CÂU 3 HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG LÀ GÌ KHI NÀO SỨC LAO ĐỘNG TRỞ THÀNH HÀNG HOÁ LÀM RÕ HAI THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÂU 3 HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG LÀ GÌ KHI NÀO SỨC LAO ĐỘNG TRỞ THÀNH HÀNG HOÁ LÀM RÕ HAI THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG":

Câu hỏi ôn tập môn chủ nghĩa Mác Lênin

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

Chương V :HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯCâu 1 : Phân tích đặc trưng và điều kiện ra đời của PTSX TBCN?Là sự thống nhất giữa quá trình lao động tạo ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất giá trị thặng dư.Đặc trưng của quá trình sx TBCN:+ Công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản.+ Sản phẩm lao động làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nảy sinh từ trong lòng phương thức sản xuất phong kiến. Nhưng nó chỉ thực sự xuất hiện khi có đủ hai điều kiện sau:+ Phải tập trung một khối lượng tiền tệ tương đối lớn vào trong tay một số người, lượng tiền này đủ để bảo đảm cho họ mua tư liệu sản xuất xây dựng xí nghiệp và thuê mướn nhân công.+ Phải có những người tự do nhưng không có tư liệu sản xuất, buộc phải mang sức lao động của mình ra bán để kiếm sống. Việc sử dụng các biện pháp bằng sức mạnh bạo lực nói trên, đã nhanh chóng tạo ra hai điều kiện cần thiết và do đó đẩy nhanh quá trình chuyển hoá từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Câu 2 : Khi nào tiền biến thành tư bản?Tại sao?Nghiên cứu công thức chung của tư bản chính là nghiên cứu những điều kiện chuyển hóa tiền tệ => tư bản mà thực chất là sự chuyển hóa quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất đơn giản => quan hệ sx tư bản chủ nghĩa. Vì khi đó đã có 2 điều kiện: Có một lớp người được tự do về thân thể nhưng lại không có tư liệu sản xuất, vì vậy muốn sống họ phải đem bán sức lao động của mình và một số ít người tập trung được nhiều tiền đủ để lập xí nghiệp, mua sức lao động tiến hành sản xuất nhằm bóc lột lao động làm thuê.Câu 3 : Thế nào là sức lao động?Bản thân sức lao động có phải là hàng hóa không?Khi nào thì sức lao động trở thành hàng hóa? Theo C.Mác: “Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong thân thể một con người ,trong nhân cách sinh động của con người,thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích.” Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố cơ bản, điều kiện cần thiết để sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá. Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định. Đó là:+ Người có sức lao động được tự do về thân thể, làm chủ về sức lao động của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô lệ. + Người có sức lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, để duy trì cuộc sống phải đi làm thuê để sống. Nếu người lao động được tự do thân thể và có tư liệu sản xuất thì người lao động sẽ bán sản phẩm do mình làm ra chứ không phải sức lao động. Sự tồn tại đồng thời 2 điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hoá. Sức lao động biến thành hàng hoá báo hiệu một giai đoạn mới trong sự phát triển xã hội giai đoạn sản xuất hàng hoá trở thành phổ.Câu 4 : Khi sức lao động trở thành hàng hóa rồi thì nó có thuộc tính nào giống và khác với các hàng hóa thông thường ?Điểm giống:Đều là hàng hóa, đều có 2 thuộc tính (giá trị và giá trị sử dụng) được đem ra mua bán trên thị trường, chịu tác động của thị trường (cungcầu).Điểm khác: Về sự tồn tại,tính nhân văn,về chất lượng hàng hóa, về thuộc tính giá trị và về thuộc tính giá trị sử dụng.Hàng hóa sức lao độngHàng hóa thông thường1.Phương thức tồn tạiGắn liền với con ngườiKhông gắn liền với con người2.Giá trịChứa đựng các yếu tố vật chất, tinh thần và lịch sửĐược đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết => tái xuất ra sức lđChỉ có yếu tố vật chấtĐược đo trực tiếp bằng thời gian lao động xh cần thiết3.Giá cảNhỏ hơn giá trịCó thể gần bằng giá trị4.Giá trị sử dụngTạo ra giá trị mới > giá bản thân nó => giá trị thặng dưThông thường5.Quan hệ giữa người mua và bánNgười mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phục tùng người mua.Độc lập6.Ý nghĩaLà nguồn gốc của giá trị thặng dư => hàng hóa đặc biệtBiểu hiện của cảiCâu 5 : Trình bày quá trình sản xuất giá trị thặng dư của nhà tư bản. Rút ra định nghĩa giá trị thặng dư?Quá trình sản xuất giá tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa quy mô lớn với các đặc điểm:dựa trên cơ sở bóc lột làm thuê,việc kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động dựa trên điều kiện là sự tách rời chúng trước đó.Các nhà tư bản đưa ra các giả định cần thiết và lựa chọn các phương án phù hợp.Vậy, ta hiểu được định nghĩa của giá trị thăng dư đó là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.Câu 6 :Nhà tư bản đã thực hiện các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư như thế nào?Rút ra ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này? Đã có nhiều phương pháp dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối. Mỗi phương pháp đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:Được thực hiện bằng cách kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động xã hội, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.Ngày lao động kéo dài, trong khi thời gian lao động không đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ TBCN.+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách tăng năng suất lao động xã hội. Việc tăng năng suất lao động xã hội trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị sức lao động giảm xuống => giảm thời gian lao động cần thiết. Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết sẽ giảm => tăng thời gian lđ thặng dư, thời gian để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản. Tuy nhiên, do cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp mình, nhờ đó ta thu được giá trị thặng dư siêu gạch:+ Phương phápsản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch:Hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa so với giá trị thị trường của nó.Ý nghĩa thực tiễn nhưng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của nhà Tư Bản:Giúp hiểu rõ bản chất bóc lột của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa .Đồng thời cho thấy sự góp phần phát huy các nguồn lực kinh tế,cải tiến tổ chức quản lý sản xuất, phát triển sản xuất và khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế .Câu 7 : Phân tích làm rõ bản chất của giá trị thặng dư.Để chỉ rõ mức độ bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản đối với công nhân Mác đã đưa ra công thức nào?Ý nghĩa của các công thức đó là gì?Nguồn gốc bản chất của giá trị thặng dư:+ Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố sản xuất chủ yếu, sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng. Ví dụ như: Phát minh khoa học, cãi tiến kỷ thuật hay lao động sản xuất ra của cải vật chất, ... khi sức lao động trở thành hàng hoá giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao dộng tạo ra hàng hoá. Trong quá trình ấy, chính lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hoá sức lao động, tức là tạo ra giá trị thặng dư.+ Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra, dôi ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của người lao động. Do đó, nếu quá trình lao động dừng lại ở điểm mà giá trị sức lao động thì chỉ có sản xuất giá trị giãn đơn, khi quá trình lao động vượt quá điẻm đó mới có sản xuất giá trị thặng dư.+ Vậy nhân tố quyết định việc sản xuất giá trị thặng dư theo quan điểm chủ nghĩa Mac là nhân tố sức lao động của người công nhân (Chủ yếu là giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động).+ Muốn sản xuất ra giá trị thặng dư (m), trước hết nhà tư bản ra thị trường những thứ cần thiết như: Tư liệu sản xuất, sức lao động của người công nhân, ... Sau khi có được hai loại hàng hoá đó, nhà tư bản kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà tư bản bỏ ra, phàn lớn hơn đó gọi là giá trị thặng dư (m).Công thức và ý nghĩa: + Trong học thuyết này Marx đưa ra công thức THT’.Theocông thức đã dẫn thì tư bản có khả năng lớn lên vô giới hạn. Tuy nhiên Marx cũng chỉ ra giới hạn nhất định của phát triển tư bản do chi phối của quy luật lợi nhuận trung bình. Lợi nhuận trung bình xảy ra do sự cạnh tranh tư bản giữa các ngành kinh tế khác nhau. Mặc khác, do khả năng chi trả trong thị trường cho nhu cầu tiêu dùng là có hạn, nên điều đó cũng kìm hãm tốc độ vận động của tư bản.Hình thức cao nhất của sự phát triển tư bản là cho vay lãi. Chủ nhân của tư bản vay lãi có cảm giác rằng tiền đẻ ra tiền và công thức vận động của tư bản biến thành TT’.Câu 8 : Tại sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của CNTB?Vai trò của quy luật này đối với lịch sử?Sở dĩ ta nói quy luật kinh tế cơ bản của CNTB là quy luật giá trị thặng dư là bởi vì: Sản xuất nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực của nền sản xuất nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực của nền sản xuất TBCN.Để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản bằng cách tăng số lượng lao động làm thuê và tăng mức bóc lộtlà nội dung của quy luật kinh tế cơ bản của phương thức TBCN.Trong XHTB, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các QHSX của xã hội, giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệ cơ bản nhất đó. Khối lượng giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại của CNTB.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Vai trò của quy luật giá trị trong phát triển của kinh tế thị trường việt nam, tiểu luận

Vai trò của quy luật giá trị trong phát triển của kinh tế thị trường việt nam, tiểu luận

Lời mở đầu Một xã hội có những chính sách về phát triển kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đời sống tinh thần vật chất tinh thần của con người trong xã hội đó ngày một ổn định, phong phú, nhưng để có được một xã hội như vậy kh«ng tự nhiên mà có. Thực tế, việc phát triển kinh tế là một việc vô cùng khó khăn, đó là cuộc chạy đua sôi động giữa các nước trên thế giới nhằm đạt được một vị trí cao hơn trên trường quốc tế. Muốn thực hiên điều đó thì nhát quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa.Do đó mà ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự xuát hiện của quy luật giá trị. Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động của quy luật này. Quy luật giá trị là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì, phân hóa giàu nghèo, những cuộc cạnh tranh không lành mạnh…Chính vì thế chúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị, tìm hiểu vai trò và tác động của nó tới nền kinh tế, đặc biệt là thời kì phát triển kinh tế thị trường của nước ta hiện nay. Nội dung chính của bài tiểu luận : IVai trò của quy luật giá trị trong phát triển của kinh tế thị trường Việt Nam. IIBiểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh tranh và điểu kiện độc quyền. I Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường Việt Nam. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại. Do đó sự tồn tại kinh tế hàng hóa ở nước ta là một tất yếu khách quan. Những điều kiện chung để kinh tế hàng hóa xuất hiện và tồn tại là : Một là, phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại và ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hai là, sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo nên sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể kinh tế độc lập, cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường ở nước ta. Như vậy, phát triển kinh tế thị trường với nước ta là một tất yếu lịch sử, là nhiệm vụ cấp bách của quá trình hội nhập và phân công lao động quốc tế hiện nay. Sản xuất hàng hóa ở nước ta chịu tác động của quy luật giá trị thể hiện một số mặt sau đây: Thứ nhất:Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa Điều tiết sản xuất tức là điều hòa ,phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Sự điều tiết này được hình thành một cách tự phát, thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường. Có thể hiểu vai trò điều tiết này thông qua những biến động của quy luật cung cầu xảy ra trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu, sản phẩm không đủ nhu cầu thỏa mãn xã hội giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy với giá trị cao, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất. Những người trước đây sản xuất hàng hóa khác nay chuyển sang sản xuất hàng hóa này. Như vậy tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác. Khi cung lớn hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với nhu cần xã hội, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa bán không chạy có thể lỗ.Tình hình đó buộc người sản xuất ở ngành này thu hẹp quy mô sản xuất hay chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động giảm bớt đi ở ngành này và phát triển ở ngành khác mà họ thấy có lợi hơn. Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường. Sự biến động của giá cả trên thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt. Như vậy, sự biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biết động về kinh tế,mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hóa. Thứ hai : Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do điều kiện sản xuất khác nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau. Nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo giá trị xã hội. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Vì trong nền kinh tế hàng hóa, người nào có hao phí cá biệt ít hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa thì người đó có lợi hơn, còn người nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị thiệt hơn. Vì không thu được toàn bộ lao động đã hao phí. Muốn vậy, họ phải tìm cách cải tiến kĩ thuật, cải tiến tổ chức quản lí, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Quy luật giá trị mang tính quy luật thúc đẩy. Thứ ba : Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo. Trong quá trình cạnh tranh chạy theo lợi ích cá nhân, những người sản xuất hàng hóa có điều kiện sản xuất khác nhau, tính năng động khác nhau, kĩ năng nắm bắt nhu cầu thị trường khác nhau, kĩ năng đổi mới kĩ thuật, công nghệ, hợp lí hóa sản xuất khác nhau. Do đó giá trị cá biệt hàng hóa khác nhau, phù hợp với nhu cầu xã hội và thị trường khác nhau. Do vậy giá trị lao động cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không thống nhất với lao động xã hội cần thiết.Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài làm giàu, mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng thêm quy mô sản xuất, mở rộng doanh nghiệp của mình. Bên cạnh đó những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết nên họ bị lỗ vốn, thu hẹp sản xuất, thậm chí trở thành người nghèo, kéo theo sự thất nghiệp tăng, tiền thuê nhân công giảm sút. Dẫn tới việc phân hóa giàu nghèo càng sâu sắc giữa chủ và công nhân. Như vậy quy luật giá trị có ý nghĩa bình tuyến, đánh giá người sản xuất. Nó mang lại phần thưởng cho những người làm tốt, làm giỏi và hình phạt cho những người kém cỏi. Về phương diện này thì quy luật giá trị đảm bảo sự bình đẳng đối với người sản xuất. Tuy nhiên, ngay trong quá trình thực hiện bình tuyến tự nhiên đối với người sản xuất, quy luật giá trị đã phân hóa người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo. Người giàu trở thành ông chủ, người nghèo dần trở thành người làm thuê. Lịch sự phát triển sản xuất hàng hóa giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần sinh ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan hệ giữa kẻ giàu, người nghèo, quan hệ giữa chủ thợ quan hệ giữa tư sản vô sản là quan hệ đối kháng về lợi ích kinh tế, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước XHCN cần phải có sự điều tiết để hạn chế sự phân hóa giàu nghèo. “ Mỗi người sản xuất riêng biệt, cho lợi ích riêng của mình, không phụ thuộc vào các nhà sản xuất khác. Họ sản xuất cho thị trường, nhưng dĩ nhiên không một người nào biết được dung lượng của thị trường. Mối quan hệ như vậy giữa những người sản xuất riêng rẽ sản xuất cho thị trường chung, thì gọi là cạnh tranh. Dĩ nhiên trong những điều kiện ấy, sự thăng bằng giữa những người sản xuất tiêu dùng( cung cầu ) chỉ có được sau nhiền lần biến động. Người sản xuất khéo léo hơn, tháo vát hơn và sức lực hơn sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ biến động, còn người yếu hơn và vụng về thì sẽ bị đè bẹp. Một vài người trở nên giàu có, còn quần chúng trở nên nghèo đói, đó là kết quả không tránh được cạnh tranh. Kết cục người sản xuất bị phá sản, mất hết tính độc lập về kinh tế và trở thành công nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ ”. V.Lênin trong cuốn “Bàn về cái gọi là thị trường”. Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lí luận và thực tiễn hết sức to lớn: một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cự phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bát bình đẳng trong xã hội. Tóm lại : Quy luật giá trị, cùng với sự tác động của cung, cầu quyết định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, thúc đẩy sự tiến bộ kĩ thuật. Như vậy nó đã góp phần giúp nền kinh tế phất triển mạnh. Đồng thời, quy luật giá trị tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Nếu không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường nên nó dần hoàn thiện cơ chế thị trường đang được xây dựng ở nước ta. Tuy nhiên quy luật giá trị có tác dụng phân hóa những người sản xuất nhỏ, phân hóa giàu nghèo, dẫn đến bất công bằng trong xã hội. Từ đó thành nên mâu thuẫn giữa hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. II Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh tranh và điều kiện độc quyền 1.Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh tranh. Tự do cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (C và v )vào các ngành sản xuất khác nhau nên hình thành tỉ suất lợi nhuận khác nhau. Trong cạnh tranh có sự ganh đua đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau, giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có sự khác nhau về điều kiện sản xuất nên chi phí lao động cá biệt của sản xuất hàng hóa có sự khác nhau để giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải cạnh tranh nhau nhưng các điều kiện thuận lợi tỏng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm luôn biến động nên cạnh tranh diễn ra liên tục. Do đó trong tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất. Cạnh tranh là động lực, là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cơ sở của cạnh tranh là chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và thời gian lao động xã hội cần thiết. Do sự độc lập về tư liệu sản xuất nên các ngành luôn tìm cho mình điều kiện tốt nhất để đạt hiệu quả cao. Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, các xí nghiệp sản xuất chủ yếu cnahj tranh về giá trị nhằm chiếm thị phần của thị trường. Nhưng cạnh tranh về giá trị có giới hạn, nó phụ thuộc vào lao động xã hội cần thiết để làm ra hàng hóa đó. Do vậy, các doanh nghiệp vừa phải theo dõi cung cầu thị trường, vừa phải làm sao cho chi phí sản xuất cá biệt của mình nhỏ hơn lao động xã hội cần thiết để có thể thu được lợi nhuận cao và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. “ Quy luật cạnh tranh nó thể hiện ở chỗ: cung và cầu thường xuyên muốn ăn khớp với nhau, nhưng chính vì thế mà từ trước tới nay chưa ăn khớp với nhau.Cung luôn bám sát với cầu, nhưng từ trước tới nay không thỏa mãn được cầu một cách chính xác; cung thì lớn hơn hoặc nhỏ hơn chứ không bao giờ phù hợp với cầu, vì trong trạng thái không tự giác đó của loài người, không ai biết được rốt cuộc cung và cầu là bao nhiêu. Nếu cầu lớn hơn cùng thì giá cả tăng, điều đó dường như kích thích cung, nhưng khi cung vừa tăng lên ở thị trường thì lập tức giá hạ xuống, nếu cung vượt quá cầu thì giá hạ xuống ghê gớm khiến cho cầu tăng. Điều đó luôn luôn xảy ra, chưa bao giờ có trạng thái lành mạnh mà luôn luôn có lên xuống”. Ăngghen trong cuốn “ Phác thảo phê phán kinh tế chính trị học”. Giá cả thị trường là nguyên nhân chính dẫn đến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, giá cả thị trường được hình thành qua cạnh tranh. Và sự cạnh tranh sinh ra một thứ xã hội giả tạo. Hiện tượng này phát sinh là do quy luật giá trị thị trường. Ban đầu, giá cả thị trường hàng hóa này cao, cho lợi nhuận cao đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp khác tham gia dẫn đến sự cung ứng hàng hóa đó tăng lên trong khi nhu cầu tăng chậm dẫn đến việc muốn bán được hàng hóa phải giảm giá. Giá cả thị trường lại được điều chỉnh lại do sự cạnh tranh của các doanh nghiệp. “Với nền sản xuất hàng hóa, tức là sản xuất ra không phải để tự mình tiêu thụ nữa mà là để trao đổi, mua bán trên thị trường, thì những ngành sản xuất nhất định phải chuyển từ tay người này sang tay ngươi khác. Trong lúc trao đổi người sản xuất giao cho kẻ khác sản phẩm của mình, và không còn biết sản phẩm đấy sẽ ra sao. Từ khi có tiền và cùng với tiền thì có thương nhân đứng ra làm kẻ trung gian giữa những người sản xuất. Quá trình trao đổi lại càng trở nên rối ren hơn, hàng hóa không những chuyển từ tay người này sang tay người khác mà còn chuyển từ thị trường này sang thị trường khác, sang nơi có giá bán cao hơn nhằm thu lợi nhuận” Ăngghen trong cuốn “ Nguồn gốc của chế độ tư hữu và Nhà nước”. Trong xã hội gồm những người sản xuất hàng hóa trao đổi lẫn cho nhau, mà lại muốn quy định giá theo thời gian lao động và ngăn cấm sự cạnh tranh, không được thực hiện việc quy định giá theo thời gian lao động và ngăn cấm sự cạnh tranh, không được thực hiện việc quy định giá trị như thể theo hình thức duy nhất mà có sự quy định ấp có thể tiến hành, tức là bằng cách ảnh hưởng đến giá cả. Khi thực hiện quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa trong một xã hội gồm những người sản xuất, trao đổi hàng hóa lẫn cho nhau, sự cạnh tranh lập ra bằng cách đó, và trong những điều kiện nào đó, một trật tự duy nhất và một tổ chức duy nhất có thể có của nền sản xuất xã hội. Chỉ có do sự tăng hay giảm giá hàng hóa mà những người sản xuất hàng hóa riêng lẻ biết được rõ ràng là xã hội cần đến vật phẩm nào và với số lượng là bao nhiêu. 2. Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong điều kiện độc quyền Độc quyền là biểu hiện mới, mang những quan hệ mới nhưng nó không vượt qua khỏi quy luật giá trị cảu chủ nghĩa tư bản, mà chỉ là sự tiếp tục mở rộng, phát triển những xu hướng sâu sắc nhất cảu chủ nghĩa tư bản và của nền sản xuất hàng hoá nói chung, làm cho các quy luật của nền sản xuất hàng hoá và của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện mới. Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi mua, giá cả độc quyền cao khi bán. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trong gia đoạn đến quốc chủ nghĩa quy luật giá trị không còn hoạt động. Về thực chất, giá cả độc quyền vẫn không thoát ly và phủ định cơ sở của nó là giá trị. Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền chẳng qua là chiếm đoạt một phần giá trị của những người khác. Nếu xem xét trong toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thì tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị. Như vậy, nếu như trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất, thì trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền. Độc quyền là một hình thái thị trường của nền kinh tế. Độc quyền là quyền thu lợi nhuận siêu ngạch nhờ có quyền lực kinh tế nào đó. Do có được quyền lực về kinh tế đó mà các nhà độc quyền giữ vị trí thống trị trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, nên có thể không chỉ sủ dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất vẫn là những phạm trù kinh tế trong tự do cạnh tranh, mà nó sử dụng phương pháp cưỡng bức siêu kinh tế để thu lợi nhuận cao, lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận là một hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư hình thành trong giai đoạn độc quyền, không phải chủ yếu do cải tiến kĩ thuật, mà chủ yếu do địa vị thống trị của độc quyền thu được. Nguồn gốc và cơ cấu lợi nhuận độc quyền là giá trị thặng dư của công nhân làm việc trong các tổ chức độc quyền, một phần giá trị thặng dư của công nhân làm việc ở các xí nghiệp ngoài độc quyền, một phần giá trị mới do những người sản xuất nhỏ trong nước tạo ra. Với việc hình thành lợi nhuận độc quyền, các tổ chức độc quyền không hạn chế theo giá cả sản xuất mà bán theo giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Thông thường các tổ chức độc quyền bán hàng hoá với giá cao hơn giá trị hàng hoá. Do nắm được vai trò độc quyền trong một ngành sản xuất nhất định nên tập đoàn có thể tự ý quyết định giá bán trên thị trường, nhờ đó mà thu được lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền bằng lợi nhuận bình quân cộng với một số lưọi nhuận khác do địa vị thống trị của các tập đoàn độc quyền. Trong độc quyền, thời gian lao động cần thiết không còn là yếu tố cơ bản của cạnh tranh, mà các tổ chức độc quyền dùng thế lực của mình để cạnh tranh tiêu diệt các xí nghiệp vừa và nhỏ. Thông qua việc định giá cả hàng hoá thấp hơn giá trị của nó làm cho các xí nghiệp đó làm ăn thua lỗ, không hiệu quả, dẫn đến phá sản. Từ đó, các tổ chức độc quyền chiếm lĩnh thị trường và nâng giá hàng hóa lên để thu lợi nhuận độc quyền mà không phải tăng năng suất. Với thị phần lớn trong các thị trường, các tổ chức độc quyền có thể làm thay đổi lượng hàng hoá trên thị trưòng để làm cho lợi nhuận là tối đa. Theo Mác trong cuốn “Tư bản”, cần phân biệt những điểm sau: “Địa tô có phải là do một giá cả độc quyền mà ra không? Độc lập với địa tô còn có giá cả độc quyền của sản phẩm hay bản thân ruộng đất, sản phẩm được bán theo giá cả độc quyền vì có địa tô. Khi chúng ta nói đến giá cả độc quyền, phải hiểu đó là giá cả chỉ có do nguyện vọng mua và khả năng thanh toán của khách hàng quyết định, không kể gì đến giá cả do sản xuất chung và giá trị của sản phẩm quy định”. Một vườn nho sản xuất ra thứ rượu nho có phẩm chất đặc biệt nhưng nói chung thứ rượu này được sản xuất với khối lượng tương đối ít, cho nên nó sẽ đem lại một giá cả độc quyền. Nhờ có giá cả độc quyền ấy mà số trồi ra so với giá trị của sản phẩm và do sự giàu có và thị hiếu của những kẻ giàu ham rượu quyết định, nên người trồng nho đã thực hiện được một lợi nhuận siêu ngạch rất lớn. Lợi nhuận siêu ngạch này là do giá cả độc quyền mà có sẽ chuyển thành địa tô và dưới hình thái địa tô. Trong ngành sản xuất khác nhau, sự bình quân hoá của giá trị thặng dư để hình thành lựo nhuận bình quân vấp phải độc quyền nhân tạo và độc quyền tự nhiên, đặc biệt là vấp phải độc quyền sở hữư ruộng đất khiến cho khả năng tạo nên một giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất và cao hơn giá trị cả hàng hoá do độc quyền chi phối thì những giới hạn do giá trị hàng hoá quy định không vì thế mà bị thủ tiêu. Giá cả độc quyền của những loại hàng hoá nào đó chỉ đem lại một phần lợi nhuận cho các nhà sản xuất hàng hoá khác chuyển sang các hàng hóa có giá độc quyền. Sự phân phối giá trị thặng dư giữa các ngành sản xuất khác nhau sẽ gián tiếp bị rồi loạn một cách có tính chất cục bộ nhưng giới hạn của bản thân giá trị thặng dư không vì thế mà biến đổi. Nếu thứ hàng hoá có giá độc quyền đó lại là hàng hoá tiêu dùng thiết yếu của công nhân thì nó sẽ dẫn đến kết quả là nâng cao tiền công và giảm bớt giá trị thặng dư với điều kiện là công nhân tiếp tục được trả công theo sức lao động của mình. Nó có thể hạ thấp tiền lương xuống dưới giá trị sức lao động nhưng chỉ có thể hạ thấp chừng nào tiền công vượt quá giới hạn của mức sống tồi thiểu. Cơ chế thị trường tự do cạnh tranh là cơ chế độc quyền tư nhân đều có những mặt tích cực và tiêu cực. Khi trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất đã vượt khỏi giơi hạn điều tiết của cơ chế thị trường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải được bổ sung bằng sự điều tiết của Nhà nước.Cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sử dụng hợp cả ba cơ chế: thị trường, độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong cơ chế. MỤC LỤC ĐÁP ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Câu 1: Phân tích vai trò nền sản xuất xã hội và các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu các yếu tố sản xuất cơ bản với nền sản xuất ở nước ta hiện nay...................... ........................... Trang 1 Câu 2: Phân tích đối tượng và chức năng của kinh tế chính trị Mác Lênin?.......................................... ............................ Trang2. Câu 3: Trình bầy phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lênin. Lấyví dụ minhhoạ?...................................................................... Trang3 Câu 4: Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện tư tưởng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa trọngthương và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?Trang3 Câu 5: Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện, tư tưởng kinh tế tư bản của chủ nghĩa trọng nông và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? ................................ Câu 6: Trình bầy quan niệm về giá trị, tiền tệ, lợi nhuận, tiền lương, địa tô của Adam Smit (17231790) và nhận xét các quan niệm trên ..... Trang5 Câu 7: Trình bầy quan niệm về giá trị, tiền tệ, lợi nhuận, tiền lương, địa tô của D. Ricacđô (17721823) và nhận xét các quan niệm trên ..... Trang6 Câu 8: Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện và tư tưởng cơ bản của học thuyết Keynes (18831946). ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này?. Trang6 Câu 9:Phân tích điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và ưu thế của sản xuất hàng hoásovối kinh tế tự nhiên ................................... Trang7 Câu 10: Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá .... Trang8 Câu 11: Phân tích mặt chất, lượng của giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá ................................................... Trang9 Câu 12: Phân tích nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ. Trang10 Câu 13: Phân tích nội dung, yêu cầu, tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá. Sự biểu hiện hàng hoá của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa Tư bản như thế nào? ......................................... Trang11 Câu 14: Trình bầy thị trường và cơ chế thị trường. Phân tích các chức năng cơ bản củathị trường? .............................................................. Trang12 Câu 15: Phân tích quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường? ............................................................................ Trang13 Câu 16: Trình bầy khái niệm, nội dung và mối quan hệ giữa giá cả sản xuất, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá ?Trang13 Câu 17: Trình bầy khái niệm tái sản xuất, tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng, tái sản xuất xã hội và nội dung của nó ? ............... Trang14 Câu 18: Trình bầy khái niệm tăng trưởng, phát triển kinh tế và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất xã hội. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ............................................................................ Trang15 Câu 19: Trình bầy công thức chung của Tư bản và mâu thuẫn của nó. Phân biệt tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là Tư bản ? .... Trang16 Câu 20: Phân tích hàng hoá sức lao động và mối quan hệ giữa tiền lương với giá trị sức lao động ................................................................... Trang17 Câu 21: Trình bầy quá trình sản xuất giá trị thặng dư và phân tích hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? Trang18 Câu 22: Phân tích nội dung, vai trò quy luật giá trị thặng dư và sự biểu hiện của nó trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc quyền ?. Trang19 Câu 23: Thế nào là Tư bản bất biến và Tư bản khả biến. Tư bản cố định và Tư bản lưu động. Phân tích căn cứ và ý nghĩa phân chia hai cặp phạm trù đó? ..................................................................... Trang19 Câu 24: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư với tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có quan hệ như thế nào với khối lượng giátrị thặng dư ............................................................................ Trang20 Câu 25: Phân tích thực chất của tích luỹ tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ ? So sánh quá trình tích tụ và tập trung tư bản? Trang21 Câu 26: Thế nào là tuần hoàn và chu chuyển tư bản ? Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển tư bản ? ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên? Trang22 Câu 27: Thế nào là lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận. Phân tích sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và ý nghĩa của nó? .......................... Trang22 Câu 28: Phân tích nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức Ngân hàng và lợi nhuận Ngân hàng ......................................................... Trang23 Câu 29: Trình bày những nội dung cơ bản về sự hình thành công ty cổ phần và thị trường chứng khoán ? ................................................... Trang24 Câu 30: Phân tích bản chất địa tô và các hình thức địa tô ? Trang25 Câu 31: Phân tích nguyên nhân hình thành, các hình thức của độc quyền, bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền ? .................... Trang26 Câu 32: Phân tích nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền Nhà nước và vai trò kinh tế của Nhà nước trong CNTB hiện đại ............... Trang27 Câu 33: Phân tích tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và xu hướng vận ộng của chúng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Trang27 Câu 34: Trình bầy các thành phần kinh tế và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế ở nước t28a hiện nay. Vì sao kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo?.................................................................... Trang28 Câu 35: Trình bầy mục tiêu, quan điểm cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta ............................................................................ Trang29 Câu 36: Trình bầy tính tất yếu và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. .................................................................... Trang30 Câu 37: Phân tích nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế ở nước ta ............................................................................ Trang31 Câu 38: Phân tích đặc điểm sản xuất hàng hoá ở nước ta hiện nay.Trang32 Câu 39: Phân tích các điều kiện và định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta hiện nay ................................................ Trang33 Câu 40: Phân tích bản chất, vai trò của lợi ích kinh tế Ý nghĩa thực tiễn. Trang.34 Câu 41: Phân tích vị trí, nội dung của quan hệ phân phối trong quá trình sản xuất xã hội. trình bầy sơ đồ phân phối tổng sản phẩm của Mác.Trang35 Câu 42: Phân tích các nguyên tắc phân phối cơ bản ở nước ta hiện nay. Trang35 Câu 43: Trình bầy các hình thức thu nhập trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay ............................................................................ Trang36 Câu 44: Thế nào là cơ chế thị trường ? Vì sao trong cơ chế thị trường cần có sự quản lý Nhà nước ? Phân tích các công cụ chủ yếu đẻ thực hiện quản lý kinh tế vĩ mô ở nước ta ? ............................................................................ Trang37 Câu 45: Phân tích cơ sở khách quan và phương hướng đổi mới nền kinh tế nước ta ............................................................................ Trang37 Câu 46: Phân tích bản chất, chức năng hệ thống tài chính, tín dụng ở nước ta hiện nay. ............................................................................ Trang38 Câu 47: Trình bầy bản chất, chức năng và xu hướng đổi mới hoạt động của hệ thống Ngân hàng ở nước ta ................................................... Trang38 Câu 48: Phân tích tính tất yếu và vai trò của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta. ....................................................................... Trang39 Câu 49: Trình bầy các nguyên tắc cơ bản và các hình thức của quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta ............................................................... Trang40 Câu 50: Phân tích khả năng và những giải pháp chủ yếu mở rộng kinh tế đối ngoại của nước ta. ....................................................................... Trang41 Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất và thuê công nhân để tiến hành sản xuất. Do đó tư bản phải trích ra một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô. Địa tô TBCN là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Địa tô = m P b Các hình thức địa tô Địa tô chênh lệch là phần phụ thêm ngoài lợi nhuận bình quân thu nhập trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn (độ mẫu mỡ và vị trí địa lý). Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung quyết định bởi điều kiện sản xuất cá biệt trên ruộng đất loại tốt và trung bình. Mác chia địa tô chênh lệch thành hai loại là địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II. + Địa tô chênh lệch I gắn liền với độ mầu mỡ tự nhiên và vị trí thuận lợi + Địa tô chênh lệch II gắn liền với thâm canh, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích. Địa tô tuyệt đối. Người chủ ruộng đất (dù đất xấu tốt, xa gần) khi đã cho thuê đều nhận được địa tô. Số địa tô nhất thiết phải nhận được ấy gọi là địa tô tuyệt đối. Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp. Còn nguyên nhân tồn tại địa tô tuyệt đối là do chế độ độc quyền ruộng đất đã ngăn cản nông nghiệp tham gia cạnh tranh giữa các ngành để thành lợi nhuận bình quân. Địa tô độc quyền: Địa tô độc quyền có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và các khu đất trong thành phố. + Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất có tính chất đặc biệt cho phép sản xuất các cây trồng quý, hiếm (do đó bán được giá cả cao) + Trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền có ở các vùng khai thác các kim loại hay khoáng chất quý hiếm, hoặc những khoáng sản mà khả năng khai thác còn thấp so với nhu cầu. + Trong các thành phố địa tô độc quyền thu được ỏ các khu đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận nhiều. Lý luận địa tô TBCN của Mác không chỉ vạch rõ quan hệ sản xuất TBCN trong nông nghiệp mà còn là cơ sở lý luận để Nhà nước xây dựng các chính sách thuế với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan một cách hợp lý, kích thích phát triển nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế (Nhà nước ta hiện nay không đánh thuế vào địa tô chênh lệch II để khuyến khích nông dân yên tâm đầu tư thâm canh tăng năng suất). Câu 31: Phân tích nguyên nhân hình thành, các hình thức của độc quyền, bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền ? a Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa Tư bản độc quyền CNTB phát triển qua hai giai đoạn là CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc. CNTB độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là do các nguyên nhân chủ yếu: Sự tác động của cạnh tranh, muốn thắng nhà tư bản phải tích tụ, tập trung sản xuất. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật (phương pháp luyện kim mới, động cơ đốt trong, phương tiện vận tải mới...). Để áp dụng những thành tựu đó vào sản xuất cần có nguồn vốn lớn. Điều này yêu cầu phải tích tụ tư bản và tập trung sản xuất. Do cuộc khủng hoảng kinh tế của thế giới tư bản, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 càng đẩy mạnh tích tụ tư bản và tập trung sản xuất. Tích tụ và tập trung sản xuất đến mức độ nào đó tất yếu dẫn đến độc quyền, vì số ít các xí nghiệp lớn dễ thoả hiệp với nhau hơn là nhiều xí nghiệp nhỏ. Mặt khác, cạnh tranh giữa các xí nghiệp lớn sẽ gay gắt hơn, đẻ ra khuynh hướng thoả hiệp để nắm độc quyền. Độc quyền là sự liên minh giữa các xí nghiệp lớn nắm trong tay phần lớn những cơ sở sản xuất lớn hoặc tiêu thụ một hoặc một số lớn loại hàng hoá có khả năng hạn chế cạnh tranh, định giá cả độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao. b Các hình thức của độc quyền Các ten là loại liên minh độc quyền về giá cả, thị trường, các thành viên trong độc quyền này vẫn độc lập cả trong sản xuất lẫn trong lưu thông. Xanh đi en là loại tổ chức độc quyền mà các thành viên độc lập về mặt sản xuất, ban quản trị đảm nhiệm việc lưu thông. Tờ rớt là tổ chức độc quyền mà việc điều hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do một Ban quản trị đảm nhiệm. Các nhà Tư bản trở thành cổ đông và hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ cổ phần đã góp. Côngxoocxiom là tổ chức độc quyền của nhiều ngành công nghiệp, nhiều hãng buôn, Ngân hàng, công ty bảo hiểm... trên cơ sở phụ thuộc về tài chính vào một tập đoàn nhà tư bản nào đó. Cônggờlômêrat là tổ chức độc quyền khổng lồ đặt dưới sự kiểm soát về tài chính và quản lý chung của một nhóm tư bản độc quyền lớn nhất. Quy mô và phạm vi của nó vượt ra khỏi biên giới quốc gia. c Bản chất kinh tế của CNTB độc quyền Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, nó loại bỏ sự thống trị của tự do cạnh tranh nhưng không thủ tiêu được cạnh tranh mà cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Cạnh tranh dẫn đến độc quyền, độc quyền cũng để cạnh tranh tốt hơn. Bản chất kinh tế của CNTB độc quyền vẫn dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Độc quyền chiếm giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế, thể hiện ở sự độc chiếm các nguồn nguyên liệu, phương tiện vận tải, thị trường vốn, nhân công, quy luật kinh tế cơ bản vẫn là quy luật giá trị thặng dư, song biểu hiện ra bên ngoài là quy luật lợi nhuận độc quyền cao. Câu 32: Phân tích nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền Nhà nước và vai trò kinh tế của Nhà nước trong CNTB hiện đại a Nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền Nhà nước Cơ sở nền tảng của sự chuyển từ CNTB độc quyền sang CNTB độc quyền Nhà nước là mâu thuẫn sâu sắc giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Sự xã hội hoá cao đó của lực lượng sản xuất đòi hỏi có sự điều tiết xã hội đối với quá trình sản xuất từ một trung tâm (đó là Nhà nước), nếu không nền kinh tế sẽ bị khủng hoảng dữ dội. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại như hoá dầu, hàng không, nguyên tử, tên lửa, vũ trụ... để ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất và đời sống thì không một công ty độc quyền khổng lồ nào đủ vốn để làm, chỉ có Nhà nước mới có đủ khả năng giải quyết. Do cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, đặc biệt công cuộc xây dựng chủ nghĩa Xã hội ở các nước Xã hội chủ nghĩa buộc CNTB phải đối phó. Do đó, tư bản độc quyền phải nắm lấy bộ máy nhà nước để đối phó với các cuộc đấu tranh trên. Vậy Chủ nghĩa Tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của Tư bản độc quyền với sức mạnh của nhà nước vào một bộ máy duy nhất, nhằm sử dụng bộ máy nhà nước như một trung tâm của toàn bộ đời sống kinh tế, điều tiết có mục đích các quá trình kinh tế, bảo đảm lợi nhuận độc quyền cao cho các tổ chức độc quyền và bảo vệ, phát triển quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa. b Vai trò kinh tế của nhà nước trong CNTB hiện đại Cơ chế điều tiết nền kinh tế trong CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc quyền là cơ chế thị trường. Trong CNTB độc quyền nhà nước, cơ chế điều tiết nền kinh tế là kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự tác động tập trung của Nhà nước, tạo ra một hệ thống thống nhất của sự điều tiết độc quyền nhà nước. Nhà nước giữa vai trò điều tiết vĩ mô bằng các công cụ có hiệu quả như hệ thống tài chính nhà nước, điều tiết hệ thống tiền tệ, tín dụng, các chính sách cơ cấu và chương trình hoá kinh tế. Nhà nước điều tiết các quá trình sản xuất, định hướng mục tiêu phát triển kinh tế từng thời kỳ. Tính tự phát của thị trường bị giới hạn bởi sự tác động của các cơ quan Nhà nước, làm cho nền kinh tế có tính chất tổ chức hơn, cân đối hơn nên đã chống được các cuộc khủng hoảng kinh tế dữ dội, làm kinh tế phát triển nhanh hơn trước. Câu 33: Phân tích tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và xu hướng vận động của chúng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam a Tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam Thời kỳ quá độ còn tồn tại những thành phần kinh tế do lịch sử để lại và còn có lợi cho sự phát triển kinh tế của CNXH (kinh tế Tư bản tư nhân, kinh tế cá thể) Do chính sách cải tạo XHCN nền kinh tế cũ, nảy sinh những thành phần kinh tế mới (kinh tế tư bản nhà nước, các loại hình hợp tác xã) Do yêu cầu xây dựng xã hội mới và nền kinh tế mới, các thành phần kinh tế mới ra đời (kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể) Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần khắc phục được tình trạng ộc quyền, tạo ra động lực cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế quá độ vừa là tất yếu, cần thiết, vừa là phương tiện để đạt được mục đích của nền sản xuất xã hội. Nó vừa tạo cơ sở làm chủ về kinh tế vừa bảo đảm kết hợp hài hoà hệ thống lợi ích kinh tế. Đó chính là động lực của sự phát triển. b Xu hướng vận động của nền kinh tế nhiều thành phần: Xã hội hoá nền sản xuất là xu hướng vận động cơ bản của nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN với vai trò chủ đạo là kinh tế quốc doanh. Xã hội hoá sản xuất hiểu theo nghĩa đơn giản là sự phân công lao động đi đôi với chuyên môn hoá, mở rộng thêm nhiều ngành nghề sản xuất mới, hợp thành một quá trình sản xuất xã hội. Xã hội hoá sản xuất hiểu theo nghĩa chung nhất là sự liên kết nhiều quá trình kinh tế riêng biệt thành quá trình kinh tế xã hội. Xã hội hoá XHCN nền sản xuất phải xem xét trên 3 mặt sau: + Kinh tế xã hội (mà nội dung là quan hệ sở hữu về TLSX) + Kinh tế kỹ thuật hay công nghệ (mà nội dung thể hiện ở trình độ lực lượng sản xuất và cơ sở vật chất của nó) + Kinh tế tổ chức (mà nội dung thể hiện ở tổ chức và quản lý nền sản xuất xã hội) Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ, thực hiện xã hội hoá sản xuất theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Xã hội hoá sản xuất là quá trình có tính quy luật để xây dựng nền kinh tế sản xuất lớn hiện đại. Đó cũng là xu hướng vận động cơ bản của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ. Câu 34: Trình bầy các thành phần kinh tế và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay. Vì sqao kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo ? a Các thành phần kinh tế và vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ còn đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế và mỗi thành phần có đặc điểm riêng của nó. Thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) bao gồm các xí nghiệp quốc doanh, các nông trường quốc doanh, thương nghiệp quốc doanh. Thành phần kinh tế quốc doanh dựa trên sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất (TLSX). Kinh tế quốc doanh có số lượng vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật mạnh hơn hẳn các thành phần kinh tế khác: số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế và công nhân kỹ thuật lành nghề đông đảo, kinh tế quốc doanh có khả năng liên doanh, liên kết với các đơn vị kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, kinh tế quốc doanh nắm các ngành, các khâu và các sản phẩm then chốt của nền kinh tế quốc dân. Với những đặc điểm đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế và định hướng phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế tập thể (KTTT) bao gồm các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ. Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất (trừ
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÁC LÊNIN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÁC LÊNIN

Từ việc cạnh tranh sẽ dẫn đến phân hóa giàu (người thành công), nghèo ( người thất bại). Sự biểu hiện của QLGT trong giai đoạn phát triển CNTBTrong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hoá trở thành giá cả sản xuất. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quuyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị. Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền. Câu 4: Hàng hóa sức lao động (khái niệm sức lao động, 2 điều kiện sức lao động thành hàng hóa, hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động, tại sao SLĐ lại là hàng hóa đặc biệt)Khái niệmSức lao động: là toàn bộ thể lực và trí lực mà con người vận dụng vào trong quá trình SX. Điều kiện để SLĐ thành hàng hóaNgười LĐ được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa. Người có SLĐ phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống.
Xem thêm

Đọc thêm

HƯỚNG DẪN ÔN THI KẾT THÚC MÔN KTCT

HƯỚNG DẪN ÔN THI KẾT THÚC MÔN KTCT

34. Giá trị sử dụng của hàng hoá:A. Tính hữu ích cho người sản xuấtB. Tính hữu ích cho người muaC. Tính hữu ích cho cả người bán và người mua D. Tất cả đều đúng35. Quy luật giá trị có tác động:A. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóaB. Kích thích lực lượng sản xuất phát triển và tăng năng suất lao độngC. Phân hóa giàu – nghèo giữa những người sản xuất hàng hóaD. Bao gồm tất cả các tác động trên36. Một hợp tác xã nông nghiệp sản xuất được 50 tấn lúa/vụ, họ bán 5 tấn để chi tiêu khác,số còn lại để ăn. Hỏi hợp tác xã trên thuộc loại hình kinh tế nào?a. Kinh tế tự nhiên (sản xuất tự cấp, tự túc)b. Kinh tế hàng hóac. Kinh tế hỗn hợpd. Kinh tế tư nhân37. Vì sao hàng hoáhai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng?a) Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt;b) Vì có hai loại lao độnglao động trừu tượng và lao động cụ thể;c) Vì hàng hoá được đem ra trao đổi trên thị trường;d) Vì hàng hoá là sản phẩm lao động của con người.38. Lý luận nào là viên đá tảng trong học thuyết kinh tế của Mác?a) Lý luận giá trị thặng dư;b) Lý luận hàng hoá sức lao động;c) Lý luận về hai thuộc tính của hàng hoá;d) Lý luận về tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.39. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là gì?a) Công trường thủ công;b) Cuộc cách mạng công nghiệp;c) Nền đại công nghiệp cơ khí;d) Trình độ sản xuất máy móc, cơ khí hoá.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi tiên lãng hải phòng

KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TIÊN LÃNG HẢI PHÒNG

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động trở thành hàng hoá, nó nhận được một giá trị nhất định biểu hiện bằng tiền lương (tiền công) Là thù lao trả cho người lao động để bù đắp và tái sản xuất sức lao động. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động do đó họ đòi hỏi một mức tiền lương xứng đáng với sức lao động họ đã bỏ ra và đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của họ. Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ). Đây là quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến từng thành viên. Các chế độ, chính sách về tiền lương và các khoản trích theo lương đã được nhà nước ban hành song nó được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào tính chất công việc. Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng là một doanh nghiệp Nhà nước với nhiệm vụ chính là quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi trong huyện Mỹ Đức đảm bảo tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp đã và đang có những cố gắng trong công tác tổ chức hạch toán lao động tiền lương. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, với sự hướng dẫn nhiệt tình của các cô, chú trong Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng , đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo cặn kẽ của thầy giáo TS Nguyễn Viết Tiến đã giúp em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng Hải Phòng . Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp. Chương II: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng Hải Phòng. Chương III: Phương hướng hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Tiên Lãng Hải Phòng.
Xem thêm

108 Đọc thêm

CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI XÂY DỰNG NGỌC LINH

CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI XÂY DỰNG NGỌC LINH

Nếu một doanh nghiệp không xây dựng và quản lý tốt quỹ tiền lương thì sẽ làm tăng chi phí sản xuất đầu vào, làm giảm vị thế cạnh tranh của sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp và lớn lao đến kết quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trong cơ chế thị trường, mọi yếu tố sản xuất đều trở thành hàng hoá, sức lao động của con người cũng là một hàng hoá đặc biệt. Do vậy, thông qua việc trả lương doanh nghiệp sẽ thúc đẩy, nâng cao, động viên tinh thần làm việc, trách nhiệm của người lao động. Chính vì tầm quan trọng của tiền lương mà mỗi doanh nghiệp hiện nay cần phải tổ chức, quản lý tiền lương và lựa chọn áp dụng các hình thức trả lương phù hợp với tính chất và đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình để có thể thu được hiệu quả kinh tế cao và là đòn bẩy mạnh mẽ kích thích đối với người lao động. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tổ chức tiền lương, sau quá trình học tập tại trường Đại học Công Đoàn và thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Xây dựng Ngọc Linh, em đã chọn đề tài: “CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI XÂY DỰNG NGỌC LINH” làm đề tài cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình. Đề tài có kết cấu 3 phần: CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức tiền lương CHƯƠNG 2: Thực trạng công tác tổ chức tiền lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Xây dựng Ngọc Linh CHƯƠNG 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức tiền lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Xây dựng Ngọc Linh Trong quá trình thực tập và hoàn thiện khoá luận, do khả năng phân tích của em còn hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được các thầy cô chỉ bảo thêm giúp em hoàn thành bài và đạt kết quả tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

83 Đọc thêm

NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN 2

NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN 2

Câu 1:Hàng hóa là gì ?Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa?Vì sao hàng hóa có hai thuộc tính?Câu 2:Trình bày điều kiện ra đời,ưu thế và hạn chế của sản xuất hàng hóa?Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.Câu 3: Phân tích nội dung và tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa?Câu4:Thế nào là sản xuất tự cấp tự túc?Sản xuất hàng hóa?Trình bày điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa?Vì sao phải phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay?Câu 5:Tiền tệ là gì?Vì sao nói tiền tệ ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa?Câu 6:Chức năng cơ bản của tiền? Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền tệ ở nước ta hiện nay.Câu 7:Trình bày lượng giá trị của hàng hóa và các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa? Câu 8:Sức lao động trở thành hàng hóa khi nào?So sánh hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động?
Xem thêm

44 Đọc thêm

Vì sao nói học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa mác lê nin, tiểu luận

Vì sao nói học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa mác lê nin, tiểu luận

LỜI NÓI ĐẦU Khi nghiên cứu toàn bộ học thuyết của Các Mác, chúng ta đã thấy rõ công lao to lớn của ông trong việc khắc phục những hạn chế của các học thuyết trước đó . Trên cơ sở kế thừa những cái đã có và tìm ra những hạn chế của các học thuyết đó để bổ sung, hoàn thiện, sáng tạo và phát triển. Như Lê Nin đã nói: “ Tất cả thiên tài của Các Mác chính là ở chỗ giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Các Mác đã kế thừa tất cả những cái gì tốt đẹp nhất mà loài người tạo ra trong thế kỉ XIX”. Toàn bộ học thuyết của Các Mác được trình bày trong bộ tư bản, đây được coi là một tác phẩm lớn, trình bày một cách khoa học, có hệ thống các học thuyết kinh về: giá trị, giá trị thặng dư, tiền công, tích lũy tư bản, tuần hoàn, chu chuyển tư bản, tái sản xuất tư bản…Trong đó học thuyết về giá trị thặng dư là một trong hai học thuyết vĩ đại nhất của Các Mác, đây cũng là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Trên cơ sở học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư, “ Mác hoàn toàn dựa vào và chỉ dựa vào những quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội hiện đại mà kết luận rằng xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ biến thành xã hội xã hội chủ nghĩa. Việc xã hội hóa lao động ngày càng tiến nhanh thêm dưới muôn vàn hình thức, đã biểu hiện rõ ràng ở sự phát triển của đại công nghiệp,…đấy là cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời không thể tránh khỏi của chủ nghĩa xã hội. Hình thành một cách đồng thời với chủ nghĩa xã hội là sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng, chức năng và nhiệm vụ nhất định . Đề tài : Câu 1 : Vì sao nói học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê Nin ? Câu 2 : Đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa , liên hệ với nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam ? Tuy đã rất cố gắng song bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn học lớp Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê Nin 30 . Em xin chân thành cảm ơn Hà nội, ngày 10 tháng 4 năm 2012 Bài làm Câu 1 : Trả lời : I, Hoàn cảnh ra đời học thuyết giá trị thăng dư của chủ nghĩa Mác. Học thuyết giá trị thặng dư của Các Mác ra đời trong bối cảnh lịch sử Tây Âu của những năm 40 thế kỷ XIX: Về thực tiễn kinh tế: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dựa trên thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành. Chính nó đã tạo ra cơ sở vật chất để các phạm trù kinh tế với tư cách là bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ khá rõ nét. Về thực tiễn chính trị xã hội: Là thời kỳ có nhiều biến đổi về chính trị và xã hội đã và đang diễn ra (Cách mạng phản phong kến của Pháp, Công xã Pari và phong trào công nhân Pháp, Phong trào hiến chương, Cuộc cách mạng tư sản 1848 mang tính toàn châu Âu). Đó là những chất liệu quý giá cho sự hình thành các học thuyết của Các Mác. Về tiền đề lý luận: Các Mác đã dựa vào kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ( W. Petty, A.Smith, D.Ricardo), chủ nghĩa xã hội không tưởng của Pháp, Triết học cổ điển Đức (Hêghen và Phoiơbắc). Với bối cảnh ra đời trên, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác được trình bày từ phần IV đến phần V trong quyển 1 và từ phần I đến phần III trong quyển 3 của Bộ Tư bản II, Nội dung cơ bản học thuyết giá trị thặng dư của chủ nghĩa Mác. Học thuyết giá trị thặng dư nghiên cứu trực tiếp sự tồn tại và phát triển của quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật giá trị thặng dư với tư cách là quy luật kinh tế tuyệt đối (hay quy luật kinh tế cơ bản) của xã hội Tư bản, nghiên cứu hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư mà trước tiên là lợi nhuận và lợi nhuận bình quân. Nội dung cơ bản của học thuyết giá trị thặng dư của Mác thể hiện cụ thể như sau: Sự chuyển hóa tiền tệ thành tư bản. Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối. Mối quan hệ và sự khác biệt giữa sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối và sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. Quy luật giá trị thặng dư. 1, Chuyển hóa tiền tệ thành tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, mà tiền chỉ biến thành tư bản khi được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Nếu tiền được dùng để mua hàng hoá thì chúng là phương tiện giản đơn của lưu thông hàng hoá và vận động theo công thức: Hàng Tiền Hàng (HTH), nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ, rồi tiền tệ lại chuyển hoá thành hàng. Còn tiền với tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: Tiền Hàng Tiền (THT), tức là sự chuyển hoá tiền thành hàng và sự chuyển hoá ngoặc lại của hàng thành tiền. Bất cứ tiền nào vận động theo công thức THT đều được chuyển hoá thành tư bản. Do mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng nên vòng lưu thông chấm dứt ở giai đoạn hai. Khi những người trao đổi đã có được giá trị sử dụng mà người đó cần đến. Còn mục đích lưu thông của tiền tệ với tư cách là tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm. Vì vậy nếu số tiền thu bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên không có giá trị gì. Do vậy số tiền thu phải lớn hơn số tiền đã ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là: THT’, trong đó T’=T+ T. T là số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra, C. Mác gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích của lưu thông THT’ là sự lớn lên của giá trị thặng dư, nên sự vận động THT’ là không có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông theo công thức THT’, do đó công thức này được gọi là công thức chung của tư bản. Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay người chủ của nó thì thêm một lượng nhất định (T). Vậy có phải do bản chất của lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm, và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không? Thật vậy trong lưu thông nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, còn tổng số giá trị, cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi. Về mặt giá trị sử dụng trong trao đổi của hai bên là không có lợi gì. Như vậy, không ai có thể thu được từ lưu thông một lượng lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra (Tức là chưa tìm thấy T). C.Mác cho rằng trong xã hội tư bản không có bất kỳ một nhà tư bản nào chỉ đóng vai trò là người bán sản phẩm mà lại không phải là người mua các yếu tố sản xuất. Vì vậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá trị vốn có của nó, thì khi mua các yếu tố sản xuất ở đầu vào các nhà tư bản khác cũng bán cao hơn giá trị và như vậy cái được lợi khi bán sẽ bù cho cái thiệt hại khi mua. (Cuối cùng vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra T) Nếu hàng hoá được bán thấp hơn giá trị, thì số tiền mà người đó sẽ được lợi khi là người mua cũng chính là số tiền mà người đó sẽ mất đi khi là người bán. Như vậy việc sinh ra T không thể là kết quả của việc mua hàng thấp hơn giá trị của nó. Vậy trong lưu thông không thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư vì vậy không thể là nguồn gốc sinh ra T Ở ngoài lưu thông Mác xem xét cả hai yếu tố là hàng hoá và tiền tệ: Đối với hàng hoá ngoài lưu thông: Tức là đem sản phẩm tiêu dùng hay sử dụng và sau một thời gian tiêu dùng nhất định thì thấy cả giá trị sử dụng và giá trị của sản phẩm đều biến mất theo thời gian. Đối với yếu tố tiền tệ: Tiền tệ ở ngoài lưu thông là tiền tệ nằm im một chỗ. Vì vậy không có khẳ năng lớn lên để sinh ra T. Vậy ngoài lưu thông không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông. Đó là mâu thuẫn công thức chung của tư bản. Khi Mác trở lại lưu thông lần thứ hai và lần này Mác đã phát hiện ra rằng: ở trong lưu thông người có tiền là nhà tư bản phải gặp được một người có một thứ hàng hoá đặc biệt đem bán. Mà thứ hàng hoá đó khi đem đi tiêu dùng hay sử dụng nó có bản tính sinh ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động. Theo C.Mác: Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong mọi cơ thể, trong mọi con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó Sức lao động chỉ có trở thành hang hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây: Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa. Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa. 2, Sự sản xuất ra giá trị thặng dư. A,Bản chất giá trị thặng dư: Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi. Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư. Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C.Mác viết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”. Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng: Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiêụ quả nhất. Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của người công nhân C.Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh làm đối tượng nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giả định khoa học thông qua giả thiết chặt chẽ để tiến hành nghiên cứu: Không xét đến ngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêu dùng chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế tái sản xuất giản đơn. Từ các giả định đó, Mác đưa ra một loạt các giả thiết để nghiên cứu: Nhà tư bản dự kiến kéo 10 kg sợi; giá 1 kg bông là 1 đôla; hao mòn thiết bị máy móc để kéo 5 kg bông thành 5 kg sợi là 1 đôla; tiền thuê sức lao động 1 ngày là 4 đôla; giá trị mới 1 giờ lao động của công nhân là 1 đôla và chỉ cần 4 giờ người công nhân kéo được 5 kg bông thành 5 kg sợi. Từ đó, có bảng quyết toán như sau: Tư bản ứng trước Giá trị của sản phẩm mới Giá 10 kg bông 10 đôla Lao động cụ thể của công nhân bảo tồn và chuyển giá trị 10 kg bông vào 10 kg sợi. 10 đôla Hao mòn máy móc 2 đôla Khấu hao tài sản cố định 2 đôla Tiền thuê sức lao động trong một ngày 4 4 đôla Giá trị mới do 8 giờ lao động của người công nhân tạo ra 8 đôla Tổng chi phí sản xuất 16 đôla Tổng doanh thu 20 đôla Nhà tư bản đối chiếu giữa doanh thu sau khi bán hàng (20 đôla) với tổng chi phí tư bản ứng trước quá trình sản xuất (16 đôla) nhà tư bản nhận thấy tiền ứng ra đã tăng lên 4 đôla, 4 đôla này được gọi là giá trị thặng dư. Từ sự nghiên cứu trên, chúng ta rút ra một số nhận xét sau: Một là, nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư chúng ta nhận thấy mâu thuẫn của công thức chung của tư bản đã được giải quyết. Việc chuyển hoá tiền thành tư bản diến ra trong lĩnh vực lưu thông và đồng thời không diễn ra trong lĩnh vực đó. Chỉ có trong lưu thông nhà tư bản mới mua được một thứ hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động. Sau đó nhà tư bản sử dụng hàng hoá đó trong sản xuất, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Do đó tiền của nhà tư bản mới biến thành tư bản. Hai là, phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất ra (10 kg sợi), chúng ta thấy có hai phần: Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của người công nhân mà được bảo tồn và di chuyển vào giá trị của sản phẩm mới (sợi) gọi là giá trị cũ. Giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao động gọi là giá trị mới, phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư. Ba là, ngày lao động của công nhân trong xí nghiệp tư bản được chia thành hai phần: Một phần gọi là thời gian lao động cần thiết: Trong thời gian này người công nhân tạo ra được một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho mình (4 đôla). Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư: Trong thời gian lao động thặng dư người công nhân lại tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị sức lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư (4 đôla) và bộ phận này thuộc về nhà tư bản (nhà tư bản chiếm đoạt). Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho họ. Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tại điểm đó giá trị sức lao động được trả ngang giá. B Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối: Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối được tiến hành bằng cách kéo dài tuyệt đối thời gian lao động trong ngày của người công nhân trong điều kiện thời gian lao động cần thiết (hay mức tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là không đổi). Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lột của nhà tư bản là 100%. Giả định ngày lao động được kéo dài thêm 2 giờ trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên một cách tuyệt đối, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tăng lên đạt 200% (m’ = 200%) Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các nhà tư bản. Nhưng dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người. Vì vậy, ngoài thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức lao động. Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày. Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối. C Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối: Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động là không đổi. Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100%. Bây giờ chúng ta lại giả thiết rằng, công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư trong trường hợp đó cũng thay đổi. Khi đó thời gian lao động cần thiết là 2 giờ, thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc lột của nhà tư bản lúc này là 300% (m’ = 300%). Để có thể rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm mọi biện pháp, đặc biệt là phải áp dụng tiến bộ và công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị trường của sản phẩm. Đặc biệt nâng cao năng suất lao động xã hội trong những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân. Từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao động. Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm ưu thế, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi mà kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm vị trí chủ yếu. Hai phương pháp trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. 3, Quy luật giá trị thặng dư. Quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị thặng dư. +Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản bởi vì nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế của xã hội tư bản. Không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản. Theo C. Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản, ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có sản xuất giá trị thặng dư. Chính vì vậy, Lênin gọi quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. +Nội dung của quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê. +Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy sự vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn. Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân +Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa. Với mục đích là thu được ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, các nhà tư bản cạnh tranh với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được quy mô giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trị thặng dư cao hơn. +Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến sản xuất. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Kết Luận: Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là sản xuất ra giá trị sử dụng, mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi giá trị thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục đích, động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như của toàn bộ xã hội tư sản. Sản xuất ra giá trị thặng dư quả thực là động lực vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết: “ Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giàu, là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do đó bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá trị thặng dư”. Để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân làm thuê không phải bằng cưỡng bức siêu kinh tế (roi vọt), mà bằng cưỡng bức kinh tế (kỷ luật đói rét) dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động. Vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. C.Mác viết: “ Việc tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất đó”. Nội dung chủ yếu của quy luật này là để thu được giá trị thặng dư một cách tối đa, nhà tư bản đã tăng số lượng lao động làm thuê và tìm mọi thủ đoạn để bóc lột họ. Trong giai đoạn hiện nay, các nhà tư bản thực hiện cải tiến kỹ thuật hoàn thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm giá trị hàng hoá. Đồng thời thu hút một đội ngũ các kỹ sư, quản lý, mà chức năng của họ suy cho cùng là bảo đảm sử dụng có hiệu quả nhất tất cả các nhân tố của sản xuất mà trước hết là sức lao động, nhờ đó mà tăng giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thặng dư đã trở thành nền tảng cho các học thuyết kinh tế của Mác . Hầu hết học thuyết kinh tế của Mác đều được xây dựng dựa trên tính đúng đắn của học thuyết giá trị thặng dư vì vậy có thể nói học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Cấu 2: Trả lời : I, Đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa : Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức mà thông qua đó, đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; là một tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội; đo là một nhà nước kiểu mới, thay thế nhà nước tư bản nhờ kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Khác với các hình thức nhà nước đã từng có trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt. Đó là kiểu nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, nhà nước nước xã hội là công cụ cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Hai là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ chuyên chính giai cấp, nhưng vì lợi ích của tất cả những người lao dộng tức là tuyệt đại đa số nhân dân; thực hiện sự trấn áp đối với những lực lượng chống đối, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủn nghĩa. Ba là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê Nin vẫn xem mặt tổ chức, xây dựng là đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản. V.I.Lê Nin cho rằng, chuyên chính vô sản không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là yếu tố cơ bản cảu nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo V.I.Lê Nin, con đường vận động, phát triển của nó ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện của nhân dân, ,mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội. Năm là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là “nửa nàh nước”. Sau khi những cơ sở kinh tế xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn, nhà nước “tự tiêu vong”. Đây cũng là một đặc trưng nổi bật của nhà nước vô sản. Những đặc trưng cơ bản đó cho thấy chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở việc quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực bằng pháp luật. Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa được thực hiện cả bằng tổ chức có hiệu quả công việc xây dựng toàn diện xã hội mới, cả bằng việc sử dụng những công cụ bạo lực để đập tan sự phản kháng của kẻ thù chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững an ninh xã hội. Bạo lực, trấn áp là cái vốn có của mọi nhà nước, do đó bạo lực, trấn áp cũng là cái vốn có của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đều cho rằng, với bản chất của nhà nước vô sản, thì việc tổ chức, xây dựng mang tính sáng tạo nhằm cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chức năng căn bản, chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Khi xác định những nấc thang, những giai đoạn phát triển của một cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đi tới giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và phát triển tàn diện con người, C.Mác và Ph. Ăngghen đều cho rằng, việc giai cấp công nhân giành lấy quyền lực nhà nước mới chỉ là giai đoạn đầu tiên. Trong giai đoạn tiếp theo, phải sử dụng quyền lực nhà nước để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất. Như vậy, rõ ràng chức năng tổ chức và xây dựng phải là chức năng chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Phát triển quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về vấn đề này, V.I.Lênin khẳng định, việc tích cực xây dựng chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra một xã hội mới, đó là chức năng quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, quan trong hơn cả việc đập tan sự phản kháng của giai cấp tư sản. Từ hai chức năng trên, nhà nước xã hội chủ nghĩa có những nhiệm vụ chính là: quản lý kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế, cải thiện không ngừng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, quản lý văn hóa xã hội, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, thực hiện giáo dục đào tạo con người phát triển toàn diện, chăm sóc sức khỏe nhân dân... Ngoài ra, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn có chức năng, nhiệm vụ đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì sự phát triển và tiến bộ xã hội đối với nhân dân các nước trên thế giới. Từ thực tế xây dựng xã hội mới ở nước Nga Xôviết, V.I.Lênin đã làm rõ nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa trên hai lĩnh vực kinh tế và xã hội. Đối với lĩnh vực kinh tế, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước vô sản là phải nhanh chóng phát triển mạnh số lượng sản phẩm, củng cố ký luật lao động mới và nâng cao năng suất lao động. Đối với lĩnh vực xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải xây dựng được quan hệ xã hội mới, hình thành những tổ chức lao động mới, tập hợp được đông đảo những người lao động có khả năng vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện từng bước cải tạo những người tiểu sản xuất hàng hóa thông qua những tổ chức thích hợp. II, Liên hệ với Việt Nam Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước đặc biệt với những đặc trưng cơ bản sau đây: 1. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, chất lượng cao thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luật phải giữ vị trí tối cao. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà nước và mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. 2. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức dân chủ đại diện (qua cơ quan nhà nước do mình bầu ra) và hình thức dân chủ trực tiếp. 3. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường được pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình. 4. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giưã các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía Nhà nước. 5. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ư ớc quốc tế mà Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. 6. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo. Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của cách mạng Việt Nam. 7. Với những đặc trưng nêu trên, nhà nước pháp quyền của chế độ ta thể hiện những tư tưởng quan điểm tích cực, tiến bộ, phản ánh ước mơ và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai cấp. Những đặc trưng cơ bản đó cho thấy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩaViệt Nam là: +) Quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực bằng pháp luật. +) Tổ chức có hiệu quả công việc xây dựng toàn diện xã hội mới, cả bằng việc sử dụng những công cụ bạo lực để đập tan sự phản kháng của kẻ thù chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững an ninh xã hội. +) Cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa . +) Chức năng giai cấp và chức năng xã hội: Chức năng giai cấp : Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ chuyên chính của giai cấp nhất định . Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân dân định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi ích của nhân dân và của toàn bộ dân tộc. Đây còn là sự thể hiện về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ khác. Chức năng xã hội : Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, đồng thời phải chăm lo một số công việc chung của toàn xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam muốn thực hiện được chức năng giai cấp của mình, trước hết phải làm tốt chức năng xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân, sử dụng sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và bảo đảm tuyệt đối các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, là điều kiện tiên quyết để nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo và giữ vững địa vị thống trị xã hội về mặt chính trị, nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và các thế lực thù địch. Điều này có nghĩa là, chức năng giai cấp và chức năng xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, cái nọ làm tiền đề và là cơ sở cho cái kia. Từ các chức năng trên, nhà nước xã hội chủ nghĩa có những nhiệm vụ chính là: +) Không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân. Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân làm chủ và do vậy, nhà nước của chế độ này có nhiệm vụ tạo điều kiện để cho nhân dân tham gia một cách tích cực và rộng rãi vào tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong mọi hoạt động, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, đồng thời đấu tranh không khoan nhượng, trừng trị kịp thời mọi hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta đã chỉ rõ: “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân +) Tổ chức và quản lý kinh tế, Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ một nền kinh tế chậm phát triển, còn phổ biến là sản xuất nhỏ, nên nhiệm vụ tổ chức, quản lý kinh tế của nhà nước là hết sức khó khăn, phức tạp, chính vì thế mà nhiệm vụ phát triển kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt và là một nhiệm vụ khá mới mẻ. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp, song song với đó lại phải vừa thực hiện nhiệm vụ giữ vững an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội, vừa phải bảo đảm ổn định và cải thiện không ngừng đời sống nhân dân về mọi mặt, nhiệm vụ tổ chức, xây dựng của Nhà nước ta càng trở nên nặng nề. +) Tổ chức và quản lý văn hoá, khoa học, giáo dục. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”. Để có thể xây dựng thành công một xã hội như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục, văn hoá, phát triển khoa học và công nghệ – đó được coi là “quốc sách hàng đầu” để phát huy nhân tố con người. Thực hiện nhiệm vụ này, cần phải xây dựng và phát triển nền văn hoá mới, con người mới, nền khoa học và công nghệ hiện đại – đó cũng chính là những động lực quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Như vậy, xét một cách tổng thể, nhiệm vụ sáng tạo và xây dựng xã hội mới là nhiệm vụ quan trọng nhất trong chức năng xã hội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở lý luận và phương pháp luận duy vật biện chứng, xét đến cùng, có thể nói, nhiệm vụ cơ bản và quyết định của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức và quản lý kinh tế, bởi một xã hội chỉ có thể ổn định, vận động và phát triển được khi có một cơ sở kinh tế – xã hội phù hợp. Yếu tố kinh tế, nhất là lực lượng sản xuất, xét đến cùng, là yếu tố quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, xem xét vấn đề này ở góc độ kiến trúc thượng tầng của xã hội – xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì nhiệm vụ bảo vệ các quyền tự do và không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng nhất, bởi việc thực hiện nhiệm vụ này là sự thể hiện trực tiếp nhất bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. MỤC LỤC: Lời nói đầu …………………………………………………………Trang 1 Câu 1 : Vì sao nói học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê Nin ?..............................................................Trang 2 Câu 2 : Đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, liên hệ với nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam ?..................................Trang 10 MỤC LỤC ĐÁP ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Câu 1: Phân tích vai trò nền sản xuất xã hội và các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu các yếu tố sản xuất cơ bản với nền sản xuất ở nước ta hiện nay...................... ........................... Trang 1 Câu 2: Phân tích đối tượng và chức năng của kinh tế chính trị Mác Lênin?.......................................... ............................ Trang2. Câu 3: Trình bầy phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lênin. Lấyví dụ minhhoạ?...................................................................... Trang3 Câu 4: Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện tư tưởng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa trọngthương và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?Trang3 Câu 5: Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện, tư tưởng kinh tế tư bản của chủ nghĩa trọng nông và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? ................................ Câu 6: Trình bầy quan niệm về giá trị, tiền tệ, lợi nhuận, tiền lương, địa tô của Adam Smit (17231790) và nhận xét các quan niệm trên ..... Trang5 Câu 7: Trình bầy quan niệm về giá trị, tiền tệ, lợi nhuận, tiền lương, địa tô của D. Ricacđô (17721823) và nhận xét các quan niệm trên ..... Trang6 Câu 8: Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện và tư tưởng cơ bản của học thuyết Keynes (18831946). ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này?. Trang6 Câu 9:Phân tích điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và ưu thế của sản xuất hàng hoásovối kinh tế tự nhiên ................................... Trang7 Câu 10: Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá .... Trang8 Câu 11: Phân tích mặt chất, lượng của giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá ................................................... Trang9 Câu 12: Phân tích nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ. Trang10 Câu 13: Phân tích nội dung, yêu cầu, tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá. Sự biểu hiện hàng hoá của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa Tư bản như thế nào? ......................................... Trang11 Câu 14: Trình bầy thị trường và cơ chế thị trường. Phân tích các chức năng cơ bản củathị trường? .............................................................. Trang12 Câu 15: Phân tích quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường? ............................................................................ Trang13 Câu 16: Trình bầy khái niệm, nội dung và mối quan hệ giữa giá cả sản xuất, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá ?Trang13 Câu 17: Trình bầy khái niệm tái sản xuất, tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng, tái sản xuất xã hội và nội dung của nó ? ............... Trang14 Câu 18: Trình bầy khái niệm tăng trưởng, phát triển kinh tế và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất xã hội. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ............................................................................ Trang15 Câu 19: Trình bầy công thức chung của Tư bản và mâu thuẫn của nó. Phân biệt tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là Tư bản ? .... Trang16 Câu 20: Phân tích hàng hoá sức lao động và mối quan hệ giữa tiền lương với giá trị sức lao động ................................................................... Trang17 Câu 21: Trình bầy quá trình sản xuất giá trị thặng dư và phân tích hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? Trang18 Câu 22: Phân tích nội dung, vai trò quy luật giá trị thặng dư và sự biểu hiện của nó trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc quyền ?. Trang19 Câu 23: Thế nào là Tư bản bất biến và Tư bản khả biến. Tư bản cố định và Tư bản lưu động. Phân tích căn cứ và ý nghĩa phân chia hai cặp phạm trù đó? ..................................................................... Trang19 Câu 24: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư với tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có quan hệ như thế nào với khối lượng giátrị thặng dư ............................................................................ Trang20 Câu 25: Phân tích thực chất của tích luỹ tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ ? So sánh quá trình tích tụ và tập trung tư bản? Trang21 Câu 26: Thế nào là tuần hoàn và chu chuyển tư bản ? Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển tư bản ? ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên? Trang22 Câu 27: Thế nào là lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận. Phân tích sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và ý nghĩa của nó? .......................... Trang22 Câu 28: Phân tích nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức Ngân hàng và lợi nhuận Ngân hàng ......................................................... Trang23 Câu 29: Trình bày những nội dung cơ bản về sự hình thành công ty cổ phần và thị trường chứng khoán ? ................................................... Trang24 Câu 30: Phân tích bản chất địa tô và các hình thức địa tô ? Trang25 Câu 31: Phân tích nguyên nhân hình thành, các hình thức của độc quyền, bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền ? .................... Trang26 Câu 32: Phân tích nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền Nhà nước và vai trò kinh tế của Nhà nước trong CNTB hiện đại ............... Trang27 Câu 33: Phân tích tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và xu hướng vận ộng của chúng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Trang27 Câu 34: Trình bầy các thành phần kinh tế và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế ở nước t28a hiện nay. Vì sao kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo?.................................................................... Trang28 Câu 35: Trình bầy mục tiêu, quan điểm cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta ............................................................................ Trang29 Câu 36: Trình bầy tính tất yếu và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. .................................................................... Trang30 Câu 37: Phân tích nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế ở nước ta ............................................................................ Trang31 Câu 38: Phân tích đặc điểm sản xuất hàng hoá ở nước ta hiện nay.Trang32 Câu 39: Phân tích các điều kiện và định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta hiện nay ................................................ Trang33 Câu 40: Phân tích bản chất, vai trò của lợi ích kinh tế Ý nghĩa thực tiễn. Trang.34 Câu 41: Phân tích vị trí, nội dung của quan hệ phân phối trong quá trình sản xuất xã hội. trình bầy sơ đồ phân phối tổng sản phẩm của Mác.Trang35 Câu 42: Phân tích các nguyên tắc phân phối cơ bản ở nước ta hiện nay. Trang35 Câu 43: Trình bầy các hình thức thu nhập trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay ............................................................................ Trang36 Câu 44: Thế nào là cơ chế thị trường ? Vì sao trong cơ chế thị trường cần có sự quản lý Nhà nước ? Phân tích các công cụ chủ yếu đẻ thực hiện quản lý kinh tế vĩ mô ở nước ta ? ............................................................................ Trang37 Câu 45: Phân tích cơ sở khách quan và phương hướng đổi mới nền kinh tế nước ta ............................................................................ Trang37 Câu 46: Phân tích bản chất, chức năng hệ thống tài chính, tín dụng ở nước ta hiện nay. ............................................................................ Trang38 Câu 47: Trình bầy bản chất, chức năng và xu hướng đổi mới hoạt động của hệ thống Ngân hàng ở nước ta ................................................... Trang38 Câu 48: Phân tích tính tất yếu và vai trò của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta. ....................................................................... Trang39 Câu 49: Trình bầy các nguyên tắc cơ bản và các hình thức của quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta ............................................................... Trang40 Câu 50: Phân tích khả năng và những giải pháp chủ yếu mở rộng kinh tế đối ngoại của nước ta. ....................................................................... Trang41 Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất và thuê công nhân để tiến hành sản xuất. Do đó tư bản phải trích ra một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô. Địa tô TBCN là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Địa tô = m P b Các hình thức địa tô Địa tô chênh lệch là phần phụ thêm ngoài lợi nhuận bình quân thu nhập trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn (độ mẫu mỡ và vị trí địa lý). Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung quyết định bởi điều kiện sản xuất cá biệt trên ruộng đất loại tốt và trung bình. Mác chia địa tô chênh lệch thành hai loại là địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II. + Địa tô chênh lệch I gắn liền với độ mầu mỡ tự nhiên và vị trí thuận lợi + Địa tô chênh lệch II gắn liền với thâm canh, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích. Địa tô tuyệt đối. Người chủ ruộng đất (dù đất xấu tốt, xa gần) khi đã cho thuê đều nhận được địa tô. Số địa tô nhất thiết phải nhận được ấy gọi là địa tô tuyệt đối. Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp. Còn nguyên nhân tồn tại địa tô tuyệt đối là do chế độ độc quyền ruộng đất đã ngăn cản nông nghiệp tham gia cạnh tranh giữa các ngành để thành lợi nhuận bình quân. Địa tô độc quyền: Địa tô độc quyền có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và các khu đất trong thành phố. + Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất có tính chất đặc biệt cho phép sản xuất các cây trồng quý, hiếm (do đó bán được giá cả cao) + Trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền có ở các vùng khai thác các kim loại hay khoáng chất quý hiếm, hoặc những khoáng sản mà khả năng khai thác còn thấp so với nhu cầu. + Trong các thành phố địa tô độc quyền thu được ỏ các khu đất có vị trí thuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ nhà cho thuê có khả năng thu lợi nhuận nhiều. Lý luận địa tô TBCN của Mác không chỉ vạch rõ quan hệ sản xuất TBCN trong nông nghiệp mà còn là cơ sở lý luận để Nhà nước xây dựng các chính sách thuế với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan một cách hợp lý, kích thích phát triển nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế (Nhà nước ta hiện nay không đánh thuế vào địa tô chênh lệch II để khuyến khích nông dân yên tâm đầu tư thâm canh tăng năng suất). Câu 31: Phân tích nguyên nhân hình thành, các hình thức của độc quyền, bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền ? a Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa Tư bản độc quyền CNTB phát triển qua hai giai đoạn là CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc. CNTB độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là do các nguyên nhân chủ yếu: Sự tác động của cạnh tranh, muốn thắng nhà tư bản phải tích tụ, tập trung sản xuất. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật (phương pháp luyện kim mới, động cơ đốt trong, phương tiện vận tải mới...). Để áp dụng những thành tựu đó vào sản xuất cần có nguồn vốn lớn. Điều này yêu cầu phải tích tụ tư bản và tập trung sản xuất. Do cuộc khủng hoảng kinh tế của thế giới tư bản, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 càng đẩy mạnh tích tụ tư bản và tập trung sản xuất. Tích tụ và tập trung sản xuất đến mức độ nào đó tất yếu dẫn đến độc quyền, vì số ít các xí nghiệp lớn dễ thoả hiệp với nhau hơn là nhiều xí nghiệp nhỏ. Mặt khác, cạnh tranh giữa các xí nghiệp lớn sẽ gay gắt hơn, đẻ ra khuynh hướng thoả hiệp để nắm độc quyền. Độc quyền là sự liên minh giữa các xí nghiệp lớn nắm trong tay phần lớn những cơ sở sản xuất lớn hoặc tiêu thụ một hoặc một số lớn loại hàng hoá có khả năng hạn chế cạnh tranh, định giá cả độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao. b Các hình thức của độc quyền Các ten là loại liên minh độc quyền về giá cả, thị trường, các thành viên trong độc quyền này vẫn độc lập cả trong sản xuất lẫn trong lưu thông. Xanh đi en là loại tổ chức độc quyền mà các thành viên độc lập về mặt sản xuất, ban quản trị đảm nhiệm việc lưu thông. Tờ rớt là tổ chức độc quyền mà việc điều hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do một Ban quản trị đảm nhiệm. Các nhà Tư bản trở thành cổ đông và hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ cổ phần đã góp. Côngxoocxiom là tổ chức độc quyền của nhiều ngành công nghiệp, nhiều hãng buôn, Ngân hàng, công ty bảo hiểm... trên cơ sở phụ thuộc về tài chính vào một tập đoàn nhà tư bản nào đó. Cônggờlômêrat là tổ chức độc quyền khổng lồ đặt dưới sự kiểm soát về tài chính và quản lý chung của một nhóm tư bản độc quyền lớn nhất. Quy mô và phạm vi của nó vượt ra khỏi biên giới quốc gia. c Bản chất kinh tế của CNTB độc quyền Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, nó loại bỏ sự thống trị của tự do cạnh tranh nhưng không thủ tiêu được cạnh tranh mà cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Cạnh tranh dẫn đến độc quyền, độc quyền cũng để cạnh tranh tốt hơn. Bản chất kinh tế của CNTB độc quyền vẫn dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Độc quyền chiếm giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế, thể hiện ở sự độc chiếm các nguồn nguyên liệu, phương tiện vận tải, thị trường vốn, nhân công, quy luật kinh tế cơ bản vẫn là quy luật giá trị thặng dư, song biểu hiện ra bên ngoài là quy luật lợi nhuận độc quyền cao. Câu 32: Phân tích nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền Nhà nước và vai trò kinh tế của Nhà nước trong CNTB hiện đại a Nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền Nhà nước Cơ sở nền tảng của sự chuyển từ CNTB độc quyền sang CNTB độc quyền Nhà nước là mâu thuẫn sâu sắc giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Sự xã hội hoá cao đó của lực lượng sản xuất đòi hỏi có sự điều tiết xã hội đối với quá trình sản xuất từ một trung tâm (đó là Nhà nước), nếu không nền kinh tế sẽ bị khủng hoảng dữ dội. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại như hoá dầu, hàng không, nguyên tử, tên lửa, vũ trụ... để ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất và đời sống thì không một công ty độc quyền khổng lồ nào đủ vốn để làm, chỉ có Nhà nước mới có đủ khả năng giải quyết. Do cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, đặc biệt công cuộc xây dựng chủ nghĩa Xã hội ở các nước Xã hội chủ nghĩa buộc CNTB phải đối phó. Do đó, tư bản độc quyền phải nắm lấy bộ máy nhà nước để đối phó với các cuộc đấu tranh trên. Vậy Chủ nghĩa Tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của Tư bản độc quyền với sức mạnh của nhà nước vào một bộ máy duy nhất, nhằm sử dụng bộ máy nhà nước như một trung tâm của toàn bộ đời sống kinh tế,
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài thảo luận:phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý luận về 2 thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa

Đề tài thảo luận:phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý luận về 2 thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa

Đề tài thảo luận:phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý luận về 2 thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa 1. 1 Mục lục A. Lời mở đầu.......................................................................................................................... 2 B. Nội dung.................................................................................................................................3 I. Khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính cơ bản của nó........................................................... 3 1. Khái niệm hàng hóa ........................................................................................................... 3 2. Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa ........................................................................................ 3 a. Giá trị sử dụng................................................................................................................... 3 b. Giá trị............................................................................................................................... 4 c. Mối quan hệ giữa giá trị và gia trị sử dụng:.......................................................................... 5 II. Giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam...................................... 6 1. Đặc điểm hàng hóa Việt Nam hiện nay ............................................................................ 6 2. Thực trạng hàng hóa Việt Nam hiện nay ......................................................................... 8 3. Giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam................................ 12 a. Tăng sức cạnh tranh của hàng hóa................................................................................. 12 b. Vĩ Mô:........................................................................................................................ 13 c. Vi Mô ......................................................................................................................... 13 d. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.............................................................................................................................. 13 Giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp ................................ 14 Giải pháp nhằm tăng mức độ phức tạp trong lao động .................................................... 14 Chính sách của nhà nước.............................................................................................. 15 Một số giải pháp khác .................................................................................................. 16 C. KẾT LUẬN......................................................................................................................... 17 2. 2 A. Lời mở đầu Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch sử loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội. Với những thuộc tính của mình hàng hoá giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hoá là một “tế bào kinh tế” của xã hội tư bản. “ Có nền kinh tế hàng hoá thì tất nhiên tồn tại cạnh tranh cạnh tranh là quy luật bắt buộc của nền kinh tế hàng hoá” vì vậy việc nghiên cứu về hai thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý thuyết về hai thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa là một việc quan trong có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đối với quá trình cạnh tranh. Đặc biệt việc nắm vững những lí luận về lượng giá trị của hàng hoá có vai trò quan trọng góp phàn vận dụng một cách hiệu quả vào quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu do kiến thức, khả năng còn hạn hẹp chúng em không thể tránh khỏi những sai sót, chúng em kính mong cô và các bạn sẽ gúp đỡ chúng em có được sự hiểu biết đầy đủ nhất. Chúng em xin chân thành cảm ơn. 3. 3 B. Nội dung I. Khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính cơ bản của nó 1. Khái niệm hàng hóa Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Trong nền sản xuất hàng hoá tồn tại một phạm trù lịch sử đó chính là hàng hoá. Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Có rất nhiều tiêu thức để phân chia các loại hàng hoá như: hàng hoá thông thường, hàng hoá đặc biệt, hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình, hàng hoá tư nhân, hàng hoá công cộng… - Dạng hữu hình như: sắt, thép, lương thực, thực phẩm…. - Dạng vô hình như những dịch vụ thương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ… Hàng hoá có thể cho một cá nhân sử dụng hoặc nhiều người cùng sử dụng. Từ khái niệm trên cho thấy: Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường. Karl Marx định nghĩa hàng hoá trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thoả mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hoá cần phải có: - Tính hữu dụng đối với người dùng - Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động. - Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm. 2. Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa a. Giá trị sử dụng – Khái niệm: Giá trị sử dụng là công dụng hay tính có ích của vật nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Ví dụ: gạo để ăn, áo để mặc, máy móc sx, điện thắp sáng,… - Đặc điểm; 4. 4 + Số lượng giá trị sử dụng của một hàng hóa không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng được xem có tính lịch sử cụ thể, phụ thuộc vào sự phát triển của KH-KT +Gía trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định giúp thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng là 1 phạm trù vĩnh viễn. +Gía trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào. Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đói với sản xuất. +Gía trị sử dụng của hàng hóa là giá trị là giá trị sử dụng của xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng của người sản xuất trực tiếp mà là cho một người khác, cho xã hội thông qua trao đổi. mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng nhu cầu của xã hội thì hàng hóa của họ mới bán được +Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng. Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa. Chẳng hạn như không khí rất cần cho cuộc sống nhưng không phải là hàng hóa. Như vậy, trong kinh tế hàng hóa, vật mang giá trị sử dụng đồng thời cũng là vật mang giá trị trao đổi do lao động cụ thể làm ra. b. Giá trị Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. giá trị trao đổi là môt quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. VD:1m vải = 5kg thóc. Tức 1m vải có giá trị trao đổi = 5kg thóc Hai hàng hóa khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có 1 cơ sở chung nào đó. Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có 1 lượng lao động kết tinh trong đó. Chính vì thế mà nó trao đổi được với nhau. Vì vậy người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động hao phí của mình ẩn dấu trong hàng hóa đó. Từ trên ta rút ra kết luận: giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. - Gía trị hàng hóa là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. - Gía trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa 5. 5 - Gía trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện cuả giá trị, Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa. c. Mối quan hệ giữa giá trị và giatrị sử dụng: Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau. Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương ôn tập Môn kinh tế chính trị

Đề cương ôn tập Môn kinh tế chính trị

Câu 1: phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng tới nó Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hai thuộc tính của hàng hoá Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điiểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất mà là cho người khác, cho xã hội. giá trị sử dụng đến tay người khác người tiêu dùng phải qua trao đổi mua bán. Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. Giá trị của hàng hoá muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phỉa đi từ giá trị trao đổi. GIá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc Hai hàng hoá vải và thóc có gía trị sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Sự hao phí đó chính là giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. GIá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ đó gía trị là một phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống). Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá. Trên thị trường, không thể dựa vào gias trị cá biệt để trao dổi mà phải dựa vào giá trị của xã hội của hàng hoá. Giá trị xã hội của hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một loại hàng hoá nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường là thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hoá nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương ông tập môn kinh tế chính trị

Đề cương ông tập môn kinh tế chính trị

Môn kinh tế chính trị Câu 1: phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng tới nó Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hai thuộc tính của hàng hoá Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất mà là cho người khác, cho xã hội. giá trị sử dụng đến tay người khác người tiêu dùng phải qua trao đổi mua bán. Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. Giá trị của hàng hoá Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi. GIá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc Hai hàng hoá vải và thóc có gía trị sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Sự hao phí đó chính là giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ đó gía trị là một phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống). Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá. Trên thị trường, không thể dựa vào gias trị cá biệt để trao dổi mà phải dựa vào giá trị của xã hội của hàng hoá. Giá trị xã hội của hàng hoá được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một loại hàng hoá nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường là thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hoá nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá: Năng suất lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng giá trị của hàng hoá. Năng suất lao động được đo bằng số lượng thời gian hao phí để chế tạo ra một sản phẩm. Giá trị hàng hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Còn năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ kỹ thuật của người lao động, máy móc thiết bị, phương pháp tổ chức quản lý... Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động. Để sản xuất một hàng hóa có các loại lao động khác nhau tạo ra các loại hàng háo có giá trị khác nhau đó là lao động giản đơn và lao động phức tạp.
Xem thêm

Đọc thêm

Ngân hàng câu hỏi triết học Mac Lênin ( có đáp án)

Ngân hàng câu hỏi triết học Mac Lênin ( có đáp án)

MỤC LỤC Câu 1 (4 điểm): Hàng hoá là gì? Làm rõ các thuộc tính của hàng hoá. Từ đó kể tên những hàng hoá đặc biệt mà em biết và lý giải vì sao nó là hàng hoá đặc biệt? 4 Câu 2(4 điểm): Làm rõ nội dung và tác động của quy luật giá trị. Việt Nam đã vận dụng quy luật này như thế nào trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 4 Câu 3(4 điểm): Hàng hoá sức lao động là gì? Khi nào sức lao động trở thành hàng hoá? Làm rõ hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động. 5 Câu 4 (4 điểm): Lấy ví dụ về một quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Từ đó cho biết giá trị thặng dư là gì? Tư bản bất biến là gì? Tư bản khả biến là gì? 6 Câu 1 (6 điểm): Phân biệt giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch. Tại sao sản xuất giá trị thặng dư được coi là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản? 8 Câu 2 (6 điểm): So sánh để chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận. Phân biệt giữa lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô TBCN. Tại sao nói đó là các hình thái biến tướng của giá trị thặng dư? 10 Câu 3 (6 điểm): Phân tích nội dung và những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Hiện nay giai cấp công nhân có còn thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình nữa hay không? Tại sao? 12 Câu 4 (6 điểm): Thế nào là cách mạng XHCN, nguyên nhân của cách mạng XHCN ? Phân tích quan niệm của chủ nghĩa mác – lênin về mục tiêu, nội dung của cách mạng XHCN. 13 Câu 5 (6 điểm): Phân tích quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính tất yếu, nội dung và nguyên tắc của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng XHCN. Sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng khối liên minh giữa công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức ở Việt Nam. 15 Câu 6 (6 điểm): Tại sao phải quá độ từ CNTB lên CNXH? Làm rõ quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về những đặc trưng cơ bản của XH XHCN. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển những đặc trưng này như thế nào trong sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH hiện nay. 16 Câu 7 (6 điểm): Tại sao nói thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là tất yếu. Phân tích đặc điểm, thực chất và nội dung của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. 18 Câu 8 (6 điểm): Cho biết quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin dân chủ và nền dân chủ. Phân tích những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN. Từ đó làm rõ tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ XHCN. 20 Câu 9 (6 điểm): Khái niệm dân tộc được hiểu như thế nào? Làm rõ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Liên hệ thực tế địa phương 21 Câu 10 (6 điểm): Làm rõ hai xu hướng phát triển của dân tộc. Cho biết những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Liên hệ thực tế địa phương 23 Câu 11 (6 điểm): Tôn giáo là gì? Làm rõ nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong tiến trình xây dựng CNXH và trong XH XHCN. Cho biết những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo. Liên hệ thực tế địa phương. 25 Câu 12 (6 điểm): Tại sao nói “Chủ nghĩa xã hội là tương lai của xã hội loài người”. Lấy dẫn chứng chứng minh. 27 Câu 13:. Phân biệt giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch. Tại sao sản xuất giá trị thặng dư được coi là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản? 29 Câu 14:. So sánh để chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận. Phân biệt giữa lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô tư bản chủ nghĩa. Tại sao nói đó là các hình thái biến tướng của giá trị thặng dư? 30 Câu 15: Phân tích nội dung và những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Hiện nay giai cấp công nhân có còn thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình nữa hay không? Tại sao? 32 Câu 16 : Phân tích quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính tất yếu và nội dung cơ bản của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng khối liên minh giữa công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức ở Việt Nam. 34 Câu 17 : Tại sao phải quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội? Làm rõ quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển những đặc trưng này như thế nào trong sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 35 Câu 18 Cho biết quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ và nền dân chủ. Phân tích những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Từ đó làm rõ tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. 36 Câu 19: Hàng hoá là gì? Làm rõ các thuộc tính của hàng hoá. Từ đó kể tên những hàng hoá đặc biệt mà em biết và lý giải vì sao nó là hàng hoá đặc biệt? 38 Câu 20: Khái niệm dân tộc được hiểu như thế nào? Làm rõ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Liên hệ thực tế địa phương. 39 Câu 21: Làm rõ nội dung và tác động của quy luật giá trị. Việt Nam đã vận dụng quy luật này như thế nào trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 41 Câu 22 :Hàng hoá sức lao động là gì? Khi nào sức lao động trở thành hàng hoá? Làm rõ hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động. 44 Câu 23: Làm rõ hai xu hướng phát triển của dân tộc. Cho biết những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Liên hệ thực tế địa phương. 45 Câu 24: Lấy ví dụ về một quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Từ đó cho biết giá trị thặng dư là gì? Tư bản bất biến là gì? Tư bản khả biến là gì? 47 Câu 25:Tại sao nói “Chủ nghĩa xã hội là tương lai của xã hội loài người”. Lấy dẫn chứng chứng minh. 48 Trả lời Câu 1 (4 điểm): Hàng hoá là gì? Làm rõ các thuộc tính của hàng hoá. Từ đó kể tên những hàng hoá đặc biệt mà em biết và lý giải vì sao nó là hàng hoá đặc biệt? 1. Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá a. Khái niệm: Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán. b. Hai thuộc tính của hàng hoá Giá trị sử dụng: là công dụng của hàng hoá nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người, thông qua trao đổi bằng mua và bán. + Giá trị sử dụng là thuộc tính của hàng hoá, là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi và mua bán. Giá trị của hàng hoá: + Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. Sản phẩm nào mà lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao. c. Mối quan hệ giữa hai thuộc tính Hai thuộc tính của hàngốt mối quan hệ ràng buộc với nhau vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau: Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị. Gía trị phản ánh quan hệ giữa người sản xuất hàng hoá, là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong sản xuất hàng hóa. Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá. Thống nhất: Đó là hàng hoá phải có hai thuộc tính, nếu thiếu một trong hai thuộc tính không phải là hàng hoá. Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính thể hiện: + Với tư cách là giá trị sử dụng các hàng hoá không đồng nhất về chất. + Với tư cách là giá trị các hàng hoá đồng nhất về chất đều là lao động đó được vật hoá. + Quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian, đó nếu giá trị hàng hoá không được thực hiện sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa. 2. Những hàng hóa đặc biệt. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt: Vì trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần dư ra so với giá trị sức lao động là giá trị thăng dư. Tiền tệ: Là hàng háo đặc biệt được tách ra từ trong thế giớ hàng háo làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã họi và biểu hiện quan hệ giưa những người sản xuất hàng háo. Câu 2(4 điểm): Làm rõ nội dung và tác động của quy luật giá trị. Việt Nam đã vận dụng quy luật này như thế nào trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 1. Nội dung quy luật giá trị Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi phải dựa trên cơ sở hao phí sức lao động xã hội cần thiết. Trong sản xuất: Mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hoá không phải được quyết định bởi hao phí cá biệt của từng người sản xuất hàng hoá mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết. Vì vậy, người sản xuất muốn bán được hàng hoá phải điều chỉnh làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận được; khối lượng sản phẩm mà những người sản xuất tạo ra phải phù hợp nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội. Trong trao đổi: Lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Hơn nữa, vì giá trị là cơ sở của giá cả, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị. Ngoài ra trên thị trường, giá cả còn phụ thụộc vào các nhân tố: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền nên giá cả thường tách riêng giá trị, lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó. Thông qua sự vận động của giá cả trên thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng của nó. 2. Tác động của quy luật giá trị Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. + Điều tiết sản xuất tức là điều hoà phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật giá trị. + Điều tiết lưu thông: thông qua sự lên xuống của giá cả, phân phối nguồn hàng hoá từ nơi giá cả thấp đến nơi có giá cả cao. Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động, lực lượng sản xuất phát triển nhanh. + Trong nền kinh tế hàng hóa, người sản xuất muốn giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ phá sản họ phải hạ thấp mức hao phí sức lao động xã hội cá biệt của mình sao cho bằng hao phí sức lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, tăng năng xuất lao động. + Kết quả, lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người nghèo. Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả: Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, những người không có điều kiện thuận lợi, rủi ro trong kinh doanh, nên bị thua lỗ nên mới dẫn tới phá sản trở thành nghèo khó. • Tác động của quy luật giá trị một mặt đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Mặt khác lại phân hoá người sản xuất thành giàu – nghèo, tạo những điều kiện xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do vậy, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, nhà nước cần có biện pháp hạn chế mặt tiêu cực, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Câu 3(4 điểm): Hàng hoá sức lao động là gì? Khi nào sức lao động trở thành hàng hoá? Làm rõ hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động. Hàng hoá sức lao động Sức lao động Khái niệm sức lao động: Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó. Điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá: + Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể của mình, phải có khả năng chi phối sức lao động ấy và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định. + Thứ hai, người lao động không còn tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng. => Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện núi trờn tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hoỏ là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản. Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động Giống như hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá sức lao động do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Giá trị của sức lao động được quy về giá trị của toàn bộ tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ. + Giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước. + Giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau hợp thành: Một là giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống công nhân Hai là, phí tổn đào tạo công nhân Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái công nhân. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình tiêu dùng sức lao động của người công nhân. Quá trình đó là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hoá nào đó; đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Đó chính là đặc điểm riêng của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của chủ nghĩa tư bản. Câu 4 (4 điểm): Lấy ví dụ về một quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Từ đó cho biết giá trị thặng dư là gì? Tư bản bất biến là gì? Tư bản khả biến là gì? 1. Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Qua trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất ra giá trị thặng dư có hai đặ điểm: + Một là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà TB +Hai là, sản phẩm làm ra thuộc tính sở hữu nhà tư bản. Ví dụ: Gỉa sử, đẻ chế tạo ra 10 kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền 10 để mua 10kg bông, 2 cho hao mòn máy móc và 3 mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong một ngày ( 12 giờ ); cuối cùng giả định trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết Gỉa sử kéo 10 kg bông thành sợi mất 6 giờ và mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị 0,5 : 0,5 x 6 = 3 Vậy giá trị của 1 kg sợi là: Gía trị 10kg bông chuyển vào: 10 Gía trị của máy móc chuyển vào: 2 Gía trị do công nhân tạo ra: 3 Tổng cộng : 15 Nếu quá trình lao động chỉ dựng ở đó (công nhân làm việc 6 giờ) thì không có giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 12 giờ chứ không phải trong 6 giờ. Việc sử dụng sức lao động trong ngày đó là thuộc quyền của nhà tư bản Nếu nhà tư bản bắt công nhân làm việc 12 giờ trong ngày như đã thỏa thuận thì: Chi phí sản xuất: Tiền mua bông 20 kg là: 20 Hao mòn máy móc là: 4 Tiền mua SLĐ trong 1 ngày: 3 Gía trị của sản phẩm mới: Gía trị của bông được chuyển vào sợi : 20 Gía trị máy móc được chuyển vào sợi: 4 Gía trị do lao động của công nhân tạo ra trong 12h lao động: 6 Cộng: 27 Cộng: 30 Gía trị thặng dư: 30 27 = 3 Như vậy, 27 ứng trước của nhà tư bản đã chuyển thành 30 đem lại một giá trị thăng dự 3 . Do đó tiền tệ ứng ra ban đầu đã chuyển hóa thành TB Kết luận: Một là, giá trị thăng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoái giá trị lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Hai là, ngày lao động của công nhân chia thành hia phần: Thời gian lao động cần thiết; thời gian lao động thặng dư. Ba là, giá trị của hàng hóa gồm hai phần: giá trị TLSX, giá trị lao động trừu tượng của CN tạo ra trong quá trình lao động, gọi là giá mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đây chính là chì khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của CNTB. 2. Tư bản bất biến và tư bản khả biến a. Khái niệm tư bản Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê. b. Tư bản bất biến và tư bản khả biến Tư bản bất biến (ký hiệu là c) Bộ phận tư bản biểu hiện thành giá trị tư liệu sản xuất mà giá trị của nó được bảo tồn và chuyển hoá nguyên vào sản phẩm, tức là giá trị của nó không có sự thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất, được gọi là tư bản bất biến. Tư bản khả biến (ký hiệu là v) Bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động mà giá trị của nó có sự tăng thêm về lượng trong quá trình sản xuất, được gọi là tư bản khả biến. ý nghĩa: • Việc phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá đã giúp C.Mác xác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến. Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến chỉ rõ tư bản bất biến chỉ là điều kiện cần, còn nguồn gốc thực sự tạo ra giá trị thặng dư là tư bản khả biến. Câu 1 (6 điểm): Phân biệt giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch. Tại sao sản xuất giá trị thặng dư được coi là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản? 1.Phân biệt giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch a. Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Là phương pháp SX giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động cần thiết không thay đổi. Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài toàn bộ ngày lao động một cách tuyệt đối gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải giới hạn về thể chất và tinh thần, đồng thời vấp phải sức đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của công nhân nên với độ dài ngày lao động không thay đổi, nhà tư bản sẽ nâng cao trình độ bóc lột bằng việc tăng cường độ lao động. Thực chất tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động. => KL: kéo dài thời gian lao động cũng như tăng cường độ lao động là để sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. b. Sản xuất giá trị thặng dư tương đối Là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư. SX m tương đối là phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn như cũ gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì phải hạ thấp gía trị sức lao động, bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người CN. Do đó phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt, các ngành SX TLSX để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng. C. Sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch Là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó. Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó sẽ không còn nữa. Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội. Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời trong từng doanh nghiệp, nhưng trong phạm vi xã hội nó thường xuyên tồn tại. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối Điểm giống nhau: Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối có một cơ sở chung là chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Điểm khác nhau: GTTD tương đối GTTD siêu ngạch Do tăng NSLĐ XH Toàn bộ các nhà TB thu Biểu MQH giữa CN với nhà TB Do tăng năng suất lao động cá biệt. Từng nhà Tb thu Biểu hiện MQH giữa CN với nhà TB và giữa các nhà TB với nhau 2. Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư ngày càng nhiều. Phương tiện và thủ đoạn để có nhiều giá trị thặng dư là tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý (thể hiện ở hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư ) Mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại một quy luật kinh tế phản ánh MQH bản chất nhất của phương thức sản xuất theo Các Mác, chế tạo ra trị thặng dư đó là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do CN làm thuê tạo ra và bị nhà TB chiếm không, phản ánh MQH kinh tế bản chất nhất của CNTB – quan hệ bóc lột lao động làm thuê. Giá trị thặng dư do lao động không công của CN tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà TB. Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà TB cũng như toàn bộ XH TB. Nhà TB cố gắng SX ra hàng hóa với chất lượng tốt cũng là để thu được nhiều giá trị thặng dư. SX giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền SX hàng hóa TBCN mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn sử dụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột CN làm thuê bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài thời gian lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng SX. • => Như vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB là cơ sở của sự tồn tại và phát triển TBCN. Nội dung của nó là SX ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột CN lao động làm thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của CNTB . Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn. Câu 2 (6 điểm): So sánh để chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận. Phân biệt giữa lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô TBCN. Tại sao nói đó là các hình thái biến tướng của giá trị thặng dư? 1. So sánh giá trị thặng dư và lợi nhuận a. Khái niệm giá trị thặng dư: Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do CN tạo ra bị nhà TB chiếm không (ký hiệu là m) b. Khái niệm lợi nhuận: Lợi nhuận là số tiền lời mà nhà tư bản thu được do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí tư bản. (ký hiệu là p) (Hay lợi nhuận chính là giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước) c. So sánh giá trị thặng dư và lợi nhuận + Về mặt lượng: lợi nhuận và giá trị thặng dư thường không bằng nhau,lợi nhuận có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thặng dư tuỳ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung cầu quy định. Nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số lợi nhuận luôn ngang bằng tổng số giá trị thặng dư + Về mặt chất: Thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư. Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản và lao động làm thuê, vì nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng dư không phải chỉ do lao động làm thuê tạo ra mà là do toàn bộ Tb ứng trước sinh ra. 2. Phân biệt giữa lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô TBCN a. TB thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp Trong CNTB, TB thương nghiệp là một bộ phận của TB công nghiệp được tách rời ra để phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của TB công nghiệp. Việc tạo ra giá trị thặng dư và phân chia giá trị thặng dư là hai vấn đề khác nhau. Lĩnh vực lưu thông cũng như hoạt động của các nhà TB thương nghiệp tuy không tạo ra giá trị thặng dư nhưng di vị trí, tầm quan trọng của lưu thông đối với sự phát triển của SX và tái SX nên các nhà TB vẫn được tham gia vào việc phân chia giá trị thặng dư cùng với các nhà TBCN, và phần giá trị mà các nhà TB thương nghiệp được chia chính là lợi nhuận thương nghiệp. => Vì vậy, thực chất thì lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp để tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cho mình. b. TB cho vay và lợi tức cho vay TB cho vay là TB tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ sở hữu nó cho người khác sử dụng trong một thời gian nhằm nhận được số tiền lời nhất định. Số tiền đó được gọi là lợi tức. Do có TB tiền tệ để nhàn rỗi nên nhà TB cho vay đã chuyển tiền của mình cho nhà TB đi vay sử dụng. tiền nhàn rỗi khi vào tay nhà TB đi vay sẽ trở thành TB lưu động. Trong quá trình vận động nhà TB sẽ thu được lợi nhận bình quân nhưng nhà TB đi vay không được hưởng toàn bộ số lợi nhuận bình quân đó mà phải trích ra một phần trả cho nhà TB cho vay dưới hình thức lợi tức Như vậy, lợi tức chính là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định. Lợi tức ký hiệu là z Nguồn gốc của lợi tức cũng là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất. c. Ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng Ngân hàng trong CNTB là xí nghiệp kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Ngân hàng có hai nghiệp vụ : nhận gửi và cho vay. Về nguyên tắc lợi tức cho vay phải cao hơn lợi tức nhận gửi. Sự chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng. Nguồn gốc của lợi nhuận ngân hàng là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất. d. QHSX TBCN trong nông nghiệp và địa tô TBCN. Cũng như các nhà tư bản kinh doanh trong công nghiệp, các nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp cũng phải thu được lợi nhuận bình quân. Nhưng muốn kinh doanh trong nông nghiệp thì họ phải thuê ruộng đất của địa chủ. Vì vậy, ngoài lợi nhuận bình quân ra nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thu thêm được một phần lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài và nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp dùng để trả cho người sở hữu ruộng dưới hình thái địa tô tư bản chủ nghĩa. Như vậy,địa tô tư bản chủ nghĩa là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ. Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa là là một phần giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. • KL: lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô TBCN đều là các hình thái biến tướng của giá trị thặng dư do công sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Câu 3 (6 điểm): Phân tích nội dung và những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Hiện nay giai cấp công nhân có còn thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình nữa hay không? Tại sao? 1. Khái niệm GCCN. Trong phạm vi PTSX TBCN GCCN có hai đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, GCCN là những tập đoàn người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ SX có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại, ngày càng có trình độ XHH cao. Hai là, trong hệ thống QHSX của XH TBCN người CN không có TLSX , họ buộc phải bán sức lao động cho nhà TB để kiếm sống. 2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giai cấp CN là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của LLSX tiến bộ, cho xu hướng phát triển của phương thức SX tương lai; do vậy về mặt khách quan nó là giai cấp có sứ mênh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động, đấu tranh xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới – XH XHCN và CSCN. Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp CN cần phải trải qua hai bước + Bước thứ nhất: “GCVS chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến TLSX trước hết thành sở hữu nhà nước”. + Bước thứ hai, “...GCVS cũng tự thủ tiêu với tư cách là GCVS, chính vì thế mà nó cũng xóa bỏ mọi sự phân biệt GC và mọi đối khắng GC”; nó lãnh đạo nhân dân lao động thông qua chính đảng của nó, tiến hành tổ chức xây dựng XH mới – XHCN. => Hai bước này có quan hệ chặt chẽ với nhau, GC CN không thực hiện được bước thứ nhất thì cũng không thực hiện được bước thứ hai, nhưng bước thứ hai là quan trọng nhất để GC CN hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, GCCN nhất định phải tập hợp được các tầng lớp nhân dân lao động xung quan nó, tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới về mọi mặt kinh tế, chính trị và văn hóa tư tưởng. Đó là quá trinh lịch sử hết sức lâu dài và khó khăn. 3. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của GCCN. Địa vị kinh tế xã hội của GCCN trong XH TBCN. LLSX ở bất cứ XH nào cũng là yếu tố quan trọng nhất. Trong CNTB và CNXH với nền SX đại công nghiệp phát triển thì “LLSX hàng đầu của nhân loại là CN và người lao động” + Trong nền SX đại công nghiệp, GC CN vừa là chủ thể trực tiếp nhất, vừa là sản phẩm căn bản nhất của nền SX đó + Với nền SX TBCN “...GCCN hiện đại chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ có thể kiếm được việc làm nếu lao động của họ làm tăng thêm TB”. Từ điều kiện như vậy đã buộc GCCN phải không ngừng học tập vươn lên sao cho đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất ngày càng hiện đại => đội ngũ CN được trí thức hóa ngày càng gia tăng. + Trong chế độ TBCN GCCN hoàn toàn không có hoặc rất ít TLSX. Họ là GC có lợi ích cơ bản đối lập trực tiếp với lợi ích của GC TS. GCTS muốn duy trì chế độ tư hữu tư nhân TBCN về TLSX, duy trì chế độ áp bức bóc lột đối với GCCN và QCND lao động. Ngược lại, GCCN lại muốn xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân TBCN về TLSX, giành lấy chính quyền và sử dụng chính quyền đó để tổ chức xây dựng XH mới không còn áp bức bóc lột + GCCN lao động trong nền SX đại công nghiệp, có quy mô SX ngày càng lớn, sự phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình sản xuát ngày càng nhiều, họ lại thường xuyên sống ở những thành phố lớn, những khu công nghiệp tập trung =>ĐK sông và làm việc tập trung như vậy đã tạo ra cho GC CN khả năng đoàn kết nội bộ GC => tạo ra sức mạnh để làm cách mạng. + GCCN có những lợi ích có bản thống nhất với lợi ích của đại đa số quần chúng ND=> tạo ra khả năng liên minh, đoàn kết với các GC tầng lớp khác. Những đặc điểm chính trị xã hội của GCCN Do địa vị kinh tế xã hội quy định đã tạo cho GCCN có những đặc điểm chính trị xã hội mà những GC khác không thể có được, đó là những đặc điểm cơ bản sau đây: GC CN là GC tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất. GCCN là GC có ý thức tổ chức kỷ luật cao. + GCCN có bản chất quốc tế 3. Hiện nay giai cấp công nhân vẫn còn thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình bởi vì: Mặc dù hiện nay GCCN đang đứng trước những thử thách hết sức nặng nề nhưng xét toàn cảnh sự phát triển XH thì GCCN vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Hiện nay đời sống của một bộ phận không nhỏ CN đã được cải thiện, thậm chí có mức sống “trung lưu hóa”, song điều đó không có nghĩa là GCCN ở những nước đó không bị bóc lột hoặc bóc lột không đáng kể. • Dù cố tìm mọi cách thích nghi và mọi biện pháp xoa dịu nhưng GCTS không thể nào khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của CNTB => Thực tế cuộc đấu tranh của GCCN ở các nước TBCN vẫn đang diễn ra với những nội dung đa dạng và hình thức phong phú Câu 4 (6 điểm): Thế nào là cách mạng XHCN, nguyên nhân của cách mạng XHCN ? Phân tích quan niệm của chủ nghĩa mác – lênin về mục tiêu, nội dung của cách mạng XHCN. 1. Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa Theo nghĩa hẹp: CM XHCN là một cuộc cách mạng chính trị được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền, thiết lập nên nhà nước vô sản – nhà nước của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động. Theo nghĩa rộng: CM XHCN là quá trình cải biến một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng,.....để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. 2 . Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nguyên nhân sâu xa: là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất không ngừng phát triển mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời = >phải thay thế quan hệ sản xuất lỗi thời bằng một quan hệ sản xuất mới tiên tiến hơn = > thay thế PTSX cũ bằng PTSV mới Nguyên nhân trực tiếp: là do dưới chế độ chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân đã đứng lên đấu tranh chống lại các nhà tư sản và giai cấp tư sản. CM XHCN muốn nổ ra, giai cấp công nhân phải nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình, thực hiện việc tuyên truyền vận động nhân dân lật đổ chính quyền nhà nước của giai cấp tư sản để giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ. 3. Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa: là giải phóng con người, giải phóng xã hội cho nên có thể nói CNXH mang tính nhân văn sâu sắc. + Mục tiêu giai đoạn thứ nhất của CM XHCN là giành lấy chính về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động + Mục tiêu giai đoạn thứ hai của CM XHCN là “xoá bỏ mọi chế độ người bóc lột người....nhằm đưa lại đời sống ấm no cho toàn dân”. Khi mà “ xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”. 4. Nội dung của cách mạng XHCN Về chính tri: Trước hết là đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp bóc lột, giành chính quyền về tay GCCN, nhân dân lao động, đưa những người lao động từ địa vị làm thuê lên địa vị làm chủ xã hội Bước tiếp theo là cần phải tạo điều kiện để làm sâu thêm nền dân chủ XHCN, mà thực chất của quá trình đó là thu hút đông đảo quần chúng nhân dân lao động tham gia vào quản lý xã hội, quản lý nhà nước. Đẻ nâng cao hiệu quả trong việc tập hợp, tổ chức nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước XHCN phải thường xuyên nâng cao kiến thức về mọi mặt cho nhân dân, đặc biệt là văn hóa chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật để nhân dân tham gia quản lý NN, XH. Về kinh tế Nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng XHCN là phải phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân. CM XHCN trên lĩnh vực kinh tế trước hết phải thay đổi vị trí, vai trò của người lao động đối với TLSX chủ yếu, thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX bằng chế độ sở hữu XHCN về TLSX chủ yếu với những hình thức thích hợp; thực hiện những biện pháp cần thiết để gắn người lao động với TLSX. Cùng với việc cải tạo QHSX cũ, xây dựng QHSX mới XHCN, NN XHCN phải tìm mọi cách để phát triển LLSX, không ngừng nâng cao năng suất lao động, trên cơ sở đó cải thiện từng bước đời sống nhân dân. CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, do vậy năng suất lao động, hiệu quả công tác là thước đo đánh giá hiệu quả của mỗi người đóng góp cho XH. Trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa Dưới CNXH GCCN cùng quần chúng nhân dân lao động trở thành những người làm chủ TLSX chủ yếu trong XH , do vậy họ cũng là người sáng tạo ra các gía trị tinh thần.Trong điều kiện XH mới – XH XHCN GCCN cùng với nhân dân lao động là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa, tinh thần của xã hội. Trên cơ sở kế thừa một cách có chọn lọc và nâng cao giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu các giá trị văn hóa tiên tiến của thời đại. CM XHCN trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng thực hiện giải phóng người lao động về mặt tinh thần thông qua từng bước xây dựng thế giới quan và nhân sinh quan mới cho người lao động => hình thành những con người mới XHCN. • KL: CMXHCN diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, có quan hệ gắn kết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Câu 5 (6 điểm): Phân tích quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính tất yếu, nội dung và nguyên tắc của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng XHCN. Sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng khối liên minh giữa công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức ở Việt Nam. 1. Tính tất yếu của liên minh Liên minh để thực hiện mục tiêu chung do giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong một nước nông nghiệp đại đa số dân cư là nông dân thì vấn đề giai cấp công nhân liên minh với họ là điều tất yếu. Qua khối liên minh này, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội là nông dân, công nhân được tập hợp về mục tiêu chung là xây dựng CNXH, vì lợi ích của toàn thể dân tộc. Đây là điều kiện để giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo. Đó chính là tính tất yếu về mặt chính trị xã hội, là yếu tố tiên quyết. Liên minh công nông là nhu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và nhu cầu tự giải phóng của nông dân 2. Nội dung và nguyên tắc của liên minh a. Nội dung Liên minh về chính trị: Nhiệm vụ trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền là nhằm giành lấy chính quyền về tay GCCN và NDLĐ. Trong quá trình xây dựng CNXH là GCCN và NDLĐ cùng nhau tham gia vào chính quyền nhà nước, bảo vệ XHCN và mọi thành quả của CM Liên minh về chính trị không phải là dung hòa lập trường chính trị của các giai cấp tầng lớp mà cần phải trên lập trường chính trị của GCCN. Liên minh về chính trị GCCN và NDLĐ tạo cơ sở vững chắc cho NN XHCN, làm nòng cốt cho mặt trận, thực hiện liên minh rộng rãi với các tầng lớp lao động khác. Liên minh về kinh tế: Đây là nội dung quan trọng nhất của liên minh. Thực hiện liên minh giữa GCCN với GCND trong quá trình xây dựng CNXH là phải kết hợp đúng đắn lợi ích giữa 2 GC, Hoạt động KT vừa đảm bảo lợi ích của NN, của xã hội, đồng thời phải thường xuyên quan tâm tới nông dân, phát triển công nghiêp và nông nghiệp nông thôn. Chú ý quan tâm tới việc xây dựng khối liên minh giữa GCCN với tầng lớp trí thức, nếu không chú ý đến điều này thì không thể xây dựng một nền CN hiện đại được và cũng không thể đứng vững được trong cuộc đấu tranh chống CNTB. Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh cũng là một nội dung quan trọng, điều này bởi vì: CNXH được xây dựng trên một nền SX công nghiệp hiện đại, vì vậy CN, DN và những người lao động khác phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ văn hóa. CNXH với mong muỗn xây dựng một xã hội nhân văn, nhân đạo, con người sống với nhau có tình có nghĩa, điều này chỉ có thể thực hiện được trên có sở một nền văn hóa của nhân dân. CNXH tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý kinh tế, xã hội và quản lý nhà nước, vì vậy nhân dân phải có trình độ văn hóa, phải hiểu biết pháp luật. b. Nguyên tắc cơ bản của liên minh. Phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng (phân tích) Phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện (phân tích) Kết hợp đúng đắn các lợi ích (phân tích) =>KL: 3. Sự vận dụng của Đảng và Nhà nước ta Ngay từ ĐH II (1951) trong văn kiện ĐLĐ VN đã nêu: “chính quyền của nước VNDCCH là chính quyền dân chủ của nhân dân...lấy liên minh CN, ND và lao động trí thức làm nền tảng và do GCCN lãnh đạo”. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH và trong chỉ đạo thực tiễn Đảng ta đặc biệt coi trọng mối liên minh này và coi đó là nền tảng của NN của dân, do dân, vì dân. ĐH IX của Đảng tiếp tục khẳng định tính tất yếu của khối liên minh, liên minh là cơ sở cho khối đại đoàn kêt toàn dân tộc và nó là động lực để phát triển đất nước. • => KL; Quan điểm, đường lối của liên minh là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo quan điểm của CN Mác – lênin về liên minh... Câu 6 (6 điểm): Tại sao phải quá độ từ CNTB lên CNXH? Làm rõ quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về những đặc trưng cơ bản của XH XHCN. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển những đặc trưng này như thế nào trong sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH hiện nay. 1.Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH: Sự thay thế xã hội CNTB bằng xã hội XHCN là một tất yếu khách quan trong tiến trình lịch sử xã hội loài người theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự thay thế của các chế độ xã hội trước đây chỉ là thay thế xã hội bóc lột này bằng xã hội bóc lột khác cao hơn còn về bản chất vẫn là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để nhất trong lịch sử vì mục tiêu trực tiếp là xóa bỏ chế độ tư hữu, thủ tiêu chế độ người bóc lột người để thiết lập chế độ mới do nhân dân lao động làm chủ. Cách mạng XHCN nổ ra thành công là bắt đầu vào thời kỳ quá độ, thời kỳ quá độ này có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chon CNXH, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho XHCN. “ Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tư tưởng. Thời kỳ này được bắt đầu sau khi giai cấp công nhân thiết lập được chính quyền nhà nước và trực tiếp bắt tay vào sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và được kết thúc sau khi xây dựng xong về cơ bản những cơ sở về kinh tế, văn hóa – tư tưởng để CNXH bắt đầu quá trình tự phát triển” Hai loại hình quá độ lên CNXH: Quá độ trực tiếp... Quá độ gián tiếp... 2. Đặc trưng cơ bản của XH XHCN trong CN Mác – Lênin Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH là nền sản xuất công nghiệp hiện đại (phân tích) Xã hội XHCN đã xoá bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công hữu về TLSX chủ yếu (phân tích) Xã hội XHCN tạo ra cách thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới (phân tích) Xã hội XHCN thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động nguyên tắc phân phối cơ bản nhất (phân tích) Nhà nước XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân. (phân tích) Xã hội XHCN là chế độ đã giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo ra những điều kiện cơ bản để con người pháp triển toàn diện (phân tích) 3. Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển những đặc trưng cơ bản của XH XHCN trong chủ nghĩa Mác – Lênin Ngay từ đầu Đảng ta đã xác định: Hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đưa cả nước quá độ lên CNXH và luôn giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”. Trong các kỳ đại hội của Đảng đều ít nhiều đề cập đến đặc trưng của CNXH. Tuy nhiên đến đại hội VII với cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 Đảng ta đã Nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và đưa ra 6 đặc trưng bản chất của CNXH. Các đại hội VIII, IX, X tiếp tục khẳng định và phát triển những đặc trưng đó. 6 Đặc trưng của CNXH theo Đại hội Đảng lần thứ VII: + CNXH do nhân dân lao động làm chủ + Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. + Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. + Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, có cuộc sông ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện các nhân. + Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. + Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. 8 Đặc trưng của CNXH theo Đại hội Đảng lần thứ X (cụ thể hơn, phù hợp hơn) • Nhận xét: Đảng và Nhà nước ta đã dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội để đưa ra các đặc trưng về CNXH. Những đặc trưng đó vùa có sự kế thừa lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vừa có sự phát triển sáng tạo cho phù hợp hơn với tình hình thực tiễn đất nước. Câu 7 (6 điểm): Tại sao nói thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là tất yếu. Phân tích đặc điểm, thực chất và nội dung của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. 1. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH: Sự thay thế xã hội CNTB bằng xã hội XHCN là một tất yếu khách quan trong tiến trình lịch sử xã hội loài người theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Sự thay thế của các chế độ xã hội trước đây chỉ là thay thế xã hội bóc lột này bằng xã hội bóc lột khác cao hơn còn về bản chất vẫn là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để nhất trong lịch sử vì mục tiêu trực tiếp là xóa bỏ chế độ tư hữu, thủ tiêu chế độ người bóc lột người để thiết lập chế độ mới do nhân dân lao động làm chủ. Cách mạng XHCN nổ ra thành công là bắt đầu vào thời kỳ quá độ, thời kỳ quá độ này có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chon CNXH, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho XHCN. “ Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tư tưởng. Thời kỳ này được bắt đầu sau khi giai cấp công nhân thiết lập được chính quyền nhà nước và trực tiếp bắt tay vào sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và được kết thúc sau khi xây dựng xong về cơ bản những cơ sở về kinh tế, văn hóa – tư tưởng để CNXH bắt đầu quá trình tự phát triển” Hai loại hình quá độ lên CNXH: Quá độ trực tiếp Quá độ gián tiếp 2. Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH a. Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là sự tồn tại những yếu tố của XH cũ bên cạnh MQH vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống KT – XH Trên lĩnh vực kinh tế: + Thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu còn tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần trong một hệ thống KT quốc dân thống nhất. Đây là bước quá độ trung gian tất yếu trong quá trình xây dựng CNXH không thể dùng ý chí để xóa bỏ ngay kết cấu nhiều thành phần của nền kinh tế, nhất là đối với những nước còn ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của PTSX TBCN. + Các thành phần kinh tế này tồn tại trong MQH vừa thống nhất vừa mâu thuẫn và đấu tranh với nhau. Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế đó chỉ có thể được giải quyết trong tiến trình xây dựng CNXH. +Nền KT đa dạng, đan xen hỗn hợp tương ứng với nó lừ những hình thức phân phối khác nhau, trong đó hình thức phân phối theo lao động tất yếu ngày càng giữ vai trò là hình thức phân phối chủ đạo. Trên lĩnh vực chính trị: Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH đa dang, phức tạp nên kết cấu giai cấp xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng và phức tạp. Thời kỳ này bao gồm: GCCN, GCND, tầng lớp TT, những người SX nhỏ, tầng lớp TS. Các GC, tầng lớp này vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau. Trong một GC, tầng lớp cũng có nhiều bộ phận có trình độ, có ý thức khác nhau. Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa; + Trong thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng và văn hóa khác nhau. Bên cạnh tư tưởng XHCN còn tồn tại TT TS, TTS, tâm lý tiểu nông... + Trên lĩnh vực văn hóa cũng tồn tại các yếu tố văn hóa cũ và mới, chúng thường xuyên đấu tranh với nhau. b. Thực chất của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH Là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh GC giữa GCTS đã bị đánh bại không còn là GC thống trị và những thế lực chống phá CNXH với GCCN và quần chúng nhân dân lao động Cuộc đấu tranh GC diễn ra trong điều kiện mơi là GCCN đã nắm được chính quyền nhà nước, quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống XH. Cuộc đấu tranh GC với những nội dung vè hình thức mới diễn ra trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng – văn hóa, bằng tuyên truyền vận động là chủ yếu, bằng hành chính và luật pháp. 3. Nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH Trong lĩnh vực kinh tế Thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các LLSX hiện có của XH. Cải tạo QHSX cũ, xây dựng QHSX mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảm phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống nhân dân lao động. Việc bố trí, sắp xếp lại LLSX của XH nhất định không thể nóng vội chủ quan mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Đối với những nước chưa trải qua quá trình CNH TBCN, tất yếu phải tiến hành CNH XHCN nhằm tạo ra được CSVC – KT cho CNXh => CNH, HĐH nền KT theo định hướng XHCN là nhiệm vụ trong tâm của thời kỳ quá độ, tuy nhiên nội dung cụ thể và hình thức, bước đi ở từng nước có thể khác nhau. Trong lĩnh vực chính trị Tiến hành cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH Xây dựng và củng cố nhà nước và nền dân chủ XHCN ngày càng vững mạnh bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân lao động. Xây dựng các tổ chức chính trị xã hội hoạt động ngày càng hiệu quả. Xây dựng Đảng cộng sản ngày càng trong sạch, vững mạnh. Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa Thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến những tư tưởng cách mạng và khoa học của GCCN trong toàn xã hội. Khắc phục những tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đối với tiến trình xây dựng CNXH Xây dựng nền văn hóa mới XHCN Tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa thế giới Trong lĩnh vực xã hội Khắc p
Xem thêm

Đọc thêm

Khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động

Khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động

Khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động Trong một quan hệ pháp luật, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bao giờ cũng nhằm hướng tới một mục đích, một lợi ích nào đó và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật đó. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, người lao động muốn sử dụng sức lao động của mình để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình cho họ; còn bên sử dụng lao động cũng muốn có sức lao động để sử dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ. Như vậy, khi thiết lập quan hệ pháp luật lao động với nhau, các bên đều hướng tới sức lao động của người lao động và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật lao động. Trong bài tập này, em xin phân tích khách thể của quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tại sao khách thể là sức lao động? Tại sao khách thể là sức lao động của người lao động? Sức lao động được định dạng như thế nào? Để lí giải cho các vấn đề đó, cần bắt đầu từ bản chất sâu xa của quan hệ lao động và biểu hiện của quá trình thực hiện quan hệ lao động đó. Về mặt bản chất, các bên của quan hệ lao động không thực hiện việc mua, bán sức lao động – vì sức lao động là đại lượng phi vật chất, không phải là thứ có thể cầm nắm hay sờ thấy được, mà là đang mua bán một đại lượng vật chất khác, giống như mua một chiếc bình gốm do người lao động sản xuất ra. Có thể không có sự đánh giá hay hình dung một cách đầy đủ về sức lao động nhưng chắc chắn đó là một đối tượng của quan hệ trao đổi. Vì vậy, theo cách hiểu thông thường, đó chính là quan hệ khách thể của quan hệ trao đổi. Nhưng người lao động “bán” đi sức lao động không phải bằng cách dùng tay hay dùng các phương tiện khác chuyển cho người sử dụng lao động sức lao động của mình mà phải làm việc để chuyển giao sức lao động đó. Người lao động không chỉ làm việc theo nghĩa thông thường là thực hiện các hành động, các thao tác như một cái máy mà là lao động với tất cả tâm trí, khả năng, kĩ năng, tình cảm, trách nhiệm của mình. Ví dụ như một ông giám đốc được thuê để quản lí một công ty cổ phần thì ông ta phải có đủ bằng cấp, kĩ năng mềm, kinh nghiệm…để điều hành công ty và ông ta phải chịu trách nhiệm về công việc của mình. Ngược lại, người sử dụng lao động không thể dùng các công cụ, phương tiện để nhận sức lao động từ người lao động như các hàng hóa khác (nguyên liệu, vật liệu…) và cũng không thể nhận trực tiếp hàng hóa sức lao động đó mà phải thực hiện hành vi này một cách gián tiếp. Đối với người sử dụng lao động, việc bàn giao công việc, tổ chức quản lí người lao động chính là việc đang “nhận” sức lao động người lao động chuyển giao. Ví dụ chủ quán phở thuê đầu bếp và chân chạy bàn thì chủ quán phải bàn giao công việc và quản lí những người đã được thuê. Sức lao động (không phải là lao động, với cả hai ý nghĩa: là người lao động và thao tác – hành vi lao động) là khách thể của quan hệ pháp luật lao động. Sức lao động gắn liền với người lao động, sức lao động gắn liền với cơ bắp, trí não, những phẩm chất và giá trị nhân thân của từng người. Do vậy, không thể có hiện tượng người lao động này “lấy trộm, lấy cắp” sức lao động của người khác để bán cho người sử dụng lao động. Trong trường hợp nào sức lao động của người lao động là khách thể? Người lao động “hướng tới” khách thể tức là hướng tới sức lao động của chính bản thân mình. Muốn có được sức lao động tốt người lao động phải bồi bổ cơ thể, siêng năng học hành, chịu khó rèn luyện tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng làm việc. Đây là lí do vì sao sinh viên khi ra trường đều cố kiếm tấm bằng khá giỏi, người có bằng đại học thì lại muốn có thêm bằng thạc sĩ…Chung quy chỉ vì người lao động mong muốn bán được sức lao động với giá cao – lương và hoa hồng cao, có môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho người sử dụng lao động một cách thuận lợi. Còn người sử dụng lao động cũng “hướng tới” sức lao động của người lao động thông qua hành vi quan tâm đến số lượng và chất lượng của sức lao động mà người lao động chuyển giao cho họ. Vì vậy, trước khi tuyển người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động đã có sự đánh giá, phân loại đối tượng để tìm được đối tác thích hợp cho quá trình lao động. Đây chính là lí do người sử dụng lao động tiến hành công việc xem xét đơn xin việc và phỏng vấn người lao động. Sau khi có lực lượng lao động, người sử dụng lao động lại tiếp tục giám sát quá trình chuyển giao sức lao động của những công nhân viên chức làm việc tại đơn vị. Ví dụ ban Thanh tra nhân dân do cán bộ, công nhân viên chức từng đơn vị bầu ra, với nhiệm kỳ 2 năm, để làm công việc giám sát, thanh tra mọi công việc, hoạt động của cơ quan, đơn vị. Sự “hướng tới” khách thể của hai bên là khác nhau do mục tiêu của họ là khác nhau nhưng vấn đề là cả hai bên trong quan hệ lao động đều “hướng tới” sức lao động của người lao động. Nhưng sức lao động của người lao động không phải lúc nào cũng là cái mà các bên trong quan hệ pháp luật “hướng tới”. Thời điểm hướng tới đó luôn được xác định vì con người luôn có nhiều mối quan tâm khác nhau. Tùy từng thời điểm mà mối quan tâm đó được đặt vào những điều cần thiết. Ví dụ chị H là viên chức nhà nước. Chị đi làm vào giờ hành chính từ 8h tới 17h30. Tan việc, chị về đón con và nội trợ. Khoảng 19h tới 21h, chị kinh doanh quán giải khát tại nhà. Sau đó chị kiểm tra bài tập của con, dọn dẹp nhà cửa và đi ngủ. Cuối tuần chị tham gia CLB “làm giàu không khó”. Nói cách khác, trong khoảng thời gian ngoài giờ hành chính, sức lao động của chị H không được chuyển giao, không được đưa vào quá trình trao đổi nên không thể là khách thể nữa. Khách thể của quan hệ pháp luật lao động là sức lao động và đây luôn là vấn đề được người lao động và người sử dụng lao động quan tâm hướng tới. Xung quanh sức lao động có rất nhiều vấn đề được đặt ra, tuy nhiên do giới hạn bài tập cá nhân nên em xin kết thúc tại đây. Em rất mong thầy cô góp ý và sửa chữa những thiếu sót của em.
Xem thêm

Đọc thêm

bai giang môn tài chính tiền tệ

bai giang môn tài chính tiền tệ

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ Tiền tệ và tài chính là những phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất và lưu thông hành hóa. Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế; đặc biệt trong nền kinh tế thị trường nền kinh tế được tiền tệ hóa cao độ. Để thấy rõ vai trò đó, chương này cho phép chúng ta hiểu một cách cơ bản: Tiền tệ là gì? Tiếp đến là nhận thức được quá trình ra đời, phát triển và các chức năng của tiền tệ. Đồng thời cũng cho thấy một cách khái quát về tiền tệ hiện nay được đo lường như thế nào? Và chúng ta biết được tài chính được biểu hiện thông qua những quan hệ kinh tế chủ yếu nào? I. LỊCH SỨ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ 1. Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ Sự ra đời của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong thời kỳ đầu chế độ cộng sản nguyên thuỷ với công cụ lao động thô sơ người ta tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi thu về sau một ngày săn bắn, hái lượm. Khi đời sống cộng đồng phát triển ý thức phân công lao động được hình thành và với lượng sản phẩm dư thừa này đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc. Trong giai đoạn này trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được thực hiện bằng cách trao đổi trực tiếp (HH). Đây là một bước tiến lớn để xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp. Tuy nhiên, ở hình thức trao đổi này vì hai giai đoạn mua và bán cùng thống nhất trong một quá trình nên đôi bên mua và bán phải có nhu cầu phù hợp về hàng hoá như: người có thóc muốn đổi vải song ngược lại người có vải cũng đang cần có thóc. Như vậy, việc thực hiện giá trị hàng hoá phụ thuộc vào giá trị sử dụng của hàng hoá. Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này người ta còn phải thoả thuận về tỷ lệ giá trị của hàng hoá, về số lượng hàng hoá...với những bất tiện của trao đổi hiện vật nêu trên, nên hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn nền sản xuất còn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng. Cùng với việc cải tiến công cụ lao động và quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu hơn, nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh do đó quan hệ trao đổi không còn ngẫu nhiên, không chỉ dựa trên sự định giá giản đơn. Mặt khác, hàng hoá trên thị trường đã phong phú và đa dạng hơn đòi hỏi phạm vi trao đổi cần được mở rộng hơn. Để giải quyết khó khăn trên người ta đã đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi nghĩa là hai giai đoạn mua bán được tách thành hai quá trình độc lập. H vật trung gian H Có thể nói sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất hiện của tiền tệ đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh tế tiền tệ. Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế.
Xem thêm

Đọc thêm

TẬP XÂY DỰNG CẨM NANG THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN

TẬP XÂY DỰNG CẨM NANG THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN

Quốc tiến quân vào năm 1950.Đó là các hình thức thanh toán đầu tiên trước khi có tiền(Tiền trong tiếng Latinh là pecunia bắt nguồn từ pecus cónghĩa là con bò đầu vì đồng tiền kim loại đâù tiên của LaMã tượng trưng cho giá trị của một con bò). Khả năng cóthể đếm được dễ bảo toàn, dễ vận chuyển đã đóng một vaitrò quan trọng trong việc lựa chọn vật liệu cũng như khảnăng có thể gĩư được giá trị. Các thỏi hay sợi dây bằngđồng thiếc hay bạc đáp ứng được các yêu cầu này vì có giátrị bền vững và được đảm bảo dễ dàng.Các đồng tiền kim loại đâù tiên được người Lydia ởphía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đúc từ vàng, trong thờigian giữa 640 và 600 TCN, có nhiều kích thước và giá trịkhác nhau và được dùng như là một phương tiện thanhtoán để giản đơn hoá việc trả lương cho những người línhđánh thuê. Một lượng nhất định của các hạt bụi vàng đượcnấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua đượcdập nổi lên trên. nhà vua người Lydia cuối cùng, Croesus,vì thế mà được mang danh là giàu có vô hạn. Các đồngtiền kim loại này đã làm cho việc thương mại dễ dàng đirất nhiều vì chúng có ưu điểm là bao giờ cũng có kíchthước và hình dạng, trọng lượng không thay đổi và thay vìphải cân thì có thể đếm được.Các chỉ trích và phê phán về thuyết cho rằng tiền hìnhthành từ thương mại trao đổi và xuất phát từ những ngườiđại diện cho Chủ nghĩa nợ ( debitism), đặc biệt là PaulC.Martin. lý luận được đưa ra là sử dụng một vật trao đổithứ 3 trước tiên là sẽ làm cho việc trao đổi phức tạp hơn. từ
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn TIỀN tệ

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn TIỀN tệ

ĐỀ CƯƠNG MÔN TIỀN TỆ Câu 1:Trình bày bản chất và chức năng của tiền tệ? 1.1 Khái niệm: Tiền là 1loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hóa để đo giá trị hàng hóa . Tiền là 1 loại hàng hóa đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giá trung để đo giá trị của các hàng hoá là phương diện cần thiết để thực hiện mọi quan hệ trao đổi do vậy tiền có thể thỏa mãn nhu cầu sở hữu nó tương ứng vs số lượng giá trị mà người đó đã tích lũy được. Tất cả các phương tiện có thể đóng vai trò trung gian trao đổi, được nhiều người thừa nhận thì gọi là tiền. 1.2Bản chất và chức năng của tiền tệ : Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó . Theo CácMác tiền tệ có 5 chức năng: • Thước đo giá trị.: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định: + Giá trị hàng hoá. + Giá trị của tiền. + ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hoá. Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen. Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.
Xem thêm

Đọc thêm

Pháp luật về hợp đồng nhập nguyên liệu của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Cơ khí Quang Trung

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP NGUYÊN LIỆU CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN CƠ KHÍ QUANG TRUNG

Quan hệ mua bán hàng hoá được hình thành và phát triển từ khi có sự phân công lao động xã hội và có sự trao đổi sản phẩm của lao động. quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật khi được pháp luật điều chỉnh và hình thức pháp lý của nó là hợp đồng mua bán hàng hoá nói chung và hợp đồng nhập nguyên liệu nói riêng. Hiện nay ở nước ta việc quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá chủ yếu dựa vào các văn bản : Bộ Luật Dân năm (2005) Luật Thương mại năm (2005) và một số văn bản khác liên quan. Thực tế cho thấy hai hai bộ luật phần nào đáp ứng được với nền kinh tế hiiện nay. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong việc thi hành. Điều đó dẫn đến nhiều mâu thuẫn chồng chéo quy định giữ các đạo luật với nhau. Như vậy khi tiến hành ký kết hợp đồng mua bán các doanh nghiệp phải dựu vào các văn bản pháp lý nào? Giữa một văn bản có hiệu lực pháp lý cao hay văn bản có hiệu lực thời gian thi hành trước hay phải áp dụng cả nhiều văn bản. Nếu áp dụng cả nhiều văn bản thì phải áp dụng như thế nào để không trái pháp luật? Bởi vậy, việc tiến hành nghiên cứu chế độ pháp lý hợp đồng mua bán hàng hóa và việc xem xét thực tiễn áp dụng chế độ đó tại một cơ sở để thấy rõ thực trạng là điều cần thiết. Đề tài nghiên cứu được lựa chọn là: “Pháp luật về hợp đồng nhập nguyên liệu của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Cơ khí Quang Trung”. Trong phạm vi nhất định, đề tài sẽ đưa ra một cách hệ thống cơ bản đầy đủ nội dung chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước dưới góc độ một loại của hợp đồng kinh tế. Trên cơ sở đó sẽ xem xét thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Cơ khí Quang Trung liệu có gì vướng mắc không qua đó cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện áp dụng chế độ này trong thực tiễn.
Xem thêm

52 Đọc thêm

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn cố định tại Công ty Cổ phần Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông..

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn cố định tại Công ty Cổ phần Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông..

Trước đây, trong cơ chế bao cấp hàng hoá vô cùng khan hiếm, để cung cấp đủ hàng cho người tiêu dùng là một vấn đề hết sức khó khăn. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hàng hoá được sản xuất ngày càng nhiều vì thế nhu cầu của người tiêu dùng cũng thay đổi từ “ ăn no mặc ấm” đến “ ăn ngon mặc đẹp”. Do vậy hàng hoá phải đa dạng và phong phú về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đặc biệt là chất lượng phải tốt mà giá cả thì phải hợp lý. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp trong thời buổi nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt này là làm sao sản xuất ra mặt hàng đáp ứng được tất cả những yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu, học hỏi, tìm ra các phương pháp hợp lý để cải tiến sản phẩm của doanh nghiệp mình. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất, xã hội và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, tài sản cố định trong nền kinh tế không ngừng được cải tiến, đổi mới, hiện đại hoá nhằm góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp. Điều đó đặt ra cho công tác quản lý tài sản cố định những yêu cầu ngày càng cao. Vì vậy, tài sản cố định trong doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Công ty Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng công ty Sành sứ và Thuỷ tinh Công Nghiệp Việt Nam Bộ Công Nghiệp, đã và đang đạt được nhiều thành tích trong lao động, sản xuất. Với đội ngũ lãnh đạo đầy nhiệt huyết, đầy năng lực, công ty đã xây dựng cho mình một chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn kết hợp với công tác tổ chức quản lý chặt chẽ, linh hoạt, công ty đã gặt hái được rất nhiều thành công lớn. Sản phẩm của công ty Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông được ưa chuộng, yêu mến đối với người tiêu dùng trên khắp các tỉnh thành do vậy mà uy tín và chất lượng của công ty ngày càng được nâng cao. Ngày 28042000, công ty đã vinh dự nhận được phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước đó là danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Ngày 15072004 công ty đã tiến hành cổ phần hoá và đổi tên thành Công ty Cổ phần Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông. Trong 40 năm xây dựng và trưởng thành đến nay, Công ty Cổ phần Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông đã trở thành một tấm gương sáng trong lao động và sản xuất cho các doanh nghiệp khác học hỏi, noi theo, đồng thời các sản phẩm bóng đèn, phích nước của Rạng Đông trở thành vật dụng quen thuộc, gần gũi với mọi người dân trên khắp đất nước Việt Nam và đã có mặt trên thị trường Hàn Quốc, Ai Cập. Để viết được bản báo cáo về công tác tổ chức quản lý vốn cố định của Công ty Cổ phần Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông , em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Vũ Dương Hoà và các cô, chú, các anh chị, trong phòng tài chính kế toán của công ty. Trong khuôn khổ bài viết không tránh khỏi những sai sót kính mong sự quan tâm giúp đỡ, đóng góp ý kiến của thầy giáo hướng dẫn và các cô, chú, các anh chị phòng tài chính kế toán để bài báo cáo đạt kết quả cao. Em xin chân thành cảm ơn KẾT CẤU BÀI VIẾT GỒM HAI PHẦN : Phần một : Khái quát chung và thực trạng công tác quản lý vốn cố định tại Công ty Cổ phần Bóng Đèn Phích Nước Rạng Đông. Phần hai : Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân biệt các phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của luật thương mại.

Phân biệt các phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của luật thương mại.

Phân biệt các phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của luật thương mại. MỤC LỤC:A.PHẦN MỞ ĐẦUB.PHẦN NỘI DUNG I.Khái quát về tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết. II.Phương thức thương lượng,hòa giải. III.Phương thức trọng tài thương mại. IV. Phương thức tòa án. V.Lựa chọn phương thức thích hợpC.PHẦN KẾT LUẬN A.PHẦN MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt Nước ta đang tiến hành chính sách phát triển kinh tế đối ngoại theo hướng tham gia ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế, thì tính đa dạng và phức tạp trong quan hệ thương mại làm cho tranh chấp thương mại cũng trở lên phức tạp về nội dung, gay gắt về mức độ tranh chấp và phong phú hơn nhiều về chủng loại, xuất phát từ lợi nhuận của các bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế, việc giải quyết tranh chấp là hết sức quan trong và cần thiết. Cần thiết là bởi cần có những phương thức giải quyết phù hợp để nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần duy trì ổn định và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng các phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án. Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, và việc lựa chọn phương thức nào đó có thể đem lại cho những bên trong cuộc đối với mỗi vụ việc cụ thể. Hiểu biết và nắm vững về mỗi phương thức là cơ hội và chìa khóa để các doanh nhân tìm ra được con đường giải quyết tranh chấp thích hợp nhất cho doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề liên quan tới các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại chưa được quy định đầy đủ và hợp lý trong hệ thống pháp luật nước ta, việc áp dụng các phương thức trong thực tiễn còn nhiều bất cập, vấn đề hoàn thiện các phương thức để phát huy tối đa vai trò của chúng trong nền kinh tế là một nhu cầu bức thiết. Qua đó mà bài thảo luận dưới đây, Nhóm 9 chúng em sẽ làm rõ nội dung cũng như tìm ra ưu nhược điểm của các phương thức giải quyết thương mại để áp dụng phù hợp với hoàn cảnh nhất. B.PHẦN NỘI DUNGI.Khái quát về tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết. 1. Tranh chấp thương mại là gì? Thuật ngữ tranh chấp nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng, mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên chúng được gọi theo ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền lương giữa người lao động và người sử dụng lao động được gọi là tranh chấp lao động. Tương tự như vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai ... những tranh chấp rõ là có liên quan đến lợi ích kinh tế của các bên. Do đó chúng có thể được gọi là tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng. Một đặc trưng của các tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng đó là các chủ thể tham gia vào quan hệ này không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.Một cách đơn giản có thể hiểu tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại. Điều 238 Luật thương mại Việt Nam nêu ra khái niệm về tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt đồng thương mại.Tại Khoản 2 Điều 5 cũng quy định hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội.Tuy nhiên, hành vi thương mại gồm những hành vi nào là điều đáng quan tâm hơn cả. Hiện nay trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về hành vi thương mại:Ở Việt Nam, Điều 45 Luật thương mại quy định các loại hành vi thương mại gồm:1. Mua bán hàng hoá2. Đại diện cho thương nhân3. Môi giới thương mại4. Uỷ thác mua bán hàng hoá5. Đại lý mua bán hàng hoá6. Gia công trong thương mại7. Đấu giá hàng hoá8. Dịch vụ giao nhận hàng hoá9. Đấu thầu hàng hoá10. Dịch vụ giám định hàng hoá11. Khuyến mại12. Quảng cáo thương mại13. Trưng bày giới thiệu hàng hoá14. Hội chợ, triển lãm thương mạiTuy vậy, ngoại diên của khái niệm hành vi thương mại ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển có phạm vi rộng hơn nhiều. Ở Anh nói riêng và cộng đồng Anh ngữ nói chung thuật ngữ Commerce không đồng nhất với trade, mà nó bao gồm cả trade, bank, insurrance , transport, ... hay nói một cách khác thương mại bao gồm cả việc mua, bán, các sản phẩm vô hình có tính chất đặc thù khác. Tác động thương mại là hoạt động thường xuyên, độc lập và mưu cầu lợi nhuận, và theo luật thương mại của Pháp, hoạt động thương mại bao gồm:1. Mua bán động sản với mục đích bán lại để kiếm lời2. Hoạt động trung gian trong việc mua bán động sản và bất động sản.3. Cho thuê động sản và bất động sản.4. Chế tạo và chuyên chở5. Hoạt động đổi tiền và ngân hàng6. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệpVà tranh chấp thương mại là tranh chấp trong các hoạt động trên. Trong giới hạn của bài viết ở đây chỉ làm rõ tranh chấp trong hoạt động thương mại đã được quy định tại luật thương mại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01011998.Còn theo khoản 1 Điều 3 Luật thương mại: ”Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Theo luật thương mại, hoạt động thương mại là hoạt động
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện công tác hạch toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương với việc nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ lương tại Công ty ứng dụng phát triển Phát thanh Truyền hình

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG QUỸ LƯƠNG TẠI CÔNG TY ỨNG DỤNG PHÁT TRIỂN PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH

Trong mọi chế độ xã hội, việc sáng tạo ra của cải vật chất đều không tách rời lao động. Lao động là điều kiện đầu tiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của loài người, là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất trong quá trình sản xuất. Để có thể lao động được thì người lao động phải có vật phẩm tiêu dùng để tái sản xuất sức lao động, vì vậy khi họ tham gia lao động thì doanh nghiệp sử dụng lao động phải trả cho họ thù lao lao động. Trong nền kinh tế hàng hoá thì thù lao lao động đó được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, họ sẽ phát huy hết sức mình nếu sức lao động họ bỏ ra được đền bù xứng đáng. Với các doanh nghiệp thì tiền lương là bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm do vậy doanh nghiệp phải sử dụng tiền lương có hiệu quả để tiết kiệm tiền lương trong giá thành sản phẩm. Để đảm bảo lợi ích của cả người lao động và doanh nghiệp, để duy trì ổn định xã hội Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách về lao động tiền lương. Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm BHXH,BHYT,KPCĐ.Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến từng thành viên. Công ty ứng dụng phát triển Phát Thanh Truyền hình là một doanh nghiệp Nhà nước với số công nhân viên thường xuyên khoảng 200 người. Việc hạch toán tốt lao động tiền lương sẽ giúp công ty đạt hiệu quả cao về cả kinh tế và môi trường làm việc, tạo điều kiện thuận lợi để công ty thực hiện mục tiêu cơ bản của mình là bảo tồn và phát triển được vốn Nhà nước cấp, hoạt động có hiệu quả. Nhận thức được các vấn đề này, đươc sự giúp đỡ tận tình của thầy Phạm Quang cũng như các cô, chú phòng Kế toán thống kê Công ty ứng dụng phát triển phát thanh truyền hình, tôi xin chọn đề tài “Hoàn thiện công tác hạch toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương với việc nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ lương tại Công ty ứng dụng phát triển Phát thanh Truyền hình” làm chuyên đề thực tập của mình. Chuyên đề này ngoài phần mở đầu và kết luận gôm ba phần lớn: Phần I: Lý luận chung về hạch toán lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương. Phần II: Thực trạng hạch toán lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty ứng dụng phát triển Phát thanh Truyền hình. Phần III: Phương hướng hoàn thiện công tác tổ chức lao động, hạch toán tiền lương và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ lương tại Công ty ứng dụng phát triển Phát thanhTruyền hình.
Xem thêm

69 Đọc thêm

Cùng chủ đề