CÁCH CHỮA BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ NHANH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁCH CHỮA BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ NHANH":

CÓ NÊN NHỎ SỮA MẸ VÀO MẮT TRẺ SƠ SINH ĐỂ CHỮA BỆNH

CÓ NÊN NHỎ SỮA MẸ VÀO MẮT TRẺ SƠ SINH ĐỂ CHỮA BỆNH

“Có nên nhỏ sữa mẹ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa bệnh?”“Có nên nhỏ sữa mẹ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa đau mắt đỏ cho trẻ không?” là thắc mắc của rất nhiều bà mẹTheo BS. Sơn, đau mắt đỏ là từ dân gian còn thuật ngữ chuyên môn gọi là viêm kết mạc cấp, là một bệnh lý phổ biến vViệc dùng sữa mẹ để nhỏ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa bệnh đau mắt đỏ là không có cơ sở khoa họcKhi bị bệnh, trẻ sẽ có những biểu hiện sưng nề, gỉ mắt ra nhiều và sưng rất nhanh, mắt đỏ, có thể thấy xuất huyết dướVới câu hỏi “Có nên nhỏ sữa mẹ vào mắt trẻ sơ sinh để chữa bệnh đau mắt đỏ của trẻ không?”, BS Sơn cho biết: “Ai cBS Sơn nhấn mạnh: Tuy trong sữa mẹ có nhiều dưỡng chất, kháng thể tốt cho cơ thể bé, nhưng nó chỉ phát huy hiệu qHơn nữa, sữa mẹ chứa nhiều dưỡng chất là môi trường “lý tưởng” giúp vi khuẩn sinh sôi, nảy nở nên nhỏ sữa vào mắBác sĩ cũng khuyến cáo các bậc phụ huynh nếu thấy bé có biểu hiện bất thường về mắt như: gỉ vàng, viêm đỏ, sưng tấ
Xem thêm

1 Đọc thêm

10 loại rau có tác dụng chữa bệnh

10 LOẠI RAU CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngoài khả năng chữa trị hiệu quả các bệnh như nhiễm trùng thận, đau đầu, nhiễm trùng đường tiết niệu, táo bón, mất ngủ, nhiễm trùng máu, khó tiêu,... một số thảo mộc còn có đặc tính chống ô-xy hóa giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim và chống lại ung thư. Húng quế   Lá húng quế  giúp dễ tiêu hóa, chữa đau đầu và mất ngủ. Dầu từ lá còn có tác dụng chống viêm đối với đường tiêu hóa và các khớp. Ngoài ra lá còn chứa nhiều chất chống ô-xy hóa và là một chất lợi tiểu nhẹ. Ngò tây   Rau ngò tây giàu chất chống ô-xy hóa giúp giảm viêm ở thận, ngăn hơi thở có mùi, giúp dễ tiêu hóa, có tác dụng lợi tiểu và chữa táo bón. Vitamin K trong ngò tây cũng rất tốt cho xương. Bạc hà   Dầu trong lá bạc hà có đặc tính sát trùng và kháng khuẩn làm giảm chứng khó tiêu, làm dịu rối loạn dạ dày và giảm hội chứng ruột kích thích. Lá bạc hà còn giúp tăng cường hệ thần kinh, giảm đau đầu. Rau kinh giới Dầu rau kinh giới có đặc tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống ô-xy hóa. Ăn rau kinh giới làm giảm đau bụng thường và đau bụng kinh. Đây cũng là một chất lợi tiểu, chữa đau đầu, cảm cúm, cảm lạnh và các vấn đề về hô hấp. Ngò rí   Hạt ngò rí có tác dụng an thần thường được dùng để chữa mất ngủ và lo lắng. Ăn ngò rí còn cải thiện trí nhớ, giảm phản ứng do dị ứng như dị ứng phấn. Ngò rí còn có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, là chất giải độc mạnh đối với các hóa chất độc hại như chì và thủy ngân. Bên cạnh đó, lá còn có công dụng làm giảm cholesterol, điều hòa nồng độ insulin và giảm đau đầu. Cỏ xạ hương   Không những giúp chữa hen suyễn, viêm phế quản, cảm lạnh, ho, cảm cúm, viêm xoang hiệu quả, cỏ xạ hương còn là một chất chống ô-xy hóa và cải thiện tiêu hóa. Bạn có thể pha trà từ cỏ xạ hương để trị đau họng và các bệnh về nướu. Cây hương thảo   Hương thảo có tác dụng giảm viêm, giảm nguy cơ mắc bệnh hen suyễn, bệnh gan và bệnh tim nhờ đặc tính chống viêm và chống ô-xy hóa. Dầu từ lá hương thảo còn giúp chữa rụng tóc, giảm đau bụng và cải thiện trí nhớ. Lá ngải giấm   Loại thảo mộc này thường được dùng làm biện pháp tạm thời để chữa đau răng và và đau nướu. Lá ngải giấm còn giúp cải thiện tiêu hóa, chữa chứng biếng ăn, giữ nước cho cơ thể và giúp bạn có giấc ngủ sâu hơn.. Thì là   Cả hạt và lá thì là đều có tác dụng lợi tiêu và kháng khuẩn rất hữu ích để chữa nhiễm trùng bàng quang. Rau thì là còn giúp điều hòa lượng đường trong máu và nồng độ cholesterol. Lá thì là kết hợp với các món hải sản, rau trộn,...  giúp chữa rối loạn dạ dày và chống viêm đường tiêu hóa. Lá xô thơm   Lá xô thơm đặc biệt hữu ích để điều trị tình trạng kinh nguyệt không đều và giảm các triệu chứng mãn kinh ở phụ nữ. Các cơn đau khớp, đổ mồ hôi nhiều và đau bụng cũng có thể chữa khỏi nhờ lá xô thơm. Chất chống ô-xy hóa trong lá xô thơm giúp cải thiện trí nhớ và tăng cường khả năng tập trung.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bí quyết vận khí để trị bệnh Giáo sư Phạm Văn Chính

Bí quyết vận khí để trị bệnh Giáo sư Phạm Văn Chính

GS Chính giới thiệu về cách thở của khí công, một phương pháp mà như ông nói: “Năm 1970 tôi bị rất nhiều bệnh: mất ngủ triền miên, uống thuốc gì, bác sĩ nào chữa cũng không hết; rồi còn bị loét dạ dày, sau một thời gian uống thuốc bị đau gan, ăn cái gì cũng bị dị ứng... Năm 1974 nhờ gặp được thầy Thiên Trúc Đảo 82 tuổi ở Long Xuyên, giảng 1 giờ về bệnh của tôi và tiên thiên khí công, chỉ sau ba ngày tập tôi đã ngủ được, bệnh dạ dày giảm, bệnh gan cũng giảm... Nhờ chữa bằng phương pháp này tôi hết bệnh tới nay”.Theo ông, các nhóm bệnh mà tiên thiên khí công trị được là: mập phì, cao huyết áp, cao mỡ, tiểu đường; đau nhức kinh niên do phong thấp, thấp khớp, đau thần kinh tọa; nhóm nhiễm trùng như viêm gan B, viêm gan C; nhóm ung bướu như ung thư vú; nghiện thuốc lá, nghiện rượu, nghiện ma túy.
Xem thêm

Đọc thêm

Rau răm nên thuốc

RAU RĂM NÊN THUỐC

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Loại rau răm tươi, thân đỏ hơi ngả tím thường được dùng làm thuốc trị bệnh. Lá rau răm có tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm mát dễ chịu. Theo đông y, rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, kích thích tiêu hóa, sát trùng, tán hàn. Rau răm làm sáng mắt, ích trí, mạnh gân cốt, trị co gân (chuột rút), chữa dạ dày lạnh, đầy hơi, đau bụng, kém ăn, tiêu chảy. Rau này còn dùng chữa sốt, làm thuốc lợi tiểu, chống nôn, chữa bệnh ngoài da (hắc lào, sâu quảng), rắn cắn. Nhờ có vị cay, tính ấm, tiêu thực, kích thích tiêu hóa nên rau răm thường được dùng ăn cùng trứng vịt lộn, thịt bò, thịt gà, cháo trai, hến để giúp ngon miệng, làm ấm tì vị.   Rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, kích thích tiêu hóa, sát trùng, tán hàn (Ảnh: Internet) Tuy nhiên, ăn rau răm nhiều sinh nóng rét, giảm tinh khí, thương tổn đến tủy, suy yếu tình dục. Phụ nữ những ngày có kinh nguyệt không nên ăn rau răm vì dễ bị rong huyết. Rau răm không độc nhưng nếu dùng thường xuyên với số lượng nhiều sẽ làm giảm tình dục cả ở đàn ông lẫn đàn bà, phụ nữ có thể trở nên vô kinh. Do vậy, người tu hành thường sử dụng rau răm để tránh những cơn bốc dương. Dưới đây là các phương thuốc dân gian từ rau răm: - Mùa hè say nắng: Giã rau răm tươi, vắt cốt đun sôi uống. - Chữa kém ăn: Rau răm dùng theo gia vị hoặc sử dụng cả cây 10-20 g sắc uống sau bữa ăn. - Chữa đau bụng, đầy hơi, lạnh bụng, nôn mửa, say nắng, khát nước: Lấy nước ép rau răm tươi thân đỏ 25-30 ml/lần/ngày, uống 2 lần. - Chữa hắc lào, ghẻ lở, sâu quảng: Rau răm toàn cây ngâm rượu. Lấy rượu đó bôi hoặc giã nát xát, còn bã đắp rồi băng lại. - Chữa bỗng dưng đau tim không chịu nổi: Dùng rễ rau răm 50 g sắc rồi chế thêm một chén rượu vào uống, mỗi lần 1 chén. - Chữa tê bại, vết thương bầm tím sưng đau: Rau răm tươi giã nát trộn với long não hoặc dầu long não, xoa hoặc băng vào các nơi tê đau. - Chữa rắn cắn: Rau răm dùng tươi cả cây nhai nuốt (hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống), lấy lá đắp vào vết thương. Có thể lấy 20 ngọn rau răm tươi giã nát, vắt nước uống, bã đắp vết cắn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Ai phải khám mắt định kỳ?

AI PHẢI KHÁM MẮT ĐỊNH KỲ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo báo cáo năm 2013 của ngành bảo hiểm y tế ở CHLB Đức, số người mù mắt vì võng mạch bị thoái hóa do bệnh tiểu đường tiếp tục tăng. Theo kết quả thống kê, hơn 3/4 người bệnh tiểu đường khó có giấc ngủ yên bình. Hơn phân nửa bệnh nhân tiểu đường gặp trục trặc với huyết áp, nếu không cao thì cũng dao động nhiều lần trong ngày. Nạn nhân đồng thời khó tránh phải ngày đêm đồng hành với stress vì bệnh, vì ăn kiêng, vì uống thuốc, vì hao tài… Hậu quả là dễ tăng áp lực nội nhãn, còn gọi là bệnh cườm nước. Trong bệnh tiểu đường, xơ vữa mạch máu không mời cũng đến do hậu quả dây chuyền của rối loạn biến dưỡng trước của chất đường, sau của chất béo. Mạch càng nhỏ càng dễ chai cứng, càng mau tắc nghẽn. Chính vì thế mà mạng lưới mạch máu li ti trên đáy mắt là nhược điểm hàng đầu trong bệnh tiểu đường.   Thảm trạng mù mắt do bệnh tiểu đường đó đáng lý được ngăn chặn không mấy khó nếu người bệnh cố gắng khám mắt định kỳ. (Ảnh minh họa) Trục trặc không chỉ vì thế. Cơ thể người bệnh tiểu đường do rối loạn biến dưỡng bao giờ cũng tiêu hao sinh tố và khoáng tố nhiều hơn người không bệnh. Nhu cầu về sinh tố và khoáng tố càng cao hơn nữa nếu người bệnh tiểu đường đồng thời là thai phụ, người lao động nặng, người nghiện thuốc lá. Các sinh tố rất dễ thiếu hụt ở người bệnh tiểu đường là tiền sinh tố A, cặp bài trùng A-E và sinh tố C. Thần kinh thị giác vì thế không đủ sinh tố để điều tiết. Hậu quả là bệnh nhân dễ mỏi mắt, đau gáy, nhức đầu, chóng mặt… Không ít bệnh nhân tiểu đường vì thế “bị” điều trị sai hướng như rối loạn tiền đình vì chóng mặt, viêm xoang vì đau đầu vùng trán, thoái hóa cột sống cổ vì mỏi gáy… Không chỉ ở bệnh nhân cao tuổi, tình trạng mỏi mắt vì bệnh tiểu đường tất nhiên càng nhanh chân hơn nữa ở người còn trẻ nhưng ngồi yên co cứng nhiều giờ trước máy vi tính hay màn ảnh truyền hình. Do phản ứng dây chuyền trong rối loạn biến dưỡng chất đường - chất béo - chất đạm nên nhiều thành phần trong cơ thể khó tránh bị biến thế cấu trúc. Một trong các “thí điểm” của bệnh tiểu đường là thủy tinh thể dần dần vẩn đục, trở thành bệnh “cườm khô”. Nạn nhân lúc đầu thấy mờ mờ, sau cứ như vướng bụi rồi như ruồi bay trước mắt. Hậu quả cuối cùng là mất hẳn thị lực. Thảm trạng mù mắt do bệnh tiểu đường đó đáng lý được ngăn chặn không mấy khó nếu người bệnh cố gắng khám mắt định kỳ. Thay vì đợi cườm để mổ, cách tốt nhất cho người bệnh tiểu đường là đừng để mắt hóa cườm. Muốn được vậy, người bệnh mỗi 6 tháng phải nhanh chân đến phòng khám mắt dù mắt chưa đau. Thao tác khám mắt chỉ mất vài phút. Đáng buồn là không đến 10% người bệnh tiểu đường, theo thống kê ở nước người, được theo dõi áp lực nội nhãn mỗi 3 tháng. Nước ngoài còn vậy, nói chi xứ mình!
Xem thêm

1 Đọc thêm

Những lầm tưởng tai hại về bệnh đau dạ dày

NHỮNG LẦM TƯỞNG TAI HẠI VỀ BỆNH ĐAU DẠ DÀY

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Từ rất lâu trong dân gian, đã truyền tai nhau rất nhiều bài thuốc, những cách để điều trị bệnh đau dạ dày. Hầu hết mọi người đều tin tưởng tuyệt đối vào những phương pháp đó. Tuy nhiên, chính những quan niệm ấy lại là những sai lầm gây hại cho dạ dày của bạn. Ăn cháo luôn tốt nhất cho bệnh dạ dày Nhiều người vẫn cho rằng, cháo nhuyễn và mềm dễ tiêu hóa, sẽ có tác dụng làm giảm gánh nặng của dạ dày.   Ăn cháo không phải là tốt nhất cho người đau dạ dày. Ảnh minh họa.  Tuy nhiên, khi ăn cháo, thông thường bạn sẽ ăn rất nhanh, không nhai kỹ, hoặc cháo quá loãng sẽ không có phản xạ nhai, điều đó không kích thích dịch vị tiết ra. Thậm chí, nếu cháo nhiều nước thì sẽ làm loãng dịch vị, làm dạ dày giãn nở nhiều hơn nhưng co bóp ít hơn, chậm hơn, không tốt cho quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng. Đặc biệt, đối với bạn thích ăn cháo nóng thì càng không tốt vì thực tế, độ nóng của cháo  không có lợi cho sự kích thích dạ dày. Vì thế, những người đau dạ dày không nên ăn cháo, nhất là cháo nóng thường xuyên, tốt nhất nên lựa chọn những thực phẩm dễ tiêu hóa, dễ hấp thụ. Uống sữa tươi thường xuyên tốt cho dạ dày Theo tin tức ghi trong cuốn Bệnh dạ dày và cách điều trị của Nhà xuất bản Lao động, rất nhiều người cho rằng, uống nhiều sữa tươi tốt cho dạ dày. Tuy vậy, tác dụng đó  chỉ dừng lại ở việc uống bổ sung. Nếu như bạn thường xuyên uống sữa tươi thì lại có tác dụng ngược đối với dạ dày.   Uống sữa thường xuyên không tốt cho dạ dày. Ảnh minh họa. Uống một ly sữa tươi nóng lúc dạ dày bị căng chướng sẽ giúp đẩy lùi cảm giác khó chịu này, bởi sữa có thể làm tiêu axit trong dạ dày, giúp tạm thời hình thành một lớp bảo vệ dạ dày, mang lại cảm giác dễ chịu. Nhưng khi uống quá nhiều, tác dụng của lượng axit trong sữa tươi mạnh hơn tác dụng của axit trong dạ dày, vì thế ko có lợi cho dạ dày. Sữa đậu nành là một lựa chọn không tồi cho bạn. Tưởng gừng cũng chữa dạ dày   Dùng nhiều gừng sẽ khiến bệnh dạ dày càng nặng hơn. Ảnh minh họa. Trong dan gian, gừng là một phương thuốc dân gian cổ truyền để chữa bệnh về tiêu hóa, vì thế mọi người thường cho rằng gừng cũng có thể chữa bệnh dạ dày. Tuy nhiên, cũng cần biết rằng, gừng chỉ có tính nóng và là thực phẩm có tính kích thích, nếu dùng quá nhiều sẽ gây kích thích axit dạ dày tiết ra làm bệnh dạ dày càng nặng hơn. Trẻ nhỏ không bị đau dạ dày Lâu nay, người ta thường nghĩ, bệnh đau dạ dày chỉ xảy ra ở người lớn. Tuy nhiên, thực tế rất nhiều trường hợp viêm loét dạ dày xảy ra ở những trẻ nhỏ.   Đừng nghĩ rằng trẻ nhỏ sẽ không bị đau dạ dày. Ảnh minh họa. Chia sẻ với báo Gia đình Xã hội, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai, cho biết, nhiều người cho rằng bệnh đau dạ dày chỉ xảy ra ở người lớn. Tuy nhiên, hiện nay bệnh này đang có xu hướng tăng nhiều ở đối tượng trẻ em, chiếm tỷ lệ khá cao trong các bệnh tiêu hóa nói chung. Bệnh đau dạ dày phổ biến nhất ở nhóm trẻ trong độ tuổi từ 10-14. Trước sự gia tăng của căn bệnh này ở trẻ em, các bác sĩ khuyến cáo cha mẹ cần xây dựng chế độ ăn hợp lý cho trẻ, không nên ép trẻ ăn bằng được mà cần khuyến khích để tạo cảm giác thèm ăn. Khi thấy trẻ bị đau bụng thường xuyên, cần đưa đến cơ sở y tế nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời, tránh xảy ra những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cẩm nang chữa bệnh cho chó

Cẩm nang chữa bệnh cho chó

Chữa bệnh viêm phổi Với Cún trên 4 tháng: 1 ngày chích 1 ống K –CORT kết hợp cho uống thuốc viêm phổi của người lớn 1 ngày 3 4 viên sau mỗi bữa ăn, mỗi ngày 1 viên Vitamin C 500 để tăng sức đề kháng Cún dưới 4 tháng tuổi, KCORT chích 12 ống, kèm theo uống thuốc viêm phổi của em pé ngày 3 4 viên sau mỗi bữa ăn, và thêm mỗi ngày 1 viên Vitamin C 250 Uống ozeron Uống nc gừng Nếu có mật ong rừng nguyên chất 100% thì các bạn ngày pha khoảng 2 3 muỗng cafe với 100ml nước sôi rồi để nguội cho pé uống, mạt ong có tác dụng làm tăng sức để kháng cao, còn ko có thì thôi chứ mật ong nay chỉ toàn mật ong pha hóa chất, nếu ko chắc chắn là mật ong nguyên chất 100% thì ko nên cho các pé uống Tuyệt tối không tắm, rửa hay làm ướt lông pé, không chó pé ra ngoài trười khi tời tối tránh sương, gió, giữ cho pé cách mặt đất ít nhất 20cm, tuyệt đối không cho pé nằm dưới nền đất Nếu pé nào bỏ ăn thì các bạn lấy không kim tiêm loại lớn khoảng 5cc bơm cháo cho pé, tốt nhất mua cháo dinh dưỡng của em pé cho pé ăn để có sức Với cách chữa trị trên khoảng 3 4 ngày các pé có thể hết bệnh hoàn toàn, nếu pé nào yếu quá thì 5 7 bữa Viêm phổi cấp tính Biểu hiện của vật khi bị bệnh Thoạt đầu mới nhiễm bệnh, con vật mệt mỏi, uể oải, bỏ ăn, sốt cao, niêm mạc đỏ. Tuy ít ho nhưng khó khăn, đau đớn, cơn ho khạc cũng tăng dần lên ngày một nặng, cơn ho xảy ra nhiều vào ban đêm và sáng sớm. Thở khó, con vật nằm một chỗ, yếu, cố thở nhanh và nông, biểu hiện thiếu oxy trong máu nên niêm mạc mắt, miệng đỏ xẫm, sung huyết, sau tím tái.
Xem thêm

Đọc thêm

de tai sang tao KHCN

de tai sang tao KHCN

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. CƠ SỞ THỰC TIỄN. Đau đầu là một trong những triệu chứng thường thấy nhất trong y học, chúng ảnh hưởng đến rất nhiều người trên thế giới, nếu bạn hỏi ai đó câu hỏi “bạn đã từng bị đau đầu chưa?”, chắc chắn không ai dám nói mình chưa từng bị đau bao giờ. Có những khi chỉ cần thay đổi thời tiết hay uống rượu bia, cà phê, hút thuốc lá cũng làm cho nhiều người bị đau đầu. Nhất là đối với những người làm việc văn phòng, việc ngồi máy tính quá nhiều cũng sẽ gây đau đầu mệt mỏi làm giảm hiệu quả công việc. Có những người đây là tình trạng tạm thời, hoặc là tự động qua đi, hoặc đơn giản khỏi bệnh sau khi dùng một viên thuốc giảm đau thông thường. Dù vậy nguyên nhân đau đầu đôi khi không đơn giản như chúng ta thường nghĩ. Đối với những người thường xuyên bị đau đầu, tác hại mà nó gây ra không nhỏ đến sinh hoạt, công việc hay cả những hoạt động giải trí đơn giản. Biết được dạng bệnh đau đầu và nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp nỗ lực điều trị và phòng ngừa bệnh sẽ hiệu quả. Để làm giảm đau đầu có nhiều cách như dùng thuốc giảm đau hay các liệu pháp ngoài tân dược khác như thư giãn, chườm đầu bằng đá lạnh hay xoa bóp lên các huyệt đạo trên vùng đầu. Một thói quen của rất nhiều người đó là khi bị đau đầu thì lập tức mua thuốc giảm đau uống để làm mất cơn đau. Nhưng ta thấy rằng nếu dùng thuốc giảm đau thường xuyên sẽ có những tác hại như kháng thuốc hay nhiều tác hại khác nữa mà ta không lường trước được, còn các liệu pháp như ở trên cũng có một phần tác dụng nhưng không mấy khả thi và các cơn đau đầu vẫn cứ tiếp diễn. Từ những thực trạng trên và qua tìm tòi nghiên cứu và thực tiễn cuộc sống tôi thấy rằng việc dùng lá đại bi có thể làm giảm cơn đau đầu và phòng tránh được bệnh đau đầu thường gặp. 2. MỤC ĐÍCH CỦA Ý TƯỞNG. Nghiên cứu và tìm ra cách làm giảm đau đầu và phòng tránh bệnh đau đầu hiệu quả, tiện lợi và an toàn. 3. NHIỆM VỤ. Tìm hiểu về bệnh đau đầu và các nguyên nhân gây bệnh. Tìm hiểu về cây đại bi và thành phần hoá học, hoạt tính sinh học của nó. Từ đó thấy được tác dụng mới của lá đại bi là giúp chữa bệnh đau đầu phòng tránh được bệnh đau đầu. Các cách làm để có thể sử dụng tốt công dụng của lá đại bi trong việc phòng tánh và làm giảm triệu chứng đau đầu một cách hiệu quả. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Ý TƯỞNG. - Phương pháp lí luận: Nghiên cứu tìm tòi các tài liệu liên quan đến lá đại bi của các báo chuyên ngành và của một số nhà khoa học trước đó. - Phương pháp thực tiễn: Quan sát điều tra, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn và dân gian trong việc sử dụng lá đại bi nhằm chữa và phòng tránh bệnh đau đầu. Sáng tạo cách làm một cách tiện dụng và hiệu quả. 5. ĐIỂM MỚI CỦA Ý TƯỞNG. - Ý tưởng đề cập đến một cách sử dụng lá đại bi trong việc phòng chống và làm giảm đau đầu một cách tiện lợi và hiệu quả mà các tài liệu y học chưa thấy đề cập đến. - Từ ý tưởng trên nảy sinh thêm về việc sáng tạo ra một sản phẩm gọi là mũ mát xa đầu có chiết xuất từ tinh dầu của lá đại bi. 6. CẤU TRÚC CỦA BẢN TRÌNH BÀY Ý TƯỞNG. Phần 1: Đặt vấn đề. 1. Cơ sở thực tiễn 2. Mục đích của ý tưởng. 3. Nhiệm vụ. 4. Phương pháp nghiên cứu. 5. Điểm mới 6. Cấu trúc của bản trình bày ý tưởng Phần 2: Nội dung. A.Tìm hiểu bệnh đau đầu và các nguyên nhân gây bệnh. B.Tìm hiểu về cây đại bi và thành phần hoá học của nó. C.Cách sử dụng lá đại bi nhằm phòng tránh và làm giảm cơn đau đầu. Phần 3: Kết luận. PHẦN II: NỘI DUNG A. TÌM HIỂU BỆNH ĐAU ĐẦU VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH. Đau đầu là một trong những triệu chứng thường thấy nhất trong y học. Nó xẩy ra hầu hết với tất cả mọi người và làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ và công việc của mỗi người, làm giảm chất lượng cuộc sống. Thậm chí với những người thường xuyên bị đau đầu, tác hại mà nó gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ. Bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt công việc hay cả những hoạt động giải trí đơn giản. Biết được dạng bệnh đau đầu mắc phải và nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp nỗ lực điều trị và phòng ngừa bệnh có hiệu quả. Trước hết chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về bệnh đau đầu: Đau đầu là gì? Đau đầu có nhiều dạng bệnh lý khác nhau, trong đó phổ biến nhất là đau nửa đầu (migraine). Các bệnh nhân thường miêu tả cơn đau nửa đầu thông qua các triệu chứng: đau một bên đầu (trái, phải, trước trán, sau gáy…), đau cả vùng đầu, các biểu hiện đi kèm như buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, sợ mùi hương, sợ tiếng ồn, rối loạn thị giác. Cơn đau thường kéo dài từ 2 – 4 giờ, thậm chí vài ba ngày mới hết. Triệu chứng •Chóng mặt, thấy hào quang trước mắt: Cơn đau nửa đầu có thể gây chóng mặt, nhìn đôi, hoặc mất thị lực. Do đó, những người bị đau nửa đầu thường cảm thấy bị mất cân bằng. So với đau đầu thông thường, cơn chóng mặt dễ xảy ra hơn ở người đau nửa đầu. Có người còn gặp tình trạng thấy ánh đèn leo lét hoặc một vệt sáng hay một điểm sáng mờ ảo và chúng di chuyển theo một đường cong liên tục chạy qua trước mắt. •Đau nhói một hoặc cả hai bên đầu: Đau có tính chất như mạch đập là một dấu hiệu điển hình của cơn đau nửa đầu. Cảm giác đau nhói thường cảm thấy ở một bên đầu. Một nghiên cứu ở những bệnh nhân đau nửa đầu cho thấy, có khoảng 50% bệnh nhân luôn có triệu chứng đau nhói ở một bên đầu. •Nôn hoặc buồn nôn: Theo một nghiên cứu ở Mỹ, có khoảng 73% bệnh nhân có triệu chứng buồn nôn và 29% có nôn. Những người thường xuyên có cảm giác buồn nôn khi đau đầu có liên quan đến cơn đau nửa đầu nặng hơn người không có triệu chứng này. •Dễ cáu gắt hoặc phấn khích: Thay đổi tâm trạng là một trong những dấu hiệu của chứng đau nửa đầu. Một số bệnh nhân cảm thấy chán nản hoặc đột nhiên xuống tinh thần không có lý do, trong khi một vài người khác lại cảm thấy hưng phấn một cách bất thường. •Tê hoặc ngứa ran: Một số người bị chứng đau nửa đầu có cảm giác tê, ngứa ran hoặc cảm giác như kim châm ở một bên của cơ thể, di chuyển từ đầu ngón tay qua cánh tay và trên khuôn mặt. Phân loại đau đầu Đau nửa đầu: Có căn nguyên từ thần kinh mạch máu, xuất hiện từng cơn ở một bên đầu với cảm giác da đầu căng và rát như bị bỏng kèm các triệu chứng ù tai, mờ mắt, buồn nôn, sợ tiếng ồn, ánh sáng… Khoảng 11% dân số trưởng thành trên thế giới đang phải gánh chịu các cơn đau nửa đầu, trong đó phụ nữ chiếm đến 3/4. Có nhiều nguyên nhân nhưng theo phân tích của các nhà khoa học, có mối liên hệ rõ rệt giữa những biến đổi ở não dẫn đến những hoạt động thần kinh bất thường gây ra những cơn đau nửa đầu mức độ vừa đến nặng. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra gốc tự do là một trong những tác nhân nguy hiểm nhất làm khởi phát chứng đau nửa đầu. Tại não, gốc tự do sinh ra liên tục, lắng đọng ở thành mạch máu, thúc đẩy quá trình xơ vữa, làm hẹp lòng động mạch cản trở máu dẫn oxy về nuôi não. Bên cạnh đó, gốc tự do và các hóa chất trung gian sinh ra trong quá trình chuyển hóa ở não làm gia tăng hoạt động bạch cầu, khởi phát quá trình viêm, sản sinh chất gây giãn mạch làm tổn thương nội mạc mạch máu, gây ra những cơn đau nửa đầu. Đau đầu từng cụm (cluster headache): Cũng có nguyên nhân từ thần kinh mạch máu, gặp chủ yếu ở nam giới tuổi trung niên và phần lớn có hút thuốc. Tuy nhiên, gần đây tỉ lệ nữ giới bị đau đầu từng cụm cũng đang dần tăng. Các cơn đau xuất hiện sau khi ngủ từ 1 đến 3 giờ, khi tỉnh dậy đã thấy đầu đau nặng. Cơn đau thành từng cụm, khu trú ở nửa đầu, đau nhiều ở sau mắt, lan ra trán và thái dương, kèm theo ngạt mũi, chảy nước mắt, buồn nôn… Đau đầu do căng thẳng: Ngày nay, nhịp sống nhanh và ồn ào tại nhiều thành phố lớn làm cho con người bị cuốn vào những lo toan cho gia đình, công việc, gần như không có nhiều thời gian cho chính bản thân mình. Đây là điều kiện thích hợp để nhiều loại bệnh đô thị xuất hiện, trong đó có chứng đau đầu căng thẳng. Đau đầu do căng thẳng có khá nhiều biểu hiện giống với bệnh đau nửa đầu. Bệnh đau đầu căng thẳng ít có tính chất thon thót mạch đập và thường tiến triển tăng dần, khác với kiểu khởi phát cơn đau nửa đầu (đến khá nhanh và bất ngờ). Thời gian cơn đau kéo dài, dao động khác nhau nhưng tính chất cơn đau ổn định và cường độ không dữ dội như đau nửa đầu. Đau đầu mạn tính hàng ngày (Chronic daily headache): Là dạng đau đầu kéo dài trên 15 ngày/ tháng, thường có bệnh lý kết hợp như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, cơn hoảng sợ, stress và lạm dụng thuốc. Hầu hết các trường hợp đau đầu này không phát hiện dấu hiệu bất thường trên ảnh chụp não. Nếu không được điều trị sẽ gây ra những rối loạn cơ thể như hồi hộp, mất ngủ, đau bao tử, ngoài ra còn xuất hiện triệu chứng trầm cảm như lo âu, thậm chí thay đổi tính cách. Nguyên nhân đau đầu •Đau đầu nguyên phát là chứng đau nửa đầu có nguyên nhân thường liên quan tới sự giãn của các mạch máu trong sọ và các hóa chất trung gian được tiết ra từ các sợi thần kinh nằm quanh đó. Người ta thấy rằng khi cơn đau xuất hiện, động mạch thái dương thường giãn rộng (động mạch thái dương là một nhánh động mạch nằm ngoài hộp sọ, ngay bên dưới da vùng thái dương). Khi động mạch này giãn nở, nó làm căng các sợi thần kinh nằm gần đó, các sợi thần kinh khi bị căng thì tiết ra các hóa chất có khả năng gây đau, viêm, và làm mạch máu thêm giãn nở, càng làm cơn đau nặng thêm. Chứng đau nửa đầu này thường không được chẩn đoán, hay chẩn đoán nhầm với đau đầu do căng thẳng, đau đầu do viêm xoang, thế nên khá nhiều người bị đau đầu kiểu này mà không được điều trị thích đáng. •Đau đầu thứ phát bao gồm các triệu chứng như viêm xoang, cao huyết áp cũng là nguyên nhân gây đau đầu thứ phát. Có rất nhiều nguyên nhân, từ nặng như: u não, chấn thương sọ não, viêm màng não, xuất huyết dưới màng nhện, đến mức độ nhẹ hơn (và thường gặp hơn): đau đầu do ngưng uống cà phê, đau đầu do cao huyết áp, viêm xoang, viêm xoang, viêm tai, viêm nướu răng. •Ngoài ra còn có các nguyên nhân: giảm hoạt động của tuyến giáp vì tuyến giáp không sản xuất đủ hoóc-môn giáp như bình thường; ngộ độc carbon monoxide (CO) thường xuyên. Bệnh Parkinson; do thuốc như: indomethacin, estrogen, progestin, thuốc ức chế kênh calcium (thường dùng điều trị tăng huyết áp), các thuốc ức chế việc tái hấp thu seretonin chọn lọc (thuốc điều trị trầm cảm). Lạm dụng thuốc giảm đau đầu nhanh, cụ thể dùng quá liều thuốc giảm đau có thể tạo nên tình trạng “kháng thuốc”, mất tác dụng của thuốc, cơn đau đầu không khống chế được nữa. Thiếu máu cơ tim (thường do bệnh lý mạch vành): thiếu máu cơ tim ngoài gây đau thắt ngực còn có thể gây đau đầu. Các nguyên nhân của đau đầu thứ phát còn có ung thư não, kể cả u nguyên phát ở não lẫn u di căn từ nơi khác đến như từ vú, từ phổi; máu tụ dưới màng cứng (màng cứng là một lớp màng bao bọc não bộ) sau khi chảy từ các tĩnh mạch não bị vỡ. Cơn tăng huyết áp ác tính cũng gây đau đầu (những cơn tăng huyết áp nhẹ hay trung bình thường không gây đau đầu. Hậu quả Không như các bệnh thông thường, những cơn đau nửa đầu đến bất thình lình như búa bổ, mắt mờ, mặt xám xanh, nhìn ánh đèn chói lại càng đau. Rồi xuất hiện cơn buồn nôn và có khi nôn mửa đến mật xanh, mật vàng... Những cơn đau nửa đầu đột ngột và kéo dài âm ỉ trong não khiến người bệnh có lúc chỉ “muốn bổ đầu mình ra”. Có trường hợp đau nhói nửa đầu, cơn đau càng giật mạnh theo nhịp thở khiến nhiều người phải “đo ván” hàng giờ đồng hồ trong phòng làm việc, dù uống thuốc giảm đau nhưng vẫn chẳng thấy ăn thua gì. Gặp tiếng ồn của xe cộ hay máy móc là đầu như muốn nổ tung. Sau mỗi đợt đau đầu như vậy, nạn nhân thường dễ dàng mệt mỏi, cáu kỉnh, dễ nhầm lẫn, thậm chí rơi vào trạng thái trầm cảm kéo dài... Đau nửa đầu Migraine là chứng thường gặp trong các bệnh đau đầu, nếu không được điều trị, cơn đau có thể kéo dài từ 2-4giờ, thậm chí có những trường hợp đến vài ba ngày. Những người bị đau nửa đầu không chỉ bị cơn đau hành hạ dẫn đến chất lượng sống giảm sút, mà lâu ngày, chứng bệnh còn dẫn đến những bệnh lý nguy hại khác cho sức khoẻ, như trầm cảm, đột quỵ, suy thoái võng mạc, mất thị lực và mù vĩnh viễn. Theo Tổ chức y tế Thế giới WHO, Migraine đang là vấn nạn lớn toàn cầu và là một trong 20 nguyên nhân hàng đầu gây thương tật cho con người. Cách điều trị và phòng ngừa Điều trị đau đầu là biện pháp can thiệp nhằm làm giảm cường độ, giảm thời gian, giảm tần suất xảy ra cơn đau, hạn chế các triệu chứng đi kèm. Điều trị đau đầu được chia thành hai phương pháp: Điều trị cắt cơn Với mục tiêu nhằm chấm dứt cơn đau ngay khi nó bắt đầu xảy ra, điều trị cắt cơn thường sử dụng 2 nhóm thuốc: thuốc không cần kê đơn và thuốc kê đơn. Khi đau đầu, nhất là những cơn đau dữ dội, đa phần mọi người có xu hướng sử dụng thuốc giảm đau nhanh. Thuốc giảm đau sẽ hiệu quả, giúp bệnh nhân thoát cảnh “nhức đầu bưng bưng” có khi chỉ trong 15-30 phút sau khi uống. Tuy nhiên, thuốc giảm đau cũng chính là “con dao hai lưỡi”, tiềm ẩn nhiều rủi ro gây nên các bệnh lý khác. Thực trạng đáng lo ngại là mọi người không đến gặp bác sĩ để chữa đúng căn nguyên bệnh, thay vào đó họ lại “tự kê đơn”, chủ động điều trị bằng các loại thuốc giảm đau thông thường được bán không kê toa tại các nhà thuốc. Lưu trữ các loại thuốc giảm đau trong tủ thuốc tại gia là trường hợp dễ dàng nhận thấy ở hầu hết các gia đình. Tiến sĩ J-A Zwart thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy đã chứng minh việc uống thuốc giảm đau bừa bãi trong một tháng để điều trị các cơn đau mãn tính làm tăng nguy cơ đau nửa đầu gấp 7,5 lần so với bình thường. Hiệp hội Đau nửa đầu CHLB Đức (DMG) cảnh báo dùng thuốc giảm đau nhanh, mạnh để giải quyết các cơn nhức đầu sẽ dẫn đến hội chứng đau đầu vì lệ thuộc thuốc. Để tránh phải lệ thuộc, các chuyên gia khuyên không nên dùng thuốc giảm đau đầu nhanh mỗi lần lâu hơn 3 ngày và mỗi tháng nhiều hơn 10 ngày. Phòng ngừa bằng chất chống gốc tự do và thay đổi lối sống Nhằm giúp giảm số lần xảy ra và mức độ nghiêm trọng của cơn đau, đồng thời hỗ trợ điều trị làm giảm triệu chứng của các cơn đau nửa đầu, gần đây, các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu và chiết xuất thành công các hoạt chất sinh học quý như Anthocyanin và Pterostilbene có trong Blueberry, có tác dụng chống lại gốc tự do, bảo vệ thành mạch máu não. Hai hoạt chất này có trọng lượng phân tử nhỏ, dễ dàng vượt qua hàng rào máu não vừa trung hòa gốc tự do, đồng thời kích hoạt các men chống gốc tự do tự nhiên của cơ thể. Từ đó, góp phần ngăn chặn quá trình xơ vữa mạch máu, chống lại quá trình viêm và nuôi dưỡng mạch máu não, giúp phòng và cải thiện hiệu quả bệnh đau nửa đầu. Trong thực tế cuộc sống có rất nhiều phương pháp ngoài tân dược để làm giảm đau đầu, nhưng ít ai biết đến cách dùng lá đại bi có tác dụng làm giảm triệu chứng đau đầu vừa hiệu quả vừa an toàn lại rất tiện ích. Vậy tại sao lá đại bi lại có thể chữa được bệnh đau đầu và kể cả phòng ngừa được bệnh đau đầu xảy ra? Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về cây đại bi: B. TÌM HIỂU VỀ CÂY ĐẠI BI VÀ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA NÓ. 1. TỔNG QUAN 1.1 Mô tả thực vật 1.1.1 Tên gọi Đại bi có tên khoa học là Blumea balsamifera (L.) DC, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Ở Việt Nam, đại bi còn có nhiều tên khác tùy thuộc vào vùng miền: băng phiến, hoa mai băng phiến, mai phiến, long não hương, mai hoa não, đại ngải, ngải phiến, từ bi xanh, từ bi (miền Nam), bỏ nạt, co nát (Thái), phặc phà (Tày)... Ở nước ngoài, đại bi được biết đến với tên: Sambong (Philippin),Ngai-comphor (Anh), camphrée (Pháp)... 1.1.2 Mô tả thực vật Đại bi là một cây nhỏ, cao từ 1-2 m, thân có khía rãnh phân cành ở ngọn. Lá mọc so le, phiến lá hình bầu dục, dài 8-30 cm, rộng 3-6 cm, gân lá chằng chịt thành mạng lưới rất rõ ở hai mặt lá, mặt trên có màu lục sẫm có ít lông, mặt dưới có màu trắng nhạt và có lông nhạt. Mép lá gần như nguyên hay xẻ thành răng cưa và ở gốc lá thường có 2, 4 hay 6 thùy nhỏ do phiến lá dưới bị xẻ quá sâu (hình 1.1). Vò lá ta sẽ thấy mùi thơm dễ chịu của băng phiến. Cụm hoa gồm nhiều đầu màu vàng, trên hoa có nhiều lông tơ, họp thành ngù ở kẽ lá và đầu cành, đầu có đường kính 8-10 mm, có cuống ngắn, lá bắc xếp thành nhiều hàng, không đều nhau, trong đầu có nhiều hoa cái ở xung quanh, phần giữa làhoa lưỡng tính, mào lông có màu gỉ sắt, tràng hoa cái hình ống có 3 răng, tràng hoalưỡng tính gần như có hình trụ, 5 răng, 5 nhị, bầu hình trụ, hơi có lông (hình 1.2). Quả bế, có chùm lông ở đỉnh. Toàn cây có lông trắng mềm và thơm như long não. Mùa hoa quả vào tháng 3-5. Hình 1.1 - Cây đại bi. Hình 1.2 - Hoa cây đại bi. 1.1.3 Phân bố sinh thái Cây đại bi phân bố ở nhiều nước như Trung Quốc, Việt Nam và các nước nhiệt đới Nam Á, từ Ấn Độ qua Malaysia, Inđônêxia, Philippin… Ở nước ta cây mọc hoang khắp nơi ở trung du, đồng bằng, thường gặp ven đường, quanh làng, trên các đồng cỏ... Cây đại bi thường mọc ở những đồi núi đã phát quang có nhiều ánh sáng, không thấy trong rừng sâu, thường mọc thành bãi khá rộng, vì chưa có sự khai thác nên chưa thống kê được trữ lượng. 1.1.4 Tính vị và công năng Ở Việt Nam theo kinh nghiệm dân gian, cây đại bi được dùng để chữa trị rất nhiều bệnh: cảm cúm, ho, viêm họng, long đờm, sổ mũi, đau răng, chân răng loét, đau ngực, đau bụng, đau dạ dày, trị co thắt, sản hậu, đau lưng, đau bụng sau khi sinh, đau bụng kinh, cảm mạo, đau dạ dày, đầy bụng chứng khó tiêu, tiêu chảy, dùng ngoài chữa vết thương, chấn thương, chữa đinh nhọt, viêm mủ da, ngứa da, tan máu bầm, chữa ngất hôn mê ... Lá cây đại bi có tính kháng khuẩn, chống nấm, giải nhiệt, hạ sốt và làm giảm đau. Ngoài ra thuốc đắp từ lá cây đại bi giã nhỏ còn được dùng để điều trị bệnh trĩ. Giã nhỏ lá cây, trộn chung với rượu còn được dùng để xoa bóp cho trường hợp đau cơ, đau khớp. Lá cây đại bi còn dùng để tắm cho em bé và phụ nữ sau khi sinh. Nước sắc từ lá và rễ dùng để giảm sốt và đau dạ dày. Ở Ấn Độ, người ta dùng đại bi làm thuốc chữa trạng thái tâm thần bị kích thích, chữa chứng mất ngủ và bệnh cao huyết áp. Liều dùng 6-12 g lá, 15-30 g rễ hoặc dùng toàn thân sắc uống. Dùng ngoài lấy lá giã hoặc nấu lấy nước tắm có thể làm thuốc ngâm rượu để xoa bóp chỗ đau... Ở Philippin, cây đại bi (Sambong) được biết đến như là thuốc lợi tiểu, dùng để điều trị sỏi thận, dùng giảm huyết áp, điều trị tiêu chảy, bệnh lỵ và còn làm thuốc long đờm. Lá của cây đại bi cũng được dùng như trà tại Philippin. Sau đây là một số bài thuốc theo đông y để chữa bệnh bằng cây đại bi: 5. Chữa viêm họng mãn tính, viêm amidan: Mai hoa phiến 1g, phèn chua phi khô 2,5g, hoàng bá đốt thành than 2,0 g, đăng tâm thảo đốt thành 3,0 g, tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 3-4 g thổi vào cổ họng. Chữa chứng phong cấm khẩu, hôn mê: Mai hoa phiến xát mạnh vào chân răng. Chữa ho: Lá đại bi 200 g, lá chanh 50 g, rễ cà gai leo 100 g, rễ thủy xương bồ 100 g, củ sả 100 g, trần bì 50 g, tất cả phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần để được 700 ml dung dịch, lọc, rồi thêm 300 ml xi rô để được 1 lít cao. Ngày uống 40 ml, chia làm 2 lần. Chữa cảm ngất không tỉnh, phong thấp hoặc bị thương đau nhứt, đau bụng lạnh da, đi ngoài: Dùng 20-30 g lá sắc uống hoặc dùng tinh dầu mỗi lần uống 6 giọt, uống 3-4 lần. Chữa bị thương sưng đau, lở ngứa: Dùng lá đại bi nấu nước ngâm rửa chỗ đau và giã nát lá đắp vào chỗ đau. Chữa cảm mạo, ho, nóng sốt: Dùng 5-12 g lá đại bi nấu nước uống. Có thể nấu nước xông, dùng riêng hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu. Dùng lá phối hợp với một số dược liệu khác có tinh dầu lá chanh, lá bưởi, lá sả mỗi thứ một nắm. Tất cả cho vào nồi nước đun sôi rồi xông. Khi xông cần ngồi nơi kín gió. Dùng khăn trùm kín cả người và nồi nước xông, hơi nước có chất thơm bốc lên làm ra mồ hôi. Xông xong dùng khăn lau khô hết mồ hôi, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu ngay, hoặc chữa ho theo cách sau: lá đại bi 200 g, lá chanh 50 g, rễ cà gai leo 100 g, rễ thuỷ xương bồ 100 g, củ sả 100g, trần bì 50 g, tất cả phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần để được 700 ml dung dịch, lọc, rồi thêm 300 ml xi rô để được 1 lít cao. Ngày uống 40 ml, chia làm 2 lần. Chữa bệnh đau chân răng thối loét: mai hoa băng phiến và phèn phi mỗi lượng bằng nhau rắc vào chỗ đau. Chữa long đờm: lá đại bi giã nát với lá câu đằng đắp. Chữa đau bụng kinh: dùng rễ đại bi 30 g, ích mẫu 15 g sắc uống. Chữa ghẻ: lá đại bi tươi và lá hồng bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát lấy nước đặc bôi. Chữa cảm cúm, nhức đầu: lá quýt và những loại lá thơm khác như sả, cúc tần, đại bi, hương nhu, lá bưởi, lá chanh..., đun nước uống và xông cho ra mồ hôi. Chữa cảm cúm bằng cách xông, nồi nước xông gồm: lá tre, lá bưởi, lá sả, cúc tần, hương nhu mỗi thứ 20 g, tỏi 2-3 nhánh, đập giập. Tùy theo hoàn cảnh sẵn có của từng nơi, có thể thay thế bằng nhiều loại lá thơm khác như bạc hà, chanh, tràm, bạch đàn, đại bi, long não. Tất cả nấu với nước đến sôi, rồi xông từ từ cho hơi nước tỏa khắp thân thể cho ra mồ hôi trong 5-10 phút. Nằm nghỉ, đắp chăn tránh gió lạnh. Chữa thấp khớp: đại bi (thân, rễ) khô 20 g, ké đầu ngựa 10 g, bạch chỉ 20 g, thiên niên kiện 20 g: sắc uống ngày 1 thang. 1.2 Một số nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học *) Cây đại bi được thu thập ở 3 tỉnh (Hà Giang, Hà Nội, Đắc Lắc) cho thấy thành phần chính: borneol 57,82%, β-caryophyllen 8,27%, Δ-cadinol 7,95%, và caryophyllen oxit 3,10% (thu hái ở Hà Giang); borneol 50,57%, camphor 18,71%, β-caryophyllen 10,06%, Δ-cadinol 3,14%, patchoulen 2,99%, và veridiflorol 2,01% (thu hái ở Hà Nội); camphor 70,05%, β-caryophyllen 10,54%, borneol 5,70% và carvacrol 5,70% (thu hái ở Đắc Lắc). *) Năm 1985, từ lá cây đại bi các nhà khoa học Thái Lan đã cô lập được hợp chất cryptomeridiol là thành phần chính của thuốc chống co thắt. *) Năm 1988, lá cây đại bi thu thập từ Jakarta, Indonesia, cô lập được 5 sesquiterpen có hoạt tính chống lại tế bào bạch cầu (L-1210), những sesquiterpen này có nồng độ ức chế (L-1210) từ 5-10 μg/ml. *) Năm 1992, nhóm các nhà khoa học Ấn Độ cô lập 3 flavonoid mới từ cao cloroform của cây đại bi: (2R,3R)-5’-metoxy-3,5,7,2’-tetrahydroxyflavon; (2S)- 5,7,2’,5’- tetrahydroxyflavon và 7,5’-dimeto 3,5,2’trihydroxyflavon. *) Năm 2000, từ cao hexan (9,6 g) các tác giả người Thái Lan thu được 4 hợp chất: borneol; 5-hydroxy-7-metoxychromon; 5-hydroxy-3,7,3’,4’-tetrametoxyflavon và (2R,3R)-3,5,3’-trihydroxy-7,4’-dimetoxydihydroflavonol, trong đó hợp chất 5- hydroxy-7-metoxychromon được xác nhận là hợp chất đầu tiên cô lập được từ cây đại bi. *) Năm 2003, các thử nghiệm về hoạt tính chống oxy hóa các cao thô của cây đại bi cho kết quả cao metanol > cao cloroform > cao eter dầu hỏa. Cao metanol chứa nhiều polyphenol nhất. Thử nghiệm cũng cho kết quả cao chứa nhiều polyphenol sẽ có hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Hoạt tính chống oxy hóa của các hợp chất cô lập được từ cây đại bi (nồng độ 5, 2 x10-5 M) cho thấy tamarixetin có hoạt tính mạnh nhất: tamarixetin > rhamnetin > BHT > luteolin > BHA > α-tocopherol > quercetin > 5,7,3’,5’-tetrahydroxylflavanon > blumeatin > dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter > dihydroquercetin-4’-metyl eter. *) Năm 2004, từ lá khô cây đại bi (189g), nhóm các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Malaysia đã cô lập được một flavonoid mới đó là 3-O-7’’-biluteolin (800 mg), cùng với 3,4’,5-trihydroxy-3’,7-dimetoxyflavanon (500 mg) và 3,4’,5- trihydroxy-7-metoxyflavanon (100 mg). *) Gốc tự do với hoạt tính oxi hóa cao là một trong những nguyên nhân gây nên những căn bệnh nghiêm trọng như lão hóa, tim mạch, ung thư, tiểu đường... Chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ tự nhiên được biết hiện nay α -tocopherol lại có hoạt tính thấp hơn chất oxy hóa tổng hợp BHA, BHT. Vì thế việc tìm kiếm các chất chống oxy hóa nguồn gốc từ tự nhiên có hoạt tính cao hơn α -tocopherol, BHA và BHT là một trong những vấn đề cần thiết. Năm 2004, các nhà khoa học thuộc trường đại học dược và trường đại học hóa ở Malaysia đã tiến hành khảo sát thành phần hóa học trên lá cây đại bi và đã cô lập được 11 flavonoid: velutin và dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter từ cao eter dầu, blumeatin và luteolin-7-metyl eter từ cao cloroform và ombuin, tamarixetin, rhamnetin, luteolin, luteolin-7-metyl eter, quercetin, 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanon, blumeatin và dihydroquercetin-4’- metyl eter từ cao metanol. Tiến hành thử nghiệm hoạt tính ức chế gốc tự do DPPH của 11 flavonoid trên cho kết quả khả quan như sau: quercetin > rhamnetin>luteolin> luteolin-7-metyl eter> l-ascorbic acid > blumeatin > BHA > 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanon > tamarixetin > BHT >α -tocopherol> dihydroquercetin-4’-metyl eter > dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter. *) Năm 2005, nhóm nghiên cứu chuyên ngành huyết học xã hội Mỹ, đã công bố kết quả về khả năng ngăn chặn các tế bào ung thư máu bởi dihydroflavonol chiết xuất từ cây đại bi. *) Năm 2005, nghiên cứu về khả năng ức chế enzym XO, trong điều trị bệnh gút, trên các cao của cây đại bi cho kết quả: cao metanol > cao cloroform > cao eter dầu. Những flavonoid cô lập từ cao metanol có khả năng ức chế enzym XO cao hơn acid ascorbic (vitamin C) nhưng thấp hơn allopurinol. *) Năm 2005, thử nghiệm trên cao thô từ của cây đại bi với khả năng ngăn ngừa gốc tự do superoxid cho kết quả cao metanol ức chế cao nhất (93,91 ± 1,37%), cao cloroform ức chế (84,58 ± 1,51%), còn cao eter dầu hỏa không có hoạt tính. Những flavonoid cô lập từ cây đại bi cũng được thử khả năng ngăn chặn gốc tự do superoxid, trong đó hoạt tính của quercetin > luteolin > 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanon > blumeatin > rhamnetin > tamarixetin > luteolin-7-metyl eter > dihydroquercetin-4’-metyl eter > dihydroquercetin-7,4’-dimetyl eter., kết quả cho thấy quercetin có hoạt tính cao nhất. Thử nghiệm này đưa đến kết luận là những flavonoid có nhiều nhóm hydroxyl có hoạt tính ngăn ngừa gốc tự do superoxit cao hơn những flavonoid chứa nhóm metyl. *) Năm 2005, nhóm tác giả Ragasa đã cô lập được các hợp chất icthyothereol acetat (a), cryptomertidiol (b), lutein và β-caroten từ lá cây đại bi. Thử nghiệm chỉ ra hợp chất (a) có hoạt tính cao hơn hợp chất (b) đối với các chủng nấm Aspergillus niger, Trichophyton mentagrophytes và Candida albicans. Cả hai hợp chất đều không có hoạt tính với các chủng nấm Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis và Escherichia coli. *) Năm 2005, các tác giả thuộc trường đại học Chiba (Nhật bản) đã cô lập được 2 ester sesquiterpenoid mới và 9 flavonoid từ cây đại bi. Thử nghiệm trên tế bào bạch cầu cho kết quả: hợp chất (VII) có hoạt tính (IC50=26,2 μM) trong khi hợp chất (VI) không có hoạt tính (IC50>70 μM). Hai sesquiterpenoid mới này đều không có hoạt tính ức chế plasmin (enzym phân giải protein, còn gọi là fibrolysin). Thử nghiệm hoạt tính ức chế plasmin trên 9 flavonoid cô lập được từ cây đại bi cho kết quả (hình 1.11). Flavonoid (XII) và (XIII) có hoạt tính ức chế plasmin cao nhất (IC50=1,5 và 2,3 μM). *) Năm 2009, thành phần hóa học cây đại bi được các nhà khoa học Bangladesh phân tích và cho kết quả ở bảng 1.1. Bảng 1.1- Thành phần hóa học của lá cây đại bi. STTThành phần hóa học%STTThành phần hóa học% 1α-Pinen0,4826Aromadendren2,91 2Camphen0,4727Patchoulen0,11 3β-Pinen1,1628α-Selinen0,32 41-Octen-3-ol0,7129γ-Muurolen0,31 5β-Myrcen0,0630δ-Cadinen0,26 66-Undecanol0,1131Epicedrol0,49 7Limonen0,1932Neocloven, dihydro0,10 8(E) Ocimen1,1633β-Elemen1,23 9Linalool1,3134Geranyl iso-valerat0,07 10Camphor0,1135Ledol7,12 11Borneol33,2236Germacren -D-4-ol0,22 12Cuminal0,0637Caryophyllen oxit4,07 13Perillaldehydre0,2238Guaiol3,44 14Neryl acetat0,439Globulol1,12 15Perillol0,09402(1H)-Naptalen, octahydro-4-5a-metyl-7- (1-metyletyl)0,61 16Acid acetic2,08411,1-Dimetyl adamantan0,86 17Thujopsen-134,4242γ-Eudesmol3,18 18Aromadendren, dehydro0,1243Tetracyclo [6,3,2,0,(2.5).0(18)1,80 19Guaina-3,9-dien0,75444,4-Demetyladamanlaer-2-ol1,10 20ρ-Selinen0,1845Cycloisolongifolen, 8,9-dehydro0,16 213-Adamantancacboxylic acid phenylester0,2846Carotol0,27 22Cyclobexen, 1-(2-metyl-2- cyclopentenyl)-1-0,147Aromadendren oxit0,17 23Dimetoxyduren3,5948Adamantan, cyclopropyleden0,11 24Caryophyllen8,2449Isopatchoulan0,13 25α-Caryophyllen1,1950Phytol4,63 Như vậy, chúng ta thấy rằng bệnh đau đầu có nhiều nguyên nhân và qua nghiên cứu của các nhà khoa học thấy rằng gốc tự do là một trong những tác nhân nguy hiểm nhất làm khởi phát chứng đau nửa đầu. Vậy để phòng ngừa và ngăn chặn bệnh đau đầu thì ta cần tìm được những chất chống gốc tự do và thay đổi lối sống. Qua nghiên cứu các thành phần của lá đại bi có những chất có khả năng ngăn ngừa gốc tự do để có thể làm giảm nhanh chóng bệnh đau đầu và lại rất tiện lợi. C. SỬ DỤNG LÁ ĐẠI BI NHẰM PHÒNG TRÁNH VÀ LÀM GIẢM CƠN ĐAU ĐẦU. PHƯƠNG PHÁP 1: Dùng sắc nước uống Do lá đại bi có các thành phần chống o xy hoá cao cũng như ức chế được gốc tự do, là nguyên nhân của các bệnh đau đầu và lão hoá cơ thể, nên việc dùng lá đại bi sắc nước uống nhằm cung cấp cho cơ thể các thành phần chống lão hoá và ức chế gốc tự do sẽ làm giảm nguy cơ đau đầu và một số bệnh khác. Cách dùng: Cách 1: Nấu lá tươi. - Lá đại bi tươi rửa sạch sắc nước uống hàng ngày. Cách 2: Dùng lá khô -Lá đại bi cắt nhỏ sấy khô để vào hộp bảo quản nơi khô ráo có thể uống hàng ngày như uống trà có tác dụng chống lão hoá, .... và làm giảm nguy cơ đau đầu. Cách 3: Dùng cao lá đại bi -Lá đại bi nấu thành cao, khi cần dùng cho một lượng vừa phải vào nước nóng rồi dùng như nước trà. PHƯƠNG PHÁP 2: Dùng đắp ngoài: Ta thấy rằng lá đại bi có chứa từ 0,2 đến 1,88 tinh dầu đại bi khi đắp lên trán hoặc trùm vào đầu, dưới tác dụng của nhiệt độ vừa phải làm cho các tinh dầu khuếch tán nhanh chóng và thẩm thấu vào da đầu làm co dãn các mạch máu, lưu thông khí huyết giúp giảm mệt mỏi căng thẳng và làm cắt nhanh các cơn đau đầu. -Dùng lá tươi: Lá cây đại bi giã nhỏ, để vào túi vải, làm nóng vừa phải rồi đắp lên trán hoặc trùm vào đầu. Có tác dụng làm giảm cơn đau, dễ chịu, giảm căng thẳng, ... -Dùng lá khô: Lá cây đại bi cắt nhỏ, sấy khô, cho vào túi vải mềm, đắp lên trán và đầu có tác dụng làm giảm các triệu chứng đau đầu, căng thẳng và rất tiện lợi trong việc sử dụng. Bởi vì sản phẩm có thể dễ dàng để vào túi đưa đi làm việc, khi cần có thể lấy ra sử dụng ngay. PHƯƠNG PHÁP 3: Dùng sản phẩm mũ mát xa đầu. SẢN PHẨM: Mũ mát xa đầu *) Hình thức: Sản phẩm có hình thức giống một chiếc mũ gồm có bốn lớp: lớp vỏ ngoài cùng bảo vệ, lớp tiếp theo là màng tạo nhiệt có tác dụng giúp cho tinh dầu đại bi khuếch tán nhanh hơn và thẩm thấu tốt vào da đầu; lớp thứ ba có thể cho tinh dầu đại bi hoặc lá đại bi vào; ngăn cách giữa lớp thứ 3 và 4 là các lỗ nhỏ giúp cho tinh dầu thẩm thấu qua dễ dàng; lớp thứ 4 là lớp bao trong cùng nó được cấu tạo có sự lồi lõm hình tròn và mềm mại có tác dụng mát xa da đầu tăng sự hấp thụ các tinh dầu đại bi và nhấn lên các huyệt đạo giúp thư giãn và làm điều hoà lưu thông các mạch máu nhằm làm giảm mệt mỏi căng thẳng, tăng cường máu lên não và giảm đau đầu nhanh chóng. (Có bản mô tả sản phẩm dự thi và hình vẽ kèm theo) PHẦN III: KẾT LUẬN 1. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI. Những người khi dùng lá đại bi sắc nước uống làm giảm được nguy cơ bệnh đau đầu và hạn chế được số lần bị đau đầu đáng kể. Ngoài ra việc sử dụng nước lá đại bi cũng như đắp lá đại bi lên đầu đã có tác dụng rõ rệt trong việc điều trị và làm giảm nhanh triệu chứng đau đầu. Như vậy đã hạn chế được việc lạm dụng thuốc giảm đau tràn lan mà nhiều người mắc phải. Bảo đảm sức khoẻ cộng đồng, tăng hiệu suất trong công việc cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống. Ý tưởng về mũ mát xa đầu được thực hiện có tính khả thi cao, dễ làm dễ sử dụng và rất tiện lợi. Đối với mũ mát xa đầu có thể dùng cho nhiều người nhất là những người làm việc văn phòng có thể để trong túi và sử dụng vào giờ giải lao khoảng 5 phút cũng làm giảm căng thẳng đau đầu trong những giờ làm việc giúp hiệu quả công việc được tốt hơn. 2. NHẬN ĐỊNH VỀ CÁCH ÁP DỤNG VÀ MỞ RỘNG Ý TƯỞNG Đề tài được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm thực tế cũng như ý tưởng sáng tạo của bản thân, nhưng vì là một người không phải chuyên môn thuộc lĩnh vực y học nên sẽ có rất nhiều điều thiếu sót, cũng như vấn đề đưa ra chưa thể giải quyết được một cách triệt để và sâu sắc. Bởi vậy tôi mong rằng từ những ý tưởng này các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu để biến ý tưởng thành công trình nghiên cứu thực sự và một sản phẩm độc dáo tiện lợi đáp ứng được nhu cầu của người dân và từ đó sẽ được áp dụng rộng rãi cho mọi người. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trong bài thi xin phép có sử dụng một số kiến thức chuyên môn đã được công bố để làm căn cứ cho ý tưởng sáng tạo có tính thuyết phục. 1.Các nguyên nhân của bệnh đau đầu. (otv.vn.com) 2.Tìm hiểu về thành phần hoá học của lá đại bi (text.123doc.org) 3.Các tài liệu chuyên ngành liên quan. BẢN MÔ TẢ Ý TƯỞNG, SẢN PHẨM DỰ THI A. THÔNG TIN CHUNG: 1. Tên sản phẩm: MŨ MÁT XA ĐẦU 2. Ngày tạo ra sản phẩm: Năm 2016 3. Thuộc lĩnh vực: Y HỌC 4. Người dự thi: Đoàn Thị Phương Nam. Sinh năm: 17-12-1981. Địa chỉ liên hệ: Xóm 3, xã Lạc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Số điện thoại: 0979954199E-mail: phuongnam1217@gmail.com B. PHẦN TÓM TẮT NỘI DUNG SẢN PHẨM: Tóm tắt những điểm chính yếu nhất của sản phẩm, bao gồm các nội dung sau: 1.Vấn đề sản phẩm giải quyết được: - Sản phẩm gọn, nhẹ, dễ sử dụng có thể sử dụng được nhiều nơi như ở nhà hay ở cơ quan lúc thư giãn hoặc giờ giải lao - Khi bị căng thẳng hoặc đau đầu thì có thể dùng mũ mát xa đầu thư giãn trong khoảng 5 phút thì sẽ hiệu quả nhanh chóng. 2.Mô tả tóm tắt nội dung của sản phẩm; Sản phẩm có hình thức giống một chiếc mũ gồm có bốn lớp: lớp vỏ ngoài cùng bảo vệ, lớp tiếp theo là màng tạo nhiệt có tác dụng giúp cho tinh dầu đại bi khuếch tán nhanh hơn và thẩm thấu tốt vào da đầu; lớp thứ ba có thể cho tinh dầu đại bi hoặc lá đại bi vào; ngăn cách giữa lớp thứ 3 và 4 là các lỗ nhỏ giúp cho tinh dầu thẩm thấu qua dễ dàng; lớp thứ 4 là lớp bao trong cùng nó được cấu tạo có sự lồi lõm hình tròn và mềm mại có tác dụng mát xa da đầu tăng sự hấp thụ các tinh dầu đại bi và nhấn lên các huyệt đạo giúp thư giãn và làm điều hoà lưu thông các mạch máu nhằm làm giảm mệt mỏi căng thẳng, tăng cường máu lên não và giảm đau đầu nhanh chóng. 3.Kết quả đạt được của sản phẩm; Nhờ có mũ mát xa đầu này có thể làm giảm căng thẳng mệt mỏi, giảm đau đầu và lại rất tiện dụng. 4.Khả năng áp dụng. Có thể áp dụng rộng rãi cho mọi người và trong nhiều hoàn cảnh và công việc khác nhau cũng có thể mang theo để sử dụng. C. PHẦN MÔ TẢ NỘI DUNG SẢN PHẨM: 1. Mục đích của sản phẩm dự thi: Tạo ra một sản phẩm tiện lợi để ứng dụng tính năng làm giảm và phòng tránh bệnh đau đầu của lá đại bi đã nghiên cứu ở trên. Giúp mọi người có thể thư giãn những khi làm việc căng thẳng nhất là những người làm văn phòng ngồi trước máy tính nhiều. 2. Giới thiệu sản phẩm dự thi: a. Ý tưởng sản phẩm: Sản phẩm được sáng tạo dựa trên công dụng ngăn ngừa bệnh đau đầu của lá đại bi Thực tiễn: có các loại máy mát xa chân, mát xa cơ thể thì tại sao lại không sản xuất ra máy mát xa đầu nhằm giảm những căng thẳng mệt mỏi trong cuộc sống và công việc hằng ngày. b. Nguyên tắc vận hành, hoạt động của sản phẩm: - Sản phẩm có hình thức giống một chiếc mũ gồm có bốn lớp: lớp vỏ ngoài cùng bảo vệ, lớp tiếp theo là màng tạo nhiệt có tác dụng giúp cho tinh dầu đại bi khuếch tán nhanh hơn và thẩm thấu tốt vào da đầu; lớp thứ ba có thể cho tinh dầu đại bi hoặc lá đại bi vào; ngăn cách giữa lớp thứ 3 và 4 là các lỗ nhỏ giúp cho tinh dầu thẩm thấu qua dễ dàng; lớp thứ 4 là lớp bao trong cùng nó được cấu tạo có sự lồi lõm hình tròn và mềm mại có tác dụng mát xa da đầu tăng sự hấp thụ các tinh dầu đại bi và nhấn lên các huyệt đạo giúp thư giãn và làm điều hoà lưu thông các mạch máu nhằm làm giảm mệt mỏi căng thẳng, tăng cường máu lên não và giảm đau đầu nhanh chóng. - Trên mũ có cấu tạo để lắp pin, có công tắc nhiệt điều chỉnh nhiệt độ phù hợp, công tắc điều khiển độ rung của lớp mát xa. - Khi ta đội mũ vào rồi thắt quai mũ, bật công tắc nhiệt tạo nhiệt độ phù hợp để tinh dầu đại bi khuếch tán, xoay công tắc điều chỉnh độ rung thích hợp nhằm mát xa nhẹ nhàng, khi đó các tinh dầu đại bi thẩm thấu tốt lên da đầu có tác dụng thư giãn và giảm cơn đau. - Khi không có tinh dầu đại bi ta cũng có thể thay bằng các tinh dầu khác như tinh dầu tràm hoặc tinh dầu hoa oải hương. c. Cách lắp ráp, lắp đặt sản phẩm: Sản phẩm được thiết kế giống mô hình sẽ dễ dàng cho việc sử dụng và rất tiện lợi. d. Nguyên vật liệu làm ra sản phẩm: Các nguyên liệu như: nhựa cao cấp, vải, một số các chi tiết khác lựa chọn phù hợp. 3. Đánh giá sản phẩm: a. Tính mới và tính sáng tạo: + Điểm sáng tạo: Sản phẩm mới có tính sáng tạo và đạt được những tác dụng lớn trong việc chữa và làm hạn chế bệnh đau đầu và cũng rất tiện ích. + Đánh giá: □Mới hoàn toàn so với những sản phẩm đã biết trước đây ở trong nước Có thể lý giải thêm: ……………….....………………………………………….…….…............…….. ……………….....………………………………………….…….…............……… b. Khả năng áp dụng: + Trình bày về khả năng áp dụng vào thực tiễn của sản phẩm: (Có thể áp dụng cho những đối tượng nào, ở địa phương nào …) Có thể áp dụng cho mọi người. + Đánh giá: (đánh dấu vào những ô thích hợp hoặc viết riêng) □ Áp dụng trong đời sống xã hội (giải quyết những vấn đề xã hội: y tế...) □ Có khả năng tiến tới sản xuất đại trà Có thể lý giải thêm: ……………….....………………………………………….…….…............……….. ……………….....………………………………………….…….…............……… c. Hiệu quả: (đánh dấu vào những ô thích hợp hoặc viết riêng) x. Dễ sử dụng, vận hành. x. Chi phí sản phẩm thấp, nguyên vật liệu dễ tìm. x. Sản phẩm có thể ứng dụng rộng rãi. Có thể lý giải thêm: ……………….....………………………………………….…….…............……….. ……………….....………………………………………….…….…............……… 4. Phụ lục minh hoạ: □ Bản vẽ, sơ đồ. Nghệ An, ngày 15 tháng 4 năm 2016 Tác giả Đoàn Thị Phương Nam
Xem thêm

Đọc thêm

Những người nên hạn chế ăn tôm

NHỮNG NGƯỜI NÊN HẠN CHẾ ĂN TÔM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tôm rất giàu đạm, canxi, photpho, acid béo không cholesterol và các chất khoáng cần thiết cho cơ thể... Ăn tôm thường xuyên sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ và củng cố hệ xương khớp... Tuy nhiên, không phải ai cũng ăn được tôm. Nếu gặp những trường hợp dưới đây, không nên ăn tôm: Người đang bị ho Theo báo Gia đình và Xã hội, ăn tôm khi đang bị ho sẽ khiến bệnh càng nặng hơn bởi hệ hô hấp của những người đang bị ho rất dễ phản ứng với vị tanh từ tôm, khiến tình trạng ho sẽ dai dẳng lâu khỏi.   Người bị ho nên hạn chế ăn tôm. Ảnh minh họa. Trường hợp nếu bị ho do dị ứng, bạn nên kiêng tôm cho đến khi tình trạng ho chấm dứt, vì đôi khi hiện tượng ho có thể do hậu quả của dị ứng thực phẩm. Những người bị đau mắt đỏ Nhiều người cho rằng mắt tôm chứa nhiều giá trị dinh dưỡng rất tốt cho mắt. Ngoài ra nhiều người còn ví 2 mắt tôm có tác dụng như 2 viên viagra cho đàn ông. Nhưng trên thực tế thì quan niệm này vẫn chưa được một nghiên cứu hay tổ chức y tế, dinh dưỡng nào chứng nhận. Không những thế, theo các bác sĩ chuyên khoa, nếu bị đau mắt đỏ, ăn tôm vào sẽ làm tình trạng đau mắt đỏ trở nên trầm trọng hơn. Những người hay bị dị ứng   Người hay bị dị ứng không nên ăn tôm. Ảnh minh họa. Mặc dù tôm có giá trị dinh dưỡng cao nhưng phải là những thực phẩm tươi ngon, không bị nhiễm khuẩn. Những con tôm bị chết, ôi, ươn, hoặc nhiễm khuẩn thường không những không có giá trị dinh dưỡng mà còn có thể gây ngộ độc khi ăn, rất nguy hiểm cho sức khỏe. Vì thế, nếu bạn là người bị dị ứng với món ăn này (nổi mề đay khi ăn tôm) thì hãy lưu ý và tránh ăn nhiều. Ngoài ra, ngay cả người bình thường cũng không nên ăn quá nhiều tôm. Bởi vì theo báoVTC, tôm rất giàu đạm, canxi, photpho, acid béo không cholesterol và các chất khoáng nhưng ăn quá nhiều sẽ gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa...
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI THUỐC TRỊ BỆNH NHA CHU VIÊM

BÀI THUỐC TRỊ BỆNH NHA CHU VIÊM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nha chu viêm là chứng bệnh với triệu chứng: sưng đau răng lợi, chân răng bị sưng làm mủ, miệng hôi, bản thân răng cũng bị hủy hoại hoặc bị ăn mòn, đen xám, dễ mẻ vỡ tự nhiên làm cho lợi và răng không bám vào nhau làm lung lay nghiêng ngả. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh tiến triển có thể đưa đến mất răng. Nguyên nhân gây bệnh là do vị hỏa tích kết hợp với phong nhiệt gây nên bệnh cấp tính thuộc chứng thực. Bệnh lâu ngày làm vị âm hư và thận âm hư, tân dịch suy giảm gây hư hỏa bốc lên thành bệnh mạn tính thuộc chứng hư. Sau đây là một số bài thuốc theo từng thể.   Thể cấp tính Chân răng đỏ sưng đau, ấn mạnh có thể ra mủ; nếu đau nặng có thể gây sốt, ăn kém, táo bón, có hạch ở dưới hàm. Phương pháp chữa: Sơ phong thanh nhiệt, tiêu thũng. Dùng một trong các bài: Bài 1: Ngưu bàng giải cơ thang gia giảm: ngưu bàng 12g, bạc hà 6g, hạ khô thảo 12g, xích thược 8g, sơn chi 12g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, tạo giác thích 20g, xuyên sơn giáp 6g. Sắc uống.   Ngưu bàng là vị thuốc trị nha chu viêm thể cấp tính (Ảnh: Internet) Bài 2: ngưu bàng tử 12g, bạc hà 8g, hạ khô thảo 16g, kim ngân hoa 16g, bồ công anh 20g, tạo giác thích 8g. Sắc uống. Bài 3: Thuốc dùng tại chỗ: Thuốc cam xanh: thanh đại 0,39g, ngũ bội tử 0,1g, bạch phàn 0,1g, mai hoa băng phiến vừa đủ 0,6g. Mỗi lần dùng 0,05g - 0,1g. Súc miệng sạch, dùng tăm bông chấm thuốc, bôi đều lên chỗ đau; giữ thuốc tại chỗ đau càng lâu càng tốt (bôi thuốc sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ). Kết hợp day bấm các huyệt: giáp xa, hạ quan, hợp cốc, nội đình. Thể mạn tính Chân răng đỏ, viêm ít, có mủ ở chân răng, đau ít, răng lung lay, miệng hôi, họng khô, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế sác. Phương pháp chữa: Dưỡng âm thanh nhiệt. Dùng một trong các bài: Bài 1: sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sa sâm 12g, quy bản 12g, bạch thược 8g, kỷ tử 12g, kim ngân hoa 16g, ngọc trúc 12g. Sắc uống. Bài 2: Trị nha tiên đơn: sinh địa 32g, hoàng liên 3g, chi tử 8g, thạch cao 20g, tri mẫu 6g, hoàng cầm 6g, thục địa 32g, huyền sâm 32g. Sắc uống. Kết hợp day bấm các huyệt giáp xa, hạ quan, hợp cốc, túc tam lý, thận du, thái khê, nội đình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

4 loại bệnh có thể chữa được từ phần vứt đi của quả dưa hấu

4 LOẠI BỆNH CÓ THỂ CHỮA ĐƯỢC TỪ PHẦN VỨT ĐI CỦA QUẢ DƯA HẤU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhân hạt dưa có vị béo, thơm ngậy đặc trưng. Theo Đông y hạt dưa sống có tính mát, vị ngọt, hạt dưa rang chín có tính bình, tác dụng hạ nhiệt, tăng cường sinh lực, tuần hoàn máu tốt. Tuy nhiên, sử dụng hạt dưa sống chữa bệnh sẽ tốt hơn hạt dưa đã rang chín. Hạt dưa được các nhà nghiên cứu đánh giá là loại hạt có giá trị dinh dưỡng cao. Đặc biệt là nguồn Vitamin E, B1, B2, giàu protid, canxi, kẽm, sắt, lipit, glucid, phốt pho, selen,… Trong đó có hai chất đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của hệ thần kinh là protid và glucid.   Tác dụng chữa bệnh của hạt dưa hấu Hạ huyết áp Các axit béo không no chứa trong hạt dưa hấu có tác dụng hạ huyết áp trong các trường hợp bị huyết áp cao, xơ vữa động mạch. Do đó, những bệnh nhân bị cao huyết áp và xơ vữa động mạch nên thường xuyên ăn hạt dưa hấu sẽ rất có lợi. Chữa đau lưng Lấy hạt dưa hấu tươi bỏ vỏ ngâm với rượu trắng trong vòng 10 ngày sau đó đem phơi khô rồi tán bột. Người bị đau lưng nên uống từ 24-36g/ ngày, chia làm 2-3 lần uống, mỗi lần 12g.   Chữa ho, tiêu đờm Lấy 20g hạt dưa hấu sắc lấy nước uống hàng ngày sẽ hết ho, tiêu đờm rất nhanh. Chữa kiết lỵ Hạt dưa hấu bỏ vỏ đem phơi khô tán bột để uống. Ngày uống 2 lần khoảng 12-16g. Phòng ngừa bệnh tim mạch Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các axit béo không bão hòa đặc biệt là axit linoleic có tác dụng làm giảm lượng chất béo và cholesterol trong máu, hỗ trợ điều trị và phòng ngừa bệnh tim mạch.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cải bắp - thuốc trị loét dạ dày hiệu quả

CẢI BẮP - THUỐC TRỊ LOÉT DẠ DÀY HIỆU QUẢ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cải bắp có nhiều loại: cải bắp trắng, cải bắp đỏ, su hào, cải hoa… Đây là loại rau rẻ tiền, dễ mua, dễ kiếm, thường được chế biến thành các món luộc, xào, nấu canh, trộn gỏi, muối dưa… và còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh trong y học cổ truyền. Giá trị dinh dưỡng và dược tính Cải bắp, bắp cải hay sú, tên khoa học là Brassica oleracea L.var.capitata L, thuộc họ cải (Brassicaceae), là loại rau ôn đới được nhập vào trồng ở nước ta từ lâu tại một số tỉnh phía Bắc – Đà Lạt, các huyện ngoại thành TP.HCM và vùng đồng bằng sông Cửu Long… Người ta đã xác định trong cải bắp tươi có: 90g% nước, 1,8g% protid, 5,4g% glucid, 1,6g% cellulose, 1,2g% chất trơ. Cải bắp cũng giàu về muối khoáng, nhất là canxi (48mg%), phốtpho (31mg%). Lượng vitamin C trong cải bắp chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần càrốt; 3,6 lần khoai tây, hành tây! Cải bắp được dùng làm thuốc ở châu Âu từ thời thượng cổ. Ngày nay người ta biết nhiều hơn về tác dụng chữa bệnh của loại rau này như: có thể dùng làm thuốc trị giun; đắp ngoài làm thuốc tẩy uế và làm liền sẹo các vết thương, mụn nhọt, các vết thương ác tính, đồng thời là loại thuốc trị sâu bọ tốt (ong, nhện…) Nó còn được dùng làm thuốc giảm đau trong bệnh thấp khớp, thống phong, đau thần kinh hông (lấy lá cải bắp ủi cho mềm, sau đó đắp lên các phần bị đau); giúp làm sạch đường hô hấp bằng cách dùng đắp (trị viêm họng khàn tiếng), hoặc uống trong (chữa ho, viêm sưng phổi). Cải bắp cũng là thuốc chống hoại huyết, trị lỵ và là nguồn cung cấp lưu huỳnh cho cơ thể. Nước sắc bắp cải dùng để lọc máu. Đặc biệt cải bắp còn là vị thuốc chống kích thích thần kinh và chứng mất ngủ rất tốt. Những người hay lo âu, học sinh sắp đi thi, người bị suy nhược thần kinh, mệt mỏi liên miên nên dùng cải bắp thường xuyên.   Nếu dùng tươi, vitamin U trong cải bắp có tác dụng chữa loét dạ dày. Nước cải bắp giúp khoẻ dạ dày Người ta còn sử dụng cải bắp để chữa đau dạ dày, xuất phát từ thông tin vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày – tá tràng, viêm dạ dày – ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị huỷ ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này. Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 – 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 – 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 - 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng 2 tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm. Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụng chữa bệnh như cải bắp. Theo GS.TS Võ Văn Chi, Chuyên gia cây thuốc Việt Nam, nguyên giảng viên đại học Y dược TP.HCM.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phòng bệnh đau mắt đỏ

PHÒNG BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bệnh đau mắt đỏ lây qua đường hô hấp, qua tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh như nước bọt, ghèn, nước mắt... hoặc qua tiếp xúc trực tiếp như dùng chung khăn, gối, tay bị nhiễm dụi vào mắt. Muốn tránh lây lan, người bệnh phải đeo khẩu trang, đeo kính để bảo vệ mắt; không dùng chung đồ đạc với người khác, tránh sinh hoạt chung trong phòng máy lạnh hay phòng kín gió. Không cần nhỏ thuốc khi chưa mắc bệnh vì thuốc nhỏ mắt không phòng ngừa được bệnh đau mắt đỏ. Khi nhiễm Adenovirus, bệnh nhân có triệu chứng giống bị nhiễm siêu vi như hơi nóng sốt, hơi mệt mỏi, đau họng nhưng những triệu chứng này rất mơ hồ, thường đau hạch trước tai (đụng vào rất đau). Mắt còn có những triệu chứng đặc trưng như đau, đỏ, cộm, xốn cả 2 bên, chảy nước mắt, sưng phù mi nhưng nhìn không bị mờ, dịch tiết (ghèn) thường trong, nhiều hay ít tùy trường hợp, ghèn làm dính mi khi ngủ dậy. Khi bị bội nhiễm vi trùng, ghèn thường đục, nhiều và màu vàng. Nếu không bị bội nhiễm hay biến chứng, bệnh sẽ tự khỏi sau 7 đến 10 ngày. Khi phát hiện mắt đỏ hay cảm giác khó chịu ở mắt, người bệnh nên đi khám tại bác sĩ chuyên khoa mắt để được hướng dẫn đúng và kịp thời, đồng thời phát hiện những bệnh nguy hiểm khác có thể nhầm với đau mắt đỏ như glocoma, viêm màng bồ đào, viêm loét giác mạc...   Không dùng cùng một lọ thuốc nhỏ mắt cho nhiều người (Ảnh minh họa) Bệnh nhân cần đeo khẩu trang, đeo kính, tránh dùng chung đồ dùng với người khác và tránh đến nơi đông người ít nhất 3-5 ngày. Không dùng cùng một lọ thuốc nhỏ mắt cho nhiều người. Nên dùng bông gòn sạch thấm dịch tiết nhẹ nhàng một lần rồi bỏ đi, tránh dụi mắt, tránh chạm vào bên trong mắt, nhất là tròng đen vì có thể gây viêm hay loét giác mạc. Cần rửa tay bằng xà bông nhiều lần trong ngày, trước và sau khi tra thuốc nhỏ mắt. Việc điều trị không thể diệt được virus gây bệnh mà chỉ điều trị tùy theo triệu chứng: Nếu mắt đỏ ít, không sưng phù nhiều, ghèn trong thì chỉ cần nhỏ nước muối sinh lý. Nếu mắt có ghèn đục, có thể nhỏ kháng sinh. Chỉ dùng thuốc kháng viêm sau khi đã được bác sĩ mắt khám và kê toa. Tự ý mua thuốc kháng viêm nhỏ mắt có thể dẫn đến biến chứng trên giác mạc, tăng nhãn áp... Có thể dùng kháng sinh toàn thân nếu bác sĩ thấy cần thiết. Bệnh đau mắt đỏ thường xảy ra theo mùa, nhất là những tháng giao mùa giữa hè và thu hay mùa đông. Việc phòng ngừa rất cần thiết - nhất là ở những người có cơ địa yếu, người lớn tuổi, bị bệnh mạn tính, trẻ em... - bằng cách rửa tay sạch, tránh tiếp xúc với những bệnh nhân đau mắt đỏ. Tránh đến nơi đông người như nhà hàng, khách sạn, quảng trường, bệnh viện... khi mùa dịch đến.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Chữa đau lưng bằng 6 loại cây cỏ dễ kiếm, rẻ tiền

CHỮA ĐAU LƯNG BẰNG 6 LOẠI CÂY CỎ DỄ KIẾM, RẺ TIỀN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cây xấu hổ   Trong y học cổ truyền cây xấu hổ có vị ngọt, hơi se, tính hơi hàn, có tác dụng trấn tĩnh, an thần, chống viêm. Nó được coi là cây thuốc nam chữa đau lưng nhức mỏi xương. Mỗi ngày dùng từ 15-20 rễ cây xấu hổ đã sao vàng uống thay nước sẽ trị được bệnh đau lưng. Ớt Khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng ớt có chứa chất capsicain có tác dụng kích thích não tiết ra hóc môn endorphin, có khả năng gây tê và giảm đau. Trong y học cổ truyền ớt cũng được dùng để chữa trị đau lưng. Dùng 10- 15 quả ớt chín, lá đu đủ, rễ cây ớt giã nhỏ có thể cho thêm một chút rượu sau đó xoa bóp chỗ đau. Lá lốt Lá lốt thường được dùng trong các món ăn hàng ngày nhưng theo y học cổ truyền lá lốt có tác dụng giảm đau, chống viêm được dùng chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay rất hiệu quả. Lá lốt và lá ngải cứu, liều lượng bằng nhau, giã nát, chế thêm giấm, chưng nóng đắp, chờm ngày 2 lần để giảm đau lưng.   Lá lốt có tác dụng giảm đau, chống viêm được dùng chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay rất hiệu quả (Ảnh: Internet) Gừng tươi Chất cay trong gừng tươi đã được chứng minh có khả năng chống lại quá trình ôxy hóa, giảm đau tức thời nhất là cơn đau lưng. Dùng 20g gừng tươi, 15g hành củ, 30g bột mỳ sao nóng rồi đáp nên chỗ đau. Ngải cứu Ngải cứu có chứa tinh dầu cineol, tricosanol, archly… có khả năng xoa dịu dây thần kinh và thấp khớp và được dùng chữa đau lưng rất tốt. Cách dùng: Lấy ngải cứu rửa sạch sao nóng đắp lên chỗ đau. Rễ cây đinh lăng Trong y học cổ truyền đinh lăng được ví như “sâm nam” vì nó có tác dụng chữa bệnh rất lớn dùng để thông huyết bổ khí. Rễ cây đinh lăng đã được khoa học chứng minh có chứa tới 13 loại acid amin khác nhau như: lyzin, xytein, vitamin B1… Ngoài ra nó còn chứ một số hoạt chất có lợi khác như: saponin trerpe, alcalot. Dùng từ 20-30g rẻ đinh lăng sắc uống hàng ngày để trị đau lưng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

HOA TAM THẤT - VỊ THUỐC HẠ HUYẾT ÁP

HOA TAM THẤT - VỊ THUỐC HẠ HUYẾT ÁP

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo dược thư cổ, hoa tam thất vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt), bình can (điều hòa chức năng của tạng can), giáng áp (hạ huyết áp) và an thần, trấn tĩnh, thường được dùng để chữa các chứng và bệnh như tăng huyết áp, huyễn vựng (hoa mắt, chóng mặt trong hội chứng rối loạn tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não...), nhĩ minh, nhĩ lung (tai ù, tai điếc), viêm hầu họng cấp tính... Với y học hiện đại, hoa tam thất có thành phần chính là hoạt chất của nhân sâm Rb1, Rb2, có vị ngọt, mát và có tác dụng làm giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, giúp tăng cường tuần hoàn máu. Thanh nhiệt: hoa tam thất có tác dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt); Bình can: (điều hòa chức năng của tạng can); Bổ huyết (chống thiếu máu), cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết; Chống viêm tấy, giảm đau, chữa trường hợp viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương; Tốt cho hệ thần kinh như tác dụng an thần, trấn tĩnh, dễ ngủ và ngủ sâu giấc (chữa các chứng mất ngủ, ngủ hay mơ và nghiến răng); Chữa tăng huyết áp bởi hoa tam thất có tác dụng giáng áp (hạ huyết áp); Phòng ngừa các biến chứng tim mạch, tai biến mạch máu não, ngăn ngừa chứng lú lẫn ở người già; Làm tăng lực cụ thể như giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, rất tốt cho người ăn uống kém, lao động quá sức, hay ra mồ hôi trộm; Ngăn ngừa, phòng chống bệnh như là kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, tăng sức đề kháng giúp cơ thể phòng chống bệnh tật về lâu dài, sử dụng thường xuyên sẽ nâng cao tuổi thọ.   Hoa tam thất khô Ngoài ra, còn có khả năng ngăn ngừa, phòng chống bệnh ung thư, cụ thể là tác dụng ức chế sự hình thành và phát triển của khối u; Chữa các bệnh do thiếu máu lên não nhờ khả năng làm tăng cường máu lên não chữa các chứng bệnh đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, choáng; Chữa nhĩ minh, nhĩ lung tức là chữa các chứng bệnh tai ù, tai điếc. Rất tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc gan, hạ men gan; Điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên rất tốt với người gan nhiễm mỡ. Chữa tiểu đường: hạ đường huyết, giúp bệnh nhân tiểu đường mạnh khỏe và giảm các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra. Làm đẹp, giảm béo: chống lão hóa, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên làm giảm béo tốt, nhất là béo bụng, béo đùi; Tác dụng thanh nhiệt (làm mát, giải nhiệt), giải độc gan, hỗ trợ chữa và phòng chống mụn, nám da, giúp cho làn da sáng đẹp. Song còn tác dụng lợi sữa cho phụ nữ sau sinh. Cách sử dụng hoa tam thất trong trị liệu rất đơn giản: Mỗi ngày dùng từ 2 - 3g, pha vào nước sôi uống như trà đến khi hết vị ngọt đắng thì hãy thay ấm khác.
Xem thêm

1 Đọc thêm

THẠCH CAO LÀM THUỐC TRONG ĐÔNG Y

THẠCH CAO LÀM THUỐC TRONG ĐÔNG Y

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thạch cao là chất vô cơ (calci sunfat ngậm nước), ngoài ra, có thể lẫn đất sét, cát, các hợp chất sunfua, Fe và Mg. Để làm thuốc, dùng loại thạch cao mềm, còn loại khô cứng (bột thạch cao nung) thường dùng trong ngoại khoa chấn thương để băng bó. Thạch cao là vị thuốc dùng nhiều trong Đông y, vị ngọt, cay, tính rất hàn; vào các kinh phế, vị và tam tiêu. Sau đây là một số cách dùng thạch cao chữa bệnh: Thanh nhiệt, giáng hỏa: Bài 1: thạch cao sống 24g, tri mẫu 12g, cam thảo 8g, ngạnh mễ 8g. Sắc uống. Công dụng: thanh nhiệt sinh tân. Trị dương minh nhiệt thịnh, đổ mồ hôi nhiều, phiền khát (biểu hàn lý nhiệt). Bài 2: thạch cao sống 150g, kim ngân hoa 16g, liên kiều 16g, bản lam căn 24g, tri mẫu 20g, cam thảo 4g, bạc hà 4g. Sắc uống. Trị viêm màng não B thời kỳ đầu, phát sốt, buồn ngủ hoặc háo khát. Mát phổi, dịu hen: Bài 1: thạch cao sống 20g, ma hoàng 6g, hạnh nhân 4g, cam thảo 2g, kim ngân hoa 6g, bản lam căn 10g, Sắc uống. Đơn thuốc này thường dùng cho trẻ 1 - 3 tuổi; trị viêm phổi thời kỳ đầu và giữa, suyễn, mình sốt, có mồ hôi hoặc không có mồ hôi, miệng khát, khô háo bứt rứt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng khô, mạch nhanh và mạnh.   Cháo thạch cao sữa đậu nành (Ảnh: Internet) Bài 2: thạch cao sống 12g, trúc diệp 4g, mạch đông 12g, bán hạ 6g, cam thảo chích 4g, ngạnh mễ 12g, sa sâm 12g, hoàng cầm 8g, tỳ bà diệp 8g. Sắc uống. Trị viêm phổi thời kỳ cuối và giữa, hơi sốt hoặc sốt nhẹ, suyễn không rõ, ít mồ hôi hoặc hơi có mồ hôi, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc rêu vàng, mạch hư. Mát dạ, tiêu khát: thạch cao 20g, tri mẫu 6g, ngưu tất 6g, thục địa 20g, mạch đông 8g. Sắc uống. Thanh vị nhiệt, tả vị hỏa, bổ thận tư âm. Trị âm hư, dạ dày bốc hỏa, đau đầu, nhức răng, khát, bứt rứt, mất máu. Thanh nhiệt, tiêu ban: thạch cao sống 32g, tri mẫu 16g, cam thảo 8g, canh mễ 8g, tê giác 4g, huyền sâm 16g. Sắc uống. Công dụng: thanh nhiệt lương huyết, tư âm giải độc. Trị ôn bệnh phát ban do vị hỏa vượng, huyết nhiệt thịnh hoặc mắc phải thời khí kèm theo huyết nhiệt gây sốt, mê sảng, phát ban. Một số món ăn thuốc có dùng vị thạch cao: Cháo thạch cao trúc diệp: thạch cao 45g, trúc diệp tươi 12g, gạo tẻ 100g. Thạch cao, trúc diệp nấu lấy nước bỏ bã; dùng nước này để nấu với gạo thành cháo. Khi cháo được cho thêm đường phèn hoặc đường trắng vừa ăn. Dùng cho trường hợp sốt cao, họng khô, khát nước. Chè thạch cao thông bạch: dùng thạch cao, hành sống và chè tươi hoặc chè gói liều lượng tùy ý, nấu hãm lấy nước cho uống. Dùng cho trường hợp đau đầu trong các bệnh đau nửa đầu, đau đầu do sốt siêu vi trùng, bệnh tăng huyết áp... Cháo thạch cao: thạch cao 250g, gạo tẻ 100g, hành sống 2 củ, sữa đậu nành 20 - 40ml. Thạch cao nấu lấy nước bỏ bã, lấy nước nấu với gạo thành cháo. Khi cháo được cho hành đã giã nát và sữa đậu nành vào, khuấy đều cho ăn khi đói. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, đau đầu, kinh giật vật vã, kích động. Canh thạch cao củ năn: củ năn tươi 250g, thạch cao 30g. Củ năn bóc vỏ rửa sạch, thạch cao đập vụn; nấu trong khoảng 30 phút, cho thêm đường phèn khuấy đều, để nguội cho ăn. Dùng cho trường hợp đau đầu, đau mắt do tăng huyết áp, tăng nhãn áp, sốt cao đau đầu trong các bệnh siêu vi trùng như sốt xuất huyết... Kiêng kỵ: Vị thuốc này trị các chứng thực, dương nhiệt có dư; người dương hư kiêng dùng. Không dùng bột thạch cao nung để uống, nếu uống sẽ hút nước trương nở làm tắc ruột. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những dấu hiệu lão hóa sớm ở đàn ông

NHỮNG DẤU HIỆU LÃO HÓA SỚM Ở ĐÀN ÔNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một số thay đổi sinh lý sau đây cảnh báo cơ thể bạn đang dần bị lão hóa. Mắt kém đi Trừ trường hợp bạn mắc những bệnh về mắt thì thị lực yếu đi chứng tỏ sức khỏe về mắt bạn có vấn đề, ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của huyết dịch, gây ảnh hưởng đến sự trao đổi chất tại thần kinh thị lực gây ra hiện tượng thị lực bị giảm sút. Nếu thấy xuất hiện đồng thời những triệu chứng sau: giảm thị lực, dễ bị mỏi mắt, đau mắt, khô mắt, nhìn thấy lờ mờ, khó chịu khi nhìn ánh sáng, thậm chí bị đau đầu thì nên tiến hành kiểm tra thị lực xem có mắc các chứng bệnh như: cận thị, viễn thị, chứng giảm sức nhìn, loạn thị, bệnh tăng nhãn áp, bệnh đục nhân mắt, bệnh hoa mắt hay không… Nếu bạn đã đeo kính thường hay kính sát tròng thì hàng tháng phải đi kiểm tra thị lực định kỳ. Bình thường thì mỗi hai năm nên kiểm tra một lần, nếu như mắc phải các bệnh như đái tháo đường, cao huyết áp hoặc gia đình có tiền sử cận thị thì ít nhất mỗi năm nên kiểm tra mắt một lần. Thủy tinh thể trong mắt đàn ông không ngừng dày lên cùng với sự tăng trưởng của tuổi tác. Đàn ông sau tuổi 50 sẽ dần suy thoái rõ rệt và điểm nhìn tập trung không chuẩn. Rụng tóc Tóc rụng là một trong những biểu hiện nói cho bạn biết rằng “năng lực đàn ông” của bạn đang có vấn đề. Việc rụng tóc thường xuất hiện do có nguyên nhân là bị ức chế thần kinh. Cùng với tuổi tác gia tăng, số lượng tóc ở trên da đầu đàn ông  ngày càng giảm đi, tóc càng ngày càng thưa, tốc độ mọc của tóc cũng ngày càng chậm, mức độ hói ngày càng lan rộng. Khi con người bạn luôn trong tình trạng căng thẳng và áp lực công việc lớn, tinh thần và áp lực tâm lý tăng lên, bài tiết và tuần hoàn huyết dịch trong cơ thể bị rối loạn, gây rụng tóc, đầu ngày càng thưa tóc. Dấu hiệu bệnh tim mạch Đàn ông trong độ tuổi trung niên thường gặp những rắc rối về sức khỏe do sự suy giảm chức năng sinh lý cũng như lão hóa. Đây cũng là thời điểm xuất hiện nhiều bệnh nhất.   Khi bạn có cảm giác bị đau ngực có thể là dấu hiệu của cơn đau do căn bệnh tim mạch đang tấn công (Ảnh minh họa) Khi bạn có cảm giác bị đau ngực có thể là dấu hiệu của cơn đau do căn bệnh tim mạch đang tấn công. Nếu cảm giác đau ngực đi kèm với cơn đau ở cánh tay trái, đau hàm, toát mồ hôi và khó thở thì nguy cơ càng lớn. Nếu bỗng nhiên đau thắt ngực, kèm theo khó thở cần lập tức gọi bác sĩ. Khả năng nghe giảm sút Hệ tuần hoàn máu không ổn định cũng gây ảnh hưởng tới lưu lượng máu tới các dây thần kinh trong tai gây ra tình trạng thính lực giảm ở đàn ông. Ngoài ra, sống ở những thành phố lớn ồn ào, những ảnh hưởng tới thính lực khi còn trẻ thì không rõ ràng nhưng khi bắt đầu bước vào tuổi 30 thì suy giảm này đã có thể cảm nhận được rõ ràng. Theo Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, lão hóa có thể gây giảm thính lực ít nhất là trước tuổi 60. Những người tiếp xúc với tiếng ồn và không bảo vệ tai sẽ giảm thính lực ở tuổi trẻ hơn. Chức năng phổi giảm Hơi thở nhanh và gấp ngay cả khi bạn đi bộ chậm, điều này cho thấy chức năng của phổi đang giảm sút. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, điều này có mối liên quan mật thiết với việc chàng đang xuống “phong độ” trong chốn the phòng. Loãng xương Ngày nay những nhân viên, công chức, tận dụng quá nhiều nhiều tiện nghi hiện đại, ít vận động, làm việc tĩnh tại, ngồi lâu trong các văn phòng, công sở đều có nguy cơ loãng xương và gãy xương. Một số tình trạng bệnh lý khác ở đàn ông như suy sinh dục, ung thư tiền liệt tuyến phải điều trị bằng hóa chất, bệnh lý viêm mạn tính, cường giáp và tăng canxi niệu, phải điều trị bằng thuốc corticoid đều làm trầm trọng thêm tình trạng loãng xương. Một số thuốc khác dùng ở nam giới tuy không làm loãng xương nhưng lại có thể làm tăng khả năng bị ngã dẫn đến gãy xương như thuốc ngủ, an thần, chống động kinh, điều trị bệnh Parkinson. Giảm nhu cầu ham muốn tình dục Các chuyên gia tâm lý cho biết, ở đàn ông ngoài 30 tuổi, nếu thấy nhu cầu ham muốn chuyện gối chăn suy giảm có nghĩa là tâm lý có vấn đề. Những biểu hiện chủ yếu là: khả năng phản ứng về tính dục chậm chạp hẳn, sau khi quan hệ cảm thấy rất mệt mỏi, khoảng cách thời gian giữa các lần để dương vật cương cứng dài hơn trước. Khi nam giới có cảm giác “trên bảo dưới không nghe” sẽ làm gia tăng sự phiền muộn và sự suy giảm đó ngày càng nặng nề hơn. Tuy khả năng tính dục của nam giới tuân theo quy luật vể tuổi tác là có thật, nhưng nếu chúng ta có những phươngthức chăm sóc cơ thể một cách đúng mức thì việc kéo dài khả năng đó vẫn luôn là có thể. Gặp vấn đề về răng miệng Đàn ông sau 30 tuổi dễ gặp vấn đề về khoang miệng nếu không chú ý vệ sinh. Đồng thời tư thế đánh răng không chính xác, chân răng yếu, cao răng dễ tích tụ, vi khuẩn càng hoạt động nhiều hơn.  Do đó nên chải răng sau khi ăn xong với cách chải răng đúng cách, đặc biệt là sau bữa sáng và bữa tối. Mệt mỏi Đối với đàn ông ở độ tuổi 30, công việc và cuộc sống đã làm cho họ cảm thấy mệt mỏi, uể oải. Đây có thể là do áp lực tâm lý rất lớn hoặc thay đổi nội tiết cơ thể mà gây ra. Điều này cũng thể hiện lượng testosterone trong cơ thể đã giảm sút, điều này ảnh hưởng đến đời sống tình dục của đàn ông.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lá dâu: Mát gan, sáng mắt

LÁ DÂU: MÁT GAN, SÁNG MẮT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Lá dâu còn gọi tang diệp, là lá của cây dâu tằm, loại cây được nhân dân ta nuôi trồng từ lâu đời để nuôi tằm. Lá dâu là vị thuốc phổ biến trong y học cổ truyền, vị đắng ngọt, tính hàn; vào phế và can. Có tác dụng phát tán phong nhiệt, thanh can minh mục, thanh phế chỉ khái. Dùng cho các trường hợp cảm mạo phong nhiệt, đau đầu, đau mắt đỏ, viêm khí phế quản, ho khan ít đờm, khát nước khô miệng. Cách dùng tang diệp làm thuốc: Tán nhiệt, giải biểu: Dùng nước tang cúc: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, bạc hà 4g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, lô căn 20g. Sắc uống. Dùng cho các chứng cảm mạo phong nhiệt mới phát, miệng khát, rêu lưỡi hơi vàng hoặc ho do phong ôn.   Lá dâu là vị thuốc trị nhiều bệnh. Mát gan, sáng mắt: Chứng phong nhiệt ở kinh can, mắt đỏ sưng đau. Bài 1: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, thảo quyết minh 8g. Sắc uống. Trị viêm màng tiếp hợp, mắt đỏ sưng đau. Bài 2: tang diệp 63g, mang tiêu 12g. Sắc lá dâu lấy 500ml nước, bỏ bã, hoà tan mang tiêu, rửa mắt khi còn ấm. Trị đau mắt hột, đau mắt, ngứa mắt. Mát phổi, dịu ho do phong nhiệt, đờm vàng đặc hoặc ho khan không đờm: Dùng Thang tang hạnh: tang diệp 8g, hạnh nhân 12g, bối mẫu 8g, đậu xị 4g, chi tử bì 8g, lê bì 8g, sa sâm 8g. Sắc uống. Trị ho khan không đờm do khí hanh mùa thu, đau đầu, phát sốt, lưỡi đỏ. Hạ huyết áp: tang diệp 20g, tang chi 20g, sung uý tử 20g, thêm 1.000ml nước, sắc lấy 600ml; ngâm rửa chân 30-40 phút trước khi ngủ. Món ăn - bài thuốc có tang diệp Bài 1: Trà tang diệp, cúc hoa, bạc hà, cam thảo: tang diệp 10g, cúc hoa 10g, bạc hà 10g, cam thảo 10g. Cho nước sôi pha hãm uống thay nước trà. Dùng cho các trường hợp cảm mạo phong nhiệt. Bài 2: Trà tang diệp, cúc hoa, kỷ tử, quyết minh tử: tang diệp 9g, cúc hoa 9g, kỷ tử 9g, quyết minh tử 6g, pha nước sôi uống thay trà. Dùng cho các trường hợp đau đầu hoa mắt chóng mặt. Bài 3: Tang cúc - đạm trúc ẩm: tang diệp 6g, cúc hoa 6g, đạm trúc diệp 30g, bạch mao căn 30g, bạc hà 4g; hãm với nước sôi thêm chút đường uống thay trà. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, ho khan ít đờm, vã mồ hôi do cảm mạo phong nhiệt, viêm kết mạc mắt cấp tính. Bài 4: Cháo tang diệp - cúc hoa: tang diệp 10g, cúc hoa 12g, đậu xị 10g, gạo tẻ 60g. Các dược liệu nấu sắc lấy nước, gạo đem nấu cháo, cháo chín cho nước sắc vào nấu tiếp cho sôi đều, cho ăn nóng. Dùng cho các trường hợp đau nhức vùng mắt do viêm kết mạc mắt, đau dây thần kinh V do chấn thương vùng mặt. Bài 5: Phổi lợn hầm tang diệp, huyền sâm: phổi lợn 250g, tang diệp 15g, huyền sâm 20g. Tang diệp, huyền sâm gói trong vải xô, phổi lợn rửa sạch thái lát. Tất cả hầm kỹ, bỏ túi dược liệu ra, thêm gia vị thích hợp để ăn. Đợt dùng liên tục 5-10 ngày. Dùng cho các trường hợp viêm tắc tuyến lệ gây viêm khô kết mạc mắt. Liều dùng hằng ngày 6 - 15g dưới dạng nấu, hãm, sắc uống.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT MỔ TIM LỌC THẬN DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG CÁCH ĐỀ PHÒNG VÀ CÁCH CHỮA

NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT MỔ TIM LỌC THẬN DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG CÁCH ĐỀ PHÒNG VÀ CÁCH CHỮA

liệt dài 3cm, và niệu đạo màng dài hơn 1cm xuyên qua cận đáy chậu giữa,khi bị vỡ xương chậu thì dễ bị tổn thương, còn niệu đạo tuyến tiền liệt dễ bịtổn thương khi nội soi tiết niệu.Niệu đạo trước dài 10-12cm trong dương vật, trong bìu và niệu đạo tầngsinh, có vật xốp bao quanh khi bị tổn thương dễ làm hẹp niệu đạo.Niệu đạo nữ cố định dài 3cm giống như niệu đạo sau của nam giới liên quanvới thành trước âm đạo.Nguyên nhân hình thành sạn trong thận :Do cơ thể dư thừa calci không được thận tái hấp thụ, do ăn nhiều thức ăn đồbiển như tôm cua, ốc, sò, do cholesterol và dư thừa các chất béo kết tủa, gọilà nguyên nhân rối loạn chuyển hóa.Thành phần cấu tạo sạn có 2 loại :Sạn vô cơ như sạn oxalat canxi: hay gặp mầu đen, gai góc cản quang rõ.Sạn photphat calci: có mầu vàng nhạt hoặc trắng bẩn, dễ vỡ.Sạn carbonat calci: có mầu trắng như mầu phấn, mềm dễ vỡ.Sạn hữu cơ như :Sạn urat: mầu trắng gạch cua, có thể không cản quang mềm và hay tái phát.Sạn systin: nhẵn, mầu vàng nhạt, mền hay tái phát.Sạn struvic: (amonium magnéium-phosphat) mầu vàng trắng, thường donhiễm khuẩn đường niệu loại vi khuẩn Proteus.Theo Boyce, Baker, Simon thì các sạn calci, acid uric đều có một nhân khởiđiểm hữu cơ mà cấu trúc của nhân này là mucoprotein, là loại protein đặchiệu rất giàu glucid.Bình thường, mucoprotein có nhiều ở màng đáy ống thận.Ngoài ra, do ống thận tắc, hẹp gọi là nguyên nhân dị dạng đường niệu dochức năng thận kém, thận ứ niệu làm giãn đài bể thận làm lắng đọng chấtthải kết tủa thành sạn, nhất là khi có sạn thận tây y khuyến khích uống nhiểunước cho trôi sạn không có lợi mà gây ra ứ niệu, tây y không biết cách ápdụng tập khí công giúp thận co bóp bơm chất thải ứ đọng trong thận rangoài, nên nước thừa tăng dần làm căng giãn chèn ép nhu mô thận khiến
Xem thêm

208 Đọc thêm

CÁCH CHỮA BỆNH GIỜI LEO CỰC NHANH VÀ HIỆU QUẢ

CÁCH CHỮA BỆNH GIỜI LEO CỰC NHANH VÀ HIỆU QUẢ

những chất độc do côn trùng tiết ra. Sau đó, có rất nhiều cách chữa trị với căn bệnhnày, có thể dùng lá mơ lông giã nhỏ đắp vào, hoặc dùng lá sam, lá sung…Sau đó phải, thanh nhiệt và giải độc cơ thể, vì lúc này cơ thể bệnh nhân có sức đềkháng rất yếu nên cần bổ sung vitamin, các loại khoáng chất, chất dinh dưỡng cầnthiết để nâng cao sức đề kháng chống lại virus gây bệnh.Bạn nên uống nhiều nước mỗi ngày, bổ sung thêm nước chanh, nước cam tươi đểtăng khả năng giải độc và hàm lượng vitamin cho cơ thể. Và ăn các thức ăn thanhVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phínhiệt, giải độc: Đậu xanh hầm, sâm bổ lượng, hạt sen, rau má, khổ qua…Chữa bằng phương pháp dân gian:– Sử dụng gạo nếp hay đỗ xanh nhai nát đắp nên những mảng giời leo bệnh sẽkhỏi sau vài ngày (Phương pháp chỉ áp dụng khi bệnh ở mức độ nhẹ).– Sử dụng nhựa cây sung: Bôi nhựa sung 2 lần mỗi ngày nên mảng giời leo sau2-3 ngày bệnh sẽ thuyên giảm.– Lá sung: Hái lá sung tiến hành làm sạch, giã nhuyễn (có thể cho 1 chút xíu dấmăn) rồi đắp vào mảng giời leo, đến khi hỗn hợp khô thì thay. Thông thường chữabằng phương pháp này bệnh cũng sẽ đỡ và chấm dứt trong vòng từ 2-7 ngày.Chữa bằng tây y:– Sử dụng thuốc kháng virut: mục đích là tiêu diệt mầm bệnh là virut“Varicella-zoster” gây ra ngoài ra có thể sử dụng các loại thuốc kháng viêm, giảmđau để phòng và giảm đau hay những biến chứng sau bệnh.– Sử dụng các loại kem(thuốc bôi) cũng có tác dụng làm mảng giời leo dịu mát vàchống viêm da.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề