PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHẢI PHÙ HỢP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHẢI PHÙ HỢP":

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY ppt

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY PPT

Nghị định số 592011NĐCP ngày 1872011 của Chính Phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà Nước thành công ty cổ phần,có hiệu lực từ ngày 05 tháng 9 năm 2011,được sửa đổi,bổ sung bởi: Nghị định số 1892013NĐCP ngày 20112013 của Chính phủ sửa đổi,bổ sung một số điều của Nghị định số 592011NĐCP ngày 1872011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần,có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2014. Thông tư 2022011TTBTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định 592011NĐCP do Bộ Tài chính ban hành Thông tư 1272012TTBTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình thủ tục công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp.
Xem thêm

40 Đọc thêm

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,có tài sản,có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện môt hoặc một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư,từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Nhu cầu xác định giá trị DN Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu đánh giá và xác định giá trị đối với loại hàng hóa này là một đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên. Trong điều hành kinh tế vĩ mô cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh luôn cần thiết thông tin về GTDN. GTDN là mối quan tâm của các pháp nhân và thể nhân có lợi ích liên quan, giắn bó trực tiếp đến GTDN được xuất phát chủ yếu từ các yêu cầu quản lý và các giao dịch: Định giá doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu của hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp. Đây là loại giao dịch diễn ra có tính chất thường xuyên và phổ biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu về đàu tư trục tiếp vào sản xuất kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho sự tăng trưởng và phát triển bằng các yếu tố bên ngoài, nhằm tăng cường khả năng tồn tại trong môi trường tự do cạnh tranh. Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá trên phạm vi rộng lớn các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó GTDN là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để người ta thương thuyết với nhau trong tiến trình giao dịch mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chia nhỏ doanh nghiệp.
Xem thêm

30 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

GVHD: Nguyễn Thúy Hằng Thành viên: Trần Kiều Linh B1309279 Nguyễn Quốc Hậu B1207358 Dương Việt Trinh B1309346 Ngô Hải Long 115209 PHƯƠNG PHÁP NĂNG SUẤT TÓM TẮT Bài viết này xem xét tính khả thi và độ tin cậy của các giá trị ước tính về Phương pháp Năng suất bằng cách áp dụng nó vào nhà máy xử lý nước Gubi ở Bauchi, Nigeria. Các cơ sở lý luận của phương pháp xác định giá trị kinh tế cũng đã được kiểm tra để làm rõ cơ sở, lý do cơ bản và điều kiện của họ, theo đó bài viết sẽ được hợp lệ. Cuộc phỏng vấn được tiến hành với các cán bộ quản lý của các nhà máy và Bộ Tài nguyên nước ở Bauchi. Từ các dữ liệu thu thập N127,900,000 đã được tiết lộ như chi phí hàng năm của xử lý nước trước khi kiểm soát ô nhiễm. Nghiên cứu kết luận rằng phương pháp này áp dụng trong khu vực nghiên cứu mà cần phải được cải thiện, để làm cho các giá trị ước tính đáng tin cậy hơn trong việc phát triển nền kinh tế. Trong số các lĩnh vực khác như văn hóa được phản ánh trong thái độ và quản lý, đã quan sát được là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp trong nghiên cứu khu vực. Cuối cùng, các khuyến nghị đã được thực hiện cho việc chiết khấu các lợi ích kinh tế để phản ánh giá trị thời gian của tiền và luật môi trường được thực thi cho các phương pháp có hiệu quả hơn. Từ khóa: Đa dạng sinh học, hệ sinh thái, sự định giá, giá sẵn lòng trả Giới thiệu Nghiên cứu dựa trên giá trị thường chỉ là nguồn khách quan và đáng tin cậy của thông tin mà các nhà hoạch định chính sách về giá trị và cách duy nhất để ngăn cản các khoản đầu tư lãng phí môi trường mà không phải là lợi ích công cộng. Ưu tiên chính sách trong việc ra quyết định về chi tiêu bảo tồn đòi hỏi thông tin về Sự kiện và Giá trị đó là nguồn gốc thông qua: (1) Thông tin giá trị miễn phí được cung cấp bởi các nhà khoa học; (2) Các nhóm lợi ích thu được từ việc bán phá giá (3) (Hội đồng nghiên cứu quốc gia (NRC), 1999) nghiên cứu cho thấy khó khăn và tranh cãi khi nghiên cứu dựa trên giá trị , nó là mục tiêu duy nhất và là nguồn gốc của thông tin mà các nhà hoạch định chính sách có về giá trị. Thường thì nó là cơ sở đáng tin cậy duy nhất đối với lợi ích được quan tâm đặc biệt về giá trị, và cách duy nhất để khuyến khích đầu tư tránh lãng phí về lợi ích môi trường mà không phải là lợi ích công cộng (Daily, 1997). Về mặt lý thuyết, đa dạng sinh học, hoặc một sự cố của sự đa dạng sinh học, bao gồm tính chất bất đồng hoặc sự đa dạng trong thế giới sinh vật (Encarta, 2009). Mặc dù đa dạng sinh học cũng có thể có giá trị kinh tế đáng kể, so với sự thay thế tiêu hao sử dụng tài nguyên, giá trị kinh tế không cho chúng ta tất cả mọi thứ chúng ta cần phải biết về giá trị đa dạng sinh học, nó chủ yếu là giúp trong các chính sách ưu tiên trong quá trình ra quyết định (Wilson, 1998). Giá trị kinh tế là một nỗ lực để cung cấp một tài khoản thực nghiệm về giá trị của các dịch vụ và tiện nghi trong những lợi ích và chi phí của các hành động được đề xuất (dự án hay chính sách) mà sẽ thay đổi dòng chảy của các dịch vụ và tiện nghi. kinh tế định giá cung cấp một tài khoản tiện dụng (có nghĩa là, một tài khoản đóng góp cho sự hài lòng của các sở thích của con người). Do đó, nó cung cấp một quan điểm cụ thể về giá trị (NRC, 1999). Xác định giá trị hệ sinh thái có thể là một nhiệm vụ khó khăn và gây tranh cãi, và các nhà kinh tế đã thường xuyên bị chỉ trích vì cố gắng đưa một giá vào thiên nhiên (www.ecosystemvaluation.org, tháng sáu, 2006). Tuy nhiên, cơ quan phụ trách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và quản lý thường khó khăn trong việc đưa ra các quyết định có liên quan đến giá trị thương mại trong việc phân bổ nguồn lực. Những loại quyết định về kinh tế, được xác định hoặc rõ ràng hoặc ngầm hiểu , về giá trị xã hội. Do đó, giá trị kinh tế có thể có ích, bằng cách cung cấp một cách giải thích và thiết lập ưu tiên cho các chương trình, chính sách, hay hành động bảo vệ hoặc khôi phục hệ sinh thái và dịch vụ của họ (Evenson, 1995). Xác định giá trị đa dạng sinh học có khó khăn đặc biệt được liệt kê theo những lý do dưới đây: Hàng hóa phi thị trường: Hầu hết hàng hóa môi trường, chẳng hạn như làm sạch không khí và nước, và cá và động vật hoang dã quần thể khỏe mạnh, không có giao dịch trong thị trường. Giá trị kinh tế của họ (tức là bao nhiêu người sẽ sẵn sàng trả tiền cho họ bằng tiền) là không tiết lộ giá cả thị trường. Các lựa chọn duy nhất để gán giá trị tiền tệ để họ là dựa vào phương pháp xác định giá trị phi thị trường (Heal, 2000); Hàng hóa độc quyền: Một người tiêu thụ của hầu hết các hàng hóa (ví dụ như nhà ở) giảm số tiền có sẵn cho tất cả mọi người khác, nhưng hàng hóa môi trường khác nhau. Làm sạch nước và không khí, khung cảnh đẹp, và ở một mức độ giải trí ngoài trời, có thể được thưởng thức bởi tất cả mọi người trong cùng một cách như đài phát thanh và truyền hình. Hàng không độc quyền: Người dân không thể được loại trừ từ thưởng thức hầu hết các môi trường hàng hóa và các chi phí cố gắng để loại trừ chúng là cấm (www.ao.uiuc.edu, July 2006). Hàng hóa không thể tách rời: thực hành bảo tồn tại một vị trí nhất định đóng góp trong nhiều cách vòng xoay để hàng hóa môi trường và kết quả trong môi trường và kinh tế lợi ích mà tích luỹ trên một khoảng cách rất lớn trong thời gian và không gian. Nó có thể là không thể tách các lợi ích kinh tế là kết quả từ một thực tế bảo tồn thực hiện tại một khu vực này đến một khu vực khác. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC Mặc dù nguồn tài nguyên sinh học là vô giá, những nỗ lực được thực hiện thường xuyên để gán số đo giá trị đa dạng sinh học nhằm thu hút sự chú ý của chính phủ và lợi ích thương mại. Thật khó để đưa giá trị tiền tệ về lợi ích người dân xuất phát từ môi trường tự nhiên, nhưng trong khi đây là một nhiệm vụ khó khăn, một số phương pháp xác định giá trị đã được phát triển trong nỗ lực để cung cấp cho các ước tính giá trị thực tế của đa dạng sinh học. Các phương pháp bao gồm (www.ecosystemvaluation. org, March 2007): (a) Phương pháp năng suất: Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp hàng hóa dịch vụ môi trường là một số (hoặc một) trong những yếu tố đầu vào để sản xuất ra một sản phẩm thị trường. Một chức năng sản xuất thích hợp theo quy định có thể cho thấy sự đóng góp của các yếu tố đầu vào cho việc sản xuất và từ các thông tin này người ta có thể suy ra các lợi ích của các yếu tố đầu vào. Phương pháp này đòi hỏi dữ liệu phải được thu thập về những thay đổi trong số lượng hoặc chất lượng của tài nguyên môi trường ảnh hưởng (i) chi phí sản xuất cho sản phẩm cuối cùng, (ii) nhu cầu và cung ứng của các sản phẩm cuối cùng, (iii) nhu cầu và cung ứng của các yếu tố sản xuất khác. Thông tin này được sử dụng để liên kết các tác động của những thay đổi về số lượng hoặc chất lượng của các nguồn tài nguyên dẫn đến thay đổi trong thặng dư tiêu dùng và hoặc thặng dư sản xuất, và qua đó ước tính lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, không phải tất cả hàng hóa dịch vụ môi trường đều có liên quan đến việc sản xuất hàng hóa trên thị trường. Thực tế này đã hạn chế phạm vi áp dụng của phương pháp này. Trong việc đưa ra các chính sách, người ta phải hiểu được mối quan hệ giữa hành động để cải thiện chất lượng và số lượng của các nguồn tài nguyên và kết quả của những hành động này. Những mối quan hệ không rõ ràng. Nếu những thay đổi trong sự sẵn có, số lượng và chất lượng của hàng hóa dịch vụ môi trường ảnh hưởng đến giá thị trường của sản phẩm cuối cùng, hoặc giá của bất kỳ yếu tố đầu vào khác, phương pháp này là rất khó áp dụng. Đặc điểm kỹ thuật và dự toán của một hàm sản xuất phù hợp không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Hơn nữa, các khái niệm về hàm sản xuất giả định sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào, trong đó, trong thực tế cuộc sống không phải lúc nào cũng khả thi. Có rất nhiều trở ngại để sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào, chẳng hạn như Xhiệu quả, nguy cơ về đạo đức, phí bảo hiểm cho bất trắc, sự thiếu hiểu biết,…. Nó cũng đã được chỉ ra rằng việc phân tích hoạt động, chứ không phải là chức năng sản xuất, cung cấp một hình ảnh thực sự của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Nếu phân tích hoạt động của quá trình sản xuất được thực hiện như một nền tảng cho phương pháp xác định giá trị năng suất, định giá tốt hơn và đáng tin cậy hơn sẽ có thể (b) Phương pháp giá thị trường: Phương pháp này ước tính thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất bằng cách sử dụng giá thị trường và số lượng dữ liệu về hàng hóa dịch vụ môi trường (ví dụ như cá, gỗ) được giao dịch trên thị trường. Thặng dư của người tiêu dùng là lợi ích được hưởng của người tiêu dùng trên các chi phí mà họ đã chi trả để có được chúng. Tương tự như vậy, thặng dư của nhà sản xuất là những lợi ích được hưởng của nhà sản xuất trên các chi phí mà họ đã phát sinh trong sản xuất và tiếp thị đầu ra. Tổng lợi ích kinh tế ròng hoặc thặng dư kinh tế, là tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất. Hàng hóa và dịch vụ môi trường tạo ra thặng dư ròng lớn hơn có giá trị hơn. Phương pháp này có một số hạn chế. Thứ nhất, vì chỉ có một vài hàng hóa dịch vụ môi trường được mua và bán trên thị trường, sự phủ sóng của nó là hạn chế. Thứ hai, sự không hoàn hảo của thị trường làm méo mó giá cả và hiệu quả của giá cả trong việc đo lường lợi ích ròng. Giá cả cũng khác nhau tùy theo mùa và theo chu kỳ. Hơn nữa, phạm vi của nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế kém phát triển nhiều nguồn lực góp phần vào việc sản xuất dẫn đến tình trạng thị trường không tính được và do đó không được phản ánh vào giá cả. Nó cũng có thể được lưu ý rằng ước tính lợi ích kinh tế ròng phụ thuộc vào dự toán của người tiêu dùng và nhà sản xuất dư thừa, do đó, phụ thuộc vào các thông số kỹ thuật của nhu cầu và đường cung. Tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật, các mối quan hệ chức năng giữa cung, cầu và yếu tố quyết định của họ có thể sẽ cực kỳ phức tạp hoặc rất đơn giản. Các mối quan hệ chức năng có thể tuyến tính hoặc phi tuyến tính, hai biến hoặc đa biến và như vậy. Danh sách các biến số quyết định (như thu nhập, giá cả của các sản phẩm thay thế, giá các mặt hàng khác, vv) có thể không phải là một viêc dễ dàng thực hiện. Do tất cả các yếu tố đó, dự toán của người tiêu dùng cũng như thặng dư nhà sản xuất sẽ được mô hình phụ thuộc. Do đó, lợi ích ròng ước tính cũng sẽ là mô hình phụ thuộc. (c) Phương pháp định giá hưởng thụ: Xem xét một (thị trường) sản phẩm dịch vụ như là một gói các đặc điểm (như Lancaster đã đề xuất). Các nhà sản xuất làm phong phú thêm sản phẩm của mình với những đặc điểm về nhu cầu (và một số chi tiết mà có thể gây ra sự phân biệt sản phẩm và hoặc bao che cho các nhu cầu của một khách hàng lớn hơn hoặc không đồng nhất). Một người mua có nhu cầu cho một số những đặc điểm này (có lẽ, không phải tất cả các đặc điểm mà bó cho biết sở hữu) và trả tiền cho họ. Một phòng giảm các đặc tính mong muốn sẽ làm giảm nhu cầu đối với các bó (tốt dịch vụ) và do đó sẽ ảnh hưởng đến giá của nó xấu và ngược lại. Trong mạch này, một số sản phẩm trên thị trường được gắn với một số hàng hóa dịch vụ môi trường. Khi một người mua những hàng hóa dịch vụ, ông cũng mua các hàng hóa dịch vụ môi trường gắn liền với họ. Người mua trả tiền không chỉ đối với hàng hóa dịch vụ trên thị trường, mà còn cho các gói bao gồm các hàng hóa dịch vụ môi trường gắn lên. Một phòng giảm giá hàng hóa dịch vụ môi trường, do đó, làm giảm các gói và làm giảm giá của nó. Thực tế này được sử dụng theo phương pháp giá cả hưởng thụ xác định giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường. Vì vậy, phương pháp này là thích hợp nhất để đánh giá giá trị của các thuộc tính môi trường địa phương. Nó được sử dụng để ước tính lợi ích kinh tế hoặc chi phí liên quan đến chất lượng môi trường, như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, hoặc tiếng ồn, và môi trường tiện nghi, chẳng hạn như quan điểm thẩm mỹ hoặc gần với các khu vực giải trí… Những thuộc tính trực tiếp ảnh hưởng đến tiền thuê nhà và giá đất ở một địa phương. Từ những thay đổi trong giá thuê nhà, đất, xác định giá trị của các thuộc tính môi trường được thực hiện. Phương pháp này chỉ áp dụng để xác định giá trị của những mặt hàng dịch vụ môi trường được gắn với một thị trường hàng hóa dịch vụ và giá cả của các phản ứng sau những thay đổi trong chất lượng số lượng và các thuộc tính của các cựu. Nó cũng giả định rằng không có gì khác làm thay đổi mối quan hệ giữa chúng. Hơn nữa, phương pháp này đòi hỏi một cơ sở dữ liệu phong phú và phương pháp ước lượng đáng tin cậy. Nó cũng là nhạy cảm với sự lựa chọn của các đặc điểm kỹ thuật mô hình được sử dụng để ước tính ở bàn tay. Một đặc điểm kỹ thuật sai trái của các mô hình hoặc các phương pháp ước lượng có thể dễ dàng đánh giá thấp hoặc đánh giá quá cao xác định giá trị hàng hóa dịch vụ môi trường. (d) Phương pháp chi phí du hành: Phương pháp chi phí du lịch dựa trên giả định rằng chi phí mà người dân phải chịu để tham quan một khu vực là việc thanh toán hoặc giá của truy cập tới các khu vực và các dịch vụ môi trường của nó. Nó có thể được đo bằng giá trị tiền của thời gian cũng như chi phí của cuộc hành trình. Sẵn sàng trả tiền để truy cập khu vực của người dân có thể được ước tính dựa trên số lượng các chuyến đi mà họ thực hiện tại chi phí đi lại khác nhau. Phương pháp chi phí du hành thường được sử dụng để ước tính giá trị sử dụng kinh tế của các điểm vui chơi giải trí hoặc các khu vực, ảnh hưởng của những thay đổi trong chi phí tham quan cho một khu vực giải trí, xóa bỏ một khu vực giải trí hiện có, phát triển của một khu vực giải trí mới và bổ sung hoặc loại bỏ một số dịch vụ môi trường hoặc thay đổi trong chất lượng của các dịch vụ có sẵn tại một khu vực giải trí. Nó cũng có thể được sử dụng để đánh giá các quyết định vị trí của một dịch vụ công mà trong đó có nhiều người đến thăm. Phương pháp chi phí du hành là bàn bạc, không tốn kém và đáng tin cậy, nhưng nó có những hạn chế riêng của nó. Đặc biệt, nó rất khó để gán giá trị bằng tiền để chi phí thời gian của chuyến thăm một địa điểm. Nếu các lần phục vụ cho nhiều mục đích của khách tham quan, hoặc kết hợp rất khác nhau của các mục đích khác nhau của khách tham quan khác nhau, phương pháp này có thể cắt giảm một số lỗi trong việc ước tính giá trị sử dụng dịch vụ đặc điểm của một khu vực (e) Chi phí tránh được thiệt hại, Chi phí thay thế (f) Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM): Cái tên “ngẫu nhiên” dựa trên các tính năng đặc trưng của phương pháp này là nó hoạt động trên yêu cầu mọi người ghi sẵn sàng chi trả, ngũ trên một kịch bản giả định cụ thể và mô tả về hàng hóa môi trường và dịch vụ của họ. Nó được dựa trên một giả định rằng mọi người sẽ làm những gì họ nói. Thật vậy giả thiết này làm cho các nền tảng của phương pháp này khá run rẩy vì các tương đẳng trong suy nghĩ, nói và làm là không cần thiết. Nó không phải là bất thường để trải nghiệm rằng khi nói người được hướng dẫn bởi các lý tưởng, nhưng trong khi làm họ quên khá lý tưởng. Tuy nhiên, nếu có một số liên quan đáng kể giữa nói và làm, phương pháp này có thể rất thành công trong việc khơi gợi sự tự nguyện của người dân để chi trả cho các hàng hóa và dịch vụ môi trường và do đó, giá trị của họ. Vì vậy, các cấp rằng giả định của mình là đúng, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là một phương pháp rất linh hoạt có thể được áp dụng để xác định giá trị của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường không phân biệt họ đang được thị trường hay không thị trường. Nó có thể được sử dụng để ước tính giá trị sử dụng, không sử dụng (thụ động) giá trị, lựa chọn giá trị (dành cho một người sử dụng trong tương lai) hoặc giá trị thừa kế (dành cho việc sử dụng bởi các thế hệ tương lai). Mặt khác, nó cũng là gây tranh cãi nhất trong số các phương pháp xác định giá trị phi thị trường, chủ yếu là trên tài khoản của giả định không vững chắc. Nó sẽ có giá trị để mô tả các bước để được theo sau trong việc áp dụng phương pháp này để xác định giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường. Để bắt đầu, người đánh giá phải xác định các vấn đề định giá, mô tả tính chất, mức độ phù hợp, ý nghĩa của nó… Nó dễ dàng hơn và tự nhiên hơn để diễn tả của một người sẵn sàng trả tiền cho một dịch vụ tốt hay cái nào là có liên quan với hơn đối với những hàng hóa và dịch vụ không có một mối quan tâm, sự liên quan hay thậm chí đầy ý nghĩa. Trong bước thứ hai, tính chất, quy trình khảo sát được quyết định. Điều gì sẽ là phương thức có được sự trả lời hoặc dữ liệu vào sự sẵn sàng bày tỏ để trả? Những câu hỏi được được hỏi? người sẽ được điều tra? Điều gì sẽ là cỡ mẫu? Và các chi tiết như vậy về các nhạc cụ, bị đơn và thủ tục của các cuộc khảo sát phải được xác định một cách cẩn thận. Các cuộc điều tra có thể khá tốn kém nếu bị đơn có được đáp ứng trong người. Trong trường hợp đó, những hạn chế chi phí khảo sát là để được nhìn vào. Các dụng cụ và thủ tục của cuộc khảo sát là để được kiểm tra và hoàn thiện trước khi họ cuối cùng đã thực hiện. Trong bước tiếp theo các cuộc khảo sát thực tế được thực hiện trên những người được hỏi mẫu được lựa chọn bởi một phương pháp lấy mẫu được thiết kế tốt. Cuối cùng, các dữ liệu thu được thông qua các cuộc điều tra được phân tích để đánh giá sự sẵn sàng thể hiện chi trả. Trong phân tích ta có thể đối phó với những người không phản ứng phù hợp. Kết quả của việc thực hiện dựa trên các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên có thể dễ bị nhiều thành kiến: (i) thành kiến do chênh lệch giữa nhập khẩu nhằm mục đích (của người đánh giá) và nhận được nhập khẩu (do người được hỏi) của kịch bản giả thuyết đưa ra trong khảo sát, (ii) thành kiến do liên kết của các kịch bản khác nhau với một đưa lên bởi người đánh giá trước khi trả lời phỏng vấn một khi người đánh giá đã đưa ra một kịch bản trước khi trả lời, nó có thể gọi các kịch bản khác trong tâm trí của người trả lời ức chế hoặc thúc đẩy tăng lên sự đánh giá của các kịch bản của người đánh giá. Điều này có thể dẫn đến những phản ứng sai lệch, (iii) kịch bản Evaluator của thể gọi ánh sáng ấm áp có hiệu lực cảm giác tốt để trả cho lợi ích công cộng, hoặc nó có thể làm giảm các phản ứng thực tế do những định kiến chính trị gợi lên bởi các kịch bản do đó làm cho các phản ứng thiên vị , (iv) thành kiến do kinh doanh bình thường của người trả lời với bài tập toàn bộ của cuộc khảo sát có thể có, (v) Nếu người đầu tiên hỏi cho sẵn sàng chi trả cho một phần của một tài sản môi trường và sau đó họ được yêu cầu đánh giá toàn bộ tài sản, các khoản ghi có thể tương tự. Điều này được gọi là hiệu ứng nhúng. Do hiệu ứng này, các câu trả lời là thiên vị. (vi) thiên vị chiến lược khi người trả lời cung cấp một câu trả lời thành kiến để tác động đến một kết quả cụ thể. (vii) thiên vị thông tin nó phát sinh khi người ta phải bày tỏ quan điểm của họ về cái gì đó mà họ không biết đúng. Trong việc áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, nhiều người trả lời có thể không có khả năng đánh giá cao các vấn đề và sẵn sàng thể hiện mình để thanh toán có thể kết hợp loại này thiên vị. Sự thành công của phương pháp này nằm trong những kết luận ròng của những thành kiến. Đây là một nhiệm vụ kỳ diệu. Mặc dù đó là tuyên bố rằng phương pháp này cũng không kém phần hiệu quả trong việc có được các loại khác nhau của các giá trị giá trị sử dụng, giá trị không sử dụng, giá trị tùy chọn và giá trị thừa kế người ta phải nhìn vào những định kiến mà mọi người triển lãm giữa sự lựa chọn của hiện tại trong tương lai và các sự lựa chọn của mình hơn những người khác (con). Tương lai là không chắc chắn. Con người trải qua một sự thay đổi lớn trong việc chỉ trong một phần của thời gian cuộc sống của họ. Sự không chắc chắn luôn luôn chi phí và chi phí này là rất có khả năng được đưa vào các giá trị mà người được hỏi bày tỏ. Trong việc sử dụng các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, thực tế này không nên đánh mất (g) Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên: Giống như phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên là một phương pháp rất linh hoạt, có thể được áp dụng để xác định giá trị của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường không phân biệt họ đang được thị trường hay không thị trường. Nó có thể được sử dụng để ước tính giá trị sử dụng, không sử dụng giá trị (thụ động) giá trị tùy chọn (dành cho một người sử dụng trong tương lai) hoặc giá trị thừa kế (dành cho việc sử dụng bởi các thế hệ tương lai). Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên cũng được gọi là phân tích kết hợp. Nó được phát triển trong các lĩnh vực marketing và tâm lý để đo sở thích cá nhân của các đặc tính khác nhau hoặc các thuộc tính của một sự lựa chọn vấn đề đa thuộc tính. Phương pháp này cũng tương tự như các đánh giá ngẫu nhiên. Giống như phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, nó được dựa trên yêu cầu mọi người ghi sẵn sàng để trả tiền, ngũ trên một kịch bản giả định cụ thể và mô tả hàng hóa môi trường khác nhau và các dịch vụ mà họ phải thực hiện một sự lựa chọn. Làm lựa chọn trong số các lựa chọn thay thế khác nhau (hàng hóa và dịch vụ môi trường) trong một kịch bản mô phỏng hoặc nhân tạo chứ không trực tiếp gán giá trị bằng tiền đối với hàng hoá dịch vụ được thực hiện trong các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là tính năng đặc trưng của phương pháp này. Từ các dữ liệu trên các lựa chọn ngũ hoặc thích thương mại được thực hiện bởi các người, các giá trị khác nhau (thay thế) hàng hóa môi trường dịch vụ này được suy ra bằng cách sử dụng phương pháp khác nhau. Phương pháp này gợi ra những thông tin từ những công vào sở thích giữa các lựa chọn thay thế khác nhau của hàng hóa và dịch vụ môi trường, với mức giá khác nhau hoặc chi phí cho cá nhân.Có nhiều hình thức khác nhau để thực hiện các phân tích lựa chọn ngẫu nhiên. Một số trong số đó là: (a) Xếp hạng ngẫu nhiên trong các cuộc điều tra cá nhân được yêu cầu so sánh và xếp hạng các kết quả hành động xen kẽ với các đặc tính khác nhau, bao gồm cả chi phí, (b) Lựa chọn rời rạc người trả lời được hiển thị đồng thời lựa chọn thay thế khác nhau và đặc điểm của họ, và yêu cầu xác định sự thay thế ưa thích nhất trong việc lựa chọn, (c) Bình chọn đôi người trả lời được yêu cầu so sánh hai tình huống thay thế và được yêu cầu đánh giá chúng về sức mạnh ưu tiên. Các lựa chọn chào của người trả lời được phân tích thống kê bằng cách sử dụng kỹ thuật thống kê lựa chọn rời rạc, để xác định các giá trị tương đối của các đặc điểm khác nhau hoặc các thuộc tính. Vì giá là một trong những đặc điểm của các lựa chọn thay thế, lựa chọn được gắn thẻ với các biện pháp tiền. Có thể, do đó, để tính sẵn sàng của bị đơn phải trả cho các đặc tính khác. Nó có thể được lưu ý rằng nguồn gốc của các giá trị từ các dữ liệu trên các lựa chọn ngũ là khó khăn hơn và đòi hỏi hơn từ các dữ liệu về định giá ngũ. Phương pháp khác nhau đã được phát triển cho mục đích này. Một phương pháp rất mạnh để kết thúc này là “Phân tích lựa chọn rời rạc”. Phân tích lựa chọn rời rạc bao gồm một loạt các kỹ thuật thử nghiệm thiết kế, thủ tục thu thập dữ liệu, và các thủ tục thống kê có thể được sử dụng để dự đoán những sự lựa chọn mà người tiêu dùng sẽ làm cho giữa lựa chọn thay thế. Những kỹ thuật này được áp dụng khi người tiêu dùng có khả năng lựa chọn giữa (rời rạc) các khóa học riêng biệt của hành động. Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên có lẽ là phương pháp hiệu quả nhất để khơi gợi sự sẵn lòng bày tỏ để thanh toán hàng hóa và dịch vụ môi trường mà có thể hoặc không thể được giao dịch trên thị trường. Tuy nhiên, nó có một số hạn chế chủ yếu là do các phương pháp đó thông qua. Thứ nhất, người trả lời có thể tìm thấy một số cân bằng khó khăn để đánh giá, bởi vì họ không quen thuộc với họ có thể giới thiệu sai lệch thông tin vào sự lựa chọn của họ. Thứ hai, những người trả lời có thể áp dụng quy tắc quyết định rất đơn giản và thường xuyên nếu những lựa chọn phức tạp. Thứ ba, sự phức tạp của cuộc khảo sát, phân tích phản ứng và phát triển ít nhất là ở một tỷ lệ bậc hai với số lượng các lựa chọn thay thế có trong kịch bản. Khi trình bày với một số lượng lớn các câu hỏi đánh đổi, trả lời có thể mất hứng thú hoặc trở nên thất vọng và tâm lý không phù hợp. Mặt khác, bằng cách chỉ cung cấp một số lượng hạn chế các lựa chọn, các cuộc điều tra có thể buộc người trả lời để làm cho sự lựa chọn mà họ đã không làm khác đi. (h) Phương pháp chuyển giao lợi ích: liên quan đến chuyển giao gía trị ước tính từ các nghiên cứu định giá kinh tế hiện có đến các mặt trong vấn đề nghiên cứu, điều chỉnh lại những điểm thích hợp. Phương pháp này có lợi thế là nó tương đối không tốn kém và nhanh chòng thực hiện, nhưng phải thực hiện thật kĩ lưỡng và rõ ràng để tránh “sai một li đi một dặm”. Phương pháp này ngày càng được sử dụng nhiều vì hiệu quả chi phí của nó. Mặc dù ban đầu gọi là “lợi ích chuyển đổi”, bởi vì các giá trị bị chuyển cũng có thể là chi phí, nên dần dần đổi thành “giá trị chuyển đổi”. Ngoài ra, định giá phi tiền tệ của các lợi ích hệ sinh thái có thể có thể thông qua một loạt các phương pháp trong đó bao gồm các phương pháp tiếp cận nhiều tiều chí, thận trọng hoặc đặc biệt. Đặc biệt, “phân tích cân bằng môi trường sống” có thể được dùng để xác định số lượng môi trường sống mới cần thiết( tức là được khôi phục hoặc tạo ra) để bù đắp cho những tổn thất hàng hóa và dịch vụ từ những khu vực bị tàn phá của môi trường sống tương tự. Dữ liệu về giá trị kinh tế là bằng chứng trực tiếp và gián tiếp 1 cách cơ bản từ các thị trường và bên thứ ba thường được chấp nhận cách tiếp cận để định giá các giá trị tiền tệ của dịch vụ hệ sinh thái là: Biểu lộ sự sẵn lòng chi trả (giá thị trường): Khi người ta mua một cái gì đó (ví dụ như một nhà) hoặc dành thời gian và tiền bạc để có được một nơi nào đó (ví dụ như một điểm câu cá) họ tiết lộ rằng họ sẵn sàng trả ít nhất những gì họ thực sự chi tiêu; họ có thể sẵn sàng trả nhiều tiền hơn. Dịch vụ hệ sinh thái, như nước sạch, được sử dụng như là đầu vào trong sản xuất, và giá trị của họ có thể được đo lường bằng sự đóng góp của họ cho lợi nhuận làm từ sản phẩm cuối cùng. Giá mọi người sẵn sàng trả tiền tại các thị trường liên quan cho hàng hóa có thể được sử dụng để ước tính giá trị của họ. Bày tỏ sự sẵn lòng chi trả (Kết quả khảo sát): Nhiều dịch vụ không có giao dịch trong thị trường để mọi người có thể không bao giờ tiết lộ những gì họ sẵn sàng trả tiền cho họ. Giá trị một số dịch vụ hệ sinh thái có thể được đo bằng cách ước tính những ai sẵn sàng phải trả tiền để tránh những tác dụng phụ có thể xảy ra nếu các dịch vụ này đã bị mất, hoặc để thay thế các dịch vụ bị mất. Sẵn sàng xuất phát để trả tiền (bằng chứng gián tiếp): Khảo sát có thể được sử dụng để yêu cầu mọi người 1 cách trực tiếp những gì họ sẵn sàng trả tiền dựa trên một kịch bản giả định. Ngoài ra, mọi người có thể được yêu cầu để làm cho sự cân bằng giữa khả năng khác nhau,từ đó sự sẵn lòng chi trả của họ có thể được ước tính Các giải pháp tiền tệ của giá trị hệ sinh thái: Trong kinh tế học vi mô, nó thường được Xem như là một thước đo giá trị dựa trên những gì mọi người mong muốn và rằng người, và không phải là chính phủ, các nhà khoa học, hoặc giảng thuyết (Stanlake và Grant, 1999).Tiền là một cơ sở vô cùng hữu ích và phổ quát được sử dụng để thể hiện và so sánh giá trị kinh tế vì số tiền mà mọi người sẵn sàng trả tiền cho một cái gì đó phản ánh bao nhiêu để bán hàng hóa và dịch vụ mà họ sẵn sàng khác từ bỏ để có được nó. Trong trường hợp của các hệ sinh thái ,điều đó rất quan trọng để đo lường các giá trị kinh tế của một cái gì đó dựa trên khái niệm này không yêu cầu rằng nó được mua và bán ra trên thị trường, nhưng yêu cầu một người nào đó ước tính có bao nhiêu lượng mua (bằng tiền) người dân sẽ sẵn sàng từ bỏ để có được nó (hoặc sẽ cần phải trả tiền để cung cấp cho nó lên) nếu họ bị buộc phải chọn lựa (Freeman, 2003). Quá trình Đánh giá kinh tế của đa dạng sinh học: Mục tiêu của bất kỳ định giá là việc xác định giá trị, cho dù bằng tiền hoặc bằng tỷ lệ đo lường hàng yêu cầu đổi. Mục tiêu của bất kì định giá nào cũng là việc xác định giá trị, cho dù bằng tiền hoặc như là một tỷ lệ đo lường hàng hoá đòi đổi. Quá trình này bao gồm: (a) các vấn đề được xác định, (b) các dữ liệu cần thiết được xác định, thu hồi, phân loại, phân tích, giải thích; và (c) các dữ liệu được áp dụng cho các phương pháp khác nhau để đi đến việc xác định giá trị (Ifediora, 2009). Xác định giá trị đa dạng sinh học dựa trên các thông tin chi tiết từ khoa học tự nhiên . Một môi trường có thể được đánh giá như một tài sản, trong trường hợp mà giá trị của nó sẽ là giá trị hiện tại ròng của các dịch vụ mà nó cung cấp hiện tại và trong tương lai. Ngoài ra, một số hành động được đề xuất (một dự án hay chính sách) có thể được định giá; giá trị sau đó sẽ là giá trị hiện tại ròng của sự thay đổi trong các dịch vụ mà môi trường sẽ cung cấp trừ đi các chi phí thực hiện các hành động được đề xuất. Hoặc cách khác, định giá đòi hỏi kiến thức chi tiết về các luồng dịch vụ môi trường, các chi phí phát sinh trong việc chuẩn bị các dịch vụ này để thưởng thức của con người, và của sự đáp ứng của các luồng dịch vụ và chi phí để can thiệp của con người (Randall, 1987 và NRC, 1999). Phương pháp Năng suất: Các phương pháp sản xuất, hay còn gọi là mạng thu nhập yếu tố hoặc phương pháp giá trị có nguồn gốc, được sử dụng để ước tính giá trị kinh tế của sản phẩm hoặc dịch vụ hệ sinh thái, góp phần vào việc sản xuất thương mại hàng hóa trên thị trường. Nó được áp dụng trong trường hợp các sản phẩm hoặc dịch vụ của một hệ sinh thái được sử dụng, cùng với các yếu tố đầu vào khác, để tạo ra một sản phẩm thị trường (Shiklomanov, 2000). Ví dụ, chất lượng nước ảnh hưởng đến năng suất của hệ thống tưới tiêu nông nghiệp cây trồng, hoặc các chi phí làm sạch nước uống, thành phố. Các nguyên tắc cơ bản của Phương pháp Năng suất là kiểm soát ô nhiễm môi trường là một sự thay thế trực tiếp cho đầu vào sản xuất khác, chẳng hạn như các hóa chất lọc nước và lọc. Do đó, lợi ích của việc cải thiện chất lượng nước có thể dễ dàng liên quan đến giảm chi phí làm sạch nước. Năm 2005, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Bauchi State (BASEPA) giới thiệu một số biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lưu vực của nhà máy xử lý nước Gubi Dam ở Bauchi, với sự tăng thêm cải thiện chất lượng nước thô vào đập do đó làm giảm chi phí xử lý nước. Mục đích chính của nghiên cứu này là đánh giá tác động của kiểm soát ô nhiễm biện pháp của BASEPA 20052008 sử dụng phương pháp Năng suất kinh tế để xác định giá trị đa dạng sinh học, nhằm làm nổi bật các sai sót của họ và làm cho khuyến nghị thích hợp về khắc phục hậu quả của họ. Nghiên cứu sâu rộng đã được giới hạn với phương pháp năng suất giữa các phương pháp khác được sử dụng để xác định giá trị kinh tế của đa dạng sinh học. Bảng () dưới đây cho thấy phương pháp định giá thường được sử dụng để định giá các lợi ích hệ sinh thái khác nhau. Lưu ý rằng khi các lợi ích hệ sinh thái dịch chuyển trên vùng phổ từ giá trị sử dụng trực tiếp đến giá trị phi sử dụng, độ lớn của của giá trị thường tăng lên (ví dụ: giá trị không sử dụng thường vượt quá xa giá trị của các lợi ích hệ sinh thái ở các thị trường hiện có), trong khi mức độ tin cậy trong các kết quả thường giảm (ví dụ giá trị thị trường hiện tại đang chắc chắn nhất, và sở thích của các người trả lời khảo sát đã được nêu rõ cho các giá trị phi sử dụng đang ít chắc chắn nhất). Bảng (): So sánh các kỹ thuật đánh giá hệ sinh thái Loại Kỹ thuật Mô tả Số liệu cần thiết Thời gianNgân sách (US) Kỹ năng cần thiết Ưu điểm Nhược điểm Phương pháp tiếp cận tiết lộ sở thích Giá thị trường Tốn bao nhiêu để mua 1 sản phẩm sinh thái hoặc dịch vụ, hoặc những gì giá trị để bán Giá thị trường của sản phẩm sinh thái hoặc dịch vụ. Các chi phí liên quan để xử lý và đưa sản phẩm ra thị trường (ví dụ như gỗ chế biến). Nhiều ngàyThấp ( 100s1,000s) Cơ bản +Một phương pháp dễ dàng minh bạch và bảo vệ vì dựa trên dữ liệu thị trường. +Phản ánh sự sẵn lòng chi trả của một cá nhân (WTP) Chỉ áp dụng cho những nơi có thị trường của dịch vụ sinh thái và dữ liệu sẵn có Hiệu quả sản xuất Những thay đổi trong sản lượng của 1 hàng hóa hoặc dịch vụ thị trường liên quan đến sự thay đổi có thể đo lường được của sản phẩm sinh thái. Dữ liệu về các thay đổi trong sản lượng của một sản phẩm. Dữ liệu về quan hệ nguyên nhân và hậu quả (ví dụ như sự biến mất của thủy sản do mất môi trường sống của cỏ biển và san hô). Nhiều ngàyThấp ( 100s1,000s) Cơ bản +Đây là 1 phương pháp dễ áp dụng nếu dữ liệu có sẵn. Cần nhận biết và hiểu được mối quan hệ giữa các dịch vụ sinh thái và đầu ra của sản phẩm. Có thể khó khăn để có được dữ liệu về cả hai thay đổi trong các dịch vụ hệ sinh thái và trong ảnh hưởng đến sản xuất. Chi phí du hành Sử dụng thông tin về thời gian và tiền bạc của mọi người chi ra khi thăm một hệ sinh thái cho mục đích giải trí hoặc thư giãn để tính ra giá trị mỗi lần. Lượng thời gian và tiền bạc mà mọi người dùng để đến thăm một hệ sinh thái cho các mục đích giải trí hoặc thư giãn. Động lực cho du lịch. Nhiều tuầnnhiều tháng Cao (10,000s) Bảng câu hỏi ,phỏng vấn và phân tích kinh tế +Căn cứ vào hành động thực tế (những gì mọi người làm) hơn là nêu 1 giả thuyết WTP +Kết quả tương đối dễ hiểu và dễ giải thích. Phương pháp tiếp cận được giới hạn để sử dụng trực tiếp lợi ích giải trí. Khó khăn trong việc phân bổ chi phí khi chuyến đi là đến nhiều địa điểm hoặc là cho nhiều hơn một mục đích. Xem xét chi phí đi lại cá nhân bỏ qua các chi phí cơ hội của thời gian trong khi đi du lịch. Giá cả hưởng thụ Sự khác biệt về giá bất động sản hoặc tỷ lệ tiền lương có thể được gán cho những phẩm chất hoặc giá trị khác nhau của hệ sinh thái. Thông thường dữ liệu liên quan đến sự khác biệt về giá bất động sản hoặc tỷ lệ tiền lương có thể được gán cho những phẩm chất của hệ sinh thái khác nhau (ví dụ như một cảnh xem, chất lượng không khí). Nhiều tuần Trung bình ( 1,000s10,000s) Toán kinh tế +Một phương pháp dễ dàng minh bạch và bảo vệ vì dựa trên dữ liệu thị trường. + Thị trường bất động sản nói chung là khá nhạy nên dự báo tốt về giá trị. Phương pháp tiếp cận phần lớn là giới hạn lợi ích liên quan đến tài sản. Thị trường bất động sản bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bên cạnh các thuộc tính môi trường, do đó, những việc đó cần phải được xác định và giảm giá. Phương pháp tiếp cận dựa trên chi phí Chi phí thay thế Các chi phí thay thế một sản phẩm hay dịch vụ hệ sinh thái với các sản phẩm nhân tạo, cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ, về mặt chi phí lưu. Chi phí (giá thị trường) thay thế một sản phẩm hay dịch vụ hệ sinh thái bằng một vật nhân tạo tương đương (ví dụ: thay thế cỏ biển như một vườn ươm cá con với các trang trại cá). Nhiều ngàynhiều tuần Thấp ( 100s1,000s) Cơ bản + Cung cấp các phương pháp thay thế các giá trị cho các dịch vụ pháp lý (mà rất khó để định giá bằng các phương tiện khác). +Một phương pháp dễ dàng minh bạch và bảo vệ vì dựa trên dữ liệu thị trường. Có thể đánh giá quá cao giá trị. Không xem xét ưu đãi xã hội đối với các dịch vụ hoặc hành vi trong sự vắng mặt của các dịch vụ. Các dịch vụ thay thế có lẽ chỉ chiếm một tỷ trọng của các cấp đầy đủ các dịch vụ được cung cấp bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chi phí ngăn chặn thiệt hại Các chi phí phát sinh đối với tài sản, cơ sở hạ tầng và sản xuất khi các dịch vụ hệ sinh thái, trong đó bảo vệ các tài sản có giá trị kinh tế bị mất, về mặt chi phí lưu. Dữ liệu về các chi phí phát sinh đối với tài sản, cơ sở hạ tầng hoặc sản xuất như là một kết quả của sự mất mát của các dịch vụ hệ sinh thái. Thiệt hại theo các kịch bản khác nhau bao gồm “có và không có dịch vụ pháp lý. Nhiều tuần Thấp ( 100s1,000s) Quy trình kỹ thuật và vật lý sinh học + Cung cấp các biện pháp thay thế các giá trị cho các dịch vụ pháp lý mà khó để định giá bằng cách khác (ví dụ như bão, lũ lụt và kiểm soát xói mòn). Phương pháp này chủ yếu giới hạn các dịch vụ liên quan đến tài sản, tài sản và hoạt động kinh tế. Có thể đánh giá quá cao giá trị. Đánh giá ngẫu nhiên (CV) Suy ra các giá trị hệ sinh thái bằng cách hỏi những người sẵn lòng chi trả (WTP) cho họ hoặc sẵn sàng để chấp nhận (WTA) bồi thường thiệt hại của họ lưu của họ là trực tiếp những gì. Giá trị ghi rằng người đặt trên một hệ sinh thái tốt, dịch vụ (ví dụ như sự tồn tại của một loài, sạch sẽ của một bãi biển); thông tin nhân khẩu học và tiểu sử về người trả lời khảo sát. Thu được thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Nhiều tuầnnhiều tháng Cao ( 10,000s100,000s) Bảng câu hỏi thiết kế, phỏng vấn và phân tích kinh tế + Bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. + Cung cấp các giá trị về mặt lý thuyết chính xác hơn cho thay đổi biên (ví dụ giá trị mỗi% tăng độ che phủ san hô). + Cung cấp cho một kết quả chính xác hơn nhiều so với chuyển lợi. Các kết quả được giả định trong bản chất và chịu nhiều định kiến khác từ các đối tượng. Ví dụ: trả lời có thể thể hiện một WTP tích cực để thúc đẩy một ánh sáng ấm áp có hiệu lực, đánh giá quá cao giá trị. Ví dụ: nếu chi phí được coi là một loại thuế, trả lời có thể thể hiện một WTP tiêu cực, đánh giá thấp giá trị. Nó là nguồn lực chuyên sâu. Thử nghiệm lựa chọn (CE) Trình bày một loạt các nguồn tài nguyên hoặc sử dụng hệ sinh thái lựa chọn thay thế, sẽ được xác định bởi các thuộc tính khác nhau đặt ở mức độ khác nhau (bao gồm cả giá cả), và yêu cầu người trả lời để chọn câu (tức là bộ thuộc tính ở các cấp độ khác nhau) họ thích (ví dụ như các loài hiện tại và tỷ lệ che phủ san hô). Đối với CV trên, mặc dù CE tương phản kịch bản khác nhau. Một tập hợp các cấp độ được yêu cầu cho các thông số khác nhau (ví dụ: từ 0% phủ san hô để 100%). Nhiều tuầnnhiều tháng Cao ( 10,000s100,000s) Bảng câu hỏi thiết kế, phỏng vấn và phân tích kinh tế + Bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. + Cung cấp các giá trị về mặt lý thuyết chính xác hơn cho thay đổi biên (ví dụ giá trị mỗi% tăng độ che phủ san hô). + Cung cấp cho một kết quả chính xác hơn nhiều so với chuyển lợi. Các kết quả có thể thiên vị từ người trả lời và chỉ là giả thuyết trong tự nhiên. Nó là nguồn lực chuyên sâu. Có thể được tinh thần đầy thách thức đối với người trả lời thực sự cân nhắc các lựa chọn thay thế cho họ trong thời gian có sẵn. Chuyển giao lợi ích Chuyển giao lợi ích Liên quan đến việc chuyển giao dự toán giá trị từ các nghiên cứu đánh giá kinh tế hiện có để các điểm nghiên cứu trong câu hỏi, những điều chỉnh thích hợp. Định giá từ các nghiên cứu tương tự ở những nơi khác. Dữ liệu về các biến số chủ yếu từ các nghiên cứu khác nhau (ví dụ như GDP mỗi người). Nhiều ngàyThấp ( 100s1,000s) Phân tích cơ bản hay kinh tế nếu sử dụng chức năng đấu giá + Chi phí thấp và phương pháp nhanh chóng để ước lượng giá trị giải trí và không sử dụng. Các kết quả có thể có vấn đề, trừ khi áp dụng một cách cẩn thận. Hiện các nghiên cứu định giá có thể được mạnh mẽ hơn và nhiều hơn cho một số dịch vụ cho những người khác. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các thiết kế áp dụng trong nghiên cứu này là một sự nhìn chung định giá kinh tế của Đa dạng sinh học và phân tích các thủ tục định giá kinh tế của đa dạng sinh học như tài liệu. Các dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu thu được từ các cuộc phỏng vấn cá nhân tiến hành với bộ tài nguyên nước của Bauchi (BSMOWR) và cán bộ chủ chốt của BASEPA cũng như quan sát. Bauchi thuộc diện chính quyền địa phương của nhà nước Bauchi với diện tích bề mặt của 600 ha (Ita, et al, 1985) được đưa ra khi các nghiên cứu trường hợp. Đập được đưa từ bốn con sông khác nhau cụ thể là Ran, Tagwaye, Shadawanka và sông Gubi ở Bauchi trong khi diện tích lưu vực của nó, được xác định bởi địa hình, được bao bọc bởi các con đường chính trong thành phố Bauchi Ran đường từ Awalah Roundabout, qua Barkin Kura đến Wunti ,Yandoka và Jos sau đó thông qua các cơ khí từ làng này sang làng Gubi. Đập có khả năng bơm khoảng 45 triệu cubic mét nước mỗi ngày (khảo sát thực địa, 2008) .Các dữ liệu thu thập được phân tích bằng cách sử dụng lập bảng với số tiền và đồ thị. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Bảng 1: Sản xuất đầu vào cho uống tại Nhà máy xử lý nước Gubi Đầu vào sản xuất Phân loại Hóa chất xử lý nước biến số Chi phí trên không (tiền lương, nhiên liệu, không đổi văn phòng phẩm, chi phí văn phòng, vv) Hóa đơn Diesel cho Máy phát điện không đổi Bảo dưỡng Nhà máy thiết bị máy móc không đổi Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2008 Từ bảng 1, các chi phí duy nhất mà có thể bị ảnh hưởng bởi dòng nước thô sạch, như là kết quả của kiểm soát ô nhiễm tốt hơn, sẽ là các hóa chất xử lý nước. Chi phí quản lý, chi phí điện năng và bảo dưỡng không phải chịu trực tiếp đến chất nước chảy vào đập. Chi phí ước tính của các chất xử lý nước tại Gubi: Các yếu tố đầu vào sản xuất nước uống tại Gubi Dam trước khi kiểm soát ô nhiễm đã được giới thiệu. Bảng 2: Chi phí hàng năm điều trị tại Gubi Dam năm 2005 Xử lý nước Sự tiêu thụ Cách dùng Tỷ lệ Số lượng hóa học hằng năm chlorine 30 tấn Tẩy Uế 800,000tấn 24,000,000 Vôi Soda Ash 350 tấn Độ PH 100,000tấn 35,000,000 Phèn 700 tấn Lên men 95,000tấn 66,500,000 Poly điện giải 2,4 tấn Xúc tác 1,000,000tấn 2,400,000 Tổng 127,900,000 Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2008 Kiểm soát ô nhiễm tại Khu vực lưu vực đầm Gubi: Nhà nước Bauchi về môi trường Cơ quan Bảo vệ (BASEPA) là chủ yếu chịu trách nhiệm về việc kiểm soát ô nhiễm trong vòng các đô thị, bao gồm các khu vực dẫn nước nhà máy Gubi. Sau đây là thông tin thu thập tại BASEPA tiết lộ những nỗ lực của các cơ quan trong việc kiểm soát ô nhiễm trong các khu vực lưu vực: Ngay lập tức sơ tán của chất thải từ lưu vực Area: Cơ quan đã tăng từ hai chiếc xe tải ở điều kiện làm việc tốt trong năm 2000 đến mười lăm chiếc năm 2008 và nó đã có hiệu quả hơn trong việc thu gom chất thải Thay đổi địa điểm chôn lấp rác thải bên ngoài nước lưu vực Area: Một bãi rác là một khu vực sử dụng chôn lấp chất thải của vật liệu (Allaby, 1988), và BASEPA đã chuyển việc xử lý các vật liệu phế thải hoặc từ chối bằng cách chôn nó trong lỗ tự nhiên hoặc khai quật hoặc trầm cảm bên ngoài lưu vực nước, trong khi các bãi rác ban đầu trong phạm vi lưu vực khu vực đã được sơ tán Tách Vật liệu thải: Rác cũng được phân loại lại, để loại bỏ các vật liệu có thể có giá trị cứu hộ hoặc không thể được ủ. Sản phẩm chất thải khác nhau từ rác thải: chất thải phân huỷ từ thực phẩm; rác: chất thải không phân huỷ, hoặc dễ cháy (như giấy, gỗ, vải) hoặc không cháy (như kim loại, thủy tinh, gốm sứ); tro: dư lượng của quá trình đốt cháy các nhiên liệu rắn; chất thải lớn: việc phá hủy và các mảnh vụn và cây xây dựng; động vật chết; chất thải công nghiệp: chẳng hạn vật liệu là hóa chất, sơn, cát; và chất thải nông nghiệp: phân động vật trang trại và tàn dư cây trồng Ủ phân: Đây là quá trình sinh hóa trong đó các vật liệu hữu cơ, chẳng hạn như đá dăm cỏ và phế liệu nhà bếp, được phân hủy để một vật liệu phong phú, giống đất. Hoạt động ủ chất thải rắn bao gồm chuẩn bị rác và phân hủy các chất hữu cơ bởi các vi sinh vật hiếu khí sau khi ly thân. LỢI ÍCH CỦA KIỂM SOÁT Ô NHIỄM ĐẾN NHÀ MÁY NƯỚC GUBI Thiên nhiên đóng một vai trò thanh lọc lớn tại nhà máy kể từ khi nó loại bỏ nhiều tạp chất trước khi nước đạt đến đập qua lọc tự nhiên (www.en.wikipedia.org, May, 2008) Tuy nhiên, những nỗ lực của các đại lý là tiếp tục hạn chế vì những lý do sau đây: Thứ nhất, các biện pháp hầu như không ảnh hưởng đến khử trùng vì tác nhân gây bệnh chủ yếu đến từ nước thải và điều trị của nó không phải là hiện nay giải quyết của Cơ quan. Vì vậy hiệu quả tối đa mà nó có trên Chlorine là không đáng kể. Ở nhiều nước đang phát triển phần lớn nước thải sinh hoạt và công nghiệp là thải không qua xử lý hoặc sau khi điều trị tiểu học chỉ (en.wikipedia org., May, 2008). Hơn nữa, Gubi không có vấn đề các chất bẩn, tiết kiệm trong mùa mưa như là kết quả của sự xói mòn và không bị ô nhiễm do con người tạo ra. Tác dụng khác của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bao gồm giảm các yếu tố hóa học như chì, từ nước pin và hóa chất khác được thải bỏ bừa bãi; nitơ và phốt phát từ runoffs nông nghiệp. Tuy nhiên, những yếu tố này không đặc biệt xử lý trong quá trình điều trị; kể từ khi họ bám vào các hạt trong keo tụ và khi các hạt này được dỡ bỏ nhiều những yếu tố không kém gỡ bỏ, nhưng số còn lại sẽ được chuyển tới người tiêu dùng (BSMOWR, 2009). Do đó, ảnh hưởng của việc loại bỏ các mặt hàng từ nước không ảnh hưởng đến chi phí điều trị hóa chất đáng kể. Bảng 3: Lợi ích của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm Lợi ích Thành phần Giảm (%) Độ cứng của nước Giảm Lime 15% Giảm độ đục Giảm Alum 2% Giảm PE 2% Giảm axit Giảm vôi 15% Giảm tác nhân gây bệnh Giảm Chlorine 5% Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2009 Bảng 4: Chi phí Lợi ích của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm Thành phần (s) Giảm (%) Chi phí thành phần (N) Tổng Giảm Lime 30% 19,950,000.00 Giảm Alum 2% 700,000.00 Giảm PE 2% 48,000.00 Giảm Chlorine 5% 1,200,000.00 Tổng Giảm Giá Hàng năm N21,898,000.00 Hình 6: Giảm chi phí điều trị hóa chất (Nm) Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2009 Bảng 5: Giá quốc tế và hợp đồng của hóa chất xử lý tại Gubi Dam Tên hóa chất Giá quốc tế (N) Giá hợp đồng (N) Chlorine 31.200 tấn 800.000 tấn Lime Soda Ash 22.750 tấn 100.000 tấn Alum 11.050 tấn 95.000 tấn Poly Electrolyte 520.000 tấn 1.000.000 tấn Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2009 Cuộc khảo sát được tiến hành quan sát để thấy rằng phương pháp này là khả thi dựa trên sự ứng dụng nó trên khu vực nghiên cứu mặc dù, một số yếu tố có thể ảnh hưởng những lợi ích dựa trên những kết quả sau đây: Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bởi BASEPA đề xuất có một tác động không đáng kể đến chi phí đầu vào bởi vì xử lý nước thải, mà đã có thể giảm đáng kể việc sử dụng Clo và các mối nguy hiểm tiềm năng của nó là không xem xét. Khoảng cách giữa Bauchi và Dam đã cung cấp một bản chất có nghĩa là loại bỏ nhiều tạp chất trước khi chúng đến đập thông qua lọc tự nhiên nhiều hơn so với các đại lý có thể làm. Trong đợt khảo sát nó được phát hiện rằng các hóa chất xử lý thường được cung cấp với giá cắt cổ. Giá này đã không làm cho các lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm tốt hơn 1 cách hiệu quả .Việc di dời các bãi rác bên ngoài khu vực đập chứa nước Gubi là một nỗ lực đáng khen ngợi nhưng một số cán bộ vô nguyên tắc của Cơ quan vẫn đổ các chất thải bất hợp pháp trong khu vực lưu vựcvì những chi phí ít ỏi. Vì những lợi ích sẽ vẫn còn miễn là việc kiểm soát ô nhiễm vẫn tiếp tục,lợi ích nên được đánh giá vĩnh viễn nghĩa là một hạn định giá chuyên nghiệp tính liên tục của các lợi ích. Sử dụng tổng lợi ích của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tức là N21,898,000.00, các dòng chảy tương lai của lợi ích có thể có giá trị vĩnh viễn sử dụng giá trị hiện tại của N1 mỗi năm (hoặc chiết khấu dòng tiền). KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Phương pháp này đã được chứng minh là áp dụng trong khu vực nghiên cứu, tuy nhiên, quá trình vẫn được cải thiện, để làm cho nó đáng tin cậy hơn ở các nước đang phát triển vì nó đã được chứng minh ở các nước đã phát triển. Trong số những yếu tố khác, văn hóa (được phản ánh trong quản lý và thái độ) đã được xem như là một nguyên nhân chính, ảnh hưởng đến hiệu quả của các phương pháp trong khu vực nghiên cứu. Các khuyến nghị sau đây có thể được thực hiện: 1. Phương pháp năng suất nên được sử dụng để ước tính vĩnh viễn. 2. Các phương pháp năng suất sẽ hiệu quả hơn khi các biện pháp kiểm soát ô nhiễm được thực hiện. Xử lý nước thải sẽ là biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường cần thiết trong khu vực nghiên cứu. Các thành phố lớn trên thế giới, bao gồm Abuja, có nhà máy xử lý nước thải và ngoài ra, nó có các lợi ích môi trường ngoài việc xử lý nước. 3. Dự toán giá trị từ phương pháp này nên được giảm giá để cho phép thời gian trôi qua bằng cách cung cấp các giá trị hiện tại của tất cả các dòng lợi ích trong tương lai (hoặc chi phí). 4. Để có được một ước tính giá trị thiên nhiên theo phương pháp năng suất, chi phí dữ liệu bộ sưu tập nên được dựa trên giá trị thị trường với việc cung cấp cho các nhà thầu đánh dấu theo quy định. Phương pháp này đã được chứng minh là đáng tin cậy hơn trong các nước phát triển, nơi cán bộ công chức có trách nhiệm hơn đối với hành động của họ. Mua hàng trực tiếp có thể được thực hiện để mua hóa chất xử lý trực tiếp từ các nhà sản xuất như thế này sẽ đi một chặng đường dài để phản ánh thị trường thực tế giá trị của hàng hoá đó. 5. Kiểm soát ô nhiễm hiệu quả đối với các đập chỉ có thể được phản ánh bằng cách giải quyết điều trị chủ yếu của nước ở bất kỳ khu vực cụ thể cho các phương pháp năng suất có hiệu quả. Ở Bauchi ,Cặn tiêu thụ tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí điều trị và các biện pháp kiểm soát ô nhiễm do đó cần giải quyết các vấn đề đặc thù phù hợp với từng khu vực có hiệu quả. 6. Cần có luật môi trường và thực thi có hiệu lực ở các nước để mà các phương pháp, đặc biệt là các phương pháp Năng suất có thể hiệu quả hơn.Nền văn hóa ở các nước đã cho phép nhiều người coi thường pháp luật và bỏ qua nó. Ví dụ, việc bán phá giá của các chất thải trong cấm khu vực của các nhân viên của BASEPA. TÀI LIỆU THAM KHẢO: THE PRODUCTIVITY METHOD OF ECONOMIC EVALUATION OF BIODIVERSITY APPLICATION IN BAUCHI STATE, NIGERIA 2010 (Adeyemi, A) Corporate Ecosystem Valuation Additional Notes B Selection Application of Ecosystem Valuation Te
Xem thêm

20 Đọc thêm

Phương pháp tài sản và Phương pháp thu nhập trong định giá doanh nghiệp cổ phần hóa tại Việt Nam

PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN VÀ PHƯƠNG PHÁP THU NHẬP TRONG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM

MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiTái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được xác định là một trong ba trụ cột chính của tái cấu trúc nền kinh tế nhằm tạo sự đổi mới một cách toàn diện từ mô hình tổ chức, phương thức quản lý, chiến lược đầu tư kinh doanh... cho đến cơ cấu lại nguồn vốn. Trong đó cổ phần hóa DNNN được coi là trọng tâm của quá trình này. Chương trình cổ phần hóa bắt đầu được Việt Nam thử nghiệm trong các năm 19901991 và chính thức được thực hiện từ năm 1992, được đẩy mạnh từ năm 1996, dự kiến sẽ cơ bản hoàn thành vào năm 2010. Tuy nhiên do nhiều lý do khác nhau mà mục tiêu đặt ra ban đầu đã không đạt được và phải lùi lại tới năm 2015. Theo đề án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 20112015 của các bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước đã được Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2015 sẽ hoàn thành cổ phần hóa 531 doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất 25 doanh nghiệp; giải thể, phá sản 16 doanh nghiệp và giao, bán 10 doanh nghiệp. Tuy nhiên kết quả thực hiện cổ phần hóa 3 năm qua đạt thấp (99 doanh nghiệp) nên từ nay đến hết năm 2015, cả nước sẽ phải hoàn thành cổ phần hóa nốt 432 doanh nghiệp. Xung quanh vấn đề cổ phần hóa có nhiều vấn đề nóng được dư luận đặc biệt quan tâm trong đó có việc xác định giá trị các doanh nghiệp tham gia cổ phần. Hiện nay mới chỉ có hai phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ CPH được hướng dẫn cụ thể là phương pháp tài sản và phương pháp thu nhập. Tuy nhiên, việc áp dụng hai phương pháp này vẫn còn có nhiều vấn đề chưa thỏa đáng và còn gây tranh cãi. Từ thực tế đó, em đã quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu việc áp dụng phương pháp tài sản và phương pháp thu nhập trong xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa doanh nghiệp tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.2.Mục tiêu nghiên cứuĐề tài có các mục tiêu nghiên cứu chính sau:Một là, hệ thống hóa lý thuyết về thẩm định giá trị doanh nghiệp, các phương pháp thẩm định giá trị doanh nghiệp đang được sử dụng phổ biến hiện nay.Hai là, nêu thực trạng áp dụng các phương pháp thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam từ khi bắt đầu cổ phần hóa đến nay. Từ đó, chỉ ra các mặt hạn chế cần giải quyết.Ba là, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác thẩm định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa, cụ thể là giải pháp đối với việc áp dụng hai phương pháp tài sản và thu nhập tại Việt Nam trong giai đoạn tới.3.Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu chính của đề tài là phương pháp phân tích và tổng hợp. Trước hết là tổng hợp các số liệu về việc áp dụng phương pháp tài sản và phương pháp thu nhập trên thực tế, kết hợp với tìm kiếm thông tin trên sách báo để tiến hành phân tích cách thức áp dụng các phương pháp này. Từ những phân tích đó để rút ra nhận xét và kết luận cho đề tài.4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp tài sản và phương pháp thu nhập trong xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa.Phạm vi nghiên cứu là việc áp dụng phương pháp tài sản và thu nhập trong xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa tại Việt Nam.5.Đóng góp của đề tàiCổ phần hóa đã diễn ra trong một thời gian khá dài. Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu xoay quanh vấn đề này. Các tồn tại, bất cập cũng đã phần nào được khắc phục, tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thay đổi của thị trường, của nhận thức xã hội thì luôn có các vấn đề mới nảy sinh. Cách thức áp dụng các phương pháp thẩm định giá trị doanh nghiệp cũng vậy. Ví dụ như trước kia thẩm định giá trị doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến giá trị tài sản vô hình thì nay đó lại là vấn đề được chú tâm rất nhiều. Hay việc xử lý trong định giá đất vẫn luôn tồn tại nhiều vướng mắc. Chính vì vậy mà trong đề tài này, em đã đề cập tới các vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng phương pháp định giá doanh nghiệp phục vụ CPH trong thời gian gần đây. Từ những tìm hiểu có được, rút ra nhận xét để đề xuất các giải pháp hoàn thiện cho phương pháp tài sản và phương pháp thu nhập trong định giá doanh nghiệp thời gian sắp tới.
Xem thêm

83 Đọc thêm

báo cáo thực hành nghề nghiệp HOÀN THIỆN CÔNG tác TUYỂN DỤNG NHÂN sự tại CÔNG TY TNHH TERRACO VIỆT NAM

báo cáo thực hành nghề nghiệp HOÀN THIỆN CÔNG tác TUYỂN DỤNG NHÂN sự tại CÔNG TY TNHH TERRACO VIỆT NAM

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ 1.1. TUYỂN DỤNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ 1.1.1. Khái niệm và vai trò của tuyển dụng nhân lực 1.1.1.1. Khái niệm Tuyển dụng là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng bên trong tổ chức và đánh giá các ứng cử viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra 1.1.1.2. Vai trò Quá trình tuyển dụng là khâu quan trọng giúp cho các nhà quản lý nhân lực đưa ra được các quyết định tuyển dụng một cách đúng đắn nhất. Quyết định tuyển dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến lược kinh doanh và đối với các tổ chức, bởi vì quá trình tuyển dụng tốt sẽ giúp cho các nhà tổ chức có được những con người có kỹ năng phù hợp với sự phát triển của tổ chức trong tương lai. Tuyển dụng tốt sẽ giúp cho tổ chức giảm được các chi phí do phải tuyển dụng lại, đào tạo lại, cũng như tránh được các thiệt hại rủi ro trong quá trình thực hiện các công việc. Tuyển dụng nhân sự không chỉ là nhiệm vụ của phòng tổ chức, và cũng không chỉ là công việc đơn giản bổ sung người lao động cho doanh nghiệp, mà đó thực sự là quá trình tìm kiếm và lựa chọn cẩn thận. Nó đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau, phải có sự định hướng rõ ràng, phù hợp của lãnh đạo doanh nghiệp 1.1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng nhân lực Các hoạt động tuyển mộ chịu tác động của nhiều yếu tố. Bao gồm: Các yếu tố thuộc về tổ chức Uy tín của công ty. Quảng cáo và các mối quan hệ xã hội. Các quan hệ với công đoàn, các chính sách nhân sự và bầu không khí tâm lý trong tập thể. Chi phí. Các yếu tố thuộc về môi trường. Các điều kiện về thị trường lao động (cung, cầu lao động). Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác. Các xu hướng kinh tế. Thái độ của xã hội đối với một số nghề nhất định. 1.2. QUY TRÌNH TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ 1.2.1. Lập kế hoạch tuyển dụng Trong hoạt động tuyển mộ, một tổ chức cần xác định xem cần tuyển mộ bao nhiêu người cho từng vị trí cần tuyển. Do có một số người nộp đơn không đủ điều kiện hoặc một số người khác không chấp nhận các điều kiện về công việc nên tổ chức cần tuyển mộ được số người nộp đơn nhiều hơn số người hơn cần thuê mướn. Các tỷ lệ sàng lọc giúp cho các tổ chức quyết định được bao nhiêu người cần tuyển mộ cho từng vị trí cần tuyển. Các tỷ lệ sàng lọc thể hiện mối quan hệ về số lượng các ứng viên còn lại ở từng bước trong quá trình tuyển chọn và số người sẽ được chấp nhận vào bước tiếp theo. Trong kế hoạch tuyển mộ, chúng ta phải xác định các tỷ lệ sàng lọc chính xác và hợp lý. Tỷ lệ sàng lọc có ảnh hưởng tới chi phí tài chính, tâm lý của người dự tuyển và kỳ vọng của người xin việc. Tỷ lệ sàng lọc ở các tổ chức của nước ta hiện nay được xác định tùy theo ý định chủ quan của người lãnh đạo mà chưa có những căn cứ xác đáng trên cơ sở khoa học. Các tỷ lệ sàng lọc phần lớn do tính đặc thù của công việc, tâm lý xã hội của người xin việc quyết định, trong đó yếu tố thu nhập có ý nghĩa quan trọng nhất. Do đó khi xác định tỷ lệ sàng lọc ta cần phải căn cứ vào các yếu tố như: 1. Căn cứ vào thị trường lao động (cung cầu lao động); 2. Căn cứ vào chất lượng của nguồn lao động; 3. Căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc; 4. Căn cứ tâm lý chọn nghề của tập thể người lao động; 5. Kinh nghiệm của tổ chức trong công tác tuyển mộ. 1.2.2. Xác định các nguồn và phương pháp tuyển dụng Để tuyển mộ được đủ số lượng và chất lượng người lao động vào các vị trí việc làm còn thiếu người, tổ chức cần cân nhắc, lựa chọn xem ở vị trí công việc nào nên lấy người từ bên trong tổ chức và vị trí nào nên lấy người từ bên ngoài tổ chức và đi kèm với nó là phương pháp tuyển phù hợp. 1.2.2.1. Các nguồn tuyển dụng nhân sự Nguồn tuyển mộ từ bên trong: Bao gồm những người làm việc bên trong công ty, tuyển mộ nguồn này tức là quá trình đề bạt họ vào vị trí cao hơn hoặc thuyên chuyển họ sang vị trí cần thiết khác. Nguồn tuyển mộ từ bên ngoài: Là những người đến xin việc từ ngoài công ty, nguồn này có phạm vi rộng, số lượng lớn, chất lượng phong phú và đa dạng. 1.2.2.2. Các hình thức tuyển dụng nhân sự Đối với nguồn tuyển mộ từ bên trong tổ chức chúng ta có thể sử dụng các phương pháp sau: • Phương pháp thu hút thông qua bản thông báo tuyển mộ, đây là bản thông báo về các vị trí công việc cần tuyển người. Bản thông báo này được gửi đến tất cả các nhân viên trong tổ chức. • Phương pháp thu hút thông qua sự giới thiệu của cán bộ, công nhân viên trong tổ chức. Qua kênh thông tin này chúng ta có thể phát hiện được những người có năng lực phù hợp với yêu cầu của công việc, một cách cụ thể và nhanh chóng. • Phương pháp thu hút căn cứ vào các thông tin trong: “Danh mục các kỹ năng”, mà các tổ chức thường lập về từng cá nhân người lao động, lưu trữ trong phần mềm nhân sự của các tổ chức. Đối với nguồn tuyển mộ từ bên ngoài chúng ta có thể áp dụng các phương pháp thu hút sau đây: • Phương pháp thu hút thông qua sự giới thiệu của cán bộ công chức trong doanh nghiệp. • Phương pháp thu hút nguồn tuyển mộ qua quảng cáo trên các phương tiện truyền thông như: Trên các kênh của các đài truyền hình, đài phát thanh, trên các báo, tạp chí và các ấn phẩm khác. • Phương pháp thu hút các ứng viên thông qua trung tâm môi giới và giới thiệu việc làm. Đây là phương pháp thu hút đang áp dụng phổ biến ở nước ta nhất là đối với các doanh nghiệp hay tổ chức không có bộ phận chuyên trách về Quản trị nhân lực. Các trung tâm này thường được đặt trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các tổ chức quần chúng cũng như các cơ quan quản lý lao động trên toàn quốc. • Phương pháp thu hút các ứng viên thông qua các hội chợ việc làm. Đây là phương pháp mới đang được nhiều các tổ chức áp dụng. Phương pháp thu hút này cho phép các ứng viên được tiếp xúc trực tiếp với nhiều nhà tuyển dụng, mở ra khả năng lựa chọn rộng hơn với quy mô lớn hơn. Cùng một thời điểm các ứng viên và các nhà tuyển dụng sẽ nhận được nhiều thông tin hơn, tạo ra những căn cứ xác đáng hơn để đi tới những quyết định đúng nhất cho các ứng viên và nhà tuyển dụng
Xem thêm

Đọc thêm

Các bước cơ bản trong phỏng vấn tuyển dụng liên hệ thực tiễn về các xu hướng phỏng vấn trong các doanh nghiệp hiện nay

Các bước cơ bản trong phỏng vấn tuyển dụng liên hệ thực tiễn về các xu hướng phỏng vấn trong các doanh nghiệp hiện nay

Các bước cơ bản trong phỏng vấn tuyển dụng.Liên hệ thực tiễn về các xu hướng phỏng vấn trong các doanh nghiệp hiện nay.Với một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, nhân lực đang dần trở thành một nguồn lực quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp, nó được coi là yếu tố đánh giá sức mạnh cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp. Vì thế mà các doanh nghiệp hiện nay đang có xu hướng quan tâm đến các vấn đề quản trị nhân lực nhiều hơn, các nhà quản trị phải giải quyết được bài toán: “Làm sao để có được một đội ngũ nhân lực phù hợp với doanh nghiệp”. Để giải quyết được vấn đề này, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng cho mình những chiến lược nhân lực rõ ràng và thực hiện tốt tất cả các tác nghiệp của quá trình quản trị nhân lực. Việc thực hiện tốt ngay từ bước đầu là tuyển dụng nhân lực là điều quan trọng giúp doanh nghiệp có được một đội ngũ như mình mong muốn. Bởi tuyển dụng là việc tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người phù hợp với doanh nghiệp và phỏng vấn trong tuyển dụng là bước quan trọng nhất quyết định doanh nghiệp có lựa chọn được đúng người hay không. Phỏng vấn là phương pháp giúp nhà tuyển dụng quyết định họ và ứng viên có tương thích với nhau về công việc, nhu cầu và khả năng đáp ứng không thông qua việc tiếp xúc trực tiếp. Hiện nay có rất nhiều hình thức phỏng vấn mà các doanh nghiệp áp dụng để lựa chọn ứng viên cho mình. Để tìm hiểu sâu hơn về các xu hướng phỏng vấn hiện nay và đánh giá được mỗi xu hướng để định hướng cho các doanh nghiệp nên áp dụng hình thức nào mà vừa phù hợp với doanh nghiệp, vừa tiết kiệm chi phí vừa đem lại hiệu quả tốt nhất. Nhóm 2 với đề tài tìm hiểu về các xu hướng phỏng vấn trong doanh nghiệp hiện nay sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về phỏng vấn tuyển dụng. I.Tổng quan lý thuyết về các bước cơ bản trong phỏng vấn tuyển dụng1. Giai đoạn trước phỏng vấna. Nghiên cứu lại mô tả công việc và hồ sơ ứng viên Trước khi phỏng vấn nhà tuyển dụng cần thực hiện việc nghiên cứu mô tả công việc và hồ sơ ứng viên để định hướng cho việc xây dựng kế hoạch phỏng vấn tuyển dụng. Nghiên cứu mô tả công việc giúp làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của người thực hiện công việc cũng như yêu cầu đối với ứng viên. Còn nghiên cứu hồ sơ ứng viên nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và những điểm chưa rõ trong hồ sơ của ứng viên để có thể chuẩn bị trước câu hỏi.b. Xây dựng kế hoạch phỏng vấn tuyển dụng Xác định mục tiêu của phỏng vấn tuyển dụng : vì mục tiêu của phỏng vấn sẽ quyết định đến việc lựa chọn đối tượng tham gia nên cần phải có sự thu thập thông tin về các ứng viên để đánh giá như :+ Kinh nghiệm đã từng làm ở các công ty trước thế nào+ Kiến thức kĩ năng chuyên môn+ Phẩm chất, thái độ làm việc Lựa chọn cấp độ phỏng vấn+ Phỏng vấn sơ bộ :là phương pháp phỏng vấn nhằm xác minh nguyện vọng của người lao động đối với công việc ứng tuyển, xác nhận một số thông tin sơ bộ về ứng viên, đánh giá sự phù hợp của ứng viên với các tiêu chuẩn cơ bản trong công việc.Ví dụ có thể là phỏng vấn qua điện thoại.+ Phỏng vấn chuyên sâu :được tiến hành qua nhiều vòng phỏng vấn nhằm đánh giá chính xác năng lực ứng viên, tìm ra ứng viên phù hợp đối với công việc nhất là nhưng công việc theo yêu cầu. Phỏng vấn thường tập trung vào đánh giá kiến thức, kĩ năng chuyên môn, thái độ làm việc....+ Phỏng vấn ra quyết định :đây được xem là cấp độ phỏng vấn cao nhất được tiến hành cùng với sự tham gia của các cán bộ quản lí cấp cao.Loại phỏng vấn này đặc biệt quan trọng cho việc tuyển dụng cho vị trí quản lý. Lựa chọn hình thức phỏng vấn :việc lựa chọn hình thức phỏng vấn tuyển dụng nào phụ thuộc vào cấp độ phỏng vấn và đặc điểm tính chất công việc cần tuyển dụng.+ Theo cách thức tiếp xúc giữa hội đồng tuyển dụng và ứng viên Phỏng vấn gián tiếp :thường được tiến hành thông qua điện thoại hoặc giao tiếp đa phương tiện. Phỏng vấn thông qua công cụ giao tiếp đa phương tiện giúp cho việc trao đổi thông tin giữa ứng viên và nhà tuyển dụng có sự tương tác tốt hơn so với phỏng vấn qua điện thoại. Hình thức này thường được tiến hành đối với những ứng viên ở xa. Phỏng vấn trực tiếp : giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn có sự tiếp xúc trực tiếp trong quá trình phỏng vấn. Có thể tiến hành theo hình thức một người phỏng vấn nhiều người ,nhiều người phỏng vấn nhiều người hay ngược lại...+ Theo số lượng ứng viên và hội đồng tuyển dụng : có 3 hình thức Phỏng vấn hội đồng : nhiều người phỏng vấn một người , doanh ngiệp phải lựa chọn vị trí cần tuyển và cấp độ phỏng vấn. Vì chi phí phỏng vấn hội đồng cao nên thường áp dụng đối với vị trí quan trọng trong doanh nghiệp. Phỏng vấn cá nhân :một người phỏng vấn một người. Phương pháp này giúp tiết kiệm chi phí nên các doanh nghiệp thường hay áp dụng. Phỏng vấn nhóm : là phương pháp một người phỏng vấn nhiều người , các ứng viên sẽ được ngồi quanh một bàn và cùng nhau thảo luận một vấn đề mà phỏng vấn nêu lên. Nhà phỏng vấn sẽ quan sát từ đó có những nhận xét trong quá trình thảo luận nhóm của ứng viên. Lựa chọn thể thức phỏng vấn+ Theo bầu không khí của buổi phỏng vấn Phỏng vấn tạo áp lực : làm cho ứng viên thấy căng thẳng về tâm lý và phải trải qua các áp lực thực tế .Nhằm đánh giá mức độ phù hợp của thái độ và các phẩm chất nghề nghiệp với vị trí cần tuyển. Ví dụ những câu hỏi nay thường mang tính chất nặng nề , trực diện , xoáy vào điểm yếu của ứng viên, những câu hỏi không có đáp án nhằm xem thái độ phản ứng của ứng viên như thế nào.Thể thức này thường áp dụng cho những vị trí công việc có áp lực cao, đòi hỏi sự xử trí nhanh và bình tĩnh. Phỏng vấn tạo không khí thoải mái :là phương pháp nhằm tạo cho ứng viên sự thoải mái để họ chia sẻ , trao đổi và cung cấp các thông tin xác thực nhất. Đây là phương pháp phổ biến được nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đang áp dụng.+ Phỏng vấn theo mức độ kịch bản đã chuẩn bị trước Phỏng vấn theo mẫu là sử dụng bảng câu hỏi mẫu kèm theo đã được soạn sẵn áp dụng cho mọi ứng viên.Phương pháp này hữu dụng khi doanh nghiệp muốn tuyển nhiều ứng viên vào một vị trí côn việc , mà không mất nhiều thời gian dành cho phỏng vấn. Phỏng vấn không chỉ dẫn là việc người phỏng vấn cần nghiên cứu bảng mô tả công việc, bản tiêu chuẩn công việc và ghi chép lại những lưu ý trong hồ sơ ứng viên, điểm mạnh điểm yếu để từ đó đặt câu hỏi cho phù hợp. Tùy từng ứng viên mà có những câu hỏi khác nhau, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi kinh nghiệm phong phú của người phỏng vấn viên, và hơi tốn thời gian. Lựa chọn địa điểm phỏng vấn tuyển dụng :trong tuyển dụng, nhà tuyển dụng có thể tiến hành công tác tìm kiếm ứng viên tại bất kì địa điểm nào, kể cả trong các không gian ngoài công sở.... Tuy nhiên địa điểm nào cũng cần có sự yên tĩnh và thân mật, tránh bị người khác làm phiền khi phỏng vấn Xác định thời gian phỏng vấn : nhà tuyển dụng có kế hoach lên lịch phù hợp để thông báo lịch hẹn với từng ứng viên, hạn định mức thời gian cho từng vị trí cần tuyển , tránh lãng phí thời gian, điều đó giúp cuộc phỏng vấn đạt hiệu quả cao hơn. Chuẩn bị về trang phục : phải lựa chọn những trang phục phù hợp để phản ánh tính chuyên nghiệp của công ty. Ví dụ :veston, áo sơ mi…
Xem thêm

Đọc thêm

Thực trạng công tác tổ chức kế toán tại công ty thi công cơ giới xây lắp

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY THI CÔNG CƠ GIỚI XÂY LẮP

I. Lý luận chung về TSCĐ 1.1. Khái nịêm TSCĐ Theo chẩn mực kế toán quốc tế 16 thì TSCĐ là những tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất , cung cấp dịch vụ và cho các mục đích hành chính và có thời gian sử dụng nhiều hơn một kỳ kế toán . Bốn tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ: +Phải chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó +Nguyên giá tài sản phải được xác định đáng tin cậy +Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm +Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành ( nay là 10 triệu đồng trở nên) 1.2. Đặc điểm của TSCĐ -TSCĐ tham gia vào những chu kỳ sản xuất khác nhau không thay đổi hình thái hiện vật lúc ban đầu cho đến khi hư hỏng hoàn toàn . -Trong quá trình tham gia sản xuất , giá trị TSCĐ bị hao mòn dần và được chuyển từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ -Vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ thường lớn , thời gian thu hồi vốn dài. 1.3. Vai trò TSCĐ TSCĐ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp thể hiện: - TSCĐ là điều kiện không thể thiếu được góp phần cải thiện sức lao động để tăng năng suất , nâng cao mức thu nhập bình quân trong doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung. - TSCĐ trong doanh nghiệp đánh giá được năng lực và trình độ trang bị cơ sở vật chất quy mô của mỗi doanh nghiệp. 1.4. Yêu cầu công tác quản lý TSCĐ Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên của TSCĐ ta thấy yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý TSCĐ là phải quản lý chặt chẽ về cả hiện vật và giá trị: - Về mặt hiện vật : phải nắm được số lượng chủng loại ,tình trạng , tính năng kỹ thuật và giao cho bộ phận nào sử dụng , quản lý từ việc đầu tư, mua sẵm xây dựng đã hoàn thành quá trình sử dụng cho đến hết hạn sử dụng. - Về mặt giá trị : phải quản lý chặt chẽ tình hình hao mòn , việc thu hồi vốn đầu tư bắt đầu để tái sản xuất TSCĐ ở doanh nghiệp , đồng thời phải tính toán được giá trị hao mòn của TSCĐ để tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm. 1.5. Vai trò của kế toán TSCĐ -Phải ghi chép phản ánh chính xác các số lượng TSCĐ hiện có, tình hình tăng, giảm TSCĐ, bộ phận sử dụng TSCĐ và chi phí khấu hao nảy sinh ở từng bộ phận và toàn doanh nghiệp. -Thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu về TSCĐ, lập báo cáo về TSCĐ, tham gia kiểm kê đánh giá TSCĐ. -Lập kế hoạch, dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ, giám sát việc sửa chữa và phản ánh kết quả việc sửa chữa TSCĐ. II. Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp 2.1. Phân loại và đánh giá TSCĐ Phân loại TSCĐ là việc phân chia TSCĐ trong doanh nghiệp theo những tiêu thữ nhất định. Tùy theo tiêu thức phân loại mà TSCĐ trong doanh nghiệp được chia thành các loại khác nhau. Để phân loại TSCĐ một cách khoa học, hợp lý là cơ sở để tiến hành công tác thống kê TSCĐ một cách chính xác, TSCĐ được phân loại như sau: 2.1.1. Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ Căn cứ vào quyền sở hữu đối với TSCĐ thì TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành: TSCĐ tự có và TSCĐ thuê ngoài. - TSCĐ tự có là những TSCĐ được xây dựng, mua sắm, hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, bằng nguồn vốn vay, nguùon vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được quyên tặng, viện trợ không hoàn lại. - TSCĐ thuê ngoài là những TSCĐ của doanh nghiệp hình thành do việc doanh nghiệp đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ. TSCĐ thuê ngoài lại chia thành: + TSCĐ thuê tài chính: Là những TSCĐ doanh nghiệp thuê sử dụng trong thời gian dài và có quyền kiểm soát. Sử dụng chúng theo các điều khoản trong hợp đồng cho thuê TSCĐ dài hạn. + TSCĐ thuê hoạt động: Là những TSCĐ thuê mà không thảo mãn bất kỳ điều khoản nào trong hợp đồng thuê tài chính. Ý nghĩa: Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có tác dụng trong việc quản lý và tổ chức kế toán phù hợp với từng loại TSCĐ theo nguồn hình thành để có giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong quá trình SXKD không chỉ với những TSCĐ đi thuê mà còn của những TSCĐ tự có của doanh nghiệp. 2.1.2. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và đặc trưng kỹ thuật. Căn cứ vào hình thái biểu hiện TSCĐ được chia thành 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Theo đặc trưng kỹ thuật TSCĐ hữu hình gồm: + Nhà cửa, vật kiến trúc. + Máy móc thiết bị dùng vào sản xuất kinh doanh. + Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn. + Thiết bị dụng cụ quản lý. + Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm. + TSCĐ hữu hình khác. TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. TSCĐ vô hình bao gồm: + Quyền sử dụng đất + Nhãn hiệu hàng hoá + Quyền phát hành + Phần mềm máy vi tính + Giấy phép và giấy phép nhượng quyền + Bản quyền, bằng sáng chế + TSCĐ vô hình đang triển khai Ý nghĩa: Theo cách phân loại này giúp cho việc quản lý được cụ thể đối với từng nhóm TSCĐ và có tác dụng trong việc quyết định đầu tư thích hợp cũng như công tác kế toán quản trị TSCĐ 2.1.3. Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành: - TSCĐ đầu tư bằng nguồn vốn kinh doanh. - TSCĐ dầu tư bằng nguồn vốn ngân sách cấp - TSCĐ dầu tư bằng nguồn vốn vay. - TSCĐ dầu tư bằng nguồn vốn liên doanh liên kết. - TSCĐ đàu tư bằng nguồn vốn tự bổ sung Cách phân loại này giúp ta thấy được kết cấu các nguồn vốn hình thành TSCĐ để khai thác nguồn vốn tự có, tăng quyền tự chủ, đồng thời phải tính toán hiệu quả các nguồn vốn, đảm bảo nguồn trả nợ cho vốn vay. 2.2. Đánh giá TSCĐ Đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị TSCĐ theo các phương pháp khác nhau. Trong các doanh nghiệp TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại. 2.2.1 Nguyên giá TSCĐ Là toàn bộ các chi phí bình thường và hợp lý mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có tài sản đó và đưa TSCĐ đó vào địa điểm sẵn sàng sử dụng, nguyên giá TSCĐ trong từng trường hợp được xác định như sau: Trường hợp mua sắm TSCĐ : Nguyên giá TSCĐ do mua sắm là toàn bộ chi phí mua, thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển, lắp đặt chạy thử và các chi phí hợp lý, cần thiết khác trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng: Trường hợp tự xây dựng chế tạo: Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ chi phí liên quan đến sản xuất, xây dựng, chế tạo cộng với chi phí lắp đặt, chạy thử TSCĐ đó. Tiền lãi về khoản vay dùng vào đầu tư xây dựng TSCĐ có thể hạch toán vào nguồn vốn TSCĐ. Nguyên giá của TSCĐ hình thành dưới hình thức trao đổi: Nếu mua dưới hình thức trao đổi với TSCĐ không tương tự hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ nhận về hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về. - Trường hợp mua dưới hình thức trao đổi lấy một TSCĐ tương tự thì nguyên giá của TSCĐ được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi. - Đối với TSCĐ vô hình nếu được hình thành từ việc trao đổi thanh toán bằng chứng từ liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị thì nguyên giá TSCĐ vô hình là giá trị hợp đồng của các chứng từ được phát hành liên quan đến quyền sở hữu vốn. Trường hợp sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại thì nguyên giá của TSCĐ vô hình là giá trị hợp lý của tài sản vào ngày mua. Trường hợp nhận TSCĐ của đơn vị khác góp vốn liên doanh: Trong trường hợp nguyên giá của TSCĐ là giá thoả thuận do hợp đồng liên doanh định, cộng thêm các chi phí phát sinh trước khi sử dụng nếu có. Đối với TSCĐ được cấp: Nguyên giá TSCĐ được cấp là giá ghi trong “ Biên bản bàn giao TSCĐ “ của đơn vị cấp cộng với chi phí lắp đặt, chạy thử nếu có. Đối với TSCĐ được quyên tặng, biếu, viện trợ không hoàn lại… thì nguyên giá được tính trên cơ sở giá thị trường của những TSCĐ tương đương. Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá có tác dụng trong việc đánh giá năng lực, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp, đồng thời làm cơ sở cho việc tính khấu hao, theo dõi tình hình thu hồi vốn đầu tư.
Xem thêm

29 Đọc thêm

Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH phát triển xây dựng nam khánh

Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH phát triển xây dựng nam khánh

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, với cơ chế hạch toán kinh doanh và sự cạnh tranh gay gắt của nhiều thành phần kinh tế, để tồn tại lâu dài và phát triển bền vững, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải đảm bảo tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động có lãi. Thực hiện được yêu cầu đó đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp cần nắm bắt thông tin kịp thời và chính xác, từ đó làm cơ sở để đưa ra những quyết định kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất. Vì thế buộc các nhà quản lý phải quan tâm tới tất cả các khâu của quá trình sản xuất, từ lúc bỏ vốn ra đến khi thu hồi vốn về vì mục đích cuối cùng của hầu hết các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện này các doanh nghiệp phải tự mình quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Lúc này doanh nghiệp nào thiếu quan tâm đến tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh sẽ dẫn đến tình trạng “lãi giả, lỗ thật”, như vậy không sớm thì muộn cũng đi đến phá sản. Ngược lại, doanh nghiệp nào tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa thì doanh nghiệp đó đảm bảo thu hồi vốn, bù đắp được chi phí bỏ ra và xác định đúng kết quả kinh doanh sẽ có cơ hội tồn tại và phát triển. Muốn thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý, nhu cầu người tiêu dùng với sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và phong phú, đa dạng, chương trình tiếp thị, chương trình khuyến mãi hấp dẫn .. có như thế doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh để tồn tại và phát triener. Thực tế nền kinh tế thị trường đã và đang cho thấy rõ điều đó. Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và cuối cùng kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiê thụ sản phẩm mới có vốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nhưng muốn đẩy mạnh khâu tiêu thụ đòi hỏi các nhà quản lý phải sử dụng nhiều công cụ và biện pháp khác nhau, trong đó hạch toán kế toán là công cụ quan trọng, không thể thiếu để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra việc sử dụng, quản lý tài sản, hàng hóa nhằm đảm bảo tính năng động, sáng tạo và tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhờ có những thông tin kế toán cung cấp, các nhà quản lý doanh nghiệp mới biết được tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thế nào, kết quả kinh doanh trong kỳ ra sao để từ đó làm cơ sở vạch ra chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của vấn đề trên, qua quá trình thực tập ở công ty TNHH Phát triển Xây dựng Thương mại Nam Khánh, được sự hướng dẫn tận tình của cô ThS. Nguyễn Tuyết Khanh cùng sự quan tâm chỉ bảo của các cô chú anh chị trong phòng kế toán công ty, em nhận thấy kế toán nói chung và kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh là bộ phận hết sức quan trọng nên luôn luôn đòi hỏi phải được hoàn thiện. Vì vậy, em quyết định đi sâu nghiên cứu công tác kế toán của công ty với đề tài “Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Nam Khánh” .Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em củng cố những kiến thức đã học và hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công tác kế toán trong việc xác định kết quả kinh doanh. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: nghiên cứu về thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Nam Khánh. Mục tiêu cụ thể: + Hệ thống hóa cơ sở lý luận của phần hành kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. + Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Nam Khánh. + Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Nam Khánh. 3. Phương pháp nghiên cứu ● Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu: số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp + Thông qua quan sát, tìm hiểu tình hình thực tế của công ty trong thời gian thực tập. + Thông qua các báo cáo và tài liệu công ty cung cấp. + Thông tin từ báo chí, mạng internet, tài liệu tham khảo. ● Phương pháp phân tích, so sánh + So sánh, tổng hợp kết quả đạt được qua các năm 2014 – 2016 để đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp. + So sánh số liệu năm sau so với năm trước để đánh giá xem doanh nghiệp có hoàn thành kế hoạch đề ra hay không. + Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống kế toán doanh nghiệp. ● Phương pháp hạch toán kế toán Bao gồm 4 phương pháp: phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán. ● Phương pháp điều tra, phỏng vấn: trực tiếp hỏi các cô chú anh chị trong bộ phận kế toán. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh của công ty TNHH Phát triển Xây dựng Thương mại Nam Khánh. Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: Công ty TNHH Phát triển Xây dựng Thương mại Nam Khánh. + Thời gian: Đề tài sử dụng số liệu các báo cáo từ năm 2014 – 2016; số liệu về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong tháng 12 năm 2016. 5. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 03 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Thương mại Nam Khánh Chương 2. Thực trạng kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Thương mại Nam Khánh Chương 3. Hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Xây dựng Thương mại Nam Khánh
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện chiến lược kinh doanh và triển khai chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần tư vấn và xây dựng indeco

Hoàn thiện chiến lược kinh doanh và triển khai chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần tư vấn và xây dựng indeco

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục tiêu 3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn 4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu 5. Những đóng góp của luận văn 6. Kết cấu của luận văn CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1. Tổng quan về chiến lược kinh doanh 1.1.1. Khái niệm về chiến lược 1.1.2. Các cấp độ chiến lược 1.1.3. Đặc trưng của chiến lược kinh doanh 1.1.4. Nội dung của chiến lược kinh doanh 1.2. Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh 1.3. Phân tích môi trường kinh doanh 1.3.1. Phân tích môi trường bên ngoài 1.3.2. Phân tích môi trường bên trong 1.4. Xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh 1.4.1. Các phương pháp xây dựng chiến lược 1.4.2. Lựa chọn chiến lược kinh doanh 1.5. Triển khai, thực hiện chiến lược kinh doanh 1.5.1. Chiến lược marketing 1.5.2. Chiến lược tài chính 1.5.3. Chiến lược nguồn nhân lực 1.5.4. Chiến lược nghiên cứu và phát triển 1.5.5. Chiến lược vận hành CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG INDECO 2.1. Giới thiệu chung về Công ty CP và XD Indeco 2.1.1. Lịch sử phát triển 2.1.2. Cơ cấu tổ chức 2.2.3. Lĩnh vực kinh doanh 2.2.4. Ngành nghề kinh doanh 2.2.5. Kết quả kinh doanh 20142015 2.2. Phân tích môi trường bên ngoài của Công ty Indeco 2.2.1. Phân tích môi trường vĩ mô 2.2.2. Phân tích môi trường ngành 2.2.3 Đánh giá môi trường bên ngoài 2.3. Phân tích môi trường nội bộ 2.3.1 Phân tích các yếu tố nội bộ 2.3.2. Đánh giá các yếu tố nội bộ CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG INDECO 3.1. Phương hướng và mục tiêu chiến lược của công ty đến 2020 3.1.1. Phương hướng 3.1.2. Mục tiêu 3.2. Xây dựng và lựa chọn chiến lược 3.2.1. Lựa chọn phương pháp xây dựng chiến lược 3.2.2. Ứng dụng SWOT để xây dựng chiến lược 3.2.3. Các phương án chiến lược 3.2.4. Lựa chọn phương án chiến lược 3.3. Các giải pháp để triển khai chiến lược 3.3.1 Các giải pháp về Tổ chức 3.3.2 Các giải pháp về Marketing 3.3.3 Các giải pháp về Công nghệ 3.3.4 Các giải pháp về Nhân sự 3.3.5 Các giải pháp về Tài chính 3.3.6 Các giải pháp về Công tác quản lý KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO   MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 7 DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 8 PHẦN MỞ ĐẦU 9 1. Lý do chọn đề tài 9 2. Mục tiêu 9 3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn 10 4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu 10 5. Những đóng góp của luận văn 10 6. Kết cấu của luận văn 11 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 12 1.1. Tổng quan về chiến lược kinh doanh 12 1.1.1. Khái niệm về chiến lược 12 1.1.2. Các cấp độ chiến lược 12 1.1.3. Đặc trưng của chiến lược kinh doanh 14 1.1.4. Nội dung của chiến lược kinh doanh 14 1.2. Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh 16 1.3. Phân tích môi trường kinh doanh 17 1.3.1. Phân tích môi trường bên ngoài 17 1.3.2. Phân tích môi trường bên trong 25 1.4. Xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh 32 1.4.1. Các phương pháp xây dựng chiến lược 32 1.4.2. Lựa chọn chiến lược kinh doanh 37 1.5. Triển khai, thực hiện chiến lược kinh doanh 39 1.5.1. Chiến lược marketing 39 1.5.2. Chiến lược tài chính 40 1.5.3. Chiến lược nguồn nhân lực 40 1.5.4. Chiến lược nghiên cứu và phát triển 40 1.5.5. Chiến lược vận hành 41 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế từ năm 1986, kể từ đó đến nay Việt Nam đã chuyền từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng thể hiện rõ tính chất cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới. Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam, không phân biệt các thành phần kinh tế đều đang phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, từ các sản phẩm thay thế, từ các nhà cung cấp và từ khách hàng… Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng– Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực cũng không phải là ngoại lệ, phải đối mặt với sức ép cạnh tranh rất lớn từ thị trường. Không chỉ có vậy, Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng – Công ty Thông tin Viễn thông Điện lựccòn phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ chính trong nội bộ các đơn vị trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam do Tập đoàn đang trong quá trình cổ phần hóa, các đơn vị trực thuộc tự chủ nhiều hơn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và xây dựng các dịch vụ giá trị gia tăng. Do vậy việc xây dựng chiến lược kinh doanhchoTrung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực là rất cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang trong quá trình cổ phần hóa. 2. Mục tiêu Xây dựng chiến lược kinh doanh choTrung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực giai đoại 20112015. Phân tích môi trường bên ngoài Phân tích môi trường bên trong Xây dựng chiến lược kinh doanh Lựa chọn chiến lược kinh doanh Giải pháp thực hiện chiến lược kinh doanh 3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn chỉ nghiên cứu chiến lược kinh doanh choTrung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng chứ không phải toàn bộ Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực. Luận văn chỉ nghiên cứu chiến lược kinh doanh của Trung tâm trong lĩnh vực các dịch vụ giá trị gia tăng, không liên quan đến các ngành khác như đo lường, tự động hóa, thị trường điện, kinh doanh điện. 4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở của lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, luận văn sử dụng số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: Số liệu về tình hình kinh doanh của Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng được lấy từ các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết năm, báo cáo tổng kết 6 tháng đầu năm 2011 của Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực. Số liệu về thực trạng và dự báo tình hình kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng từ tổng cục thống kê, bộ thông tin và truyền thông. Số liệu về thực trạng và dự báo kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh cùng ngành từ các trang web, bộ thông tin và truyền thông và các kênh thông tin khác. 5. Những đóng góp của luận văn Phân tích tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động của Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng– Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực. Phân tích thực trạng hoạt động của Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng – Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực. Nhận thức rõ các cơ hội và thách thức, các mặt mạnh và mặt yếu của Trung tâm để từ đó đề ra các biện pháp về chiến lược kinh doanh cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực giai đoạn 20112015. Đề xuất một số giải pháp nhằm nhằm thực hiện các mục tiêu của các phương án chiến lược. 6. Kết cấu của luận văn Để thực hiện được mục đích của Luận văn, ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; phần nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương: Phần mở đầu Chương 1. Cơ sở lý thuyết về chiến lược kinh doanh. Chương 2. Phân tích môi trường kinh doanh của Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực. Chương 3. Xây dựng chiến lược kinh doanh của Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực giai đoạn 20112015. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục   CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1. Tổng quan về chiến lược kinh doanh 1.1.1. Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa để chỉ ra các kế hoạch lớn và dài hạn trên cơ sở chắc chắn rằng cái gì đối phương có thể làm được, cái gì đối phương không thể làm được. Từ đó cùng với sự phát triển của trao đổi hàng hóa, thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời, theo quan điểm truyền thống chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhằm để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Theo Giáo sư lịch sử kinh tế học Alfred Chandler, Đại học Harvard (Mỹ), “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. (Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương, 2007). Theo William J’. Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”. (Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương, 2007). Theo Fred R. David: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”. (Fred David, 2006). Theo Michael E. Porter “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh.(Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương, 2007). 1.1.2. Các cấp độ chiến lược Xét về cấp độ, trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược có thể tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau:  1.1.2.1 Chiến lược doanh nghiệp Chiến lược ở cấp doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh ở đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối kết hợp giữa các đơn vị với nhau. Chiến lược cấp doanh nghiệp có các đặc điểm: Định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp: Bao gồm việc xác định các mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động. Định hướng cạnh tranh: Đó là việc xác định thị trường hoặc đoạn thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh. Quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa chúng: Chiến lược doanh nghiệp phát triển và khai thác thông qua việc phân chia và phối kết hợp các nguồn lực giữa các đơn vị độc lập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ. 1.1.2.2 Chiến lược kinh doanh Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể là một bộ phận trong doanh nghiệp, một dòng sản phẩm hay một khu vực thị trường, chúng có thể được kế hoạch hóa một cách độc lập. Ở cấp độ đơn vị kinh doanh, vấn đề chiến lược đề cập ít hơn đến việc phối kết hợp giữa các đơn vị tác nghiệp nhưng nhấn mạnh hơn đến việc phát triển và bảo vệ lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ mà đơn vị quản lý. Chiến lược đơn vị kinh doanh liên quan đến: Việc định vị hoạt động kinh doanh để cạnh tranh. Dự đoán những thay đổi của nhu cầu, những tiến bộ khoa học công nghệ và điều chỉnh chiến lược để thích nghi và đáp ứng những thay đổi này. Tác động và làm thay đổi tính chất của cạnh tranh thông qua các hoạt động chiến lược như là gia nhập theo chiều dọc hoặc thông qua các hoạt động chính trị.  1.1.2.3 Chiến lược chức năng, bộ phận Cấp độ chức năng của tổ chức đề cập đến các bộ phận tác nghiệp. Chiến lược ở cấp độ này liên quan đến các quy trình tác nghiệp của các hoạt động kinh doanh và các bộ phận của chuỗi giá trị. Chiến lược ở các chức năng marketing, tài chính, nguồn nhân lực hay nghiên cứu và phát triển nhằm vào phát triển và phối kết hợp các nguồn lực mà thông qua đó các chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh được thực hiện một cách hiệu quả. Chiến lược bộ phận chức năng của tổ chức phụ thuộc vào chiến lược ở các cấp cao hơn. Đồng thời nó đóng vai trò như yếu tố đầu vào cho chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. 1.1.3. Đặc trưng của chiến lược kinh doanh Tính định hướng dài hạn: Chiến lược kinh doanh đặt ra các mục tiêu và xác định hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ dài hạn (35 năm) nhằm định hướng hoạt động cho doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh đầy biến động. Tính mục tiêu: Chiến lược kinh doanh thường xác định rõ mục tiêu cơ bản, những phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và những chính sách nhằm thực hiện đúng mục tiêu đề ra. Tính phù hợp: Để xây dựng chiến lược kinh doanh tốt, doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời phải thường xuyên rà soát, điều chỉnh để phù hợp với những biến đổi của môi trường. Tính liên tục: Chiến lược kinh doanh có tính liên tục, xuyên suốt từ quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá đến hiệu chỉnh chiến lược. 1.1.4. Lợi ích của việc xây dựng chiến lược kinh doanh Một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ có nhiều thành công hơn một doanh nghiệp không xác định được cho mình một chiến lược rõ ràng, cụ thể: Xác định được rõ ràng mục tiêu chiến lược. Từ đó có thể tập trung chính xác hơn các nguồn lực có hạn của doanh nghiệp vào mục tiêu chiến lược. Với một chiến lược rõ ràng, minh bạch, doanh nghiệp có thể lập kế hoạch, thực hiện phân phối nguồn lực một cách chủ động, hợp lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Có những phản ứng kịp thời khi môi trường kinh doanh cũng như bản thân doanh nghiệp có những thay đổi. Xã hội không ngừng thay đổi, kỹ thuật không ngừng tiến bộ, thị trường luôn luôn biến động, nhu cầu của người tiêu dùng cũng luôn luôn thay đổi, những người làm việc ở doanh nghiệp không ngừng thay đổi. Trong tình hình đó, nếu doanh nghiệp dậm chân tại chỗ thì sẽ bị đào thải. Vì vậy, doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, mà muốn đổi mới thì phải có chiến lược. Dù là đổi mới lĩnh vực kinh doanh, kỹ thuật, sản phẩm dịch vụ, quá trình sản xuất, công tác thị trường đều cần có chiến lược, dựa vào sự chỉ đạo của chiến lược. Đặc biệt để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh quyết liệt, các doanh nghiệp có xu hướng liên hiệp, sát nhập, để tăng cường thực lực. Quá trình đó dù là chủ động hay bị động đều cần có sự chỉ đạo của chiến lược kinh doanh. Nếu không có chiến lược sẽ thất bại. Hơn nữa, hiện nay chúng ta đã tham gia tổ chức thương mại thế giới, các doanh nghiệp đang đứng trước một tình thế cạnh tranh quyết liệt hơn, hàng hoá nước ngoài sẽ xâm nhập thị trường nhiều hơn. Chính vì vậy doanh nghiệp Việt Nam cần phải xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cho mình để tồn tại và phát triển. Lường trước được những nguy cơ và những thách thức đồng thời có những biện pháp hạn chế khắc phục. Việc xây dựng chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp hình dung cụ thể hơn nhiệm vụ của mình, xác định rõ điểm mạnh điểm yếu của bản thân và nhận biết được những nguy cơ và thách thức phải đối mặt. Từ đó có thể chủ động đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm phát huy tối đa điểm mạnh, đồng thời giảm thiểu các điểm yếu, nguy cơ rủi ro có thể gặp phải.
Xem thêm

Đọc thêm

Kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân

Kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuNgày nay, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của và điều tiết của Nhà nước, cùng với sự phát triển của xã hội thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để tìm ra một chỗ đứng trên thị trường diễn ra ngày càng gay gắt. Vì vậy, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong kinh doanh, chủ động nắm bắt, nghiên cứu nhu cầu của khách hàng sau đó đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp.Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải kinh doanh trong một môi trường đầy biến động, nhu cầu thị trường thường xuyên biến đổi. Bởi vậy, bên cạnh việc tổ chức tốt quá trình sản xuất thì việc đẩy nhanh khâu tiêu thụ sản phẩm là vấn đề sống còn.Trong bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, tiêu thụ là khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất xã hội. Đặc biệt trong môi trường cạnh tranh hiện nay, tiêu thụ hàng hóa đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá hàng bán và luôn tìm kiếm các thị trường tiềm năng mới… nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng đồng thời đem lại hiệu quả hoạt động kinh doanh cao nhất cho bản thân doanh nghiệp.Ý thức được vai trò và tầm quan trọng của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ, với những kiến thức đã được học tại trường và việc tìm hiểu nghiên cứu thực tế tại Công ty Chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn Ths. Phạm Thị Thanh Hòa và các anh chị trong phòng Kế toán, em đã chọn và nghiên cứu đề tài “Kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.2. Mục đích nghiên cứuMục đích của việc nghiên cứu chuyên đề này là nhằm thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu thực tế tại Công ty. Đưa ra các thông tin, nhận định về công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty. Từ đó so sánh với lý thuyết được học và đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty.Qua việc nghiên cứu vấn đề này, em sẽ có những hiểu biết nhất định về phần hành kế toán này. Đồng thời giúp em có thể tiếp thu, trau dồi các kỹ năng cho bản thân, có cơ hội trải nghiệm thực tế và liên hệ lý luận.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứua. Đối tượngTìm hiểu và phân tích tình hình thực tế việc hạch toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân.Thông qua các chứng từ và số liệu trong sổ sách kế toán của Công ty chỉ ra những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong quá trình hạch toán.b. Phạm vi nghiên cứu+ Không gian:Đề tài được thực hiện tại phòng kế toán Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân.Địa chỉ: Số nhà 2, phố Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.+ Thời gian Thời gian thực tập từ ngày 15 tháng 12 năm 2014 đến ngày 20 tháng 03 năm 2015. Số liệu trình bày trong báo cáo là số liệu tháng 12 năm 2014.4. Phương pháp nghiên cứu+ Phương pháp thu thập thông tinKhi đi vào nghiên cứu một doanh nghiệp phải tìm hiểu, nghiên cứu, làm quen với thực tế công việc, lựa chọn thông tin chính xác và khoa học sẽ phục vụ tốt, đảm bảo yêu cầu và mục đích nghiên cứu. Để làm tốt khóa luận này , em đã sử dụng những phương pháp sau:Điều tra thống kê: Giúp chúng ta nắm bắt được hình thức ghi chép, hiểu được phương pháp hạch toán tiêu thụ trong doanh nghiệp. Mặt khác qua các tài liệu được cung cấp như: báo cáo kế toán tháng, quý, năm chúng ta sẽ có thông tin chính xác về tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa tại công ty.Phỏng vấn và tham khảo ý kiến của những cán bộ quản lý sẽ giúp ta rút ngắn thời gian thu thập thông tin. Ngoài ra nó còn giúp chúng ta có những nhận xét, đánh giá về một hoặc nhiều vấn đề trên các góc độ nhìn nhận khác nhau. Từ đó, sẽ lựa chọn những ý kiến nào là hay, là khoa học về vấn đề cần nghiên cứu.+ Phương pháp phân tích đánh giáPhương pháp phân tíchPhương pháp này sử dụng phương pháp so sánh để so sánh các chỉ tiêu giữa các kỳ với nhau. Chia nhỏ vấn đề nghiên cứu làm cho vấn đề trở nên đơn giản hóa, để từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu phân tích.Phương pháp đánh giáLà phương pháp dùng đơn vị đo lường bằng tiền tệ để biểu hiện giá trị của từng loại tài sản trong doanh nghiệp theo những nguyên tắc nhất định nào đó.5. Những đóng góp của khóa luậnBài viết đi sâu vào tìm hiểu chi tiết về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty, từ đó tìm ra những mặt hạn chế và tích cực đang tồn tại giúp công ty tiếp tục phát huy những mặt tích cực đồng thời hạn chế tối đa tới mức có thể những điểm còn tồn tại trong công tác hạch toán.Từ những ý kiến nhận xét về tình hình hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ thực tế tại công ty, bài viết đóng góp một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán đối với công ty nói riêng và đối với Nhà nước nói chung.6. Cấu trúc của khóa luậnNgoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương:Chương 1: Đặc điểm kinh doanh, tổ chức quản lý kinh doanh của công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân ảnh hưởng đến kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ.Chương 2: Thực trạng kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân.Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty chế biến thực phẩm và thương mại Hải Vân.
Xem thêm

Đọc thêm

Các biện pháp tính thuế giá trị gia tăng và lý giải vì sao có sự khác biệt trong cách tính

Các biện pháp tính thuế giá trị gia tăng và lý giải vì sao có sự khác biệt trong cách tính

Các biện pháp tính thuế giá trị gia tăng và lý giải vì sao có sự khác biệt trong cách tính Bài tập cá nhân Luật Tài chính Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Tài chính Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ. Điều 2 Luật Thuế GTGT năm 2008 quy định: “Thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Thuế GTGT được thu qua mỗi khâu của quá trình sản suất kinh doanh. Pháp luật Việt Nam ghi nhận và quy định tại Điều 9 Luật thuế GTGT 2008 hai phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. 1. Phương pháp khấu trừ thuế (Điều 10 Luật thuế GTGT, Điều 7 Nghị định 1232008NĐCP hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT). Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế GTGT phải nộp được tính trên cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ () đi số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Ta có công thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế như sau: Số thuế GTGT phải nộp = (Thuế GTGT đầu ra) – (Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ). Trong đó cần phải xác định các yếu tố: • Thuế giá trị gia tăng đầu ra: Là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế đã xác định và tính trong giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ (trong giá thanh toán). Phần thuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT. Cách tính thuế GTGT đầu ra như sau: Thuế GTGT đầu ra = (giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra) x ( thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó). Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT, theo quy định pháp luật tại Điều 7 Luật thuế GTGT. Thuế suất được quy định rõ cho từng loại ngành nghề kinh doanh, từng chủng loại hàng hóa dịch vụ tại Điều 8 Luật thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ () giá tính thuế xác định theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng. • Thuế GTGT đầu vào: Là thuế xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa, dịch vụ. Cách tính thuế GTGT đầu vào như sau: Thuế GTGT đầu vào bằng = tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế TGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. • Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: Là thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT. Thực hiện khấu trừ thuế đầu vào, cần phải lưu ý những điểm sau: Đối với tài sản có định đầu tư để sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT,phần thuế tương ứng giá trị tài sản đầu tư được xác định là thuế đầu vào để tính số thuế phải nộp; Không phải phần thuế GTGT của mọi giá trị hàng hóa dịch vụ ở khâu mua vào đều được coi là phần thuế đầu vào. Số thuế đầu vào được xác định tương ứng với phần hàng hóa, dịch vụ dùng cho hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; Số thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào, kê khai trong tháng đó.; Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải đủ điều kiện luật định. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. • Ví dụ: Doanh nghiệp A bán sắt, thép, giá bán chưa có thuế GTGT là 6 triệu đồngtấn; thuế GTGT 5%. Tổng giá trị vật tư mua vào để sản xuất là 2,5 triệu đồng (giá không có thuế GTGT), thuế GTGT là 10%. Thuế GTGT doanh nghiệp A phải nộp như sau: Thuế GTGT đầu vào: 2,5 triệu đồng x 10% = 0,25 triệu đồng; Thuế GTGT đầu ra: 6 triệu đồng x 5% = 0,3 triệu đồng; Thuế GTGT phải nộp: 0,3 triệu đồng – 0,25 triệu đồng = 0,05 triệu đồng. 2. Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT (Điều 11 Luật thuế GTGT 2008, Điều 8 Nghị định 1232008NĐCP hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT). Theo khoản 1 Điều 11 Luật thuế GTGT 2008 thì phương pháp trừ trực tiếp là phương pháp tính thuế mà theo đó “Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT.” Ta có công thức tính thuế GTGT phải nộp như sau: Số thuế GTGT phải nộp = (GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế) x (Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó). Trong đó cần phải xác định các yếu tố: • GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế: GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế được xác định = (giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ) – (giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng). Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng. Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng. Đối với hàng hóa, dịch vụ ở khâu mua vào, nếu không chứng minh được đã bán ra, đã cung ứng, không được xác định là phần giá trị được phép trừ đi khi tính phần GTGT. Điều này cũng có nghĩa, việc đầu tư tài sản cố định không được xác định là phần giá trị hàng hóa mua vào tương ứng được phép trừ. • Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó: Thuế suất được sử dụng trong phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là thuế suất áp dụng chung cho hàng hóa, dịch vụ mua vào và hàng hóa dịch vụ bán ra mà không có sự bóc tách rõ ràng như ở phương pháp khấu trừ thuế. Đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng: a) Cơ sở kinh doanh, cá nhân, hộ kinh doanh, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; c) Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý. Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý và hoạt động chế tác sản phẩm vàng, bạc, đá quý thì phải hạch toán riêng được hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý để áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. • Ví dụ: Một cơ sở sản xuất bánh kẹo, trong tháng bán được 200 thùng bánh kẹo, tổng doanh số bán là 30 triệu đồng. Giá trị vật tư, nguyên liệu mua ngoài để sản xuất là 10 triệu đồng. Thuế suất thuế GTGT là 10%, thuế GTGT cơ sở A phải nộp được tính như sau: GTGT của sản phẩm bán ra: 30 triệu đồng – 10 triệu đồng = 20 triệu đồng; Thuế GTGT phải nộp: 20 triệu đồng x 10% = 2 triệu đồng. 3. Tại sao pháp luật lại quy định có sự khác biệt trong phương pháp tính thuế GTGT? Về cơ bản, thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Dựa trên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và phần giá trị đầu vào tương ứng, pháp luật quy định có 2 phương pháp tính thuế GTGT. Vậy doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ thuế thì khác nhau thế nào? + Thứ nhất: Đối với phương pháp trực tiếp thì khi tính thuế GTGT, ta sẽ căn cứ vào tổng giá trị doanh thu thu về và chi phí bỏ ra, trong đó đã bao gồm cả thuế mà không tách riêng ra làm hai phần: doanh thu tính thuế (chưa có thuế) và thuế. Đối với phương pháp khấu trừ thì khi tính thuế GTGT, phần doanh thu chưa thuế và thuế được bóc tách ra riêng biệt và theo dõi riêng phục vụ cho mục đích quản lý. Thuế được theo dõi riêng có ưu điểm là có thể tính được tổng thuế phải nộp (khi phát sinh doanh thu) và tổng thuế được khấu trừ (khi phát sinh chi phí) một cách rõ ràng và nhanh chóng. + Thứ hai: Thuế phải nộp theo phương pháp trực tiếp không phải thuế gián thu, số thuế phải nộp sẽ trừ vào doanh thu thuần cuối kỳ để xác định kết quả kinh doanh. Trong khi đó, thuế phải nộp theo phương pháp khấu trừ là thuế gián thu, được theo dõi riêng nên không ảnh hưởng đến doanh thu thuần cuối kì. + Thứ ba: Tính thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ có hiện tượng đánh trùng thuế (tức là đánh nhiều lần thuế trên cùng một mức doanh thu), thuế khấu trừ khắc phục được hạn chế này. Lý do pháp luật lại quy định sự khác biệt ? Đó là do điều kiện của các chủ thể chịu thuế GTGT khác nhau, trong đó có điều kiện về kế toán, chứng từ, hóa đơn làm căn cứ tính thuế. Với những đặc điểm, lợi thế của phương pháp khấu trừ thuế, chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế phải đạt những điều kiện nhất định: Chủ thể nộp thuế có hoạt động kinh doanh ổn định, chấp hành chế độ hạch toán kế toán, chế độ sử dụng chứng từ hóa đơn theo đúng quy định; Chủ thể phải đăng kí thuế, đã được cơ quan thuế cấp mã số thuế theo đúng trình tự luật định; Chủ thể phải đăng kí với cơ quan thuế và được cơ quan thuế chấp nhận nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Do những yêu cầu như vậy, sẽ có những chủ thể kinh doanh không thể đáp ứng được điều kiện về hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế. Có thể là lo chủ thể đó nhận hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không có khả năng xuất chứng từ hóa đơn hoặc hóa đơn không hợp lệ, cũng có thể là do giá thanh toán của chủ thể ko đủ căn cứ chứng minh nên không không đủ cơ sở để xác định phần “giá trị tăng thêm”. Chính vì vậy mà pháp luật phải quy định một phương pháp tính thuế GTGT khác phù hợp với những đối tượng này. Đó là phương pháp trừ trực tiếp, theo đó chủ thể nộp thuế theo phương pháp trực tiếp là các chủ thể mà chưa đủ điều kiện về kế toán, chứng từ, hóa đơn làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế và cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quí. KẾT LUẬN: Với xu hướng đổi mới công tác quản lý thuế, đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ của các chủ thể nộp thuế, đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế ngày càng lớn và tiến tới áp dụng một phương pháp tính thuế cho tất cả các chủ thể nằm trong diện nộp thuế GTGT.
Xem thêm

Đọc thêm

Tăng cường và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân viên lễ tân ở khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.

Tăng cường và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân viên lễ tân ở khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.

Học phần: Nghiên cứu khoa học Đề tài: Tăng cường và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân viên lễ tân ở khách sạn Thắng Lợi Hà Nội. I. Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. 1.1.Vấn đề nghiên cứu. Chất lượng đội ngũ nhân viên lễ tân tại khách sạn Thắng Lợi và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân viên lễ tân. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Nhằm tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân viên lễ tân tại khách sạn Thắng Lợi từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ lễ tân; Tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp khách sạn; Tạo ra tính chuyên nghiệp và gắn bó giữa người lao động với doanh nghiệp khách sạn; Cập nhật các kĩ năng, kiến thức mới cho nhân viên giúp họ nâng cao trình độ như trình độ ngoại ngữ, trình độ tay nghề, khả năng giao tiếp ứng xử và sự chuyên môn hóa trong việc giúp khách sạn tạo ra lợi thế cạnh tranh về chất lượng nhân viên. 1.3. Nhiệm vụ Phân tích, nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng bộ phận lễ tân khách sạn Thắng Lợi Hà Nội. Khảo sát, thăm dò ý kiến của khách hàng, nhà quản trị khách sạn, nhân viên lễ tân tới sử dụng dịch vụ của khách sạn. Phạm vi nghiên cứu: Bộ phận lễ tân khách sạn Thắng Lợi Hà Nội. II. Tổng quan lí thuyết 2.1. Khái niệm nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định tính thường được dùng để xây dựng lý thuyết khoa học dựa vào quy trình quy nạp. Phương pháp nghiên cứu định tính là phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích dữ liệu dạng định tính nhằm khám phá quy luật của hiện tượng khoa học từ quan điểm của nhà nghiên cứu. Nghiên cứu định tính thường liên quan đến việc phân tích và diễn giải dữ liệu dạng định tính. Phương pháp nghiên cứu định tính rất có giá trị trong nghiên cứu xã hội vì nó cho phép: Tìm hiểu những vấn đề khó và nhạy cảm. Phát hiện những quần thể cần được chú trọng trước hết. Thăm dò tính khả thi, mức độ chấp nhận và sự phù hợp của chính sách, chương trình mới. Chỉ ra những hạn chế của chính sách can thiệp đang triển khai và đưa ra giải pháp điều chỉnh. Giúp thiết kế các công cụ điều tra chính xác hơn bằng cách phát hiện chủ đề nghiên cứu thích hợp và xác định các câu hỏi thích hợp. 2.2.Phương pháp thu thập dữ liệu định tính. + Phương pháp GT (Grounded theory): Là phương pháp xây dựng lý thuyết khoa học dựa trên dữ liệu thông qua việc thu thập, so sánh dữ liệu để nhận dạng, xây dựng và kết nối những dữ liệu với nhau. + Phương pháp tình huống (Case study method): Là phương pháp xây dựng lý thuyết từ dữ liệu ở dạng tình huống, đơn hoặc đa tình huống. 2.3.Công cụ thu thập dữ liệu định tính. + Quan sát (observation) +Nhóm bàn tròn (focus group) +Phỏng vấn chi tiết (indepth interview). III. Vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính vào đề tài nghiên cứu. 3.1. Tổng quan về khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện phân tích tài chính tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Hoàn thiện phân tích tài chính tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

1.1.1. Đặc điểm tài chính của NHTM NHTM là một tổ chức trung gian tài chính hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ mà chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung ứng dịch vụ thanh toán. Đặc điểm kinh doanh của NHTM đã quyết định đến đặc điểm của tài chính NHTM: Có tính nhạy cảm cao; phụ thuộc vào khả năng tạo tiền của NH; nguồn vốn chủ yếu là huy động; tài chính NHTM gắn liền với tài chính của khách hàng; tài chính NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro lớn. 1.1.2. Khái niệm và qui trình phân tích tài chính NHTM 1.1.2.1. Khái niệm: Phân tích tài chính NHTM là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ để thu thập và xử lý các thông tin kế toán và thông tin khác trong quản lý, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của NHTM, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp. 1.1.2.2. Trình tự tiến hành phân tích tài chính a. Thu thập thông tin: Nhà phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, phục vụ cho quá trình dự đoán thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị … trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính của NHTM là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. do vậy, phân tích tài chính trên thực tế chủ yếu là phân tích các báo cáo tài chính của NHTM. b. Xử lý thông tin: Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được. trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính đoán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định. c. Dự đoán và quyết định: Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định tài chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính. Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa giá trị xí nghiệp. đối với người cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư; đối với cấp trên của doanh nghiệp đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp…
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ QUÝ 1 NĂM 2016 CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 7

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ QUÝ 1 NĂM 2016 CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 7

Công ty Cổ phần Sông Đà 7Tiểu Khu 5,Thị trấn Ít Ong, Huyện Mường La, Tỉnh Sơn LaBáo cáo tài chínhcho kỳ kế toán từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/03/2016Các khoản phải thu được trình bày trên Báo cáo tài chính theo giá trị ghi sổ các khoản phải thu khách hàng và phải thu khác sau khi trừ đicác khoản dự phòng được lập cho các khoản nợ phải thu khó đòi.Dự phòng nợ phải thu khó đòi được trích lập cho từng khoản phải thu khó đòi căn cứ vào tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ hoặc dự kiếnII.7 . Hàng tồn khoHàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì hàng tồn kho được tính theo giá trịthuần có thể thực hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh đểcó được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại.Giá trị hàng tồn kho được xác định theo phương pháp bình quân gia quyềnPhương pháp xác định giá trị chi phí sản xuất kinh doanh dở dang của từng dự án, công trình: được xác định theo chi phí thực tế phát sinhđến thời điểm lập báo cáo tài chính sau khi trừ đi giá vốn ước tính của phần công việc đã hoàn thành và kết chuyển doanh thu đến thời điểmHàng tồn kho được hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên/kiểm kê định kỳ.Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm cuối kỳ là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thểthực hiện đượcII.8 . Tài sản cố định và khấu hao tài sản cố địnhTài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình được ghi nhận theo giá gốc. Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định hữu hình, tài sản cốđịnh vô hình được ghi nhận theo nguyên giá, hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại.Khấu hao được trích theo phương pháp đường thẳng. Thời gian khấu hao được ước tính như sau:- Máy móc, thiết bị03 - 10 năm- Phương tiện vận tải06 - 10 năm
Xem thêm

19 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC HÀNH HỌC PHẦN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

BÁO CÁO THỰC HÀNH HỌC PHẦN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

Doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá và thẩm định viên phải tuân theo đầy đủ trình tự sáu (6) bước sau đây: Bước 1: Xác định đối tượng và mục đích định giá Bước 2: Lập kế hoạch thẩm định giá. Bước 3: Khảo sát hiện trường và thu thập tài liệu Bước 4: Phân tích thông tin. Bước 5: Ước tính giá trị tài sản cần thẩm định giá. Bước 6: Lập báo cáo và chứng thư kết quả thẩm định giá.  Bước 1:Xác định đối tượng và mục đích định giá 1 Các đặc điểm cơ bản về pháp lý, về kinh tế kỹ thuật của tài sản cần thẩm định giá. 2 Mục đích thẩm định giá: Thẩm định viên phải xác định và nhận thức mục đích thẩm định giá của khách hàng. Mục đích thẩm định giá phải được nêu rõ trong báo cáo thẩm định giá. 3 Xác định khách hàng, yêu cầu của khách hàng; những người sử dụng kết quả thẩm định giá. 4 Những điều kiện ràng buộc trong xác định đối tượng thẩm định giá: Thẩm định viên phải đưa ra những giả thiết và những điều kiện bị hạn chế đối với: những yêu cầu và mục đích thẩm định giá của khách hàng; những yếu tố ràng buộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về: tính pháp lý, công dụng của tài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng kết quả; quyền và nghĩa vụ của thẩm định viên theo hợp đồng thẩm định giá. 5 Việc đưa ra những điều kiện hạn chế và ràng buộc của thẩm định viên phải dựa trên cơ sở: a Có sự xác nhận bằng văn bản của khách hàng và trên cơ sở nhận thức rõ ràng những điều kiện đó sẽ tác động đến bên thứ ba thông qua kết quả thẩm định giá. b Phù hợp với quy định của luật pháp và các quy định hiện hành khác có liên quan. c Trong quá trình thẩm định giá, nếu thẩm định viên thấy những điều kiện hạn chế và ràng buộc đưa ra là không chặt chẽ hoặc thiếu cơ sở thì phải xem xét lại và thông báo ngay cho giám đốc doanh nghiệp, tổ chức thẩm định giá và cho khách hàng. 6 Xác định thời điểm thẩm định giá. Việc xác định đặc điểm, bản chất (tự nhiên, pháp lý) của tài sản cần thẩm định giá phải được thực hiện ngay sau khi ký hợp đồng thẩm định giá và ý kiến đánh giá về giá trị của tài sản được đưa ra trong phạm vi thời gian cho phép của hợp đồng. 7 Xác định nguồn dữ liệu cần thiết cho thẩm định giá.
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang

Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang

Ngày nay, kinh tế thế giới đang phát triển với trình độ ngày càng cao. Kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập và dần phát triển theo xu hướng kinh tế khu vực và quốc tế. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng đa dạng, phong phú và cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi luật pháp và các biện pháp kinh tế của Nhà nước phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế phát triển. Trong xu hướng chung đó, kế toán cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện về nội dung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức để đáp ứng nhu cầu quản lý ngày càng cao của nền sản xuất xã hội. Để có thể quản lý hoạt động kinh doanh thì hạch toán kế toán là một công cụ không thể thiếu. Đó là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế tài chính, đảm nhận hệ thống tổ chức thông tin, làm căn cứ để ra các quyết định kinh tế. Là công cụ quản lý kinh tế tài chính, kế toán cung cấp các thông tin kinh tế tài chính hiện thực, có giá trị pháp lý và độ tin cậy cao, giúp doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan đánh giá đúng đắn tình hình hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó ban quản trị doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp. Vì vậy, kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua công tác kế toán, doanh nghiệp sẽ biết được thị trường nào, mặt hàng nào mà mình bán hàng có hiệu quả nhất. Điều này không những đảm bảo cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường đầy biến động mà còn cho phép doanh nghiệp đạt được những mục tiêu kinh tế đã đề ra về doanh thu, lợi nhuận, thị phần, uy tín ... Xuất phát từ nhận thức và qua thời gian thực tế tại Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang, Em thấy rằng: Bán hàng là một trong những hoạt động chính của Công ty. Nó giúp ban quản trị Công ty nắm rõ được doanh thu, lợi nhuận, tình hình kinh doanh của Công ty và duy trì sự tồn tại và phát triển Công ty. Được sự chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Ngô Xuân Tỵ quá trình tìm hiểu thực tế, Em chọn đề tài chuyên đề cuối khóa là “Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang”. Chuyên đề cuối khóa gồm 3 chương: Chương I: Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp. Chương II: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang. Chương III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang. Thực tế, Em đã cố gắng nghiên cứu, hoàn thành và trình bày chuyên đề một cách khoa học, hợp lý nhưng do thời gian và khả năng có hạn nên bài viết không thể tránh những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được những đánh giá, nhận xét và góp ý của các Thầy cô, Ban lãnh đạo Công ty và bạn đọc để bài viết của em hoàn thiện hơn. Qua bài viết, Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Ngô Xuân Tỵ Phòng Tài chính kế toán và Ban lãnh đạo Công ty TNHH Phát triển công nghệ Minh Quang đã hết sức giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề này.
Xem thêm

Đọc thêm

LẬP KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CHO SẢN PHẨM LAPTOP DELL TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRẦN ANH(HÀ NỘI)

LẬP KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CHO SẢN PHẨM LAPTOP DELL TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRẦN ANH(HÀ NỘI)

LẬP KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CHO SẢN PHẨM LAPTOP DELL TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRẦN ANH(HÀ NỘI)Phần 1:Giới thiệu về Trần Anh.IGiới thiệu chung về doanh nghiệp thương mại Trần Anh1. Quá trình hình thành và phát triển:2 Tầm nhìn của công ty Trần Anh:3 Giá trị cốt lõi của công ty Trần Anh:4 Triết lý kinh doanh của công ty Trần Anh:Phần 2:Xây dựng kế hoạch bán hàng1 Dự báo bán hàng 1.1.1 Các căn cứ dự báo bán hàng.1.1.2.Phương pháp dự báo bán hàng.1.1.3 Quy trình dự báo bán hàng.3 Xác định các hoạt động và chương trình bán hàng. 4. Xây dựng ngân sách bán hàng Phần 3:Nhận xét công tác xây dựng kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp .
Xem thêm

Đọc thêm

Liên hệ thực tiễn công tác phân tích công việc tại công ty Cổ phần Đầu tư PVINCONESS

Liên hệ thực tiễn công tác phân tích công việc tại công ty Cổ phần Đầu tư PVINCONESS

Liên hệ thực tiễn công tác phân tích công việc tại công ty Cổ phần Đầu tư PVINCONESS.Liên hệ thực tiễn công tác phân tích công việc tại công ty Cổ phần Đầu tư PVINCONESS.I, Cơ sở lý thuyết.1.Khái niệm phân tích công việc. Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện công việc. Phân tích công việc là một quá trình xác định và ghi chép lại các thông tin liên quan đến bản chất của từng công việc cụ thể. Đây là quá trình xác định trách nhiệm, nhiệm vụ liên quan đến công việc và các kỹ năng kiến thức cần có để thực hiện tốt công việc. Phân tích công việc cung cấp các thông tin về yêu cầu, đặc điểm của công việc, làm cơ sở cho việc xây dựng bảng mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn công việc. Đây cũng là quá trình xác định sự khác biệt của một công việc này với công việc khác. 2. Quy trình phân tích công việc2.1 Quy trìnhBước 1: Rà soát lại cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các bộ phận.Đây là bước công việc được thực hiện đầu tiên nhằm kiểm tra sự phù hợp của cơ cấu tổ chức hiện tại với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo hoạt động phân tích công việc được thực hiện có ý nghĩa. Đồng thời với cơ cấu tổ chức phù hợp cần rà soát lại chức năng nhiệm vụ của các bộ phận đảm bảo không trùng lặp, không chồng chéo, đủ và hợp lý để thực hiện chiến lược kinh doanh đã xác định.Bước 2: Lập danh sách công việc cần phân tích.Người thực hiện phân tích công việc cần xác định công việc ở từng bộ phận. Cần lưu ý, tương ứng với mỗi công việc tức là được bổ nhiệm ở một chức danh. Điều này là mỗi công việc tương đương với một chức danh, một vị trí. Nếu hai người thực hiện công việc giống nhau cần gọi với chức danh như nhau, còn chức danh khác nhau tức là công việc khác nhau. Kết thúc bước này doanh nghiệp se có được danh sách các công việc cần phân tích.Bước 3: Lựa chọn đối tượng tham gia phân tích công việc bao gồm: Người thực hiện công việc Quản lý trực tiếp Nhân viên nhân sự hoặc tư vấn bên ngoài.Người thực hiện công việc sẽ là người có thông tin chi tiết, cụ thể về việc mà họ thực hiện, do vậy sẽ giúp cung cấp các thông tin chi tiết về công việc. Bước này cần thiết trong các trường hợp một công việc có nhiều người thực hiện. Khi đó cần có sự lựa chọn người thực hiên công việc tiêu biểu để phân tích. Còn quản lý trực tiếp sẽ có thông tin bao quát và là người chịu trách nhiệm chính. Nhân viên nhân sự hoặc tư vấn bên ngoài sẽ chịu trách nhiệm hỗ trợ về kỹ thuật và điều phối dự án phân tích công việc.Bước 4: Thu nhập các thông tin về công việc Xác định các thông tin về công việc cần thu nhập; Thiết kế biểu mẫu thu nhập thông tin; Lựa chọn phương pháp thu thập thông tin: như phương pháp bản hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp nhật ký công việc. Tùy thuộc loại công việc lựa chọn loại phương pháp thu nhập thông tin cho phù hợp. Khẳng định tính chính xác và đầy đủ của thông tin về công việc; Bổ sung những thông tin còn thiếu và điều chỉnh những thông tin sai lệch; Nhận được sự nhất trí của người thực hiện về những thông tin và kết luận phân tích công việc.Bước 5: Xây dựng bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn công việcSau khi kiểm tra lại thông tin thì bộ phận phụ trách công tác phân tích công việc sẽ tiến hành tổng hợp, đưa các thông tin thu thập được vào các biểu mẫu bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn công việc.Bước 6: Hoàn chỉnh và xin phê duyệt.Sau khi bản tiêu chuẩn công việc và mô tả công việc được xây dựng, cần tiến hành xin ý kiến các cá nhân có liên quan sau đó hoàn chỉnh và xin phê duyệt để mô tả công việc và tiêu chuẩn
Xem thêm

Đọc thêm

Khoá luận tốt nghiệp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty bánh kẹo Tràng An

Khoá luận tốt nghiệp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty bánh kẹo Tràng An

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều cần hiểu rõ các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Nghĩa là doanh nghiệp phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý và phù hợp với nhu cầu thị trường. Trong thời gian qua đã có những biến động lớn về giá cả thị trường, giá nguyên vật liệu, vật tư, công cụ dụng cụ… liên tục tăng làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Trước tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì cạnh tranh về giá chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả, vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải giảm tối đa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xuống nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, để đạt được mục đích này thì không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện được, do vậy hoàn thiện công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là điều vô cùng quan trọng giúp doanh nghiệp tính toán chính xác các chi phí sản xuất và tính đủ giá thành sản phẩm, giúp doanh nghiệp xác định chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Giá thành sản phẩm là một trong những chỉ tiêu kinh tế quan trọng, nó phản ánh chật lượng của hoạt động sản xuất. Ngoài ra các thông tin này cũng được kế toán cung cấp phù hợp và chính xác cho ban lãnh đạo công ty để đề ra các chiến lược và biện pháp phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận. Đảm bảo việc sử dụng ốn có hiệu quả nhằm đảm bảo tính chủ động trong sản xuất cũng như chủ động về mặt tài chính.Với những kiến thức mà tôi đã học được ở trường trong suốt thời gian qua kết hợp với những gì mà tôi đã làm được trong thời gian thực tập tại công ty, cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Lê Thị Dinh tôi đã chọn đề tài: Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Tràng An 2 làm đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập lớn môn dự toán ngân sách doanh nghiệp

Bài tập lớn môn dự toán ngân sách doanh nghiệp

Phần 1: Nội dung của một số loại ngân sách cơ bản. 1, Ngân sách phải thu tiền mặt. Phản ánh số tiền thực tế thu về cho một kì ngân sách từ việc cung ứng hàng hóa dịch vụ cho khách hàng Phản ánh khoản thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. 2. Ngân sách mua hàng. Chỉ ra số lượng hàng mua cần thiết để đáp ứng doanh thu bán hàng phù hợp với lượng hàng tồn kho. 3. Ngân sách phải trả tiền mặt. Phản ánh số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra để phục vụ hoat động kinh doanh của doanh nghiệp trong kì nhất định. Phản ánh cả thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Riêng chi phí khấu hao tài sản sẽ không phản ánh vào ngân sách phải trả tiền mặt mà phán ánh khoản tiền thực tế chi ra để có được tài sản cố định vào một thời kì nhất định. 4.Ngân sách tiền mặt Chỉ ra số dư tiền mặt tại một thời điểm nhất định và làm cơ sở để xác định chỉ tiêu tiền mặt trên bảng cân đối kế toán. 5.Ngân sách báo cáo kết quả kinh doanh Dự báo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp trong một kì ngân sách 6.Ngân sách bảng cân đối kế toán. Dự báo tình hình tài sản nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định thường vào cuối quý hoặc cuối năm.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề