ĐỀ 56 DỰA VÀO VĂN BẢN QUOT CÔ TÔ QUOT CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN EM HÃY TẢ LẠI HÌNH ẢNH MỘT VÙNG BIỂN VÀO BUỔI SÁNG SỚM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐỀ 56 DỰA VÀO VĂN BẢN QUOT CÔ TÔ QUOT CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN EM HÃY TẢ LẠI HÌNH ẢNH MỘT VÙNG BIỂN VÀO BUỔI SÁNG SỚM":

Cảnh mặt trời mọc trên biển (Dựa vào văn bản Cô Tô - Nguyễn Tuân)

Cảnh mặt trời mọc trên biển (Dựa vào văn bản Cô Tô - Nguyễn Tuân)

Cảnh mặt trời mọc trên biển (Dựa vào văn bản Cô Tô - Nguyễn Tuân) Mỗi người có một sở thích riêng, bạn thích ngắm cảnh sông nước hiền hòa chảy, bạn thích ngắm cánh đồng lúa xanh... Còn riêng em lại thích ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc trên biển. Hình ảnh mặt trời mọc trên biển vào buổi sáng đẹp trời trong văn bản Cô Tô của nhà văn Nguyền Tuân đã để lại trong em một sự háo hức kì lạ . Khi bầu trời còn ướt đẫm sương đêm, màn sương mỏng manh, mờ mờ, ảo ảo như bao ttrùm cả mặt biển , không nom thấy đảo xa chỉ thấy một màu trắng đục. Sóng biển vẫn rì rào đều đều xô bờ cát trắng hệt như một bản tình ca không lời bất tận.
Xem thêm

Đọc thêm

Lập một dàn ý tả biển vào một buổi sáng đẹp trời

LẬP MỘT DÀN Ý TẢ BIỂN VÀO MỘT BUỔI SÁNG ĐẸP TRỜI

Mở bài: Giới thiệu cảnh biển mà em tả là ở đâu?Nhân dịp nào em đến đây và đến cùng với ai?                      Hai cha con bước đi trên cát                      Ánh mặt trời rực rỡ biển xanh                      Bóng cha dài lênh khênh                      Bónq con tròn chắc nịch                      Sau trận mưa đêm rả rích                      Cát càng mịn, biển càng trong                      Cho dắt con đi dưới ánh mai hồng. (Hoàng Trung Thông)    Dựa vào những hình ảnh trong bài thơ trên, em hãy tưởng tượng và lập một dàn ý tả biển vào một buổi sáng đẹp trời với tâm trạng vui sướng của người con lần đầu tiên được cha cho đi nghỉ ở biển.    Dàn ý    - Mở bài: Giới thiệu cảnh biển mà em tả là ở đâu?    Nhân dịp nào em đến đây và đến cùng với ai?    - Thân bài:    + Tả bao quát cảnh biển vào buổi sáng (ánh mặt trời như lòng quả trứng gà, biển như dải lụa đào rực rỡ).    + Cảnh biển khi mặt trời lên cao (nước biển lóng lánh, biển rực rỡ).    + Bãi cát vàng in bóng hai cha con.    + Những đàn hải âu chao liệng - biển hiền lành.    + Nêu sơ lược về nguồn lợi của biển dưới tầm mắt của em.    Kết bài: Nêu những suy nghĩ của em lần đầu tiên được cha cho đi nghỉ ở biển. Bài làm tham khảo    Chuyến đi nghỉ ở biển Vũng Tàu cùng với bố đã để lại trong em nhiều ấn tượng đẹp.    Mùa hè năm vừa rồi là một mùa hè có nhiều thú vị. Bố cùng em từ Sài Gòn đến Vũng Tàu trong thời gian ba tiếng đồng hồ. Xe khởi hành vào lúc bốn giờ nên bảy giờ sáng em và bố đã có mặt tại đây.    Đúng là: Khi ra biển mới thấy biển đẹp                Khi ngắm biển, mới thấy biển hiền.    Vào một buổi sáng mùa hè mát mẻ, em được ngắm biển. Ôi! Biển tuyệt đẹp. Phải chăng cái đẹp ấy là do tạo hoá ban tặng cho con người.    Ánh mặt trời chiếu nghiêng lên những gợn sóng nhấp nhô dang xô vào bờ trông như những núi vàng nho nhỏ, vừa rực rỡ vừa sâu thẳm, ông mặt trời đỏ hồng như lòng quả trứng gà. Biển đầy sức sống, ào dậy với niềm tin mãnh liệt đón chào ngày mới. Phía tít trời xa, biển như một dải lụa đào rực rỡ. Nhưng lùi dần về phía bờ biển là một dải băng vĩ đại tô nhuộm bởi một màu xanh biếc.    Mặt trời càng lên cao, nước biển càng lóng lánh.    Biển lộng lẫy trong bộ áo vàng rực rỡ. Muôn vàn hạt bụi li ti nhảy nhót ung táng trên đầu ngọn sóng. Dưới ánh nắng, bãi cát vàng rực lên. Hai cha con bước đi trên cát. Bóng cha em cao dài lênh khênh, bóng em thì tròn hắc nịch. Thật thích thú biết bao! Cha dắt em đi trong nắng mai hồng. Trong các kẽ đá, tiếng nước biển va đập rì rầm như lời tâm sự. Những cánh hải âu chao liệng như muốn dang rộng đôi cánh ôm ấp lòng đại dương.    Tuy được ngắm biển trong thời gian ngắn, nhưng em đã cảm thấy biển như người bạn thân thiết gần gũi. Người bạn ấy vừa chân thật hiền hoà vừa chia sẻ những nỗi niềm tâm tư vui buồn với em. Phong cảnh ở đây thật hữu tình. Nhìn ra xa có núi lớn, núi nhỏ tô điểm thêm cho sắc màu của biển.    Em đã say với biển, say với những cảm giác khoan khoái, dễ chịu mà biển đã đem lại cho em. Nếu có dịp, em sẽ về lại với biển, với quê hương Vũng Tàu yêu dấu.  
Xem thêm

2 Đọc thêm

Em hãy tả lại khu vườn vào buổi sáng đẹp trời trong bài văn "Lao xao" của Duy Khán.

EM HÃY TẢ LẠI KHU VƯỜN VÀO BUỔI SÁNG ĐẸP TRỜI TRONG BÀI VĂN "LAO XAO" CỦA DUY KHÁN.

I. Mở bài Buổi sáng đầu hè, khu vườn thật đẹp và sôi động bởi tiếng chim ca. II. Thân bài * Tả khu vườn: - Hoa lá chuyển mình theo tiếng gọi của ngày mới: + Cây hoa lan nở từng chùm. + Hoa dẽ mảnh khảnh, hoa móng rồng bụ bẫm. + Hàng râm bụt đỏ tươi và bóng bẩy. + Ong vàng ,ong mật,ong vò đi hút mật. - Chim muông hội tụ,cuộc sống sôi nổi: + Bồ các kêu vang. + Sáo sậu,sáo đen hót thánh thót. + Bìm bịp lững thững trong bụi cây. + Chào mào liến thoắng. + Chim sâu nhảy nhót trong vòm lá. +Chim ngói ghé qua rồi vội vã kéo nhau về phía cánh đồng. * Tả trận đánh giữa diều hâu, gà mẹ và chèo bẻo: - Trên tầng cao, một con diều hâu rú lên và liệng vòng quanh. - Đàn gà con đang vui đùa bỗng chạy núp vào cánh mẹ. - Gà mẹ dang rộng cánh để che chở cho đàn con. - Diều hâu quắp chú gà con bay lên ngọn tre. - Chèo bẻo tấn công diều hâu, cắt. * Khu vườn thật sinh động, xinh đẹp. III. Kết bài - Nhìn khu vườn, lòng em thêm rạo rực. - Em mong nó mãi phảng phất mùi hương của hoa thơm, trái ngọt, mãi mãi vọng về tiếng chim hót líu lo. Tham khảo
Xem thêm

1 Đọc thêm

Trong vai nhà văn Nguyễn Tuân, hãy tả lại cảm giác trong những ngày ở Cô Tô

TRONG VAI NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN, HÃY TẢ LẠI CẢM GIÁC TRONG NHỮNG NGÀY Ở CÔ TÔ

Nhớ hồi đó vào khoảng năm 1976, tôi được Hội Nhà văn cử ra đảo Cô tô thực tế để viết về cuộc sống lao động của nhân dân vùng đảo sau khi đất nước hoà bình. Lúc nhận quyết định, nhà văn Nguyên Hồng còn nói đùa tôi Bác Tuân thích đi du lịch vậy chuyến này hợp ý quá còn gì. Thú thực lúc đầu tôi cảm thấy sung sướng vô cùng nhưng cũng phải chờ đến tận khi đặt chân đến đảo Cô tô, tôi mới thấy hết sự sung sướng vô bờ ấy. Đoàn chúng tôi có sáu người, ra thăm đảo Cô tô hơn tuần lễ. Sau mấy ngày còn bỡ ngỡ với cuộc sống của ngư dân vùng đảo chúng tôi đã kịp hoà mình.Mấy ngày cuối cùng trên đảo có thể nói là những ngày hoà nhập không phân biệt được đâu là người ở đất liền, đâu là người vùng đảo, đâu là một anh nhà văn với bên kia là một bác thuyền chài. Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo và sáng sủa. Từ hôm ra đảo Cô Tô, hôm nao cũng vậy tôi dạy từ rất sớm. Bầu trời Cô Tô sau cơn bão cho tôi một liên tưởng nghệ thuật thú vị. Dường như cây trên đảo thêm xanh mượt, nước biển đậm đà hơn và cát bụi càng vàng giòn hơn nữa. Thiên nhiên đã vậy, con người lại càng trỗi dạy khoẻ hơn sau cuộc chiến tranh. Hôm ấy, chúng toi leo dốc lên đồn Cô tô (cái đồn của lính khố xanh ngày trước) để hỏi thăm sức khoẻ của anh em chiếc sĩ bộ binh với hải quân. Anh em vui mừng phấn khởi khiến chúng tôi cũng cảm thấy vui lây. Tôi xin phép đồng chí chỉ huy để được treo lên đỉnh nóc đồn. Ôi cảnh Cô tô mà đứng ngắm ở trên cao thì thật là vô cùng tuyệt diệt. Bốn bề bát ngày đại dương xen chồng những hòn đảo vừa to vừa nhỏ. Trông cảnh mà thêm mến yêu hòn đảo. Trông cảnh mà cứ ngỡ mình sinh ra và lớn lên cùng sóng nước ở đây chứ không phải ởthủ đô Hà Nội. Đêm ấy, chúng tôi ngủ ngon lành sau một ngày thực tế sôi nổ khắp nơi. Nhưng trước khi vào ngủ, tôi còn rủ anh bạn trẻ làm nghề chụp ảnh, mai dạy sớm đi chụp cảnh bình mình. Sáng ngày thứ sáu, tôi dạy từ canh tư nhưng gọi mãi anh thợ ảnh không chịu dạy nên đành đi một mình. Trời còn tối, tôi bước loạng choạng trên đám đá đầu sư tử mũi đảo. Rồi tôi chọn một mũi đá vừa ngồi hút thuốc, vừa phục mặt trời lên. Mặt trời sắp nhú. Cả vùng trời phía đông bắt đầu nhoè nhoè màu trắng, còn chỗ tôi ngồi, trời vẫn nhờ nhờ. Rồi ông mặt trời cũng nhú lên tròn trĩnh và phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên cực lớn. Quả trứng cứ từ từ đặt lên cái mâm bạc được dệt bằng cả cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Cảnh bình minh sao mà yên bình đến thế. Ngồi trên mũi đá, tôi mải mê ngắm nhìn không biết chán những cánh nhạn mùa thu chao đi chao lại cùng một con hải âu thức sớm đang bay là là trên mặt sóng. Khi mặt trời đã lên cao, tôi quay về cái giếng nước ngọt ngay rìa đảo. Về đến nơi đã thấy mọi người đông đúc lắm rồi. Người thì tắm, người thì gánh nước. Tôi vục một cục nước rồi phả lên mặt để cảm nhận cái ngọt và mát ở cái nô mà ngay cả trong hơi gió cũng dễ nhận thấy có cái gì mằn mặn. Hôm ấy, tôi gặp người anh hùng Câu Hoà Măn, anh hùng lao động sản xuất của hợp tác xã này. Anh đang quẩy nước bên bờ giếng, rất khỏe và vui tươi:”Đi xa khơi, xa lắm mà, có khi mười mất ngày mới về. Nước ngọt cho vào sạp, chỉ để uống. Vo gạo nấu cơm cũng không được lấy nước ngọt. Vo gạo bằng nước bể thôi. Ôi! Yêu biết mấy những con người như thế. Họ biết chắt chiu, biết tiết kiệm từng giọt nước thì lo gì nước mình không có dịp đi lên. Không biết tự bao giờ mà tôi đã hoà bình vào cuộc sống ở Cô Tô. Cũng gánh nước, cũng tắm, cũng chăm sóc Hải sâm.. và cũng cùng cảm nhận cái cảm giác được làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mình.  loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích bài Chiều tối

PHÂN TÍCH BÀI CHIỀU TỐI

Đề bài: Phân tích bài Chiều tối - Mộ của Hồ Chí Minh Thơ Bác có những bài đọc hiểu ngay không phải phân tích, bình phẩm gì thêm, đó là trường hợp Bác viết để tuyên truyền, kiểu như: "Năm qua thắng lợi vẻ vang…". Nhưng có bài phải đọc hai ba lần mới hiểu hết cái hay của nó, đó là trường hợp bài: "Mộ" (Chiều tối) mà tôi đề cập đến trong bài viết này. - Mới đọc lần đầu bài thơ "Mộ" tưởng như không có gì. Đây chỉ là một bài thơ tả cảnh bình thường. Bác tả cảnh chiều tối ở một vùng quê miền núi nơi Bác vừa đi qua. Buổi chiều tối có mây trôi, chim bay, có một cô gái đang xay ngô và có một ngọn lửa vừa rực hồng trong lò than… Chỉ thế thôi. Nhưng không lẽ chỉ chừng ấy ? Tôi đọc đi, đọc lại, cố tìm điều ẩn chứa đằng sau những câu thơ hết sức bình dị kia và bắt gặp niềm cảm thông kín đáo của Bác thấm đẫm trong từng câu, từng chữ. Bác cảm thông với cánh chim, với làn mây với cô gái miền núi xay ngô trong xóm vắng. Nhìn chim bay, Bác hiểu chim đang mỏi cánh tìm về rừng. Ta vẫn ngắm cánh chim bay trong buổi chiều tà nhưng đã mấy ai hiểu được nó đang mỏi cánh? Phải thực sự giao cảm mới hạ được chữ "quyện" ấy. Người bình thường chỉ có thể viết: chim bay về rừng tìm chốn ngủ. Thêm một từ "mỏi" vào đã thay đổi hẳn ý tưởng của câu thơ. - Và người bình thường cũng chỉ viết như bản dịch: "Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không". Ở nguyên tác, Bác không viết là chòm mây, làn mây hay đám mây mà là "cô vân" nghĩa là chỉ một mình nó cô độc, lẻ loi, nhỏ bé trên bầu trời mênh mông vô định. Người dịch cũng hiểu điều đó nhưng bất lực không thể dịch nổi đành tạm dùng "chòm mây" vậy. Nhưng từ "cô vân" đổi sang "chòm mây" đã đánh mất hết vẻ đẹp của câu thơ. "Chòm mây" không biểu hiện được niềm cảm thông sâu sắc của Bác, phải là "cô vân" mới thể hiện nỗi lòng của Bác gửi vào trong đó. Ta vẫn ngắm mây chiều trôi chầm chậm nhưng đã mấy ai thấu hiểu nỗi niềm cô đơn, lẻ loi, bơ vơ của nó? Và cũng phải thực sự giao cảm và đồng cảm mới hạ được chữ "cô" ấy. ”Quyện điểu ………….rực hồng…” - Tôi chợt nhớ đến một câu thơ rất hay của Lý Bạch khi tiễn Mạnh Hạo Nhiên: "Cô phàm viễn ảnh bích không tận". Ngô Tất Tố phải chọn mãi mới tìm được chữ "bóng buồm" để dịch "cô phàm": "Bóng buồm đã cách bầu không…". Có lẽ khi viết "Cô vân mạn mạn độ thiên không…" trong tâm hồn Bác đã in dấu câu thơ nổi tiếng kia của Lý Bạch? Bác không chỉ thương một "quyện điểu quy lâm "một "cô vân mạn mạn" mà còn cảm thương cả cô gái xay ngô. Cô gái miệt mài xay, xay một cách kiên nhẫn, âm thầm. Xay, xay mãi. Vòng cối xay cứ trở đi, trở lại: "Ma bao túc…" rồi "bao túc ma"… đều đều như thế, nhẫn nại như thế cho đến khi xay xong ngô thì trời đã tối lắm rồi: lửa đã rực hồng lên. Nguyễn Khuyến ngày trước lấy động để tả tĩnh: "Cá đâu đớp động dưới chân bèo!". Nghe được tiếng cá đớp mồi, xung quanh phải vô cùng tĩnh lặng. Ở đây Bác lấy sáng để tả tối. Phải tối đến mức nào mới thấy ngọn lửa rực lên như vậy. - Bài thơ diễn tả một cách tài tình bước đi của thời gian. Tất cả đều chuyển động, cánh chim đang bay, mây đang trôi và cối xay cũng đang xoay vòng. Chim về rừng, mây mất hút giữa khoảng không và cô gái xay ngô dừng tay khi đã xay xong. Ánh lửa bùng lên sưởi ấm cả không gian vắng lặng. Chỉ còn Bác là đang "cất bước trên đường thẳm". Bác quên mình "tay bị trói giật cánh khỉ, cổ mang xiềng, có những người lính mang súng theo". Ta chỉ thấy chim mỏi cánh, mây cô lẻ bay chầm chậm mà không thấy Bác cũng đang lê bước trên đường. - Một người bị trói, bị giải đi như vậy vẫn còn ngắm một cánh chim, một làn mây, một cô gái xay ngô đã là khác thường rồi, huống hồ Bác còn quên Cảnh ngộ mình để cảm thông cho cảnh vật và con người xung quanh. Cái hay, cái sâu sắc của bài thơ chính là ở chỗ đó. Nhưng điều này đọc lướt qua không thể cảm nhận ngay được. Bởi vậy, những bài thơ như "Chiều tối" buộc ta đọc thật kỹ vừa đọc vừa suy ngẫm mới thấm thía cái dư vị đặc biệt của nó. Bài viết sưu tầm
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đọc hiểu bài thơ "Ánh trăng" của Nguyễn Duy

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ "ÁNH TRĂNG" CỦA NGUYỄN DUY

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: - Nhà thơ Nguyễn Duy (tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ), sinh năm1948, tại xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá. Tham gia công tác từ 1965, làm tiểu đội trưởng dân quân trực chiến khu vực Hàm Rồng - Thanh Hoá. Năm 1966, nhập ngũ tại Bộ tư lệnh Thông tin, lính đường dây, tham gia chiến đấu tại các chiến trường: Khe Sanh - Đường 9 - Nam Lào. Năm 1979, tham gia mặt trận phía Nam và phía Bắc. Từ 1976, chuyển khỏi quân đội về làm báo Văn nghệ Giải phóng. Hiện công tác tại tuần báo Văn nghệ. Tác phẩm đã xuất bản: Cát trắng (thơ, 1973); Ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987); Đường xa (thơ, 1989); Quà tặng (thơ, 1990); Về (thơ, 1994). Nhà thơ đã được nhận: Giải nhất thơ tuần báo Văn nghệ (1973); Tặng thưởng loại A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (1985). - Xuất hiện vào chặng cuối của chiến tranh chống Mĩ cứu nước, từ khoảng 1972 trở đi, Nguyễn Duy đã trở thành một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Cho đến nay, Nguyễn Duy vẫn là một trong số không nhiều nhà thơ "thời ấy" còn sung sức và được bạn đọc yêu thích. Có thể thấy tài năng và con đường thơ của ông phát triển và khẳng định gắn chặt với những năm tháng đầy biến động của lịch sử dân tộc. Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, với chùm thơ đăng trên báo Văn nghệ, 1972, Nguyễn Duy đã chiếm được lòng mến mộ của độc giả. Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy. Ông khẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh được", "quen thuộc mà không nhàm chán", "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên", chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái hiền hậu, một cái gì rất Việt Nam". Cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973 tiếp tục khẳng định tài năng của nhà thơ trẻ này bằng việc trao Giải Nhất (đồng giải với Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm và Lâm Thị Mĩ Dạ) cho chùm thơ 4 bài của Nguyễn Duy (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Năm 1973, tập thơ đầu tay của ông ra đời, tập Cát trắng. Tập thơ tuy không phải bài nào cũng đạt, nhưng người đọc đều thấy có nét đặc sắc riêng dễ nhận ra. Đó là sự dung dị, đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, là cái chân chất, chắc bền sâu kín. Nguyễn Duy thường hướng nhiều về đất, ca ngợi cái sức mạnh âm thầm lặng lẽ, cái cần cù bền bỉ và chịu đựng hi sinh. Những bài như Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Em bé lạc mẹ,... là những bài thơ như thế. Sau chiến thắng 1975, Nguyễn Duy vẫn say sưa và tiếp tục con đường thơ của mình. Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen thuộc, mà vẫn rất hấp dẫn đối với người đọc. Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy là tập ánh trăng (1984). Tập thơ được coi là một bước tiến trong thơ Nguyễn Duy, tập thơ đã được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984 (cùng tập thơ Hoa trên đá của Chế Lan Viên). ánh trăng tiếp tục viết về bộ đội, về công cuộc đời người lính sau chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía những trăn trở băn khoăn (ánh trăng, Nghe tắc kè kêu trong thành phố...). Cũng ở tập thơ này Nguyễn Duy còn dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng, cây cỏ, những vùng quê với những con người thân thuộc bằng một tình cảm thiết tha, nặng tình, nặng nghĩa (Đò lèn, Tuổi thơ, Cầu Bố, ông già sông Hòng, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng...). Vẫn tiếp tục chất giọng ca dao đậm đà, thân thuộc, nhiều bài trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuần nhị, ngọt ngào, nhiều khi khó mà biết phân biệt được những bài ca dao (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, 2004). 2. Tác phẩm: Bài thơ ánh trăng được tác giả Nguyễn Duy viết năm 1978, sau đưa vào tập ánh trăng - tập thơ được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Bài thơ được xem như là niềm thôi thúc của tác giả, nhớ về cội nguồn và ý thức trước lẽ sống thuỷ chung. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ - hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của "Nước chè tươi rót vàng mơ" ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào: Tắc kè... tắc kè... tôi giật mình (...) cái âm thanh của rừng lạc về thành phố (...) Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia" (Nghe tắc kè kêu trong thành phố) Những năm tháng "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái "giật mình". Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái "giật mình" cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình. Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức: Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng: Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng "như người dưng qua đường" trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao "ở rừng", khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy: Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ của toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt của mạch cảm xúc, bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ "bật tung", "đột ngột" diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh "vội bật tung cửa sổ". Vầng trăng tròn đâu phải khi "đèn điện tắt" mới có?! Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc "thình lình" đối diện với trăng ấy, ân tình xưa "rưng rưng" sống dậy, thổn thức lòng người: Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian - không gian / trăng - người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,... Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến "ta giật mình". Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: "Uống nước nhớ nguồn". (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tình thương với những trẻ em lang thang cơ nhỡ

TÌNH THƯƠNG VỚI NHỮNG TRẺ EM LANG THANG CƠ NHỠ

1/Mở bài "Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan" Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta rất yêu thương và quan tâm đến thanh thiếu niên đặc biệt là các em nhi đồng. Các em luôn được tạo mọi điều kiện để vui chơi và học tập, vô tư hồn nhiên như chính tuổi thơ của mình vậy. Ngày nay, trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang nhiều hơn, trẻ em được đến trường học tập vui chơi cùng bạn bè, thầy cô. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta không khỏi xót xa thương cảm khi bắt gặp những em bé phải lao động để lo chén cơm, manh áo từng ngày cùng với những sấp vé số trên tay hay những tờ báo đi khắp phố phường bán rong, và thấp thoáng ở đâu đó những hình ảnh nhỏ nhắn của các em trong những bãi rác để tìm phế liệu bán kiếm tiền. Chúng ta sẽ suy nghĩ gì khi chính chúng ta chứng kiến những cảnh tượng cảm động ấy? 2/Thân bài Vâng hình ảnh trẻ em lang thang, cơ nhở, mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, kiếm sống ở các thành phố, thị trấn đã và đang được các cơ quan ban ngành chú trọng và quan tâm nhiều hơn với những trung tâm bão trợ trẻ em, hay làng SOS.... đã được đầu tư xây dựng với quy mô ngầy càng mở rộng. Chính những nơi đây đã trở thành mái ấm tình thương là "một đại gia đình" cho các em có thể vui chơi, học tập, rèn luyện để trở thành những công dân tốt, sống lành mạnh và không là gánh nặng cho xã hội. "Trong đêm một bàn chân đứa bé xiếu lang thang trên đường, ánh mắt buồn nghẹn ngào của em, em rất buồn vì không biết đi, đi về đâu. Cuộc sống mưu sinh chỉ làm em qua cơn đói từng ngày, vì em không cha vì em đã mất mẹ đau thương vẫn là đau thương". Xa xa đâu đó vẫn còn văng vẵng lời bài hát "đứa bé" của nhạc sĩ Minh Khang làm cho chúng ta không khỏi xúc động, lòng người không khỏi da diết với nỗi lòng đau nhói, quặng thắt từng cơn khi những hình ảnh đứa bé lang thang trong đêm tối để rồi không định hướng được tương lai cũng như không biết đi về đâu tron đêm tối lạnh giá. Gia đình ư? Người thân ư? không. Em không có gia đình và chẳng có người thân, ba mẹ đã bỏ em ra đi mà không trở về nữa. Biết trách ai đây! có lẽ các em đã cố nén đi nỗi bất hạnh để đau thương đêm ngày thành thương đau. Thử hỏi cộc đời này còn có trái tim nào sắt đá hơn nữa, khi nghe giọng nói cảm động nhưng trong sáng và ấm áp của các em cất lên:"Bác ơi! mua giúp con vài tấm vé số đi chú" hay "chú ơi! đánh giầy phụ con đi chú"... Thật khó có lời nào lẽ nào để diễn tả hết những cảm xúc rung động trong trái tim mọi người dù "em có một ước mơ một vì sao sáng dẫn lối em trong cuộc đời, đã lâu rồi em đã không có tình thương". Những mái ấm tình thương luôn mở rộng cánh cửa đón chào các em và ngày càng có nhiều cá nhân, gia đình, các mạnh thường quân tổ chức nhận nuôi dạy các em, kể từ đây khôn còn phải lo miếng cơm manh áo nữa. Những ước mơ những ước mơ được vui chơi, được học tập của em không còn là mơ ước. Các em sẽ được đến trường, vui chơi, nô đùa cùng chúng bạn hoà nhập với thế giới hồn nhiên của trẻ thơ. Các em sẽ không còn 'co ro trong manh chiếu rách", sẽ không ngủ đầu đường xoá chợ, lang thang khắp phố phường nữa mà thay vào đó là một tương lai tươi sáng đang đón chào các em, các em không phải mặc cảm, tự ti và cũng chẳng còn những tháng ngày mưa nắng cùng với mãnh bánh mì trên tay lót dạ để quên đi cơn đói từng ngày hành hạ thân xác nhỏ nhắn, ốm yếu của em. Thật vậy, lòng nhân ái của con người không có gì có thể sánh được, mọi người hãy mở rộng trái tim giúp đỡ và yêu thương các em, để các em có đủ tự tin và nghị lực vượt qua những khó khăn để trở thành mầm non, một nền tảng tương lai của đất nước. Dân tộc Việt Nam chúng ta chú trọng nhất truyền thống nhân đạo nên vậy giờ đây chúng ta hãy mở rộng vòng tay nhân ái bằng cách giúp đỡ các em nhiều và nhiều hơn nữa để ngày mai tương lai các em được tươi đẹp hơn. Niềm vui của mọi người sẽ được nhân lên. Có khi nào bạn nghĩ phía sau của những căn nhà sang trọng, có những đứa trẻ được nương chiều sống buông thả, tron khi sau đó có biết bao các em bé khác khát khao khát một phần hạnh phúc nhỏ là có nơi che mưa, che nắng, bố mẹ nâng niu nương chiều hay được nhẹ nhàng đặt lên má những nụ hôn trước những buổi đến lớp. Vậy chúng ta còn chờ gì nữa? mà "hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương, lòng nhân ái của con người mà hãy lau khô giọt nước mắt trong lòng em bằng tất cả trái tim con người Việt Nam". 3/ Kết bài Một xã hội văn minh tươi đẹp khi xung quanh bạn không còn phải thấy những đứa bé lang thang, vất vả kiếm sống và chúng ta phải biết sẽ chia tình cảm thân thương chan hoà với mọi người bằng tất cả những gì mà bạn đang có. (Sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nguyễn Trãi để lại cho chúng ta những tác phẩm gồm nhiều thể văn và tất cả đều đạt đỉnh cao nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường.( Phạm Văn Đồng

NGUYỄN TRÃI ĐỂ LẠI CHO CHÚNG TA NHỮNG TÁC PHẨM GỒM NHIỀU THỂ VĂN VÀ TẤT CẢ ĐỀU ĐẠT ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT, ĐỀU HAY VÀ ĐẸP LẠ THƯỜNG.( PHẠM VĂN ĐỒNG

Nguyễn Trãi để lại cho chúng ta những tác phẩm gồm nhiều thể văn và tất cả đều đạt đỉnh cao nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường.( Phạm Văn Đồng - Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc). Em hãy làm sáng tỏ cái hay cái đẹp trong sáng tác của Nguyễn Trãi qua vài bài thơ Nôm và bài Côn Sơn ca Bài làm: Thơ ca như một cánh diều, cuộc đời đã ban cho cánh diều hình hài sắc vóc, còn nghệ thuật tạo làn gió nâng cánh diều bay bổng lạ kỳ và nâng cảm xúc đến mức thăng hoa. Hình thành từ cuộc đời, đón nhận tinh hoa từ dòng chảy cuộc sống, hồn thơ Nguyễn Trãi mang đậm dấu ấn việt Nam, rất phong phú, đa dạng và dạt dào tình cảm. Thơ Nguyễn Trãi không chỉ là dòng sông của cảm xúc mà còn là ngọn núi của đỉnh cao nghệ thuật bởi một ngòi bút tài hoa. Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng " Nguyễn Trãi để lại cho chúng ta những tác phẩm gồm nhiều thể văn và tất cả đều đạt đỉnh cao nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường ( Phạm Văn Đồng - Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc Nghệ thuật chỉ làm nên văn vần, chỉ có trái tim mới là thi sĩ. Để cho văn học Việt Nam với bao tác phẩm có giá trị. Nguyễn Trãi đã trở thành " tán cây" vĩ đại của văn học cổ và là thi nhân muôn đời của đất nước Việt Nam, một danh nhân văn hóa của thế giới với trái tim lớn xôn xao nhịp rung cảm. Ra đời và trưởng thành trong hoàn cảnh nước nhà có chiến tranh, Nguyễn Trãi đã hấp thụ truyền thống yêu nước và quật khởi của dân tộc . Cuộc đời có tác động rất lớn đối với ông, từ những năm tháng" nếm mật nằm gai" trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến những ngày thanh bình và rồi khoảng thời gian sống cuộc đời ẩn sĩ. Tất cả những biến cố ấy, những dao động ấy đã lay động hồn thơ Ức Trai và những tác phẩm văn học bất hủ ra đời từ đó. Nhắc đến Nguyễn Trãi, không chỉ bởi tài năng và sự cống hiến mà mãi về sau vẫn còn đó một Nguyễn Trãi với phẩm chất cao quý và hồn thơ trác việt. Nguyễn Trãi sáng tác rất nhiều thơ, văn với một dấu ấn riêng biệt bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Chữ Nôm ra đời từ mấy thế kỷ trước và có lẽ Nguyễn Trãi là người tiên phong thành công trong việc làm thơ Nôm. Rất dân dã và bình dị, thơ Nôm qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Trãi đã trở nên đẹp lạ kỳ. Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ương sen. (Thuật hứng) Cái đẹp, cái ấn tượng ấy dưới mắt Nguyễn Trãi là một cuộc sống nhà nông mộc mạc, chân quê. Rời xa chốn quan trường vốn xô bồ, đầy hiểm trở, nhà thơ trở về miền thôn dã, sống cùng thiên nhiên, vui với cỏ cây, và để thanh lọc tâm hồn. Hòa mình vào thiên nhiên, vui cùng gió trăng, túi rượu, bầu thơ, tâm hồn thi nhân trở nên đẹp lạ kỳ. Từ công việc đời thường bình dị " vớt bèo", " cấy muống" hay là " phát cỏ", " ương sen", tác giả đã đưa chúng vào thơ làm cho chúng nên thơ giữa lúc người ta còn trọng những cúc, mai, đào, liễu quý phái và ước lệ. Nguyễn Trãi càng gắn bó với cuộc đời dân dã thì âm hưởng chân chất, mộc mạc luôn gắn liền với vần thơ. Bài thơ, Thuật hứng, sáng tác theo thể thơ Đường luật vốn trang trọng, mực thước, nhưng bằng tài năng và hồn thơ đất Việt, Nguyễn Trãi đã " dân tộc hóa" thể thơ ấy với hai câu thực sáu chữ đan xen giữa bài thơ. Nhà thơ bằng sự sáng tạo độc đáo và ý thức dân tộc cao độ đã tạo nên dấu ấn đậm nét trong thơ. Có thể nói đây là điểm sáng của nghệ thuật thơ ngay từ thế kỷ XV. Thơ là tiếng nói của tâm hồn và cảm xúc, Nguyễn Trãi làm thơ không chỉ để bày tỏ lòng yêu thiên nhiên hữu tình, mà thơ ông còn nhuốm màu tâm trạng. Bui một lòng trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen. Năm tháng ẩn dật lần lượt trôi qua trong cuộc đời Nguyễn Trãi. Nhà thơ luôn ca ngợi vẻ đẹp thanh tao của cuộc sống dân dã, nông thôn nhưng có bao giờ ông lại quay lưng với thế sự, với dân, với nước. Trong tấm lòng cao quý ấy, tuy sống giữa muôn trùng cảnh quang tươi đẹp nhưng vẫn canh cánh nỗi lo cho dân cho nước, một khát khao giúp đời. Cao đẹp thay một Nguyễn Trãi - vị anh hùng giúp nước cứu dân - một ẩn sĩ chất chứa trái tim yêu nước cao cả. Nếu như câu thơ trên của bài Thuật hứng, Nguyễn Trãi sống hòa mình cùng thiên nhiên thì ở hai câu kết là một điểm sáng, là sự thăng hoa của cảm xúc. Tất cả nỗi niềm đều đóng lại trong dòng thơ cuối như một nốt trầm xuyến xao trong lòng tác giả. Hình ảnh khép lại bài thơ như một vầng trăng tròn sáng, một vầng trăng tâm hồn muôn đời viên mãn lung linh. Bài thơ Thuật hứng với hai câu thực sáu chữ và câu thơ cuối cùng kết thúc cũng sáu chữ đã tạo nét riêng và sáng tạc nên một thể thơ mang đậm màu sắc Việt Nam. Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có nét riêng của mình. Thật vậy, việc sáng tạo nghệ thuật không chỉ bằng sự tài hoa, mà còn phải có sự hội tụ của cảm xúc từ cuộc đời. Và một lần nữa, Nguyễn Trãi lại tạo nên một dấu ấn rất đặc biệt trong bài thơ " Cây chuối". Tự bén hơi xuân tốt lại thêm Đầy buồng lạ, màu thâu đêm Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đậu gượng mở xem. ( Cây Chuối). Mang chất trữ tình, bài thơ là đỉnh cao của cảm xúc, của hồn thơ Nguyễn Trãi. Với tựa đề Cây chuối, thoại tưởng chỉ là tả cây chuối nhưng thực ra hình ảnh cây chuối phác họa ra một nét đẹp cảm xúc. Một ccây chuối vỏn nhỏ bé trước muôn trùng thiên nhiên, tầm thường, chân chất, trước bao vẻ đẹp kiêu sa nhưng lại là đối tượng thơ của Nguyễn Trãi. Trước vẻ đẹp giản đơn, đời thường của cây chuối, từ nét quan sát và cảm nhận tinh tế, cây chuối không còn là cây chuối của đời thường mà dường như đã trở thành một thiếu nữ qua lăng kính nghệ thuật của nhà thơ. Cây chuối ấy như trở thành một vật thể của tâm hồn và cảm xúc. Trong không gian tĩnh lặng, hòa mình vào thiên nhiên, đưa tâm hồn vào tạo vật, tác giả đã cảm nhận được nét đẹp lại càng rạo rực sức sống hơn bao giờ hết khi tiếp nhận " hơi xuân". Điểm sáng của bài thơ chính là từ cái " hơi xuân" ấy cũng với tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của tác giả. Từ " hơi xuân" có thể hiểu là dân của tuổi trẻ. Đẹp và thi vị biết bao. Phải có một tâm hồn thanh khiết , sụ rung cảm mãnh liệt trước thiên nhiên thì Nguyễn Trãi mới có thể cảm nhận được cây chuối " bén hơi xuân". Không chỉ nhằm mục đích miêu tả cây chuối, nhà thơ bắt nhận nét đẹp đặc trưng của nó để thể hiện một tâm trạng một cảm xúc và một sức sáng tạo đầy nghệ thuật, đầy chất thơ. Tình như một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem. Quả thật, hồn thơ của Nguyễn Trãi rất trẻ trung, tình tứ, giàu cảm xúc, rất nhạy cảm, thấm nhuần nét đẹp tinh tế. Từ hình ảnh nõn chuối cuốn lại mà nhà thơ có thể liên tưởng đến một " bức phong thư" và càng độc đáo hơn là " tình thư". Có thể nói hồn thơ trữ tình bay bổng đã tạo nên một câu thơ hay độc đáo đến thế. Và thoảng qua một làn gió thì chính làn gió ấy lại " gượng mở xem". Một câu hỏi giữa dòng thơ - một câu hỏi mà không có câu trả lời. Gió nơi đâu? - câu hỏi của xúc cảm, của sự rung động của hồn thơ đầy nhạy cảm, khao khát được biết lời lẽ bức thư tình " phong còn kín". Cử chỉ " gượng mở xem" rất nhẹ nhàng, ý nhị và kín đáo. Có lẽ vì vậy mà Xuân Diệu đã từng nói " Ức Trai có cái đẹp trong tâm hồn nên khi gặp cái đẹp ngoài vũ trụ thì tương ứng ngay, thốt ra thơ đẹp". Thật vậy, chỉ có một tâm hồn rất đẹp, rất nhạy cảm và phải tĩnh lặng hồn mình vào trong cõi không gian ấy thì Nguyễn Trãi mới có thể đạt được thần bút ấy. Đúng như có người nói : " Người nghệ sĩ phải sáng tạo ấn tượng riêng của mình... khẳng định và nâng cao giá trị của ấn tượng ấy". Đạt được đỉnh cao nghệ thuật ấy, Ức Trai đã thể hiện một tâm hồn cao đẹp đầy chất thơ. Một nhà văn đã từng nói: " Người nghệ sĩ chân chính phải là người đi tìm những nét đẹp mới, khơi dậy những nguồn cảm hứng mới..." Trong cuộc hành trình tìm đến cái đẹp của thi ca, của tạo hóa, của hồn người, Nguyễn Trãi đã làm nên nhiều bước đột phá và thơ Nôm cũng như thơ chữ Hán của ông đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, của cái hay và cái đẹp. Với bài thơ Côn Sơn ca, Nguyễn Trãi đã gieo vào tâm hồn người đọc cảm xúc đậm đà. Côn Sơn ca với nét đẹp đặc sắc rừng đã trở thành cảm hứng sáng tác của nhà thơ. Côn Sơn suối chảy rì rầm. Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong ghềnh thông mọc như nêm. Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Một loạt những câu thơ tả cảnh Côn Sơn hữu tình, Côn Sơn vốn là quê hương của nhà thơ. Nơi ấy vẫn đọng lại trong tâm trí tác giả bao kỷ niệm êm đềm của thời thơ ấu với những năm tháng vui tươi. Có lẽ vì thế mà khi xin cáo quan về ở ẩn, Nguyễn Trãi đã trở lại với Côn Sơn để tìm về những cảm xúc của ngảy xưa và để thanh lọc hồn mình. Chính vì vậy, tác giả đã bao lần làm thơ về vẻ đẹp của Côn Sơn. Lớn lên từ đất mẹ Côn Sơn, từ tình yêu đối với thiên nhiên, Côn Sơn đối với Nguyễn Trãi là điểm tựa của tâm hồn, của sức sống, của một thời thơ ấu. Côn Sơn vẫn đẹp, vẫn thi vị như ngày nào trong tâm hồn tác giả. Âm thanh, hình ảnh hiển hiện dịu dàng trong từng con chữ. Âm vang nhẹ nhàng róc rách của dòng suối hiền hòa, từng tảng đá nhuốm màu thời gian, với " rêu phong", từng rừng thông tỏa bóng mát êm đềm...tất cả dường như đọng lại và trở thành một nơi trú ẩn, một ngôi nhà tươi đẹp, hài hòa trong lòng tác giả. Với Nguyễn Trãi, thiên nhiên là bạn chí thiết, ruột rà, tin cậy và hơn cả là nơi gửi gắm tâm trạng. Gắn bó với Côn Sơn, tâm hồn Nguyễn Trãi như đẹp hơn, thi vị hơn bao giờ hết bởi cảm giác bình dị, quen thuộc của ngày nào vẫn còn đọng lại. Thiên nhiên từ xưa đến nay, đã trở thành đề tài vô tận của thi ca, là nơi trở về của bao nhà thơ ở ẩn. Yêu thiên nhiên trên đất Côn Sơn nhưng nhà thơ vẫn không hề quay lưng với thế sự, với cuộc đời. Trong trái tim đầy nhiệt huyết ấy, vẫn luôn trăn trở với cuộc đời và với bản thân mình. Sào, Do bằng có trở về Hãy nghe tiếng hát bên ghềnh Côn Sơn. ( Côn Sơn ca). Trở về với thiên nhiên Côn Sơn nhưng tấm lòng Nguyễn Trãi vẫn hướng về đất nước. Và có lẽ, hơn bao giờ hết trong tim ông cháy bỏng khao khát được giúp đỡ, giúp đời. Chính vì thế Nguyễn Trãi vẫn trăn trở về mình về sự ẩn dật mà ông chọn. Nhà thơ nhắc đến " Sào", " Do" cũng là hai vị ẩn sĩ, và như một lời nhắc nhủ về tâm sự của mình nơi Côn Sơn. Nơi ấy, vẫn còn lưu giữ tiếng lòng của một Nguyễn Trãi, suốt đời vẫn giữ vững lý tưởng của mình: yêu nước, thương dân. Quả thật, Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc vĩ đại - người đã sống trọn đời thanh cao, trong sạch và yêu nước. Trải qua bao năm tháng thơ văn Nguyễn Trãi vẫn sáng mãi trong lòng người đọc không chỉ bởi một nhân cách cao cả mà còn vì một hồn thơ và ngòi bút tài hoa. Là niềm tự hào của dân tộc, ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng Nguyễn Trãi còn là một phong cách sáng tạo độc đáo, góp phần làm đẹp thêm vườn hoa văn học nước nhà. Thơ phát khởi từ lòng người ( Lê Quý Đôn). Có lẽ vì thế mà mãi về sau trong tâm hồn dân tộc luôn bừng sáng một hồn thơ, một thi sĩ tài ba - Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi đã thực sự hòa hợp cái đẹp của tạo hóa, cái đẹp của hồn người để làm nên những sáng tạo mới. Chắt lọc tinh hoa của ngôn từ, cảm xúc Nguyễn Trãi đã đưa thơ văn của mình đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật của cái hay, cái đẹp.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều

THÚC SINH TỪ BIỆT THÚY KIỀU

Ước lệ được xem là một đặc điểm thi pháp của văn học trung đại. Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du sử dụng khá nhiều bút pháp ước lệ. Có điều nhà thơ sử dụng một cách hết sức linh hoạt, sáng tạo nên tránh được sáo mòn, nhàm chán. Không những thế bút pháp ước lệ của Nguyễn Du còn góp phần diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc tâm trạng nhân vật. Điều đó được thể hiện rất rõ qua cảnh Thuý Kiều đưa tiễn Thúc Sinh về tự thú với Hoạn Thư. Thường thường khi chia tay, người ta hay nắm lấy áo nhau tỏ tình quyến luyến, bịn rịn. Níu áo dần trở thành một cách nói quen thuộc: "Chàng ơi buông áo em ra/ Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa" (Ca dao). Trong buổi tiễn đưa, Kiều cũng níu áo chàng Thúc. Cho đến lúc chàng lên ngựa, nàng mới chịu "chia bào" (buông áo). Theo logic bình thường, người này có buông áo, người kia mới được lên ngược. Ở đây, Nguyễn Du cố ý sắp xếp ngược lại: "Người lên ngựa, kẻ chia bào". Theo tôi, đây là một chi tiết cần được quan tâm. Bởi vì qua cái chi tiết ngỡ như phi logic này, Nguyễn Du không chỉ thể hiện nỗi vấn vương, lưu luyến mà còn thể hiện tâm trạng đầy lo lắng của Kiều. Nàng cố níu giữ Thúc Sinh cho đến giây phút cuối cùng. Kiều khuyên Thúc Sinh về tự thú với Hoạn Thư là mong muốn cuộc sống yên ổn lâu dài. Nhưng trong nửa năm chung sống, qua chàng Thúc, nàng đã biết ít nhiều về Hoạn Thư. Riêng cái uy con gái Thượng thư Bộ lại của Hoạn Thư cũng đã đủ cho Thuý Kiều e ngại. Nàng lo sợ mất chàng, mất cái chỗ dựa duy nhất giữa chốn "nước non quê người", nàng lại sẽ rơi vào cảnh bơ vơ chân trời góc bể. Vì vậy, nàng cố níu giữ chàng ngay cả khi chàng đã lên ngựa. Bằng một chi tiết có tính ước lệ, Nguyễn Du đã phần nào diễn tả được cái tâm trạng ngổn ngang trăm mối của nàng Kiều. Rừng phong thu lúc chớm thu lá dần ngả sang màu đỏ được nhắc đến khá nhiều trong thơ cổ điển Trung Hoa. Cái màu đỏ của lá phong thu có tính ước lệ này qua tay thiên tài Nguyễn Du đã biến thành “màu quan san” - gợi sự xa xôi, cách trở. Phải thật hiểu tâm trạng bất an của Kiều khi chia tay Thúc Sinh, Nguyễn Du mới sáng tạo ra cái “màu quan san” độc đáo ấy. Nghĩa là lá phong đang ngả dần sang màu đỏ. Kiều đưa tiễn Thúc Sinh lúc mới sang thu. Nhưng "nhuốm màu quan san" lại rất phù hợp với tâm trạng lo lắng, bất an của nàng Kiều lúc này. Chỉ thay một dấu từ "nhuộm" sang "nhuốm" mà cái "màu quan san" càng thêm xa xôi, cách trở. Đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du chăng? Thúc Sinh đi rồi, Kiều cứ đứng nhìn theo mãi: "Dặm hồng bụi cuốn chinh an/ Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh". Thường khi tả đoàn quân xuất trận mới có cảnh "dặm hồng bụi cuốn". Trong Binh xa hành của Đỗ Phủ, cùng với tiếng ngựa phi là cảnh cát bụi bay ngút trời. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm : "Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". "Bụi cuốn” nghĩa là bụi mù trời, gió ào ào… Nguyễn Du tả cảnh Thúc Sinh về Vô Tích gặp Hoạn Thư chẳng khác gì đi ra chiến trận. Theo logic bình thường thì không thật đúng. Nửa năm ăn ở với người đẹp, giờ phải chia tay, chàng Thúc chắc bịn rịn lắm. Nếu có phi thì chàng cũng chỉ phi nước kiệu thôi. Làm gì có chuyện "bụi cuốn" mù trời như thế. Ngay cả khi chia tay Hoạn Thư, vừa lên ngựa chàng đã: "thẳng ruổi nước non quê người ", vẫn không thấy Nguyễn Du miêu tả một tý bụi nào. Cho dù thẳng ruổi là phi rất nhanh, phi theo kiểu nước đại để mau về gặp lại nàng Kiều. Với tâm trạng rất háo hức, Thúc Sinh nhìn cái gì cũng đẹp: "Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng". Phi nước đại như thế thì không có một tý bụi nào. Còn "phi nước kiệu lại "dặm hồng bụi cuốn"? Đây chính là cảnh được nhìn qua tâm trạng đầy lo âu của nàng Kiều: chàng Thúc như đang đi vào nơi đầy gió bụi, chẳng khác gì ra trận. Bởi vì chàng sắp chiến đấu với Hoạn Thư - một cuộc chiến đấu không cân sức giữa anh chồng non gan và bà vợ vừa đầy uy lực, vừa đầy mưu ma, chước quỷ làm sao mà Kiều có thể yên tâm được. Một lần nữa ta hiểu thêm dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du qua một chi tiết tưởng như hết sức bình thường. Sau khi tiễn đưa Thúc Sinh: "Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi", Kiều ngẩng lên trời và hoảng hốt: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi…". Vầng trăng đầu tháng cũng được nhìn qua tâm trạng của nàng Kiều. Nàng đang linh cảm về một sự chia lìa, một sự "tan đàn xẻ nghé". Ca dao cũng có câu tương tự: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?". Sau này thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đau đớn thốt lên: "Đêm nay còn nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ người xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi" (Một nửa trăng). Nhưng theo tôi, hai câu của Nguyễn Du mang nhiều tầng nghĩa hơn. Bởi vì trăng của Nguyễn Du dù có bị xẻ làm đôi nhưng không chịu chia lìa: "Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường". Phải chăng, nhà thơ mượn hai nửa vầng trăng để bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc của mình trước cảnh chia ly của Thúc Sinh - Thuý Kiều? Và phải chăng đó cũng là mong muốn của Kiều. Kiều nhờ một nửa trăng giúp chàng Thúc thấu hiểu tâm trạng lẻ loi cô đơn của mình, một nửa kia nàng muốn trăng thay nàng soi đường cho chàng? Qua tưởng tượng của Kiều, con đường Thúc Sinh đang đi đầy gió, đầy bụi, đầy chông gai hiểm trở. Thúc Sinh thì đơn thương độc mã, ước gì nàng có thể ở bên cạnh chàng… Rõ ràng bằng những chi tiết, những hình ảnh có tính ước lệ hết sức quen thuộc, Nguyễn Du đã biến hoá, đã nhào nặn trở thành những chi tiết nghệ thuật hết sức mới lạ, độc đáo. Nếu cứ theo logic bình thường ta tha hồ bắt bẻ nhà thơ. Song sáng tạo nghệ thuật có quy luật riêng của nó. Cái tưởng như phi lý lại rất có lý nếu ta hiểu được dụng ý tác giả. Lạ hoá bút pháp ước lệ là một trong những biệt tài của Nguyễn Du. Càng đọc, càng nghiền ngẫm Truyện Kiều, chúng ta càng khám phá nhiều điều mới mẻ trong thế giới nghệ thuật đa dạng của ông.
Xem thêm

2 Đọc thêm

PHÂN TÍCH VẺ ĐẸP CỦA HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT HUẤN CAO TRONG TRUYỆN NGẮN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ CỦA NGUYỄN TUÂN. TỪ ĐÓ NHẬN XÉT VỀ NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA NHÂN VẬT CỦA NHÀ VĂN

PHÂN TÍCH VẺ ĐẸP CỦA HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT HUẤN CAO TRONG TRUYỆN NGẮN CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ CỦA NGUYỄN TUÂN. TỪ ĐÓ NHẬN XÉT VỀ NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA NHÂN VẬT CỦA NHÀ VĂN

Bài làm Trong vườn văn học Việt Nam, đặc biệt là trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 tỏa ngát những bông hoa muôn màu, muôn sắc. Giữa vườn hoa ngàn sắc tía đó nổi lên một bông hoa ngát hương: Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân – tác phẩm viết về "một thời" đã qua nay chỉ còn "vang bóng". Trong Vang bóng một thời, truyện ngắn Chữ người tử tù có một giá trị riêng, nổi bật. Ai đã từng đọc Chữ người tử tù đều rung động, cảm phục, sùng kính trước vẻ đẹp của người anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí, đó là Huấn Cao. Huấn Cao là kết tinh, là hội tụ phẩm chất của một con người có nhân, dũng, khí. Ông là tập hợp của tất cả những gì tinh túy nhất, thanh tao nhất, tinh khiết nhất. Huấn Cao là một hình tượng thẩm mĩ, một nét đẹp trong cuộc sống đời thường, là một người có nhân cách vẹn toàn, vừa có tài văn, tài võ vừa là người có nghĩa khí. Huấn Cao phảng phất bóng dáng của Cao Bá Quát, là linh hồn của nhà nho kiệt xuất. Cao Bá Quát đã từng sống một cuộc sống tung hoành ngang dọc, là một người có tài, có đức, văn hay chữ đẹp, sống trong giai đoạn triều Nguyễn, dám đứng lên chống lại bọn thực dân phong kiến, chống lại bọn cường quyền, đả kích xã hội phong kiến thối nát, bỉ ổi. Phải chăng, Nguyễn Tuân đã mượn Huấn Cao để ngợi ca Cao Bá Quát và mặt khác dựa vào Cao Bá Quát, khái quát lên một hình tượng Huấn Cao mà cái đẹp của tài hoa hòa hợp với cái đẹp của khí phách, tuy chí lớn không thành nhưng vẫn coi thường hiểm nguy, gian khổ, xem khinh cái chết. Tư thế của Huấn Cao hiên ngang lồng lộng toả sáng trên cái nền đen quánh của tù ngục. Nói đến vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao trước phải nhắc tới cái tài. Huấn Cao là một người viết chữ đẹp: "Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm". Trong thị hiếu thẩm mĩ của người xưa, từ Trung Quốc đến Việt Nam thì viết chữ đẹp là cả một nghệ thuật cao quí và chơi chữ đẹp là thú chơi thanh cao của các cụ đồ nho xưa. Viết chữ đẹp là biểu hiện của con người có trí thức, một vẻ đẹp hoàn mĩ trong văn hóa truyền thông dân tộc. Nó như một sản phẩm nghệ thuật, như một vật báu mà con người thèm muốn, khát khao. Ngoài ra, Huấn Cao còn có tài bẻ khóa vượt ngục tù, coi nhà tù như nơi không người, ra vào như chơi. Điều đó thể hiện một con người khát khao tự do, hoài bão tung hoành, luôn đấu tranh cho chính nghĩa, chống lại triều đình phong kiến mục nát. Tất cả những tài năng đó làm thành một Huấn Cao có tầm lớn, đi vào trong lòng độc giả như một người anh hùng, một trượng phu đã vượt lên trên tất cả cái bình thường, nhỏ nhoi, hẹp hòi của cuộc đời để vẫy vùng, để "chọc trời khuây nước". Nhưng trong cái xã hội phong kiến người bóc lột người, nhân tài như lá mùa thu ấy thì Huấn Cao hiện lên là một anh hùng thất thế. Nguyễn Du cũng đã từng viết về Từ Hải – một anh hùng thời đó: "Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn" Song vị "hùm thiêng" Huấn Cao này tuy có sa cơ, lỡ nghiệp nhưng Huấn Cao của chúng ta vẫn hiên ngang, bất khuất, vẫn dũng khí kiên cường. Đo đó, người đọc không chỉ nhận ra Huấn Cao là một người có tài mà ông còn là một người có dũng khí, hiên ngang trước bạo lực cường quyền, trước cái chết đang treo lơ lửng. Hết mực ca ngợi cái tài của Huấn Cao, đồng thời Nguyễn Tuân cũng hết sức trân trọng cái tâm của Huấn Cao. Bởi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du) hay như Lạc Du, một nhà thơ yêu nước của Trung Quốc thời nhà Tống, sau cuộc đời làm thơ của mình đã khuyên con: Như quả dục học thi Công phu tại thi ngoại (Nếu như quả là con muốn học làm thơ thì công phu là ở ngoài việc chữ nghĩa) Cái Tâm của ông cũng vuông vắn, cao khiết và đầy sức chinh phục như nét chữ của ông vậy. Có lẽ, “phong cách tức là con người” đã được thể hiện rất rõ ở đây. Mặc dù viết chữ Nho đẹp “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời” lẽ ra ông trung thành với đạo thánh hiền, giữ mình theo lễ nghĩa Nho giáo, trung với vua, một lòng một dạ với triều đình. Nhưng không! Huấn Cao không chịu vào luồn ra cúi, không chịu sống trong cảnh nhung hoa áo gấm “cá chậu chim lồng”, thà làm “giặc triều đình” sống theo chính nghĩa mà mình đã vạch ra. Sự nghiệp dang dở, bị bắt, bị kết vào mực án cao nhất là tử hình ông vẫn không hề tỏ ra run sợ, không mảy may tiếc nuối hối hận. Huấn Cao – ngôi sao Hôm chính vị ấy – bước vào nhà ngục trong tư thế thật hiên ngang, khí phách, ung dung. Trong con mắt của bọn lính ông thật cao thượng, bất khuất, kinh đời. Ngay cả với gông xiềng, với cái án tử hình sắp đến gần, thái độ của ông vẫn ngang tàng, lạnh lùng. Huấn cao ung dung, lãnh đạm, đỗ gông trước mặt chúng nó, không thèm chấp lời đe dọa của bọn lính”chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái”. Ông bìn thản ăn những món ăn do quan ngục biệt đãi, “coi như mình có quyền hưởng thụ", ông làm việc theo ý mình, hoàn toàn tự chủ. Ông ngước mắt nhìn lên nhà lao, lên những bộ mặt bất nhân nham nhở. Cái nhìn hiên ngang đó không hề run sợ, không căm hờn, oán giận, không van xin, cầu khẩn. Đó là cái nhìn của một kẻ dám làm, dám chịu. Thậm chí ông còn kinh bạc, nặng lời khi chưa rõ ý tốt của quản ngục: "Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân tay vào đây". Con người "khuấy nước, chọc trời" này chẳng biết nể sợ ai. Nếu trong đời thường, "trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ", "nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ", thì khi sa vào chốn giam cầm thì mấy chén rượu, vài bữa cơm thịt của hai con người vô danh tiểu tốt ở chốn ngục tù bé nhỏ này làm sao mà lung lạc được ông hay vì quyền uy mà làm ông run sợ. Thật đúng là nhân cách lí tưởng mà con người ngàn năm qua vẫn ao ước: “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Cái thái độ khinh đời ngang tàng đó phải chăng đã làm cho viên quản ngục ngây ngất, kính nể. Thái độ kính phục của quản ngục gợi cho ta nhớ đến mootk trong những đoạn hay nhất của bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victo Huygô, đoạn Người cầm quyền khôi phục uy quyền. Trong đó, kẻ có quyền hành trong tay luôn bắt bớ, đánh đập, hành hạ, xúc phạm con người một cách không nương tay, không thương tiếc là thanh tra Giave đã bị khuất phục trước vẻ đẹp nhân cách của người tù khổ sai mà hắn suốt đời săn lùng là Giăng Van giăng. Thì ra quyền lực không phải là uy quyền, bạo lực, là gông cùm, xiềng xích. Quyền lực là cái đẹp, phẩm chất Người, chủ nghĩa nhân đạo, là thiên lương vẫn có uy quyền riêng bất khả chiến thắng. Chính vì thế, Huấn Cao đã mang đến cho chốn lao tù, cho cái địa ngục sống này một ánh sáng kỳ ảo, huyền diệu, lung linh, chói lọi, soi sáng đạo lí làm người. Thiên lương cao đẹp của ông là một vầng hào quang tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời đầy u ám của nhà tù. Huấn Cao – vầng hào quang chói lọi này không những là một người có dũng, trí mà còn là một con người có trái tim nhân hậu. Khi biết được thiện ý của quản ngục, Huấn Cao đã rất cảm động. Từ đó, ta thấy ông Huấn là người có lòng bao dung độ lượng, chia sẻ nỗi niềm cùng với hai người bạn mới mà suýt nữa ông đã đánh mất: "Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quí như vậy. Thiếu chút nữa, ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Sự biệt đãi bằng vật chất và thái độ ân cần không làm cho trái tim sắt đá kia phải mềm lòng. Chính "cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài" và những "sở thích cao quí", hướng về văn minh, văn hóa mới cảm hóa được trái tim dường như đựợc đúc bằng thép ấy. Thái độ "biệt nhỡn liên tài" của Huấn Cao đối với quản ngục không phải là sự "liên tài" sự trả ơn đối với những người đã đối xử tử tế, biết chơi chữ củaa mình mà là sự trân trọng, cảm động trước một nhân cách "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn". Quản ngục sống giữa bùn nhơ nhớp nháp của lao tù mà vẫn giữ được Thiên lương, biết trọng người tài, kính cái đẹp thì thật là đáng cảm phục. Đó cũng là một đóa sen trong bùn. Ánh hào quang rực rỡ, vẻ đẹp tuyệt diệu tỏa ra rất rõ ở cảnh Huấn Cao cho chữ. Nó bộc lộ trọn vẹn nhất vẻ đẹp của nhân cách Huấn Cao. Ở đây vẻ đẹp này tỏa hương thơm ngát hơn lúc nào hết. Dưới ngòi bút tài ba Nguyễn Tuân, một cảnh tượng đầy kịch tính đã diễn ra, một cảnh tượng "xưa nay chưa từng có". Đó là sự tương phản giữa một bên là gian nhà lao ẩm thấp, tối tăm bẩn thỉu, "một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân giận" với một bên là tấm lụa trắng tinh, căng phẳng và với ánh sáng của một bó đuốc tẩm dầu đang cháy rừng rực. "Ba đầu người chăm chú trên một tấm lụa bạch nguyên vẹn". Nó là sự trái ngược của sự tàn bạọ, đánh đập, tra khảo dã man với ánh sáng của một nền văn minh, văn hóa. Đó còn là sự mâu thuẫn giữa bóng tối và ánh sáng, cái xấu và cái đẹp, cái ác và cái thiện, cái chết và cái sống, cái xấu xa đê tiện và cái trong trẻo cao thượng. Ngòi bút dựng cảnh, dựng người của Nguyễn Tuân rất giàu tính chất tạo hình với trình độ nghệ thuật điêu luyện, sắc sảo như Vũ Ngọc Phan nhận xét: "Gần đạt tới sự toàn mĩ". Dưới ánh sáng của bó đuốc đỏ rực – bó đuốc của trí tuệ, của niềm tin, của hi vọng và trong khung cảnh thật nghiêm trang, thật thiêng liêng này Huấn Cao dồn hết tâm linh, sinh lực vào từng nét chữ. Ông không mảy may lưu ý gì đến cái xấu xa, cái hôi hám, bẩn thỉu đang tồn tại mà hoàn toàn bị thu hút, bị quyến rũ vào một sự vật: tấm lụa bạch nguyên vẹn. Đúng thế, ở đây chỉ có cái đẹp, cái cao thượng mới thực sự tồn tại. Chính tấm lụa trắng tinh này mà ông Huấn Cao đang cho ra đời những con chữ tuyệt tác ấy mới thực sự có sức mạnh. Ớ đây, không còn là một Huấn Cao tử tù nữa. Chỉ còn là một Huấn Cao tự do nhất, sống động nhất. Cái giá treo cổ kia cũng không còn nữa mà chỉ có cuộc sống vĩnh hằng của chân lí về cái đẹp. Ngôi sao sáng – Huấn Cao – đang phát quang bừng tỉnh cái không gian u tối, phá vỡ cái màn đêm ngự trị ngàn đời ở đây. Huấn Cao như đem đến nơi này một thế giới khác, thế giới văn hóa. Vẻ đẹp cao nhân đó đã làm cho "viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực". Tự nhiên, ở nhà ngục này có sự thay bậc, đổi ngôi, có sự chuyển hóa vị trí, vị thế xã hội của con người. Nó nổi lên một sự thật mà đầy tính lãng mạn. Giờ phút này và tại nơi đây không phải quản ngục làm chủ mà người tù làm chủ. Sức mạnh, quyền lực của cái đẹp và chân lí là thế. Cái đẹp và cái chân lí tồn tại trên đời, thể hiện sức mạnh quyền uy theo cách riêngcủa nó. Nó không khuất phục người ta bằng bạo lực, nó chinh phục người ta bằng tự bản chất của nó. Nó không giày xéo, áp đặt con người để bắt người ta phải tuân theo nó, trái lại, nó vực con người ta vươn lên, đứng dậy, tự nguyện đi theo nó để hướng tới cái chân, thiện, mĩ, trở nên trong sáng và tốt đẹp hơn: Và ở đây, "cái đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp hèn, cái đẹp nâng đỡ con người” (Đôxtôiepxki). Cáỉ đẹp đăng quang, cái xấu đã phải chìm xuống nhường chỗ cho cái đẹp. Cái đẹp đã tồn tại, sẵn sàng và rất cần sự đánh thức cái Thiên lương (bản tính tốt đẹp sẵn có ở mỗi con người). Huấn Cao cho chữ như chuyển giao một nhân cách – nhân cách tự do, chuyển giao cái đẹp để cái đẹp mãi mãi sinh sôi nảy nở, đi vào cõi bất tử vĩnh hằng. Hình tượng nhân vật Huấn Cao được khắc họa bằng rigòi bút lãng mạn cứ sừng sững, hiên ngang hiện lên như muốn cất bổng lên, phá vỡ chốn lao tù, phá vỡ cái cuộc sống đang tràn ngập màn đêm, ngột ngạt trì trệ: "Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã (…). Ở đây, khó giữ được thiên lương cho lành vững…". Phải chăng đó là quan niệm thẩm mĩ của Huấn Cao, hay cũng chính là của tác giả Nguyễn Tuân: cái đẹp phải gắn với cái thiện, cái đẹp không thể ở chung với cái xấu, cái ác. Sự chân thành, bộc bạch giản dị đó của Huấn Cao đã khiến cho ngục quản cảm động vái người tù một cái và nói một lời thật cảm động: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh". Chính Cao Chu Thần cũng có một câu nói thật đẹp: "Nhất sinh đè thủ bái mai hoa" (Một đời chỉ biết cúi đầu vái lạy hoa mai). Cái cúi đầu của quản ngục trước con người tài hoa, đầy dũng khí Huấn Cao này chẳng khác gì Cao Bá Quát cúi đầu trước hoa mai vậy. Nói tóm lại, Huấn Cao là một con người tích tụ những phẩm chất tốt đẹp nhất. Tuy bị cầm tù về nhân thân nhưng lại rất tự do về nhân cách, đúng như Bác Hồ – vị Cha già kính yêu của dán tộc đã nói: "Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao" Trước cái chết kề cận, cái chết giáp bên nhưng con người nhân, trí, dũng đó vẫn hiên ngang anh dũng, lạc quan, yêu đời, như chị Võ Thị Sáu – nữ chiến sĩ dũng cảm, anh hùng của dân tộc Việt Nam: "Đi giữa hai hàng lính vẫn ung đung mỉm cười" Hay nói khác đi, Huấn Cao dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân là biểu tượng cho cái đẹp trong bối cảnh lịch sử đầy rẫy những xấu xa, tội ác, biểu tượng cho Thiên lương. Con người sống vượt lên trên những hiện thực tầm thường tăm tối để tỏa sáng, để vĩnh cửu, để bất diệt, truyền cho người đời phẩm giá làm người, những phẩm giá tiêu biểu cho đạo lí dân tộc. Chung qui lại, dựng nên hình tượng ông Huấn Cao với vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ giữa chốn lao tù ẩm thấp, chật chội, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm cảm phục sâu sắc đối với những anh hùng xả thân vì nghĩa lớn. Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy kịch tính kết hợp việc khắc họa tính cách nhân vật và ngòi bút miêu tả phong cảnh nặng tính hiện thực lẫn lãng mạn. Những chi tiết lãng mạn trong truyện có lẽ là lời nhắn gửi của Nguyễn Tuân. Hãỵ vững tin vào cái đẹp như Biêlinski nhận xét về cảm hứng lãng mạn: "Cảm hứng lãng mạn là khát vọng đối với tất cả những đẹp đẽ và cao quí”. Có thể nói Chữ người tử tù với bút pháp sắc sảo khi dựng người dựng cảnh với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vời của Huấn Cao, tác phẩm xứng đáng là một áng văn chương một thời vang bóng và nó mãi mãi "vang bóng" trong bạn đọc nhiều thời.
Xem thêm

4 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI SÓNG

PHÂN TÍCH BÀI SÓNG

Bài 1: Sóng” được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, xuất bản năm 1968 của nữ nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Quỳnh. Bài thơ nói về tâm trạng, tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu. Hãy đến với bài thơ bằng nhạc điệu, bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng âm điệu, một âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả bài. Sắc điệu trữ tình của bài thơ được gợi lên từ hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng vô hồi, bất tận. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, đó là sự hoá thân của cái tôi trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hoà nhập, lúc sự phân thân của “em” - người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi. Thông qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng của người con gái. Sóng biến hóa, sóng vỗ liên hồi, triền miên và bất tận: “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ” Trạng thái của sóng cũng là tâm trạng khi yêu, là khát vọng to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương: “Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể” Nơi mênh mông dạt dào, có đến nơi biển rộng trời cao sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với những khát khao to lớn. Sóng được làm biểu tượng của tình yêu. Miêu tả sóng biến hóa là cũng để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó hiểu của tình yêu. Cũng giống như sóng biển, tình yêu là một hiện tượng kỳ diệu của con người. Con sóng “ngày xưa” và con sóng “ngày sau” vẫn thế - triền miên, bất tận. Cũng như tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, của đôi lứa, cuả anh và em: “Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ” Con sóng tìm đến biển, đến đại dương là để tự hiểu mình. Cũng như em “khát” được đến bên anh, đến với một tình yêu đẹp để hiểu rõ hơn về tâm hồn em về con người đích thực của em. Người con gái hỏi sóng hay đang tự hỏi chính mình: “Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau” Cái giây phút giao duyên của đôi lứa. “Khi nào ta yêu nhau” tìm được một câu trả lời thật khó, bởi tình yêu là một hiện tượng, một thứ tình cảm khó có thể cắt nghĩa được. Bởi vậy trong bài thơ tình số 21 của thi hào Tagor đã viết rằng: “Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu” Câu thơ “khi nào ta yêu nhau” đã diễn tả đúng nỗi niềm điển hình của những trai gái đang sống trong tình yêu đẹp. Sóng vỗ “dữ dội - dịu êm” , “ồn ào - lặng lẽ”, sóng “dưói lòng sâu” “sóng” trên mặt nước”, sóng nhớ bờ, đó là biểu hiện của tình yêu và nỗi nhớ. Yêu chân thành tha thiết, nhớ bồi hồi triền miên. Nỗi nhớ ấy day dứt, dày vò, choán đầy cả không gian, thấm trong chiều sâu, bề rộng, trải trong chiều dài thời gian: “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Thật tự nhiên và thơ mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng giống như bên đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” “Còn thức” tức là lúc nào em cũng nhìn thấy rõ hình bóng anh, ánh mắt anh ... Một tình yêu cuồng nhiệt, say mê. Con sóng khao khát được đến bờ để được vỗ về, ve vuốt: “Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi” (Xuân Diệu) Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi. “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng nhỏ Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Người con gái đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành, say đắm, thắm thiết. Chân thật và thuỷ chung là đặc tính của tình yêu: “Dẫu xuôi về phương Bắc ... Hướng về anh một phương” Sóng đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái, khát vọng được sống hết mình trong một tình yêu đẹp, sắt son thuỷ chung. Người ta thường nói xuôi vào Nam, ngược ra Bắc; nhưng ở đây, trong nỗi nhớ chất đầy nhà thơ lại dùng ngược lại. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Cuối cùng sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn trong tình yêu. Tình yêu lứa đôi đẹp đẽ, nồng nàn như trăm ngàn con sóng nhỏ giữa đại dương mênh mông, muốn được hoà nhịp vào biển lớn của tình yêu cộng đồng: “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” Cả bài thơ, nếu kể đến nhan đề, thì tác giả đã mười một lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ như tâm tình xôn xao. Sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu của sóng, cũng như giọng điệu tâm tình, nhịp điệu của bài thơ. Thơ hồn nhiên, liền mạch về cảm xúc, trong sáng trong cách diễn đạt của tác giả. Sóng vỗ trên đại dương mênh mông cũng chính là sóng vỗ trong lòng người con gái. Từ hình tượng “sóng” Xuân Quỳnh cho ta thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Với tình yêu chân thành, thắm thiết, người phụ nữ muốn sống hết mình, sống trọn vẹn trong tình yêu đẹp. Yêu là nhớ ngày mong đêm, người phụ nữ khát khao được hoà nhập gần gũi trong tình yêu ấy. Họ yêu thật nồng nàn, say đắm, thủy chung ! Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu. “Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà. Bài 2 Xuân Quỳnh là một nhà thơ nữ nổi lên từ thời kì đầu xây dựng hoà bình với những bài thơ tươi trẻ qua phần Chồi biếc trong tập thơ Tơ tằm và chồi biếc (in chung với Cẩm Lai). Thơ Xuân Quỳnh mang nặng tình cảm thiết tha, gắn bó với cuộc đời, biết vượt lên những thử thách khó khăn để xây dựng hạnh phúc chung. Riêng về thơ tình Xuân Quỳnh có những tình cảm đằm thắm, đôn hậu, thuỷ chung. Hai bài thơ tình được nhiều người biết đến là Thuyền và biển và Sóng. Trong cả hai bài thơ tác giả dùng hình thức ẩn dụ để nói về tình yêu lứa đôi. Quan hệ giữa thuyền và biển là quan hệ của tình yêu. Biển tượng trưng cho người con gái, thuyền tượng trưng cho người con trai, quan hệ là gắn bó thắm thiết. Tuy nhiên có lúc biển nổi sóng để xô thuyền cũng như tình yêu có lúc va chạm. Nhưng rồi cuối cùng vẫn là tình yêu hạnh phúc. Trong bài Thuyền và biển, Xuân Quỳnh viết: “Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu về đâu”. Xuân Quỳnh đã khéo liên hệ tạo cho mối quan hệ này nhiều sắc thái phù hợp với tình yêu đôi lứa và cũng phù hợp với đặc điểm của đối tượng miêu tả: “Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau rạn vỡ. Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh Em chỉ còn bão tố.” Ở bài Sóng Xuân Quỳnh tập trung hẳn vào hình tượng sóng và qua những biến hoá của sóng Xuân Quỳnh nói lên tình yêu đôi lứa. Tất nhiên đây không phải là những con sóng cô đơn mà trong một tương quan gắn bó sóng với bờ, sóng là Em và bờ là Anh. Có nhiều hiện tượng thiên nhiên có khả năng nói lên được đặc điểm của tình yêu như ngôi sao, vầng trăng, ngọn gió, ngọn lửa. Nguyễn Đình Thi cũng hay sử dụng những biểu tượng ngôi sao, ngọn lửa, ngọn gió để nói lên tình yêu: -“Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh” -“Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh” -“Anh vẫn yêu em như lữa dữ Như gió mùa xuân quạt dịu hiều” Nhưng dù sao mọi hiện tượng đều hữu hạn, và sóng có khả năng biểu hiện khá đầy đủ sự phong phú của tình yêu. Sóng là một hình tượng ẩn dụ vừa hoá thân vừa hoà nhập với cái tôi trữ tình. Và ở đây sóng phải góp phần nói lên tình cảm, tình yêu của một tâm hồn thơ nữ. Sóng là một hình tượng đẹp của thiên nhiên được vận dụng để nói lên nhiều trạng thái của tình cảm và riêng với tình yêu thì con sóng phải mang một sắc thái đặc biệt. Không phải là con sóng nhỏ lăn tăn của ao vàng “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí” (Thu điếu) hoặc như sóng gợn để nói lên nỗi buồn kéo dái “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”(Tràng Giang). Bản thân con sóng cũng có nhiều trạng thái biểu hiện, khi lặng lẽ dịu êm khi lại ồn ào, dữ dội: “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể” Con sóng cũng như tình yêu với bao khát vọng bồi hồi, khi mạnh mẽ khi dịu em, và sóng cũng phải tìm đến tận biển cả giữa đại dương mênh mông mới thực sự tìm thấy chính mình, và nhận thức được sức mạnh và những khát khao đích thực của con sóng. Con sóng là vĩnh hằng gắn với sự vĩh hằng của biển khơi muôn đời, con sóng của ngày xưa với con sóng của hôm nay không có gì thay đổi, vẫn dào dạt, vẫn sôi nổi như tình yêu của tuổi trẻ muôn đời vẫn bồi hồi. Xuân Quỳnh đã liên hệ tình yêu của tuổi trẻ với con sóng của đại dương: “Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ.” Tình yêu là một tình cảm lớn lao, thiêng liêng phát triển theo những quy luật chung của đời sống xã hội và những quy luật riêng của mỗi tình yêu lứa đôi, song không dễ cắt nghĩa được đầy đủ bản chất, sự vận động và những biến hoá của tình yêu. Xuân Diệu viết: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu Có nghĩa gì đâu một buổi chiều Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.” Tình yêu là tiếng nói của con tim nên cũng rất khó xác định một cách cụ thể những tiêu chuẩn của sự yêu thích. Xuân Quỳnh cũng đã nêu lên tính quy luật và không có quy luật của tình yêu: “Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau.” Thực ra: “Gió bắt đầu từ đâu” là có thể giải thích được, nhưng cái khó khăn hơn là phải giải thích và xác định : “Khi nào ta yêu nhau”, khi nào mặt biển nổi sóng, những con sóng của tình yêu. Chính nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Diệu cũng có lúc phải nhận xét: “Tình yêu đến – tình yêu đi, ai biết.” Tình yêu lứa đôi thường được biểu hiện bằng nhiều trạng thái tình cảm và một nỗi nhớ là một tình cảm tiêu biểu nhất. Tất nhiên trong cuộc đời khi xa cách sẽ có nhiều nỗi nhớ: con nhớ cha mẹ, bạn bè nhớ nhau… Nhưng nỗi nhớ trong tình yêu lại có những đặc điểm khá riêng biệt. Nỗi nhớ được biểu hiện với nhiều màu sắc ở trong thơ, đó chính là cái chứng tích của tình yêu đích thực. Nhà thơ Hàn Mặc Tử có một ý thơ đẹp: “Khi xa cách không gì bằng thương nhớ” Người xưa đã từng nhớ nhau: “Nhớ chàng như mảnh trăng đầy Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm.” Rồi nỗi nhớ và trạng thái tương tư trong Truyện Kiều: “Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dọn lại một ngày dài ghê” Và thơ hiện đại với nỗi nhớ của Xuân Diệu: “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi”. Và nỗi nhớ trong thơ Hàn Mặc Tử: “Người đi, một nửa hồn tôi mất Một nửa hồn kia hoá dại khờ … Hôm nay có một nửa trăng thôi Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi Ta nhớ mình xa thương đứt ruột Gió làm nên tội buổi chia phôi.” Trong bài Sóng, Xuân Quỳnh đã biểu hiện nỗi nhớ qua âm thanh của tiếng sóng vỗ suốt ngày đêm vào bờ, thao thức không ngủ được. Xuân Quỳnh đã nói lên nỗi đau da diết qua hình tượng sóng, những con sóng thao thức đập vào bờ nhưng không biết đến thời gian. Con sóng vỗ như một tình cảm bồi hồi khao khát, như tình yêu tìm đến hạnh phúc và đến đây bài thơ xuất hiện hình ảnh của đôi bờ. Con sóng nào cũng khao khát đến bờ, hình ảnh của bến bờ như cái đích đi tới và con sóng sẽ không chơi vơi, bỏ cuộc. Xuân Quỳnh đã có những liên tưởng rất sáng tạo để nói lên một tình yêu chung thủy: “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng nhỏ Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vàn cách trở.” Sóng và bờ thể hiện quan hệ nam nữ trong tình yêu lứa đôi. Trước hết Xuân Quỳnh nói lên tình yêu thắm thiết như con sóng khao khát đến bờ, như tình yêu tìm đến với hạnh phúc. Xuân Diệu trong một bài thơ tình về biển viết ở tuổi 50 nhưng vẫn dào dạt sôi nổi như tình yêu ban đầu khi ông sử dụng hình tượng sóng và bờ: “Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt.” Ở ý thơ trên Xuân Quỳnh còn muốn nói là hạnh phúc trong tình yêu không dễ dàng mà đạt được, phải biết vượt qua những thử thách và khi đã vượt qua được thử thách thì tình yêu càng bền vững. Từ không gian mênh mông tác giả trở về với thời gian. Tình yêu bao giờ cũng phải đuợc thử thách với thời gian. Xuân Quỳh đã liên hệ những con sóng đã trải qua thời gian vẫn vỗ, vẫn dào dạt và khao khát tìm đến bờ: “Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa.” Bài thơ đựơc kết thúc với những tình cảm riêng của tác giả mong ước được tan ra thành trăm ngàn con sóng muôn đời với biển khơi. “Làm sao đựơc tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ.” Xuân Quỳnh đã bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn thơ nữ khao khát sống và yêu thương. Tác giả muốn nói đến một tình yêu đẹp và thiêng liêng, đắm say, chung thuỷ, độ lượng của người phụ nữ. Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng đã thể hiện được một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời nhưng vẫn mang tính chất hiện đại của tình yêu hôm nay. Bài 3 Xuân Quỳnh (1942-1988) nổi tiếng với nhiều bài thơ tình như "Thuyền và biển", "Sóng"... Bài thơ "Sóng" được viết vào cuối năm 1967, in trong tập "Hoa dọc chiến hào", xuất bản năm 1968. Bài thơ nói lên một tình yêu đẹp của người con gái: yêu chân thành tha thiết, nồng nhiệt và thủy chung. Tình yêu trẻ trung ấy là khát vọng về một hạnh phúc trọn vẹn của đôi lứa. Sắc điệu trữ tình được dệt nên bằng hình tượng "sóng". Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng bất tận, vô hồi. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái "tôi" trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc lại là sự phân thân của "em", của người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi mới và sôi nổi, khát vọng. Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng và tình yêu nồng nhiệt của người con gái. Sóng biến hóa. Sóng vỗ liên hồi. Triền miên và bất tận: "Dữ dội và dịu êm - Ồn ào và lặng lẽ - Sông không hiểu nổi mình - Sóng tìm ra tận bể". Trạng thái của sóng cũng là những biến thái tâm tình, những khát khao to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương: "Sông không hiểu nổi mình - Sóng tìm ra tận bể" nơi mênh mông dạt dào. Có đến nơi biển rộng trời cao, sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với bao khát khao to lớn. Sóng được nữ sĩ làm biểu tuợng cho tình yêu. Miêu tả sóng biến hóa cũng là để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó giải thích của tình yêu. Giống như sóng biển, tình yêu cũng là một hiện tượng kì diệu của con người, rất khó lí giải tường tận. Con sóng "ngày xưa" và con sóng "ngày sau" vẫn thế, trường tồn, bất biến. Thì tình yêu của con người, mãi mãi là "khát vọng" của tuổi trẻ, của lứa đôi, của "em" và "anh": "Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ". Sóng tìm đến bể, đến đại dương để tự hiểu mình, cũng như em đến với anh, tìm đến một tình yêu đẹp là để hiểu sâu hơn tâm hồn em, con người đích thực của em. Người con gái hỏi sóng, hay để tự hỏi mình: "Sóng bắt đầu từ gió - Gió bắt đầu từ đâu - Em cũng không biết nữa - Khi nào ta yêu nhau". Sóng là sự thức nhận về cái "quy luật" không thể cắt nghĩa được của tình yêu. Cái giây phút giao duyên của lứa đôi "khi nào ta yêu nhau", tìm được câu trả lời đâu dễ? Chính vì thế mà trong bài thơ tình số "21" (tập thơ "Người làm vườn") thi hào Tagor đã viết: "Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu". (Đào Xuân Quý dịch) Câu thơ "Khi nào ta yêu nhau" đã diễn tả đúng nỗi niềm điển hình của những gái, trai đang sống trong một tình yêu đẹp. Sóng vỗ "dữ dội... dịu êm... ồn ào.. lặng lẽ"..., sóng "dưới lòng sâu" và "trên mặt nước", sóng "nhớ bờ" - tất cả đều tượng trưng cho tình yêu và nỗi nhớ. Yêu tha thiết, mãnh liệt. Nhớ bồi hồi, triền miên. Nỗi nhớ ấy da diết, giày vò, choán đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian: "Con sóng dưới lòng sâu, Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được". Thật là tự nhiên và thơ mộng "con sóng nhớ bờ" nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng như bến đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào người con gái cũng bồi hồi thương nhớ: "Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức" "Còn thức" nghĩa là lúc nào em cũng thấy rõ hình dáng anh, ánh mắt anh, nụ cười anh... một tình yêu nồng nhiệt, say mê! Con sóng khao khát tới bờ để vỗ về, ve vuốt "Hôn thật khẽ thật êm - Hôn êm đềm mãi mãi..." (Xuân Diệu). Em cũng khao khát mong được đến với anh, hòa nhịp trong tình yêu anh. Tình yêu của người con gái thật trong sáng nồng nàn và mãnh liệt. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được "tới bờ", cũng như em và anh sẽ vượt qua mọi khó khăn, đi tới một tình yêu đẹp, được sống trong hạnh phúc trọn vẹn lứa đôi: "Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở". Điều mong ước ấy nói lên một tấm lòng, một trái tim nồng hậu chan chứa yêu thương. Người con gái ấy đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành và say mê. Thắm thiết, chân tình và thủy chung là phẩm chất của tình yêu. "Sóng" đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái được sống hết mình với "anh" trong một tình yêu sắt son chung thủy: "Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Nhớ về anh - một phương". Cuối cùng, sóng cũng nói giúp nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn, sống hết mình trong tình yêu. Trong tình yêu lứa đôi đằm thắm đẹp và bền vững như "trăm con sóng nhỏ" tan ra trên đại dương mênh mông, được hòa nhập trong "biển lớn tình yêu" của cộng đồng. Lời nguyện cầu của người con gái cho thấy một tâm hồn rất cao cả trong tình yêu: "Làm sao tan ra được Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ". Cả bài thơ, nếu kể nhan đề, tác giả 11 lần nhắc đến từ "sóng". Sóng vỗ biến hóa như tâm tình xôn xao. Hình tượng sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu, nhịp điệu của sóng, cũng là giọng điệu tâm tình, nhạc điệu của bài thơ. Thơ liền mạch, phong phú về vần điệu, trong sáng trong biểu cảm, lúc bồi hồi tha thiết, lúc day dứt bồn chồn, lúc mạnh mẽ ồn ào. Sóng trên đại dương cũng là sóng vỗ trong lòng người con gái. Cái hay của bài thơ là ở âm điệu ấy. Qua hình tượng sóng và cả bài thơ, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp trẻ trung, tâm hồn trong sáng, đa tình của người con gái. Người con gái ấy chủ động bày tỏ những khát khao, những rung động rạo rực của lòng mình trong tình yêu. Đã có một nàng Vọng Phu, một hòn Trống Mái. Cũng đã có những thiên tình sử diễm lệ, những vần ca dao nói về tình yêu trai gái làng quê. Ở đây cũng vậy, Xuân Quỳnh nói lên một tình yêu đẹp của người phụ nữ: quyết tâm vượt qua mọi cách trở, khó khăn để xây đắp một tình yêu son sắt thủy chung, trọn vẹn trong hạnh phúc như trăm ngàn con sóng kia "ngàn năm còn vỗ" giữa đại dương, "Giữa biển lớn tình yêu" bao la. Người con gái được nói đến trong bài thơ "Sóng" đã có một tâm hồn đẹp, một khát vọng về hạnh phúc nên đã có một tình yêu trong sáng rất đẹp. Xuân Quỳnh viết bài thơ tình này vào những ngày cuối năm 1967, khi mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra vô cùng khốc liệt. Trai tráng ào ào ra trận "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Sân đình, bến nước, gốc đa, sân ga, sân trường... diễn ra những "cuộc chia li màu đỏ". Có đặt bài "Sóng" vào trong bối cảnh lịch sử hào hùng ấy, mới cảm nhận hết nỗi nhớ và khao khát về hạnh phúc của người con gái đang yêu: "Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được...".
Xem thêm

8 Đọc thêm

Ngôn từ nghệ thuật

NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT

Một phương diện giúp khẳng định phong cách của bất cứ nhà văn nào, mà chúng ta không thể bỏ qua, đó là nghiên cứu yếu tố ngôn từ - chất liệu cơ bản để sáng tạo nên tác phẩm văn chương mà nhà văn đã vận dụng một cách nghệ thuật. Đối với Nguyễn Tuân điều này lại cần đặc biệt quan tâm.Bởi lẽ chính nhà văn đã rất coi trọng việc sử dụng ngôn từ khi ngồi trước trang giấy trắng. Ông từng viết: "Chúng ta vẫn đắm đuối với nghề Iàm văn, ngày càng chuốt thêm văn tự, ngày càng làm óng tốt dẻo bền hơn lên nữa cái tiếng nói Việt cổ truyền của mình"[1-137]. Với ý thức cao như vậy, nên ông luôn "tự học" để trang bị cho mình vốn ngôn từ phong phú, giàu có, để sử dụng một cách thoải mái trong lúc hành nghề. Tố Hữu nhận xét Nguyễn Tuân là "người thợ kim hoàn của chữ" [2-196]. Lại Nguyên Ân khen: "con người ông, phong cách ông cũng đẹp một cách độc đáo như câu văn ông, loại câu văn có một không hai trong nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt" [2-564].Để có được những lời tán dương trên Nguyễn Tuân phải trải qua một đời "sẵn sàng chịu khổ hạnh" để góp phần vun tưới cho "cái cây tiếng nói Việt Nam" ngày càng nhiều cành, nhiều lá, nhiều hoa trái hơn, càng như một thứ cây nêu Tết kỳ diệu lung linh giọng gió trước sóng Thái Bình Dương" [2-125]. Nét độc đáo trước tiên trong ngôn từ nghệ thuật của văn chương Nguyễn Tuân, là ông biết khai thác tối ưu hiệu ứng âm thanh của tiếng Việt đơn âm tiết, nhưng lại đa thanh điệu, tạo cho câu văn giàu tính nhạc vang hưởng chất thơ. Những năm trước và sau thập kỷ sáu mươi, Nguyễn Tuân nhiều lần len lỏi giữa rừng Việt Bắc đại ngàn.Với một tình yêu rừng da diết, nhà văn như đang nghe giai điệu rừng dội từ vách đá, vọng xuống lũng sâu, cộng hưởng vào tâm hồn chan chứa thơ nhạc của người bộ hành - Nghệ sĩ Nguyễn Tuân. Ông đã dùng những nét chữ để ký âm khúc nhạc rừng độc đáo: "Lòng tôi sao toàn là những cảm xúc của một người bộ hành thời Trung cổ đặt chân vào giữa một vùng Cổ đại. Đầu toàn nhớ lại những âm từ thơ Đường. Cảnh nơi dọc đường cũng Tùy Tùy Đường Đường cũng Lý Lý Trần Trần như thế thôi.Nhịp sống, nét sống cũng phong phong trần trần mộng mộng đào đào nguyên nguyên vậy" [6-350]. Đọc đoạn văn sau, chưa cần tìm vào ý nghĩa, chỉ nghe âm hưởng vang lên, cũng đã gợi trong ta liên tưởng như những tiếng nức nở của Chiêu Quân cống Hồ đồng vọng trong tâm hồn đời chị Hoài như vại dưa muối đã hỏng: "Nương theo cái chiều tưởng tượng gây gây mùi hoài cựu, tôi nghĩ xa, tôi nghĩ gần, rồi tôi nhận thấy cả một đời chị Hoài cũng chỉ là một đời một nàng Hạnh Nguyên bước đi một bước là thêm một bước cống Hồ. Rặt cống Hồ. Cống Hồ.Toàn là nhịp cống Hồ. Toàn là cung Nam. Nó chìm hẳn xuống như những tiếng tơ rầu" [5-341]. Nguyễn Tuân rất có tài khai thác sức gợi về mặtý nghĩa tạo ra bởi mặt âm thanh của ngôn từ. Ông từng bình rất hay về các từ láy đôi, láy ba; các cảm quan ý nghĩa với những từ mang phụ âm đầu KH trong bài "Tán về ngôn ngữ".Trong "Lửa sinh nhật", ông nhại tiếng súng các loại: "Này thì Bục - Này thì Toác", "Choét! Choét! ung!" ta nghe mà liên tưởng cái đồn Đại Bục, Đại Phác kiên cố của quân địch, trước sức công phá dữ dội của chiến sĩ cách mạng, đã nhanh chóng bục, toác, nhão nhoét, ung thối ra.Vạch mặt một tên thối tha ở phố Cống Thần, nhà văn đã gọi hắn với một cái tên mang hai phụ âm b, l nghe mà phát tởm. Qủa cách đặt tên cũng là một thủ pháp nghệ thuật quan trọng. Vũ Trọng Phụng có cái tài trào lộng loại người tha hóa về mặt đạo đức, băng hoại về lương tâm nhân phẩm, bằng cách đặt cho chúng những cái tên hoa mỹ như Văn Minh, Phó Đoan, Tuyết, TYPN,... Trong khi đó, Nguyễn Tuân lại châm biếm bọn "ưng khuyển phệ - loại yêng hùng bay" đắt giá tốn kém trong quá trình huấn luyện kỹ thuật tiến hành "chiến tranh sạch sẽ" bằng cách phiên âm tên chúng kiểu "Oét-mô-len" thành Vét mồ lên [3-l38]. Tên tù binh bay được Nguyễn Tuân phiên âm thành đồ "Lạc-xon" phế thải; Đức cha Tuyên UÁy biểu tượng cho đạo đức bác ái thành tên xúi giục "Xít - pen - men"; cơ quan ngôn luận lẽ ra phải nói sự thật rành rọt, lại líu ngọng thành "U Pê U Pi". Đây không hề là sự ngẫu nhiên, vì khi đề cập đến những vĩ nhân của lịch sử Mỹ như Washington, Lincoln, hay các văn thi sĩ đáng quý như Edgar Poe, Jack London, Hemingway nhà văn đã viết một thứ chữ tiếng Anh trang trọng.Hiện tượng này có mối liên hệ ảnh hưởng nào chăng giữa Nguyễn Tuân với Bác Hồ.Như khi Bác viết hai bài "Dốt như bò" và "Xa lăng xa lù" đăng báo Nhân Dân ngày 14 - 2 -1952 và 30 - 3 - 1952, châm biếm những tên thực dân Pháp là Tat-xi-nhi và Xa-lăng.Về tên Tat-xi-nhi, Bác viết: "Thế là Tat-xi-nhi đã bị bạn nó tát vào mồm": Kết luận thói huênh hoang của tên Xa-lăng, Bác viết: "Xa lăng xa lù Càng nói càng ngu Ta đánh mạnh đánh mãi Giặc thất bại lu bù" [4-297] Về mặt từ ngữ, Nguyễn Tuân đã thừa hưởng lớn phần "hương hỏa" "kết tinh bởi trăm nghìn công sức lao động của tổ tiên truyền lại".Vì vậy, với tấm lòng tri ân trân trọng, nhà văn có ý thức trách nhiệm làm thể nào để bồi bổ tiếng nói dân tộc phải "giàu thêm mãi về cả chữ dùng, cả cách nói của ngôn ngữ Việt " [7-163]. Mỗi khi cầm bút, ông trải cái vốn từ phong phú mà mình chiếm lĩnh ra để chọn lấy một từ chính xác trong sáng nhất, nhưng cũng ít người dùng nhất, đặt đúng vị trí trong câu văn.Người đọc khi gặp, lập tức phản xạ với cái vốn quen dùng của mình mà rung lên xúc cảm, khắc vào ký ức như biết thêm một từ thần, như nhớ thêm một câu thơ hay, một cách dùng độc đáo, mà học theo để nâng dần năng lực ngôn ngữ của mình. Nguyễn Tuân có những cách dùng từ "quái dị" khó quên như: "Ấy là một người đàn bà, thứ đàn bà tồi.Tồi ở chỗ lõa lồ trong câu nói tiếng cười". Cũng người đàn bà ấy: "người cứ ngồi ỳ ra đấy để ám sát cái hiền lành của một chuyến xe ngựa rất nên thơ" [5-305]. - Cái người phu xe già vốn vẫn kéo đưa tôi xuống xóm hát và đang ghếch càng xe lên hè chở tôi ra ga, nở một nụ cười a tòng rất có tính cách buộc tội cho tôi, trước mặt vợ tôi đang ngần ngại. [5-215] Đọc văn Nguyễn Tuân, chúng ta có thể tìm thấy vô số trường hợp ông vận dụng các biện pháp tu từ độc đáo, những liên tưởng hết sức bất ngờ như: - Thời giá hoa đào ở ngân thị Hương Cảng mấy ngày gần đây đã bỏ xa thời giá hoa biết nói trong hàng viện và mọi phòng trà. [5-23] Thầy giáo dạy tiếng Việt có thể dễ dàng tìm cho mình những ví dụ về các biện pháp tu từ ở trong văn chương Nguyễn Tuân, nhằm minh họa cho các tiết dạy một cách phong phú và tiết kiệm được thời gian như: "Nhưng mà cả cái cầu bảy nhịp đó, một trăm bảy mươi tám thước khung sắt đó tám trăm chín mươi tư gỗ ván đó, nhưng mà cái cầu đó là của ai?... Tổ chức quốc tế nào hay là cơ quan nào trong nước? Hay là trối kệ nó đó như là một đứa con hoang thai của thời thế? Chao ôi, thấy thương quá là thương, cho bảy nhịp Hiền Lương cầu tuyến! Nó lù lù vô duyên như một con bù nhìn khung nan sắt đang quá đỗi tẽn tò trên khúc sông đệm" [6-382]. Về mặt cú pháp, câu văn của Nguyễn Tuân có cấu trúc trùng điệp, để khắc họa đậm nét tính cách của nhân vật và sự đa diện của hình tượng.Người đọc thường có những xung động thẩm mỹ thú vị, gợi liên tưởng đến nhiều tầng nghĩa khác nhau, qua sự mở rộng tối đa những vị ngữ, bổ ngữ... Nói về thân phận hèn mọn của thầy Lý trong "Một vụ bắt rượu lậu", nhà văn viết: - "Nghĩ đến đấy, thầy Lý không dám giữ đầu mình cho thẳng thắn, chỉ muốn cúi mặt mình xuống đất, hết nhìn đôi ủng da tây của quan Phủ, đôi guốc kinh của ông Đề và đôi bàn chân lấm của mình.Thầy Lý lúc này là sự hóa thân của một sự sợ hãi" [5-10]. Thủ pháp kết hợp những từ ngữ cùng trường nghĩa vào trong câu, đoạn văn, có thể xem là sự vận dụng thành công của Nguyễn Tuân. Câu văn của ông "co duỗi" một cách linh hoạt. Có khi gợi cảm giác vón cục kết tinh lại qua những câu văn ngắn, khô như: "Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng", "Hết cả lã chã". Nhưng thường thì câu văn Nguyễn Tuân gợi cảm giác không gian đang mở rộng, thời gian được kéo dài, bởi những từ ngữ chỉ phương hướng, chiều kích gắn kết vào nhau bằng những từ chỉ thì thời gian. Đoạn văn sau cho ta cảm giác ấy "Dọc theo con đường ở Phù Yên đang rộng ra, đang dài thêm mãi ra và thẳng duỗi ra, cuộc sống lao động tập thể đang cất lên cơ man là mái nhà mới, những ngôi nhà gianh nhà nứa mới. Nhà mới mọc đến đâu thì cây rừng bị thu hẹp đến đấy" [6- 122]. Câu văn của Nguyễn Tuân đan chéo nhau các phương chiều của không - thời gian qua liên tưởng miên man của tác giả, như những thước phim điện ảnh, hội tụ nhiều mảng không gian, đồng hiện nhiều khoảnh khắc thời gian, tạo ra hình ảnh đối lập sinh động nói lên sự vận động phát triển của con người - đất nước Việt Nam, từ nô lệ nghèo đói, đau thương khổ nhục sang tự do, no đủ hạnh phúc. Nằm trên mỏ "Than Quỳnh Nhai" nhà văn nghĩ: "Tôi nằm đây là nằm trên những biến thiên biển xanh nương dâu, trên những xác rừng cổ đại nay khai ra đốt sáng miền Bắc kiến thiết tổ quốc trong đó mỏ châu Quỳnh Nhai có cái vinh quang được góp phần than lửa của mình" [6-287]. Đạp xe đi giữa lòng Hà Nội ngày sơ tán, hồn Nguyễn Tuân lại phiêu dạt vào Huế xưa, mà không khỏi bồi hồi về tình cha con sâu nặng của thời thơ ấu. Ông viết: "Giữa phố Huế của Hà Nội sơ tán, thấy dòng phố như một dòng sông Hương, và thấy xe đạp chậm của mình đang như một con đò trôi miết trên dòng. Chao ôi, quên sao được sáu nhịp cầu Thành Thái và quên sao được những tiếng súng giờ giấc của thành Huế thanh bình giả vờ thuở đó"[7-113]. Nói đến ngôn từ Nguyễn Tuân, không thể không nói đến tín hiệu đặc trưng của thể loại ký. Đó là tính khoa học chính xác nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao của tác giả thể hiện trong trang viết. Những tên người, tên đất, con số, sự kiện của địa lý - lịch sử Việt được nhà văn tra cứu kỹ lưỡng trước khi định hình trong câu văn. Nguyễn Tuân cho rằng: "Tôi vẫn cho địa lý quan trọng hơn lịch sử. Khoa học của lịch sử kích thích tinh thần quốc tế và bồi dưỡng nhiều cho lòng yêu nước. Do có kiến thức lịch sử' mà tấm lòng càng gắn bó với đất nước. Những cái điều đó cũng dễ thành một ý niệm trừu tượng, nếu không có sự bổ túc của khoa địa lý. Muốn yêu đất nước tổ tiên mình cho thật đầy đủ, thì phải đi bằng hai chân cả lịch sử và địa lý. Muốn thật yêu một vùng nào, một tấm lòng chưa đủ, phải có đôi chân nữa. Không có sự phối hợp của địa lý; mà chỉ có toàn lịch sử thôi thì khác chi thấy bóng rồi mà chưa lần ra cho hết cái hình" [6-464]. Tư tưởng nghiêm túc này đã chỉ đạo ngòi bút của Nguyễn Tuân viết nên những trang ký chân thực, khách quan về sự kiện, sâu sắc về bình giá và đậm đà về tình cảm. Điều cuối cùng, dựa vào phong cách chức năng của ngôn ngữ, chúng tôi thấy ngôn từ văn chương Nguyễn Tuân là hiện tượng đa phong cách. Nhà văn như nghệ sĩ xiếc ngôn từ. Ông nhại được giọng nhiều vùng miền khác nhau, huy động thích hợp thuật ngữ nhiều ngành khoa học, nghệ thuật khác phục vụ cho việc xây dựng hình tượng nghệ thuật văn chương và chuyển tải tư tưởng, tình cảm đến với bạn đọc, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ văn chương xứng đáng là bậc thầy ngôn ngữ của văn đàn hiện đại Việt Nam.
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ

Bài 1: “ Văn học là nhân học” ( M.Gorki). Trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con ngườI luôn luôn là một phương tiện thẩm mĩ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hoà quyện vớI nhau. Để làm rõ điều vừa nói, “hai đứa trẻ” của Thạch Lam sẽ là một dẫn chứng. “ Hai đứa trẻ” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác phẩm đã gieo vào lòng ngườI đọc một nỗI buồn bâng khuângday dứt về đờI sống con người. Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ xác và lạI càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê “mặt trờI đã lấp sau rặng tre, nhìn lên chỉ thấy khóm tre màu đen kịt trên nền trờI phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu văng vẳng kêu ngòi đồng, thế cũng đủ làm thành cái buổI chiều êm như ru như bao chiều khác. Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lạI hiện ra trong khung cảnh chợ vãn của buổI chiều chỉ còn lèo tèo vài ba ngườI bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong “gió lạnh đầu mùa” nhưng sao nó vẫn nhuốm một nỗI buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong “Hai đứa trẻ”. Song bức trang phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chốn kinh thành được mang tớI từ con tàu đêm đêm. Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sống của những ngườI mang trong mắt Liên dường như quá quen thuộc, mỗI ngườI đã có một thói quen. Như bác phở Siêu. chị Tí, bố con nhà hát sẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trống thu không thì đóng cửa quán mà đợI chờ. Hiện thực không làmta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo vớI những ngườI cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương. Nhưng tất cả những hiện thực như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chấ văn lãng mạn.ThờI gian đi vào cuộc sống của phố huyện “ rõ ràng” không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. ThờI gian cứ chậm rãi đi từng bước phát triển của nộI tâm. Từ “tiếng trống thu không” đến một câu văn nhẹ nhàng : “Chiều, chiều rồI” cất lên trong lòng, rồI trờI nhá nhem tốI đến không gian đã khuya không còn những “tạp âm”, của ban ngày chỉ còn “vòm trờI vớI ngàn ngôi sao xanh ganh nhau lấp lánh”. MỗI thờI điểm lạI có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những câu văn tươi mát, uyển chuyển. Có buổI chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ cón tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mớI có cái mượt mà đượm chất thơ như thế. Sự tài tình chính là ở chổ nhà văn vừa hoà nhập hai tâm hồn quan sát là một. HIểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà hiểu cảnh vật diễn ra trong mắt của nhân vật Liên cũng chẳng sai. Ta thấy rõ điều đó qua cái giật mình của nhân vật. “Liên mãi ngồI quên mất! Bây giờ Liên vộI vàng vào thắp đèn xếp những quả sơn đen lạI”. “TrờI bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng gió mát”. Nhưng câu văn như vậy có rất nhiều và được dùng một cách chính xác đạt đến mẫu mực. PhảI chăng cảm nhận ấy xuất phát từ tâm hồn nhà văn hay chính là từ tâm hồn của Liên khi phố huyện đã chìm trong im lìm của vắng lặng. Trong con mắt “Dõi theo những bóng ngườI về muộn từ từ trong đêm”. Nếu như đầu tốI phố huyện còn được “trang hoàng” bằng những ánh đèn hắt ra từ những quán bên đường thì bây giờ chỉ còn là bóng đêm. Một vài tia sáng le lói từ kẻ cửa thành từng vệt. Con mắt thơ mộng đâu chỉ dừng ở những ánh sáng rất thực mà tìm đến cái mong manh của thứ đom đóm lập loè trong kẽ lá bàng lạI càng gợI buồn khó tả. Ánh sáng hiếm hoi của thiên nhiên được nhà văn “ chớp” nhanh trong cái nhìn lãng mạn. Chất thơ chính là ở đó. Vừa có vài hiện thực vừa có sự bay bổng của ngườI bút phác lên và đằm lạI trên trang văn. Nhưng tất cả vẫn là cái thường nhật diễn ra trong cảnh sống vốn quẩn quanh lầm lũi. Ánh đèn của chị Tí đủsoi một khoảnh nhỏ. Nếu quan sát từ xa, ta sẽ thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật vớI hai “gam màu” sáng tối. Khuônmặt ngườI phụ nữ chân quê chất phát đã trảI qua một ngày bươn bảI vớI cuộc sống để kiếm cái ăn, manh áo. Cuộc sống gia đình bận rộn tốI tăm. Nhưng tốI nào chị cũng góp một ánh đèn như thế. Tuy để làm thêm thu nhập, nhưng hình như họ chỉ bán cho lấy lệ. Vậy thì cái gì đã làm cho họ ra đây? PhảI chăng đó là nếp sống. Và phố huyện ban đêm là nơi để họ sống…Âm thanh của cuộc sống phát ra từ những lờI đốI thoạI, những hoạt động của con ngườI nơi đây. MỗI ngườI đều góp một thứ ánh sáng, một chút hương vị, âm thanh. Tất cả tạo nên một bức tranh phố nghèo. Chẳng có một nét chấm phá nào trong bức tranh nhưng tất cả những con ngườI có mặt đã làm nên tổng thể củacảnh vật cuộc sống. Nếu như ở Nam Cao là những cảnh sống hiện thực khốn khổ vớI nước mắt của đói, miếng ăn và áp bức thì cuộc sống hiện thực trong văn Thạch Lam được “đo bằng” một đơn vị “lãng mạn” nhất định. Nét bút của ông đã phát hoạ một cách rất nhẹ nhàng uyển chuyển. Phố huyện nghèo và cũng có rất nhiều lý do để ngườI dân phảI lao vào cuộc bon chen giành dật sự sinh tồn. Nhưng ở đây là một không khí chan hoà thực sự, ấm áp tình ngườI và mỗI ngườI khi ra về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn. Sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tyệt vờI của ông. Trở lạI vớI cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lạI ở cảnh bao quát mà đắm lạI ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính lả điểm nhà văn đã tập trung khắc hoạ. Liên gây ấn tượng bởI nộI tâm sâu sắc, xuất phát từ một con ngườI đa cảm. Khi màn đêm đã bắt đầu buông xuống cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợI lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏI chạnh niềm thương: đó là những chú bé nheo nhóc nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẫu que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ấn tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng trẻ con chút nào. Tư thế của một ngườI chị còn bé hơn thế nữa, nỗI lòng buồn báo hiệu một sự “trưởng thành” về tâm sinh lí. Bức tranh phồ huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tốI hư vô của phố huyện. Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh ngoài kìa, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đờI, cảnh sống của mỗI ngườI lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên. Cuộc sống của từng ngườI đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể ngườI dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đờI cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống , ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lạI ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy hàng quán vớI những khoảnh đất trống “Lá đa lác đác trước lều” và những “con ngườI ấy” mà thôi. Nhưng ở Liên lạI có một sự khác lạ mà trong số trên chẳng có ai. Một hành động tưởng như quái gở và vô nghĩa, đó là “đợI tàu”. Nếu mẹ Liên ở đó chắc không cho cô thức. Nhưng đó mớI chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc hoạ hình ảnh Liên cùng em đợI tàu vớI một niềm háo hức rất trẻ con. Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏI, đợI chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng Liên có một mỗI buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất nhưng lạI chợt gợI thêm nỗI buồn khó tả. Tiếng rầm rầm của tàu đã lẩn khuất sau màn đêm dáy đặc, không gian của phố huyện thoáng giao động rồI lạI trở về như xưa. Tâm trạng của Liên bây giờ chẳng biết nên vui hay nên buồn. Vui có lẽ đúng hơn vì hàng ngày chuýên tàu vẫn là niềm mong mỏI của chị. Có ngườI nói “chờ đợI là một điều khủng khiếp”; song, không có gì để chờ đợI lạI càngkhủng khiếp hơn. VớI Liên điều khủng khiếp chính là niềm vui mà chị có thể tự tạo cho mình. Chất lãng mạn ngay trong cảnh đợI tàu. Cảnh đợI tàu ở đây tuy có khác vớI cảnh đợI tàu trên sân ga nhưng lạI vẫn chung một nỗI niềm mong mỏi. Điều đáng nói hơn là duy chỉ một cô bé Liên đợi. Cuộc sống bon chen đã không làm chị chìm trong cảnh đờI lầm lũi, thầm lặng. Vượt xa hơn là một tâm hồn khát khao niềm vui của cuộc sống. Tuy cuộc sống buồn nhưng vẫn tạo được nhiềm vui để mình sống có ý nghĩa hơn trong cõi đờI. quả thực, tâm hồn Liên là một bài thơ có cấu tứ khá hoàn chỉnh; nhưng đó là một sự thật hiển nhiên mà Thạch Lam đem lại. Cho đến nay, chị vẫn sống vớI một niềm vui của chuyến tàu đem lại. “Liên” là mảng màu chủ đạo tạo nên chất hiện thực và chất lãng mạn trong thiên truyện. tạo nên bằng một cuộc đời. tạo nên như là ngườI dẫn chuyện. Thành công của thạch Lam chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp lãng mạn vớI xu hướng hiện thực, nhân đạo. Tạo cho mỗI tác phẩm của ông một sức sống trường tồn cùng lòng người. Tình ngườI của nhà văn vớI nhân vật đã đưa ý nghĩa truyện lên một tầng cao mới. Ai đó đã định nghĩa về thơ : “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đờI còn là thơ nữa” thì truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và nhiều thiên truyện khác nữa của thạch lam có đầy đủ những yếu tố mang phong vị của một bài thơ trữ tình đặc sắc mà lạI “cuộc đờI” thật nhiều sâu sắc. Bài 2: Mỗi lần đọc Thạch Lam trong trí tôi lại hiện lên hình ảnh cánh cổng gỗ của khu vườn êm ả được miêu tả trong truyện Dưới bóng hoàng lan. Phía ngoài cánh cổng là một thế giới ồn ào, phồn tạp, nắng nôi, nhưng bên trong là bầu không khí mát rười rượi thoảng mùi hương thật thích hợp cho tâm trạng suy tư và cảm nhận, lắng nghe những điều tế nhị của sự sống. Văn Thạch Lam cũng như khu vườn bên trong cánh cổng ấy, ít sự kiện, hành động nhưng đầy ắp những bâng khuâng. Nó cho ta cơ hội hiểu thấu sâu xa những cuộc đời giản dị, qua sự chiêm nghiệm lặng lẽ. "Hai đứa trẻ" là truyện ngắn rất Thạch Lam. Chất liệu của nó vẫn là cuộc sống tù đọng, mòn mỏi nơi những phố huyện nghèo nàn xơ xác. Nhưng từ thứ chất liệu rất "văn xuôi" đó, nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những trang viết hết sức thi vị, không có gì chung với sự thi vị hoá cuộc sống một cách tầm thường. Thi vị ( hay chất thơ) của tác phẩm gắn liền với dụng công của nhà văn muốn khêu gợi trí tưởng tượng nơi người đọc và đánh động khả năng cảm nhận của các giác quan bằng lối hành văn hoặc cách tổ chức lời văn khá riêng biệt. Đây chính là chiều sâu của một nghịch lý tưởng chừng khó giải thích : viết về các sự vật, sự việc tầm thường, đơn điệu mà văn vẫn lôi cuốn đến thế. Điều này phá vỡ một ngộ nhận (chí ít là của người đọc) về tính quyết định của vật liệu. Thực ra nghệ thuật chính là một sự chế ngự vật liệu, vật liệu thông qua những phương thức, phương tiện diễn tả đặc thù. Câu văn của Thạch Lam tả rất sát sự thật, sự việc. Nhưng điều đó không có nghĩa ở đây chỉ có sự khớp đúng đến nghẹt thở. Tiết điệu buông chùng của câu mở đầu thiên truyện chứng tỏ điều đó : " Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều". Cái lõi ngữ pháp của câu chỉ được nhận ra ở vế sau, nhưng sự cảm nhận của người đọc đã thực sự được khởi hành từ trước cùng cụm danh từ được đảo lên trên. Trong câu này cái đáng chú ý còn có từ "gọi". Nó xác lập một tương quan mới (dù vô hình) giữa các sự vật mà từ báo hiệu chẳng hạn không nói lên được. Dĩ nhiên câu văn vừa nêu không chỉ Thạch Lam mới viết nổi. Nhưng điều quan trọng là nó xuất hiện có quy luật chứ không ngẫu nhiên, nhằm nhấn mạnh một điều gì khác hơn những sự kiện nổi trên bề mặt. Xin chú ý thêm hai câu văn khác đứng kề nhau: " Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào". Trong câu đầu dường như thừa một chữ "chiều", xét theo góc độ thông tin bình thường. Nhưng thực ra ở đây còn có thông tin về tâm trạng mà riêng hai chữ "chiều rồi" chưa truyền tải được (do thiếu vắng nhịp điệu). Mặt khác, nếu không có chữ chiều " thừa ra" ấy, sự buông lơi êm đềm của câu sau sẽ ít có hiệu quả. Tính chất thừa tiếp hô ứng của mạch văn cũng thiếu trọn vẹn. Rõ ràng đọc giả đang bị dẫn dắt bởi văn chứ không phải cái gì khác. Suốt truyện ngắn , nhà văn nhiều lần nhấn mạnh sự "ngây thơ" của hai nhân vật chị em qua các nhận xét như: "Liên không hiểu sao...", "Liên tưởng là...", "tâm hồn Liên... có những cảm giác mơ hồ không hiểu", "vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ...","Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết...". Rất có thể nhân vật của truyện "không biết", không hiểu thật, nhưng điều đáng nói là tác giả đã mượn chính tâm trạng nhân vật để ám thị người đọc. Các phủ định từ "không" đã "bẫy" họ sa vào một không khí bất định, mông lung. Độc giả cứ ngỡ mình đang cùng nhà văn theo dõi nhân vật, nhưng thật sự họ đã bị lây nhiễm chính cảm giác của nhân vật và không thôi thao thức. Càng cố gắng hiểu những điều nhân vật "không hiểu" để phân biệt với nó, anh ta càng rơi sâu vào không khí của truyện đến nỗi mất cả đường ra, trong khi tác giả vẫn không ngừng tả, kể để trói anh ta chặt hơn vào câu chuyện mà ông "bịa" ra. Truyện tuy rất ít hành động nhưng vẫn thấp thoáng những lời đối thoại. Chúng được phân bố rất đều trong tác phẩm và xuất hiện giữa những đoạn miêu tả cảnh vật - một khung cảnh lặng lẽ, êm đềm, có phần hiu hắt, buồn bã. Chính không khí ấy quy định sắc điệu của lời đối thoại, trong khi bản thân lời đối thoại cũng mang tính chất lơ lửng, không gây nên sự đột biến nào của mạch truyện. Những câu hỏi nêu ra có thể trả lời cũng được mà không cũng được. Nó không nhằm mục đích tìm biết mà chỉ chờ đợi một sự phụ hoạ, xác nhận điều người nói nghĩ và thậm chí cả sự hiện tồn mờ nhạt của họ nữa : - Em thắp đèn lên chị Liên nhé ! - Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ? - Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế ? - Còn cô chưa dọn hàng à? - Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không ? - A, cô bé làm gì thế ? - Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ ? - Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ ? Trước những câu hỏi ấy người đối thoại thường là "mãi rồi mới chép miệng trả lời", ngẫm nghĩ rồi đáp hoặc có đáp cũng "đáp vẩn vơ", thậm chí "không đáp", "không cần ngoảnh mặt ra". Một số người khi muốn chứng minh luận điểm nói rằng cảnh đời được miêu tả trong truyện thật nghèo nàn buồn tẻ, đã viện đến các chi tiết như đám trẻ con nhặt nhạnh những thứ rơi vãi trên nền chợ, chị Tý dọn hàng đến khuya mà không bán được bao nhiêu, hai chị em Liên xem phở bác Siêu như một thứ quà xa xỉ, một người mua hàng đến nửa bánh xà phòng cũng phải mua chịu... Thật ra cần chú ý hơn đến những mấu đối thoại rời rạc đã nói ở trên. Dụng công của Thạch Lam cũng như hồn văn của truyện chính toát lên từ đấy. Nó đưa tới cho người đọc không phải chuyện này chuyện nọ mà là một ấn tuợng buồn nản, xót thương, thậm chí bực bội trước các câu hỏi tủn mủn , bâng quơ, không cần thiết phải trả lời và những lời đáp quá chừng nhạt nhẽo, phẳng lặng. Những ấn tưọng đó khó gây dựng hơn nhiều so với các nhận xét kết luận "đóng bao"sẵn thường thấy ở nhiều truyện thừa giọng giáo huấn mà thiếu tính nghệ thuật. Trong truyện cũng vài lần nổi lên tiếng reo chứa đựng niềm hân hoan mong đợi : - Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi. - Đèn ghi đã ra kia rồi. Nhưng những tiếng reo đó đã nhanh chóng phô ra tính chất tội nghiệp của chúng, niềm vui mới nhóm lên đã bị triệt tiêu bởi lời kể nhẩn nha vô tình mà thật "ác nghiệt" : " An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền , hai chị em không bao giờ mua được " và "chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn". Đúng là mong đợi chỉ để mà mong đợi, reo lên chỉ để rồi buồn tiếc và thất vọng hơn. Cảm giác thất vọng của nhân vật chắc chắn là sâu sắc. Nhưng đâu chỉ nhân vật, độc giả cũng thất vọng không kém. Bị trói chặt bởi nhịp cầu lê thê của câu chuyện, họ đã chờ đợi bao nhiêu ở những tiếng reo kia. Thật ra, niềm thất vọng này chính là hiệu quả nghệ thuật của truyện. Sau sự hụt hẫng này, độc giả sẽ vỡ ra những ý nghĩa của đời sống mà truyện muốn hướng tới. Nghệ thuật không phải là nói thẳng mà nói vòng, còn độc giả thì có được cảm giác thật như người trong truyện. Cùng với nhân vật, họ tự nghiệm sinh các giá trị của đời. Hình ảnh thiên nhiên trong truyện đã gây cho người đọc những ấn tượng sâu đậm. Sự êm ả đượm buồn mà ta nhận thấy một phần là của thiên nhiên với tư cách là chất liệu, vật liệu, một phần là của văn. Những bức tranh nho nhỏ được gài xen kẽ với nhũng mẫu đối thoại rời rạc, không hoàn chỉnh. Chúng lấp đầy những khoảng trống của lời nói và cầm giữ nhịp điệu của thiên truyện. Giả sử tác giả viết khác đi, dồn hẳn những đoạn miêu tả thiên nhiên về một phía, và phía kia là hình ảnh sinh hoạt của con người, hẳn giọng điệu điều hoà của truyện sẽ biến mất và chủ đề của truyện sẽ khác đi. Ở đây thiên nhiên không thu hút toàn bộ thần trí con người để họ mê man trong đó. Nó gần gũi, vỗ về, khơi gợi những cảm xúc dịu dàng và bâng khuâng. Nó trổi lên đánh lạc hướng tâm trạng buồn chán của nhân vật ( và của độc giả) thông qua mùi âm ẩm của đất bụi, vẻ lung lay của bóng đèn, bóng người, ánh nhấp nháy của ngàn sao và đom đóm, tiếng động mơ hồ, khe khẽ của loạt hoa bàng rụng xuống vai...Tuy nhiên, việc đánh lạc hướng kia chỉ diễn ra từng lúc một, và nhân vật của truyện lại trở về với thực tại túng thiếu, lam lũ, để tiếp đó rơi vào trạng thái chập chờn nửa mơ , nửa thức, khắc khoải chờ mong, hi vọng ( dẫu chẳng biết hi vọng ở cái gì). Truyện sở dĩ không rơi vào nhàm tẻ dù đối tượng hàm chứa sự tẻ nhàm, chính một phần nhờ lối tả, kể xen kẽ, chắp nối đó. Hai đứa trẻ là truyện ngắn giàu tính nghệ thuật. Tác giả đã rất ung dung, thoải mái khi xử lí chất liệu hiện thực. Tất cả chất liệu đã được tổ chức lại nhằm khơi dậy ở người đọc những cảm xúc nghệ thuật thuần khiết . Nhà văn đưa họ vào thế giới của ông, thôi miên họ, sau đó tự để họ ngẫm nghiệm và rút ra những bài học cần thiết. Ở trên có nhắc tới "khu vườn Thạch Lam". Thực ra "khu vườn"ấy không chỉ có nghĩa là đề tài. Đó là "khu vườn" của nghệ thuật - một nghệ thuật biết vượt thoát khỏi sự trói buộc của đề tài để làm vang dậy tiếng nói riêng của nhà văn.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bàn về truyện cổ tích và ca dao, có ý kiến cho rằng Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao Anh chị nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

BÀN VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ CA DAO, CÓ Ý KIẾN CHO RẰNG CÁC NHÀ VĂN HỌC ĐƯỢC VĂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ HỌC ĐƯỢC THƠ TRONG CA DAO ANH CHỊ NGHĨ NHƯ THẾ NÀO VỀ Ý KIẾN TRÊN?

Bài văn đoạt giải nhất quốc gia Đề: Bàn về truyện cổ tích và ca dao, có ý kiến cho rằng: "Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao" Anh, chị nghĩ như thế nào về ý kiến trên? Yêu cầu: 1/ Hiểu đúng ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị - đây cũng là ý kiến của Hêghen, Gorki, Gamdatốp, Vũ Ngọc Phan, Xuân Diệu...nhằm khẳng định tác dụng, chức năng của hai thể loại cổ tích và ca dao nói riêng và văn học dân gian nói chung đối với văn học viết. Nhà văn là người viết văn, làm thơ, hiểu rộng ra là người sáng tác văn học nói chung. "Học được văn trong cổ tích" là học được nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của những truyện cổ tích:"Học được thơ trong ca dao" tức là học được cảm xúc, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của ca dao. Nói khái quát "học được văn trong cổ tích, học được thơ trong ca dao" là học được cái hay cái đẹp, những giá trị của hai thể loại này. Như vậy đề thi nói đến tác dụng chức năng của hai thể loại là truyện cổ tích và ca dao đối với những người sáng tác, nói rộng ra là đối với văn học viết. văn học dân gian. 2/ Cần biết cách chọn lọc phân tich một số truyện cổ tích và một số câu ca dao để làm sáng tỏ vấn đề nêu ở đề bài . Đồng thời trong quá trình bàn luận, người viết ít nhiều phải nêu được một số dẫn chứng, mà ở đó có phần tác giả đã học được qua truyện cổ tích hoặc qua ca dao. Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích tức là học được sự sáng tạo những điển hình nghệ thuật hoàn hảo, học được nghệ thuật tự sự hấp dẫn, học được cách thức hư cấu và những yếu tố tưởng tượng phong phú, đa dạng...cần phân tích một số chi tiết, nhân vật được xây dựng thành công có thể do nhà văn đã học tập được ở cổ tích hoặc có chất cổ tích trong sáng tác của một số nhà văn VN như Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Ng Minh Châu...hoặc một số nhà văn nước ngoài như Andecxen, Puskin,... để làm sáng tỏ thêm vấn đề Các nhà văn nhà thơ học được thơ trong ca dao tức là học được nội dung cảm xúc của ca dao để phản ánh được nguyện vọng ước mơ nỗi niềm...của quần chúng, học được những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của ca dao (từ cách gieo vần cách sử dụng thể thơ đến cách dùng hình ảnh ngôn ngữ...) để thơ trở nên ngắn gọn hàm súc trong sáng và gợi cảm...từ đó thơ có sức lay động hồn người và vượt qua được sự sàng lọc của thời gian. Cần phân tích một số sáng tác thành công có thể do tác giả học tập ở ca dao hoặc có chất ca dao của một số nhà thơ như Ng Du, nguyễn Bính hoặc của Tố Hữu...để làm sáng tỏ thêm vấn đề. 3/ Biết lí giải và giới hạn vấn đề . Có thể khẳng định VHDG là sự kết tinh quá trình sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ. Những tác phẩm còn lưu truyền đếnn gày hôm nay đã được thời gian sàng lọc một cách hết sức khe khắt, bởi vậy chúng có giá trị về nhiều mặt. Trong kho tàng VHDG các dân tộc, trong đó có VN, truyện cổ tích và dân ca (ca dao) là những thể loại có nhiều thành tựu xuất sắc nhất, những thể loại này quả là "khuôn vàng thước ngọc" cho văn học viết (V N Phan) Nhà văn cần phải học ở truyện cổ tích, ở ca dao, nhưng không chỉ học ở hai thể loại này và cũng không chỉ học tập ở VHDG. Hơn nữa, việc học tập đó thành công đến đâu còn phụ thuộc vào mức độ sáng tạo, năng lực cách tân, tức là bản lĩnh và tài năng của mỗi người. Những nhà văn nhà thơ lớn phần nhiều đều là những người biết tìm về truyền thống văn học dân gian để tiếp thu và sáng tạo. Tác phẩm của họ rất giàu tính dân tộc tính nhân dân. *********************** Bài làm đoạt giải nhất Có những tác phẩm đã ra đời từ cách đây rất lâu mà không bao giờ cũ, vẫn để lại trong lòng người đọc những ấn tượng ám ảnh day dứt không nguôi. Đó là những câu chuyện cổ, những áng ca dao dân ca. Dù năm tháng đổi thay, những đền đài rồi sụp đổ, những tranh tượng rồi tiêu tan thì các tác phẩm văn học dân gian ấy vẫn cứ tồn tại bền bỉ như dòng sông chảy mãi tưới mát tâm hồn bao thế hệ người đọc hôm qua, hôm nay và mai sau. Song không chỉ bồi đắp cho tâm hồn muôn triệu con người, những câu chuyện cổ, những áng ca dao còn là nguồn cảm hứng khơi nguồn cho các tác phẩm thơ ca, văn chương của văn học viết, giúp các nhà nhà thơ học được nhiều điều. Bởi thế khi bàn về truyện cổ tích và ca dao, có ý kiến cho rằng:"Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao". Tôi còn nhớ người nghệ sĩ mù, nhà thông thái của Hi Lạp cổ đại Hômerơ từng lang thang khắp các con phố, khắp các nẻo đường nhặt nhạnh, lắng nghe những câu chuyện dân gian, để từ chất liệu vô giá ấy viết nên hai thiên trường ca bất hủ: Iliat và Ôđixê. Tác giả của sử thi Ramayana Mahabharata cũng kiếm tìm bền bỉ trong kho thần thoại dân gian Ấn Độ để sáng tác nên hai thiên sử thi làm rạng danh cho nền văn học ở đất nước giàu truyền thống văn hóa này. Cho hay học tập tinh hoa văn hóa của văn học dân gian để làm đẹp làm giàu cho các sáng tác văn học viết là quá trình bền bỉ của nhiều nhà nghệ sĩ ở nhiều nền văn học trên thế giới. Ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị khi bàn về truyện cổ tích và ca dao đã khẳng định sự học tập và tiếp thu tonh hoa văn hóa dân gian của các nhà văn, nhà thơ. Truyện cổ tích và ca dao, những sáng tác truyền miệng vô danh cứ âm thầm bền bỉ sống từ đời này qua đời khác. Nó được kể lại được ngân nga, hát lên trong những lời mẹ ru con bên nôi, những tâm tình của trai gái bên cối gạo, những người chống đò hát với đêm trăng (ý của Chế Lan Viên). Một dân tộc có thể đếm được sốn hà văn, nhà thơ nhưng sao có thể tính được những người dân vô danh sáng tác nên cả nền văn học bằng trí nhớ? Truyện cổ tích và ca dao mãi bất diệt trong đời sống tâm hồn, tình cảm con người, khơi nguồn cảm hứng cho bao nghệ sĩ. Học ở đây được hiểu là sự tiếp nối kế thừa một cách sáng tạo những vẻ đẹp của truyện cổ tích và ca dao. Các tác giả không sao chép thụ động, vẹn nguyên những sáng tác dân gian truyền miệng, mà học tập trên cơ sở sáng tạo học trên cơ sở phát huy. Có như vậy những tác phẩm văn học viết mới tồn tại với thời gian, trụ vững vàng cùng năm tháng. Nếu không nó chẳng khác nào một bản sao vụng về của văn học dân gian. "Học được văn trong truyện cổ tích, học thơ trong ca dao", sự học tập ấy không giản đơn, thoáng chốc trong ngày một ngày hai mà là cả một quá trình dài lâu bền bỉ. Những câu truyện cổ tích, những áng ca dao cứ thấm nhuần trong tâm hồn nghệ sĩ, để hồn văn hồn thơ dân gian tự nhiên chuyển hóa vào văn học viết chứ không phải là sự bắt chước sống ss]ơngj vô hồn. Các tác giả học được gì nơ những sáng tác dân gian? Họ tiếp thu những ngôn ngữ lối cấu tứ, hình ảnh ...trong ca dao, họ học tập cách xây dựng nhân vật, không khí truyện huyền ảo thần bí, cách kết thúc có hậu...trong cổ tích. Các tác phẩm VHDG cứ phả hồn mình vào những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ hiện đại. Chính sự học tập này là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của văn học viết. Đọc văn học viết, không hiểu sao tôi cứ thấy thấp thoáng đi về một Chử Đồng Tử, một sự tích Trầu cau, những hồn ca dao dân ca thuở nào vương vấn. Những atcs phẩm ấy không chết mà vẫn tái sinh vĩnh cữu trong nền văn học hôm nay, cũng như văn học Hi la đã góp phần tái sinh làm nên cả một nền văn học Phục hưng "xanh màu nhân bản". Vì lẽ gì các nhà văn nhà thơ lại tiếp nối, học tập những câu chuyện cổ tích, những áng ca dao mang hồn xưa muôn thuở? Điều gì tạo nên sự nối dài trong lịch sử văn học này? Trước hết có thể thấy rằng, văn học dân gian là nền văn học đầu tiên xuất hiện trong lịch sử văn hóa tinh thần của loài người. Nó đồng hành cùng sự sống con người ngay từ lúc sơ khai. Khi con người thoát khỏi những tiếng gào rú vô hồn, những âm thanh vô nghĩa, khi con người biết đứng trên đôi chân khỏe mạnh của chính mình, biết cảm nhận cái đẹp cũng là lúc văn học dân gian ra đời, một nền văn học chỉ được lưu truyền trong trí nhớ. Truyện cổ tích và ca dao xuất hiện muộn hơn các thể loại văn học dân gian khác như thần thoại sử thi truyền thuyết, khi xã hội đã có đấu tranh giai cấp. Như thế chính sự ra đời sớm hơn và đạt được nhiều thành tựu đáng kể mà truyện cổ tích và ca dao đã đem đến cho các nhà văn nhà thơ sau này những bài học về nghệ thuật, giúp các tác giả học được nhiều điều. Có học giả đã nhận xét rằng: Các sáng tác trong Kinh th phần nhiều là cảu nông dân, phụ nữ làm ra mà nhiều văn sĩ đời sau không theo kịp được. Là tiếng nói bình dân, nhưng cũng như Kinh thi, truyện cổ tích và ca dao VN sống với thời gian bằng sức hấp dẫn nội tại của nó. Vẻ đẹp ấy muôn đời vẫn được khám phá, kiếm tìm. Các nghệ sĩ sau này học tập tiếp thunhững vẻ đẹp cả nội dung và nghệ thuật có giá trị vĩnh cữu ngàn đời của VHDG. Từ câu chuyện cổ dân gian nước Nga, Pu skin chẳng đã sáng tác "Ông lão đánh cá và con cá vàng" sao?"Vợ chồng A Phủ"của Tô Hoài cũng phảng phất hồn cổ tích muôn đời in dấu vào trang viết. Những câu ca dao chẳng đã đỏ bóng lung liinh trong thơ NGuyễn Du, nguyễn bính sao? Nếu VHDG chỉ giản đơn là những lời hò vè vô nghĩa, những lời nói bắt thành vần sao chúng có thể làm nên những bài học nghệ thuật cho văn nghệ sĩ sau này học tập, tiếp thu? Chính những thành tựu trong văn của truyện cổ tích và trong thơ của ca dao đã giúp các tác giả sau này học được nhiều điều. Có thể thấy lịch sử văn học phát triển trong sự nối dài của nhiều nền văn học. VHDG và văn học viết vừa song hành, vừa tiếp nối nhau. Nền văn học ra đời sau tất yếu phải tiếp thu những tinh hoa cảu nền văn học trước. Các nhà văn nhà thơ sau này tất nhiên phải học tập cái hay cái đẹp của văn trong truyện cổ, của thơ trong ca dao. Ấy là qui luật của sáng tạo nghệ thuật. Những truyện cổ tích, những câu ca dao tái sinh mình trong những tác phẩm văn học viết sau này. Nhưng sự học tập của các nhà văn nhà thơ không phải là sự sao chép nguyên vẹn, bê nguyên xi cổ tích ca dao vào những trang viết. Trái lại bản chất của văn học là sáng tạo. Văn chương sẽ đi về đâu nếu mỗi nghệ sĩ chỉ lặp lại những điều đã có, nếu mỗi nhà văn chỉ nhìn đời bằng con mắt cũ mòn? Bởi thế tiếp thu mà không quên sáng tạo. Các tác giả đem cái hồn văn của cổ tích với mootip nhân vạt kết cấu, cách nhận thức nghĩ suy của người xưa vào văn mình đem cái hồn thơ lấp lánh trong ca dao để làm nên chất hồn riêng cho thi phẩm. Quá trình học được kia vì thế mà không hề thụ động, có tiếp thu nhưng phải trên cơ sở sáng tạo, phát huy. Những giấc mơ cổ tích ngày nào, những giai điệu ngọt ngào tình tứ của ca dao tưởng đã lùi xa vào quá vãng, tưởng chỉ tồn tại như sản phẩm tinh thần của con người một thời. Song nó đã bắt rễ vào trái tim tâm hồn người Việt. Tự lúc nào ca dao cổ tích đã ngấm sâu vào muôn nẻo hồn thơ muôn nẻo hồn văn của các nghệ sĩ hôm nay. Thế mới thấm thía bài học sáng tạo của nghệ sĩ muôn đời. Ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị xét cho cùng là bàn về sự học tập tiếp nối, kế thừa sáng tạo phát huy những tinh hoa của truyện cổ ca dao để làm giàù làm đẹp thêm cho văn học viết. Ý kiến đó là kết quả của sự nghiên cứu nghiêm túc, bền bỉ của nhà phê bình. Nó được thử nghiệm được minh chứng bởi sự phát triển của văn học, bởi hành trình tiếp thu những giá trị đẹp đẽ của truyện cổ ca dao từ văn học trung đại, văn học hiện dại đến văn học đương đaị hôm nay. Sự tiếp thu ấy không chỉ diễn ra trong văn học VN mà cả văn học nhân loại. Bởi vậy ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị là đúng đắn và có tính thuyết phục cao. Ai đó đã không ngần ngại khẳng định rằng: Lịch sử văn học là lịch sử tâm hồn của mỗi dân tộc. Bởi văn học gắn liền với cuộc sống, đồng hành cùng sự sống con người. Trong đó cổ tích ca dao chính là tâm hồn con người lúc ấu thơ. Tâm hồn ấy sẽ dần cứng cáp và phát triển trong VH viết. Những câu chuyện cổ, những câu ca dao bao thế kỉ rồi vẫn như những con sóng xô ftaam hồn để mặt biển lòng người không ngững rung động, xôn xao. Nó âm vọng vào cả nền văn học sau này, để con người hôm nay mỗi lần giở "Truyện Kiều", đọc thơ HX Hương, Ng Bính, Tố Hữu, Ng Khao Điềm laijthaays thấp thoáng, lại được gặp nơi mỗi trang thơ hồn ca dao đi về muôn thuở. Các tác giả đã học tập được thơ của những câu hát dân gain. Chất thơ vút lên từ mồ hôi nước mắt, từ cuộc sống càn lao lam lũ đời thường. Vì đâu "Truyện Kiều" lại trở thành tiếng hát tâm hồn dân tộc? Bởi lẽ tiếng thơ Tố Như đã đi về cùng ca dao muôn đời. Nhà thơ đã học tập những tinh chất tinh hoa trong ca dao. Chính Tố Như đã nói"Thôn ca sơ học tang ma ngữ (trong thôn xóm ta học được ngôn ngữ của người trồng dâu trồng gai). Đi vào cuộc sống, trở về với nguyên thủy dân ca, nhà thơ sẽ trưởng thành lên rất nhiều, nhà thơ sẽ học được nhiều điều "Học được thơ trong ca dao", Ng Du đã học ngôn ngữ hình ảnh thể lục bát truyền thống...từ tiếng hát tâm hồn người lao động. Hình ảnh nàng Kiều chẳng phải là hiện thân điển hình cho những người phụ nữ khốn khổ, khốn cùng nơi những câu hát than thân: Thân em như hạt mưa sa, Thân em như hạt mưa rào sao? Khơi nguồn thi cảm từ bể sầu nhân thế, không biết bao thi nhân"đau đớn lòng". Nguồn cảm hứng về nỗi khổ con người đã được khai thác nhiều mà xem ra chưa cạn vơi đi nhiều lắm. Nguyễn Du đã bắt nhịp tâm hồn cùng tiếng khóc của người phụ nữ dưới đáy cùng bể khổ kia, để cất lên khúc hát rong về nỗi khổ phận người. Cảm hứng ấy chẳng phải đã được khơi nguồn từ cadao, dân ca sao? Song có lẽ Ng Du chịu ảnh hưởng đậm nét nhất ở chất thơ trong ca dao là lối sử dụng hình ảnh ngôn ngữ thi liệu. Những vầng trăng, những lời thề nguyền, hò hẹn, những từ ngữ vừa bình dị vừa lấp lánh chất thơ...đi vào "Truyện Kiều" từ miền ca dao xưa cũ. Vầng trăng trong cuộc chia li Kiều- Thúc"Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường"được học tập từ vầng trăng của ca dao một thuở"Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?" Vẫn là vầng trăng ấy, mà sao từ ca dao hóa thân vào "Đoạn trường tân thanh" lại mang một nét hồn riêng biệt. Vầng trăng trong con mắt người biệt li nhuốm đầy tâm trạng. Vì người phải chia phôi nên trăng cũng thành xẻ nữa. Lấy cái nhìn chủ thể mà nhìn hiện thực khách quan, Nguyễn Du đã để vầng trăng vốn tròn đầy viên mãn vỡ ra thành hai mảnh. Câu thơ dâng đầy một nỗi xót xa cùng bao dự cảm âu lo. Thực chất trăng vẫn viên mãn, tròn đầy, nhưng là viên mãn trong cái nhìn của những kẻ không cô đơn. Còn hôm nay, Kiều và Thúc, mỗi người chỉ mang trong mình có một nửa vầng trăng thôi, một nửa vầng trăng hao khuyết. Thấy phảng phất trong vần thơ Tố Như cuộc biệt li của cô gái chàng trai trong ca dao. Cuộc biệt ki ấy hóa thân vào sự chia phôi giữa Kiều và Thúc. Vầng trăng tan vỡ trong ca dao lại in bóng ở Truyện Kiều. Nếu không học tập ngôn ngữ, hình ảnh của người lao động bình dân, sao Ng Du có thể viết nên hai câu thơ bất hủ, hai câu thơ góp phần không nhỏ làm nên vẻ đẹp toàn bích của "Truyện Kiều"? Thể lục bát truyền thống làm nên giai điệu ngọt ngào của chất thơ trong ca dao được học tập đầy sáng tạo trong thơ Ng Du. Nhà thơ đã tiếp thu vốn văn học dân gian để đưa vào tác phẩm của mình những vần thơ tuyệt tác. Làm nên vị trí kiệt tác số một của Đoạn trường tân thanh trong VHVN có nhiều lí do, song có một điều không thể thiếu: Tố Như đã đi vào nơi cuộc sống của người bình dân bằng vốn tri thức sách vở và đời thực ông đã học được thơ trong ca dao một sự học tập đầy sáng tạo. Không chỉ Ng Du, Ng Bính, một nhà thơ mới cũng đã đem vào một thời đại trong thi ca một tiếng thơ quen bởi thi sĩ đã trở về nương hồn mình nơi bến nước gốc đa, những đêm hội chèo để nghe tiếng vọng của ca dao đổ về từ cội nguồn dân tộc. Nếu Xuân Diệu từ bỏ chốn làng quê thuần hậu đi đến nơi thành thị để làm một người rất mới, rất tây thì Nguyễn bính trở về, đưa nguồn thơ chan hòa vào những câu ca dao thuần hậu nguyên thủy muôn đời. Có lại chăng khi trong tiếng thơ của một nhà thơ mới mà cứ thấp thoáng đi về một người nhà quê một hồn quê với bến nước gốc đa với nỗi nhớ thương tương tư của con người Việt Nam thuở trước. Hóa ra tâm hồn chàng thi sĩ quê mùa Nguyễn Bính đã ăm ắp chất thơ của ca dao. Những từ ngữ, hình ảnh cách tỏ tình lứa đôi trong thơ, những mình những ta, những anh những nàng lối lục bát mênh mang giai điệu trữ tình sao gần với ca dao làm vậy? Đọc thơ Nguyễn Bính mà cứ ngỡ rằng thêm lần nữa được thưởng thức nguồn ca dao từ xưa cũ. Song ngẫm kĩ vẫn thấy một cái tôi Nguyễn Bính không nhạt nhòa, hòa lẫn trong lời ca của những thi sĩ bình dân: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn đông, Một người chín nhớ mười mong nột người. Gió mưa là bệnh của giời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Không nói "anh nhớ em", "tôi nhớ nàng" mà kín đáo ngụ nỗi nhớ vào hai miền không gian xa cách: thôn Đoài - thôn Đông, một người - một người. Đúnglà cách bày tỏ tình cảm kín đáo vòng vo của ca dao.Tình cảm là sự thực của mình nhưng cứ gán cho một đối tượng nào bóng gió xa xôi lắm: Những mận những đào những mượn mình làm mối cho ta một người mà lại là một người đẹp vừa tươi như mình. Hai chữ một mình bị đấy ra hai đầu mút câu thơ khiến khoảng cách cũng muôn trùng cách trở:chín nhớ mười mong. Thành ngữ dân gian đi vào câu thơ một cách tự nhiên. Có phải Nguyễn Bính đã lấy tứ Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo của ca dao ? Chàng thi sĩ quê mùa ấy đã phả vào thơ mình một chất thơ lấy từ ca dao. Đó là một trong những nét làm nên sức hấp dẫn riêng của nhà thơ Nguyễn Bính. Một Tố Hữu đem vào tiếng thơ mình nguồn ca dao một thuở với những mình ta (V Bắc). Mượn cách nói của những lời tỏ tình đôi lứa để biểu đạt những tình cảm chính trị lớn lao, thơ TH gần với ca dao biết mấy! Nguyễn Khoa Điềm trong Mặt đường khát vọng cùng tìm về ca dao để cắt nghĩa, lí giải sự sinh thành, phát triển của đất nước ở bề sâu văn hóa. Và cả những Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn...sau này các nhà thơ đã học tập chất thơ - những từ ngữ, hình ảnh cảm hứng, cấu tứ giọng điệu ở ca dao. Không chỉ học tập chất thơ trong ca dao, văn học viết còn tiếp thu chất văn trong cổ tích, những câu chuyện vô danh chở đầy ước mơ hồn nhiên của con người thuở trước giờ lại đổ bóng hình vào văn học hiện đại hôm nay. Victo Huygo xây dựng nên hình tượng Quadimodo từ thế giới nhân vật dị dạng, méo mó trong cổ tích. Những chất liệu từ cổ tích đã cung cấp cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo. Họ học ở cổ tích cách xây dựng nhân vật theo môtip thiện-ác phả vào trang văn của mình chất huyền ảo thiêng liêng và niềm tin, sự lạc quan của người bình dân trong cổ tích đã truyền niềm tin sự lạc quan trong tư tưởng các nhà văn hiện thực cách mạng. Có ai đó cho rằng Vợ chồng APhủ của THoài là thiên truyện thấm đầy chất cổ tích và hiện thực. Cổ tích chuyển hóa vào hiện thực, mô tip nhân vật ấy chắc hẳn THoài đã học được từ chất văn trong những trang truyện cổ thuở xưa. Mị tiêu biểu cho những cô gái nghèo bất hạnh, cô phải chịu những đau khổ trong cuộc đời, nhưng lại mang trong mình những khoảng sáng của phẩm chất tốt đẹp. A Phủ là hiện thân cho môtip nhân vật các chàng trai mồ côi, hoàn toàn không có gì cả, song lại có một sức sống bền bỉ dẻo dai. Họ không có gì cả mà hóa ra lại mang trong mình những vẻ đẹp phẩm chất vô giá. Có phải ta đang gặp lại hình ảnh Chử Đồng Tử trong A Phủ, gặp lại cô Tấm dịu hiền trong hình ảnh Mị ? Lối kết thúc có hậu cũng được sử dụng trong truyện ngắn. A Châu, người chiến sĩ CM, là hình ảnh của những ông tiên vị phật đem lại hạnh phúc cho những chàng trai cô gái bất hạnh. Có thể thấy ở Vợ chồng A phủ, TH đã học được chất văn từ cổ tích xa xưa. Lời kể chuyên trầm trầm khách quan nhưng vẫn thấy ấm áp tấm lòng người cầm bút. Như thế có thể thấy rằng các nhà văn nhà thơ đã học tập được văn trong truyện cổ và học được thơ trong ca dao. Đó là sự học tập đầy sáng tạo, học tập trên những gì có sẵn. Chính nguồn thơ nguồn văn ở VHDG đã nuôi dưỡng cho những sáng tác tinh thần ở VH viết . Nó tái sinh trong VH hôm nay. Ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị không trực tiếp nói tới sức sống của VHDG song qua sự học tập tiếp thu của các tác giả mà ta hiểu được sức sống ấy mãnh liệt nhường nào. Ngược lại có những tác phẩm học tập từ ca dao, rồi lại có tác động ảnh hưởng đến chính ca dao ( Truyện Kiều). Nhiều câu ca dao được sáng tác từ chính mối tình Kim Kiều trắc trở: Anh xa em như liễu xa hồ Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi Ý kiến này cũng đặt ra bài học cho người cầm bút muôn đời: Anh hãy học tập, tiếp thu sáng tạo những tinh hoa của truyện cổ, ca dao để làm đẹp thêm cho sáng tác của mình". Bởi ca dao, truyện cổ là dòng sông muôn đời bồi đắp cho người sáng tạo Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về đất nước mình thì bắt lên câu hát Ca dao truyện cổ cũng như những dòng sông ấy, tháng năm vẫn âm vang nhịp sóng trong tâm hồn nghệ sĩ muôn đời. Các nhà văn nhà thơ vẫn muôn đời học được nhiều điều từ ca dao truyện cổ.
Xem thêm

5 Đọc thêm

TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC BẢO KÍNH CẢNH GIỚI

TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC BẢO KÍNH CẢNH GIỚI

Xuất xứ "Quốc âm thi tập"của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ Nôm, trong đó có nhiều bài bát cú, thất ngôn xen lục ngôn. Chùm thơ "Bảo Kính cảnh giới" gồm có 61 bài trong "Quốc âm thi tập". Đây là bài 43. Nguyễn Trãi viết bài thơ này khi ông đã về Côn Sơn ở ẩn. Chủ đề Bài thơ nói lên niềm vui trước cảnh mùa hè và nỗi ước mong của bài thơ. Phân tích 1. Niềm vui trước cảnh mùa hè Đã thoát khỏi vòng danh lợi về sống giữa làng quê. Niềm vui nhàn hạ được "hóng mát" được ngắm cảnh sắc mùa hè, thích thú trước màu "lục" của tán hoè, trước sắc đỏ của hoa thạch lựu ngoài hiên, trước sen hồng trong ao. Vui với niềm vui của bà con làng chài, vui vì tiếng ve ngân như tiếng đàn cầm. Vui trong hoà điệu "lao xao" và "dắng dỏi" của khúc nhạc đồng quê sớm sớm chiều chiều. "Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương" Nhà thơ giầu tình yêu thiên nhiên, gắn bó với quê hương. Một con người yêu đời và ham sống. Màu sắc, âm thanh trong vần thơ cho thấy cái thú vị đồng quê đáng yêy vô cùng. 2. Nỗi ước mong "Dẽ có Ngư Cầm đàn một tiếng. Dân giàu dù đủ khắp đòi phương" Nhờ thơ tâm sự: hãy để cho ta có cây đàn thần của vua Thuấn, ta đàn lên một tiếng thôi, thì dân khắp mọi miền, mọi nơi sẽ giàu đủ no ấm, hạnh phúc. Niềm mong ước ấy hướng về nhân dân, lấy sự ấm no của nhân dân làm niềm vui của mình. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi nói đến "yên dân", "để nhân dân nghỉ sức". Trong bài "Tùng", ông cũng viết "Dành còn để trợ dân này". Đó là tư tưởng lấy dân làm gốc. 3. Ngôn ngữ thơ thâm trầm, bình dị. Câu 1 câu 8 là câu "lục ngôn" một nét độc đáo của thơ Nôm Ức Trai.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích khổ đầu bài thơ Tống biệt hành

PHÂN TÍCH KHỔ ĐẦU BÀI THƠ TỐNG BIỆT HÀNH

Đề: Đưa người, ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? (Tống biệt hành, Thâm Tâm) Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ trên. Bài làm A. Mở bài: "Tống biệt" là mọt từ xuất hiện khá nhiều trong thi ca từ xưa đến nay, từ đông sang tây. Có nhiều nhà thơ thể hiện mô tif này rất thành công, lưu lại tên tuổi trên thi đàn như: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Trương Cửu Linh, Thôi Hiệu, Trịnh Cốc, Liễu Vĩnh, Tô Thức, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Thế Lữ, Thái can...Riêng với nhà thơ Thâm Tâm, bài thơ Tống biệt hành đã làm nên tên tuổi của ông trong phong trào thơ mới nói riêng và trong nền thi ca hiện đại Việt Nam nói chng. Đây là bốn câu thơ đầu trong bài thơ này: Đưa người, ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Theo Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai, xuất xứ của bài thơ đã được xác minh: Thâm Tâm làm bài thơ này để tiễn một người bạn lên chiến khu (người bạn này hiện đang còn sống, có làm thơ). Lúc ấy là vào khoảng năm 1941, bắt đầu dấy lên phong trào Việt Minh ở chiến khu Việt Bắc. Một số thanh niên ở các thàn phố được tuyên truyền, vận động, hăng hái đi làm cách mạng. Những nhân vật được nói đến trong bài thơ (mẹ, một chị, hai chị, em) đều có thật cả. Người xưng Ta chính là Thâm Tâm. B. Bài thơ được viết theo thể hành Hành là một thể thơ cổ của Trung Quốc, viết khá tự do, phóng khoáng. Với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính, các bài "hành" thường được sử dụng để diễn tả một tâm trạng bi phẫn, bi hùng (Tống biệt hành, Hành phương Nam, Vọng nhân hành). Bài thơ dài 22 câu, được chia làm sáu đoạn. Đoạn 1 (sáu câu đầu) là nỗi lòng lưu luyến, vấn vương, tê tái của người đưa tiễn trong một buổi hoàng hôn li biệt. Đoạn 2 (từ câu 7 đến câu 10) là quyết tâm của người ra đi. Đoạn 3 (từ câu 11 đến câu 14), đoạn 4 (từ câu 15 đến câu 18) và đoạn 5 (từ câu 19 đến câu 22) đều là suy nghĩ, cảm xúc của người đưa tiễn đối với người ra đi sau phút giây tiễn biệt nhưng đoạn 5 được khắc họa đậm nét hơn các đoạn trước. Bốn câu thơ trên đây thuộc những dòng đầu tiên của bài thơ thuộc đoạn 1. Phân tích: (theo kiểu tổng - phân - hợp) Bước 1: Tổng Cấu tứ, thanh điệu, giọng thơ hình ảnh, nhịp điệu thơ, không gian - thời gian, âm hưởng của bốn câu thơ này rất đặc biệt, gợi ra nhiều cảm xúc, vừa mang màu sắc cổ điển (màu sắc Đường thi) vùa mang màu sắc hiện đại. Về cấu tứ: nhà thơ tạo dựng mối quan hệ KHÔNG - CÓ để thể hiện tình người trong cuộc chia li tiễn biệt: KHÔNG có sóng nhưng CÓ tiếng sóng ở trong lòng, KHÔNG có bóng chiều nhưng CÓ hoàng hôn đong đầy trong mắt. Cụ thể là nhà thơ dùng nhiều phủ định từ để tạo nên cái KHÔNG: "KHÔNG đưa qua sông", "bóng chiều KHÔNG thắm, KHÔNG vàng vọt". Liền sau đó, nhà thơ lại dùng nhiều khẳng định từ để gợi cái CÓ: "Sao CÓ tiếng sóng ở trong lòng?", "Sao ĐẦY hoàng hôn trong mắt trong?". Chính những hình ảnh đối lập ấy đã khắc họa nỗi buồn da diết của người đưa tiễn nhưng ẩn chứa đằng sau là tâm trạng của người ra đi. Về hình ảnh: nhà thơ không TẢ mà chỉ GỢI. Cụ thể là nhà thơ không tả vảnh những được "nhìn" qua tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của con người. Cái tài của nhà thơ là tạo nên sự liên tưởng, sự cộng hưởng nối liền cuộc chia li hiện tại với cảnh cũ người xưa trong lòng độc giả. Về không gian - thời gian: rất mơ hồ, ảm đạm, chỉ có dòng sông mênh mông và buổi chiều hoàng hôn mênh mang trong tâm tưởng của những độc giả yêu thơ, say thơ. Về giọng điệu: mới mẻ, trẻ trung mang dấu ấn của nhà thơ Thâm Tâm: bì mà không lụy, bi mà hùng. Hai phạm trù bi và hùng hòa quyện, quấn quýt nhau không thể tách rời. Về nhịp điệu: rắn rỏi, khỏe khoắn dứt khoát, khi thiết tha, khi trầm lắng nhờ các thanh bằng, trắc cộng hưởng với nhau. Về âm hưởng: đoạn thơ giàu âm hưởng anh hùng ca, thể hiện sự khẳng khái của thế hệ thanh nhiên thời kì khởi nghĩa trước Cách mạng tháng Tám. Về ngôn từ: rất linh diệu, giàu cảm xúc. Bước 2: Phân: Câu 1: Đưa người ta không đưa qua sông Lời thơ chợt gợi nhớ, gợi thương hình ảnh thái tử Yên Đan tiễn chàng dũng sỹ thời Chiến Quốc là Kinh Kha vượt sông Dịch sang nước Tần làm thích khách mưu giết tên bạo chúa Tần Thủy Hoàng để trừ hại cho bá tánh. Và lời thơ cũng chợt gợi nhớ, gợi thương hình ảnh "Thánh thơ" Đỗ Phủ trên bến sông tiễn biệt: Nước sông trắng, mây vàng tuôn, Kẻ đi người ở, cơn buồn bên sông. Tuy mang phong vị Đường thi nhưng câu thơ "Đưa người, ta không đưa qua sông" của Thâm Tâm chỉ toàn thanh bằng chạy dài tít tắp về phía chân trời cảm xúc. Chính vì thế, những thanh bằng ấy gợi lên cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến và nỗi buồn lan tỏa trong lòng kẻ ở, người đi. Câu 2: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Câu thơ có hình thức câu hỏi tu từ và chở bốn thanh sắc rất gắt: "có tiếng sóng ở" nghe như âm vang liên tiếp của những tiếng sóng vỗ trong lòng người đưa tiễn và nghe trong tiếng sóng như cảm nhận được cả hơi lạnh của gió sông. Hình ảnh "sóng lòng" dễ làm ta nhớ đến hai câu thơ của thi sĩ Nam Trân miêu tả tâm trạng vấn vương của nhân vật trữ tình với cô gái chèo đò trên dòng Hương Giang thơ mộng, tình tứ: Biết không? Cô hỡi biết không? Chèo cô còn quẫy, sóng lòng còn xao! Tuy cách bộc bạch của Thâm Tâm ở đây "ám ảnh hơn, kín đáo mà dư ba" hơn. Câu 3: "Bóng chiều không thắm không vàng vọt" Trong thi pháp thơ Đường, thơ Tống, thơ Việt Nam thời trung đại, cac thi nhân thường mượn ngoại cảnh để biểu đạt nội tâm thông qua những hình ảnh ước lệ, tượng trưng. Nối tiếp người xưa, Thâm Tâm cũng mượn ngoại cảnh và dùng hình ảnh ước lệ tượng trưng nhưng lại sáng tạo, bổ sung thêm chi tiết "có tiếng sóng ở trong lòng?" và đặc biệt là "Bóng chiều không thắm không vàng vọt". Vâng! không có bến sông, không có bóng chiều vàng vọt nhưng lại có tình người nồng ấm và cao đẹp khôn cùng. Có biết bao tâm tư, tình cảm, ước nguyện muốn tỏ bày đằng sau những từ "không" ấy. Dường như, có cái gì nhói lên thật đau xót, tái tê trong lòng kẻ ở người đi. Câu 4: Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Màu hoàng hôn đong đầy "trong mắt trong" là màu sắc tâm tưởng, màu sắc biệt li, màu sắc lãng mạn, màu sắc thi vị. Ở câu thơ này, chúng ta thấy được nghệ thuật dùng từ của Thâm Tâm rất có sức gợi, sức tả. Từ "đầy" vừa gợi chiều sâu, chiều rộng, chiều dài của nỗi buồn dâng lên thành khối trong cõi sâu hun hút nơi đáy tâm hồn "li khách" cũng như người ở lại. Hai từ "trong" tuy đồng âm nhưng khác nghĩa. Từ "trong" thứ nhất chỉ sự chứa đựng: "phía, bề kín không bày ra ngoài". Từ "trong" thứ hai miêu tả ánh mắt đẹp, khỏe khoắn, trẻ trung của người ra đi nhưng vẫn không giấu được nỗi buồn biệt li ấy. Và như câu thứ hai, câu thơ này cũng dùng hình thức điệp âm và câu hỏi tu từ vừa tạo cảm giác êm đềm, nhẹ nhàng có tác dụng tô đậm thêm nỗi buồn nhân cách của những tâm hồn vì non nước, những tầm cao nhân cách, nó khác hẳn với nỗi buồn của những mối tình phôi pha: Anh biết em đi chẳng trở về Dặm nghìn liễu khuất với sương che Em đừng quay lại nhìn anh nữa Anh biết em đi chẳng trở về (Thái Can) Bước 3: Hợp Bốn câu thơ trên này có những thành công tuyệt vời về nội dung lẫn nghệ thuật. - Bốn câu thơ không những thể hiện thành công một cuộc tống biệt thời hiện đại mà còn hé mở cho chúng ta thấy tấm lòng khâm phục, yêu quý và ngưỡng mộ của nhà thơ Thâm Tâm đối với người ra đi vì "chí nhớn". - Đoạn thơ thể hiện sự thăng hoa nghệ thuật của hồn thơ Thâm Tâm. Cả bốn câu thơ đều toàn bích, nghĩa là câu nào cũng hay, chữ nào cũng có ý nghĩa. Đáng chú ý là Thâm Tâm có sự phối hợp khéo léo, tài hoa nhiều biện pháp tu từ trong tiếng Việt để tạo hiệu quả nghệ thuật cao nhất cho đoạn thơ. Đó là các biện pháp: câu hỏi tu từ, điệp cấu trúc cú pháp (Sao/ có tiếng sóng ở trong lòng?; Sao/ đầy hoàng hôn trong mắt trong?), điệp từ (Không đưa qua sông; Không thắm, không vàng vọt; sao có...?, Sao đầy), điệp vần (không/ sông/ lòng/ trong), điệp phụ âm đầu (vàng, vọt, hoàng hôn, trong mắt trong), điệp thanh (Đưa người ta không đưa qua sông. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong. Sao có tiếng sóng ở trong lòng). Tất cả các nghệ thuật này đã làm cho câu thơ dồi dào tính nhạc, tính tạo hình, và tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ, một cảm xúc thiết tha, sâu lắng, bâng khuâng. C. Kết luận: Tóm lại, thơ hay không đòi hỏi cả bài gồm toàn những câu hay. Một câu thơ hay, một đoạn thơ hay có thể làm nên giá trị cho cả một bài thơ, làm cho nhà thơ được người thưởng thức nghệ thuật đón nhận và nhớ mãi. Nhắc đến Thâm Tâm, những độc giả yêu thơ, say thơ nhớ ngay đến bài Tống biệt hành, mà nhớ nhất là bốn câu thơ đầu tiên - bốn câu thơ tài hoa. Chỉ bằng bốn câu thơ thi nhân đã tạo được sự liên tưởng, sự vang ứng, công hưởng nối liền cuộc chia li hiện tại với cảnh cũ người xưa trong lòng độc giả. Chính vì vậy, tác giả đã thành công khi thể hiện tình cảm muôn thuở của con người: "Bi mạc bi hề sinh biệt li" (Không có gì buồn bằng nỗi buồn chia li - Khuất Nguyên). Đặc biệt, sự kế thừa và sáng tạo trong cấu tứ Đường thi đã giúp cho thi nhân thể hiện sâu sắc một cái nhìn đa chiều về "vẻ đẹp của con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo".
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nhân dịp cùng bố mẹ đi thăm quan (hay du lịch) em đã được làm quen với một người bạn mới. Dù cuộc gặp gỡ thật ngắn ngủi nhưng tình bạn ấy vẫn là một kỉ niệm khó phai. Em hãy kể lại.

NHÂN DỊP CÙNG BỐ MẸ ĐI THĂM QUAN (HAY DU LỊCH) EM ĐÃ ĐƯỢC LÀM QUEN VỚI MỘT NGƯỜI BẠN MỚI. DÙ CUỘC GẶP GỠ THẬT NGẮN NGỦI NHƯNG TÌNH BẠN ẤY VẪN LÀ MỘT KỈ NIỆM KHÓ PHAI. EM HÃY KỂ LẠI.

Đề bài: Nhân dịp cùng bố mẹ đi thăm quan (hay du lịch) em đã được làm quen với một người bạn mới. Dù cuộc gặp gỡ thật ngắn ngủi nhưng tình bạn ấy vẫn là một kỉ niệm khó phai. Em hãy kể lại. Bài viết 1 Tôi đã đi nhiều nơi và hầu hết là đi biển. Nhưng hè năm nay, bố lại có một đề nghị khác. Để mừng lần đầu tiên con gái đạt giải học sinh giỏi, gia đình ta sẽ đi nghỉ mát ở Tam Đảo hai ngày. Không giấu nổi niềm vui, mẹ tôi võ tay tán thưởng vui mừng. Còn tôi và thằng Tí thì chạy ào đến quàng lên vai, lên lưng bố cảm ơn rối rít. Ngày hôm trước khi đi đúng là một ngày bận rộn của mẹ. Mẹ chuẩn bị không biết bao nhiêu thứ nhưng lại có thêm cả mấy chiếc áo thu đông. Thấy lạ, tôi liền hỏi mẹ: - Mẹ ơi! Sao đi nghỉ hè mẹ lại chuẩn bị cả áo thu đông như vậy? Mẹ trả lời bí ẩn: Cứ lên đó! Con sẽ hiểu tại sao. Câu trả lời của mẹ dường như làm tăng thêm sự thú vị của Tam Đảo trong tôi. Sáng hôm sau, mới sáu giờ, chiếc xe bố thuê ở ngoài phố đã sẵn sàng đưa cả gia đình em đi suốt cuộc hành trình. Chiếc xe băng nhanh ra khỏi nội thành. Phía sau cửa kính, cả tôi và thằng Ti cứ mải miết nhổm lên mà ngắm những cánh đồng lúa mênh mông bát ngát. Loáng cái, xe đã đến Nội Bài, Phúc Yên rồi rẽ Vĩnh Yên, xe vào đường Tam Đảo (tên những địa danh tôi đọc được trên biển chỉ đường). Thấy biển đề Tam Đảo, tôi bỗng reo lên: - A! Đến nơi rồi! Nhưng bố nói! Chưa đến đâu con ạ! Còn mấy chục cây nữa cơ! Bây giờ bắt đầu đến đoạn đường đi khó, hai con phải ngồi ngoan và cẩn thận. Bố vừa nói dứt lời thì tôi chợt nhận ra con đường trước mặt ngoằn ngoèo như con rắn và dường như cứ hun hút đi lên. Ngồi trong xe mà cả nhà tôi cứ lắc qua lắc lại đến chóng cả mặt. Để rồi khi bố nói đã đến nơi, bước chân xuống xe mà tôi vẫn không tưởng tượng nổi đó là Tam Đảo. Một vùng đồi núi mờ mờ ẩn hiện khác hẳn với trí tưởng tượng trước đó của tôi. Về khách sạn nhận phòng rồi ăn xong bữa sáng nhẹ nhàng nhờ sự khéo tay của mẹ, gia đình tôi bắt đầu hành trình "chinh phục tháp truyền hình". Ngọn tháp cao hun hút đến nỗi mẹ và em Ti phải bỏ cuộc giữa chừng còn tôi và bố dù đã lên tới đỉnh nhưng lúc xuống cũng phải nghỉ không dưới mười lần. Buổi sáng, cả gia đình tôi còn kịp đi thăm thêm vài điểm nữa trước khi về khách sạn chân tay ai cũng thấy mệt nhoài. Đầu giờ chiều mẹ nói, hôm nay gia đình sẽ đi sắm một ít đồ kỉ niệm. Lúc ấy tôi mới chợt nhớ ra lời dặn của Hùng "nghệ si, cậu bạn thân nhất của tôi. Chả là Hùng thổi sáo rất hay. Biết tôi lên Tam Đảo, nó đã dặn kỹ, thế nào cũng phải mua cho nó một cây sáo trúc. Ôi! Cơ man nào là đồ kỷ niệm, lại có không biết bao nhiêu đồ làm từ tre trúc. Tôi đi qua một lượt trong tiếng mời chào không ngớt rồi dừng lại trước quán hàng của một cậu bạn xem chừng trạc tuổi tôi. - Bạn mua sáo đi, mang về xuôi tặng bạn bè thổi làm kỷ niệm. Cậu bán hàng mời! Tôi bị ấn tượng ngay vì quán của cậu chỉ bán sáo. Cây nào cũng đề chữ "Hà Vinh - Tam Đảo" chứ không phải "Kỷ niệm Tam Đảo" như những quán tôi đã đi qua. Thấy tôi có vẻ thắc mắc, người bán hàng đoán được ý liền giải thích ngay: - Hà Vinh là tên của mình. Ở đây người ta bán sáo chủ yếu để làm kỉ niệm. Còn sáo mình vừa để làm kỉ niệm vừa tặng những ai chơi được, thậm chí chơi sáo hay. Mình nghĩ tặng quà cũng nên như vậy. Tôi ngớ người, người bán nói trúng ý của mình. Tôi bèn nói: - Mình ở dưới xuôi lên lại chẳng biết gì về sáo, thấy cậu có vẻ cũng trạc tuổi mình nên đánh bạo ra mua. - Thế cậu học lớp mấy, Hà Vinh hỏi: - Năm nay mình lớp sáu. - Vậy cậu ít hơn mình nhưng chúng ta cứ gọi nhau là bạn bè thôi. Nhà mình vất vả nên mình vừa học, mình vừa làm thêm giúp mẹ bằng nghề này. - Em là Minh, người Hà Nội, rất vui được làm quen với anh. Nhờ anh chọn giúp em một cây sáo để tặng một người bạn của em. Bạn ấy chơi sáo được. Hà Vinh chọn rất nhanh và lại còn thử cho tôi nghe vài tiểu khúc nữa. Tiếng sáo của Hà Vinh chẳng kém gì Hùng nghệ sĩ - cậu bạn được đào tạo bài bản từ lúc nhỏ. Anh Vinh nói: - Mình tặng Minh một cây làm kỉ niệm, không lấy tiền đâu! - Thế thì không được. Anh còn phải giúp mẹ cơ mà. Em không dám nhận đâu. - Không sao Minh ạ! Thứ nhất mình chưa tặng ai bao giờ. Thứ hai, mình muốn có thêm một người bạn mới và rất vui vì biết có người chơi sáo hay và có sở thích giống mình. Chiều đã muộn, tôi đành nhận cây sáo rồi ra về trong lòng cảm thấy cảm kích vô cùng. Anh Hà Vinh sâu sắc nhưng thật thà, giản dị và tốt quá. Hôm sau tôi về mà không gặp anh Vinh (chắc buổi sáng anh ấy đi học). Mấy hôm sau tôi theo địa chỉ gửi cho Hà Vinh mấy cuốn sách hay. Anh thích lắm và rất cảm ơn tôi trong lá thư đáp lại. Chuyến đi Tam Đảo đã cho tôi một tình bạn khó phải từ ngày ấy. Còn Hùng nghệ sĩ thì mỗi lúc gặp tôi lại cảm ơn rối rít vì không biết mua thế nào lại được cây sáo trúc vừa đẹp vừa hay. Bài 2:
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài: Phương pháp tả cảnh

SOẠN BÀI: PHƯƠNG PHÁP TẢ CẢNH

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài PHƯƠNG PHÁP TẢ CẢNH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN  1. Đọc các văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Thuyền cố lấn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. (Võ Quảng) (2) Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng xông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ, ... loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai. (Đoàn Giỏi) (3)                                          LUỸ LÀNG Luỹ làng là một vành đai phòng thủ kiên cố! Luỹ làng có ba vòng bao quanh làng. Màu xanh là màu của luỹ: Luỹ ngoài cùng, trồng tre gai, thứ tre gốc to, thân to nhưng ngoằn ngoèo không thẳng, cành rậm, đan chéo nhau. Mỗi nhánh tre lại có những gai tre nhọn hoắt, rất cứng, mà những ai bén mảng vào ven luỹ, vô ý giẫm phải, khêu nhổ cũng khá phiền. Luỹ tre ngoài cùng này không đốn, tre đời nọ truyền đời kia. Tre cụ, tre ông, tre bà, tre cha, tre mẹ, tre con, tre cháu, chút chít, chằng chéo bằng ngọn bằng tán, bằng cách ấy khiến con sẻ bay cũng không lọt ... Những gốc tre cứ to bự lên, chuyển thành màu mốc, khép kín vào nhau, thành bức tường thành bằng tre, mà với chiến tranh giáo mác, voi ngựa thủa xưa, muốn đột nhập vào làng chẳng dễ gì! Luỹ giữa làng cũng toàn tre nhưng là loại tre thẳng (tre hoá). Luỹ trong cùng tre càng thẳng hơn. Tre óng chuốt vươn thẳng tắp, ngọn không dày và rậm như tre gai. Suốt năm tre xanh rờn đầy sức sống. Và đến mùa đổi lá thì toàn bộ tán xanh chuyển thành một màu vàng nhạt. Khi một trận gió mùa lay gốc, tầng tầng lá nối nhau bay xuống tạo thành một rải vàng... Tre luỹ làng thay lá... Mùa lá mới oà nở, thứ màu xanh lục, nắng sớm chiếu vào trong như màu ngọc, đẹp như loài cây cảnh quần thể, báo hiệu một mùa hè sôi động. Thân tre cứng cỏi, tán tre mềm mại. Mưa rào ập xuống, rồi trời tạnh, mối cánh, chuồn chuồn đan cài trong bầu trời đầy mây xốp trắng. Nhìn lên, những ngọn tre thay lá, những búp tre non kín đáo, ngây thơ, hứa hẹn sự trưởng thành, lòng yêu quê của con người được bồi đắp lúc nào không rõ!... Dưới gốc tre, tua tủa những mầm măng. Măng trồi lên nhọn hoắt như một mũi gai khổng lồ xuyên qua đất luỹ mà trỗi dậy, bẹ măng bọc kín thân cây non, ủ kĩ như áo mẹ trùm lần trong lần ngoài cho đứa con còn non nớt. Ai dám bảo thảo thảo mộc tự nhiên không có tình mẫu tử?... (Ngô Văn Phú) 2. Mỗi văn bản trên miêu tả những gì? Gợi ý: - (1): miêu tả hình ảnh dượng Hương Như lái thuyền vượt thác; - (2): miêu tả dòng sông và rừng đước Năm Căn; - (3): miêu tả luỹ tre bao quanh làng. 3. Các sự vật, quang cảnh ở văn bản (2) và (3) có được miêu tả theo một trật tự nào không? Gợi ý: - (2): miêu tả cảnh từ dưới sông lên hai bên bờ, từ gần đến xa; cũng trình tự của sự quan sát; - (3): miêu tả từ ngoài vào trong, từ khái quát đến cụ thể. 4. Văn bản (3) được bố cục thành mấy phần? Các ý chính của mỗi đoạn là gì? Gợi ý: Đoạn văn được bố cục thành 3 phần: Mở đầu (từ đầu đến "màu của luỹ" ) giới thiệu khái quát về phẩm chất (vành đai phòng thủ kiên cố) và màu sắc (màu xanh) của luỹ tre; Phần tiếp (cho đến "không rõ!...") miêu tả cụ thể ba vòng tre tạo thành luỹ làng; Phần cuối miêu tả măng tre, thể hiện cảm nghĩ về loài tre.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ] II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG  1. Nếu phải tả cảnh lớp học trong một giờ đọc văn thì em sẽ miêu tả như thế nào? Gợi ý: Lưu ý lựa chọn các hình ảnh tiêu biểu cho một giờ học đọc văn (không khí chung, thầy - cô giáo, các bạn, bảng, các hoạt động của thầy - cô giáo và các bạn,...) rồi sắp xếp miêu tả theo một trình tự nào đó (có thể là trình tự thời gian: từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc giờ học; có thể là trình tự quan sát: từ gần đến xa hoặc ngược lại; hoặc là kết hợp cả trình tự thời gian và trình tự quan sát,...), dàn dựng các ý miêu tả theo bố cục ba phần. 2. Nếu phải tả cảnh sân trường trong giờ chào cờ đầu tuần, em dự định miêu tả như thế nào? Gợi ý: Quan sát và lựa chọn các sự vật, hình ảnh tiêu biểu để tập trung miêu tả: quang cảnh chung, lá cờ, hát quốc ca, các thầy cô giáo, các lớp xếp hàng, ... Chú ý đến thứ tự miêu tả: từ khái quát đến cụ thể, từ xa đến gần hoặc ngược lại (quang cảnh chung, bầu trời, nắng, gió, lá cờ, các bạn học sinh xếp hàng,...); trước - sau (từ khi chuẩn bị, diễn biến cho đến khi kết thúc buổi chào cờ); tốt nhất là kết hợp giữa trình tự quan sát và trình tự diễn biến trong khi miêu tả. 2. Nếu phải tả quan cảnh sân trường trong giờ ra chơi thì trong phần thân bài em sẽ miêu tả theo thứ tự nào (theo thứ tự không gian: từ xa tới gần hay theo thứ tự thời gian: trước, trong và sau khi ra chơi)? Hãy lựa chọn một cảnh của sân trường trong giờ ra chơi ấy để viết thành một đoạn văn miêu tả. Gợi ý: Hãy quan sát và chú ý lựa chọn các hình ảnh tiêu biểu để miêu tả theo cả thứ tự không gian và thời gian. Chú ý miêu tả các chi tiết như: bầu trời, mở đầu giờ ra chơi như thế nào, ở mỗi khoảng sân các hoạt động vui chơi diễn ra thế nào?… Tham khảo đoạn văn sau: Ngay trước cửa lớp tôi là chỗ dành cho các bạn ít sôi nổi hơn. Hùng, Minh và Dương đang đều đều nhịp chân với quả cầu được làm từ những chiếc lông của chú trống choai. Ngay bên cạnh, dưới gốc cây hoa sữa là chỗ Nam và Duy đang ngồi chơi cờ tướng trên ghế đá. Trông các bạn vò trán suy nghĩ mỗi khi cờ vào thế bí chẳng khác gì những người đánh cờ chuyên nghiệp. 3. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: BIỂN ĐẸP Buổi sớm nắng sáng. Những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh. Lại đến một buổi chiều, gió mùa đông bắc vừa dừng. Biển lặng, đỏ đục, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem rắc lên trên. Rồi một ngày mưa rào. Mưa dăng dăng bốn phía. Có quãng nắng xuyên xuống biển óng ánh đủ màu: xanh lá mạ, tím phớt, hồng, xanh biếc, ... Có quãng thâm sì, nặng trịch. Những cánh buồm ra khỏi cơn mưa, ướt đẫm, thẫm lại, khoẻ nhẹ bồi hồi, như ngực áo bác nông dân cày xong thửa ruộng về bị ướt. Có buổi nắng sớm mờ, biển bốc hơi nước, không nom thấy đảo xa, chỉ một màu trắng đục. Không có thuyền, không có sóng, không có mây, không có sắc biếc của da trời. Một buổi chiều lạnh, nắng tắt sớm. Những đảo xa lam nhạt pha màu trắng sữa. Không có gió mà sóng vẫn vỗ đều đều, rì rầm. Nước biển dâng đầy, quánh đặc một màu bạc trắng, lấm tấm như bột phấn trên da quả nhót. Chiều nắng tàn, mát dịu. Biển xanh veo màu mảnh trai. Đảo xa tím pha hồng. Những con sóng nhè nhẹ liếm trên bãi cát, bọt sóng màu bưởi đào. Mặt trời xế trưa bị mây che lỗ đỗ. Những tia nắng dát vàng một vùng biển tròn, làm nổi bật những cánh buồm duyên dáng, như ánh sáng chiếc đèn sân khấu khổng lồ đang chiếu cho các nàng tiên trên biển múa vui. Thế đấy, biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời. Trời xanh thắm, biển cũng thắm xanh, như dâng cao lên, chắc nịch.Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề. Trời ầm ầm, biển đục ngầu, giận dữ ... Như một con người biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng. Biển nhiều khi rất đẹp, ai cũng thấy như thế. Nhưng có một điều ít ai chú ý là: vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kì diệu muôn màu, muôn sắc ấy phần lớn là do mây, trời và ánh sáng tạo nên ... (Vũ Tú Nam) a) Tóm tắt những ý chính của bài văn Gợi ý: Bài văn được bố cục thành 3 phần. - Em có suy nghĩ gì khi có ý kiến cho rằng chính nhan đề Biển đẹp là Mở bài của bài văn? - Thân bài: biển buổi sáng à biển buổi chiều à biển buổi trưa à biển ngày mưa rào à biển ngày nắng; - Kết bài: Em có nhận xét gì khi tác giả Mở bài bằng khái quát Biển đẹp đến Kết bài lại là nhận xét khái quát về vẻ đẹp của biển? b) Nhận xét về nghệ thuật miêu tả của bài văn. Gợi ý: Dựa vào ý của nhà văn Phạm Hổ dưới đây để nhận xét về nghệ thuật miêu tả của bài văn Biển đẹp: "Đừng tả dài dòng mà tìm hiểu và quan sát thật kĩ, nắm cho được cái thần , cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con người, vật, hoa trái... mà ta tả, rồi bằng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trước mắt người đọc, gợi cho người đọc cùng cảm nhận, cùng suy nghĩ với mình."  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bài Phân tích Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân

BÀI PHÂN TÍCH HUẤN CAO TRONG "CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ" CỦA NGUYỄN TUÂN

Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sang tác xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như “chiếc ấm đất”, “chén trà sương”… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung tài hoa trong thiên hạ, đó là Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù. Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát vớI văn chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân cách sang ngời và rất đỗI tài hoa. Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp. Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài tâm vẹn toàn. Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé họng”. Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác : con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có trên đời. Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục ! Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi” Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là...” Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội. “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương” , bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý. Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Húan Cao không nhữg vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng : “Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”. Hành động cho chữ viên quản ngụ chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình. Quay cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người. Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo con: “Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”. Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi. Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi’ Huấn Cao , người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi. Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm” và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau. Ý kiến bạn đọc uhm! bài này cũng được. nhưng mình nghĩ bạn còn chưa tập trung vào chi tiết cực kỳ wan trọng. Đó là "cảnh cho chữ". B nên fan tích kỹ hơn. Theo mình thì nên bổ sung ít ý nữa: "......"xưa nay chưa từng có". Nguyễn Tuân nhận xét như vậy cũng có cái lý của ông. Đó là vì giữa cái tối tăm, bẩn thỉu của chốn ngục tù,nơi cái tàn ác ngự trị, cái đẹp lại được tạo ra, mang lại cho đời một "vật báu" hiếm có. Đặc biệt hơn, người tạo ra cái đẹp trong tâm hônlại là "kẻ tử tù" sắp bước sang thế giới bên kia và người thưởng thức cái đẹp lại là người đại diện cho cái tàn ác của chốn ngục tù-"viên quản ngục". Kẻ tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại. con người ấy trở thành một anh hùng nghệ thuật uy nghi, lẫm liệt, hiên ngang. Còn viên quản ngục, người có địa vị cao nhất nơi ngục tù lại "khúm núm" dõi theo từng nét chữ của Huấn Cao. Thầy Thơ Lại thì "run run bưng chậu mực". Trật tự thường ngày đã bị chính tấm lòng yêu nghệ thuật đảo lộn lên để sắp xếp lại theo một hình thái mới: hình thái mà nghệ thuật và cái đẹp trong tâm hồn luôn đưg đầu, trở thành một vầng sáng chói lòa, soi rọi cho thiên lương mỗi con người, làm cho nó trở nên thanh cao, đẹp đẽ và trong sáng hơn..." ý kiến của mìh là thế! tuy vẫn còn thiếu sót nhưng mog b bỏ wa cho. codon12152000 gửi lúc: 23:11:06 Ngày 22-12-2008 uhm! bài này cũng được. nhưng mình nghĩ bạn còn chưa tập trung vào chi tiết cực kỳ wan trọng. Đó là "cảnh cho chữ". B nên fan tích kỹ hơn. Theo mình thì nên bổ sung ít ý nữa: "......"xưa nay chưa từng có". Nguyễn Tuân nhận xét như vậy cũng có cái lý của ông. Đó là vì giữa cái tối tăm, bẩn thỉu của chốn ngục tù,nơi cái tàn ác ngự trị, cái đẹp lại được tạo ra, mang lại cho đời một "vật báu" hiếm có. Đặc biệt hơn, người tạo ra cái đẹp trong tâm hônlại là "kẻ tử tù" sắp bước sang thế giới bên kia và người thưởng thức cái đẹp lại là người đại diện cho cái tàn ác của chốn ngục tù-"viên quản ngục". Kẻ tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại. con người ấy trở thành một anh hùng nghệ thuật uy nghi, lẫm liệt, hiên ngang. Còn viên quản ngục, người có địa vị cao nhất nơi ngục tù lại "khúm núm" dõi theo từng nét chữ của Huấn Cao. Thầy Thơ Lại thì "run run bưng chậu mực". Trật tự thường ngày đã bị chính tấm lòng yêu nghệ thuật đảo lộn lên để sắp xếp lại theo một hình thái mới: hình thái mà nghệ thuật và cái đẹp trong tâm hồn luôn đưg đầu, trở thành một vầng sáng chói lòa, soi rọi cho thiên lương mỗi con người, làm cho nó trở nên thanh cao, đẹp đẽ và trong sáng hơn..."
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phương pháp làm bài thể loại miêu tả

PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI THỂ LOẠI MIÊU TẢ

* Nội dung – Yêu cầu: Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc bức tranh cụ thể về một cảnh, một người, một vật đã làm ta chú ý và cảm xúc sâu sắc. Người tả phải nắm vững cảnh, vật mình định tả có những nét gì nổi bật, đặc sắc và diễn tả lại bằng từ ngữ giàu sức gợi cảm, cho thấy rõ hình khối, kích thước, màu sắc, âm thanh, hương vị,…và những cảm giác vui, buồm, ngạc nhiên, thích thú,…khi nhìn cảnh, vật. Cầm trên tay chiếc bút máy, ta có thể tháo rời để xem nó có những bộ phận gì: nắp bút, thân bút, ngòi bút; Riêng nắp bút lại gồm: nắp nhựa, đai sắt, ghim cài, ốc chốt. Nếu chỉ mới nêu tên thế thôi thì đó là kể. Tả là phải nói cụ thể hơn, làm cho người đọc, người nghe như trông thấy trước mắt từng bộ phận của nó: Vuông, tròn, to, nhỏ, dài, ngắn ra sao, có màu sắc gì?…lại thấy cả tình cảm gắn bó giữa người với bút. Nhìn cảnh, vật ta nhìn bằng mắt và cả bằng tấm lòng yêu ghét của mình. Bài tả phải vừa gợi hình, vừa gợi cảm, phải đạt được những yêu cầu sau: -         Tả giống với thực tế. -         tả cụ thể và có thứ tự. -         Tả gắn với tình người. Đối với HSG, những yêu cầu trên được nâng cao hơn, cụ thể: -         Tả có những nét tinh tế. -         Tả sinh động. -         Cảm xúc lồng vào các nét tả tự nhiên và đậm đà. * Phương pháp chung: Nhằm đạt được những yêu cầu trên, cần làm tốt mấy việc dưới đây: - Quan sát trực tiếp và tỉ mỉ cảnh, vật, người định tả: Sự tiếp xúc hàng ngày chỉ cho ta những nhận biết hời hợt, chung chung, chơa toàn diện. Có quan sát kĩ, nhiều mặt, nhiều lượt, bằng nhiều giác quan (nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm) thì mới cónhững hiểu biết đầy đủ, phong phú và chính xác. Quan sát trực tiếp còn cho ta những cảm xúc “nóng hổi” để đưa vào bài viết, tránhđược tẻ nhạt. - Quan sát tìm ý đi đôi với tìm từ ngữ để diễn tả đúng và sinh động điều đã quan sát được. - Cân nhắc để chọn được một thứ tự sắp xếp các chi tiết sẽ tả mà mình coi là thích hợp hơn cả. Thông thường, ta trình bày theo thứ tự không gian (từ bao quát toàn thể đến các bộ phận chi tiết, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới,…). Ta cũng có thể trình bày theo thứ tự thời gian (điều gì thấy trước, diễn ra trước thì tả trước); hoặc theo thứ tự tâm lí (nét gì mình chú ý nhiều nhất hoặc cho là quan trọng nhất thì tả trước). Đó là phần thân bài. Một bài văn miêu tả hoàn chỉnh phải gồm đủ 3 phần: MB, TB, KB.   1) Tả đồ vật: a- Phương pháp làm bài: *Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả: Đồ vật em định tả là cái gì? Đồ vật đó của ai? Do đâu mà có? Nó xuất hiện trong thời gian nào? *Bước 2: Quan sát đối tượng miêu tả: - Quan sát kĩ: hình dáng, kích thước, màu sắc của đồ vật và chất liệu tạo nên nó. - Ghi nhớ những nét bao quát và những nét cụ thể của đồ vật (cấu tạo bên ngoài, bên trong, từng bộ phận….). Sắp xếp các chi tiết ấy theo một trình tự hợp lí cho dễ miêu tả. - Công dụng của đồ vật ấy đối với người sử dụng. *Bước 3: Lập dàn ý. *Bước 4: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để xây dựng thành một bài văn tả đồ vật hoàn chỉnh.   b- Dàn bài chung: * Mở bài: - Tên đồ vật được tả. - Đồ vật ấy của ai? Nó được mua hay được làm, trong thời gian nào? *Thân bài: - Tả khái quát về hình dáng, kích thước, màu sắc, chất liệu và cấu tạo của đồ vật đó. - Tả cụ thể tường bộ phận của đồ vật (theo trình tự từ trên xuống dưới hay từ ngoài vào trong). - Tác dụng của đồ vật. *Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân đối với đồ vật được miêu tả. c- Bài tập thực hành: *Đề bài: Em hãy tả lại chiếc bút máy mà em đang sử dụng.   Bài tập1: Quan sát kĩ chiếc bút em định tả: hình dáng bên ngoài, đặc điểm, cấu tạo bên trong, cách sử dụng,…   Bài tập 2: Viết một đoạn văn tả về cây bút dựa vào các đặc điểm sau: -         Cây bút dài khoảng một gang tay. -         Thân bút tròn. -         Nắp bút có đai sắt. -         Chiếc ngòi nhỏ xíu. -         Chiếc ruột gà làm bằng nhựa mềm.   Bài tập 3: Thêm ý cho các dòng sau diễn đạt ý trọn vẹn : -         Hôm đầu tiên cầm chiếc bút trên tay,… -         Mỗi khi ngòi bút chạy trên trang giấy,… -         Từ khi có cây bút mới,… -         Đã qua một học kì,… -         Nét chữ của em giờ đây… -         Lần đầu tiên được cô giáo cho điểm mười bài tập viết,… -         Niềm sung sướng thôi thúc em…   Bài tập 4: a) Viết phần mở bài (Chiếc bút của em có trong trường hợp nào? Mẹ em mua nhân dịp năm học mới hay bố em tặng nhân dịp sinh nhật?...) b) Viết phần kết bài (Chiếc bút đã gắn bó thân thiết với em như thế nào? Em sẽ giữ gìn bút ra sao?...)   Bài tập 5: Dựa vào các bài tập trên, em hãy viết một bài văn hoàn chỉnh tả chiếc bút máy của em.   d- Bài tập tự luyện: Đề 1: Em hãy tả cái trống của trường em và cho biết cảm xúc của em khi nghe tiếng trống ấy. Đề 2: Nhiều năm nay, chiếc đồng hồ báo thức là người bạn thân thiết trong gia đình em. Hãy tả lại chiếc đồng hồ ấy. Đề 3: Hãy tả lại tấm lịch treo tường nhà em (hoặc nhà em quen). Đề 4: Hãy tả cái bàn em thường ngồi học ở nhà.   2) Tả cây cối: a- Phương pháp làm bài: *Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả: Cây định tả là cây gì? Của ai? Trồng ở đâu? Có từ bao giờ?… *Bước 2: Quan sát: Quan sát toàn diện và cụ thể đối tượng miêu tả. Rút ra các nhận xét về: -         Tầm vóc, hình dáng, vẻ đẹp của cây (rễ, gốc, thân, cành, lá, hoa, quả,…). -         Màu sắc, hương thơm (tập trung nhất ở hoa, quả). -         Tác dụng của cây đó đối với môi trường xung quanh và cuộc sống con người. *Bước 3: Lập dàn ý: Sắp xếp các chi tiết đã quan sát được theo mộtt trình tự hợp nhất định thành dàn ý. *Bước 4: Làm bài: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để từ dàn ý viết thành một bài văn tả cây cối hoàn chỉnh.   b- Dàn bài chung: *Mở bài: Giới thiệu cây (tên gọi, nơi trồng, thời gian trồng,…). *Thân bài: Tả cây (từ bao quát đến từng bộ phận cụ thể). -         Tầm vóc, hình dáng (lớn hay nhỏ, cao hay thấp, thanh mảnh hay sum sê,…). -         Rễ, thân, cành, lá,… có đặc điểm gì? -         Hoa, trái có đặc điểm gì? (về màu sắc, hương thơm, mùi vị,…). Thường ra vào mùa nào trong năm? -         Cây gắn bó với môi trường sống và con người như thế nào? *Kết bài: Cảm nghĩ của em về cây đó (yêu thích, nâng niu, chăm sóc,…).   c- Bài tập thực hành: *Đề bài: Dựa vào bài thơ “Cây dừa”, em hãy tả lại một cây dừa đáng yêu. Cây dừa Cây dừa xanh toả nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao. Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh. Ai mang nước ngọt, nước lành Ai đeo bao hũ gạo quanh cổ dừa. Tiếng dừa làm dịu nắng trưa Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo Trời trong đầy tiếng rì rào Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra… Đứng canh trời đất bao la Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi. (Trần Đăng Khoa) Bài tập 1: (Yêu cầu từ trước: Tìm và quan sát kĩ một cây dừa có trong thực tế) Đọc kĩ bài thơ “cây dừa” và ghi nhận những đặc điểm của cây dừa qua thực tế và qua bài thơ.   Bài tập 2: Diễn đạt lại những câu văn sau cho sinh động, gợi tả hơn: -         Cây dừa được trồng từ lâu. -         Thân dừa bạc phếch. -         Dáng dừa thẳng. -         Rễ dừa bò lan trên mặt đất. -         Tàu dừa như chiếc lược. -         Hoa dừa màu vàng. -         Quả dừa như đàn lợn con. -         Nước dừa ngọt.   Bài tập 3: Hãy viết tiếp vào các dòng sau (dựa vào 2 khổ thơ cuối): -         Những buổi trưa hè,… -         Mỗi khi có cơn gió ùa tới,… -         Tiếng gió lùa vào kẽ lá, nghe như… -         Nhìn dáng vẻ đủng đỉnh của cây dừa,…   Bài tập 4: Hãy chọn một mở bài và một kết bài phù hợp với nhữngnội dung đã miêu tả ở các bài tập trên.   Bài tập 5: Hãy viết một bài văn hoàn chỉnh có đủ 3 phần MB, TB, KB dựa vào kết quả của các BT trên.   d- Bài tập tự luyện: Đề 1: Nhà em ( hoặc gần nơi em ở) có nhiều cây to. Hãy viết một đoạn văn tả một cây có nhiều kỉ niệm với em. Đề 2: Em hãy tả vẻ đẹpcủa một cây hoa vào một nào đó trong ngày (khi nắng sớm, lúc ban chiều,…). Đề 3: Em hãy tả một cây chuối dang có buồng. Đề 4: Em hãy tả một cây ăn quả đang mùa quả chín.   3) Tả loài vật : a- Phương pháp làm bài: *Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả. Con vật em định tả là con gì? Của ai? Nuôi đã được bao lâu?… *Bước 2: Quan sát con vật: - Quan sát con vật trong môi trường sống của nó. Chú ý tới ngoại hình với những đặc điểm tiêu biểu về hình dáng, màu sắc, đường nét,… - Quan sát những đặc tính bên trong của con vật, thể hiệnqua tính nết, hành đọng của con vật. Chỏna những nét thể hiện rõ nhất đặc tính chung của giống loài và những nét mang tính cá thể, riêng biệt của con vật. - Nhận xét về mối quan hệ giữa con vật với môi trường xung quanh và đời sống con người. *Bước 3: Lập dàn ý chi tiết, ghi rõ những nội dung cần miêu tả. *Bước 4: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để phát triển dàn ý thành một bài văn tả loài vật hoàn chỉnh.   b- Dàn bài chung: * Mở bài: Giới thiệu con vật (tên gọi). Con vật này của ai? Nuôi từ bao giờ?… *Thân bài: Tả con vật (từ bao quát đến từng bộ phận cụ thể). - Tả ngoại hình: Hình dáng, tầm vóc, màu sắc , đường nét cùng các bộ phận đầu, tai, mũi, miệng, chân, đuôi,… àChú ý: Tuỳ từng con vật mà hình dáng bề ngoài được nhấn mạnh vào những chi tiết tiêu biểu nhất. Không nhất thiết phải tả tỉ mỉ từng bộ phận. - Tả đặc tính và hoạt động của con vật: Chọn ra những điểm tiêu biểu nhất thể hiện được đặc tính chung của giống loài (mèo khác chó, bò khác heo, gà khác vịt,…) và đặc tính (tính nết) riêng của con vật trong ăn uống, hoạt động,… - Tác dụng của con vật đối với đời sống con người. *Kết bài: Cảm nghĩ của em đối với con vật được tả.   c- Bài tập thực hành: Đề bài: Mẹ dang đôi cánh                    Bây giờ thong thả Con biến vào trong                     Mẹ đi lên đầu Mẹ ngẩng đầu trông                   Đàn con bé tí Bọn diều bọn quạ                       Líu díu theo sau (Phạm Hổ) Dựa vào đoạn thơ trên, em hãy tả đàn gà con đang  theo mẹ đi kiếm mồi. Bài tập 1: (Yêu cầu từ tiết trước) Hãy tìm và quan sát một đàn gà mẹ con đang đi kiếm mồi. Bài tập 2: Tìm các từ ngữ điền vào chỗ trống để diễn tả đặc điểm của những chú gà con: -         Nhìn từ xa, những chú gà con trông như… -         Đến gần, nom chúng tựa… -         Con nào con nấy… -         Chiếc mỏ… -         Đôi mắt… -         Hai bàn chân…   Bài 3: Dựa vào 3 câu văn sau, hãy viết một đoạn văn diễn tả hoạt động kiếm mồi của đàn gà mẹ con: Gà mẹ dẫn con ra cạnh đống rơm. Cả đàn con xúm lại. Những bàn chân nhỏ xíu thoăn thoắt bới đất.   Bài tập 4: Dựa vào tình huống sau, hãy viết một đoạn văn (5-7 câu) diễn tả hoạt động của đàn gà mẹ con khi gặp kẻ thù: Trên trời bỗng xuất hiện một con diều hâu. Gà mẹ xù lông. Diều hâu lượn mấy vòng rồi biến mất.   Bài tập 5: Tìm thêm phần MB và KB rồi viết lại thành một bài văn hoàn chỉnh có đủ 3 phần (Lưu ý sử dụng các câu nối và từ nối để liên kết các đoạn văn.   d- Bài tập tự luyện: Đề 1: Trước cửa chuồng chim bồ câu, chim mẹ vừa đi kiếm mồi về đang mớm cho con. Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 12 dòng) tả lại cảnh đôi chim mẹ con ấy dựa vào các ý sau: -         Chim mẹ kiếm được mồi, tha về tổ mớm cho con. -         Chim con ra tận cửa tổ đón mẹ, mỏ há rộng chờ đợi. -         Chim mẹ mớm thức ăn cho con với vẻ yêu thương, trìu mến.   Đề 2: Hãy tả lại một chú chó đáng yêu. Đề 3: Hãy tả lại một con vật nuôi trong nhà mà em yêu quý.   4) Tả người: a- Phương pháp làm bài: Tả người là ghi lại những riêng về hình dáng và tính tình của một người mà em đã nhìn thấy. Để làm tốt dạng văn tả người, em cần phải: -  Xác định rõ người sẽ tả là ai. - Quan sát kĩ người sẽ tả để tìm ra những nét riêng biệt của người đó. Mỗi lứa tuổi, con người có những đặc điểm về hình dáng và tính tình khác nhau (người già thì tóc bạc, da nhăn; người trẻ thì mái tóc mượt mà, làn da căng tràn sức sống,…). Mỗi người một hoàn cảnh sống, một trình đọ văn hoá khác nhau. Tất cả những thứ ấy đều có ảnh hưởng đến sinh hoạt toàn diện của họ. - Lựa chọn những từ ngữ thích hợp (nhất là các động từ, tính từ để vừa nêu được những nét riêng biệt, nổi bật nhất của người được tả, vừa bộc lộ được thái độ, tình cảm của mình đối với người đó.   b- Dàn bài chung: *Mở bài: Giới thiệu người sẽ tả: Em được gặp người ấy ở đâu/ Trong thời gian nào? Cảm xúc ban đầu của em về người đó như thế nào?… *Thân bài: - Tả hình dáng: +Tả bao quát về tuổi tác (già hay trẻ), tầm vóc (cao lớn hay nhỏ nhắn), dáng điệu (duyên dáng, nhanh nhẹn hay chậm chạp), nghề nghiệp (bác sĩ, công nhân,…), cách ăn mặc,… +Tả chi tiết: Những nét nổi bật nhất (khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, cái miệng, làn da, chân tay,…) - Tả tính tình- hoạt động: +Tính tình của người đó như thế nào? (chất phác, vui nhộn hay dễ cáu gắt,…). Giọng nói ra sao? (nhẹ nhàng hay sang sảng), cử chỉ, điệu bộ,…Cách cư xử với người khác (ân cần, chu đáo,…), việc làm bộc lộ rõ rệt đạo đức, tình cảm và tính nết của người được tả. +Hoạt động: Tả các việc làm cụ thể: người ấy đang làm gì? Cách làm như thế nào? àChú ý: Khi tả người, cần làm nổi bật các đặc điểm về lứa tuổi, tác phong, tính tình, hình dáng cho phù hợp với nghề nghiệp, hoàn cảnh riêng của mỗi người; cần kết hợp tả hoạt động, tính tình và đôi nét về hình dáng. *Kết bài: Cảm nghĩ cuối cùng của em về người đó (ấn tượng sâu sắc, ảnh hưởng của người đó đối với bản thân…)   c- Bài tập thực hành: *Đề bài: Em hãy tả lại mẹ em và nói lên tình cảm của em đối với mẹ.   Bài tập 1:(yêu cầu từ tiết trước) Hãy quan sát kĩ mẹ của mình.   Bài tập 2: Diễn đạt lại các câu văn sau cho hay hơn: -         Mẹ em ngoài (30) tuổi. -         Người mẹ (gầy). -         Gương mặt (xương xương). -         Đôi mắt (hiền dịu). -         Tóc mẹ (dài). -         Nước da mẹ (hơi đen). -         Bàn tay mẹ (chai sần). (Chú ý: Các em có thể điều chỉnh phần trong ngoặc đơn cho phù hợp với hình dáng của mẹ mình)   Bài tập 3: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 dòng), tả tính tình mẹ em dựa vào các gợi ý sau: -         Mẹ em là người giản dị, ân cần và chu đáo. -         Mẹ chăm chỉ, lam lũ, không ngại gian khổ. -         Mẹ rất thương yêu mọi người trong gia đình. (Chú ý: Các em có thể tự điều chỉnh các gợi ý cho phù hợp với tính tình của mẹ mình).   Bài tập 4: Dựa vào BT2 và BT3, em hãy viết một bài văn hoàn chỉnh tả về người mẹ kính yêu của mình.   d- Bài tập tự luyện: Đề 1: Thầy (cô) em thường chấm bài vào buổi tối. em hãy tưởng tượng và tả lại cảnh thầy (cô) em đang chấm bài cho các em. Đề 2: Hãy tả lại một người già mà em có dịp quan sát. Đề 3: Hãy tả lại dáng vẻ của một bác nông dân đang làm việc. Đề 4: Hãy tả lại một người thân của em.   5) Tả cảnh: a- Phương pháp làm bài: * Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả: Xác định xem đối tượng miêu tả là cảnh gì? Ở đâu? Cảnh đó có từ bao giờ?… Phạm vi không gian và thời gian của cảnh được miêu tả và nội dung chủ yếu cần làm toát lên từ cảnh đó. àLưu ý: Trong các cảnh được miêu tả, có khi bao gồm cả người và vật, nhưng cảnh vẫn là chính. Phần tả người và vật làm cho cảnh trở nên sinh động, tự nhiên. *Bước 2: Quan sát đối tượng miêu tả. Chọn vị trí quan sát thuận tiện nhất để nắm bắt được những chi tiết, đặc điểm cơ bản quan trọng của cảnh. Người quan sát có thể là người trong cuộc (người trực tiếp tham gia) hoặc là người trực tiếp chứng kiến. Quam sát bằng mắt nhìn, tai nghe và kết hợp các giác quan khác. Lưu ý đén các yếu tố: màu sắc, hình ảnh, âm thanh có hoà hợp với nhau không? *Bước 3: Lập dàn ý. *Bước 4: Sắp xếp ý, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để xây dựng thành một bài văn hoàn chỉnh.   b- Dàn bài chung: *Mở bài: - Giới thiệu cảnh định tả (ngôi nhà, trường học, vườn hoa,…). - Cảnh đó ở đâu? Em tả nó vào thời điểm nào? Em có tham gia chứng kiến cảnh đó?… *Thân bài: - Tả những nét chung nổi bật của toàn cảnh: Những nét bao quát khi thoạt nhìn cảnh: Quang cảnh chung, cảm tưởng chung về cảnh. - Tả từng bộ phận của cảnh ( theo trình tự hợp lí từ ngôài vào trong hoặc từ trên xuống dưới,…). +Chọn tả những nét tiêu biểu nhất, xác định trung tâm của cảnh  cần miêu tả là gì? +Chú ý tả đường nét, màu sắc của cảnh vật. Sự liên quan giữa cảnh vật ấy với cảnh vật xung quanh nó. +Tả người, vật gắn với cảnh (nếu có). - Tình cảm, thái độ của người tả. *Kết bài: Nêu cảm nghĩ của người viết trước cảnh được tả.   c- Bài tập thực hành: *Đề bài: Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng Gió nâng tiếng hát chói chang Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời. (Nguyễn Duy). Quê em lúa đang mùa chín rộ. Nhìn cánh đồng lúa chín ai cũng thấy đẹp, thấy vui. Hãy tả cảnh cánh đồng lúa chín quê em.   Bài tập1: (yêu cầu từ tiết trước) Em hãy quan sát một cánh đồng lúa khi bắt đầu bước vào vụ gặt.   Bài tập 2: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 7-8 dòng) tả bao quát cánh đồng dựa vào các ý sau: -         Lúa đang vào mùa chín rộ. -         Cả cánh đồng sáng rực lên như một tấm thảm vàng. -         Thoang thoảng đâu đây hương lúa chín.   Bài tập 3: Hãy viết lại các câu văn dưới đây cho sinh động hơn: -         Những bông lúa trĩu xuống. -         Thân lúa vàng óng. -         Những đốt lá quăn lại. -         Cả vạt lúa xôn xao, báo hiệu một vụ mùa bội thu.   Bài tập 4: Viết một đoạn văn ngắn diễn tả hoạt động của một vài nhóm người trên cánh đồng, dựa vào các ý sau: -         Một vài tốp người đang gặt lúa. -         Nón trắng nhấp nhô. -         Tiếng nói cười vui vẻ.   Bài tập 5: Viết một bài văn hoàn chỉnh dựa theo các ý của các BT trên.   d- Bài tập tự luyện: Đề 1: Cánh đồng lúa quê em đang trong thì con gái, xanh tốt mượt mà. Hãy tả lại cánh đồng đó vào một buổi sáng đẹp trời. Đề 2: Hãy tả lại con đường quen thuộc từ nhà em tới trường. Đề 3: Hãy tả lại trận mưa rào dựa vào các ý sau: -         Cảnh vật trước lúc mưa. -         Cảnh vật lúc trời mưa dữ dội. -         Cảnh vật lúc trời ngớt mưa. -         Cảnh vật lúc trời quang, mây tạnh. Đề 4: Hãy tả cảnh vần vũ của bầu trời trước khi đổ mưa theo các ý sau: -         Cảnh vật trước cơn dông. -         Cảnh vật trong cơn dông. -         Cảnh vật sau cơn dông. Đề 5: Em đã từng chứng kiến cảnh vần vũ của bầu trời trước khi đổ mưa. Hãy viết khoảng 10-15 dòng tả lại cảnh đó. Đề 6: một năm có 4 mùa, mùa nào cũng có những buổi bình minh đẹp. Hãy tả lại một buổi bình minh mà em có dịp quan sát, thưởng thức. Đề 7: Khi cơn mưa rào vừa tạnh, những tia nắng ấm áp lại mừng rỡ rọi xuống, vạn vật trở lên sinh động hẳn lên. Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 12-15 dòng) tả lại vẻ đẹp của đất trời lúc đó. Đề 8: Thời thơ ấu của mỗi người thường gắn với những kỉ niệm về một ngôi nhà, một góc phố, một mảnh vườn, một con sông, một cánh đồng,…Em hãy viết một bài văn miêu tả một trong những sự vật đó. Đề 9: Ánh trăng rằm vào một đêm trời quang mây tạnh thật là đẹp. Hãy tả lại và nói lên cảm nghĩ của em lúc đó.   *Tả cảnh sinh hoạt: (Là một dạng của kiểu bài tả cảnh) - Nếu một bài văn tả cảnh thông thường thiên về tả cảnh vật thiên nhiên là chính (ít chú ý đến hoạt động của người, vật), thì bài văn tả cảnh sinh hoạt quan tâm nhiều hơn đến  hoạt động của con người (và vật). - Tả cảnh sinh hoạt là sự tổng hợp của cả thiên nhiên, cảnh vật, con người. Vì vậy, việc lựa chọn và sắp xếp các chi tiết tiêu biểu, hợp lí là hết sức cần thiết. Phải làm sao toát lêncho được trọng tâm và nội dung của cảnh cần miêu tả. - Khi gặp một bài văn mang nội dung tả cảnh sinh hoạt, các em cần lưu ý một số điểm sau: +Về từ ngữ: Cần lựa chọn các từ ngữ thích hợp (nhất là các từ tượng thanh, tượng hình, động từ, tính từ) để dựng được một bức tranh sinh động bằng hình ảnh, màu sắc và gợi ra cả những âm thanh do hoạt động của con người và vật tạo ra. +Về trình tự tả: Cần lựa chọn một trình tự tả hợp lí về không gian, thời gian (từ xa đến gần, từ trong ra ngoài (hoặc ngược lại); từ thời điểm trước đến thời điểm sau, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. +Về nội dung: Cần kết hợp tả hoạt động của người, vật xen kẽ với tả khung cảnh thiên nhiên. Tránh tả tách bạch dẫn đến sự đơn điệu, tẻ nhạt.   * Một số đề văn tả cảnh mang nội dung tả cảnh sinh hoạt: Đề 1: Hãy tả lại quang cảnh đường làng em (hoặc phố em) lúc bắt đầu một ngày mới. Đề 2: Tả cảnh vui chơi của em cùng các bạn trong một đêm trăng đẹp. Đề 3: Vào những ngày cuối năm, thon xóm (phố phường) nơi em ở nhộn nhịp hẳn lên trong không khí chuẩn bị đón tết. Hãy tả lại quang cảnh đó. Đề 4: Hãy tả lại quang cảnh đường phố hoặc đường làng nơi em ở lúc trời mưa to vừa tạnh.  loigiaihay.com
Xem thêm

14 Đọc thêm

Cùng chủ đề