BÀI THƠ HỎI GIÓ CỦA TẢN ĐÀ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BÀI THƠ HỎI GIÓ CỦA TẢN ĐÀ":

THI SĨ TẢN ĐÀ VỚI BÀI THƠ TỐNG BIỆT pdf

THI SĨ TẢN ĐÀ VỚI BÀI THƠ TỐNG BIỆT

THI SĨ TẢN ĐÀ VỚI BÀI THƠ TỐNG BIỆT Cơn giông biển lớn mái chèo thuyền nan (Tản Đà) Tất cả như một bản trường ca của một đời người ngắn ngủi với trời như bóng như gương ẩn hiện ngập ngừng trùng trùng điệp điệp, rồi thì dư âm bảng lảng… có còn gì không sau Trăm năm trong cõi người ta Sao lá đào lại lác đác chẳng phải cố ý cũng nào phải vô tình sao không ào ào như lá cuối mùa thu giữa cơn mưa rào, sao không là lá mơ lá mận mà cứ phải lá đào để rồi dẫn đến Thiên Thai mà không bao giờ lá reo rắc như những ông ngỗng để rồi dẫn đến máu đổ lệ rơi. Cốt nhục chia lìa ai oán ngàn thu Lá đã xa cành – biệt ly sao tránh khỏi lá đào đã rơi rắc nào có phải đường lên Thiên Thai hay lối về trần thế mà rơi rắc cả đường về lối lên. Thế nên biệt ly nhớ nhung từ đây: Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai. Mở đầu cho một cuộc tình còn hơn cả những mối tình làm chi, làm gì để rồi: Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. Mối tình ấy như lá đào rơi rắc như cửa động ở đầu non như cánh hạc bay lên vút tận trời để rồi thơ thẩn như bóng trăng nhẩn nha suốt những ngàn năm. Đâu rồi lối ra nào đâu đường lối cũ.
Xem thêm

8 Đọc thêm

TUAN 16 17 18

TUAN 16 17 18

mái - 1 tiếng than, 1 tâm trạng, nỗi lòng khác với các bài thơ khác gò bó.? Tản Đà gọi chị Hằng để than thở điều gì.? Tại sao thi sĩ không chọn đêm hè, đêm xuân, đêm đông, mà lại chọn đêm thu để than thở cùng chị Hằng về nỗi buồn của mình. Đêm thu là một tín hiệu giàu chất thẩm mĩ. Cảnh thu buồn, đêm thu thanh vắng chính là lúc hồn ngời sâu lắng nỗi buồn thi sĩ mới càng chất chứa trong lòng.* Cách xng hô chị em thân thiết, đời thờng* Giọng điệu tự nhiên thoải mái bộc lộ cảm xúc trực tiếp.? Tâm trạng của Tản Đà trong đêm thu ấy là tâm trạng gì ? Vì sao Tản Đà chán trần thế, mà lại chỉ có ''nửa'' thôi. vì thế nên Tản Đà tìm cách trốn đời, lánh đời: thoát li vào thơ, rợu, những chuyến đi lang bạt vào Nam ra Bắc để quên sầu quên đời.? Có nhận xét gì về cách xng hô của nhà thơ với mặt trăng, cách xng hô đó có ý nghĩa gì.? Em có nhận xét gì về cách bộc lộ cảm xúc của tác giả ? Qua tâm trạng chán chờng nơi cuộc đời trần thế, em hiểu thêm gì về cuộc đời Tản Đà.* Chán ngán với thực tại, bất hoà sâu sắc với xã hội đơng thời.- Liên hệ với bài thơ khác của Tản Đà:
Xem thêm

28 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà - văn mẫu

PHÂN TÍCH BÀI THƠ HẦU TRỜI CỦA TẢN ĐÀ - VĂN MẪU

độc đáo để thể hiện tâm sự của mình.Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình. Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà rất tự nhiên, hóm hỉnh :Đêm qua chẳng biết có hay không,…Thật được lên tiên  sướng lạ lùng.Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin : Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ. Thế là được lên Trời.Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời.Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình. Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo : gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên :Đương cơn đắc ý đọc đã thíchChè trời nhấp giọng càng tốt hơi.Văn dài, hơi tốt ran cung mây !…Tự khen tài của mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông đáng yêu.Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân :Trời lại phê cho : “Văn thật tuyệtVăn trần được thế chắc có ít !…Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !”Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại của Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn,
Xem thêm

3 Đọc thêm

BÀI THƠ: GIÓ TỪ TAY MẸ

BÀI THƠ: GIÓ TỪ TAY MẸ

không còn là lá, lá có cuống gắn chặt vào cây, còn khi nó đã là cánh, đã mơ hồ thấy cánhbướm mời mọc. Quả vậy, với một em bé lơ mơ ngủ, cánh bướm chập chờn kia đã nâng embay lên êm ái. Một giấc ngủ đựoc bay là giấc ngủ tuyệt vời. Đôi cánh nâng ta lên chính làlòng mẹ. Vâng, đứa trẻ đã ngủ say rồi nên bài thơ mới dừng lại ở đây, nếu nó còn thức thìcòn miên man nghĩ về sự kì diệu của BÀN TAY MẸ...

2 Đọc thêm

Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi doc

ĐỂ THIẾP THEO CHỒNG MẤY DẶM KHƠI DOC

Cảm nỗi chua xót của nàng Mỵ Ê phải tuẫn tiết trong cảnh nước mất nhà tan, thi sĩ Tản Đà có làm bài thơ từ khúc để tả nỗi lòng của người vương phi bạc mạng: _Châu giang một giải sông dài[r]

4 Đọc thêm

Đề thi học sinh giỏi lớp 12 THPT tỉnh Điện Biên năm 2012 môn Ngữ Văn ppt

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 12 THPT TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2012 MÔN NGỮ VĂN PPT

Còn trong đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi là cảnh “Gió thổi rừng tre phấp phới”: không gian đầy sức sống, tươi vui. Rừng tre là cả một sức sống bạt ngàn đang bừng dậy, xanh tốt. 3.Con người trước mùa thu. a) Suốt cả bài Đây mùa thu tới có 16 câu, đến 2 câu cuối bài mới có con người xuất hiện. Không gian tự nhiên lạnh lẽo, rơi rụng, héo úa tràn ngập tất cả. Không gian, con người rút về tối thiểu, không gian nhỏ nhất: nhà mình. Con người ở đây buồn lặng lẽ, âm thầm, không tiếng nói, hướng cái nhìn ra xa, trong một cõi mơ hồ, vô định, trong một suy tư không rõ nét. b) Con người trong đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi với tâm thế vui tươi, chủ động lắng nghe mùa thu giữa đất trời, tư thế làm chủ của con người vừa giành lại đất nước, vừa chiến thắng kẻ thù, giữa mùa thu tươi đẹp. Mùa thu ở đây có sự hài hoà đẹp đẽ giữa con người với tự nhiên, cảnh vật, người với người sum họp vui vầy, đã hết những cảnh chia ly trong cái chớm lạnh thu về trước kia 4. Nguyên nhân tạo ra cái khác biệt độc đáo. Hai nhà thơ (hai nhân vật trữ tình) mang hai tâm trạng khác nhau, đại diện cho hai tầng lớp người ở hai thời đại khác nhau: thời con người nô lệ và thời con người làm chủ. III. Biểu điểm: - Điểm 12: Nội dung bài làm đảm bảo đầy đủ các yêu cầu ở trên, tỏ ra hiểu vấn đề, nắm vững trọng tâm và có cứ liệu giải quyết theo hệ thống luận điểm, có nhiều cảm nhận tinh tế và phát hiện sâu sắc; tình cảm chân thành. Có thể còn sai sót nhỏ ở đoạn thơ trong bài ĐMTT vì bài này không được học trong chương trình cơ bản. - Điểm 8: Bài làm tỏ ra nắm được yêu cầu đề về nội dung và cứ liệu, giải quyết theo hệ thống luận điểm, tuy nhiên ý có thể chưa thật toàn diện và mạch lạc. Văn phong tốt, cảm xúc chân thành. - Điểm 6: Bài tỏ ra hiểu yêu cầu đề về nội dung. Tuy nhiên chưa hình thành hệ thống luận điểm một cách rõ ràng, phân tích cứ liệu chưa thật trọng tâm. Văn phong tạm được, cảm xúc khá tốt.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thưởng ngoạn vẻ đẹp tô châu - hàng châu pot

THƯỞNG NGOẠN VẺ ĐẸP TÔ CHÂU - HÀNG CHÂU POT

Lương), nhưng đến đời Đường nó mới có tên là Hàn Sơn. Chẳng phải có nghĩa là “núi lạnh” (như cách dịch sang tiếng Anh), mà đơn giản là theo tên một vị sư nổi tiếng trụ trì ở đó. Có cả một câu chuyện cảm động liên quan tới cái tên này. Chuyện rằng, tại một miền quê nhỏ có 2 chàng trai Hàn Sơn và Thập Đắc thân thiết với nhau như hai anh em. Tới một ngày cha mẹ hỏi vợ cho Hàn Sơn, thì cô dâu lại chính là người yêu của Thập Đắc. Không muốn làm đau lòng bạn, Hàn Sơn lẳng lặng từ hôn, bỏ quê ra đi. Phiêu dạt đến Cô Tô, anh dừng chân tại ngôi chùa này. Trong khi đó, nghĩ rằng vì mình mà Hàn Sơn phải tha hương, Thập Đắc cũng bỏ quê đi tìm anh. Cuối cùng hai người gặp nhau và cùng tu tại chùa này. Nhưng chùa này được nổi danh khắp Trung Quốc và ở cả nước ngoài chủ yếu là nhờ bài thơ Phong Kiều dạ bạc bất hủ của Trương Kế từ hơn nghìn năm trước: "Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hoả đối sầu miên/ Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền". Bài thơ này cũng lan tỏa và trở nên rất quen thuộc ở Việt Nam nhờ bản dịch tuyệt vời của thi nhân xứ Đoài Tản Đà: "Trăng tà tiếng quạ kêu sương/ Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô/ Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn". Tiếng chuông chùa Hàn Sơn là một di sản văn hóa phi vật thể của thành phố sông nước miền Giang Nam. Chuông có thể vang xa hàng chục dặm vì nó được đúc theo bí quyết 6 phần đồng, 1 phần thiếc. Ban đêm thanh vắng, khí ẩm từ sông hồ bốc lên càng làm cho tiếng chuông ngân nga lảnh lót để lại những dư âm khó
Xem thêm

6 Đọc thêm

CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ HẦU TRỜI CỦA THI SĨ TẢN ĐÀ.

CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ HẦU TRỜI CỦA THI SĨ TẢN ĐÀ.

Bài thơ cho ta thấy Tản Đà có một trí tưởng tượng phong phú,một vốn từ ngữ giàu có, nhất là khi ông nói về Trời, về các chưtiên và cách sống của họ. Đoạn thơ nói về cuộc đọc văn và bìnhvăn, về ngôn ngữ đối thoại giữa văn sĩ với Trời và các chư tiênđược kể lại rất sinh động và lí thú.Hầu TrờiTản ĐàĐêm qua chẳng biết có hay khôngChẳng phải hoảng hốt, không mơ mộngThật hồn! Thật phách! Thật thân thể!……………………..Tiếng gà xao xác, tiếng người dậyGiữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi.Một năm ba trăm sáu mươi đêm.Sao được đêm đêm lên hầu Trời!Theo Tuyền tập Tàn Đà NX8 Văn học Hà Nội. 1982Bài thơ "Hầu Trời" của Tản Đà có sự khác biệt về số câu ở hai văn bản. Bản do Nguyễn Nghiệp sưu tầm,tuyển chọn - Nhà xuất bản Văn học, 1982 có 120 câu. Bản do Nguyễn Khắc Xướng sưu tập, chú thích Nhà xuất bản Văn học, 1986 chỉ có 114 câu. Chúng tôi theo bản thứ nhất."Hầu Trời" là một bài thơ rất đặc sắc và độc đáo; độc đáo ở thi đề, độc đáo cảm hứng, độc đáo ở nội dungbài thơ."Hầu Trời" được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, bên cạnh những khổ thơ bốn câu, tác giả đanxen vào những đoạn thơ sáu câu, mười câu, mười hai câu... mang dáng dấp một bài hành nhỏ. Câu trúc đadạng ấy đã mở ra một không gian nghệ thuật để Tản Đà bộc lộ cái tôi của mình, và cho nó "tung hoành"nơi Thiên môn đế khuyết.Phần đầu bài thơ kể chuyện lúc canh ba, thi sĩ ngâm thơ nơi hạ giới, tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà",đã "làm Trời mất ngủ...". Trời bực mình bèn sai hai cô tiên bay xuống triệu chàng thi sĩ lên Thiên môn.Bốn câu thơ mở đầu, Tản Đà dùng bốn chữ "thật" để khẳng định đó là một chuyện thật đã xảy ra "sướnglạ lùng!".Trong bài "Tìm hiểu Tản Đà", thi sĩ Xuân Diệu viết:"Bài "Hầu Trời", tôi phục nhất đoạn mở:Đêm qua chẳng biết có hay không
Xem thêm

5 Đọc thêm

CẢM NHẬN CỦA EM VỀ TÂM TRẠNG CỦA TẢN ĐÀ QUA BÀI THƠ: MUỐN LÀM THẰNG CUỘI.

CẢM NHẬN CỦA EM VỀ TÂM TRẠNG CỦA TẢN ĐÀ QUA BÀI THƠ: MUỐN LÀM THẰNG CUỘI.

Câu thơ là đỉnh cao của cái ngông rất phù hợp với tính chất Tản Đà. Ngồi bên cạnh người đẹp, đó đã làmột niềm hạnh phúc. Hơn thế nữa thi sĩ còn tự đặt mình lên một địa vị cao để mà cười cợt. Cái ngông nàythật hiếm có, đáng yêu, đáng trân trọng ở trong giai đoạn này. Bởi các thi sĩ lãng mạn yêu nước nhưngkhông đủ dũng khí để chiến đấu - thường tìm đến thiên nhiên hoặc trốn vào mộng tưởng để trốn đời.Cả bài thơ là giấc mộng kỳ thú, là niềm khao khát về cuộc đời đẹp, về một cõi mơ trong sáng, khôngvướng bận sự đời.Tóm lại, tâm trạng bao trùm cả bài thơ là tâm trạng buồn chán thất vọng với cuộc đời. Đó là thái độkhông dung hoà với thực tại, là sự phản kháng gián tiếp với cuộc đời. Thi sĩ khát khao một xã hội tự do,tươi đẹp và trong sạch. Hình ảnh chị Hằng với cung quế, cây đa là những hình ảnh của cõi tiên đầy lãngmạn. Cõi tiên ấy là cả một thế giới mà Tản Đà mong muốn có. Thực ra, sự chán chường và niềm khátkhao ấy xuất phát từ lòng yêu nước thầm kín của Tản Đà - nỗi buồn xuất phát từ nỗi nhục của người nô lệvà ước muốn xuất phát từ khát vọng được tự do.Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích bài thơ " Hầu Trời " - Tản Đà docx

PHÂN TÍCH BÀI THƠ " HẦU TRỜI " - TẢN ĐÀ DOCX

chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác. => Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này. b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân: - Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương. Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn. đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc.- Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời =>Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít . III. Tổng kết: 1. Nội dung: - Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc. - Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình. 2. Nghệ thuật:
Xem thêm

17 Đọc thêm

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ “HẦU TRỜI” CỦA TẢN ĐÀ

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ “HẦU TRỜI” CỦA TẢN ĐÀ

nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình : “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc HiếuĐày xuống hạ giới vì tội ngông.”Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả củamình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên lương” của nhân loại :Trời rằng : “Không phải là Trời đày,Trời định sai con một việc nàyLà việc “thiên lương” của nhân loại,Cho con xuống thuật cùng đời hay.”Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của vănchương, của nhà văn.Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móngcho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sữnggiữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn lànghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn kiếm sốngnày. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự an ủi mình.Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hìnhthức một bài thơ  câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng định cái Tôi cá nhâncủa người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm vănchương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương. Viết văn hay làm cho đời đẹp hơn là nhiệm vụ trời đã traocho người nghệ sĩ.Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dịmà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi vàngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cáiTôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ởchỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Đó là một kiểungông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phongcách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHÂN TÍCH BÀI THƠ THỀ NON NƯỚC CỦA THI SĨ TẢN ĐÀ.

PHÂN TÍCH BÀI THƠ THỀ NON NƯỚC CỦA THI SĨ TẢN ĐÀ.

“Non cao đã biết hay chưa?Nước đi ra biển lại mưa về nguồnNước non hội ngộ còn luôn,Bảo cho non chớ có buồn làm chi”.“Ngàn dâu xanh tốt” như một chứng tích của thời gian, như một nỗi tang thương đã biến đổi, và còn nhưmột kỷ vật(?) vì thế “non thì cứ vui”.Hai câu kết như sự chung đúc một lời thề, “thề non nước”:“Nghìn năm giao ước kết đôiNon non nước nước chưa nguôi lời thể”.Đã có lời “thệ hải minh sơn” trong tình sử. Đã có “Đám cưới bạc”. Cũng có “đám cưới vàng”… Đờingười hữu hạn trăm năm. Nhưng lời thề của “non” và “nước” là lời thề “nghìn năm” kết đôi thuỷ chungbền vững. Đó là một lời thề sâu nặng, bền đẹp đến muôn đời.Nghệ thuật sử dụng biện pháp “phân - hợp” ngôn ngữ của Tản Đà rất điêu luyện để gợi tả và biểu cảmthần tình . “Ngóng trông” được viết thành “những ngóng cùng trông” diễn tả cái dằng dặc của sự đợi chờ,trông ngóng. Trong ly biệt, hình ảnh “non” và “nước” nằm ở hai phía không gian - đầu , cuối câu thơ:“Nước đi đi mãi không về cùng non”. Trong cảnh sum họp, hội ngộ của lứa đôi thì non và nước sẽ thànhnon non nước nước gắn bó keo sơn, bền vững, lời thề chẳng bao giờ “nguôi”, chẳng bao giờ “quên” được!Tóm lại, lời thề của non và nước được nói đến một cách thắm thiết, thuỷ chung và cảm động.3 - Nước đi chưa lại…Bài thơ “Thề non nước” là một bài thơ đa nghĩa. Có nội dung vịnh cảnh trong tranh. Có nội dung phongtình cố hữu của Tản Đà. Và còn có tấm lòng thiết tha gắn bó của nhà thơ với Tổ Quốc giang sơn trongcảnh ngộ mất chủ quyền. Đầu thế kỷ XX, có một số nhà thơ nói lên lòng yêu nước, một cách thầm kín:“Có phải tiếc xuân mà đứng gọiHay là nhớ nước vẫn nằm mơ”.(“Cuốc kêu cảm hứng” - Nguyễn Khuyến)“Nặng gánh em trở ra về!Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya…Vì thương nước cạn, nặng nề em dám kêu ai!
Xem thêm

5 Đọc thêm

tiet76,77.hautroi.tanda

TIET76,77.HAUTROI.TANDA

GV: Nêu những điểm đáng lưu ý về cuộcđời Tản Đà?HS trả lời GV ghi bảngGV: bên bờ sông Đà gần chân núi Tản ->Tản ĐàGV: sự nghiệp sáng tác của Tản Đà cóđiểm gì đáng chú ý?HS trả lời Gv chốt lạiGV: đọc 1 đoạn -> gọi HS đọc và nhận xétcách đọc- Cảm nhận ban đầu của em về văn bảnvừa đọcHS phát biểuGV: Bài thơ được in trong tập thơ nào?I. Khái quát về tác giả và tác phẩm1. Tác giảa. Cuộc đời- (1889 - 1939), tên khai sinh: NguyễnKhắc Hiếu- Quê: làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt,tỉnh Sơn Tây - Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời- Nhỏ: học chữ Hán, sau 2 khoá thi Hươnghỏng bỏ thi sáng tác văn chương chữ quốcngữb. Sự nghiệp sáng tác- Các tác phẩm chính: SGK (T.12)- Sáng tác chủ yếu bằng chữ quócc ngữ, sửdụng các thể loại truyền thống với cảmhứng mới mẻ
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tác giả Tản Đà

TÁC GIẢ TẢN ĐÀ

I.- CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TẢN ĐÀ Tản Ðà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ngày 08 tháng 5 năm 1888, ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.  Ông xuất thân từ một gia đình thuộc dòng dõi phong kiến quí tộc. Cha là Nguyễn Danh Kế, từng làm quan đến Án sát, Ngự sử, Anh cả là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng, làm Ðốc học, sau tham gia ban Tu thư, làm Hiệu trưởng trường Qui Thức, là những tổ chức do Pháp lập ra để đối phó vào phong trào Ðông Kinh nghĩa thục. Mẹ ông là một cô đào hát có tài có sắc, lấy lẽ Nguyễn Danh Kế lúc ông làm Tri phủ Lý Nhân. Từ lúc nhỏ Nguyễn Khắc Hiếu đã theo cha và anh sống ở những nơi họ làm việc, ở Nam Ðịnh, Sơn Tây, Vĩnh Yên. Tản Ðà từng theo học chữ nho. Ông cũng là một trong những học trò đầu tiên của trường Qui Thức. Ông đi thi mãi nhưng không đỗ đạt gì cả. Ông là một nhà nho rời nông thôn ra thành thị. Cuộc sống thành thị lúc bấy giờ đã ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm và thái độ trước cuộc sống hiện tại của ông. Ông là người đầu tiên đã mạnh dạn bước vào một nghề mới: Nghề viết văn, xem việc sáng tác như một cách kiếm sống “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”. Ông từng tham gia vào hoạt động báo chí: làm chủ bút cho tờ Hữu Thanh, thành lập tờ An Nam tạp chí.  Tản Ðà mất ngày 07 tháng 6 năm 1939 ở Ngã Tư Sở trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu.              Tản Ðà bắt đầu sáng tác từ năm 1913. Ðến năm 1915 ông mới bắt đầu công bố tác phẩm của mình trên tờ Ðông Dương tạp chí”           Tác phẩm của ông gồm nhiều thể loại : - Tác phẩm phiên dịch : Ðại học, Ðàn bà Tàu, Kinh thi, Liêu trai chí dị. - Tác phẩm luận thuyết : Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ, Ðài gương. - Thơ : Lên sáu, lên tám, Khối tình con I, II - Tiểu thuyết và truyện ngắn : Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Thề non nước, Trần ai tri kỷ, Kiếp phong trần. - Kịch : Thần tiền. Lúc sinh thời Tản Ðà rất tự hào về văn xuôi của mình, ông từng nói : “Văn đã nhiều thay lại lắm lối. Thế nhưng độc giả, những người nghiên cứu lại đánh giá cao những tác phẩm thơ của ông. II.- NỘI DUNG VĂN THƠ CỦA TẢN ĐÀ: 1. Tinh thần dân tộc trong thơ văn Tản Ðà :   Tản Ðà là một nhà nho đứng ngoài cuộc đấu tranh cứu nước của dân tộc lúc bấy giờ. Tuy nhiên, ở ông vẫn tiềm tàng một tình yêu quê hương đất nước thiết tha. Tản Ðà không nâng lòng yêu nước của mình tới mức độ có thể xông vào chiến trận, cùng đồng bào cả nước đánh đuổi kẻ thù xâm lược nhưng Tản Ðà luôn có ý thức lo đời và mong muốn được giúp đời. Tản Ðà thường thắc mắc và cảm thấy lo âu trước tình trạng lạc hậu đáng sơû về kinh tế, xã hội của đất nước. “Tính năm sinh đã 4000 nghìn dư Bước tiến hóa lừ đừ sau mọi kẻ”.                                                           (Bài hát chúc báo sống)   Ông rất đau xót khi nhận ra sự suy tàn của Hán học, lo lắng cho đạo đức thánh hiền sẽ có ngày đi đến chỗ bị tiêu vong (Hủ nho lo việc đời). Trước thực trạng của đất nước, Tản Ðà cất lời than não nuột :   “Giời chưa mở mắt biết mai sau thế nào Bây giờ đất thấp mà giời cao !”                                                 (Sẩm chợ)    Ông luôn tiếc nuối quá khứ vàng son của dân tộc. Bài “Con quốc và con chẫu chuộc” đã thể hiện điều này : “Bờ ao trên bụi có con quốc Ở dưới lại có con chẫu chuộc Hai con cùng ở cùng hay kêu Một con kêu thảm một con kêu nhuốc Chuộc kêu đắc ý gặp tuần mưa Quốc kêu đau lòng thương xuân qua Cùng một bờ ao, một bụi rậm Phong cảnh không khác tình khác xa”.             Ông nhớ về những chiến công hiển hách của tổ tiên “Ôi ! Lý Trần Lê đâu mất cả Mà thấy hươu nai đứng đỉnh chơi”.                                                 (Chơi trại hàng hoa)  Có những lúc ông còn công nhiên ca ngợi những người anh hùng dân tộc đương thời (viếng Ðình Công Tráng). Ông đã tỏ rõ thái độ căm thù đối với những kẻ bán nước, làm tay sai cho giặc. Ông từng làm thơ mỉa mai Hoàng Cao Khải. “Hoạ mi, ai vẽ nên mi ? Trông mi mi đẹp, hót thì mi hay Ai đưa mi đến chốn này ? Nước trong gạo trắng mi ngày ăn chơi Lồng son cửa đỏ thảnh thơi Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi Nghĩ cho mi cũng gặp thì Rừng xanh mi có tiếc gì nữa không”.                                                           (Chim hoạ mi trong lồng)  Ông châm biếm những kẻ theo giặc :   “Anh tiếc cho em phận gái má đào Tham đồng bạc trắng mà gán mình cho chú Tây đen”                                                 (Cô Tây đen)  Với ý thức lo đời và mong muốn đóng góp cho đời Tản Ðà luôn đi tìm giải pháp cứu nước. Ðể thực hiện được việc lớn Tản Ðà đã đi tìm người đồng chí cùng với mình gánh vác trọng trách đối với non sông nhưng tìm mãi mà không thấy.                                                                 “Chung quanh những đá cùng cây Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm”                                                 (Vô đề)  Trước hoàn cảnh hiện tại của đất nước, Tản Ðà nhận thấy cần phải có sức mạnh của đoàn kết mới có thể xoay trở được tình thế, cho nên ông đã cất lời kêu gọi.  “Lúc thủy tai, này ai ơi ! Quý tiếc thương yêu lấy giống nòi Con cháu rồng tiên khi đã bỉ Ðừng nên rẻ rúng bỏ nhau hoài !”  Tản Ðà đã đưa ra chủ trương cứu nước bằng con đường phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Ông rất tin vào giải pháp này. Trong bài viết “Một cuộc đấu tranh của người An Nam sẽ khởi đầu từ năm Ðinh Mão” đã thể hiện rõ nhiệt tình và sự tin tưởng của ông: “Hỡi quốc dân An Nam, nước An Nam từ năm Ðinh Mão này trở về trước, cái hay cái dở có chép ở sử sách, chúng ta đều đã biết, nước An Nam từ năm Ðinh Mão trở về sau, chúng ta chưa biết ra sao vậy. Cái vận mạng của nước ta sau này hay dở hoặc nhiên có tiền định, thế nào chúng ta cũng phải hết sức tiến thủ, tức như trong nhà có bố mẹ ốm không thể tính số vận, mà kiếm thuốc là cần”. Phương thuốc mà Tản Ðà nói ở chính là phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến, là phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.  Bên cạnh đó, Tản Ðà còn đưa ra thuyết thiên lương với mục đích cứu đời: Ông cho rằng xã hội loạn lạc, nền đạo đức phong kiến bị suy thoái là bởi thiên lương của con người đã bị đánh mất. Ông tự nhận là người được trời sai xuống trần gian, mang thiên lương đến nhân loại nhằm cứu nguy cho xã hội.                             “Trời rằng không phải là trời đày Trời định sai con một việc này Là việc thiên lương của nhân loại Cho con xuống thuật cùng đời hay”  Tản Ðà không nâng lòng yêu nước của mình tới mức độ có thể xông vào cuộc đấu tranh cho đất nước nhưng Tản Ðà cũng tỏ ra có một nỗi lo lắng muốn giúp ích cho đời, mặc dù nỗi lo lắng đó không đi đến đâu, thậm chí còn đầy mâu thuẫn. Nỗi lo lắng của Tản Ðà thể hiện ở ý thức muốn muốn đem tài văn chương của mình ra giúp đời, muốn làm cho văn chương của mình “Có bóng mây hơi nước đến dân xã” (Giấc mộng con I). Tờ An Nam tạp chí ra đời cũng để thực hiện chí hướng ấy. Vốn là đồ đệ của Khổng, Mạnh, Tản Ðà muốn dùng đạo đức phong kiến cứu vãn xã hội đang trụy lạc trước mắt. Vì thế ông đã viết Ðài gương, dịch Ðài gương truyện, viết lên sáu, lên tám, nhằm củng cố trật tự gia đình để đi đến củng cố trật tự xã hội.  Tản Ðà là một người có chí hướng, hoài bão lớn, nhưng hoàn toàn bất lực. Tất cả những giải pháp của ông đều không đưa đến kết quả tốt đẹp. Cuối cùng ông chỉ còn có thể tưởng tượng về một xã hội lý tưởng. “Cõi đời mới” của Tản Ðà trong “Giấc mộng con II” không có chợ búa, không có tiền bạc, cảnh sống rất vui, “Không có sự thiên tai, không có sự địa biến, không có sự trộm cướp, không có sự án tù, không có sự kiện cáo, không có sự buôn danh bán lợi không có câu thế thái nhân tình. Ngoài sự lo ăn lo dùng, chỉ chuyên ý suy cầu nhẽ tiến hóa”. Ðây là một bằng chứng Tản Ðà là một người luôn ôm ấp trong lòng giấc mơ tốt đẹp về cuộc đời, cũng có thể xem đó là một nét lãng mạn tích cực.  Nhìn chung, Tản Ðà có một tinh thần dân tộc cao, được thể hiện ở lòng yêu nước, nỗi lo đời của ông. Có điều những tình cảm ấy còn mang tính chung chung, mơ hồ. Hơn nữa, Tản Ðà cũng không dám nói thẳng mà Tản Ðà thường phải ngụy trang bằng nhiều hình thức khác nhau, khi nói về tấm lòng của mình đối với quê hương đất nước. Tản Ðà cũng là một người có nhiều mâu thuẫn trong tư tưởng, lòng yêu nước của ông thể hiện chưa thật rõ ràng và nhất quán.            2. Tư tưởng lãng mạn thoát ly trong thơ văn Tản Ðà :       2.1- Một số biểu hiện của tư tưởng lãng mạn thoát ly :  Lãng mạn thoát ly là khuynh hướng chủ yếu trong thơ văn Tản Ðà. Ông xuất thân từ tầng lớp phong kiến đang thời suy thoái. Bản thân sống ở thành thị, gần gũi với tầng lớp tiểu tư sản bất lực lưng chừng, ông lại đứng ngoài các cuộc đấu tranh của dân tộc. Cuộc đời ông phải trải qua nhiều thất bại, éo le nên tư tưởng trở nên tiêu cực thoát ly, điều này được thể hiện qua nhiều khía cạnh.  Thơ văn Tản Ðà nói nhiều đến chữ sầu: Tản Ðà đã xướng lên một nỗi buồn đặc biệt, lãng mạn. Cái buồn của Tản Ðà là nỗi buồn thầm kín, như nằm tận đáy sâu của lòng người có thể bật dậy bất cứ lúc nào. Nó không sầu não, tang tóc nhưng da diết, khó nguôi. Tản Ðà buồn bởi các nguyên nhân :     + Buồn về thân phận tài tình của mình, của những người cùng cảnh ngộ : “Ngắn dài sáu lớp mươi câu hát Vui khóc năm canh một cuộc đời Cũng muốn thôi đi thôi chửa dứt Tài tình lụy lắm bạn tình ơi !”                                                                   (Ðề tuồng Tây Thi)  + Buồn vì thời thế thay đổi, ông lại bất lực trước hoàn cảnh, mộng giúp đời không thành.  - Thơ văn Tản Ðà nói nhiều đến chữ tình. Tản Ðà thường viết về nỗi lòng của một kẻ cô đơn, bơ vơ, khao khát yêu thương. Thơ văn ông thường đề cập đến tình yêu đôi lứa, kiểu tình yêu thật sự lãng mạn. Ðó không phải là tình vợ chồng, tình yêu trong tác phẩm của ông không đi đến hôn nhân. Ông thường nói đến tình yêu ban đầu dang dở. Ông kể lại những kỉ niệm về tình yêu, những đau khổ trong tình yêu… Nói chung, tình yêu trong sáng tác Tản Ðà là tình buồn, tình sầu, tình hoài nhớ. Ðó cũng chính là những nội dung phổ biến của văn học lãng mạn tư sản. Ðây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một nhà nho đã cất bút viết về những mối tình của mình, những diễn biến, những cảm nghĩ về tình yêu… Viết để lưu lại hình bóng cũ, mãi mãi không thể phai mờ được, để ghi nhớ những gương mặt thân thương…  - Tản Ðà sống bằng tưởng tượng nhiều hơn bằng hiện thực. Thơ văn ông cũng nói nhiều đến chữ mộng. Ông mộng được lên trời để hầu chuyện Ngọc Hoàng thượng đế, mộng đi khắp năm châu thế giới gặp toàn những vĩ nhân và mĩ nhân, mộng được làm bạn với những người đẹp.  “Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi”. - Tản Ðà quan niệm đời là một bể khổ nên tìm mọi cách để trốn đời, ông lao vào con đường hành lạc. Trước tiên là tìm đến với rượu : “Cảnh đời gió gió mưa mưa Buồn trông ta phải say sưa đở buồn”.  Rượu vào thì thi hứng bắt đầu được khơi dậy, cho nên ở Tản Ðà rượu thường đi liền với thơ: “Trời đất sinh ta rượu với thơ Không thơ không rượu sống sinh thừa”. Nhưng rồi rượu với thơ cũng không làm vơi đi được nỗi buồn của Tản Ðà. Chán chường quá ông lại muốn thoát lên cõi tiên, cõi phật, xa lánh trốn trần ai đầy khổ ải này (Muốn làm thằng Cuội, Hầu trời, Tống biệt…).  Tản Ðà còn tìm nguồn vui ở thú đi chơi, ông đi rất nhiều nơi, biết nhiều chỗ. Và với ông mỗi điểm dừng chân đều in lại những kỉ niệm khó quên (Thú ăn chơi).       2.2- Ðặc điểm của tư tưởng lãng mạn thoát ly trong thơ văn Tản Ðà :  -         Lãng mạn thoát ly nhưng không quay lưng lại với cuộc sống : Tản Ðà vì gặp cảnh ngộ éo le, thất chí nên tìm cách lánh đời, coi đời là cõi tục là nơi ở trọ. Nhưng Tản Ðà thoát ly mà không thoát tục. Tản Ðà chủ trương trốn đời nhưng lại muốn nhập thế. Ở ông có sự giằng xé giữa chán đời và gánh lãnh trách nhiệm. Ông có ý định trốn đời để quên đời, mượn thú nhàn tản để tìm sự thanh thản cho tâm hồn nhưng cuối cùng đã không quên được và luôn phiền não, lo lắng cho cuộc đời.  - Cái tôi lãng mạn có tư tưởng thoát ly vẫn còn bị chi phối bởi ý thức hệ phong kiến: Tư tưởng thoát ly của Tản Ðà gắn liền với ý thức muốn đứng ra ngoài cuộc đời nhơ bẩn để giữ lấy thanh cao trong sạch cho mình : “Trung hiếu vẹn toàn hai khối ngọc Thanh cao phô trắng một nhành mai Bạc tiền gió thoảng thơ đầy túi Danh lợi bèo trôi rượu nặng vai”.                                                                                          (Tự vịnh) Tản Ðà sống vào thời kỳ xã hội trên con đường tư sản hóa, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chi phối mạnh mẽ sinh hoạt của con người, chủ nghĩa cá nhân được công nhiên bộc lộ. Cho nên nội dung thoát ly của Tản Ðà in dấu vết của thời đại. Hưởng lạc của Tản Ðà bắt đầu bê tha, chủ nghĩa cá nhân bộc lộ rõ. Tuy nhiên, Tản Ðà chưa bị sa vào trụy lạc, chưa hủy hoại thể xác và tinh thần như một số tác giả của văn học lãng mạn ở giai đoạn 1939 – 1945. Ở Tản Ðà trong cái tôi thoát ly hưởng lạc vẫn còn bóng dáng của cái gì thuộc nề nếp đạo đức phong kiến (Giấc mộng con, Thề non nước…).  III.- NGHỆ THUẬT THƠ VĂN TẢN ĐÀ 1. Vận dụng một số thành tựu nghệ thuật của văn học dân gian :                - Thể loại : Các làn điệu xẩm, lý, chèo, ca cổ bản, các thể loại dân ca ở cả miền Bắc lẫn miền Trung đều được Tản Ðà chú ý khai thác. Sự am hiểu dân ca làm cho Tản Ðà viết phong thi và ca khúc đạt trình độ nghệ thuật rất cao. Rất nhiều bài ca dao của Tản Ðà trở thành tác phẩm văn học dân gian, lưu hành khá rộng rãi trong quần chúng. Tản Ðà gọi ca dao của mình là phong thi.  - Ngôn ngữ : Tản Ðà đã học tập cách sử dụng ngôn ngữ của văn học dân gian, tạo cho ngôn ngữ trong sáng tác của ông có tính giản dị, tự nhiên. Ông còn đưa lời ăn tiếng nói của quần chúng vào trong tác phẩm. Có thể thấy rõ thơ của Tản Ðà được sáng tác với ngôn ngữ của văn học dân gian, với chất liệu nghệ thuật mà người lao động đã dùng. Ngôn ngữ trong thơ Tản Ðà là ngôn ngữ của ca dao, hát ru, hát ví…  - Tản Ðà còn vận dụng một số công thức trong ca dao. Ví dụ : “Gió đưa”, ”Con cò”… “Gió đưa thầy khóa sang sông Ðể em trông thấy trong lòng ngẩn ngơ”.  hoặc                               ”Con cò lặn lội bờ ao Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay Em về giục mẹ cùng thầy Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong ?”  Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ Tản Ðà rất đậm. Có nhiều câu thơ đã bám sát vào các câu hát, ví của văn học dân gian.          Câu ví : Hỡi cô yếm trắng lòa lòa                     Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm.         Tản Ðà : Hỡi cô yếm trắng kia là                     Chồng cô, cô bỏ ở nhà đi chơi.    2. Cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho :   - Tản Ðà đã sử dụng các thể loại sáng tác của văn chương trung đại trên tinh thần cách tân. Ông là người thể hiện đầy đủ và thành công phương hướng giải quyết của thời đại. Chính ông đã tuyên bố :    ”Ðờn là đờn, thơ là thơ                                        Thơ thời có chữ, đờn có tơ                                        Nếu không phá cách vứt điệu luật                                        Khó cho thiên hạ đến bao giờ “. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

7 Đọc thêm

Phân tích nhân vật trữ tình trong bài thơ Hầu trời -tản đà pptx

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG BÀI THƠ HẦU TRỜI -TẢN ĐÀ PPTX

Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe: a Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình: - Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc: “ Đọc[r]

5 Đọc thêm

Soạn bài Hầu Trời

SOẠN BÀI HẦU TRỜI

Soạn bài hầu trời - Tản Đà Tìm hiểu chung 1. Tác giả Tản Đà (1889 - 1939) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ra bên núi Tản sông Đà, huyện Bất Bạt, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Tây) nên lấy bút danh là Tản Đà. Tản Đà sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng và văn học nghệ thuật. Là con trai của quan án sát tỉnh Ninh Bình Nguyễn Danh Kế và một đào nương tên là Nhữ Thị Nghiêm, vì vậy Tản Đà không chỉ say mê ca trù mà còn rất am hiểu về nhạc dân gian. Ông thành thạo xẩm, chèo và cải lương đồng thời thông tỏ về từ khúc (nhạc cung đình Trung Quốc). Tản Đà là đại diện tiêu biểu của kiểu nhà nho tài tử buổi giao thời, là người đầu tiên "mang văn chương ra bán phố phường". Sáng tác của Tản Đà thể hiện một cá tính nghệ sĩ tài hoa, tài tử. Tản Đà viết cả văn và làm thơ nhưng ông nổi tiếng với tư cách nhà thơ hơn. Thơ Tản Đà mang màu sắc cổ điển về hình thức và mới mẻ về nội dung, ông được gọi là cầu nối giữa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại. Là thi sĩ tài hoa và đa tình, ông viết nhiều về tình yêu. Đồng thời thơ Tản Đà còn thể hiện tính dân tộc rõ nét từ hình thức đến nội dung. Trong thơ ông, lòng yêu nước, yêu quê hương được biểu hiện rất phong phú và đa dạng, khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp. Tác phẩm chính : Về thơ có Khối tình con I, II, III, Còn chơi, Thơ Tản Đà... Về văn xuôi có Giấc mộng lớn, Giấc mộng con I, II, Tản Đà văn tập... 2. Tác phẩm Hầu trời được xếp trong tập Còn chơi (1921) là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tản Đà. Bài thơ được viết dưới dạng tự sự, kể một tình huống tưởng tượng cảnh nhà thơ lên gặp trời để ngâm thơ cho trời nghe. Qua đó thể hiện ý thức cá nhân và thái độ của nhà thơ về nghề văn, về cuộc đời. II/ Phân tích Tản Đà được coi là “người nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí quan trọng của Tản Đà đối với văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới. Bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tác của Tản Đà. Mạch thơ được triển khai theo lôgíc một câu chuyện với các chi tiết cụ thể, rành mạch, khiến cho bài thơ hấp dẫn và có sức thuyết phục : nằm một mình, buồn nên dậy đun nước uống rồi ngâm văn, động đến Trời, tiên xuống hỏi rồi đưa lên gặp Trời, Trời cùng chư tiên đón tiếp long trọng, mời đọc thơ, giới thiệu về mình rồi đọc thơ và giãi bày cảnh ngộ cùng Trời, Trời giải thích, khen ngợi rồi cho đưa về trần giới. Nhà thơ đã chọn một cách rất độc đáo để thể hiện tâm sự của mình. Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình. Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà rất tự nhiên, hóm hỉnh : Đêm qua chẳng biết có hay không, ... sướng lạ lùng.Thật được lên tiên Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin : Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ. Thế là được lên Trời. Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời. Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình. Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo : gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên : Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Văn dài, hơi tốt ran cung mây !... Tự khen tài của mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông đáng yêu. Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân : Trời lại phê cho : “Văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít !... Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !” Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại của Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình : “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông.” Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên lương” của nhân loại : Trời rằng : “Không phải là Trời đày, Trời định sai con một việc này Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay.” Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của văn chương, của nhà văn. Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móng cho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững giữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn là nghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn kiếm sống này. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự an ủi mình. Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hình thức một bài câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng địnhthơ cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm văn chương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương. Viết văn hay làm cho đời đẹp hơn là nhiệm vụ trời đã trao cho người nghệ sĩ. Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bài soạn Giáo án tuàn 20 Đã chỉnh

BÀI SOẠN GIÁO ÁN TUÀN 20 ĐÃ CHỈNH

A BCDTập đọcÔng Mạnh thắng Thần GióI. Mục đích, yêu cầu:- Biết ngắt nghỉ hơi đúng chỗ; đọc rõ lời nhân vật trong bài.- Hiểu ND: Con ngời chiến Thần Gió, tức là chiến thắng thiên nhiên- nhờ vào quyết tâmvà lao động, nhng cũng biết sống thân ái, hoà thuận với thiên nhiên. Trả lời - Giáo dục học sinh yêu thiên nhiên, sống thân thiện với môi trờng.II. Chuẩn bị:- Tranh minh họa bài đọc SGK- Tranh ảnh về giông bão III. Hoạt động dạy học :E Tiết 2 3. H ớng dẫn học sinh tìm hiểu bài :- Thần Gió đã làm gì khiến ông Mạnh nổi giận ?- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh về giông bão nhận xét sức mạnh của gió. - Kể những việc ông Mạnh làm để chống lại Thần Gió.- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh một ngôi nhà có tờng đá có cột to, chân cột kê đá tảng .- Hình ảnh nào chứng tỏ Thần Gió phải bó tay - Giáo viên liên hệ so sánh những ngôi nhà làm tạm bằng tranh tre, nứa lá với những ngôi nhà xây kiên cố bằng bê tông cốt sắt để thấy đợc bão tố dễ dàng tàn phá những ngôi nhà tạm .- Ông Mạnh dã làm gì để thần gió trở thành bạn của mình.- Hành động kết bạn với Thần Gió của ông Mạnh cho thấy ông là ngời ntn?* Ông Mạnh tợng trng cho ai ? Thần gió tợng trng cho cái gì ?- Nêu nội dung câu chuyện
Xem thêm

19 Đọc thêm

HÃY PHÂN TÍCH BÀI THƠ MUỐN LÀM THẰNG CUỘI CỦA TẢN ĐÀ

HÃY PHÂN TÍCH BÀI THƠ MUỐN LÀM THẰNG CUỘI CỦA TẢN ĐÀ

Bài thơ tuân thủ khuôn mẫu của một bài thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển. Nhưng nguồn cảm xúc tựnhiên, không chừng bay bổng đã tự tìm đến những lời thơ tựa như lời nói hàng ngày: "buồn lắm chị Hằngơi", "em nay chán nửa rồi", "đã ai ngồi đây chưa", "xin chị nhắc lên chơi", "thế mới vui", "tựa nhau trôngxuống thế gian cười"; xưng hô khẩu ngữ (chị - em) tự nhiên, không đẽo gọt cầu kì và ngữ điệu biểu hiệnđa dạng (ơi, rồi, đó chửa, xin, thế mới). Lên tiên, thoát tục là thi đề quen thuộc trong thơ cổ, ở đây cáikhông mới ấy đã được làm mới bằng giọng điệu, bằng lời thơ.Cái ngông của Tản Đà trong bài thơ này là một hình thức ứng xử vốn nằm trong cốt cách của nhà nho tàitử trong thơ truyền thống. Song, như chúng ta đã thấy, cái ngông ấy lại là thái độ của Tản Đà đối với xãhội ta những năm đầu thế kỉ XX, bộc lộ một nguồn xúc cảm mới, đầy cá tính đa tình, phóng túng. Cái mơmộng thành ra cái ngông thì quả là đậm chất riêng của Tản Đà.Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài Hầu trời của Tản Đà

SOẠN BÀI HẦU TRỜI CỦA TẢN ĐÀ

1. Tản Đà tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ra bên núi Tản sông Đà, huyện Bất Bạt, Sơn Tây (nay là Ba Vì, Hà Tây) nên lấy bút danh là Tản Đà. Tản Đà sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng và văn học nghệ thuật. Là con trai của quan án sát tỉnh Ninh Bình Nguyễn Danh Kế và một đào nương tên là Nhữ Thị Nghiêm, vì vậy Tản Đà không chỉ say mê ca trù mà còn rất am hiểu về nhạc dân gian. Ông thành thạo xẩm, chèo và cải lương đồng thời thông tỏ về từ khúc (nhạc cung đình Trung Quốc). Tản Đà là đại diện tiêu biểu của kiểu nhà nho tài tử buổi giao thời, là người đầu tiên "mang văn chương ra bán phố phường". Sáng tác của Tản Đà thể hiện một cá tính nghệ sĩ tài hoa, tài tử. 2. Tản Đà viết cả văn và làm thơ nhưng ông nổi tiếng với tư cách nhà thơ hơn. Thơ Tản Đà mang màu sắc cổ điển về hình thức và mới mẻ về nội dung, ông được gọi là cầu nối giữa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại. Là thi sĩ tài hoa và đa tình, ông viết nhiều về tình yêu. Đồng thời thơ Tản Đà còn thể hiện tính dân tộc rõ nét từ hình thức đến nội dung. Trong thơ ông, lòng yêu nước, yêu quê hương được biểu hiện rất phong phú và đa dạng, khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp. Tác phẩm chính : Về thơ có Khối tình con I, II, III, Còn chơi, Thơ Tản Đà... Về văn xuôi có Giấc mộng lớn, Giấc mộng con I, II, Tản Đà văn tập... Hầu trời được xếp trong tập Còn chơi (1921) là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tản Đà. Bài thơ được viết dưới dạng tự sự, kể một tình huống tưởng tượng cảnh nhà thơ lên gặp trời để ngâm thơ cho trời nghe. Qua đó thể hiện ý thức cá nhân và thái độ của nhà thơ về nghề văn, về cuộc đời. 3.Đọc hiểu Tản Đà được coi là “người nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí quan trọng của Tản Đà đối với văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới. Bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tác của Tản Đà. Mạch thơ được triển khai theo lôgíc một câu chuyện với các chi tiết cụ thể, rành mạch, khiến cho bài thơ hấp dẫn và có sức thuyết phục : nằm một mình, buồn nên dậy đun nước uống rồi ngâm văn, động đến Trời, tiên xuống hỏi rồi đưa lên gặp Trời, Trời cùng chư tiên đón tiếp long trọng, mời đọc thơ, giới thiệu về mình rồi đọc thơ và giãi bày cảnh ngộ cùng Trời, Trời giải thích, khen ngợi rồi cho đưa về trần giới. Nhà thơ đã chọn một cách rất độc đáo để thể hiện tâm sự của mình. Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình. Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà rất tự nhiên, hóm hỉnh : Đêm qua chẳng biết có hay không, ... Thật được lên tiên  sướng lạ lùng. Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin : Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ. Thế là được lên Trời. Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời. Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình. Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo : gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên : Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Văn dài, hơi tốt ran cung mây !... Tự khen tài của mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông đáng yêu. Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân : Trời lại phê cho : “Văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít !... Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !” Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại của Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình :  “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông.” Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên lương” của nhân loại : Trời rằng : “Không phải là Trời đày, Trời định sai con một việc này Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay.” Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của văn chương, của nhà văn. Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móng cho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững giữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn là nghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn kiếm sống này. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự an ủi mình. Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hình thức một bài thơ  câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng định cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm văn chương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương. Viết văn hay làm cho đời đẹp hơn là nhiệm vụ trời đã trao cho người nghệ sĩ. Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định.
Xem thêm

3 Đọc thêm

CÂU HỎI THAM KHẢO VỀ GIÓ NỘI VÀ GIÓ NGOẠI

CÂU HỎI THAM KHẢO VỀ GIÓ NỘI VÀ GIÓ NGOẠI

• Liên kết cột với dầm là liên kết khớp hay ngàm : Đối với khung lắp ghép- -17Câu hỏi tham khảo dùng cho đồ án tốt nghiệp.............................................................................................................................................................................• Liên kết cột với móng là liên kết cứng hay ngàm : Đối với khung toàn khối• Liên kết cột với móng là liên kết khớp : moment tại chân cột bằng 0 (kết cấu thép)• Liên kết cột với móng là liên kết ngàm : Đối với khung lắp ghép.88.Nút cứng là gì ? Cách thể hiện nội lực trong nút cứng ?• Nút cứng là nút mà ở đó có các thanh quy tụ vào và nó không bò biến dạng dưới tác dụng của ngoại lực.• Nút cứng phải đảm bảo bê tông chòu nén không bò ép vỡ và cốt thép neo vào nút không bò tuột.• Moment tại các nút khung phải cân bằng.89.Ngàm đàn hồi là gì ?• Là liên kết có độ cứng vừa phải, khi nội lực lớn không còn là ngàm nữa.90.Trong công trình xây dựng moment do tải trọng gió và moment do tải trọng thẳng đứng thì moment nào gây ra lớn hơn ?• Tuỳ thuộc vào mặt bằng & chiều cao cụ thể thông thường nhà < 10 tầng, thì moment do tải trọng gió nhỏ hơn.• Các công trình cao tầng thì phải tính toán cụ thể.91.Khi công trình có tầng lửng thì tầng lửng có chòu tải trọng gió không ?• Tầng lửng vẫn có mặt cản gió nên tầng lửng vẫn chòu tải trọng gió.92.Làm thế nào để có được cặp nội lực nguy hiểm nhất trong bảng tổ hợp nội lực ?• Phải xét ở tổ hợp tải trọng :- Tổ hợp tải trọng chính : Tónh tải + hoạt tải thường xuyên + một hoạt tải giới hạn- Tổ hợp tải trọng phụ : Tónh tải + hoạt tải thường xuyên + tất cả hoạt tải giới hạn
Xem thêm

45 Đọc thêm

Cùng chủ đề