NÊU CẢM NHẬN VỀ CÂU CÁ MÙA THU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NÊU CẢM NHẬN VỀ CÂU CÁ MÙA THU":

CÂU CÁ MÙA THU ( NGUYỄN KHUYẾN) BÀI VĂN ĐIỂM MƯỜI NĂM 2016

CÂU CÁ MÙA THU ( NGUYỄN KHUYẾN) BÀI VĂN ĐIỂM MƯỜI NĂM 2016

CÂU MÙA THU ( Thu Điếu)Nguyễn KhuyễnI)Giới thiệu chung1. Tác giảNguyễn Khuyến sinh năm (1835-1909) hiệu là Quế Sơn, quê ở Yên ĐỗBình Lục - Hà Nam.Ông là một nhà nho tàu năng- có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nướcthương dân sâu nặngNội dung thơ : nói lên tình yêu quê hương đất nước đả kích châm biếm bọnthực dân xâm lược, viết về làng quê Việt Nam.2. Tác phẩmSố lượng trên 800 bài gồm thơ văn câu đốiBài ''Câu mùa thu'' nằm trong chùm 3 bài thơ nổi tiếng của NguyễnKhuyến.II)ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN1. Hai câu đề''Ao thu lạnh lẽo nước trong veoMột chiếc thuyền câu bé tẻo teo..''-Tác giả giới thiệu mùa thu với 2 h. ảnh vừa đối lập vừa cận đối hài hòa:ao thu, chiếc thuyền câu. Đây là hình ảnh bình dị quen thuộc của làng quêVN-Cảnh đìu hiu vắng vẻ tĩnh lặng → nhà thơ bộc lộ rõ những rung cảm củalòng mình trước vẻ đẹp của mùa thu.2. Hai câu thực:''Sóng biếc theo làn hơi gợn tíLá vàng trước gió khẽ đưa vèo..''-Hình ảnh sóng biếc, lá vàng gợi màu sắc kì diệu của mùa thu.
Xem thêm

3 Đọc thêm

CẢM NHẬN CỦA EM VỀ BỨC TRANH THU TRONG CÂU CÁ MÙA THU CỦA NGUYỄN KHUYẾN

CẢM NHẬN CỦA EM VỀ BỨC TRANH THU TRONG CÂU CÁ MÙA THU CỦA NGUYỄN KHUYẾN

Cảm nhận của em về bức tranh thu trong Câu mùa thu của Nguyễn Khuyến.BÀI LÀMMùa thu là một trong những đề tài lớn của thơ ca nhân loại. Nói tới đề tài này trong thơ caViệt Nam chúng ta có thể kể tới rất nhiều tác giả với những sáng tác xếp vào hàng kiệttác, trong số đó có Nguyễn Khuyến với chùm ba bài thư thu. Mỗi bài trong chùm thơ thucủa Nguyễn Khuyến là một bức tranh thu đặc sắc, và Câu mùa thu được đánh giá là "điển hình hình cho thơ ca mùa thu của làng cảnh Việt Nam" (Xuân Diệu).Cảnh thu trong bài được đón nhận từ nhiều góc độ khác nhau: từ gần đến xa, từ thấp lêncaọ, từ hẹp đến rộng... Dưới nhiều góc độ như vậy, cảnh sắc mùa thu được mở ra nhiềuhướng thật sinh động và gợi cảm. Từ ao thu đến trời thu rồi đến đường thôn xóm... tất cảđều toát lên cái hồn thu, cảnh thu xiết bao thân thuộc của làng quê đồng bằng Bắc Bộ.Cái hồn ấy được gợi lên từ những khung cảnh, những cảnh vật hết sức thanh sơ : ao nhỏtrong veo, thuyền câu bé tí, sóng biếc gợn, lá vàng khẽ đưa, tảng mây lơ lửng, ngõ trúcquanh co... sắc xanh của trời hoà lẫn cùng sắc xanh của nước tạo nên một không gianxanh trong, dịu nhẹ, một chút sắc vàng của lá rụng trên cái nền xanh ấy khiến cảnh thu,hồn thu càng thêm phần sống động. Những đường nét, màu sắc... gợi lên trong tướngtượng của người đọc khung cảnh của một buổi sớm thu yên bình trên một làng quê miềnBắc với bầu trời thu cao rộng, khoáng đạt, những ao chuông trong vắt phản chiếu màutrời, màu lá, thôn xóm với những con đường nhỏ quanh co hun hút xanh màu tre trúc, gióthu dịu mát khẽ làm xao động mặt nước, thỉnh thoảng một vài chiếc lá rụng cắt ngangkhông gian... Trong bức tranh thu này mọi cảnh vật hiện ra đểu rất đỗi bình dị, dân dã.Khung cảnh ấy vận thường hiển hiện vào mỗi độ thu về trên những làng quê và đi vàotâm thức của bao người, nhưng lần đầu tiên được Nguyễn Khuyến vẽ ra với nguyên cáithần thái tự nhiên của nó và khiến ta không khỏi ngỡ ngàng xúc động. Đó là một mùa thutrong trẻo, thuần khiết, mát lành đã bao lần đến trên quê hương của mỗi chúng ta.Cảnh trong Câu mùa thu là cảnh đẹp nhưng cũng tĩnh lặng và đượm buồn. Một khônggian vắng người, vắng tiếng: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Sự vận động cũng cónhưng chỉ là những vận động rất nhẹ, rất khẽ: sóng hớt gợn, lá khẽ đưa mây lơ lửng...âm thanh tiếng đớp mồi thì mơ hổ. Những vận động này không làm cho không khí củabức tranh thu trở nên sôi động mà chỉ càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng của nó. Mọi cảnh,
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài Câu cá mùa thu Thu điếu Nguyễn Khuyến

SOẠN BÀI CÂU CÁ MÙA THU THU ĐIẾU NGUYỄN KHUYẾN

Soạn bài: Câu cá mùa thu. I: Tác giả. Tác phẩm 1. Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) - Xuất thân trong một gia đình nhà nho, thông minh, học giỏi, đỗ đầu cả ba kì thi (Hội – Hương – Đình), còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ - Là người tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng. - Sáng tác của ông bao gồm thơ, văn, câu đối, nhưng phần lớn là thơ. - Nội dung thơ Nguyễn Khuyến. + Bộc bạch tâm sự + Tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên và người dân quê. + Châm biếm đả kích tầng lớp thống trị và bọn xâm lược. 2. Tác phẩm: Thu điếu nằm trong chùm 3 bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. - Là bài thơ Nôm theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. - Bài thơ ghi lại cảm nhận và gợi tả tinh tế cảnh sắc mùa thu ở làng quê Bắc Bộ đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên đất nước, tâm sự thời thế kín đáo của Nguyễn Khuyến. II. Đọc hiểu. 1. Điểm nhìn của tác giả: - Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần. Từ đặc điểm nhìn của một người ngồi trên chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trởi nhìn tới ngõ vắng rồi lại trở người về với ao thu, nhà thơ đã quan sát không gian, cảnh sắc thu theo người lương thật thật sinh động. Mặc khác, mở đầu là ao thu. Chiếc thuyền câu, cuối cùng là người câu cá trong tư thế “tựa gối ôm cần lâu chẳng được” và tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo càng làm nổi bật chủ thể trữ tình. Trong không gian tĩnh lặng, nhàn nhã đó ông đang say cảnh hay nặng lòng suy tư? 2. Nét riêng của cảnh sắc mùa thu. - Sự dụi nhẹ thanh sơ của cảnh vật. + Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt. + Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng…. - Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc…. Đó là cảnh mùa thu của làng quê bắc bộ. Bài thơ không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn là cái hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa, dân dã nhưng vẫn đầy sức sống. “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo”… đúng là thanh sơ. 3. Không gian trong Thu điếu: tĩnh lặng, phảng phất buồn. - Miêu tả trực tiếp: + Nước “trong veo”, sóng “gợn tí”, mây “lơ lửng” lá “khẽ đưa vèo” các hình ảnh được miêu tả trong trạng thái ngưng chuyển động hoặc chuyển động rất khẽ, rất nhẹ càng làm nổi bật sự tĩnh lặng. Đặc biệt câu kết “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Vào lúc người ta có cảm giác tất cả đều bất động thì câu thơ tạo được một tiếng động! nhất. Nhưng tiếng cá đớp mồi không phá vỡ cái tĩnh ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Đây chính là thủ pháp lấy động nói tĩnh rất quen thuộc của thơ cỏ. 4. Không gian trong “thu điếu” góp phần diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình. Bài thơ có nói đến việc câu ca nhưng thực ra nhà thơ không tập trung vào việc đó. Câu cá chỉ là một trong những thú nhàn của nho sĩ. Cõi lòng nhà thơ đã hòa vào trời thu, cảnh thu. Cái tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân, khiến ta cảm nhận có nỗi cô đơn, uẩn khcú trong lòng ông. Cảnh thanh vắng, người thanh nhàn trong khi bản thân ông là một người mang nặng hoài bãi. Trí quân tạch dân. Mà không thực hiện được. Tâm sự u uất, buồn bã len vào lúc ngắm cảnh là điều dễ cảm nhận được. 5. Cách gieo vần. Trong bài thơ rất đặc biệt. Vần “eo” “từ vốn” rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo. Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy oan khúc của thi nhân.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài Câu cá mùa thu Nguyễn Khuyến

SOẠN BÀI CÂU CÁ MÙA THU NGUYỄN KHUYẾN

I. Tác giả – Tác phẩm, 1. Nguyễn Khuyến (1835 – 1909).  Xuất thân trong một gia đình nhà nho, thông minh, học giỏi, đỗ đầu cả ba kì thi (Hội – Hương – Đình), còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ - Là người tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng. - Sáng tác của ông bao gồm thơ, văn, câu đối, nhưng phần lớn là thơ. - Nội dung thơ Nguyễn Khuyến. + Bộc bạch tâm sự + Tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên và người dân quê. + Châm biếm đả kích tầng lớp thống trị và bọn xâm lược. 2. Tác phẩm: Thu điếu nằm trong chùm 3 bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. - Là bài thơ Nôm theo thể Đường luật thất ngôn bát cú. - Bài thơ ghi lại cảm nhận và gợi tả tinh tế cảnh sắc mùa thu ở làng quê Bắc Bộ đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên đất nước, tâm sự thời thế kín đáo của Nguyễn Khuyến. II. Đọc hiểu 1. Điểm nhìn của tác giả - Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần. Từ đặc điểm nhìn của một người ngồi trên chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trởi nhìn tới ngõ vắng rồi lại trở người về với ao thu, nhà thơ đã quan sát không gian, cảnh sắc thu theo người lương thật thật sinh động. Mặc khác, mở đầu là ao thu. Chiếc thuyền câu, cuối cùng là người câu cá trong tư thế “tựa gối ôm cần lâu chẳng được” và tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo càng làm nổi bật chủ thể trữ tình. Trong không gian tĩnh lặng, nhàn nhã đó ông đang say cảnh hay nặng lòng suy tư? 2. Nét riêng của cảnh sắc mùa thu - Sự dụi nhẹ thanh sơ của cảnh vật. + Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt. + Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng…. - Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc…. Đó là cảnh mùa thu của làng quê bắc bộ. Bài thơ không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn là cái hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa, dân dã nhưng vẫn đầy sức sống. “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo”… đúng là thanh sơ. 3. Không gian trong Thu điếu: tĩnh lặng, phảng phất buồn - Miêu tả trực tiếp: + Nước “trong veo”, sóng “gợn tí”, mây “lơ lửng” lá “khẽ đưa vèo” các hình ảnh được miêu tả trong trạng thái ngưng chuyển động hoặc chuyển động rất khẽ, rất nhẹ càng làm nổi bật sự tĩnh lặng. Đặc biệt câu kết “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Vào lúc người ta có cảm giác tất cả đều bất động thì câu thơ tạo được một tiếng động! nhất. Nhưng tiếng cá đớp mồi không phá vỡ cái tĩnh ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Đây chính là thủ pháp lấy động nói tĩnh rất quen thuộc của thơ cỏ. 4. Không gian trong “thu điếu” góp phần diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình. Bài thơ có nói đến việc câu ca nhưng thực ra nhà thơ không tập trung vào việc đó. Câu cá chỉ là một trong những thú nhàn của nho sĩ. Cõi lòng nhà thơ đã hòa vào trời thu, cảnh thu. Cái tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân, khiến ta cảm nhận có nỗi cô đơn, uẩn khcú trong lòng ông. Cảnh thanh vắng, người thanh nhàn trong khi bản thân ông là một người mang nặng hoài bãi. Trí quân tạch dân. Mà không thực hiện được. Tâm sự u uất, buồn bã len vào lúc ngắm cảnh là điều dễ cảm nhận được. 5. Cách gieo vần. Trong bài thơ rất đặc biệt. Vần “eo” “từ vốn” rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo. Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy oan khúc của thi nhân.  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài câu cá mùa thu

SOẠN BÀI CÂU CÁ MÙA THU

Soạn bài câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến I. Tác giả và tác phẩm 1. Tác giả: Nguyễn Khuyến (1835 -  1909) quê ở Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam. Nguyễn Khuyến vốn ham học và học giỏi, từng đỗ đầu cả ba kì thi là thi Hương, thi Hội, thi Đình nên được gọi là Tam Nguyên Uyên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan hơn 10 năm dưới triều Nguyễn nhưng khi Pháp xâm lược nước ta thì ông từ quan về sống ở quê nhà. Nguyễn Khuyến làm nhiều thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Thơ ông nói lên tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu gia đình, bạn bè; phản ánh cuộc sống cực khổ, thuần hậu, chất phác của nhân dân; châm biếm, đả kích tầng lớp thống trị, bọn thực dân xâm lược, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái đối với dân, với nước. 2. Tác phẩm: Bài thơ Câu cá mùa thu nằm trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến (gồm ba bài: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh). Theo Xuân Diệu, “Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh”. II. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Điểm nhìn để cảm nhận cảnh thu của nhà thơ. Cảnh thu trong bài thơ được miêu tả từ gần đến cao xa, rồi từ cao xa trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn ra ngõ trú rồi lại trở về với ao thu, với chiếc thuyền câu. Từ một ao thu hẹp, nhà thơ mở ra không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu quen thuộc ở mỗi làng quê Việt Nam. Như vậy, từ điểm nhìn ấy, nhà thơ mở ra nhiều hướng miêu tả và cảm nhận về mùa thu khác nhau. Câu 2. Cảnh sắc mùa thu Cảnh sắc mùa thu trong Câu cá mùa thu đẹp, dịu nhẹ, thanh sơ “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng quê Việt Nam” (Xuân Diệu). Điều đó được hiện lên từ những từ ngữ, hình ảnh đầy sức gợi cảm:  Hình ảnh: ao thu lạnh lẽo, nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt, lá vàng… Đường nét, sự chuyển động: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng… Cảnh sắc mùa thu trong bài thơ dịu nhẹ, thanh sơ nhưng hài hòa. Đặc biệt cảnh sắc trong bức tranh được tạo nên bởi các điệu xanh: xanh ao, xanh trời, xanh sóng… Giữa những sắc xanh ấy, hiện lên màu vàng của chiếc lá đâm ngang theo chiều gió. Ngoài ra còn có ao thu nhỏ, thuyền câu nhỏ, sóng lăn tăn. Phù hợp với không gian ấy, dáng người ngồi câu cá như cùng thu nhỏ lại: tựa gối ôm cần. Cảnh thu ấy đã gợi lên được nét riêng của một vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Câu 3. Không gian trong bài thơ Không gian Câu cá mùa thu là không gian tĩnh lặng, vắng bóng người. Không gian ấy được hiện lên qua màu sắc: xanh ao, xanh trời, xanh sóng và sắc vàng của chiếc lá rơi xuống mặt ao. Không gian ấy còn được tái hiện qua sự chuyển động, một sự chuyển động rất khẽ: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng. Sự chuyển động ấy khẽ đến mức không đủ để tạo thành âm thanh. Cả bài thơ chỉ có một tiếng động duy nhất – tiếng cá đớp động nhưng là đớp động dưới chân bèo. Từ đâu gợi sự mơ hồ, không xác định. Câu 4. Tâm trạng của nhà thơ Không gian tĩnh lặng trong bài thơ góp phần thể hiện sự vắng lặng trong cõi lòng nhà thơ. Tiếng động của tiếng cá đớp mồi là tiếng động của ngoại cảnh nhưng càng làm tăng sự tĩnh lặng. Tác giả sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Đó cũng chính là cái tính rất gợi cảm, tác động tới tâm hồn nhà thơ: một tâm trạng cô quạnh, đau xót trước tình hình đất nước bị xâm lược. Bài thơ không chỉ đơn thuần là tả việc  câu cá. Câu cá chỉ là cái cớ để nhà thơ mở rộng cõi lòng mình đón nhận cảnh thu, tình thu. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được một tấm lòng thiết tha gắn bó với thiên nhiên, đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà vẫn không kém phần sâu sắc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề kiểm tra giữa học kỳ 1 môn Ngữ văn lớp 11 năm 2014

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 NĂM 2014

Đề kiểm tra giữa học kỳ 1 môn Ngữ văn lớp 11 năm 2014 Câu 1:  ( 2 đ) Đặt câu với các thành ngữ sau: -Mẹ tròn con vuông. -Thấy người sang bắt quàng làm họ Câu 2: (8 đ)  Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Câu cá mùa thu” ( Nguyễn Khuyến).                            Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,                            Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.                           Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,                           Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.                           Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,                           Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.                           Tựa gối buông cần, lâu chẳng được,                           Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Đáp án đề kiểm tra giữa học kỳ 1 môn Ngữ văn lớp 11 năm 2014 Câu 1: -Tôi mừng cho chị mẹ tròn con vuông. ( 1 đ) -Bạn đừng có thấy người sang bắt quàng làm họ nhé. ( 1 đ) Câu 2: (8 đ) b.      Yêu cầu chung về kĩ năng Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học. -   Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. -   Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh mở rộng vấn đề… ). Đặc biệt, học sinh phải nắm vững thao tác phân tích tác phẩm thơ -   Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.       -   Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ; trình bày bài rõ ràng.       b.   Yêu cầu về nội dung: -Giới thiệu tác giả , tác phẩm (1 đ) - Nội dung: 3đ a. Cảnh thu. - Mang nét riêng của cảnh sắc mùa thu của làng quê Bắc bộ: Không khí dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật: - Không gian thu tĩnh lặng, phảng phất buồn    b.Tình thu. - Nói chuyện câu cá nhưng thực ra là để đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lòng. - Không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về một nỗi cô đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lòng thi nhân. -> Nguyễn khuyến có một tâm hồn hồn gắn bó với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc. -.Nghệ thuật ( 2 đ) - Bút pháp thủy mặc Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữu họa của bức tranh phong cảnh; - Vận dụng tài tình nghệ thuật đối. .-.Đánh giá chung ( 1 đ)  
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN

Câu 1: ( 2 điểm )a- Câu ca dao trên liên quan đến phương châm hội thoại: Lịch sự -> 0.5 điểmb* Yêu cầu về kỹ năng- Biết viết đoạn văn bàn về việc thực hiện phương châm lịch sự trong cuộcsống.- Bố cục rõ ràng, chặt chẽ; lời văn trong sáng, biểu cảm; dùng từ đặt câu chínhxác…* Yêu cầu về kiến thức: HS được tự do nêu lên những ý kiến của mình, triển khaibài làm theo nhiều cách khác nhau miễn là hợp lý. Sau đây là một số gợi ý:- Tầm quan trọng của việc giao tiếp- Khi giao tiếp cần tế nhị, tôn trọng người khác; khiêm tốn, quan tâm tới ngườikhác; không tự đề cao cái tôi cá nhân; không làm phương hại đến thể diện của ngườikhác...- Bàn luận ngắn gọn vấn đề.* Cách cho điểm:- Bài viết đạt các yêu cầu trên -> 1.5 điểm- Bài viết đạt 2/3 yêu cầu trên -> 1 điểm- Bài viết đạt 1/2 các yêu cầu trên ->0.5 điểm( Còn lại, giám khảo tự chiết điểm theo bài làm )Câu 2: ( 1 điểm ) Phương thức chuyển nghĩa cho các từ vai tronga- Hoán dụ-> 0.5 điểmb- Ẩn dụ -> 0.5 điểm.Câu 3: (3 điểm )a- Hai câu thơ trích trong văn bản : Cảnh ngày xuân -> 0.25 điểm.- Tác giả: Nguyễn Du -> 0.25 điểm .b- Bút pháp nghệ thuật nổi bật ( theo thi pháp văn học trung đại) trong hai câuthơ là : Chấm phá, sử dụng hình ảnh ước lệ -> 0.5 điểmc- Viết đoạn văn cảm nhận hai câu thơ:* Yêu cầu về kỹ năng- Biết viết đoạn văn cảm nhận hai câu thơ. Bố cục chặt chẽ, lời văn trong sáng,
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐỀ THI VÀO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MÔN NGỮ VĂN CÓ ĐÁP ÁN CỤ THỂ

ĐỀ THI VÀO TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MÔN NGỮ VĂN CÓ ĐÁP ÁN CỤ THỂ

Câu 1:(4 điểm) Trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ: Miệng cười buốt giá ( Chính Hữu) Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. ( Phạm Tiến Duật) Câu 2: Nêu suy nghĩ của em về câu tục ngữ “ Thương người như thể thương thân” Câu 3: (6 điểm): Phân tích hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc qua hai bài thơ “Bếp lửa” và “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”. Đáp án và thang điểm Câu 1: ( 4 điểm): Về kĩ năng: Cần viết thành một bài văn ngắn, trình bày cảm nhận về nét chung và riêng ở hai câu thơ.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Ôn giữa học kì II - Tiết 7

ÔN GIỮA HỌC KÌ II - TIẾT 7

1. Nên chọn tên nào đặt cho bài văn trên ? 2. Tác giả cảm nhận mùa thu bằng những giác quan nào ? Câu hỏi: 1. Nên chọn tên nào đặt cho bài văn trên ? a)    Mùa thu ỏ làng quê b)    Cánh đồng quê hương c)    Ảm thanh mùa thu 2. Tác giả cảm nhận mùa thu bằng những giác quan nào ? a)    Chỉ bằng thị giác (nhìn). b)    Chỉ bằng thị giác và thính giác (nghe). c)     Bằng cả thị giác, thính giác và khứu giác (ngửi). 3. Trong câu "Chúng không còn là hồ nước nữa.. chúng là những cái giếng không đáy, ở đó ta có thể nhìn thấy bầu trời bên kia trái đất", từ đó chỉ sự vạt gì ? a)    Chỉ những cái giếng. b)    Chỉ những hồ nước. c)    Chỉ làng quê. 4. Vì sao tác giả có cảm tưởng nhìn thấy bầu tròi bên kia trái đất ? a)    Vi bầu trời mùa thu rất cao nên tác giả có cảm tường đó là bầu trời bên kia trái đất. b)   Vì bầu trời mùa thu rất xanh nên tác giả có cảm tường đó là một bầu trời khác. c)    Vì những hồ nước in bóng bầu trời là "những cái giếng không đáy" nên tác giả có cảm tưởng nhìn thấy ỏ đó bầu trời bên kia trái đất. 5. Trong bài văn có những sự vật nào được nhân hoá ? a)    Đàn chim nhạn, con đê và nhũng cánh đồng lúa. b)    Con đê, những cánh đồng lúa và cây cối, đất đai. c)    Những cánh đồng lúa và cây cối, đất đai. 6. Trong bài văn có mấy từ đồng nghĩa với từ xanh ? a)    Một từ. Đó là từ : ... b)    Hai từ. Đó là các từ : ... c)    Ba từ. Đó là các từ : ... 7. Trong các cụm từ chiếc dù, chân đê, xua xua tay, những từ nào mang nghĩa chuyển ? a)    Chỉ có từ chân mang nghĩa chuyển. b)    Có hai từ dù và chân mang nghĩa chuyểnế c)    Cả ba từ dù, chân, tay đều mang nghĩa chuyển.   8. Từ chúng trong bài văn được dùng để chỉ những sụ vật nào ? a)    Các hồ nước. b)    Cấc hồ nước, bọn trẻ. c)    Các hồ nước, những cánh đồng lúa, bọn trẻ. 9. Trong đoạn thứ nhất (4 dòng đầu) của bài văn, có mấy câu ghép ? a)    Một câu. Đó là câu : ... b)    Hai câu. Đó là cấc câu : ... c)     Ba câu. Đó là các câu : Ế„ 10. Hai câu "Chúng cứ hát mãi, hát mãi cho đến lúc những ngọn khói tan biến vào không gian mênh mông. Không gian như một cái chuông lớn vô cùng treo suốt mùa thu, âm vang mãi tiếng ca của trẻ con và tiếng cựa mình của cây cối, đất đai." liên kết với nhau bằng cách nào ? a)    Bằng cách thay thế từ ngữ. Đó là từ thay cho từ... b)    Bằng cách lặp từ ngữ. Đó là từ .... c)    Bằng cả hai cách thay thế và lặp từ ngữ. Gợi ý: Lời giải: Chọn ý trả lời đúng. Cáu 1: Ý a (Mùa thu ở làng quê) Cáu 2: Ý c (bằng cả thị giác, thính giác và khứu giác (ngửi)) Câu 3: Ý b (Chỉ những hồ nước) Cáu 4: Ý c (vì những hồ nước in bóng bầu trời là “những cái giếng không đáy” nên tác giả có cảm tưởng nhìn thấy ờ đó bấu trời bên kia trái đất). Câu 5: Ý c (Những cánh đồng lúa và cây cối đất đai). Câu 6: Ý b (Hai từ. Đó là: “xanh mướt, xanh lơ”). Câu 7: Ý a (Từ “chân” mang nghĩa chuyển). Câu 8: Ý c (Các hồ nước, những cánh đồng lúa, bọn trẻ). Câu 9: Ý a (Một câu. Đó là câu: “Chúng không còn là hồ nước nữa, chúng là những cái giếng không đáy, ở đó ta có thể nhìn thấy bầu trời bên kia trái đất”). Câu 10: Ý b (Bằng cách lặp từ ngữ). Đó là từ không gian.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Lâm Đồng năm 2014

ĐỀ THI VÀO LỚP 10 MÔN VĂN TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2014

Đề thi vào lớp 10 tỉnh Lâm Đồng môn ngữ Văn năm 2014 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                 KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT              Lâm Đồng                                                          Năm học 2014 – 2015                                                                         Môn thi: Ngữ Văn ĐỀ CHÍNH THỨC                                                   Ngày thi: 24 tháng 6 năm 2014                                                                         Thời gian làm bài: 120 phút Câu 1 (1,5 điểm) a. Nêu ba định hướng chính để trau dồi vốn từ. b. Xác định lỗi điễn đạt trong ví dụ sau: Việt Nam chúng ta có rất nhiều thắng cảnh đẹp. Câu 2 (1,0 điểm) Nêu ý nghĩa bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu. Câu 3 (2,5 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 10 câu) nêu suy nghĩ của học sinh chúng ta về lòng biết ơn thầy, cô gáo. Câu 4( 5,0 điểm) Thí sinh chọn một trong hai đề sau: Đề 1: Trình bày cảm nhận về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải, qua đó nêu suy nghĩ của em về lẽ sống của tuổi trẻ hiện nay. Đề 2: Trình bày cảm nhận về nhân vật ông Hai trong đoạn trích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân, qua đó nêu suy nghĩ của em về tình yêu làng, yêu nước của nhân dân ta hiện nay.     Đáp án sẽ được Tin.Tuyensinh247.com cập nhật sau, các em chú ý theo dõi nhé! Để nhận điểm thi vào lớp 10 tỉnh Lâm Đồng năm 2014 nhanh nhất, soạn tin: THI (dấu cách) lamdong (dấu cách) SBD gửi 8712 VD: Để tra cứu điểm thi vào lớp 10 năm 2014 của thí sinh có SBD 2009 thi tại Lâm Đồng Soạn tin: THI lamdong 2009 gửi 8712
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi vào lớp 6 môn ngữ văn

ĐỀ THI VÀO LỚP 6 MÔN NGỮ VĂN

Đề 14 Bài 1:a) Hãy nêu quy tắc đánh dấu thanh. Đánh lại dấu thanh ở các từ trong đoạn văn sau mà em cho là chưa đúng: Ngày xưả ngaỳ xưa, ở miền đất lạc Việt, có một vị thần tên là Lạc Long quân. Thần mình rồng , sức khỏe vô địch, lại có nhiều phép lạ. Bấy giờ, ở vùng núi cao có nàng Âu Cơ xinh đẹp tuỵêt trần, nghe vùng đất Lạc Vịêt có nhiều hoa thơm cỏ lạ bèn tìm đến thăm. Hai người gặp nhau, kết thành vợ chồng. b) Với mỗi từ: lưỡi, miệng, cổ, tay, lưng hãy cho đặt 2 câu: 1 câu mang nghĩa gốc và 1 câu mang nghĩa chuyển của các từ đó. Bài 2:Tìm thành phần vị ngữ có trong các câu của đoạn văn sau và cho biết thành phần vị ngữ đó trả lời cho câu hỏi nào ? Hàng trăm con voi đang tiến về bãi. Hôm nay, Tây Nguyên thật tưng bừng. Ariôn là một nghệ sĩ nổi tiếng của Hy Lạp cổ. Bài 3:Tìm 3 câu tục ngữ, ca dao có những cặp từ trái nghĩa và giải thich ngắn gọn ý nghĩa các câu tục ngữ, ca dao đó. Bài 4: Em hãy nêu cảm nhận của mình qua đoạn thơ Em yêu màu xanh: Đồng bằng, rừng núi, Biển đầy cá tôm, Bầu trời cao vợi. (Phạm Đình Ân Sắc màu em yêu). Bài 5:Một lần em cùng thầy cô ( hoặc được gia đình hoặc cùng bạn bè ) đến thăm một di tích lịch sử văn hóa của địa phương. Em hãy kể lần tham quan đó và nói lên cảm nghĩ của mình.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích thu điếu thu ẩm thu vịnh để làm bật vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm, từ đó nêu vắn tắt yêu cầu đối với một tác phẩm văn học

PHÂN TÍCH THU ĐIẾU THU ẨM THU VỊNH ĐỂ LÀM BẬT VẺ ĐẸP ĐỘC ĐÁO CỦA TỪNG THI PHẨM, TỪ ĐÓ NÊU VẮN TẮT YÊU CẦU ĐỐI VỚI MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC

BÀI 4: Theo Xuân Diệu, “trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh”. (Nguyễn Khuyến - Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999, trang 160). Anh, chị hãy phân tích những sáng tác trên trong mối quan hệ đối sánh để làm bật vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm, từ đó nêu vắn tắt yêu cầu đối với một tác phẩm văn học. Nếu nhấp vào nút xem tiếp mà xem được vui lòng chuyển qua trình duyệt Explorer 7 trở lên hoặc cài đặt lại Firefox và Chome nếu trình duyệt lỗi Bài làm Thu là thơ của đất trời Thu là thơ của lòng người. Thu và thơ từ bao giờ đã là đôi bạn tri âm. Thu vào thơ mang theo nguồn thi hứng dạt dào. Thơ làm cho thu thêm phần đẹp đẽ hơn, nên thơ hơn gấp bội. Chẳng thế mà thơ về mùa thu đã góp một gia tài khổng lồ trong văn chương nhân loại. Chỉ riêng văn học Việt Nam cũng đủ tạo nên một kho thơ thu với Cảm thu, Tiễn thu(Tản Đà), Đây mùa thu tới, Ý thu(Xuân Diệu),…Và nhất là chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến. “Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh (Xuân Diệu). Mỗi bài một vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn riêng trong sự hoà điệu của hồn thơ thu Nguyễn Khuyến. Mùa thu đi vào thơ ca thành nguồn mạch ngọt ngào vun đắp cho dòng thơ. Mỗi bài thơ là một vẻ hấp dẫn, mang theo sức hút, độ nặng, tầm cao riêng. Thu vốn đẹp và buồn. Thu vào thơ càng đẹp hơn, buồn hơn dưới cảm quan tinh tế của thi sĩ. Tâm hồn nhà thơ vốn mẫn cảm trước cái đẹp, tinh tế nhận ra một nét thu buồn, một vẻ thu thơ mộng, mê say. Trước đất trời, cảnh vật mùa thu, Nguyễn Khuyến đã để cung đàn cảm xúc của mình ngân lên, bùng cháy lên thành những vần thơ tuyệt bút. Dường như mùa thu đã hút lòng thi sĩ. Một bài thơ về mùa thu chưa thoả, không thoả tình yêu và xúc cảm của thi nhân trước thu. Chùm thơ ba bài về mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh ra đời thoả nỗi lòng Nguyễn Khuyến. Mỗi bài mỗi vẻ mà bài nào cũng hay, cũng thấm sâu vào tâm hồn bạn đọc và bám rễ chắc ở đấy, “Động thấu tới những miền sâu xa nhất của trái tim con người”. Viết về mùa thu, Nguyễn Khuyến đã gặp gỡ không chỉ thi ca truyền thống mà còn thi ca hiện đại, không chỉ thi ca Việt Nam mà cả thi ca nước ngoài, không chỉ gặp gỡ hồn thơ Á Đông mà còn gặp gỡ hồn thơ phương Tây trước mùa thu. Dường như mùa thu trở thành nơi giao hoà, cộng hưởng, là điểm hẹn của tâm hồn thi sĩ muôn phương, ngàn đời. Vẫn là mùa thu làng cảnh Việt Nam bình dị nhưng dưới con mắt, tâm hồn cảm nhận tinh tế của Nguyễn Khuyến, mùa thu hiện lên mang những gương mặt, dáng điệu khác nhau. Nếu Thu điếu là bức tranh mùa thu xanh, sắc xanh trải ngàn, lênh láng, Thu vịnh là bức tranh mùa thu của gió nhẹ trời cao xanh trong, của tâm trạng hoài niệm thì Thu ẩm là bức tranh mùa thu đa vẻ đa diện được cảm nhận trong nhiều thời điểm, nhiều không gian. Vẫn là bầu trời thu xanh ngắt nhưng mỗi bài thơ là một sắc điệu riêng: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao (Thu vịnh) Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? (Thu ẩm) Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (Thu điếu) Xanh ngắt là màu xanh như thế nào? Chỉ một từ nhưng Nguyễn Khuyến đã thu được và lẩy hồn trời thu lên trang thơ. Một màu xanh đến quá quắt. Bầu trời mùa thu không chỉ xanh, đó còn là bầu trời cao vời vợi, xanh bát ngát, rộng mênh mông. Không gian mở ra khoáng đạt đến vô cùng. Xanh ngắt trở thành “nhãn tự” của câu thơ, trở thành linh hồn của trời thu. Bầu trời dưới con mắt Nguyễn Khuyến đẹp lạ, cao, xa, rộng đến ngút ngàn tầm mắt. Nó trở thành phông nền cho bứ c tranh thu. Vẫn là màu xanh ngắt ấy nhưng khi thì Nguyễn Khuyến nói lời cảm nhận, miêu tả: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao - một nét vẽ cho màu xanh chảy tràn suốt mấy từng trời cao rộng; lúc khác lại là một băn khoăn, một thắc mắc: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Hẳn tạo hoá nhiệm màu nhuộm sắc xanh ngắt cho da trời mùa thu. Trước sắc màu tươi sáng của trời thu, thi sĩ sao tránh khỏi thảng thốt giật mình vì vẻ đẹp mê say ấy. Câu hỏi không cần lời đáp. Hỏi chỉ để thể hiện sự ngạc nhiên, thảng thốt trước vẻ thu. Phải chăng sự cấu tứ, tổ chức ngôn từ khác nhau khiến sắc xanh ngắt kia sống mãi trong cả ba bài thơ thu? Ta giật mình gặp lại sắc màu nhưng ta còn giật mình, thú vị hơn khi được thay đổi góc độ cảm nhận sắc màu ấy theo lăng kính thi nhân. Nguyễn Khuyến quả đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, điêu luyện của sự sáng tạo trong thi ca. Sắc xanh ngắt đã mới, đã là sự sáng tạo; cách thể hiện sắc xanh ngắt còn mới mẻ, độc đáo hơn. Ba câu thơ, ba hình ảnh thơ mà không rơi vào thế nhàm chán, đơn điệu. Ngược lại, câu chữ cuốn người đọc vào hành trình bất tận khám phá vẻ đẹp mùa thu. Đến với thế giới mùa thu trong Thu điếu, ta cơ hồ nhận ra cái gì cũng nhỏ bé, cũng khẽ khàng: Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa v èo. tuthienbao .com Một chiếc thuyền bé lại còn bé tẻo teo. Tưởng chừng hình ảnh thu nhỏ hết cỡ. Trong không gian đầy ao đầm của làng quê Nguyễn Khuyến con thuyền cũng nhỏ bé thôi,nhẹ nhàng trôi trên ao. Nếu không phải trong ao hẳn con thuyền sẽ chẳng bé tẻo teo như thế. Và cũng vì trong ao nên sóng biếc cũng chỉ hơn gợn tí. Gợn vốn là sự chuyển động rất mỏng, rất nhỏ, khó thấy,…vậy mà câu thơ Nguyễn Khuyến lại dùng hơi gợn tí. Sự kết hợp từ ngữ độc đáo, mới lạ đã đưa hoạt động như có như không đạt đến độ vi mô, tế vi nhất. Ngay cả lá vàng trước gió cũng chỉ khẽ đưa vèo nhẹ nhàng, sẽ sàng. Câu thơ không tả gió, chỉ tả lá rơi mà vẻ nhẹ nhàng man mác của gió heo may vẫn được hiển hiện. Ba câu thơ, ba hình ảnh, ba nét vẽ mà hình ảnh nào cũng nhỏ bé, nhẹ nhàng, nét vẽ nào cũng thanh thoát. Chỉ “lẩy bút ti ti” mà khí thu, hơi thu đã hiện lên, dù nhẹ…Đặc biệt Thu điếu, với việc gieo vần eo, đã tạo nên cảm giác cái gì cũng thu nhỏ lại. Hoạt động cũng ít ỏi thôi. Âm thanh cũng nhẹ nhàng thôi, không gian hầu như tĩnh lặng tuyệt đối. Phải gắn bó với làng quê Việt Nam, phải tinh tế trong cảm nhận lắm, Nguyễn Khuyến mới thu vào trong thơ mình nét dịu nhẹ, cơ hồ như có, như không, như hữu hình mà cũng như vô hình của nét thu. Khí thu khác hẳn với cảm nhận của Đỗ Phủ trong Thu Hứng; Hơi thu hiu gắt, khí thu loà.Thu trong cảm quan nhà thơ mang linh hồn Việt Nam nhẹ nhàng và thanh sơ. Cũng thể hiện sự nhẹ nhàng, man mác của gió thu, tiết thu, Nguyễn Khuyến trong Thu vịnh viết: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nếu trong Thu điếu, Nguyễn Khuyến lấy cái động của sóng, của lá vàng để tả gió, nói gió thì ở đây, trong Thu vịnh, nhà thơ lại dùng hình ảnh cần trúc lơ phơ để thể hiện sự dịu dàng, man mác của gió heo may đầu thu. Cần trúc là một hình ảnh rất quen, rất điển hình của làng quê Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những đọt măng qua thời gian lớn lên, khẽ cong trước gió như cần trúc. Nhưng chỉ lơ phơ, hắt hiu miêu tả sự mỏng cùng song hành trong một câu thơ đã lắng vào đấy, quyện vào đấy không gian đất trời mùa thu, quyện vào đấy hơi thu, khí thu, một nét thu rất Việt Nam nhẹ và êm. Hoà trong khí thu, tiết thu thanh cao, dịu nhẹ ấy, không gian, khung cảnh mùa thu cũng mở ra nhiều chiều nên thơ và say mê lòng người. Tập trung nhất, cảm nhận nét thu dịu dàng, thơ mộng nhất có lẽ là ở bài thơ Thu điếu: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Không gian bức tranh mở ra tại ao thu lạnh lẽo, cái lạnh không thấm vào da thịt, không buốt xương, nó chỉ nhẹ nhàng, mơn man. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Lững lờ trên mặt ao thu ấy. Nước trong veo, xanh, trong , và sáng đến vô ngần. Phải trong, phải xanh, nhất là phải rất sáng mới có được làn nước ao trong veo như thế. Đến sóng gợn cũng phải biếc, cũng chứa sắc xanh đến nao lòng người. Cùng hoà điệu với nước xanh, sóng xanh là bầu trời xanh ngắt. Sắc xanh như đổ tràn, kết nối mặt nước bầu trời. Bầu trời xanh in bóng xuống mặt nước khiến mặt nước vốn trong lại xanh thêm. Mặt nước phải tĩnh lặng như tấm gương khổng lồ của tạo vật để bầu trời kia nghiêng mình soi bóng. Trời và nước giao hoà, kết nối. Trời cao vòi vọi, nước sâu thăm thẳm, tất cả đều kéo giãn không gian, mở rộng khoảng cách,tưởng không có gì hơn giữa cõi thăm thẳm của nước trời độ thu. Giữa không gian cao, rộng và sâu ấy, chiếc lá vàng vốn nhỏ càng nhỏ thêm, rợn ngợp thêm. Sắc vàng duy nhất như đâm xiên giưa bao nhiêu là sắc xanh. Một chiếc lá, một sắc vàng nhỏ xíu khẽ đung đưa, trở thành tâm điểm, nổi bật lên trên nền khong gian ấy. Bức tranh thiên nhiên cảnh vật rất thật và đẹp, sống động và xinh xắn. Nhìn sắc vàng của lá, ta nhớ đến câu thơ: Một lá ngô đồng rụng Thiên hạ biết thu sang Chẳng cần nhiều sắc vàng của lá. Không gian mùa thu Việt Nam dưới cái nhìn của Nguyễn Khuyến gợi sắc xanh, khác hẳn màu áo mơ phai trong thơ Xuân Diệu: Đây mùa thu tới - mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng. Đâu phải cứ sắc vàng mới dệt nên mùa thu, đâu cứ phải chỉ bức tranh Mùa thu vàng của Lêvitan mới đẹp, mới đắm say lòng người. Nguyễn Khuyến, bằng vốn ngôn ngữ giàu chất gợi, chất hoạ, đã vẽ nên một màu thu xanh nên thơ rất Việt Nam làm say đắm lòng bất cứ một người nào đã từng sống với thu, với làng quê đất Việt trong tiết thu. Thậm chí, những câu này của Nguyễn Khuyến đủ giúp ai chưa từng sống ở cảnh ấy, không gian ấy thêm yêu mến và khát khao tìm về hoà điệu cùng cảnh vật, lòng người hay chí ít, đủ tạo cảm giác ta đã sống, đã cảm nhận sâu sắc, cảm nhận đủ đầy mùa thu Việt Nam nơi chốn quê thanh bình, yên tĩnh. Khác với không gian Thu điếu, Thu vịnh, bài thơ Thu ẩm lại tạo nên một vẻ đẹp khác rất quen mà sao hấp dẫn, cuốn hút, mê say. Bài thơ mở ra không phải là không gian cao trong, rộng rãi, khoáng đạt đến vô cùng của Thu điếu, Thu vịnh, không phải là trời mây, non nước, là thiên nhiên tạo vật đắm say. Bài thơ mở ra một không gian gần gũi, thân thuộc của quê nghèo Việt Nam buổi ấy: Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Năm gian nhà cỏ hiện lên đủ để tạo cảm nhận về sự nghèo đói của quê hương, của đời riêng Nguyễn khuyến nhưng còn nghèo hơn, khổ hơn, tối tăm hơn với cụm từ thấp le te. Đã thấp lại còn le te! Tưởng như năm gian nhà chạm đất được. Phải chăng đấy là hình ảnh rất chân thực của làng quê ông, một vùng đồng bằng chiêm trũng chưa mưa đã úng, quanh năm đói nghèo? Cảnh vẫn đẹp, vẫn nên thơ say lòng nhưng cuộc sống thì lấm lem, nghèo đói: Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Nhà thấp. Một sự tối. Lại thêm ngõ tối, đêm sâu. Không gian càng tối đen, ngột ngạt hơn. Giữa đêm tối mịt mùng, sự lập loè của đom đóm không làm sáng lên không gian, không làm ấm lên. Ngược lại cảm giác tối càng rợn ngợp hơn, đặc quánh lại, đầy ám ảnh. Phải nói rằng, Nguyễn Khuyến đã rời khỏi không gian tràn đầy ánh sáng, tràn đầy màu sắc đẹp đẽ của thu để trở về cảm thương trước cảnh sống, trước không gian sống quen thuộc quanh mình. Đọc những vần thơ ấy, trước hiện thực tăm tối ấy. Bài thơ vì thế như ngoặt sang hướng khác, không còn nữa sự thảnh thơi, thư thái trước đất trời tạo vật. Thế nhưng: Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Câu thơ không tả trăng, chỉ gợi về trăng nhưng đủ để vẻ đẹp ấy ngời toả, lung linh. Ta đã gặp nhiều hình ảnh về trăng trong thơ, nhất là thơ thu. Đây là trăng trong thơ Xuân Diệu: Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ - một vầng trăng như người con gái đầy tâm trạng ngẩn ngơ. Và đây là trăng thu trong thơ Bác: Trung thu trăng sáng như gương. Nó khác hẳn trăng trong thơ Nguyễn Khuyến. Trăng không hiện hình, trăng ẩn mặt. Nhưng mặt ao vẫn soi được bóng trăng. Trăng rát bạc lên mặt cao khiến cho không gian lung linh, lóng lánh đầy ánh sáng. Sắc trăng, sánh trăng như loe dài, như lan toả trên mặt ao. Từ loe được Nguyễn Khuyến sử dụng rất đắt, tạo nên duyên riêng của trăng, của câu thơ, tạo nên vẻ đẹp riêng của bài thơ. Có thể nói, bức tranh cảnh thu ở mỗi bài thơ là một vẻ đẹp riêng, một nét đẹp riêng không hoà lẫn. Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, điêu luyện. Nguyễn Khuyến đã góp những tiếng thơ hay, những bài thơ hấp dẫn, độc đáo trong thơ thu. Có lẽ hiếm có một tác giả nào có thể để lại chùm thơ cùng đề tài sống mãi, cuốn hút, giành được sự yêu mến mãi như Nguyễn Khuyến với ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. Đặc biệt không chỉ sáng tạo mới mẻ trong thể hiện cảnh thu, Nguyễn Khuyến còn đặt dấu ấn riêng trong hình ảnh nhân vật trữ tình. Tất cả đều mang nét buồn nhưng mỗi bài thơ là một vẻ riêng, một sự buồn riêng không giống nhau. Ở Thu điếu, nhân vật trữ tình dường như chìm khuất trong hình ảnh. Hiển hiện lên trang thơ là con người vui thú “an bần lạc đạo”, vui cùng điền viên nhưng kì thực đã thả hồn theo đất trời thu hay nỗi niềm gì lẩn khuất tự bao giờ. Tựa gối ôm cần nhưng nhưng chẳng hề chú tâm đến việc câu. Thu điếu vậy mà điếu hầu như chẳng được mảy may bận tâm. Cái còn lại có chăng chỉ là con người mang nặng tâm trạng, tìm về với thiên nhiên, đất trời để “thanh lọc tâm hồn”, để tìm chỗ nghỉ trên chặng đường đời. Ở Thu ẩm ấy lại là người uống rượu. Say sưa với tâm sự u uẩn, gửi vào đó bao nhiêu nỗi niềm không thể nào giải toả. Con mắt đỏ hoe kia hẳn không phải là say rượu. Có lẽ đó là do khóc cho đời, cho kiếp người chăng? Đằng sau vẻ uống rượu say nhè, đằng sau hình ảnh mắt lão không đầy cũng đỏ hoe kia chứa đựng biết bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu nỗi niềm. Rồi nữa, ở Thu vịnh lại là con người mang tâm trạng hoài niệm xa xăm: Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Tâm trạng thảng thốt như đang gửi ở phương nào nay sực tỉnh. Thi hứng tràn về, vậy mà chẳng thể nào cất bút: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Thẹn vì lẽ tài thơ chưa bằng hay thẹn vì nỗi không có khí phách, chí khí của Đào Tiềm? Có lẽ là cả hai nhưng căn cốt vẫn ở phần sau. Phải chăng đó cũng là nỗi lòng u uẩn trong hai bài thơ trên chưa thể nói ra. Cùng một tâm trạng, cùng một nỗi lòng nhưng mỗi lần mỗi khác, những nét vẻ riêng, những diện mạo riêng không hoà lẫn. Cái gì đã giúp cho chùm ba bài thơ thu này vượt qua sự băng hoại của thời gian, tồn tại mãi trên dòng thơ ở tầm cao, ở chiều sâu của nó, chiếm lĩnh, ăn sâu trong lòng bạn đọc? Phải chăng là ở cả ba bài thơ đã được tinh luyện, chắt lọc từ hiện thực cuộc đời đẹp đẽ, nên thơ xen lẫn ca những vất vả, lấm lem bùn đất? Hiện thực vẻ đẹp quê hương qua lăng kính của nhà thơ đã khúc xạ, phát quang lên trang viết. Hiện thực mà không sao chép, không quy chụp. Ngược lại, Nguyễn Khuyến đã hút lấy phần tinh tuý nhất, sâu sắc nhất của hồn thu, của tình người để tạo nên trang thơ thật tinh tế. Vẻ đẹp quê hương soi chiếu trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ trở nên lung linh, đa vẻ, đa màu như chiếc kính vạn hoa kì diệu dưới bàn tay điều khiển của người sáng tác.Thay đổi góc nhìn, thay đổi độ ngắm, bài thơ lại ngời lên vẻ đẹp mới, toả hương. Ba bài thơ mùa thu được viết nên, nhào nặn nên từ những gì rất thực, rất đời, từ vẻ đẹp của quê hương nhưng hơn thế, cái để tác phẩm sống là phần tình mà nhà văn gửi gắm, trao chọn cho nó. Một trái tim yêu quê, một xúc cảm chân thành nồng nhiệt trước cuộc đời, trước cái đẹp đã thăng hoa, vút lên thành những vần thơ. Tình cảm cùng sự liên tưởng, chọn lựa của nhà thơ đã thổi phồng căng cánh diều hiện thực của quê hương. Hồn thơ tung cánh, câu thơ vút lên, ngân nga như câu hát. Để rồi xúc cảm bạn đọc. Từ trái tim đến trái tim, tác phẩm thơ sống mãi, trường tồn, vượt qua mọi thử thách của thời gian, sự cách trở của không gian, tri âm với triệu triệu con người. Hơn nữa, cùng bắt nguồn từ hiện thực, vẻ đẹp mùa thu và tâm trạng trước thu, nhà thơ đã luôn đặt mình trong hành trình khám phá, chinh phục và sáng tạo cái mới. Có còn gì chăng nếu mùa thu muôn đời vẫn thế trong thơ? Cảm quan nghệ sĩ tạo nên sự khác biệt mới lạ trong cách cảm nhận, thể hiện so với các nhà thơ khác và mỗi người lại phải cố gắng không giẫm lên dấu chân người khác và không lặp lại chính mình. Nhờ thế ba bài thơ, ba vẻ đẹp riêng, ba sức hấp dẫn riếng sống mãi. Phải chăng như Nguyễn Tuân phát biểu: “Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó như là vẫn phong kín”. Mới về nội dung, mới về cảm xúc và mới về nghệ thuật biểu hiện nữa. Bởi như L.Lêônôp đã nói: “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Vẫn là cảnh ấy, tình ấy nhưng ở mỗi bài thơ, Nguyễn Khuyến đã tìm cho mình hệ thống phương tiện ngôn ngữ riêng. Câu chữ thay đổi, nét nghĩa cơ hồ cũng khác trước. Bài thơ, câu thơ không lặp lại. Những lớp nghĩa, những tầng nghĩa khép mở, đổi thay trong hình thức ngôn từ. Có bao nhiêu tinh hoa của ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, biểu cảm, Nguyến Khuyến đã dành trọn để thể hiện làng quê. Câu chữ bình dị mà trong sáng, hình ảnh gần gũi mà giàu sức gợi, sức cảm. Nội dung, hình thức thống nhất, quyện hoà, bình và rượu thống nhất, hoà hợp, đan xen, tạo nên sức hấp dẫn thu hút người đọc vào hành trình bất tận. Vẻ đẹp chắt lọc từ cuộc đời, tình cảm chân thành mãnh liệt vút lên từ trái tim cùng với sự sáng tạo, đổi mới không ngừng trong cảm nhận và biểu hiện vẻ đẹp của cảnh thu, tình thu đã làm nên sức hấp dẫn không gì cưỡng lại nổi của ba bài thơ thu. Phải chăng đó cũng là yêu cầu đặt ra với bất kì một tác phẩm văn học đích thực nào? Vẻ đẹp cuộc đời sẽ nuôi dưỡng, bồi đắp nguồn chất liệu xây nên tác phẩm, tạo nên niềm xúc cảm chân thành, mãnh liệt mà cô đọng, mà tinh lọc nên trang văn. Nhưng hơn hết, sự sáng tạo là không ngừng nghỉ. “ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có”. Một tác phẩm như thế tất sẽ tạo nên một lực để nâng nó lên trên mọi dập vùi của định kiến. Tác phẩm văn học thực sự có giá trị khi nó nói thật, nói chân thành, xúc động và nhất là nói hay về một vẻ đẹp, một cảnh, một tình. Sự đòi hỏi của văn chương là nghiệt ngã, là khắt khe. Chẳng thế mà Nguyễn Bính từng phải kêu lên: Ai bảo dính vào duyên bút mực Suốt đời mang lấy số long đong. Tác phẩm có giá trị trường tồn cùng thời gian. Cùng với nó, tên tuổi nhà văn, phong cách tác giả sống mãi. Mỗi tác phẩm văn học đích thực là một động lực thúc đẩy sự phát triển của dòng văn học, của kiểu sáng tác và cả nền văn học nói chung. Có thể nói, Nguyễn Khuyến, bằng tài năng và trái tim người nghệ sĩ, đã cảm nhận và thể hiện tinh tế mùa thu với sắc vẻ riêng, nên thơ và hấp dẫn lạ kì. Nó đã đạt được những yêu cầu chung đối với bất kì tác phẩm văn học chân chính nào: “Thơ là hiện thực, là cuộc đời và còn là thơ nữa”.Cuộc đời cộng hưởng trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ tạo nên vốn chất liệu làm thành tác phẩm. Chất hồ kết dính, nhào nặn nó chính là sức liên tưởng, tưởng tượng, sự sáng tạo của riêng thi sĩ. Vì thế chăng mà ba bài thơ thu cùng tên tuổi Nguyễn Khuyến sống mãi? Thực tế văn học đặt ra yêu cầu bức thiết cho mỗi nhà văn khi bước chân vào làng văn là phải sống thực sự mà đón nhận tinh lọc cuộc đời, đãi cát tìm vàng giữa bể đời rộng lớn, tinh luyện nên chất muối cuộc đời từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khách quan hiện thực và chủ quan nhà thơ, kết hợp cuộc đời với trái tim giàu xúc cảm, dễ ngân dung của người sáng tác. Đó không chỉ là đòi hỏi với cá nhân nhà thơ mà cả với dòng thơ, nền thơ. document.write('u003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0035u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003e')
Xem thêm

6 Đọc thêm

Phân tích khổ 3 bài thơ Sang thu

PHÂN TÍCH KHỔ 3 BÀI THƠ SANG THU

1. Mở bài: Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác. Khái quát nghệ thuật và nội dung của bải thơ > Giới thiệu đoạn thơ > chép lại đoạn thơ. VD: Bài thơ ngắn gọn, hàm súc không chỉ bộc lộ cảm xúc tinh tế của nhà thơ trước sự chuyển mình của thiên nhiên đất trời chớm thu mà còn còn chứa đựng những suy ngẫm, những triết lý vô cùng sâu sắc về con người và cuộc đời. (chép lại khổ thơ) 2. Thân bài: a. Khái quát: b. phân tích: Với Sang thu, người đọc chợt nhận ra: Một thoáng hương ổi, một làn sương,một dòng sông, một đám mây, một tia nằng. Những tia nắng vàng nhạt cũng làm nên những đường nét rất riêng của mùa thu Việt Nam. Đây chính là điều đã làm lên sức hấp dẫn của bài thơ. Sự hấp dẫn của Sang thu còn ở cách cảm nhận về thiên nhiên, sự vật của tác giả. Nếu hai khổ thơ trên rất đẹp về tạo hình, rất tinh tế trong cảm nhận thì khổ thứ 3 đem đến một vẻ đẹp mới cho bài thơ. Trong khổ thơ này, mùa thu được khẳng định bằng đoán nhận, bằng kinh nghiệm, bằng sự suy ngẫm chứ không phải bằng sự cảm nhận trực tiếp.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Kĩ năng viết một đoạn văn về cảm thụ văn học

KĨ NĂNG VIẾT MỘT ĐOẠN VĂN VỀ CẢM THỤ VĂN HỌC

Để làm được một bài tập về CTVH đạt kết quả tốt, các em cần thực hiện đầy đủ cácc bước sau: *Bước 1: Đọc kĩ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập (yêu cầu phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì?…) Bước 2: Đọc và tìm hiểu về câu thơ (câu văn) hay đoạn trích được nêu trong đề bài. - Đọc : Đọc diễn cảm, đúng ngữ điệu (có thể đọc thành tiếng hoặc đọc thầm). Việc đọc đúng, đọc diễn cảm sẽ giúp mạch thơ, mạch văn thấm vào tâm hồn các em một cách tự nhiên, gây cho các em những cảm xúc, ấn tượng trước những tín hiệu nghệ thuật xuất hiện trong đoạn văn, đoạn thơ. - Tìm hiểu: Dựa vào yêu cầu cụ thể của bài tập như cách dùng từ, đặt câu, cách dùng hình ảnh, chi tiết, cách sử dụng biện pháp nghệ thuật quen thuộc như so sánh, nhân hoá,…cùng với những cảm nhận ban đầu qua cách đọc sẽ giúp các em cảm nhận được nội dung, ý nghĩa đẹp đẽ, sâu sắc toát ra từ câu thơ (câu văn). *Bước 3: Viết đoạn văn về CTVH (khoảng 7- 9 dòng) hướng vào yêu cầu của đề bài. Đoạn văn có thể bắt đầu bằng một câu “mở đoạn” để dẫn dắt người đọc hoặc trả lời thẳng vào câu hỏi chính; tiếp đó, cần nêu rõ các ý theo yêu cầu của đề bài: cuối cùng, có thể “kết đoạn” bằng một câu ngắn gọn để “gói” lại nội dung cảm thụ. Ta có thể trình bày đoạn CTVH theo 2 cách sau: - Cách 1: Ta mở đầu bằng một câu khái quát (như nêu ý chính của một đoạn thơ(đoạn văn ) trong bài tập đọc). Những câu tiếp theo là những câu diễn giải nhằm làm sáng tỏ ý mà câu khái quát (câu mở đoạn) đã nêu ra. Trong quá trình diễn giải, ta kết hợp nêu các tín hiệu, các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng để tạo nên cái hay, cái đẹp của đoạn thơ (đoạn văn). - Cách 2: Ta mở đầu bằng cách trả lời thẳng vào câu hỏi chính (Nêu các tín hiệu, các biện pháp nghệ thuật góp phần nhiều nhất tạo nên cái hay, cái đẹp của đoạn thơ (đoạn văn). Sau đó diễn giải cái hay, cái đẹp về nội dung. Cuối cùng kết thúc là một câu khái quát, tóm lại những điều đã diễn giải ở trên (như kiểu nêu ý chính của đoạn thơ (đoạn văn ) trong bài tập đọc. .Lưu ý: Đoạn văn CTVH cần được diễn đạt một cách hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc; cần tránh hết mức mắc các lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu; tránh diễn đạt dài dòng về nội dung đoạn thơ (đoạn văn ). loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Viết bài tập làm văn số 6 lớp 6 – Văn tả người BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 6 – VĂN TẢ NGƯỜI (làm tại lớp)

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 6 LỚP 6 – VĂN TẢ NGƯỜI BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 6 – VĂN TẢ NGƯỜI (LÀM TẠI LỚP)

I. ĐỀ BÀI THAM KHẢO Đề 1: Em hãy viết bài văn tả người thân yêu và gần gũi nhất với mình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,…). Đề 2: Hãy miêu tả hình ảnh mẹ hoặc cha trong những trường hợp sau: - Lúc em ốm. - Khi em mắc lỗi. - Khi em làm được một việc tốt. Đề 3: Hãy tả lại hình ảnh một cụ già đang ngồi câu cá bên hồ. Đề 4*: Em đã có dịp xem vô tuyến, phim ảnh, báo chí, sách vở về hình ảnh một lực sĩ đang cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấy. Đề 5: Em hãy tả lại một người nào đó tuỳ theo ý thích của bản thân mình. II. GỢI Ý DÀN BÀI Đề 1: A. Mở bài. - Giới thiệu về người mà mình sẽ tả (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em,…). B. Thân bài. - Tả chi tiết chân dung của người đó. + Hình dáng + Khuôn mặt + Nước da …. - Có thể tả lại người đó trong một hoạt động nào đó mà em thích. C. Kết bài. - Em thích nhất đặc điểm gì ở người đó? - Tình cảm của em với người đó thế nào? Đề 2: Dàn ý khái quát cho cả ba trường hợp như sau: A. Mở bài. - Dẫn dắt người đọc vào tình huống (lúc em ốm, khi em mắc lỗi,…). - Cảm nhận chung của em về hình ảnh của mẹ hoặc cha lúc ấy. B. Thân bài. - Miêu tả lại chân dung của mẹ hoặc cha lúc ấy. + Vẻ mặt + Dáng điệu + Lời nói + Hành động - Tả lại thái độ, cách ứng xử của mẹ hoặc cha lúc ấy (lo lắng, yêu thương, hạnh phúc, vui mừng, giận dữ,…). C. Kết bài. - Qua những lần như thế, em cảm nhận đước thêm những điều gì về cha hoặc mẹ. - Tự đó em suy nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân. Đề 3: A. Mở bài. - Giới thiệu hoàn cảnh gặp gỡ hoặc địa điểm mà em được chứng kiến cụ già ngồi câu cá. B. Thân bài. - Miêu tả lại chân dung của cụ già lúc ngồi câu cá. + Khuôn mặt (chú ý đôi mắt, chòm râu,…). + Tư thế ngồi. - Miêu tả lại hành động của ông lão (chú ý đôi tay). - Phong thái của ông lão lúc ngồi câu gợi ra điều gì? (sự nhàn nhã, thanh thản hay suy tư, trầm mặc). - Hình ảnh ông lão gợi cho em ấn tượng gì? C. Kết bài. - Hính ảnh ông lão ngồi câu cá có ngợi cho em nhớ về một kỉ niệm nào đó đối với ông nội (hay ông ngoại) của mình không? - Qua đó, em mong ước điều gì? (được sống cùng ông bà và những người thân, để luôn được chăm lo dạy dỗ,…). Đề 4*. A. Mở bài. - Giới thiệu cho người đọc biết, em đã được chứng kiến cảnh người lực sĩ đang cử tạ ở đâu? (chứng kiến trực tiếp hay xem trên vô tuyến, trên phim ảnh, báo chí, sách vở,…). B. Thân bài. - Miêu tả lại chân dung của người đó khi bước ra sân khấu. + Khuôn mặt ra sao? + Thân hình như thế nào? (ước chừng về chiều cao, cân nặng,…). + Đặc biệt chú ý miêu tả những cơ bắp của người lực sĩ. - Miêu tả hành động của người lực sĩ  khi nâng tạ. + Động tác chuẩn bị như thế nào? + Lúc nâng tạ, người lực sĩ đã gắng sức ra sao? + Lúc thả quả tạ nặng đó xuống mặt đất, người lực sĩ vẫn thể hiện được sự dũng mãnh như thế nào? C. Kết bài. - Hình ảnh người lực sĩ gợi cho em sự thích thú và thán phục như thế nào? - Từ đó em rút ra được bài học gì về vai trò của sức khoẻ và quá trình rèn luyện sức khoẻ. Đề 5: Tham khảo dàn ý đã nêu ở đề 1.  loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

DE THI HSG VAN 7-6

DE THI HSG VAN 7-6

- Xác định đúng kiểu bài chứng minh nhận định về văn học dângian (tục ngữ, ca dao).- Viết bài phải có bố cục rõ ràng, có luận điểm, luận cứ, luậnchứng.- Trình bày sạch đẹp, câu chữ rõ ràng, hành văn giàu cảm xúc vàtrôi chảy.2. Yêu cầu về nội dung:1Học sinh có thể trình bày cảm nhận theo nhiều cách khác nhau,nhưng phải nêu được những ý cơ bản như sau:- Dẫn dắt được vào vấn đề hợp lí. Trích dẫn được nội dung cần0,252chứng minh ở đề bài, đánh giá khái quát vấn đề.* Giải thích: - Thơ ca dân gian là gì? (thuộc phương thức biểu đạt2trữ tình của văn học dân gian gồm tục ngữ, dân ca, ca dao…; thểhiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động với nhiềucung bậc tình cảm khác nhau, đa dạng và phong phú xuất phát từ1những trái tim lao động của nhân dân; là cách nói giản dị, mộc
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn 2015 Đà Nẵng

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 LỚP 12 MÔN VĂN 2015 ĐÀ NẴNG

Đề thi học kì 2 - Sở GD&ĐT Đà Nẵng Năm học 2014 – 2015 Môn Ngữ Văn lớp 12 Thời gian: 90 phút Phần 1. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi: Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ  Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa  Óng tre ngà và mềm mại như tơ.  Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát  Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh  Như gió nước không thể nào nắm bắt  Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.  Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy  Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn  Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối  Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.  (Lưu Quang Vũ, tiếng Việt, trong sách Lưu Quang Vũ Thơ tình, NXB văn học, tr.236) Câu 1. Đoạn thơ trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,5 điểm) Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ. (0,5 điểm) Câu 3. Nêu tác dụng chính của đoạn thơ. (1,0 điểm) Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được tác giả sử dụng trong đoạn thơ (1,0 điểm) Phần II. Làm Văn (7,0 điểm) Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng của nhân vật Tràng sau khi “nhặt” được vợ (Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, tập 2). Đề thi học kì 2 lớp 12 liên tục được Tuyensinh247 cập nhật, các em chú ý theo dõi tại đây: 
Xem thêm

1 Đọc thêm

GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 6 SO SÁNH

GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 6 SO SÁNH

trả lời câu hỏi:- Có chiếc (lá rụng) tựa mũi tên nhọn, tự cành cây? Tìm phép so sánh rơi cắm phập xuống đất như cho xong chuyện, chotrong đoạn văn?xong một đời lạnh lùng thản nhiên, không thươngtiếc, không do dự vẩn vơ.- Có chiếc lá như con chim bị lảo đảo mấy vòngtrên không, rồi...- Có chiếc lá nhẹ nhàng khoan khoái đùa bỡn, múamay với làn gió thoảng, như thầm bảo rằng sự đẹpcủa vạn vật chỉ ở hiện tại...- Có chiếc lá như sợ hãi, ngần ngại rụt rè, rồi nhưgần tới mặt đất còn cất mình muốn bay trở lạicành.?Tác dụng của phép so * Tác dụng :sánh đối với việc miêu+ Đối với việc miêu tả sự vật : giúp người đọctả sự vật và thể hiện tư người nghe dễ hình dung về những cách rụng kháctưởng tình cảm của nhau của chiếc lá rất sinh động và gợi cảm.người viết?+ Đối với việc thể hiện tư tưởng tình cảm : tạo ralối diễn đạt hàm súc để người đọc, người nghe thấyđược quan niệm của tác giả về sự sống và cái chết.Bài tập 1/ 43 :Bài tập 1/ 43 : Chỉ ra * Phép so sánh :các phép so sánh trong a. Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè.các khổ thơ. Cho biết b. Con đi... chưa bằng.... lòng bầm/ Con đi.....chưachúng thuộc kiểu so bằng...sáu mươi.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu có bài thơ Đây mùa thu tới. Sau cách mạng, Nguyễn Đình Thì trong bài thơ Đất nước cũng nói đến mùa thu. Anh chị hãy so sánh hai trạng thái cảm xúc của thi nhân

TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, XUÂN DIỆU CÓ BÀI THƠ ĐÂY MÙA THU TỚI. SAU CÁCH MẠNG, NGUYỄN ĐÌNH THÌ TRONG BÀI THƠ ĐẤT NƯỚC CŨNG NÓI ĐẾN MÙA THU. ANH CHỊ HÃY SO SÁNH HAI TRẠNG THÁI CẢM XÚC CỦA THI NHÂN

Thu vốn là đề tài lớn của thơ ca Việt Nam. Các thế hệ thi sĩ từ xưa đến nay đều lấy cảm hứng từ mùa thu để dệt lên những bức tranh thu cho đời. Cảm hứng về mùa thu, mùa thu ở Việt Nam, nhất là khi thu vừa chợt đến, thường rất đẹp. Nhưng trong cái đẹp ấy, lại chứa cái buồn hay cái vui, điều ấy là do mỗi thi nhân do không khí của cuộc đời mà có. Nhưng những bài thơ hay về mùa thu cũng không nhiều lắm và vinh dự đó thuộc về nhà thơ lâng mạn Xuân Diệu với bài thơ "Đây mùa thu tới" và Nguyễn Đình Thi với bài "Đất nước”. Cả hai bài thơ đều viết về mùa thu, nhưng có cảm xúc khác và giông nhau. Đó là điều chúng ta cần tìm hiểu. Thật ra giữa mùa thu trong thơ Xuân Diệu và mùa thu trong thơ Nguyễn Đình Thi có nhiều nét giống nhau. Vì bởi cả hai nhà thơ đều là những nhà thơ Việt Nam, cùng sống dưới bầu trời Việt Nam, những cảnh thu đẹp, những nét thu chung của một miền đất nước. Ta bắt gặp trong hai bài thơ cái se se lạnh của khí trời mới bắt đầu vào thu, những cái vắng vẻ của con đường lúc vào thu. Tuy nhiên sự khác biệt giữa hai thời đại, hai thời kì mà cái mốc phân định rõ là một cuộc đổi đời lớn: cuộc cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trước cách mạng tháng Tám, mọi người dân sống trong cảnh nước mất nhà tan, bao trùm lên tâm trạng của con người lúc này, tự giác hay không tự giác, là tâm trạng của người dân mất nước. Trong nỗi buồn riêng có nỗi buồn mất nước. Huống chi trong nỗi buồn ấy lại có nỗi buồn của trào lưu, trào lưu lãng mạn. Vì vậy người đọc không lạ khi thấy Xuân Diệu nhận ra mùa thu từ nỗi buồn. Đây không phải là nỗi buồn nhè nhẹ, êm êm, lặng lặng, mà đây là nồi buồn thê lương của phong cảnh, sự thê lương của lòng người: "Rặng liễu dìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng" Thay vào hình ảnh cây ngô đồng thường thấy xuất hiện trong thơ cổ là hình ảnh "rặng liễu đìu hiu", bao lá cành đều rủ xuống để rơi hàng ngàn giọt lệ. Không chỉ là một cảnh thu buồn khiến cho con người buồn, mà chính cảnh thu đã thấm đẫm nỗi buồn. Dưới con mắt của Xuân Diệu rặng liễu có dáng đứng như những người phụ nữ chịu tang, bởi lá rủ xuống như tóc xõa, như lệ rơi ngàn hàng. Nỗi buồn của nhà thơ được nhân lên gấp hai lần hóa thân thành nỗi buồn của cảnh vật. Cảnh thu buồn – một nỗi buồn thê lương, nó vở ra thành tiếng khóc và đọng lại thành hàng ngàn giọt lệ. Dấu hiệu của mùa thu còn là màu vàng của lá dệt thành chiếc áo “mờ phai dệt lá vàng" rất điển hình cho mùa thu của đất nước. Trong tâm trạng buồn của mình, với Xuân Diệu, mùa thu chính là mùa của sự tàn phai rơi rụng: "Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh . Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh" Mùa thu đến hoa rụng, lá rơi có gì là lạ? Nhưng "những luồng run rẩy rung rinh lá" nói đến gió mà không thấy gió, "những nhánh khô gầy" trơ trọi, “mong manh" như mỏi mòn sự sống. Mùa thu mang đến cho cảnh vật sự tàn úa, nhợt nhạt, vắng lặng, buồn bã, lạnh lẽo từ vầng trăng đến ngọn núi, từ ngọn gió đến những chuyến đò ngang. Cái tàn phai ấy không chỉ xảy ra với thiên nhiên mà còn xảy ra với con người. Nồi buồn ấy thấm đẫm cảnh vật trên mặt đất, thâm lên tận trời cao, lòng người cũng tràn ra khắp chốn: "Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ Non xa khởi sự nhạt sương mờ Đã nghe rét mướt luồn trong gió Đã vắng người sang những chuyến đò Mây vẩn tầng không chim bay đi Khí trời u uất hận chia li Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”. Mùa thu đã được tác giả cảm nhận bằng mọi giác quan. Mùa thu đau buồn, héo úa tàn phai, u uất, chia li, đó là hồn thu hay chính hồn tác giả? Sự trùng hợp ở đây có lẽ là đương nhiên. Các cô thiếu nữ kia không nói lời nào mà hồn thu đã chứa đầy trong mắt. Tâm hồn của các cô cũng hòa vào tâm hồn thu. Nỗi buồn thu len vào thấm sâu mà chẳng rõ từ đâu. Chỉ biết tâm lòng nhà thơ đang trải ra. Cảm nhận về mùa thu của Xuân Diệu là vậy còn cảm nhận về mùa thu của Nguyễn Đình Thi qua bài "Đất nước” thì sao? Bài thơ "Đất nước" được Nguyễn Đình Thi thai nghén trong một thời gian dài, gần như suốt cuộc kháng chiến của toàn thể nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Trời đất lúc này đang vào thu trong cái dịu nhẹ của mình, mặc dầu đang chiến tranh, mùa thu cũng không bớt đẹp đi chút nào: "Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới" Hình ảnh mùa thu được hiện ra trong tâm tưởng của người thanh niên trí thức phải xa Thủ đô để đi theo tiếng gọi của cách mạng. Mùa thu được nhận ra từ vẻ "sáng” và "trong" của trời và đất. Đối với mùa thu đây là những vẻ muôn đời của mùa thu. Lại thêm hương vị của mùa thu nữa là "hương cốm mới". So với Xuân Diệu, Nguyền Đình Thi bắt đầu của cảm xúc mùa thu thật khác. Ở Xuân Diệu cảm xúc của mùa thu được bắt đầu từ cái buồn thê lương. Còn cảm xúc về mùa thu của Nguyễn Đình Thi được bắt đẩu từ sự trong sáng, thanh thản, từ niềm vui hạnh phúc. Ngay trong bài thơ này, Nguyễn Đình Thi cũng nêu sự so sánh hai trong trạng thái cảm xúc mình về mùa thu trước kia và khi đứng trước mùa thu: "Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi dầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy". Mùa thu đến được bắt đầu từ cái “chớm lạnh”, cái “chớm lạnh” này không chỉ đến với trời đất lá cây ngọn cỏ mà đến trong lòng Hà Nội. Bức tranh mùa thu hiện ra sau cái chớm lạnh thật đẹp, nhưng sao mà buồn quá. Cái buồn kéo dài theo "những phố dài xao xác hơi may", hiện rõ cái dáng đi "đầu không ngoảnh lại’, nhưng tâm hồn thấm thía cái "chớm lạnh" của khoảnh khắc đầu thu, in sâu những gì thơ mộng của thủ đô yêu dấu đang lùi phía sau. Cái buồn như đọng lại trên các khoảnh thềm nhà tuy đầy nắng nhưng trơ trọi làm sao. Đoạn thơ trên là cảm xúc về mùa thu xưa còn mùa thu nay khác rồi: "Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha". Quả thật "mùa thu nay khác rồi", khác từ còn người đến cảnh vật. Dứt hẳn cái dáng đi "đầu không ngoảnh lại". Giờ đây con người đứng trước mùa thu kháng chiến lồng lộng, hiên ngang, tự hào giữa đất trời để "vui nghe" âm thanh ríu rít của cuộc sống. Mùa thu làm mất đi cái trạng thái âm thầm lặng lẽ để sống động hẳn lên. Không còn cái buồn hiu hắt. Không còn cái "run rẩy” trong thơ Xuân Diệu và không còn cái "xao xác hơi may" ngay trong cả thơ Nguyễn Đình Thi. Ngọn gió thu giờ đây thật mạnh, thật là vui, ngọn gió khiến "rừng tre phấp phới". Trời thu giờ đây đã được thay áo mới không những đẹp mà vui, không những "trong biếc" còn "nói cười" mà lại "nói cười thiết tha". Đúng là niềm vui nối niềm vui trong từng câu chữ của Nguyễn Đình Thi. Đây không chỉ là niềm vui của nhà thơ, mà đây còn là niềm vui tràn trề, bất tận, vô bờ bến của dân tộc ta sau ngày cách mạng tháng Tám. Tâm trạng của Nguyễn Đình Thi là tâm trang vui của người dân được sống trên một đất nước không còn làm nô lệ, niềm vui và niềm tự hào được làm chủ nước. Mùa thu không chỉ đẹp khi buồn, vì buồn mà còn cả khi vui, đẹp vì vui. Nói tóm lại, hai mùa thu này đều đẹp, đều có giá trị nhân văn. Qua hai mùa thu giúp ta nhận ra những vẻ đẹp rất khác nhau của mùa thu, làm ta càng thêm yêu phong cảnh mùa thu ở quê hương đất nước.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bài dự thi em yêu Lịch sử Việt Nam

BÀI DỰ THI EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM

Câu 1: Ngày 6 12 2012, UNESCO đã chính thức công nhận một tín ngưỡng ở Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Anh (chị) hãy cho biết đó là tín ngưỡng gì ? Nêu những điều mà anh (chị) tâm đắc nhất về thời đại là nguồn gốc hình thành nên tín ngưỡng đó. Câu 2: Anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Câu 3: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, anh (chị) yêu thích nhất nhân vật lịch sử nào ? Vì sao? Hãy trình bày hiểu biết của anh (chị) về nhân vật đó. Câu 4: Ở tỉnh, thành phố quê hương anh (chị) có những di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) tiêu biểu nào? Anh (chị) hãy giới thiệu về một di sản văn hóa của quê hương mà anh (chị) ấn tượng nhất. Theo anh (chị), cần phải làm gì để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa đó? Câu 5 : ”Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Anh (chị) hãy cho biết hai câu thơ trên là của ai. Nêu ý nghĩa của hai câu thơ đó. Theo anh (chị), cần phải làm gì để người học yêu thích môn Lịch sử ?
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cùng chủ đề