ĐIỀU TRỊ LOẠN NHỊP THẤT DO SUY TIM ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU TRÒ TỐI ƯU AMP KHẢ NĂNG SỐNG TỐT HƠN 1 NĂM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐIỀU TRỊ LOẠN NHỊP THẤT DO SUY TIM ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU TRÒ TỐI ƯU AMP KHẢ NĂNG SỐNG TỐT HƠN 1 NĂM":

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy tim ngày càng trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng với tỷ lệ mắc bệnh là 1-2% dân số ở nƣớc đã phát triển. Cùng với sự tăng dần của tuổi thọ và các bệnh tim mạch nhƣ tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh rối loạn chuyển hóa, tỷ lệ bệnh nhân suy tim mới mắc hàng năm ngày càng tăng. Hội Tim mạch Châu Âu dự báo đến năm 2040 có 77,2 nghìn ngƣời trên 65 tuổi bị suy tim. Ở Mỹ số bệnh nhân mới đƣợc chẩn đoán suy tim là 870.000 ca/ năm (ARIC 2005 – 2011) [1]. Dự báo số bệnh nhân suy tim ở Mỹ sẽ tăng thêm 46% từ năm 2012 đến năm 2030, đạt mức hơn 8 triệu ngƣời từ 18 tuổi trở lên [2]. Tỉ lệ mắc suy tim là 10/1000 dân Mỹ trên 65 tuổi [3]. Tỉ lệ này tăng theo tuổi và khác nhau giữa hai giới. Lứa tuổi từ 65 – 75 là 15,2/1000 ngƣời nam và 8,2/1000 ngƣời nữ. Từ 75-84 tuổi là 31,7/1000 ngƣời nam và là 19,8/1000 ngƣời nữ. Con số này tăng vọt lên 65,2/1000 ngƣời nam và 45,6/1000 ngƣời nữ khi tuổi thọ trên 85 tuổi [4]. Mặc dù đã có rất nhiều loại thuốc mới nhƣ ức chế men chuyển, chẹn beta giao cảm hay các thuốc ức chế phosphodiestes đƣợc phát minh trong điều trị suy tim song vẫn không thể kiểm soát đƣợc tỷ lệ tử vong cũng nhƣ cải thiện chất lƣợng cuộc sống của nhiều ngƣời bệnh. Ngay ở nƣớc phát triển nhƣ Hoa Kì, năm 2011 vẫn có tới 58 309 ngƣời tử vong do suy tim [5]. Dù đã đƣợc cải thiện nhiều [6] nhƣng vẫn có tới 29,6% bệnh nhân suy tim tử vong trong năm đầu và 50% các trƣờng hợp tử vong trong vòng 5 năm kể từ ngày đƣợc phát hiện [7]. Bên cạnh đó, chi phí điều trị suy tim còn cao hơn bệnh ung thƣ hay nhồi máu cơ tim, tiêu tốn khoảng 1-2% tổng số nguồn ngân sách ở các nƣớc đã phát triển, khoảng 244 đô la/ ngƣời dân Mỹ [2]. Tại Việt Nam, bệnh tim mạch tăng nhanh trong những năm gần đây. Khoảng 25% ngƣời trên 25 tuổi có bệnh tim mạch. Trong đó, suy tim chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Bệnh nhân mắc suy tim nằm điều trị nội trú tại Viện Tim mạch năm 2007 là 1962 bệnh nhân chiếm 19,8% tổng số bệnh nhân nhập viện [8]. Theo thống kê của bộ y tế năm 2010 tỉ lệ mắc là 43,7% trong đó tỉ lệ tử vong là 1,2%. Theo niên giám thống kê của cục quản lí khám chữa bệnh Bộ Y tế (2015), tỉ lệ tử vong do suy tim năm 2013 là 0,51% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân, đứng thứ 10 trong các nguyên nhân gây tử vong tại Việt Nam. Nhiều phƣơng pháp điều trị liên tục đƣợc nghiên cứu nhằm hạ tỉ lệ mắc, giảm tỉ lệ tử vong và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho bệnh nhân suy tim. Phƣơng pháp cấy máy tạo nhịp 3 buồng tái đồng bộ tim (CRT) ra đời những năm 1990 đã mở ra một thời đại mới trong điều trị suy tim. Nhiều nghiên cứu cho thấy CRT giúp cải thiện huyết động, cải thiện phân số tống máu thất trái từ đó cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối so với điều trị bằng thuốc (36% so với 20%, p
Xem thêm

Đọc thêm

CƠN NHỊP NHANH THẤT VÀ ĐIỀU TRỊ

CƠN NHỊP NHANH THẤT VÀ ĐIỀU TRỊ

Chẩn đoán nhịp nhanh thất đôi khi rất khó, trong khi tình trạng bệnh nhân lại là đángbáo động, do đó phải biết chọn những quyết định điều trị dù cho chẩn đoán còn chưachính xác.•Khử rung tim bằng điện(xem kĩ thuật này): được chỉ định thực hiện cấp cứutrong mọi trường hợp nhịp nhanh thất kém dung nạp (khó thở, đau thắt ngực, hạ huyếtáp, rối loạn tri thức). Sốc điện thay đổi từ 50-300 Nếu cơn nhịp nhanh thất dung nạp tốthoặc nếu không sẵn có máy khử rung thì có thể cho lidocain liều tấn công, tiếp theo làliều duy trì.Với những máy khử rung tự động đặt trên người bệnh nhân, thày thuốc có khả năngtheo dõi được nhịp tim, nhận ra và điều trị những cơn nhịp nhanh hoặc rung thất.Những máy này được đề nghị sử dụng cho những trường hợp loạn nhịp thất có tiềmnăng gây tử vong.•Thuốc chống loạn nhịp:khi tim đã trở lại nhịp xoang, nên cho bệnh nhân một liềutấn công lidocain (1,5-2 mg/kg theo đường tĩnh mạch), tiếp theo là liều duy trì 1,5-4 mgmỗi phút. Giảm được 30-50% trong trường hợp sốc. Nếu nhịp nhanh tái phát thì phảicần dùng đến những thuốc chống loạn nhịp khác, nhất là amiodaron hoặc một thuốcchẹn beta không có tác dụng giống thần kinh giao cảm nội sinh (phải tránh những thuốcchống loạn nhịp thuộc nhóm Ic vì hiệu quả dễ gây loạn nhịp của chúng)•Điều trị những yếu tố tạo thuận lợi nhịp thất nhanh: điều chính là phải điều chỉnhnhững rối loạn thăng bằng nước-điện giải nếu có (giảm thể tích máu, nhiễm toanchuyển hoá, giảm kali huyết, giảm magiê huyết), giải quyết những rối loạn: giảm, hoảngsợ, kích động tâm thần vận động.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến rung nhĩ ở bệnh nhân cường giáp và đánh giá kết quả điều trị (FULL TEXT)

Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến rung nhĩ ở bệnh nhân cường giáp và đánh giá kết quả điều trị (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Cƣờng giáp, đƣợc định nghĩa là tình trạng tuyến giáp tăng sản xuất quá mức hormon, là nhóm bệnh nội tiết khá phổ biến cả ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Cƣờng giáp có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song phần lớn lại xuất hiện ở độ tuổi lao động do đó ảnh hƣởng rất nhiều đến sức khoẻ và năng suất lao động của ngƣời bệnh [1-3]. Trong bệnh cƣờng giáp, hệ tim mạch là cơ quan bị ảnh hƣởng sớm nhất và rõ nhất, các triệu chứng và biến chứng tim mạch biểu hiện rất đa dạng, từ các triệu chứng thông thƣờng nhƣ tim tăng động đến các biến chứng nặng hơn nhƣ rối loạn nhịp tim và suy tim...[4-7]. Đôi khi các biểu hiện nặng này làm lu mờ các triệu chứng khác của cƣờng giáp khiến bệnh nhân (BN) bị chẩn đoán nhầm nếu không đƣợc thăm khám một cách hệ thống, nhất là ở các BN lớn tuổi hoặc BN có bệnh tim mạch khác đi kèm [8]. Trong số các biến chứng tim mạch thì rung nhĩ (RN) là biến chứng thƣờng gặp nhất, có thể xảy ra ở 5-10% các BN cƣờng giáp [6, 8, 9], nó đƣợc coi là nguyên nhân quan trọng gây suy tim, thiếu máu cơ tim, tai biến mạch não, và là nguyên nhân chính khiến BN phải nhập viện [10]... Tỉ lệ đột quị trung bình ở những BN RN không do bệnh van tim khoảng 5%/ năm, cao gấp 2-7 lần so với ngƣời không có RN. Nguy cơ đột quị do RN sẽ tăng theo tuổi, từ mức 1,5% ở tuổi 50 - 59, lên tới 23,5% ở tuổi từ 80 - 89, theo nghiên cứu Framingham [11]. RN đƣợc coi là một trong các yếu tố nguy cơ độc lập của tử vong ở BN cƣờng giáp (cùng với tuổi cao, giới nam, tiền sử có bệnh tim mạch). Đáng lƣu ý là việc điều trị muộn và không dứt điểm RN sẽ đƣa đến hậu quả xấu vì sau 1 năm thì RN sẽ rất khó trở về nhịp xoang dù có hết cƣờng giáp, và các biến chứng tắc mạch có thể xảy ra ngay trong thời gian RN đầu tiên [7]. Bên cạnh bệnh cƣờng giáp lâm sàng đã đƣợc hiểu khá rõ thì trong khoảng 20 năm t r ở lại đây, cƣờng gi áp dƣới l âm sàng đƣợc quan tâm ngày càng nhiều do những BN này có nguy cơ khá cao gây bi ến chứng tim mạch t rong đó có RN, đ ặc biệt ở ngƣời lớn tuổi [12-15, 7]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh nếu RN do cƣờng giáp đƣợc phát hiện và điều trị sớm, mà quan trọng nhất là điều trị đạt bình giáp sớm và ổn định, thì khoảng 2/3 số BN có thể tự trở về nhịp xoang [10, 7]. Nhờ đó sẽ làm giảm nhiều nguy cơ bị tắc mạch hay suy tim, ngăn ngừa tử vong. Với những BN có RN kéo dài, bên cạnh shock điện thì trong những năm gần đây, có nhiều phƣơng pháp điều trị chuyển nhịp mới nhƣ triệt đốt nút nhĩ thất hay bó His, phẫu thuật...cho kết quả khả quan [16]. Ở Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu về biến chứng tim mạch ở các BN Basedow, nhƣng chủ yếu dừng ở mức mô tả, ít đi sâu vào điều trị và theo dõi biến chứng RN ở các BN cƣờng giáp nói chung [17-19]. Trong thực tế, nhiều BN cƣờng giáp có RN phải nhập viện nhiều lần do các biến chứng suy tim nặng, tậm chí bị tử vong [6]. Thế nhƣng hầu nhƣ không có số liệu và cơ sở nào để khuyến cáo nên điều trị, theo dõi biến chứng RN, cũng nhƣ tiên lƣợng khả năng đáp ứng với điều trị RN nhƣ thế nào ở những BN cƣờng giáp, nhất là các BN mới đƣợc phát hiện... Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến rung nhĩ ở bệnh nhân cƣờng giáp và đánh giá kết quả điều trị" với 3 mục tiêu sau: 1) Nghiên cứu các đặc đi ểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân cường giáp có rung nhĩ . 2) Nghiên cứu một số yếu tố l i ên quan đến rung nhĩ ở bệnh nhân cường giáp. 3) Đánh giá kết quả điều trị trong 6 tháng đầu ở bệnh nhân cường gi áp có rung nhĩ .
Xem thêm

Đọc thêm

VAI TRÒ CỦA ỨC CHẾ BETA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH MẠCH VÀNH

VAI TRÒ CỦA ỨC CHẾ BETA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH MẠCH VÀNH

1 . Chẹn beta là thuốc lựa chọn hàng đầu để cải thiện triệu chứng và phòng ngừa các biến cố tim mạch cho bệnh nhân mạch vành mạn cũng như phòng ngừa thứ phát cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim 2. Thận trọng trong việc lựa chọn thuốc ức chế beta: điều trị theo cá nhân hóa bệnh nhân. 3.Kiểm tra nhịp thường xuyên khi sử dụng thuốc ức chế beta để đem lại hiệu quả tốt nhất: vừa đưa nhịp tim về mức tối ưu, vừa không để lại tác dụng phụ.

38 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng (TT)

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng (TT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy tim trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng với tỷ lệ mắc bệnh là 1-2% dân số ở nước đã phát triển. Cùng với sự tăng dần c a tuổi thọ và các bệnh tim mạch như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh rối loạn chuyển hoá, tỷ lệ bệnh nhân mới mắc suy tim hàng năm ngày càng gia tăng. Mặc dù đã có rất nhiều loại thuốc mới được thử nghiệm và ứng dụng trong điều trị suy tim song vẫn không thể kiểm soát được tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống c a nhiều người bệnh. Tại Việt Nam, bệnh l tim mạch tăng nhanh. Theo niên giám thống kê c a cục quản l khám chữa bệnh Bộ Y tế (2015), tỉ lệ tử vong do suy tim năm 2013 là 0,51% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân, đứng thứ 10 trong các nguyên nhân gây tử vong tại Việt Nam. Từ những năm 1990, sự ra đời c a phương pháp cấy máy tạo nhịp 3 buồng tái đồng bộ tim (CRT) đã dần mở ra một thời đại mới trong điều trị suy tim và gợi mở nhiều vấn đề mới liên quan đến cơ chế bệnh sinh c a suy tim, tình trạng tái cấu trúc cơ tim và mất đồng bộ (MĐB) cơ tim. MĐB cơ tim là tình trạng rối loạn điện học và co bóp c a cơ tim, biểu hiện ở 20-50% bệnh nhân suy tim. Trước đây, QRS giãn rộng trên ĐTĐ được coi là một thông số đơn giản biểu hiện tình trạng MĐB cơ tim và là tiêu chuẩn lựa c họn bệnh nhân cho điều trị tái đồng bộ. Tuy nhiên, có tới 30-40% bệnh nhân không đáp ứng với điều trị CRT như mong muốn. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ MĐB điện học không thật sự tương quan với MĐB cơ học - yếu tố quyết định trong đáp ứng với điều trị CRT. Vì thế, có rất nhiều kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mới ra đời nhằm đánh giá tình trạng MĐB cơ học ở bệnh nhân suy tim, đặc biệt là siêu âm Doppler mô cơ tim mã hoá màu – một phương pháp siêu âm mới có rất nhiều hứa hẹn. Với mong muốn tìm hiểu một lĩnh vực tương đối mới, hy vọng góp phần cải thiện cuộc sống cho những bệnh nhân suy tim nặng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng. Nhằm nghiên cứu hai mục tiêu cụ thể như sau: 1. Đánh giá kết quả ngắn hạn của phương pháp cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ cơ tim (CRT) điều trị suy tim nặng bằng siêu âm Doppler tim. 2 . Tìm hiểu khả năng ứng dụng của siêu âm Doppler mô cơ tim để lựa chọn vị trí đặt điện cực xoang vành tối ưu trong cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ. Bố cục luận án: Luận án gồm 149 trang (chưa kể phụ lục và tài liệu tham khảo); 70 bảng, 16 biểu đồ và 29 hình, 4 sơ đồ. Có 159 tài liệu tham khảo với 10 tài liệu tiếng Việt; 149 tài liệu tiếng Anh. Phần đặt vấn đề: 03 trang, tổng quan: 42 trang, đối tượng và phương pháp: 14 trang, kết quả nghiên cứu: 44 trang, bàn luận: 42 trang, kết luận: 03 trang và kiến nghị: 01 trang. Những đóng góp của luận án:  Sử dụng siêu âm Doppler tim đánh giá kết quả ngắn hạn c a phương pháp cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ, sau 6 tháng theo dõi các k ch thước tim giảm, chức năng tim tăng, giảm tình trạng mất đồng bộ tim. - K ch thước giảm: Vs từ 171,46 ± 70,14 ml xuống 134,44 ± 66,55 ml; Ds từ: 61,67 ± 8,89 mm xuống 55,98 ± 11,13mm (p < 0,001). - Chức năng tăng: EF tăng: 27,01 ± 5,96% lên 34,81 ± 7,62% (p < 0,001). - MĐB 2 thất: trước CRT 60%; sau CRT: 43,75%. MĐB trong thất trái (DI) trước CRT: 58,33%, sau CRT: 25,0%. - Siêu âm Doppler là một tiêu ch đánh giá tình trạng đáp ứng tốt với CRT: tiêu chuẩn tăng EF ≥ 20% có 68,75% và tiêu chuẩn giảm Vs ≥ 15% có 52,08% bệnh nhân có đáp ứng tốt.  Siêu âm tim giúp tìm vùng khử cực chậm nhất để cấy điện cực xoang vành bước đầu cải thiện tỉ lệ đáp ứng với CRT. Sau 6 tháng theo dõi : - Nhóm có điện cực thất trái phù hợp dự báo c a siêu âm Vs:130,03 ± 56,90 ml; Ds:55,45±10,31 mm; EF: 35,24 ± 7,48% ; nhóm không phù hợp vị tr có Vs: 146,31 ± 89,25 ml, và Ds là 57,38 ± 13,44mm; EF: 33,64 ± 8,18% (p > 0,05) - Bệnh nhân có vị tr điện cực xoang vành phù hợp hướng dẫn c a siêu âm đáp ứng tốt hơn với CRT: tiêu chuẩn giảm Vs: 54,29%; tăng EF: 71,43%, nhóm không phù hợp: 46,15%; 61,54% (p > 0,05).
Xem thêm

Đọc thêm

BS DEP HEP EO DONG MACH CHU COMPATIBILITY MODE

BS DEP HEP EO DONG MACH CHU COMPATIBILITY MODE

12Diễn tiến* Thích ứng tốt: trưởng thành sau đó xấu hơn* 25% tử vong quanh 20 tuổi ,- 50% tử vong 32 tuổi ,75% * Suy tim, VNTM, vỡ hoặc bóc tách ĐMC, xuấthuyết não13Điều trò (1)* Chỉ đònh PT nếu  150 mmHg* Tuổi từ 2 - 5 tuổi* PT nối tận tận - Tử vong 1 - 2%* Biến chứng sau mổ:- Sớm: Liệt hạ chi không hoàn toàn 0,4 - 0,6%- Muộn: (ở bệnh nhân lớn) liên quan tổn thươngphối hợpNong bóng? Mổ lại? (Hiệu số HA t/h &amp;gt; 30)14Điều trò (2) Nội - Tính chất chờ đợi (tỉ lệ tái phát cao nếu
Xem thêm

47 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh mạch vành là một bệnh rất phổ biến ở các nước phát triển và hiện đang có xu hướng gia tăng rất mạnh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phương Tây, và là một trong năm nhóm bệnh tử vong cao nhất ở Mỹ năm 2002 [24]. Theo dự đoán, bệnh mạch vành vẫn sẽ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới vào năm 2020 [153]. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính tử vong do bệnh mạch vành trên toàn cầu sẽ gia tăng từ 7,2 triệu người ở năm 2002 đến 11,1 triệu người vào năm 2020 [21]. Hiện nay có ba phương pháp điều trị bệnh mạch vành: điều trị nội khoa, can thiệp động mạch vành qua da, phẫu thuật bắc cầu mạch vành (PTBCĐMV). Điều trị bệnh mạch vành ngày nay tiến bộ đáng kể so với những năm qua, một phần lớn là do sự cải tiến về kỹ thuật phẫu thuật và can thiệp mạch vành qua da. Vào thập niên 1950, với sự ra đời kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), các nhà ngoại khoa bắt đầu áp dụng PTBCĐMV. Từ đấy, PTBCĐMV được xem như là một trong những biện pháp tái tưới máu cơ tim có hiệu quả ở những bệnh nhân bị bệnh mạch vành. Sau đó, đến thập niên 1970 can thiệp ĐMV qua da, một thủ thuật ít xâm lấn hơn hẳn PTBCĐMV bắt đầu phát triển. Nhiều tiến bộ của kỹ thuật can thiệp ĐMV ngày nay đã cho phép giải quyết những tổn thương phức tạp của ĐMV, nên chỉ định của PTBCMV đã ngày một giới hạn hơn [80]. Từ giữa năm 1999 đến năm 2002, số lượng bệnh nhân được can thiệp ĐMV gia tăng với tốc độ 6,8% mỗi năm so với PTBCMV là 1,9% mỗi năm [112]. Tuy nhiên, PTBCMV vẫn giữ vai trò rất quan trọng, nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích vượt trội của PTBCMV so với can thiệp mạch vành qua da đối với những bệnh nhân có tổn thương thân chung ĐMV, tổn thương nhiều nhánh ĐMV, kèm theo ĐTĐ, chức năng thất trái giảm. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, mỗi năm có hơn 300.000 trường hợp được PTBCĐMV [68]. Trải qua bốn thập niên, PTBCĐMV là một trong những phẫu thuật được xem là thành tựu lớn của nền y học. PTBCĐMV cho phép điều trị dứt điểm các cơn đau thắt ngực, cải thiện khả năng gắng sức và kéo dài tuổi thọ của nhiều người bệnh mạch vành do xơ vữa động mạch [66]. Những kết quả sớm và muộn đạt được rất tốt là do việc chỉ định, cải tiến kỹ thuật mổ, biện pháp bảo vệ cơ tim trong khi phẫu thuật, cách lựa chọn loại mạch máu làm cầu nối, tiến bộ của gây mê hồi sức tim mạch, và chăm sóc hậu phẫu…[93]. Từ thập niên 1990, PTBCĐMV tiến thêm một bước mới: Phẫu thuật không cần làm ngưng tim (off – pump), đây là một phương pháp mới, đã mở ra nhiều hứa hẹn tốt đẹp cho những bệnh nhân bị bệnh mạch vành [107]. Cùng với sự hiểu biết và cải tiến không ngừng về kỹ thuật và dụng cụ, để khẳng định chỗ đứng vững chắc trong điều trị chung về bệnh mạch vành, PTBCĐMV cần đạt kết quả phẫu thuật tốt hơn, tỉ lệ tử vong và biến chứng thấp hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn, chi phí ít tốn kém hơn. Đặc biệt PTBCĐMV trên những bệnh nhân có phân suất tống máu thấp ≤40%. Đó cũng là những vấn đề mà các nhà phẫu thuật cũng như các nhà nghiên cứu y học trên thế giới đang rất quan tâm. So với các nước trên thế giới, Việt Nam khởi đầu chậm hơn trong phẫu thuật tim nói chung và phẫu thuật bắc cầu ĐMV nói riêng. Hiện nay, phẫu thuật bắc cầu ĐMV đã được thực hiện ở một số bệnh viện trung ương và cũng đã có những công trình nghiên cứu về kết quả phẫu thuật này [2],[3],[4],[5],[9],[13]. Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá kết quả phẫu thuật bắc cầu ĐMV trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm, mà hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều nhấn mạnh rằng đây chính là yếu tố gây tử vong hàng đầu trong phẫu thuật. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng PTBCĐMV cho phẫu thuật này, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu điều trị phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm” với 2 mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố tiên lượng và chỉ định phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm. 2. Đánh giá kết quả sớm trên bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu động mạch vành với phân suất tống máu thất trái giảm.
Xem thêm

140 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NHỊP TIM SAU ĐIỀU TRỊ CƠN NHỊP NHANH TRÊN THẤT BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NHỊP TIM SAU ĐIỀU TRỊ CƠN NHỊP NHANH TRÊN THẤT BẰNG NĂNG LƯỢNG SÓNG CÓ TẦN SỐ RADIO

GS Nguyễn Lân Việt, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, GS ĐỗDoãn Lợi Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam đã tận tình dạy dỗ và tạo mọiđiều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu.PGS.TS Phạm Mạnh Hùng và TS. Trần Song Giang, người thầy đãdành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho em những kinhnghiệm quý báu trong quá trình thực hiện luận văn này.Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ và gia đình em đãdành cho em sự quan tâm động viên, tình yêu thương để em có động lực họctập và phấn đấu như ngày hôm nay.Xin chân thành cảm ơn bạn bè em, những người luôn bên cạnh chia sẻ,động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập và làm luận văn này.Hà Nội tháng 11 năm 2015Trần Tất ĐạtLỜI CAM ĐOANTôi là Trần Tất Đạt, học viên cao học khóa XXII, chuyên ngành Timmạch, Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:1. Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học củaPGS.TS. Phạm Mạnh Hùng, TS. Trần Song Giang2. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực vàkhách quan, do tôi thu thập và thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai mộtcách khoa học và chính xác.Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳ mộttạp chí hay một công trình khoa học nào.Tác giả luận vănTrần Tất Đạt
Xem thêm

Đọc thêm

CHAN DOAN VA DIEU TRI SUY TIM GIẢNG

CHAN DOAN VA DIEU TRI SUY TIM GIẢNG

I. ĐỊNH NGHĨA SUY TIM o Đã có rất nhiều định nghĩa của suy tim trong vòng 50 năm qua. Trong những năm gần đây, hầu hết các định nghĩa suy tim đều nhấn mạnh cần phải có sự hiện diện của: triệu chứng cơ năng của suy tim và dấu hiệu thực thể của tình trạng ứ dịch trên lâm sàng. o Theo Trƣờng Môn Tim mạch Hoa Kỳ (ACC): “Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của tổn thƣơng thực thể hay rối loạn chức năng của tim, dẫn đến tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu (suy tim tâm trƣơng) hoặc tống máu (suy tim tâm thu)”. o Trong phần lớn các trƣờng hợp suy tim, bệnh nhân sẽ có biểu hiện của tình trạng cung lƣợng tim thấp (chẳng hạn nhƣ: mệt, khó thở khi gắng sức) hoặc tình trạng quá tải tuần hoàn gây ra sung huyết phổi và phù ngoại vi (tĩnh mạch cổ nổi, gan to, chân phù). o Theo Hội Tim Mạch Châu Âu: “Suy tim là một hội chứng mà bệnh nhân phải có các đặc điểm sau: các triệu chứng cơ năng của suy tim (mệt, khó thở khi gắng sức hoặc khi nghỉ ngơi); các triệu chứng thực thể của tình trạng ứ dịch (sung huyết phổi hoặc phù ngoại vi); và các bằng chứng khách quan của tổn thƣơng thực thể hoặc chức năng của tim lúc nghỉ” II. DỊCH TỄ HỌC CỦA SUY TIM o Suy tim là một gánh nặng lớn của cộng đồng. Tỷ lệ mắc suy tim ngày càng tăng trong cộng đồng là do tuổi thọ trong dân số tăng và tỷ lệ mắc bệnh tiểu đƣờng, tăng huyết áp và bệnh mạch vành ngày càng tăng. o Tại Mỹ, hiện nay ƣớc tính có khoảng 5 triệu ngƣời đƣợc chẩn đoán suy tim, và hàng năm có thêm khoảng 550.000 trƣờng hợp suy tim mới mắc. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị suy tim, tỷ lệ tử vong trong 1 năm và 5 năm vẫn còn khá cao: 30% và 50%. Để cải thiện tiên lƣợng và giảm tỷ lệ nhập viện của suy tim, bác sĩ phải chẩn đoán sớm và điều trị theo chiến lƣợc phù hợp với phác đồ điều trị suy tim. o Tại Châu Âu, hiện nay có khoảng 15 triệu ngƣời mắc suy tim, tần suất hiện mắc của suy tim trong dân số 23%. Ơ bệnh nhân >70 tuổi, tỷ lệ này tăng cao lên đến 1020%. Dƣới 70 tuổi, giới nam mắc suy tim nhiều hơn nữ, và nguyên nhân thƣờng gặp là do bệnh mạch vành. Ơ độ tuổi > 70, tỷ lệ mắc suy tim giữa nam và nữ nhƣ nhau. o Tại Việt Nam chƣa có số liệu thống kê cụ thể về số ngƣời mắc suy tim
Xem thêm

37 Đọc thêm

PHÁC ĐỒ CẤP CỨU NHỊP NHANH THẤT VÔ MẠCH RUNG THẤT

PHÁC ĐỒ CẤP CỨU NHỊP NHANH THẤT VÔ MẠCH RUNG THẤT

phác đồ cấp cứu nhịp nhanh thất vô mạch/ rung thấtABCDCấp cứu ABCD ban đầuMục tiêu: cấp cứu ngừng tuần hoàn cơ bản và sốc điện Đánh giá đáp ứng Gọi ngời hỗ trợ Chuẩn bị máy sốc điện(đờng thở): Khai thông đờng thở(hô hấp): Thông khí áp lực dơng(tuần hoàn): ép tim(sốc điện): Sốc điện nếu nhanh thất vô mạch/ rung thất3 lần (200J, 200 - 300J, 360J, hoặc tơng đơng 2 pha) nếu cầnĐánh giá ĐTĐ sau 3 lần sốc điện đầu tiên?Nhanh thất/ rung thất dai dẳng hoặc tái phátCấp cứu A BCD cơ bảnMục tiêu: Đánh giá vàđiều trị chuyên sâu hơnA (đờng thở): Đặt NKQcàng sớm càng tốtB (hô hấp): Kiểm tra vị trí NKQB (hô hấp): Cố định chắcchăn NKQB (hô hấp): Đảm bảo thôngkhí và oxyC (tuần hoàn): Đặt đờng
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu bệnh tim đái tháo đường qua chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2

NGHIÊN CỨU BỆNH TIM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG QUA CHỈ SỐ TEI TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những căn bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu và cũng là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay (ung thư, bệnh tim mạch và đái tháo đường). Theo Hiệp Hội Đái Tháo Đường Quốc Tế bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển.Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giớivào năm 2013 có khoảng 382 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [53]. Đái tháo đường (ĐTĐ) đặc biệt ĐTĐ type 2 là một bệnh rối loạn về chuyển hóa do sự suy giảm chức năng tế bào beta trên nền đề kháng insulin. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu vả rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong đó sự gia tăng glucose máu lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm của nhiều cơ quan[3]. Vì thế khi nói đến đái tháo đường type 2 người ta thường nghĩ ngay đến biến chứng tim mạch. Đây là các biến chứng có thể đặc hiệu hay không đặc hiệu xảy ra sớm và thường gặp. Đặc điểm biến chứng như bệnh cơ tim đái tháo đường, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim và bệnh lý thần kinh tự động tim thường xảy ra sớm ở phần lớn các trường hợp và cũng thường thầm lặng trong nhiều năm trước khi có biểu hiện lâm sàng cần phải can thiệp. Theo nghiên cứu dịch tễ của Frangminham tỷ lệ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 2 lần ở nam, gấp 5 lần ở nữ so với người không bị ĐTĐ, thậm chí sau khi đã loại trừ bệnh mạch vành, bệnh tim do thấp và các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp (THA), béo phì, rối loạn lipid máu thì tỷ lệ bệnh cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ vẫn cao gấp 4 – 5 lần so với người không bị bệnh này. Bệnh tim đái tháo đường là một bệnh lý liên quan đến vi mạch mạch vành, thường đi kèm tăng huyết áp và xơ vữa động mạch vành (động mạch vành thượng tâm mạc), xảy ra âm thầm và sớm với các biểu hiện của rối loạn chức năng tâm trương, sau đó rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Các biến chứng của đái tháo đường ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống cũng như gây nhiều tốn kém về kinh tế cho người bệnh. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2-3 lần ở nam giới và 3-5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các rối loạn về cấu trúc và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong vấn đề theo dõi, điều trị cũng như phòng bệnh.Việc chọn lựa một phương pháp thăm dò không thâm nhập, hiện đại với tỷ lệ phát hiện cao bệnh lý tim đồng thời khảo sát được cấu trúc và chức năng của tim, có thể nói siêu âm tim là một trong những phương tiện thăm dò ưu việt đối với bệnh nhân đái tháo đường hiện đang được sử dụng tại các trung tâm tim mạch trên thế giới, tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đái tháo đường, tại địa phương chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tương đối phổ biến nhưng chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách đúng mức nhất là lĩnh vực siêu âm Doppler tim [25]. Gần đây nhất một thông số siêu âm Doppler tim mới do Tei và cộng sự đề xuất nhằm đánh giá chức năng toàn bộ thất trái bằng chỉ số chức năng cơ tim hay chỉ số Tei (Tei index), một chỉ số đơn giản, dễ thực hiện, ít bị ảnh hưởng bởi tuổi, huyết áp, tần số tim, tiền gánh so với các chỉ số kinh điển khác. Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số Tei trong đánh giá chức năng thất trái ở các bệnh như nhồi máu cơ tim, thông liên nhĩ, tăng áp phổi, suy tim, tăng huyết áp nguyên phát [61]. Ở Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu về chỉ số Tei ở người bình thường và gần đây nhất là trong đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, tuy nhiên đối với đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường chưa thấy đề cập nhiều trong y văn [10]. Mục tiêu của đề tài: 1. Đặc điểm yếu tố nguy cơ, một số chỉ số đánh gía hình thái và chức năng thất trái qua siêu âm và chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường type 2. 2. Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số Tei và một số thông số hình thái và chức năng thất trái với một số yếu tố nguy cơ liên quan trên những bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Nghiên cứu nồng độ brain natriuretic peptid (BNP) huyết thanh ở bệnh nhân phù phổi cấp do tim được điều trị thở máy áp lực dương không xâm lấn

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ BRAIN NATRIURETIC PEPTID (BNP) HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN PHÙ PHỔI CẤP DO TIM ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ THỞ MÁY ÁP LỰC DƯƠNG KHÔNG XÂM LẤN

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết Phù phổi cấp do tim là một bệnh cấp cứu nội khoa thường gặp, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Theo y văn có khoảng 20% bệnh nhân suy tim nhập viện vì phù phổi cấp [68]. Trong độ tuổi từ 40-75 tuổi, nam giới bị phù phổi cấp nhiều hơn nữ giới. Sau 75 tuổi, nam và nữ đều bị ảnh hưởng như nhau. Tỷ lệ suy tim cấp và phù phổi tăng theo độ tuổi và ảnh hưởng đến 10% dân số ở độ tuổi trên 75 tuổi [101]. Bệnh có tiên lượng xấu, tỷ lệ tử vong nội viện lên tới 20%. Tỷ lệ tái nhập viện trong 60 ngày đầu xuất viện 25% [93] và tỷ lệ tử vong trong năm đầu 25-35% [86] là do nhiều yếu tố như diễn tiến nặng của bệnh, hay biến chứng của bệnh nền hoặc giai đoạn cuối của bệnh. Tuy nhiên, cũng có thể do bệnh nhân chưa nhận được chẩn đoán và điều trị một cách hợp lý và triệt để, phác đồ điều trị bệnh nhân phù phổi cấp tại phòng cấp cứu chưa được đồng nhất [55]. Từ năm 1988, sự ra đời của xét nghiệm peptide thải natri niệu týp B (BNP) là một thành tựu lớn trong y học, xét nghiệm BNP đã góp phần trong chẩn đoán, theo dõi điều trị và tiên lượng. Không chỉ ở bệnh nhân suy tim mà còn ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp và nhiều bệnh lý tim mạch khác. Năm 2002, Hiệp hội Dược liệu - Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cho phép sử dụng BNP/NT- proBNP là xét nghiệm sinh học để chẩn đoán suy tim tại Mỹ và hiện nay xét nghiệm này đã được sử dụng rộng rãi [66],[71]. Trong chẩn đoán bệnh nhân khó thở do suy tim, xét nghiệm BNP trong huyết thanh đã làm giảm tỷ lệ thiếu quyết đoán trong chẩn đoán của bác sỹ xuống còn 11% và độ chính xác tăng lên 81,5% [69]. Ngoài ra, định lượng liên tục nồng độ BNP trong huyết thanh ở bệnh nhân suy tim giúp tiên lượng mức độ nặng của bệnh và góp phần hướng dẫn điều trị suy tim, đặc biệt đối với những bệnh nhân phù phổi cấp, một thể lâm sàng của suy tim cấp nặng, suy hô hấp diễn tiến nhanh và có tiên lượng tử vong cao. Vì vậy, định lượng nồng độ BNP trong máu sẽ giúp chẩn đoán sớm và chính xác, để quyết định điều trị kịp thời [63]. Bên cạnh đó, bệnh nhân phù phổi cấp do tim nhập viện thường có triệu chứng suy hô hấp cấp, trên lâm sàng có triệu chứng khó thở thường nổi trội, những bệnh nhân này đáp ứng với điều trị ban đầu bao gồm thở ôxy kết hợp thuốc lợi tiểu và giãn mạch [40]. Nhưng trong trường hợp sung huyết phổi nặng, suy hô hấp không đáp ứng với thở ôxy thông thường, đòi hỏi phải thở máy áp lực dương không xâm lấn. Phương thức này đã được các khuyến cáo đồng thuận sử dụng ở bệnh nhân phù phổi cấp do tim nhằm cải thiện dấu hiệu sinh tồn, hạn chế việc đặt nội khí quản, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí nằm viện và giảm tỷ lệ tử vong [31]. Vậy thì, câu hỏi được đặt ra là liệu xét nghiệm BNP có giúp ích trong quyết định thở máy áp lực dương không xâm lấn ở bệnh nhân phù phổi cấp do tim không? Nồng độ BNP sau sáu giờ thở máy không xâm lấn thay đổi ra sao để tiên đoán bệnh nhân thành công hay thất bại ? Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài này. 2. Ý nghĩa khoa học Định lượng nồng độ BNP trong huyết thanh sẽ giúp chẩn đoán nhanh bệnh nhân có suy tim cấp và phù phổi cấp. Đồng thời xác định sự thay đổi nồng độ BNP tại thời điểm 6 giờ sau khi bắt đầu thở máy áp lực dương không xâm lấn, tìm điểm cắt hiệu số tại 2 thời điểm ở bệnh nhân suy tim cấp để tiên lượng bệnh nhân có nguy cơ đặt nội khí quản và tử vong. Đối với những trường hợp phù phổi cấp nặng, nồng độ BNP giúp cho các nhà hồi sức lâm sàng quyết định thở máy áp lực dương không xâm lấn nhằm cải thiện dấu hiệu sinh tồn, hạn chế việc đặt nội khí quản, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim cấp và phù phổi cấp. 3. Ý nghĩa thực tiễn Trong điều kiện nước ta hiện nay, ở nhiều tuyến y tế cơ sở, chưa có điều kiện để trang bị đầy đủ các phương tiện chẩn đoán nhanh ngay tại giường bệnh nhân thì xét nghiệm định lượng nồng độ BNP trong huyết thanh sẽ góp phần giúp chẩn đoán bệnh nhân phù phổi cấp. Dựa vào giá trị đo được nồng độ BNP tại thời điểm lúc nhập viện, 6 giờ, 24 giờ và lúc ra viện ở bệnh nhân suy tim cấp để tiên lượng bệnh nhân đáp ứng điều trị, nguy cơ tử vong hoặc tái nhập viện. Đối với những trường hợp bệnh nhân phù phổi cấp có sung huyết phổi nặng, giá trị thay đổi nồng độ BNP sau 6 giờ thở máy sẽ giúp cho các nhà hồi sức lâm sàng quyết định có nên tiếp tục hoặc kết thúc thở máy áp lực dương không xâm lấn cho bệnh nhân suy tim cấp và phù phổi cấp hay không ? 4. Mục tiêu của đề tài Xuất phát từ thực tế trên và với mong muốn đóng góp vào công tác điều trị, tiên lượng cho bệnh nhân phù phổi cấp, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu nồng độ Brain Natriuretic Peptide (BNP) huyết thanh ở bệnh nhân phù phổi cấp tim được thở máy áp lực dương không xâm lấn” với mục tiêu: 1/ Khảo sát đặc điểm lâm sàng, khí máu động mạch và biến đổi nồng độ BNP huyết thanh ở bệnh nhân phù phổi cấp do tim được thở máy không xâm lấn. 2/ Tìm hiểu mối liên quan của một số yếu tố lâm sàng, khí máu động mạch và nồng độ BNP huyết thanh với thành công của thở máy áp lực dương không xâm lấn ở bệnh nhân phù phổi cấp do tim.
Xem thêm

152 Đọc thêm

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA TRỊ BỆNH MẤT NGỦ

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA TRỊ BỆNH MẤT NGỦ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Với nhịp sống hối hả và căng thẳng trong cuộc sống mà nay bênh mất ngủ không chỉ có ở người lớn tuổi mà còn tấn công sang những người trẻ. Hệ lụy của nó là những đôi mắt thâm quầng, giảm khả năng tập trung, đẩy nhanh quá trình lão hóa và quan trọng hơn là gia tăng khả năng mắc các bệnh ung thư. Vậy đâu là nguyên nhân và cách chữa trị? Theo bác sĩ Phạm Thị Thu Nga thì: “Mất ngủ có hai nhóm nguyên nhân chính là mất ngủ do sinh hoạt và mất ngủ do thực thể. Thường điều trị mất ngủ thì mình sẽ điều trị triệu chứng kết hợp với thuốc và điều trị những nguyên nhân gây ra mất ngủ”.   Hãy cùng xem tình huống dưới đây và cùng bác sĩ Thu Nga chia sẻ những nguyên nhân và bí quyết để giảm mất ngủ trong chương trình “Chuyện gia đình Vàng”: window.addEventListener("load", function() { zPlayerAPI('zplayer_9c9cb1', 'event', { onPlay: function(){ AjaxAction('zplayer_9c9cb1_ga', '/ajax/video_player_ga.html'); } }); }); Bấm SUBSCRIBE ngay để chia sẻ video này trên youtube:   Trích nguồn clip từ chương trình Chuyện Gia đình Vàng phát sóng vào 13h45, phát lại lúc 16h50 hàng ngày trên VTV9.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TIM THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TIM THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA

ĐẶT VẤN ĐỀ Thất phải hai đường ra (TPHĐR) là bệnh tim bẩm sinh bất thường kết nối giữa tâm thất và đại động mạch, trong đó hai đại động mạch xuất phát hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn từ thất phải [1]. Bệnh tim bẩm sinh phức tạp này bao gồm rất nhiều thay đổi đa dạng về hình thái giải phẫu bệnh học cũng như sinh lý bệnh học [2]. Sự không đồng nhất trong các hình thái của bệnh lý TPHĐR đã dẫn tới nhiều tranh cãi trong lịch sử của chuyên ngành tim mạch bẩm sinh. Tùy theo hình thái giải phẫu bệnh học và các thương tổn phối hợp của từng trường hợp TPHĐR cụ thể mà dẫn đến các biểu hiện bệnh khác nhau. Ví dụ như một số thể bệnh gần giống với tứ chứng Fallot nếu có hẹp đường ra thất phải (ĐRTP) kèm theo, hoặc thương tổn của một thông liên thất (TLT) nặng nếu không kèm theo hẹp ĐRTP, hay có thể tương tự như chuyển gốc động mạch kèm theo TLT [3],[4]. Những trường hợp TPHĐR phối hợp với các thương tổn phức tạp khác trong tim như bất tương hợp nhĩ - thất hoặc những bệnh lý một tâm thất không nằm trong nhóm nghiên cứu này. TPHĐR là bệnh lý ít gặp với tần suất từ 1-1,5% trong các bệnh tim bẩm sinh. Trong 1 triệu trẻ ra đời sống sót thì trung bình có khoảng 157 trẻ bị bệnh TPHĐR [5]. Hình thái học của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mối liên quan giữa lỗ TLT với các van nhĩ thất, tương quan giữa động mạch chủ (ĐMC) và động mạch phổi (ĐMP), giải phẫu của động mạch vành (ĐMV), có hay không thương tổn tắc nghẽn đường ra của hai thất, khoảng cách giữa van ba lá và vòng van ĐMP, và các bất thường tim bẩm sinh khác phối hợp với bệnh [6],[7],[8],[9]. Theo phân loại năm 2000 của Hiệp hội các phẫu thuật viên lồng ngực - Society of Thoracic Surgeon (STS) và Hiệp hội phẫu thuật tim mạch lồng ngực Châu Âu - European Asociation of Cardiothoracic Surgery (EACTS), bệnh TPHĐR được phân loại thành 4 thể khác nhau bao gồm thể TLT, thể Fallot, thể chuyển gốc động mạch và thể TLT biệt lập với những biểu hiện lâm sàng tương đối giống với các bệnh đó [1]. Siêu âm tim với xung và thăm dò Doppler màu giúp chẩn đoán xác định và đánh giá tương đối toàn diện cho phần lớn các trường hợp bệnh nhân TPHĐR [10],[11]. Các thăm dò như thông tim chẩn đoán, chụp CT đa dãy hoặc MRI cũng góp phần bổ sung cho siêu âm tim trong chẩn đoán bệnh [12],[13],[14]. Phẫu thuật sửa chữa toàn bộ của bệnh TPHĐR đầu tiên đã được Kirklin tiến hành vào tháng 5 năm 1957 tại Mayo Clinic với chẩn đoán TPHĐR thể TLT dưới van ĐMC [15]. Những báo cáo đầu tiên về phẫu thuật thành công TPHĐR thể chuyển gốc động mạch được ghi nhận vào những năm 1967 và 1969 [16]. Bệnh lý TPHĐR có nhiều phương pháp phẫu thuật sửa toàn bộ khác nhau tùy theo từng thể bệnh và thương tổn trên từng bệnh nhân cụ thể. Kết quả điều trị phẫu thuật của bệnh này tại các trung tâm tim mạch lớn trên thế giới đạt được tỷ lệ sống còn sau phẫu thuật sửa chữa toàn bộ khoảng 80% - 95% sau 10 năm tùy theo từng thể bệnh [17],[18],[19],[20],[21]. Tại Việt Nam chỉ một vài bệnh viện có khả năng phẫu thuật sửa chữa toàn bộ cho các bệnh nhân TPHĐR, do vậy còn nhiều bệnh nhân vẫn chưa được điều trị kịp thời và thậm chí tử vong trước khi được tiến hành phẫu thuật. Đồng thời cũng chưa có nghiên cứu cụ thể nào đánh giá về hình thái giải phẫu, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị bệnh lý này ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh lý này, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu lâm sàng và kết quả sớm điều trị phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tim thất phải hai đƣờng ra” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng theo thể tổn thương giải phẫu của bệnh lý thất phải hai đường ra 2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật sửa toàn bộ điều trị bệnh thất phải hai đường ra
Xem thêm

164 Đọc thêm

Trắc nghiệm triệu chứng tim mạch

TRẮC NGHIỆM TRIỆU CHỨNG TIM MẠCH

TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA PHẦN TIM MẠCH Trắc nghiệm được soạn theo: Giáo trình Nội khoa cơ sở I Đại học Y Hà Nội Giáo trình Triệu chứng nội khoa Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Giáo trình Nội cơ sở I Đại học Võ Trường Toản Câu 1: Nhận định nào sau đây là đúng: A. Trong hẹp động mạch vành dùng nitroglycerin không đáp ứng hiệu quả. B. Nhồi máu cơ tim cấp có thể dẫn đến tử vong. C. Nếu có huyết khồi gây tắc động mạch vành có thể đáp ứng tốt khi dùng nitroglycerin. D. Bệnh mạch vành gây đau thắt ngực trái. Câu 2: Nguyên nhân nào sau đây gây đau ngực: A. Cường giáp. B. Trào ngược dạ dày – thực quản. C. Viêm túi mật cấp. D. Hở van động mạch chủ. Câu 3: Chọn ý sai: A. Viêm màng ngoài tim đau khi hít vào. B. Viêm loét dạ dày tá tràng giảm đau khi dùng nitroglycerin. C. Tràn khí màng phổi gây khó thở kéo dài. D. Co thắt thực quản đau sau xương ức. Câu 4: Trong cơn đau thắt ngực thì: A. Giảm đau khi dùng nitroglycerin trong vài giờ. B. Kéo dài 1h – 2h. C. Xuất hiện khi lạnh. D. Cơn đau thắt ngực xuất hiện khi nghỉ ngơi là cơn đau thắt ngực ổn định. Câu 5: Khi nói đến suy tim trái thì, chọn ý sai: A. Suy tim trái ứ dịch ở phổi. B. Suy tim trái có thể dẫn đến tràn dịch màng phổi. C. Suy tim trái đáp ứng tốt với thuốc lợi tiểu. D. Hen tim có triệu chứng dãn phế quản. Câu 6: Phù do giảm áp lực keo gặp trong bệnh lý: A. Suy tim trái. B. Van tĩnh mạch đóng không kín. C. Suy thận mạn. D. Thận hư. Câu 7: Hoàn cảnh xuất hiện cơn đau thắt ngực ổn định là: A. Trong khi nghỉ ngơi. B. Gắng sức. C. Xúc động mạnh. D. Cả B và C đúng. Câu 8: Tâm thất phải nhận máu từ: A. Phổi. B. Tĩnh mạch thuộc tuần hoàn lớn. C. Tuần hoàn nhỏ. D. Tâm thất trái. Câu 9: Trong bệnh lý tim mạch hỏi bệnh nhằm mục đích gì? A. Tiền sử bản thân, gia đình và xã hội. B. Để nắm triệu chứng cơ năng. C. a và b đúng. D. a và b sai. Câu 10: Triệu chứng khó thở trong bệnh tim mạch, chọn câu đúng? A. tăng lên khi gắng sứC. B. giảm đi khi gắng sức C. Tính chất đột ngột hay từ từ. D. a và c đúng. Câu 11: Nguyên nhân gây cơn đau thắt ngực ổn định là: A. Kích thích thần kinh cảm giác. B. Tổn thương cơ tim. C. Hẹp động mạch vành do sơ vữa. D. Bệnh lý van tim. Câu 12: Thời gian kéo dài của cơn đau thắt ngực ổn định là: A. Dưới 20 phút. B. Vài phút đến vài giờ. C. Cả ngày. D. Vài giây. Câu 13: Tâm thất phải nhận máu từ: A. Động mạch phổi. B. Động mạch chủ bụng. C. Động mạch chủ ngực. D. Tâm nhĩ phải. Câu 14: Nguyên nhân suy tim phải là: A. Tăng tiền gánh thất phải. B. Tăng hậu gánh thất phải. C. Tăng áp lực động mạch chủ. D. Cả a và b đều đúng. Câu 15: Suy tim phải dẫn đến: A. Thiếu máu nuôi dưỡng tim. B. Tăng vận chuyển oxy đến tổ chức. C. Ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch. D. Cả 3 câu trên đều đúng. Câu 16: Đặc điểm của phù trong suy tim phải là: A. Phù mềm, ấn lõm, đau, phù trắng. B. Phù mềm, ấn lõm, không đau, phù tím, phù thay đổi theo tư thế. C. Phù cứng, không đau, phù thay đổi theo tư thế. D. Phù cứng, đau, không thay đổi theo tư thế Câu 17: Nguyên nhân gan to trong suy tim phải giai đoạn đầu là: A. Tăng sinh mô sợi. B. Phát triển nhiều u cục C. Ứ máu ở tĩnh mạch gan D. Tăng sinh tế bào gan. Câu 18: Khi nói đến gan to trong suy tim thì: A. Trong giai đoạn đầu gan có thể thu nhỏ lại. B. Giai đoạn sau gan không thể thu nhỏ hoặc thu hồi ít. C. Gan to do ứ máu và tăng sinh mô sợi. D. Cả 3 câu đều đúng. Cấu 19: Triệu chứng nào không đúng trong suy tim phải: A. Phù. B. Gan to. C. Tĩnh mạch cổ nổi. D. Tăng số lượng nước tiểu Câu 20: Nguyên nhân gan to trong suy tim phải giai đoạn cuối là: A. Tăng sinh mô sợi. B. Phát triển nhiều u cục C. Ứ máu ở tĩnh mạch gan D. Tăng sinh tế bào gan. Câu 21: Điện tim bình thường có các sóng lần lượt là: A. PQRST. B. PQRTS. C. PRQTS. D. PRQST. Câu 22: Biên độ của sóng P là: A. 0 – 1mm. B. 1 – 3mm. C. 1 – 3cm. D. 0 – 1cm. Câu 23: Gía trị của ECG trong chân đoán bệnh lý tim mạch là: A. Chản đoán rối loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền. B. Chẩn đoán chức năng tống máu của tim. C. Chẩn đoán phì đại buồng tim. Câu 24: Triệu chứng nào không đúng trong suy tim phải: A. X Quang thấy bóng tim to toàn bộ. B. Gan to. C. Tĩnh mạch cổ nổi. D. Có thê sờ thấy mõm tim đập ở mũi xương ức Câu 25: Holter HA và holter điện tâm đồ là: A. Chẩn đoán chức năng tống máu của tim. B. Là phương pháp đeo máy đo huyết áp hoặc ECG lưu động trong 24h. C. Là cách đo điện tim và huyết áp cho bệnh nhân già. D. Là phương pháp thông tim.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Nghiên cứu nồng độ NT - proBNP trên bênh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ NT - PROBNP TRÊN BÊNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CÓ BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa trong đó có sự gia tăng đường máu kéo dài phối hợp thiếu hụt tương đối hay tuyệt đối tiết và hay là tác dụng của insulin, gây nhiều biến chứng cấp và mạn tính [9], [3], [4]. “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa” dự báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở thành hiện thực. Trong đó đái tháo đường được xem là vấn đề cấp thiết của thời đại.[29],[7] Đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường type 2 chiếm đến 80 - 90%, thường âm thầm, không có triệu chứng lâm sàng trong một thời gian dài, nếu không được phát hiện và điều trị đúng đắn sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm]. Biến chứng của bệnh thường rất phổ biến, khi nói đến đái tháo đường người ta liên tưởng ngay đến biến chứng tim mạch chiếm 75% bệnh nhân và trên 50% bệnh nhân bị biến chứng tim mạch ngay lần đầu phát hiện bệnh. Điều đó có nghĩa là biến chứng đã hình thành từ giai đoạn tiền đái tháo đường [18]. Biến chứng tim mạch cũng là nguyên nhân gây tử vong của hơn 75% bệnh nhân ĐTĐ trong đó nguyên nhân chính liên quan đến bệnh mạch vành (BMV) chính vì thế bệnh ĐTĐ hiện nay được xem là một yết tố nguy cơ độc lập của BMV, khoảng 20% bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim(NMCT) và 20% bênh nhân có hội chứng mạch vành không ổn định là bệnh nhân ĐTĐ [22],[40 ].[8] Đái tháo đường làm tăng nguy cơ suy tim từ 2 - 5 lần so với người không đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2- 3 lần ở nam giới và 3 - 5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong việc theo dõi điều trị cũng như phòng bệnh [17]. Trong những năm gần đây với sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh, siêu âm tim đã trở thành phương pháp không xâm nhập, dễ sử dụng. Nó cho phép thăm dò về hình thái và chức năng thất trái. Bên cạnh đó các nhà khoa học đã tìm ra các peptide lợi niệu nhóm B, đặc biệt nồng độ NT-proBNP huyết tương có vai trò trong chẩn đoán rối loạn hình thái và chức năng tim, ước lượng độ nặng và tiên lượng suy tim [76]. Xét nghiệm này được phát triển một cách nhanh chóng sẽ góp phần vào việc kiểm soát và điều trị suy tim có hiệu quả hơn. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về dấu ấn sinh học này, Pudil R ghi nhận nồng độ NT-proBNP liên quan một cách có ý nghĩa với đường kính cuối tâm thu, cuối tâm trương thất trái và phân suất tống máu. Theo Tschope C, nồng độ NT-proBNP huyết tương là một yếu tố dự báo độc lập của rối loạn chức năng tâm trương [29]. Tại Việt Nam cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng [5]. Việc định lượng NT-proBNP còn khá mới mẽ và chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có các công trình nghiên cứu nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân suy tim, suy thận mạn, nhưng ít có nghiên cứu trên người bệnh đái tháo đường. Việc sử dụng dấu ấn sinh học này để phát hiện sớm suy tim ở giai đoạn im lặng có tầm quan trọng đối với hiệu quả quản lý điều trị bệnh nhân đái tháo đường nhất là tại các tuyến y tế cơ sở. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nồng độ NT - proBNP trên bênh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ” Đề tài nhằm các mục tiêu sau: 1.Xác định nồng độ NT - ProBNP huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có bệnh tim thiếu máu cục bộ theo tuổi và giới tính 2.Xác định mối liên quan giữa nồng độ NT - ProBNP huyết tương với các yếu tố nguy cơ, lâm sàng, cận lâm sàng và chức năng tâm thu thất trái.
Xem thêm

102 Đọc thêm

Bệnh án viêm tụy cấp trên nền suy tim độ 2

BỆNH ÁN VIÊM TỤY CẤP TRÊN NỀN SUY TIM ĐỘ 2

BỆNH ÁN NỘI A. PHẦN HÀNH CHÍNH: Họ và tên: HUỲNH VĂN MẠNH, Nam, 41 tuổi Dân tộc: Kinh Nghề nghiệp: Làm ruộng Địa chỉ: Đông Phước AChâu ThànhHậu Giang. Nhập viện: lúc 15 giờ 50 phút ngày 30032012 Địa chỉ người thân: vợ Trần Thị Điệp (cùng địa chỉ) B. PHẦN CHUYÊN MÔN: 1. Lý do vào viện: Đau thượng vị và khó thở. 2. Bệnh sử: Bệnh nhân khai cách nhập viện 13 ngày, bệnh nhân khó thở thường xuyên, khởi phát sau khi làm công việc nhà, khó thở 2 thì, tăng lên khi nằm, giảm khi ngồi và nghĩ ngơi. Bệnh nhân có điều trị bác sĩ (không rõ) khó thở không giảm. Cùng ngày nhập viện,sau khi ăn tiệc và uống 200 ml rượu, bệnh xuất hiện đau thượng vị quặn từng cơn trên nền đau âm ĩ không lan xuyên kèm theo nôn ói 3 lần, nôn ra thức ăn,sau nôn bệnh không giảm đau, đau không kèm ợ hơiợ chua. Bệnh nhân có tư mua thuốc uống (không rõ), đau bụng không giảm và khó thở nhiều hơn với tính chất tương tự  đến khám và nhập viện tại bệnh viện đa khoa Châu Thành. Tình trạng lúc nhập viện: Bệnh tĩnh, tiếp xúc tốt. Mệt mỏi, ớn lạnh Đau bụng nhiều thượng vị; khó thở 2 thì nhiều; hết nôn ói Diễn tiến bệnh phòng : Qua 2 ngày điều trị tại khoa HSCC bệnh viện Đa Khoa Châu Thành. Hết sốt, giảm đau bụng,không nôn ói. Khó thở giảm nhiều. Tình trạng hiện tại : Bệnh tĩnh, tiếp xúc tốt. Bệnh nhân không khó thở. Hết đau thượng vị. Ăn uống khá, ngủ được. 3. Tiền sử : a. Bản thân : Suy tim T cách 1 năm được chẩn đoán tại bệnh viện Ngã BảyHậu Giang. Bệnh thường hay mệt khó thở khi lao động nặng. Thói quen ăn mặnnhiều mỡ. Hút thuốc lá 15 góinăm. b. Gia đình : Không ai mắc bệnh tương tự 4. Khám lâm sàng : lúc 9 giờ 00 ngày 15032012, ngày thứ 3 của bệnh. 4.1. Khám tổng quát : Tổng trạng : trung bình Bệnh tĩnh, tiếp xúc tốt. DHST : + Mạch 95 lần phút + Huyết áp : 12080 mmHg + Nhịp thở : 20 lần phút + Nhiệt độ : 37 0C Da niêm hồng, không phù, tĩnh mạch cổ không nổi. Tuyến giáp không to Hạch ngoại vi sờ không chạm Tĩnh mạch cổ không nổi. 4.2. Khám tim : Không có ổ đập bất thường Mõm tim ở liên sườn VI đường nách giữa . Diện đâp mõm tim 2 mm; rung miu (); Hatzer (). Tim đều, Tần số 110 lần phút. T1,T2 rõ. Âm thổi tâm thu 36 ở mõm; lan theo hình nan hoa. 4.3. Khám phổi : Lồng ngực cân đối đều hai bên, di động theo nhịp thở. Rung thanh đều 2 bên . Rì rào phế nang êm dịu. 4.4. Khám bụng: Bụng thon, di động đều theo nhịp thở,không vết mỗ cũ. Có nhu động ruột. Gan không to, Lách sờ không chạm. Ấn đau nhẹ thượng vị 4.5. Khám tiết niệu – sinh dục: Hố thắt lưng không đầy Chạm thận (); Bập bềnh thận (). Ấn các điểm niệu quản trêngiữa không đau. 4.6. Khám thần kinh: Không có dấu hiệu thần kinh khu trú. 4.7. Các cơ quan khác: chưa ghi nhận bất thường.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tiểu luận về tế bào gốc

TIỂU LUẬN VỀ TẾ BÀO GỐC

Nhồi máu cơ tim là bệnh lý nguy hiểm đe doạ tính mạng do tắc nghẽn đột ngột mạch máu nuôi tim.Khi cơ tim hoàn toàn không được cung cấp máu thì cơ vùng cơ tim âý sẽ bị hoại tử gây triệu chứng đau ngực dữ dội . Tim là nơi co bóp để duy trì lưu lượng máu đến các cơ quan khác, do đó khi không còn cung cấp máu sẽ tạo ra sự mất ổn định điện học và tim không còn duy trì nhịp co bóp đều đặn, gây loạn nhịp trong những giờ đầu thường là rung thất và ngưng tim, sau đó người bệnh sẽ tử vong.Một số bệnh nhân nếu may mắn thoát chết thường phải đối mặt với bệnh vẫn còn tiến triển hoặc biến chứng suy tim ... Theo Tổ chức Y tế thế giới, nhồi máu cơ tim (NMCT) là nguyên nhân tử vong hàng đầu của thế giới công nghiệp hóa. Để điều trị bệnh nhân NMCT và bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, nhiều thành tựu y học nổi bật được tạo ra làm tăng khả năng sống của người bệnh. Những tiến bộ này bao gồm khử rung tim ngoài cơ thể, hồi sức tim phổi ngực kín, các đơn vị chăm sóc vành, siêu âm tim, chụp động mạch vành, máy tạo nhịp tim máy khử rung tim cấy dưới da tự động, máy tim phổi, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, van tim cơ học và sinh học, ghép tim, liệu pháp tiêu huyết khối động mạch vành, nong mạch vành và giá đỡ động mạch vành (stent).
Xem thêm

10 Đọc thêm

Điều trị chống đông trong rung nhĩ

ĐIỀU TRỊ CHỐNG ĐÔNG TRONG RUNG NHĨ

Định nghĩa: Rung nhĩ là loại loạn nhịp nhanh trên thất đặc trưng bằng các hoạt động không đồng bộ của nhĩ kèm theo suy chức năng cơ học của nhĩ. RN là loại rối loạn nhịp tim thường gặp nhất . Rung nhĩ chia làm 2 loại : + Rung nhĩ do bệnh van tim (hẹp van 2 lá, hở van 2 lá có ý nghĩa và van nhân tạo) . + Rung nhĩ không do bệnh van tim. Trước khi bắt đầu điều trị, các bác sĩ cần đánh giá toàn bộ nguy cơ của bệnh nhân để có chỉ định và chiến lược điều trị đúng. Khi đã quyết định dùng kháng đông cho bệnh nhân, chúng ta cần tuân thủ đúng cách sử dụng và theo dõi trong quá trình dùng thuốc. Điều này sẽ giúp tránh  được biến chứng cho bệnh nhân và đạt hiệu quả điều trị tốt nhất. Hiện nay các thuốc kháng đông mới rất có hiệu quả ở BN RN không do bệnh van tim và rất thuận lợi cho BN khi dùng. Tuy nhiên giá thành còn là rào cản lớn.
Xem thêm

41 Đọc thêm

BỆNH CƠ TIM GIÃN PGS HOÀNG ANH TIẾN

BỆNH CƠ TIM GIÃN PGS HOÀNG ANH TIẾN

Bệnh cơ tim giãnThS BS Hoàng Anh TiếnĐịnh nghĩa bệnh cơ tim giãnLà bệnh của cơ tim gây giãn và làm giảmsút khả năng co cơ thất trái và/hoặc thấtphải. Cơ thất thường mỏng đi nhưng cũngcó thể dày lên và trong trường hợp nàytiên lượng bệnh cơ tim giãn tốt hơn. Thểtích tâm thu và tâm trương của thất tăng.PHÂN LOẠI BỆNH CƠ TIM (Tổ chức y tế thế giới 1995)Bệnh cơ timBệnh cơ tim đặc hiệuBCT giãn (vô căn, gia đình/di truyền, siêu vi/ miễndịch, rượu/nhiễm độc)BCT thiếu máu cục bộBCT phì dạiBCT do van timBCT hạn chế (xơ cơ tim vô căn, xơ hóa nội mạc cơtim)BCT do tăng huyết áp
Xem thêm

19 Đọc thêm

Cùng chủ đề