạn chế được phần nào sự chuyên quyền của Nội Các, vừa giúp Nội Các có đủ quyền hành để ràng buộc các cơ quan khác. Đánh giá những cải cách khối cơ quan văn phòng của Minh Mệnh Ưu điểm: Khối cơ quan văn phòng được sắp xếp quy củ, chuyên môn hóa và hoạt động chuyên nghiệp theo cải cách của Minh Mệnh. Ví dụ, các loại công văn, giấy tờ, các dụ, chỉ, chương sớ, tập tấu của Triều đình được sắp xếp có hệ thống và lưu giữ tại cơ quan văn phòng, tránh khỏi sự phiền toái trong việc kiểm soát, dẫn tới thất lạc như trước đây. Cải cách này đã góp phần quản lý tốt những giấy tờ quan trọng của Triều đình, phục vụ đắc lực cho việc điều hành, lưu giữ công văn của một triều đại, gìn giữ nguồn tư liệu cho các triều đại sau và hiện tại xem xét, nghiên cứu. Nội các được chia thành 4 tào, mỗi tào có một nhiệm vụ cụ thể và riêng biệt, góp phần làm cho công việc văn phòng của các Tào có hiệu quả cao hơn, trách nhiệm rõ ràng hơn. Không những thế, Minh Mệnh còn có biện pháp ràng buộc giữa Nội Các và lục bộ, các cơ quan tự kiểm tra, giám sát, hạn chế quyền lực của nhau, cũng như đòi hỏi cao trách nhiệm của các cơ quan này. Như vậy, Nội Các chính là cơ quan thay mặt Vua khống chế, ràng buộc quyền lực của Lục bộ. Từ đó, tạo điều kiện cho Vua lãnh đạo đất nước một cách sát sao nhất và ít có lỗi lầm. Nội Các trở thành một cơ quan đắc lực cho khả năng tập quyền triệt để, nhằm hạn chế tệ chuyên quyền của Nội Các như Nội Các của Trung Quốc “dẫu không có danh tể tướng mà quyền hành không khác gì Tể tướng”, để quyền lực tập trung cao nhất vào tay nhà vua. Công cuộc cải cách khối văn phòng của Minh Mệnh, lập ra Nội Các đã góp một phần không nhỏ vào việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, củng cố chế độ Trung ương tập quyền, tập trung mọi quyền lực vào tay hoàng đế. Hạn chế Minh Mệnh muốn triệt để tập trung mọi quyền lực vào tay Hoàng đế nên dễ dẫn tới hệ quả càng ngày càng lún sâu vào tình trạng chuyên chế cực đoan và quan liêu cao độ. Khi đó, Hoàng đế nắm hết mọi quyền quyết định quốc gia đại sự thì tất yễu nảy sinh: Nếu may mà gặp được”Minh quân” thì còn khả thủ, nếu chẳng may sinh ra một hôn quân thì tai họa sẽ ập tới. KẾT LUẬN Nội Các của triều đình Huế chỉ là một văn phòng trung ương nhưng lại khống chế được 6 bộ bằng quyền lực và chức năng của nó dù phẩm trật có thấp hơn. Với chức năng đó, Nội Các triều đình Huế đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà triều Nguyễn đã đặt ra, là một thành công của Minh Mệnh trong cuộc cải cách hành chính thế kỷ XIX, đảm bảo được tính hiệu năng và tính an toàn cho chế độ. Những cải cách trong thời đại Minh Mệnh trị vì được các nhà nghiên cứu lịch sử so sánh với cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và đánh giá là một trong hai cuộc cải cách có quy mô lớn nhất và đạt hiệu quả cao nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Xem thêm

6 Đọc thêm

khóa luận tốt nghiệp tư tưởng triết lý dân là gốc của nguyễn trãi

khóa luận tốt nghiệp tư tưởng triết lý dân là gốc của nguyễn trãi

1. Tính cấp thiết của việc chọn đề tài khóa luận Lịch sử của dân tộc ta là lịch sử của một dân tộc với truyền thống đấu tranh giữ nước lâu đời, phải luôn chống chọi với những cuộc chiến tranh xâm lược ác liệt của những đế chế hùng mạnh, tàn bạo. Chính từ nền tảng ấy là gốc rễ, cội nguồn kết tinh tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc đậm chất riêng thuộc nền văn hóa Việt Nam. Những đóng góp mang tính quyết định của nhân dân, sức mạnh của sự cố kết dân tộc đã dẩy lùi mọi sức mạnh hiếu chiến như mạch nguồn không ngừng chảy trong huyết quản mỗi con người Việt. Và chính từ đấy cũng là “mảnh đất”hình thành, phát triển nên cách nhìn, phương thức hành động trong nhìn nhận, đánh giá sự việc của dân tộc hay còn được coi là triết học Việt Nam. Song tư tưởng triết học Việt Nam chưa thực sự phát huy hết vai trò của mình vì còn có sự “non nớt” trong đúc kết, khái quát vấn đề. Và chính vì thế nên khi nhìn nhận về triết học Việt Nam đã có ý kiến cho rằng triết học Việt Nam chỉ là sự rập khuôn tư tưởng của Trung Quốc và Ấn Độ nhưng có chút cải biên. Đấy chỉ đơn thuần là sự nhìn nhận mang tính phiến diện, góc cạnh vì các học thuyết lớn từ Trung Quốc và Ấn Độ chủ yếu là tri thức về chính trị xã hội. Trong khi đó tư tưởng triết học Việt Nam lại mang xu hướng tiếp biến các tư tưởng triết học du nhập bên ngoài kết hợp cùng xu hướng tự thân nội tại như điều kiện địa lýxã hội, lối tư duy truyền thống… Hai xu hướng này cùng song song tồn tại, chi phối lẫn nhau theo tiến trình lịch sử lâu dài của dân tộc, đặc biệt là từ thế kỷ X, sau khi dân tộc ta đã giành được độc lập dân tộc và bước vào kỷ nguyên Đại Việt. Vấn đề đặt ra không kém phần nặng nề được đặt ra là nghiên cứu, chỉ ra được triết lý trong tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam. Lịch sử Việt Nam đã cho thấy “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau nhưng hào kiệt không thời nào thiếu” qua sự kế tiếp nhau của các nho sĩ uyên thâm với những triết lý sống mãi trong lòng dân tộc. Nguyễn Trãi là một thiên tài trong số những tên tuổi kiệt xuất của thế kỷ XV. Con người ấy được biết tới không chỉ là một nhà chính trị, nhà quân sự đầy tài trí mà còn là nhà tư tưởng lớn. Tư tưởng của Nguyễn Trãi không được tổng hợp nên các tác phẩm có tính hệ thống mà từ lịch sử sống động, chân thực tạo cảm hứng cho ông viết nên những bài thơ, bài phú,.. mang đậm nét hiện thực với những giá trị tư tưởng sâu sắc nhất, tinh túy nhất. Ông đã để lại cho dân tộc Việt Nam nói riêng, cho toàn thể nhân loại nói chung những giá trị tư tưởng quý giá và là nhân chứng sống động về một giai đoạn lịch sử nước Việt. Nguyễn Trãi đã kế thừa những truyền thống quý giá và cao đẹp của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Kể từ ngày đất nước giành lại độc lập sau hơn nghìn năm bị giặc phương Bắc xâm lược, Nguyễn Trãi là sự kết tinh những tinh hoa của thời đại, mà hai triều Lý và Trần là tiêu biểu. Vậy nên việc nghiên cứu để thấy được cốt lõi tinh thần triết lý ở Nguyễn Trãi là việc vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết. Triết lý “dân là gốc” là viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng ông để lại cho nhân loại, chính triết lý ấy đã làm cho tên tuổi ông vươn lên hơn hẳn so với những đại biểu cùng thời. Trong phạm vi đề tài này hướng tới chính là làm rõ triết lý “dân là gốc” và những giá trị lịch sử của triết lý ấy.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề