100 NHU CẦU TÂM LÝ CON NGƯỜI SMITH N STUDIO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "100 NHU CẦU TÂM LÝ CON NGƯỜI SMITH N STUDIO":

Vai trò của hoại động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang

VAI TRÒ CỦA HOẠI ĐỘNG VÀ GIAO TIẾP TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NĂNG LỰC THIẾT KẾ THỜI TRANG

Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang1.Lý do chọn đề tàiCác bạn trẻ ngày nay đang đổ xô tìm đến các trung tâm đào tạo và rèn luyện những kỹ năng cơ bản trong đó có kỹ năng hoạt động và giao tiếp. Hành trang cho bạn trẻ bước vào công việc, áp lực cuộc sống chính là những kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp bạn bè trong cuộc sống. Những nhà quản lý, những nhà kinh doanh trong quan hệ với đồng nghiệp, với đối tác thì kỹ năng giao tiếp, đầm phán là rất quan trọng. Tưởng như đơn giản, nhưng để có được những kỹ năng hoàn hảo đó không phải là dễ. Cần phải hiểu được bản chất và tầm quan trọng của các kỹ năng là điều trước tiên. Ông cha ta cùng từng nói: Sự ăn cho ta cái lực, sự ở cho ta cái trí và sự bang giao cho ta cái nghiệp. Không chỉ vậy, 1 trong 3 yêu cầu hàng đầu của nhà tuyển dụng ngày nay đó là giao tiếp tốt. Hiện nay, những người đi học nhận thấy, việc các bạn trẻ có điều kiện giao tiếp và tiếp xúc với môi trường thực tế còn quá ít. Việc quá chú trọng vào chuyên môn học tập của mình khiến tính năng động trong môi trường giao tiếp còn yếu, rất nhiều các bạn trẻ không biết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất. Không biết ứng xử và thể hiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng. Có nhiều thất bại trong kinh doanh mà nguyên nhân nhiều là ở khâu giao tiếp. Bản thần em là sinh viên ngành thiết kế thời trang, em cũng nhận ra được tầm quan trọng và vai trò của hoạt động, giao tiếp trong quá trình học tập hiện nay và trong công việc tương lai. Vậy nên , em xin chọn đề tài : “Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang”2.Mục đích nghiên cứuNhằm tìm hiêu về vai trò của hoạt động giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang để trên cơ sở đó áp dụng vào thực tế đưa ra các biện pháp rèn luyện cho bản thânHệ thống hóa các quan điểm lý luận về hoạt động và giao tiếp Tìm hiểu về vai trò của hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn Đề ra các biện pháp để rèn luyện bản thânB.NỘI DUNGChương I. Cơ sở lý luận1. Hoạt động1.1. Khái niệm hoạt độngCó nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động, tùy thuộc theo các góc độ xem xét mà những cách hiểu về hoạt động khác nhau : Dưới góc độ triết học : Hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong mối quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực là chủ thể và khách thể. Dưới góc độ sinh lý : Hoạt động là toàn bộ sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân và xã hội. Dưới góc độ cấu trúc hoạt động : Hoạt động là toàn bộ hành động được thống nhất theo mục đích chung nhằm thực hiện một chức năng xã hội nào đó. Dưới góc độ tâm lý học : Xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới.Theo đó, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người. Trong mối quan hệ đó, có hai quá trình diễn ra : Quá trình đối tượng hóa (còn gọi là quá trình xuất tâm) : Là quá trình chuyển năng lực từ con người vào trong đối tượng, ghi dấu vết của con người vào sản phẩm lao động. Đây là quá trình xuất tâm, tâm lý của con người (chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. Nhờ vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ. Quá trình chủ thế hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm) : Là quá trình con người phản ánh những thuộc tính của đối tượng, của công cụ lao động, phương tiện lao động, trong quá trình sử dụng để tạo ra và làm phong phú tâm lý, ý thức của bản thân mình thông qua quá trình chiếm lĩnh thế giới. Đây chính là quá trình chiếm lĩnh, lĩnh hội thế giới, là quá trình nhập tâm. Vì thế, người ta có thể nói tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan, nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định.Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhân cách của con người được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động của họ.Hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể (sự vật, hiện tượng, tri thức,…) gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ hóa sự vật, hiện tượng, gọi chung là quá trình bên trong. Nghĩa là, trong hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý, cả công việc chân tay lẫn công việc trí óc. 1.2. Đặc điểm của hoạt động Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, đối tượng của hoạt động là cái con người tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh nó; Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích, mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân con người (chủ thể); Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể, chủ thể là con người có ý thức tác động vào khách thể đối tượng của hoạt động, chủ thể hoạt động có thể do một hay nhiều người thực hiện; Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Con người tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu óc, qua việc sử dụng các công cụ lao động và ngôn ngữ.1.3. Các loại hoạt động Về phương diện cá thể :+ Hoạt động vui chơi : Là hình thức phản ánh đời sống sinh hoạt của người lớn ở trẻ em, là con đường để các em nhận thức thế giới.+ Hoạt động học tập : Là hoạt động có ý thức nhằm tiếp nhận tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.+ Hoạt động lao động : Là hoạt động có ý thức nhằm tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần để thỏa mãn nhu cầu cá nhân và xã hội.+ Hoạt động xã hội Về phương diện sản phẩm :+ Hoạt động thực tiễn : Là hoạt động hướng vào vật thể tạo ra sản phẩm vật chất.+ Hoạt động lý luận : Là hoạt động diễn ra với các hình ảnh, biểu tượng, khái niệm,…nhằm tạo ra sản phẩm tinh thần. Về phương diện đối tượng của hoạt động :+ Hoạt động nhận thức : Là hoạt động tinh thần, phản ánh thế giới khách quan nhưng không làm biến đổi các vật thể thực, quan hệ thực,…Ví dụ, hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học.+ Hoạt động biến đổi : Là những hoạt động hướng tới làm thay đổi hiện thực (thế giới tự nhiên, xã hội và con người). Đó là những hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội, hoạt động giáo dục,…+ Hoạt động định hướng giá trị : Là một loại hoạt động tinh thần, xác định ý nghĩa của thực tại với bản thân chủ thể, tạo ra phương hướng của hoạt động. Ví dụ, hoạt động xây dựng thang giá trị, hoạt động đánh giá, chọn lọc,…+ Hoạt động giao lưu (giao tiếp) : Là hoạt động thiết lập và vận hành mối quan hệ người – người.Tóm lại, con người có nhiều hoạt động. Mọi sự phân loại hoạt động chỉ có tính chất tương đối và các loại hoạt động của con người có quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau.1.4. Cấu trúc của hoạt động Có nhiều cách phân chia cấu trúc của hoạt động. Nhưng tóm lại, theo Leonchiev, cấu trúc vĩ mô của hoạt động gồm 6 thành tố và có mối quan hệ biện chứng với nhau :+ Phía chủ thể gồm 3 thành tố : Hoạt động, hành động và thao tác để tạo nên mặt kỹ thuật của hoạt động (gọi là đơn vị thao tác của hoạt động).+ Phía khách thể gồm 3 thành tố : Động cơ, mục đích, phương tiện để tạo nên mặt nội dung của hoạt động (gọi là đơn vị nội dung đối tượng của hoạt động). Sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, giữa đơn vị thao tác và đơn vị nội dung đối tượng của hoạt động tạo ra sản phẩm của hoạt động (cả về phía khách thể, cả về phía chủ thể, gọi là sản phẩm kép). Trong cấu trúc này, cần nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các thành tố, đặc biệt là yếu tố hành động – mục đích :+ Thứ nhất, một động cơ có thể được cụ thể hóa trong nhiều mục đích. Ngược lại, một mục đích có thể được thể hiện bở nhiều động cơ khác nhau. Do đó, một hoạt động được thực hiện bởi nhiều hành động khác nhau, và một hành động có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau.+ Thứ hai, một hoạt động sau khi đã thực hiện được động cơ thì trở thành một hành động cho hoạt động khác.+ Thứ ba, để đạt một mục đích, ta cần phải thực hiện một hành động. Mục đích đó có thể phát triển theo hai hướng :(a) Trở thành động cơ (khi mà mục đích không chỉ có chức năng hướng dẫn mà còn có cả chức năng kích thích, thúc đẩy), lúc này hành động biến thành hoạt động.(b) Trở thành phương tiện (khi mà mục đích đã được thực hiện và hành động kết thúc), lúc này hành động trở thành thao tác và có thể tham gia vào nhiều hành động khác nhau. Việc phát hiện ra cấu trúc của hoạt động và mối liên hệ biện chứng giữa các thành tố của nó có ý nghĩa rất lớn : Về mặt lý luận, các nhà tâm lý học đã tìm ra sự thống nhất giữa cái khách quan và cái chủ quan, giữa đối tượng và chủ thể, đồng thời cũng khẳng định rằng, trong hoạt động bao giờ cũng chưa đựng nội dung tâm lý và tâm lý vận hành phát triển trong vận động. Về mặt thực tiễn, vận dụng cách hiểu về cơ cấu hoạt động được mô tả ở trên vào giáo dục cho ta thấy : hoạt động của học sinh là hoạt động có tổ chức, bắt đầu từ bên ngoài một cách vật chất có thể kiểm soát được. Do vây, giáo dục, về bản chất là hiện liên tục tổ chức, điều khiển, điều chỉnh hoạt động của học sinh.Mặt khác, nội dung tâm lý, nhân cách học sinh có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ chính quá trình biến hình thức bên ngoài (nội dung đối tượng) thành hình thức bên trong. Quá trình đó chính là hoạt động của học sinh với tư cách là chủ thể của hoạt động có đối tượng. Vì vậy, trong giáo dục, dạy học phải chú trọng phát huy tính chủ thể của học sinh mà đặc trưng là tính tự giác, tích cực hoạt động.2. Giao tiếp2.1. Khái niệm giao tiếpGiao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, biểu cảm, kích thích hành động và định hướng giá trị.Nói cách khác, giao tiếp là quá trình xác lập mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác.Giao tiếp vừa mang tính chất xã hội, vừa mang tính chất cá nhân. Tính chất xã hội của giao tiếp được thể hiện ở chỗ, nó được nảy sinh, hình thành và phát triển trong xã hội và được sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính cá nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi, nhu cầu, phong cách, kỹ năng,…giao tiếp của mỗi người là khác nhau.2.2 Chức năng của giao tiếp Chức năng thông tin: Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với nhau. Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin. Thu thập và xử lý thông tin là con đường quan trọng để phát triển nhân cách. Chức năng cảm xúc : Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc mới giữa các chủ thể. Vì vậy, giao tiếp là một trong những con đường hình thành nên tình cảm con người. Chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau : Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen,…của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức được về nhau làm cơ sở đánh gí lẫn nhau. Điều này quan trọng hơn là trên cơ sở so sánh với người khác và ý kiến đánh giá của người khác, mỗi chủ thể có thể tự đánh giá được về bản thân mình. Chức năng điều điều hành vi: Trên cơ sở nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá được bản thân, trong giao tiếp, mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình, cũng như có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của chủ thể khác. Chức năng phối hợp hoạt động: Nhờ có quá trình giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung. Đây là một chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người.Bên cạnh đó cũng có thể phân loại chức năng giao tiếp thành : Chức năng tâm lý xã hội: Là nhu cầu của mọi xã hội loài người, đó là nhu cầu được tiếp xúc, trao đổi tâm tư, tình cảm giữa con người với con người,… Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách : Thông qua giao tiếp, con người tiếp thu các chuẩn mực xã hội từ người khác; có khả năng tự nhận xét, đánh giá người khác; đồng thời cũng có khả năng tự đánh giá, điều chỉnh nhận thức và hành vi của bản thân.Tóm lại, giao tiếp là quá trình quan hệ, tác động qua lại giữa con người và con người, trong đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức, đánh giá, điều chỉnh hành vi lẫn nhau, đồng thời tự điều chỉnh hành vi của mình.2.2. Phân loại giao tiếp Căn cứ vào khoảng cách giao tiếp:+ Giao tiếp trực tiếp : Đối mặt với nhau; Sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt; Kết quả giao tiếp biết được ngay.+ Giao tiếp gián tiếp : Thực hiện thông qua người thứ 3 hoặc các vật trung gian (thư từ, điện tín,…); Kết quả giao tiếp không biết được ngay. Căn cứ vào thành phần những người tham gia vào giao tiếp :+ Giao tiếp giữa cá nhân với các cá nhân khác;+ Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm (giáo viên – học sinh của một lớp);+ Giao tiếp giữa nhóm này với nhóm khác. Căn cứ vào quy cách giao tiếp :+ Giao tiếp chính thức, là giao tiếp giữa hai hay một số người đang thể hiện chức trách nhất định ở một cơ quan hay công xưởng. Giao tiếp diễn ra theo một quy định, thể chế, chức trách. Các chủ thể phải tuân thủ một số yêu cầu xác định. Ví dụ, giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, giao tiếp giữa các nguyên thủ quốc gia với nhau,…+ Giao tiếp không chính thức, là giap tiếp giữa hai một nhóm người dựa vào những hiểu biết về nhân cách của nhau. Không bị ràng buộc bởi các nghi thức, mà chủ dựa vào sự tự nguyện, tự giác, phụ thuộc nhu cầu, hứng thú, cảm xúc,…của chủ thể. Ví dụ, giao tiếp giữa các cá nhân trên một chuyến xe, hay cùng nhau xem đá bóng,… Căn cứ vào phương tiện giao tiếp :+ Giao tiếp phi ngôn ngữ : Thể hiện qua tư thế, điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, tướng mạo, trang điểm, quần áo,…Sự kết hợp giữa các động tác khác nhau có thể thể hiện sắc thái tâm lý khác nhau.+ Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) : Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người bằng cách sử dụng những tín hiệu chung là từ và ngữ.+ Giao tiếp vật chất : Giao tiếp thông qua hành động với vật thể. Chương II. Cơ sở thực tiễn1.Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành và phát triển tâm lý của mỗi cá nhân1.1Vai trò của hoạt động Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý và nhân cách cá nhân thông qua hai quá trình:Quá trình đối tượng hóa: chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm lý của mình tạo thành sản phẩm. Từ đó, tâm lý người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm, hay còn đươc gọi là quá trình xuất tâm.Ví dụ: Khi thuyết trình một môn học nào đó thì người thuyết trình phải sử dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của mình về môn học đó để thuyết trình. Trong khi thuyết trình thì mỗi người lại có tâm lý khác nhau: người thì rất tự tin, nói to, mạch lạc, rõ ràng, logic; người thì run, lo sợ, nói nhỏ, không mạch lạc. Cho nên phụ thuộc vào tâm lý của mỗi người mà bài thuyết trình đó sẽ đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu.Quá trình chủ thể hóa: Thông qua các hoạt động đó, con người, tiếp thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm nhờ quá trình tác động vào đối tượng, hay còn được gọi là quá trình nhập tâm.Ví dụ: Sau lần thuyết trình lần đầu tiên thì cá nhân đó đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân, và đã biết làm thế nào để có một bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt. Nếu lần sau có cơ hội được thuyết trình thì sẽ phải chuẩn bị một tâm lý tốt, đó là: phải tư tin, nói to, rõ ràng, mạch lạc, logic, phải làm chủ được mình trước mọi người,… Hoạt động quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng thời kỳ.Ví dụ:• Giai đoạn tuổi nhà trẻ (12 tuổi) hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật: trẻ bắt trước các hành động sử dụng đồ vật, nhờ đó khám phá, tìm hiểu sự vật xung quanh.• Giai đoạn trưởng thành (1825 tuổi) hoạt động chủ đạo là lao động và học tập. Cần tổ chức nhiều hoạt động đa dạng và phong phú trong cuộc sống và công tác. Cần tạo môi trường thuận lợi để con người hoạt động.1.2. Vai trò của giao tiếpGiao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người. Nếu không có giao tiếp với người khác thì con người không thể phát triển, cảm thấy cô đơn và có khi trở thành bệnh hoạn. Nếu không có giao tiếp thì không có sự tồn tại xã hội, vì xã hội luôn là một cộng đồng người có sự ràng buộc, liên kết với nhau. Qua giao tiếp chúng ta có thể xác định được các mức độ nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm…của đối tượng giao tiếp, nhờ đó mà chủ thể giao tiếp đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích và nhiệm vụ giao tiếp. Từ đó tạo thành các hình thức giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm hoặc giữa nhóm với cộng đồng.Ví dụ: Khi một con người sinh ra được chó sói nuôi, thì người đó sẽ có nhiều lông, không đi thẳng mà đi bằng 4 chân, ăn thịt sống, sẽ sợ người, sống ở trong hang và có những hành động, cách cư xử giống như tập tính của chó sói.Giao tiếp là nhu cầu sớm nhất của con người từ khi tồn tại đến khi mất đi. Từ khi con người mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân. Ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự giao tiếp giữa con người với con người, giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại và phát triển con người. Để tham gia vào các quan hệ xã hội, giao tiếp với người khác thì con người phải có một cái tên, và phải có phương tiện để giao tiếp. Lớn lên con người phải có nghề nghiệp, mà nghề nghiệp do xã hội sinh ra và quy định. Việc đào tạo, chuẩn bị tri thức cho nghề nghiệp phải tuân theo một quy định cụ thể, khoa học… không học tập tiếp xúc với mọi người thì sẽ không có nghề nghiệp theo đúng nghĩa của nó, hơn nữa muốn hành nghề phải có nghệ thuật giao tiếp với mọi người thì mới thành đạt trong cuộc sống. Trong quá trình lao động con người không thể tránh được các mối quan hệ với nhau. Đó là một phương tiện quan trọng để giao tiếp và một đặc trưng quan trọng của con người là tiếng nói và ngôn ngữ. Giao tiếp giúp con người truyền đạt kinh nghiệm, thuyết phục, kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động, giải quyết các vấn đề trong học tập, sản xuất kinh doanh, thỏa mãn những nhu cầu hứng thú, cảm xúc tạo ra. Qua giao tiếp giúp con người hiểu biết lẫn nhau, liên hệ với nhau và làm việc cùng nhau.Ví dụ: Từ khi một đứa trẻ vừa mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp với ba mẹ và mọi người để được thỏa mãn nhu cầu an toàn, bảo vệ, chăm sóc và được vui chơi,…Thông qua giao tiếp con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội. Trong quá trình giao tiếp thì cá nhân điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội, quan hệ xã hội, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực. Cùng với hoạt động giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa, xã hội, lịch sử biến những kinh nghiệm đó thành vốn sống. Kinh nghiệm của bản thân hình thành và phát triển trong đời sống tâm lý. Đồng thời góp phần vào sự phát triển của xã hội. Nhiều nhà tâm lý học đã khẳng định, nếu không có sự giao tiếp giữa con người thì một đứa trẻ không thể phát triển tâm lý, nhân cách và ý thức tốt được. Nếu con người trong xã hội mà không giao tiếp với nhau thì sẽ không có một xã hội tiến bộ, con người tiến bộ. Nếu cá nhân không giao tiếp với xã hội thì cá nhân đó sẽ không biết phải làm những gì để cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, cá nhân đó sẽ rơi vào tình trạng cô đơn, cô lập về tinh thần và đời sống sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi giao tiếp với mọi người thì họ truyền đạt cho nhau những tư tưởng, tình cảm, thấu hiểu và có điều kiện tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại,biết cách ứng xử như thế nào là phù hợp với chuẩn mực xã hội.Ví dụ: Khi gặp người lớn tuổi hơn mình thì phải chào hỏi, phải xưng hô cho đúng mực, phải biết tôn trọng tất cả mọi người, dù họ là ai đi chăng nữa, phải luôn luôn thể hiện mình là người có văn hóa, đạo đức.Thông qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức. Trong quá trình giao tiếp, con người nhận thức đánh giá bản thân mình trên cơ sở nhận thức đánh giá người khác. Theo cách này họ có xu hướng tìm kiếm ở người khác để xem ý kiến của mình có đúng không, thừa nhận không. Trên cơ sở đó họ có sự tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình theo hướng tăng cường hoặc giảm bớt sự thích ứng lẫn nhau. Tự ý thức là điều kiện trở thành chủ thể hành động độc lập, chủ thể xã hội. Thông qua giao tiếp thì cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác. Thông qua giao tiếp thì cá nhân có khả năng tự giáo dục và tự hoàn thiện mình. Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội tâm, tâm hồn, những diễn biến tâm lý, giá trị tinh thần của bản thân, vị thế và các quan hệ xã hội. Khi một cá nhân đã tự ý thức đươc thì khi ra xã hội họ thựờng nhìn nhận và so sánh mình với người khác xem họ hơn người khác ở điểm nào và yếu hơn ở điểm nào, để nỗ lực và phấn đấu, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt yếu kém. Nếu không giao tiếp cá nhân đó sẽ không biết những gì mình làm có được xã hội chấp nhận không, có đúng với những gì mà xã hội đang cần duy trì và phát huy hay không. Nếu con người khi sinh ra mà bị bỏ rơi, mà được động vật nuôi thìnhững cử chỉ và hành động của bản thân con người đó sẽ giống như cử chỉ và hành động của con vật mà đã nuôi bản thân con người đó.Ví dụ:• Khi tham gia vào các hoạt động xã hội thì cá nhân nhận thức mình nên làm những gì và không nên làm những việc gì như: nên giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, tham gia vào các hoạt động tình nguyện, không được tham gia các tệ nạn xã hội, chỉ đươc phép tuyên truyền mọi người về tác hại của chúng đối với bản thân, gia đình và xã hội.• Hoặc khi tham dự một đám tang thì mọi người ý thức được rằng phải ăn mặc lịch sự, không nên cười đùa. Bên cạnh đó phải tỏ lòng thương tiết đối với người đã khuất và gia đình họ.=> Kết luận Giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Cần phải rèn luyện các kỹ năng giao tiếp.“Sự phát triển của một các nhân phụ thuộc vào sự phát triển của các cá nhân khác mà nó giao tiếp trực tiếp và gián tiếp”.2.Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trangTrước tiên ta phải hiểu được: Thiết kế thời trang là một ngành mang nhiều tính sáng tạo , là nơi bạn có thể tự do thể hiện phong cách, gu thẩm mỹ, cái nhìn của bản thân mà không cần phải viết ra giấy hay nói thành lời.Kỹ năng giao tiếp trong ngành thiết kế thời trang: Nếu là con người sống với thời trang, hãy là một người năng động, nhanh nhạy và có khả năng giao tiếp tốt. Kỹ năng giao tiếp là một phần không thể thiếu trong tất cả mọi công việc nói chung cũng như trong ngành thiết kế thời trang nói riêng. Đặc biệt , đối với ngành thiết kế thì càng cần phải trau dồi những kiến thức cơ bản về kỹ năng hoạt động và giao tiếp.Khi làm việc trong ngành thiết kế thời trang, bạn sẽ có cơ hội làm việc với rất nhiều nhà tạo mẫu, thiết kế vải, phụ kiện…. khi đó nếu bạn không chuẩn bị kỹ năng giao tiếp tốt thì khả năng giao dịch đàm phán của bạn sẽ không tốt, nên sẽ khó hoàn thành công việc một cách hiệu quảKhi hoạt động trong ngành, bạn cần phải có khả năng tự quảng bá cho các mẫu thiết kế của mình và biết cách thương lượng với khách hàng. Tự vận hành công việc của một nhà thiết kế tự do cả về mặt tài chính và quản lý. Vậy để làm được điều đó thì khả năng giao tiếp và quan hệ với mọi người của bạn phải thực sự tốt.3.Biện pháp để rèn luyện kỹ năng hoạt động và giao tiếp đối với mỗi sinh viên hiện nayTrong thời đại hiện nay, kinh tế – xã hội đang phát triển mạnh và hội nhập với thế giới toàn cầu thì việc sinh viên trang bị cho bản thân kiến thức chuyên môn vững vàng là điều cần phải làm nhưng liệu rằng kiến thức chuyên môn thật tốt có mang lại thành công cho mỗi sinh viên khi ra trường? Bên cạnh những sinh viên ý thức được tầm quan trọng của giao tiếp và luôn rèn luyện, học hỏi, thậm chí tham gia các khóa đào tạo bên ngoài trường về kỹ năng giao tiếp thì một bộ phận không nhỏ sinh viên hầu như chưa chú tâm để rèn luyện kỹ năng giao tiếp, chưa chuẩn bị cho mình hành trang trong cuộc sống hằng ngày và sau khi rời giảng đường đại học.Chính việc không ý thức về tầm quan trọng của giao tiếp đã khiến cho kỹ năng giao tiếp của sinh viên còn yếu, rất nhiều các bạn trẻ không biết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất, không biết ứng xử và thể hiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng hay viết một lá đơn xin việc như thế nào. Từ đó, chính các bạn đã không trình bày được ý tưởng, kinh nghiệm, cũng như năng lực,…một cách hiệu quả trước người khác. Vậy kỹ năng giao tiếp có thực sự cần thiết, quan trọng đối với mỗi sinh viên và làm thế nào để phát triển kỹ năng giao tiếp?Ngôn ngữ cơ thể Con người có liên hệ với người khác bằng nhiều cách khác nhau và không nhất thiết phải luôn trực tiếp. Thông thường, bạn có thể biết điều người kia đang cố nói thông qua ngôn ngữ cơ thểNói ra suy nghĩỞ những thời điểm khác, trừ phi bạn là người có khả năng đọc suy nghĩ của người khác, bạn cũng có thể bỏ qua những thông tin then chốt và khiến tình huống từ xấu thành tồi tệ. Nếu bạn nghĩ có một vấn đề nào đó ảnh hưởng tới mối quan hệ thì nên nói ra.Đào sâuTrong một mối quan hệ, giao tiếp rõ ràng rất cần thiết để tiến hành mọi việc. Mối ràng buộc giữa hai bạn có thể nhanh chóng trở nên gay gắt, trừ phi bạn chia sẻ những suy nghĩ và cảm xúc nội tâm. Nếu không biết rõ cái gì đang khiến hai bạn khó chịu, cả hai rất dễ hiểu nhầm, thậm chí là oán giận lẫn nhau.Đừng bao giờ giữ riêng vấn đề chung nào cho riêng mình, hãy cởi mở, chia sẻ cho dù có thể làm hai bạn cãi nhau một chút. Chỉ đến khi nào vấn đề được giải quyết, bạn mới vui vẻ và thoải mái. Và cũng không có cách nào xử lý trừ phi bạn cho người kia biết đó là vấn đề cần quan tâm.Rành mạch, dễ hiểuTrên sách báo, nói chuyện cởi mở có vẻ là một ý thức chung. Thực tế, nó thường không dễ dàng để thể hiện điều bạn thực sự muốn nói. Tất cả những sự phức tạp, rắc rối có thể được đá bung từ một nỗi sợ hãi phản ứng xấu tới việc chọn sai thời điểm để nói ra. Bất kể trường hợp nào, bạn cũng cần vượt qua mọi trở ngại để đảm bảo hai bạn đều cùng một điểm xuất phát của vấn đề. Dưới đây là những kỹ năng cần có để giúp bạn trở thành một người giao tiếp tốt:Kỹ năng quan sát và kỹ năng lắng ngheTheo ông Brian Steel, khi giao tiếp với ai đó thuộc nền văn hóa khác, việc đầu tiên bạn cần thực hiện đó là thể hiện khả năng quan sát của mình. Hãy quan sát ngôn ngữ cơ thể của họ, cách họ cư xử, giao tiếp với bạn và cố gắng sử dụng ngôn ngữ cơ thể, cách ứng xử cho phù hợp. Mối quan hệ sẽ dần được thiết lập khi giữa bạn và đối tượng có sự đồng điệu.Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng một người bình thường chỉ nhớ được khoảng 25% đến 50% những gì họ nghe thấy. Điều đó có nghĩa là khi bạn nói chuyện với sếp, với đồng nghiệp hay khách hàng, họ chỉ có thể nhớ chưa đầy một nửa những gì đã nghe.Không phải là chúng ta có trí nhớ kém mà đúng hơn là đa số chúng ta thường không lắng nghe. Thêm vào đó, sự đa dạng văn hóa trong giao tiếp ngày nay càng khiến cho việc lắng nghe trở nên khó khăn hơnTôn trọng những điểm khác nhauKhi giao tiếp với một đối tượng, bạn cần phải tôn trọng sự khác biệt. Tôn trọng sự khác biệt không chỉ là tôn trọng nền văn hóa khác mà cả sự tôn trọng cá nhân. Vì trong cùng một đất nước nhưng mỗi người sẽ có một cách ứng xử riêng biệt. Họ có thể giao tiếp với bạn bằng chính bản sắc cá nhân, tín ngưỡng của họ.Gặp nhau ở điểm giữaThỏa hiệp là điều cốt yếu khi cần đàm phán cách thức giải quyết vấn đề trong bất cứ mối quan hệ nào. Một đôi tai biết lắng nghe và tôn trọng quan điểm của đối tác tình cảm sẽ giúp bạn giữ được cuộc nói chuyện với người ấy. Linh hoạt, mềm dẻo là yếu tố cần để giúp hai bạn tìm gặp nhau ở điểm giữa của lối đi tìm giải phápXem xét lại quyết địnhĐặt cách giải quyết của bạn vào thực tế rồi xem mọi việc diễn ra thế nào. Hãy quan sát thật ký để điều chỉnh nếu cần thiết. Với thực hành cộng với kinh nghiệm, bạn sẽ nhận thấy những kỹ năng cơ bản trong giao tiếp đôi lứa sẽ trở thành bản tính thứ hai. Từ việc chọn một bộ phim vào tối thứ Sáu để cảm thấy bạn có vẻ cần nhiều không gian cho sự lãng mạn được thăng hoa, nó đồng nghĩa với việc bạn có trách nhiệm đối với bất kỳ tình huống nào và cùng nhau tìm kiếm kết quả tích cực.C.PHẦN KẾT LUẬN Thông qua việc tìm hiểu: “ Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang” , em nhận thấy rằng hoạt động và giao tiếp có vai trò rât quan trọng trong cuộc sống của con người.Đối với riêng cá nhân em, là sinh viên năm……. Trường……….. môi trường đòi hỏi cần có sự năng động ham học hỏi , hình thành kỹ năng làm việc nhóm, thì hoạt động giao tiếp sẽ góp phần quan trọng trong thành công của em . Muốn trở thành người thành đạt và làm đúng nghề mình theo học thì em còn phải cố gắng rất nhiều , cần phải rèn luyện kỹ năng hoạt động giao tiếp ngay từ bây giờ để có hành trang tốt cho tương lai sau này.D.TÀI LIỆU THAM KHẢOGiáo trình tâm lý học đại cương NXB CAND .Chủ biên: Thạc sĩ Đặng Thanh Nga Giáo trình tâm lý học NXB CAND. Giáo trình tâm lý học đại cương NXB Đại học Sư phạm HN. Chủ biên Nguyễn Quang Uẩn Giáo trình Tâm lí học Đại cương NXB: Đại học Sư phạm Hà Nội. Chủ biên : Nguyễn Xuân Thức
Xem thêm

19 Đọc thêm

CHƯƠNG 6 CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO ĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊN

CHƯƠNG 6 CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO ĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊN

Quan điểm này được xây dựng trên nhận thức là bản chất chủ yếu của người lao động trong xí nghiệplà lười biếng, và các nhà quản trị rành rẽ về công việc hơn công nhân; người lao động chỉ có thể đượcđộng viên bằng các phần thưởng kinh tế, và bản thân họ cũng không có gì để đóng góp cho xí nghiệpngoài sức lao động của họ. Thực tiễn quản trị tại nhiều xí nghiệp cho thấy quan điểm này không phải làkhông đúng, và sự kích thích bằng tiền bạc thường cũng đưa lại sự làm việc tích cực.2. Lý thuyết tâm lý xã hội hay quan hệ con người (Cách tiếp cận theo các mối quan hệ của conngười):Tuy nhiên, quan điểm cổ điển về sự động viên đã được chứng minh là không phải lúc nào cũng chínhxác. Lý thuyết về quan hệ con người đã cho thấy rằng những quan hệ xã hội trong lúc làm việc đã cótác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự hăng hái làm việc của công nhân. Lý thuyết này cũng cho thấy conngười cũng kém sự hăng hái khi phải thường xuyên thực hiện những công việc nhàm chán và đơn điệu.Từ nhận thức đó, các nhà lý thuyết tâm lý xã hội cho rằng các nhà quản trị có thể động viên con ngườibằng cách thừa nhận nhu cầu xã hội của họ, và tạo điều kiện cho người lao động cảm thấy hãnh diện vềsự hữu ích và quan trọng của họ trong công việc chung. Những biện pháp mà nhà quản trị có thể làm đểđộng viên người lao động theo lý thuyết tâm lý xã hội là cho người lao động nhiều tự do hơn để làmcác quyết định liên quan đến công việc được giao, quan tâm nhiều hơn đến các nhóm không chính thứctrong xí nghiệp, thông tin nhiều hơn cho người lao động biết các kế hoạch và hoạt động của xí nghiệp.3. Lý thuyết hiện đại về động cơ và động viên (Cách tiếp cận hiện đại):Cũng giống như trường hợp của lý thuyết cổ điển, lý thuyết tâm lý xã hội trình bày khá chính xác nhucầu xã hội về tâm lý của con người, trên cơ sở đó, đưa ra những biện pháp hữu hiệu để động viên ngườilao động. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh nhu cầu tâm lý xã hội và bỏ quên các nhu cầu vật chất cũng khônghoàn toàn đúng đắn. Để có thể lãnh đạo và động viên con người, nhà quản trị phải hiểu biết đầy đủ cácđộng cơ làm việc của con người, và có những biên pháp động viên hữu hiệu. Hiện nay, các lý thuyết vềđộng cơ và sự động viên sau đây thường được đề cập đến:3.1.Các thuyết tạo động lực dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu- Học thuyết này cho rằng động lực thúc đẩy con người hành động xuất phát từ mong muốn thỏa mãnnhu cẩu- Nhiệm vụ của nhà quản trị là tác động lên các bước của quá trình xử lí nhu cầu của mỗi cá nhân,
Xem thêm

15 Đọc thêm

GIÁO TRÌNH tâm lý và kỹ NĂNG GIAO TIẾP TRƯỜNG THƯƠNG mại

GIÁO TRÌNH tâm lý và kỹ NĂNG GIAO TIẾP TRƯỜNG THƯƠNG mại

LỜI GIỚI THIỆU Vài nét về xuất xứ giáo trình: Giáo trình này được viết theo Dự án thí điểm xây dựng chương trình và giáo trình năm 2011 2012 của TCDN BLĐTBXH để làm tài liệu dạy nghề trình độ cao đẳng. Quá trình biên soạn: Trên cơ sở tham khảo các giáo trình, tài liệu về lĩnh vực tâm lý học và kỹ năng giao tiếp ứng xử, kết hợp với thực tế nghề nghiệp của nghề Chế biến món ăn, giáo trình này được biên soạn có sự tham gia tích cực của các giáo viên có kinh nghiệm, cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các chuyên gia về lĩnh vực tâm lý và kỹ năng gaio tiếp ứng xử. Mối quan hệ của tài liệu với chương trình, mô đunmôn học: Căn cứ vào chương trình dạy nghề và thực tế hoạt động nghề nghiệp, phân tích nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, nội dung mô đun Tâm lý và Kỹ năng giao tiếp ứng xử với khách du lịch cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về tâm lý học, tâm lý và kỹ năng giao tiếp ứng xử nói chung, tâm lý và kỹ năng giao tiếp ứng xử trong hoạt động kinh doanh du lịch, từ đó người học có thể vận dụng những kiến thức này trong quá trình nghiên cứu tâm lý của khách du lịch, cũng như tạo cho bản thân phong cách giao tiếp ứng xử văn minh, lịch sự và chuyên nghiệp. Cấu trúc chung của giáo trình Tâm lý và Kỹ năng giao tiếp ứng xử với khách du lịch bao gồm 8 bài: Bài 1. Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học Bài 2. Những đặc điểm tâm lý chung của khách du lịch Bài 3. Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch theo dân tộc và nghề nghiệp Bài 4. Một số vấn đề khái quát về hoạt động giao tiếp Bài 5. Một số nghi thức giao tiếp cơ bản Bài 6. Kỹ năng giao tiếp ứng xử Bài 7. Kỹ năng giao tiếp ứng xử trong hoạt động kinh doanh du lịch Bài 8. Tập quán giao tiếp tiêu biểu trên thế giới Sau mỗi bài đều có các câu hỏi ôn tập, thảo luận hoặc bài tập tình huống để củng cố kiến thức cho người học. Giáo trình được biên soạn trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước và tham khảo nhiều tài liệu liên quan có giá trị. Song chắc hẳn quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Ban biên soạn mong muốn và thực sự cảm ơn những ý kiến nhận xét, đánh giá của các chuyên gia, các thầy cô đóng góp cho việc chỉnh sửa để giáo trình ngày một hoàn thiện hơn. MỤC LỤC LỜI GIỚI THIỆU 2 MỤC LỤC 3 BÀI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TÂM LÝ HỌC 11 1. Bản chất hiện tượng tâm lý 11 1.1. Khái niệm 11 1.2. Quan niệm mácxít về tâm lý 12 1.2.1. Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người 12 1.2.2. Tâm lý người mang tính chủ thể 12 1.2.3. Tâm lý người mang bản chất xã hội lịch sử 13 1.3. Chức năng của tâm lý 14 1.4. Phân loại các hiện tượng tâm lí 14 1.4.1. Quá trình tâm lí 14 1.4.2. Trạng thái tâm lí 14 1.4.3. Thuộc tính tâm lý cá nhân 14 1.5. Một số phương pháp nghiên cứu tâm lý 15 1.5.1. Phương pháp quan sát 15 1.5.2. Phương pháp đàm thoại 15 1.5.3. Phương pháp thực nghiệm 16 1.5.4. Phương pháp dùng bảng hỏi 17 1.5.5. Phương pháp phân tích kết quả sản phẩm hoạt động 17 1.5.6. Phương pháp phân tích tiểu sử cá nhân 17 1.5.7. Phương pháp nhập tâm 17 2. Nhân cách 17 2.1. Khái niệm 18 2.2. Cấu trúc tâm lý của nhân cách Những thuộc tính tâm lí của nhân cách 18 2.2.1. Xu hướng 18 2.2.2. Tính cách 19 2.2.3. Khí chất 20 2.2.4. Năng lực 20 3. Tình cảm 20 3.1. Khái niệm 21 3.2. Các mức độ của đời sống tình cảm 21 3.2.1. Màu sắc xúc cảm của cảm giác 21 3.2.2. Xúc cảm 22 3.2.3. Tâm trạng 22 3.2.4. Tình cảm 22 3.3. Các qui luật tình cảm 23 3.3.1. Qui luật lây lan 23 3.3.2. Qui luật di chuyển 23 3.3.3. Qui luật thích ứng 24 3.3.4. Qui luật pha trộn 24 3.3.5. Qui luật tương phản 24 3.3.6. Qui luật hình thành tình cảm 25 4. Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học xã hội và tâm lý du lịch 25 4.1. Khái niệm Tâm lý học xã hội và Tâm lý du lịch và mối quan hệ giữa chúng 25 4.1.1. Khái niệm 25 4.1.2. Mối quan hệ giữa tâm lý khách du lịch và tâm lý học xã hội 26 4.2. Ảnh hưởng của một số hiện tâm lý xã hội phổ biến trong du lịch 26 4.2.1. Phong tục tập quán 26 4.2.2. Truyền thống 27 4.2.3. Tôn giáo tín ngưỡng 27 4.2.4. Tính cách dân tộc 27 4.2.5. Bầu không khí tâm lý xã hội 28 4.2.6. Dư luận xã hội đối với hoạt động du lịch 28 CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 1 29 BÀI 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CHUNG CỦA KHÁCH DU LỊCH 30 1. Hành vi của người tiêu dùng du lịch 30 1.1. Khái niệm 30 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng 31 1.2.1. Nhóm các yếu tố về sản phẩm, dịch vụ 31 1.2.2. Nhóm các yếu tố về văn hoá 31 1.2.3. Nhóm các yếu tố về xã hội 31 1.2.4. Nhóm các yếu tố về cá nhân. 32 1.2.5. Nhóm các yếu tố về tâm lý 32 1.2.6. Các yếu tố khác. 32 2. Động cơ và sở thích của khách du lịch 32 2.1. Động cơ đi du lịch của con người ngày nay 32 2.1.1. Khái niệm 32 2.1.2. Các loại động cơ đi du lịch 33 2.2. Những sở thích của khách du lịch 33 2.2.1. Sở thích và sự hình thành sở thích 33 2.2.2. Các loại sở thích dựa trên động cơ đi du lịch. 34 3. Nhu cầu du lịch 34 3.1. Khái niệm nhu cầu du lịch 35 3.2. Sự phát triển nhu cầu du lịch 35 3.3. Các loại nhu cầu du lịch 35 3.3.1. Nhu cầu vận chuyển 36 3.3.2. Nhu cầu lưu trú và ăn uống 36 3.3.3. Nhu cầu tham quan và giải trí 37 3.3.4. Những nhu cầu khác 37 4. Tâm trạng và cảm xúc của khách du lịch 38 4.1. Các loại tâm trạng của khách du lịch 38 4.1.1. Khách có tâm trạng dương tính 38 4.1.2. Khách có tâm trạng âm tính 38 4.1.3. Khách có tâm trạng stress 38 4.2. Một số loại cảm xúc thường gặp của khách du lịch 39 4.2.1. Khách du lịch có cảm xúc giận dữ 39 4.2.2. Khách du lịch có cảm xúc suy sụp 39 4.2.3. Khách du lịch có cảm xúc bị tổn thương 39 4.2.4. Khách du lịch có cảm xúc bị thất vọng 39 4.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới tâm trạng và cảm xúc của khách du lịch 40 4.3.1. Các nhân tố chủ quan 40 4.3.2. Các nhân tố khách quan 40 CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 2 40 BÀI 3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA KHÁCH DU LỊCH THEO DÂN TỘC VÀ NGHỀ NGHIỆP 41 1. Tâm lý khách du lic̣ h theo châu luc̣ 41 1.1. Người châu Âu 41 1.2. Người châu Á 42 1.3. Người châu Phi 43 1.4. Người châu MỹLa tinh 43 2. Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch theo dân tộc 43 2.1. Khách du lịch là người Vương Quốc Anh 44 2.1.1. Những đặc điểm chung 44 2.1.2. Đặc điểm khi đi du lịch. 45 2.2. Khách du lịch là người Pháp 45 2.2.1. Những đặc điểm chung: 45 2.2.2. Đặc điểm khi đi du lịch 46 2.3. Khách du lịch là người Đức 46 2.3.1. Đặc điểm chung: 47 2.3.2. Đặc điểm khi đi du lịch 47 2.4. Khách du lịch là người Italia 48 2.4.1. Những đặc điểm chung: 48 2.4.2. Đặc điểm khi đi du lịch 48 2.5. Khách du lịch là người Thuỵ Sĩ 48 2.5.1. Những đặc điểm chung: 48 2.5.2. Đặc điểm khi đi du lịch 49 2.6. Khách du lịch là người Nga 49 2.6.1. Những đặc điểm chung 49 2.6.2. Đặc điểm khi đi du lịch 50 2.7. Khách du lịch là người Mỹ 51 2.7.1. Những đặc điểm chung 51 2.7.2. Đặc điểm khi đi du lịch 52 2.8. Khách du lịch là người Ả Rập 52 2.8.1. Những đặc điểm chung 52 2.8.2. Đặc điểm khi đi du lịch: 53 2.9. Khách du lịch là người Ấn Độ 53 2.9.1. Những đặc điểm chung 54 2.9.2. Đặc điểm khi đi du lịch: 55 2.10. Khách du lịch là người Nhật Bản 55 2.10.1. Những đặc điểm chung: 55 2.10.2. Đặc điểm khi đi du lịch 56 2.11. Khách du lịch là người Hàn Quốc 57 2.11.1. Những đặc điểm chung: 57 2.11.2. Đặc điểm khi đi du lịch 58 2.12. Khách du lịch là người Trung Quốc 59 2.12.1. Những đặc điểm chung 59 2.12.2. Đặc điểm khi đi du lịch 60 2.12.3. Vài nét về người Hoa Kiều. 60 2.13. Khách du lịch là người Autralia 61 2.13.1. Những đặc điểm chung 61 2.13.2. Đặc điểm khi đi du lịch 87 2.14. Khách du lịch là người Asean 87 2.14.1. Khách du lịch là người Thái Lan 87 2.14.2. Khách du lịch là người Malaysia 88 2.14.3. Khách du lịch là người Indonesia. 89 2.14.4. Khách du lịch là người Philipines 90 2.14.5. Khách du lịch là người Singapore 91 2.14.6. Khách du lịch là người Myanmar 92 2.14.7. Khách du lịch là người Lào 92 2.14.8. Khách du lịch là người Campuchia 93 3. Những đặc điểm tâm lý của khách du lịch theo nghề nghiệp 66 3.1. Khách du lịch là nhà quản lý ông chủ 66 3.2. Khách du lịch là thương gia 66 3.3. Khách du lịch là nhà báo 67 3.4. Khách du lịch là nhà khoa học 67 3.5. Khách du lịch là nghệ sĩ 67 3.6. Khách du lịch là công nhân 67 3.7. Khách du lịch là thuỷ thủ 67 3.8. Khách du lịch là nhà chính trị ngoại giao 67 CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 3 68 BÀI 4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP 69 1. Bản chất của giao tiếp 69 1.1. Khái niệm 69 1.2. Các loại hình giao tiếp 72 1.2.1. Phân loại giao tiếp theo tính chất của giao tiếp: 72 1.2.2. Phân loại giao tiếp theo quy cách giao tiếp 72 1.2.3. Phân loại giao tiếp theo vị thế: 72 1.2.4. Phân loại giao tiếp theo số lượng người tham gia giao tiếp và tính chất của mối quan hệ giữa họ 72 1.3. Mục đích giao tiếp 72 1.4. Sơ đồ quá trình giao tiếp 72 1.5. Các vai xã hội trong giao tiếp 74 1.6. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp 75 1.6.1. Ngôn ngữ nói 75 1.6.2. Ngôn ngữ viết 75 1.6.3. Ngôn ngữ biểu cảm 76 2. Một số đặc điểm cơ bản của tâm lý con người trong giao tiếp 79 2.1. Thích được giao tiếp với người khác. 80 2.2. Thích được người khác khen và quan tâm đến mình 80 2.3. Con người ai cũng thích đẹp 80 2.4. Thích tò mò, thích điều mới lạ, thích những cái mà mình không có, có một rồi lại muốn có hai. 80 2.5. Con người luôn sống bằng biểu tượng và yêu thích kỷ niệm 80 2.6. Con người luôn đặt niềm tin, hy vọng vào những điều mình theo đuổi. 80 2.7. Con người luôn tự mâu thuẫn với chính mình. 80 2.8. Con người thích tự khẳng định, thích được người khác đánh giá về mình, thích tranh đua. ............................................................................................................................................ 80 3. Những trở ngại trong quá trình giao tiếp ....................................................................... 81 3.1. Yếu tố gây nhiễu 81 3.2. Thiếu thông tin phản hồi 81 3.3. Nhận thức khác nhau qua các giác quan 81 3.4. Suy xét, đánh giá giá trị vội vàng 81 3.5. Sử dụng từ đa nghĩa nhiều ẩn ý 81 3.6. Không thống nhất, hợp lý giữa giao tiếp bằng từ ngữ và cử chỉ điệu bộ 81 3.7. Chọn kênh thông tin không hợp lý 81 3.8. Thiếu lòng tin 82 3.9. Trạng thái cảm xúc mạnh khi giao tiếp 82 3.10. Thiếu quan tâm, hứng thú 82 3.11. Khó khăn trong việc diễn đạt 82 4. Phương pháp khắc phục những trở ngại trong quá trình giao tiếp 82 4.1. Hạn chế tối đa yếu tố gây nhiễu 82 4.2. Sử dụng thông tin phản hồi 82 4.3. Xác lập mục tiêu chung 82 4.4. Suy xét thận trọng, đánh giá khách quan 82 4.5. Sử dụng ngôn từ hợp lý 83 4.6. Học cách tiếp xúc và thể hiện động tác, phong cách cử chỉ hợp lý 83 4.7. Lựa chọn thời điểm và kênh truyền tin hợp lý 83 4.8. Xây dựng lòng tin 83 4.9. Không nên để cảm xúc mạnh chi phối quá trình giao tiếp 83 4.10. Tạo sự đồng cảm giữa hai bên 83 4.11. Diễn đạt rõ ràng có sức thuyết phục 83 CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 4 84 BÀI 5. MỘT SỐ NGHI THỨC GIAO TIẾP CƠ BẢN 84 1. Nghi thức gặp gỡ làm quen 85 1.1. Chào hỏi 85 1.2. Giới thiệu làm quen 86 1.2.1. Giới thiệu làm quen có người thứ ba 86 1.2.2. Tự giới thiệu về bản thân, về nhóm người 87 1.3. Bắt tay 87 1.4. Danh thiếp 88 1.5. Ôm hôn 89 2. Nghi thức xử sự trong giao tiếp 90 2.1. Ra vào cửa 90 2.2. Lên xuống cầu thang 90 2.3. Sử dụng thang máy 90 2.4. Châm thuốc xã giao 90 2.5. Ghế ngồi và cách ngồi 91 2.5.1. Ghế ngồi 91 2.5.2. Cung cách ngồi 91 2.6. Tặng hoa, quà 91 2.7. Sử dụng xe hơi 92 2.8. Tiếp xúc nơi công cộng 92 3. Nghi thức tổ chức tiếp xúc và chiêu đãi 93 3.1. Tổ chức tiếp xúc và tham dự tiếp xúc 93 3.1.1. Tầm quan trọng của công tác tiếp xúc 93 3.1.2. Một số hình thức tiếp xúc 93 3.2. Tổ chức tiệc chiêu đãi và dự tiệc chiêu đãi 95 3.2.1. Khái niêm tiêc̣ 95 3.2.2. Các loaị tiêc̣ thông dung 95 3.2.3. Xử sự của người mời và người được mời dự tiệc 96 4. Trang phục. 97 4.1. Trang phục phụ nữ 97 4.2. Trang phục nam giới 97 CÂU HỎI ÔN TÂP BÀI 5 98 NỘI DUNG THẢ O LUÂN BÀ I TẬP THƯC HÀ NH 99 BÀI 6. KỸ NĂNG GIAO TIẾP ỨNG XỬ 99 1. Lần đầu gặp gỡ 100 1.1. Ấn tượng ban đầu trong giao tiếp 100 1.2. Những yếu tố đảm bảo sự thành công của lần đầu gặp gỡ: 100 1.3. Những bí quyết tâm lý trong buổi đầu gặp gỡ: 100 2. Kỹ năng trò chuyện 100 2.1. Mở đầu câu chuyện một cách tự nhiên: 100 2.2. Chú ý quan sát để dẫn dắt câu chuyện sao cho phù hợp với tâm lý của người nghe:101 2.3. Biết cách gợi chuyện hợp lý. 101 2.4. Biết cách chú ý lắng nghe người tiếp chuyện. 101 2.5. Phải biết kết thúc câu chuyện và chia tay 101 2.6. Những điều cần chú ý khi trò chuyện 101 3. Kỹ năng diễn thuyết 102 3.1. Tạo ấn tượng tốt đẹp từ giây phút ban đầu 102 3.2. Đồng cảm, giao hoà với thính giả 102 3.3. Chuẩn bị chu đáo nội dung chính của bài diễn thuyết 103 3.4. Sử dụng thiết bị phụ trợ và các yếu tố phi ngôn ngữ hợp lý làm tăng hiệu quả của cuộc diễn thuyết 103 3.5. Kết thúc cuộc diễn thuyết một cách hợp lý và gây ấn tượng 103 4. Kỹ năng giao tiếp qua điện thoại 103 4.1. Đặc thù của giao tiếp qua điện thoại 103 4.2. Kỹ năng giao tiếp qua điện thoại 104 CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 6 104 NỘI DUNG THẢ O LUÂNBÀ I TÂP TÌNH HUỐ NG 104 BÀ I 7. KỸ NĂNG GIAO TIẾ P Ứ NG XỬ TRONG HOAT ĐÔNG KINH DOANH DU LICH 105 1. Diện mạo người phục vụ 105 1.1. Vệ sinh cá nhân 105 1.2. Đồng phục 105 2. Quan hệ giao tiếp với khách hàng 106 2.1. Nội dung giao tiếp với khách hàng qua các giai đoạn 106 2.1.1. Giai đoạn 1: Đón tiếp khách 106 2.1.2. Giai đoan 2.1.3. Giai đoan 2: Phuc 3: Tiêñ vu ̣ khách 106 khách 107 2.2. Xây dưng mố i quan hê ̣tố t vớ i khách hàng 107 2.2.1. Kỹ năng bán hàng 107 2.2.2. Xử lý các tı̀nh huống phàn nàn vớ i khách hàng 107 3. Quan hệ giao tiếp trong nội bộ doanh nghiệp 108 3.1. Tham gia vào tổ làm việc 108 3.1.1. Thế nào là các tổ và các nhóm 108 3.1.2. Taị sao phải làm viêc̣ theo tổ 109 3.2. Cư xử của người quản lý đối với nhân viên 109 3.2.1. Đảm bảo sứ c khoẻ và an toàn lao đông cho nhân viên 109 3.2.2. Đảm bảo lương và các khoản phải trả cho nhân viên 109 3.2.3. Các điều kiên làm viêc̣ 109 3.2.4. Đối xử công bằng 109 3.2.5. Tao cơ hôị cho sự phát triển 109 3.2.6. Tổ chứ c công đoàn 110 3.3. Cư xử củ a nhân viên đố i vớ i ngườ i quản lý 110 3.3.1. Cư xử có trách nhiêm ............................................................................................. 110 3.3.2. Cư xử trung thưc .................................................................................................... 110 3.3.3. Cư xử có tinh thần hơp tać 110 3.4. Mố i quan hê ̣hữu cơ giữa nhân viên và nhà quản lý 110 3.4.1. Phu ̣ thuôc lâñ nhau 110 3.4.2. Tin tưở ng lẫn nhau 110 3.4.3. Lơị ı́ch củ a hai bên 110 CÂU HỎI ÔN TÂP BÀI 7 111 NỘI DUNG THẢ O LUÂN BÀ I TÂP TÌNH HUỐ NG 111 BÀ I 8. TÂP QUÁ N GIAO TIẾ P TIÊU BIỂ U TRÊN THẾ GIỚ I 112 1. Tập quán giao tiếp theo tôn giáo 112 1.1. Phâṭ giáo 112 1.2. Hồ i giáo 112 1.3. Cơ đố c giáo 113 2. Tập quán giao tiếp theo vùng lãnh thổ 113 2.1. Tâp quán giao tiếp ngườ i Châu Á 113 2.1.1. Đăc̣ điểm chung về tâp quán giao tiếp ngườ i châu Á 113 2.1.2. Tâp quán giao tiếp môṭ số nướ c tiêu biểu 114 2.2. Tâp quán giao tiếp ngườ i châu Âu 116 2.2.1. Đăc̣ điểm chung về tập quán giao tiếp người Châu Âu 116 2.2.2. Tâp quán giao tiếp môṭ số nướ c tiêu biểu 116 2.3. Tâp quán giao tiếp các nướ c Nam Mỹ và ngườ i Mỹ 118 2.3.1. Tâp 2.3.2. Tâp quán giao tiếp môṭ số nướ c Nam Mỹ 118 quán giao tiếp ngườ i Mỹ 118 CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 8 118 NỘI DUNG THẢ O LUÂN 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC 1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH DU LỊCH ................................................................................Error Bookmark not defined. PHỤ LỤC 2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỂ PHÁN ĐOÁN TÂM LÝ CON NGƯỜI KHI TIẾP XÚC..............................................................................Error Bookmark not defined.
Xem thêm

Đọc thêm

CÁC THUYẾT QUẢN LÝ THEO QUAN ĐIỂM HÀNH VI

CÁC THUYẾT QUẢN LÝ THEO QUAN ĐIỂM HÀNH VI

Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người, chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi và phát triển.Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ khá lâu. Cùng với sự phát triển của các hoạt động thương mại, nền sản xuất ngày một mở rộng về phạm vi và quy mô hoạt động dẫn đến các vấn đề quản lý cần được chú trọng nhiều hơn. Giữa thế kỉ XVIII, vai trò của quản lý được đặt thành vấn đề để tập trung nghiên cứu. Và đến những năm cuối của thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thì các tư tưởng quản lý mới được nghiên cứu có cơ sở khoa học và sắp xếp thành hệ thống, hình thành những học thuyết quản lý.Trong tiến trình tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề này đã nảy sinh ra nhiều tư tưởng và học thuyết quản lý khác nhau: tư tưởng quản lý cổ đại, các thuyết quản lý truyền thống, các thuyết quản lý theo quan điểm hành vi,…Trong những tư tưởng và học thuyết giúp ích cho công tác quản lý không thể không kể đến học thuyết quản lý theo quan điểm hành vi với các đại diện tiêu biểu như Mary Parker Follett, Abraham Maslow, Douglas. Mc. Gregor, Elton. W. Mayor. Học thuyết này nói về những quan điểm quản lý nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người trong công việc. Tư tưởng này cho rằng, hiệu quả của quản lý do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thoả mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người. Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60 và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con người một yếu tố quan trọng để quản lý.Hy vọng những tìm hiểu của nhóm sẽ giúp ích được phần nào cho mọi người. Tuy nhiên bài làm không thể tránh khỏi thiếu sót, vậy nên, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của cô cũng như các bạn để sản phẩm của nhóm được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

26 Đọc thêm

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách. Liên hệ trong đời sống thực tiễn Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tâm lý học đại cương Trong xã hội việt nam hiện nay mỗi khi đánh giá về một con người thường chủ yếu nói về nhân cách. Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống, đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là một thực thể xã hội, vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống. Nhân cách được định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện qua các mối quan hệ của con người xuất phát từ tâm lý, tình cảm, nhân sinh quan, nhận thức về bản thân và xã hội. Nhân cách là đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người. Phía trước mọi người, trong cuộc đời, luôn có nhiều con đường. Người thiếu nhân cách sẽ mất phương hướng khi chọn con đường chính đáng cho mình.Thế nên bạn có biết rằng nhân cách là rất quan trọng hay không, và chính xu hướng trong cấu trúc của nhân cách chính là một gia vị không thể thiếu tạo nên nhân cách hoàn chỉnh và toàn diện của một con người.Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về nhân cách cũng như xu hướng của nhân cách tôi sẽ di tìm hiểu vấn đề: Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách. Liên hệ trong đời sống thực tiễn. B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Các khái niệm cơ bản và một số đánh giá liên quan 1.Khái niệm nhân cách Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm sinh lý của cá nhân thể hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân. Như vậy có thể thấy rằng: nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá thể với giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân. Cá nhân là phương thức biểu hiện của giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt. Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình. Mỗi cá nhân tiếp thu những giá trị phổ biến của văn hoá xã hội, từ đó, thông qua sự lọc bỏ, tự tiếp nhận của bản thân để hình thành các giá trị định hướng của nhân cách. Các giá trị như lý tưởng, niềm tin, quan hệ lợi ích, nhận thức và hành động được mỗi cá nhân lựa chọn để xác lập hành vi cụ thể, hình thành nhân cách trong quan hệ xã hội. Mặt khác Nhân cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây: Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học, một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh. Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường và xã hội đối với mỗi cá nhân. Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ các yếu tố như quan điểm, lý luận, niềm tin, định hướng giá trị... 2. xu hướng Xu hướng của nhân cách là hệ thống động cơ quy định tính tích cực và sự lựa chọn thái độ của con người trong quá trình hoạt động. Từ khái niệm trên ta có thể đánh giá: Xu hướng của nhân cách thường được biểu hiện qua: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin. Có thể nói rằng xu hướng chính là chiều hướng phát triển của nhân cách con người, các thành phần trong xu hướng nhân cách như: nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách, chúng là động lực của hành vi, của hoạt động. II. Quan điểm về cấu trúc nhân cách và xu hướng trong cấu trúc nhân cách và mỗi liên hệ thực tiễn cuộc sống. 1.Một số quan điểm về cấu trúc nhân cách Quan điểm của Sigmund FreudS.Freud cho rằng, tảng bằng tâm trí của con người gồm 3 cấp bậc: ý thức, tiền ý thức và vô thức. Trong 3 cấp độ ấy, 3 thành phần cơ bản của nhân cách là: cái Ấy (Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu Tôi (Super Ego) tồn tại, đấu tranh và chế ước lẫn nhau. Nhân cách của một người tùy thuộc vào yếu tố nào thắng thế trong cuộc đấu tranh giữa 3 yếu tố trên. Quan điểm của C.G.Jung và E. Kretschmer: Nhân cách con người có mối liên hệ mật thiết với các đặc điểm sinh học, thể tạng và đặc điểm của hệ thần kinh. E. Kretschmer cho rằng, các thành phần cấu tạo nên cơ thể có mối quan hệ và quy định các thành phần tâm lý của nhân cách. Thuyết siêu đẳng và bù trừ của Alfred AdlerAlferd Adler cho rằng, mong muốn “siêu đẳng” của con người hướng đến sự “siêu đẳng” là yếu tố quyết định đến nhân cách của con người. Tuy nhiên, mong muốn này khó thực hiện được do sự khiếm khuyết về mặt cơ thể và do điều kiện sống không thuận lợi nên con người có cảm giác thiếu hoàn thiện. Bù trừ là cách giúp con người vượt qua cảm giác đó. Cấu trúc nhân cách theo các nhà tâm lý học của Nga. + Quan điểm của B.G.AnanhievNhân cách bao gồm 4 thành phần: quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý, thuộc tính tâm lý và sự hình thành động cơ (bao gồm nhu cầu và tâm thế. Đó là những quan điểm về cấu trúc của nhân cách, tuy nhiên tôi thừa nhận cấu trúc của nhân cách theo quan điểm của đa số các nhà tâm lí học việt Nam đó là: Nhân cách được cấu trúc bao gồm 4 thuộc tính: Xu hướng, năng lực, tính cách và khí chất. Xu hướng thể hiện chiều hướng phát triển của nhân cách; tính cách biểu hiện đạo đức, cốt cách làm người; năng lực thể hiện khả năng của con người và khí chất thể hiện hành vi của con người. Khí chất: Khí chất (tính khí) là thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định cường độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động và thể hiện qua sắc thái hành vi của cá nhân. Khí chất chỉ là biểu hiện độc đáo bề ngoài của các hoạt động tâm lý của cá nhân chứ không quyết định đến nội dung của các hoạt động tâm lý Năng lực: Năng lực là hệ thống các đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu củamột hoạt động cụ thể, đảm bảo cho hoạt động đó mang lại hiệu quả.Năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực riêng. Năng lực chung có ở tất cảmọi người như: năng lực quan sát, cảm giác, tri giác, tư duy…Năng lực riêng là năng lựcchỉ có ở một số người. Năng lực chuyên môn cũng là một loại năng lực riêng. Tính cách: Tính cách là hệ thống thái độ của cá nhân đối với hiện thực xung quanh và đối vớibản thân mình được thể hiện trong hành vi, cử chỉ. Tính cách bao gồm nhiều nét tínhcách. Trong đời sống, những nét tính cách tốt thường được gọi là “nết”, “lòng”, “tinh thần”, những nét tính cách xấu được gọi là “thói”, “tật. 2. Xu hướng trong cấu trúc nhân cách và mỗi liên hệ với thực tiễn cuộc sống Các yếu tố cấu thành xu hướng bao gồm: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin. Nhu cầu: Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Đặc điểm của nhu cầu: + Thứ 1 : Nhu cầu rất phong phú và đa dạng: Tại một thời điểm có rất nhiều nhu cầu tác động đến con người. Tuy nhiên, có những nhu cầu mang tính cấp bách, cần phải được thỏa mãn trước được gọi là nhu cầu nổi trội. Con người có khuynh hướng thỏa mãn những nhu cầu nổi trội trước. + Thứ 2: Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng: Khi cá nhân xuất hiện trạng thái thiếu thiếu hụt thì nhu cầu được nảy sinh. Nhu cầu khiến cá nhân tìm kiếm, hướng đến những đối tượng có thể thỏa mãn được nhu cầu cho bản thân mình. Nhu cầu gặp đúng đối tượng thì nảy sinh động cơ. Động cơ là yếu tố thúc đẩy cá nhân tác động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. + Thứ 3: Nhu cầu có tính chu kỳ và cường độ tăng dần: Chu kỳ của nhu cầu bắt đầu từ trạng thái thiếu hụt làm nảy sinh nhu cầu, nhu cầu gặp đúng đối tượng nảy sinh động cơ thúc đẩy chủ thể tác động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. Sau khi thỏa mãn được nhu cầu thì chu kỳ của một loại nhu cầu kết thúc nhưng lại nảy sinh những nhu cầu khác với cường độ cao hơn chu kỳ trước đó. + Thứ 4: Nhu cầu của con người chịu sự chi phối của ý thức và có bản chất xã hội: Nhu cầu của con người khác nhu cầu con vật. Khi có nhu cầu, con vật tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu mà không cần quan tâm đến đối tượng đó là ai (kể cả cha, mẹ, anh, chị, em…). Với con người thì khác, khi thỏa mãn nhu cầu con người cũng phải tuân theo những nguyên tắc của cá nhân và những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Con người biết những đối tượng nào có thể tác động để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, đối tượng nào không thể tác động và đối tượng nào không được phép tác động. Con người nhận thức được hệ quả của việc thỏa mãn nhu cầu, biết sắp xếp, tiết chế nhu cầu cho phù hợp với bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phù hợp với yêu cầu của xã hội. + Thứ 5: Nhu cầu có mối liên hệ mật thiết với cảm xúc: Nhu cầu được thỏa mãn hay không thỏa mãn cũng đều nảy sinh cảm xúc. Nhu cầu được thỏa mãn sẽ nảy sinh cảm xúctích cực (dương tính), ngược lại nhu cầu không được thỏa mãn sẽ nảy sinh cảm xúc tiêu cực (âm tính). + Thứ 6: Nhu cầu chi phối đời sống tâm lý của con người: Nhu cầu là cơ sở, là tiền đề, là nguyên nhân nảy sinh phần lớn các hiện tượng tâm lý người. Nhu cầu là một trong những nội dung được nhiều nhà tâm lý học quan tâm, nghiên cứu. Vì thế, việc phân loại nhu cầu cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo cách phân chia thông thường thì nhu cầu có 2 loại: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Abraham Masslownhà tâm lý học nhân văn của Mỹ cho rằng, nhu cầu của con người bao gồm 5 thứ bậc khác nhau giống như một chiếc thang. Vì thế, muốn đi lên đỉnh chiếc thang thì phải bắt đầu từ chân thang, muốn thỏa mãn nhu cầu bậc cao thì trước hết phải thỏa mãn được những nhu cầu ở bậc thấp. + Thứ 7: Nội dung của nhu cầu: phụ thuộc vào trạng thái thiếu hụt, điều kiện và phương pháp thỏa mãn nhu cầu. Tóm lại Nhu cầu không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với cá nhân mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Ở cấp độ cá nhân, việc nhận biết nhu cầu của con người có thể tạo điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa những nhu cầu chính đáng. Ở cấp độ xã hội, chúng ta cần nhận biết những nhu cầu đã, đang và sắp bảo hòa, những nhu cầu nào đang và sắp nảy sinh để tạo điều kiện cho việc sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa. Liên hệ thực tế nhu cầu tâm lí của con người ví dụ thực tế ngành y. Con người thích nghi với môi trường thông qua các ứng xử để thoả mãn nhu cầu nhiều mặt của mình. Nhu cầu cơ bản đó rất đa dạng, đại cương có thể thuộc 3 loại: + Nhu cầu vật chất. + Nhu cầu tình cảm. + Nhu cầu xã hội. 3 loại nhu cầu trên được thoả mãn một cách thích đáng, làm cho con người hài lòng, đưa đến những ứng xử thích hợp, lành mạnh, làm cho con người có sức khoẻ cơ thể và tâm thần. Trái lại, có thể đưa đến không hài lòng, bất mãn đưa đến những ứng xử không thích hợp, ốm yếu, không thích ứng hoặc bị rối nhiễu. Nhu cầu vật chất: của con người liên quan chặt chẽ với hoạt động của cơ thể để sống, còn gọi là nhu cầu sơ đẳng hay sinh lý, bẩm sinh, ăn uống, nuôi dưỡng kể cả nhu cầu nước, ôxy bài tiết: nhu cầu mặc, nhu cầu có nhà ở, một chỗ núp để cơ thể được ấm áp, được bảo vệ; nhu cầu hoạt động và nghỉ ngơi và hoạt động tình dục... Con người sống trong xã hội, nên nhu cầu vật chất được thoả mãn thông qua tác động với người khác chủ yếu là những người có ý nghĩa (ở đứa bé, được mẹ cho ăn, tắm rửa, bế bồng, vuốt ve ôm ấp). Nhu cầu vật chất được thoả mãn như thế nào, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tương lai của bé. Nếu nhu cầu của bé được đáp ứng nhất quán với sự tôn trọng, bé hài lòng, trẻ sẽ phát triển ý thức tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác và thế giới trong đó nó sống. Đó là trẻ đã học tập được cách ứng xử thông qua việc được mẹ thoả mãn nhu cầu ăn. Trái lại nếu không khí bữa ăn căng thẳng, thiếu đầm ấm làm cho trẻ trải nghiệm các cảm giác bất an, không thích thú, không hài lòng có thể đưa đến về sau phát triển thói quen nuốt chửng mau để mau chấm dứt cảm giác khó chịu hoặc phản ứng lại thành ợ, nôn, trớ... Nhu cầu tình cảm. Phổ biến nhất là nhu cầu được yêu, và được yêu người khác, được tán thành, được thừa nhận, được coi trọng và kính trọng: nhu cầu thấy mình là xứng đáng, được người khác muốn, cần, nhu cầu được làm việc, sáng tạo. Cũng như đối với nhu cầu vật chất các nhu cầu trên, ngay từ bé được thoả mãn thông qua mối tương tác quan hệ giữa mẹ và con. Nếu bé được bố mẹ thương yêu thoải mái, thẳng thắn, bé phát triển cảm giác mình thật sự có giá trị, có phẩm giá, tự tôn đi đến yêu thương người khác. Nếu bé cảm thấy mình được đối xử như một người quan trọng đi đến coi trọng quyền lợi người khác. Nếu bé được giúp đỡ để giải quyết các vấn đề trong môi trường sẽ phát triển cảm giác sức mạnh và an toàn. Nếu khả năng làm việc được thừa nhận, khuyến khích, phát triển cảm giác đầy đủ, toàn vẹn. Mỗi chúng ta đều có nhu cầu làm việc, biểu hiện năng lực, năng suất và sự sáng tạo của chúng ta. Nhu cầu này bắt đầu từ lúc bé kém hứng thú trong hoạt động chỉ để vui chơi mà muốn dùng một dụng thật sự có hiệu quả. Lớn dần lên, trẻ học đua tranh để thành một người lớn có đóng góp. Nếu không tìm thấy hài lòng trong việc làm, có thể trải nghiệm cảm giác hèn kém, thất vọng rồi bỏ cuộc. Vậy ngay từ bé, người lớn trong gia đình, nhất là người mẹ không lỡ cơ hội để động viên giúp đỡ khuyến khích, có khi ban thưởng các việc làm thành công của trẻ sự hài lòng, có hứng thú đầu tư sức lực và tâm tư vào công việc. Các nhu cầu xã hội: Nảy sinh từ trong nền văn hoá, trong xã hội mà người đó là thành viên. Phổ biến là nhu cầu đồng nhất hoá, theo hình ảnh của bố mẹ và các thành viên trong gia đình, đồng nhất hoá với bạn cùng lứa ở tuổi thanh thiếu niên, thuộc về một đoàn thể, một nhóm nào, chấp nhận một số giá trị từ cách mặc quần áo, đầu tóc, nói năng... nếu không, có thể bị cách biệt, xa lánh trong quan hệ. Từ lúc còn rất bé, người mẹ trong khi thoả mãn nhu cầu vật chất, ăn uống, vệ sinh, bế bồng, cũng là người thầy dạy cho bé phong tục tập quán quan trọng trong gia đình, họ hàng, trong xã hội, hành trang đi vào cuộc sống lao động của người lớn. Được khuyến khích sống trong xã hội, con người có nhu cầu được học tập, giáo dục để chuẩn bị, ban thưởng vì thành tích học tập làm cho bé cảm thấy an toàn, hứng thú để phát triển mở rộng nhu cầu học tập, nắm thêm kiến thức, càng cảm thấy vững vàng hơn. Nếu thường xuyên bị chế diễu, bị mắng trong học tập dẫn đến mất can đảm, có thể có quan niệm sai về kiến thức, giáo dục, đi đến sợ hãi, khinh hoặc ghen tỵ với những người kkhác thành công hơn mình….. Hứng thú: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm. Như vậy có thể kết luận: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng có ý nghĩa quan trọng với cá nhân và mang lại những rung cảm tích cực cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Cũng như nhu cầu, hứng thú cũng là yếu tố thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân hành động. Cá nhân có hứng thú đồng nghĩa với cá nhân đó có thể tập trung chú ý, vui vẻ, say mê và sáng tạo trong hoạt động Vai trò của hứng thú Hứng thú đem lại cảm giác khoan khoái, dễ chịu hay thoải mái khi hoạt động lao động. Hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ; Hứng thú làm tăng sức làm việc; Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo Liên hệ thực tiễn: Tầm quan trọng của hứng thú đối với các hoạt động sống và hoạt động học. Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động. Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó. Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực. Lý tưởng: Lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người vươn tới nó. Lý tưởng là biểu hiện và biểu hiện tập trung nhất của xu hướng cá nhân, vì lý tưởng xác định mục đích sống của cá nhân, mục tiêu và chiều hướng phát triển của cá nhân. Lý tưởng là động lực thúc đẩy, điều khiển toàn bộ hoạt động của con người. Lý tưởng được xây dựng từ nhận thức đầy đủ cộng với tình cảm, cộng với ý chí mạnh mẽ do đó tạo cho con người có một sức mạnh phi thường vượt qua mọi khó khă trở ngại, thậm chí không sợ hy sinh để đạt tới mục đích. Thực tiễn cuộc sống cho thấy: Lý tưởng trực tiếp chi phối sự hình thành, phát triển tâm lý của cá nhân.Lý tưởng là biểu hiện tập trung nhất của xu hướng, có chức năng xác định mục tiêu, chiều hướng phát triển của cá nhân. Khi xác định được lý tưởng, con người chủ động hơn, ý chí kiên cường hơn, dám xả thân, hi sinh vì lý tưởng mình đã chọn. Con người sống không có lý tưởng đồng nghĩa với việc chưa xác định được mục tiêu của cuộc đời nên dễ gục ngã khi đối diện với khó khăn, dễ thay đổi khi ngoại cảnh tác động và dễ mất phương hướng khi phải lựa chọn. Thế giới quan: Thế giới quan là hệ thống quan điểm của cá nhân về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình trong thế giới. Thế giới quan xác định phương hướng hành động của con người và tạo động lực cho con người. Thực tiễn thế giới quan trong cuộc sống: Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân. Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã hội. Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quan khác, làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần điều chỉnh định hướng cuộc sống. Xuất phát từ lập trường, biện giải thế giới quan đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết vấn đề đúng đắn do cuộc sống đặt ra. Ngược lại, xuất phát từ lập trường sai lầm, con người khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm. Khi giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn, sớm muộn người ta vấp phải những vấn đề chung, cần đến sự đóng góp của thế giới quan làm cơ sở định hướng giải quyết vấn đề cụ thể. “Một tập hợp những sự kiện mới càng rối rắm bao nhiêu, các tư tưởng mới càng nhiều hình nhiều vẻ bao nhiêu thì nhu cầu phải có một thế giới quan liên kết lại càng cảm thấy trở nên bức thiết bấy nhiêu” (M. Plank). Niềm tin: Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là kết tinh của hệ thống quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí của cá nhân. Niềm tin sẽ hình thành chân lý của cá nhân. Cá nhân hành động theo niềm tin, vì niềm tin cá nhân có thể làm mọi việc, khắc phục mọi trở ngại.Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là kết tinh của hệ thống quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí của cá nhân. Niềm tin sẽ hình thành chân lý của cá nhân. Cuộc sống của mỗi chúng ta luôn cần đến niềm tin và lòng tốt. Một trong những điều nguy hiểm nhất ở con người là đánh mất niềm tin nơi con người và cuộc sống, mất niềm tin nơi những giá trị đạo đức tốt đẹp của cuộc sống. Khi mất niềm tin vào cuộc sống, chúng ta sẽ bị giảm sút ít nhiều nghị lực vươn lên trong cuộc sống, đánh mất ý nghĩa cuộc sống của chính bản thân mình. C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ Nhân cách con người là thứ quý giá nhất,vì thế mỗi chung ta phải tự biết hoàn thiện nhân cách sao cho phù hợp. Nhân cách con người được cấu trúc bởi nhiều bộ phận như: năng lực, tính cách,khí chất và một thứ gia vị không thể thiếu đó là xu hướng.Chính xu hướng là cái bản sắc, và độc đáo nhất tạo nên một chiều hướng phát triển của nhân cách muốn thay đổi nhân cách thì trước tiên phải thay đổi xu hướng, đó là thứ gia vị đâm đà nhất mà trong thực tiễn cuộc sống không thể bỏ qua.Vậy nên mỗi chúng ta nên đổi mới xu hướng hay chính là nhân cách theo sự phát triển của thời đại và những chuẩn mực xã hội, hãy tự đánh giá chính mình. Hoàn thiện nhân cách con người là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi ý chí phấn đấu mãnh liệt và bền bỉ. Trong cuộc đấu tranh với chính mình để lọai bỏ thói hư, tật xấu và tập cho mình có những đức tính tốt việc đầu tiên cần làm là bảng đánh giá chính mình. Ta đã hài lòng với tư cách của mình chưa? + Điều gì khiến ta thấy ta chưa tốt? Lên danh sách, chọn cái nổi cộm và hạ quyế tâm để sừa sai + Hãy chọn cho mình một bảng giá trị để mình yêu quí. Một nhân vật mẫu để noi theo. + Hàng ngày chọn một giờ nhất định để xem mình tiến hay lùi tới đâu trong cuộc chiến này + Vận dụng người thân, bạn bè tin tưởng yểm trợ tâm lý cho bạn.
Xem thêm

Đọc thêm

BÍ MẬT CỦA CẢM XÚC HAY

BÍ MẬT CỦA CẢM XÚC HAY

ÐÔI LỜI TỪ TÁC GIẢThưa các bạn đọc giả,Là người công tác trong ngành quảng cáo tiếp thị, nhiệm vụ của chúng tôi là giúp các doanh nghiệptạo ra, xây dựng và phát triển một loại tài sản đặc biệt - các thương hiệu.Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc từ đầu thập niên chín mươi của thế kỷ XX. Khái niệm thươnghiệu thực sự là mới mẻ và không được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm nhiều. Do vậy, nhiềudoanh nghiệp đã bị tụt hậu và mất đi lợi thế khi phải cạnh tranh trực tiếp với các công ty đa quốc giangay trên thị trường Việt Nam. .Do ý thức được sức mạnh và các cơ hội tiềm năng mà một thương hiệu mạnh có thể tạo ra chodoanh nghiệp. Năm 1999, một nhóm các chuyên viên của ngành quảng cáo Việt Nam đã lập ra công tytruyền thông sáng tạo StormEye Creative Communication với mong muốn giúp các doanh nghiệp tạiViệt Nam xây dựng nên các thương hiệu giá trị - là những giá trị vô hình cho doanh nghiệp của mình. .Chúng tôi tự coi mình như những người đang đi trong tâm bão, tức nơi yên ổn nhất của cơn bão. Trongtình huống luôn phải đối mặt với sự hiểm nguy, mọi quyết định cần phải đúng và chính xác. Chỉ cầnmột bước đi sai lầm thì tất cả sẽ bị cuốn theo dông bão của thị trường. .StormEye đã mua rất nhiều sách các loại thông qua 2 địa chỉ online là b&n.com và amazon.com.Chúng tôi mong muốn tìm kiếm các kiến thức cần thiết cho công việc. Cùng với khách hàng củaStormEye, hàng loạt các chương trình xây dựng thương hiệu thành công tại Việt Nam đã được chúngtôi thực hiện như bia Saigon Special, tã giấy Bino, multi-vitamin cho trẻ em Kiddi Pharmaton, kemchống lão hóa Renova, điện thoại di động Sony-Ericsson, dịch vụ mạng VNN1269 và Mega VNN,nước tương & mì ăn liền Chinsu, sữa đậu nành Somilk, nước trái cây TriO, men tiêu hoá BioBaby, dầuăn Tường An, và một số thương hiệu khác.Dựa trên sự đúc kết qua các chương trình xây dựng thương hiệu thành công, chúng tôi tự hào đãtạo ra "Mô hình xây dựng thương hiệu StormEye" cùng với việc "Giải mã được các cấu trúc và cơ chếtác động của quảng cáo sáng tạo" - là các công cụ giúp chúng tôi liên tục thành công trong lãnh vựccủa mình.Bên cạnh đó, vì giá trị thương hiệu là một loại giá trị vô hình, trong quá trình nghiên cứu khảo sát,chúng tôi đã có một số phát hiện rất mới và thú vị về hàng loạt các loại giá trị vô hình trong xã hội conngười. Ðặc biệt, chúng tôi đã phát hiện ra cách hình thành và bản chất của các loại giá trị vô hình - đóchính là cảm xúc.
Xem thêm

89 Đọc thêm

ĐIỀU KIỆN XUẤT HIỆN KHÁCH DU LỊCH VÀ CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH

ĐIỀU KIỆN XUẤT HIỆN KHÁCH DU LỊCH VÀ CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH

Như chúng ta đã biết, nguồn gốc thúc đẩy hoạt động của con người chính là các nhu cầu. Vậy nhu cầu là gì? Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý biểu hiện sự đòi hỏi tất yếu về vật chất, tinh thần của con người, phản ánh mối quan hệ và phụ thuộc giữa con người với thế giới xung quanh.Vấn đề đặt ra ở đây là khách du lịch, điều kiện để trở thành khách du lịch, các loại hình du lịch của con người?

Đọc thêm

Tài liêu ôn tập Tâm lý học du lịch

Tài liêu ôn tập Tâm lý học du lịch

TÂM LÝ HỌC DU LỊCH Chương 2 : tâm lý nhà cung ứng du lịch Khái niệm hướng dẫn viên du lịch: là người thay mặt cho doanh nghiệp du lịch trực tiếp đảm nhận vai trò quản lý, dẫn dắt, thuyết minh, hỗ trợ và đảm bảo an toàn cho du khách nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách và thực hiện các nhiệm vụ doanh nghiệp giao cho Phẩm chất và năng lực của hướng dẫn viên: • Phẩm chất: Tình yêu con người: là lòng yêu mến khách du lịch trong hoạt động của hdvdl. Chỉ khi cảm nhận được đam mê hứng thú khám phá những chân trời mới của khách du lịch thì hdv mới thấy được ý nghĩa lớn lao của nghề nghiệp. Tình cảm đó là động lực để hdv tâm huyết, sắt son với nghề. Tình cảm này phải xuất phát từ tấm lòng chân thành được thể hiện qua thái độ, hành vi… của hdv trong quá trình tiếp xúc với kdl Tình yêu nghề nghiệp: là thái độ thể hiện sự rung cảm chủ quan đối với ngành nghề thúc đẩy con người vươn lên để hoạt động nghề nghiệp có hiệu quả. Biểu hiện của phẩm chất này là thái độ yêu quý nghề hdv, an tâm với công việc, có ý thức học hỏi, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, tôn trọng đồng nghiệp, du khách, có ý thức trách nhiệm với công việc được giao, đặt lợi ích của du khách của doanh nghiệp lên trên hết.
Xem thêm

Đọc thêm

hoc thuyet nhu cau ERG

hoc thuyet nhu cau ERG

Phân tích học thuyết nhu cầu ERG của alderfer. nói đến thuyết nhu cầu chúng ta ko thể ko nói đến thuyết nhu cầu của maslow nhà tâm lý học abraham maslow 1908 1970 được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn

Đọc thêm

Đề cương luận văn “nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS ở nội thành thành phố hà nội”

Đề cương luận văn “nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS ở nội thành thành phố hà nội”

1. Lý do chọn đề tài Xã hội ngày một phát triển, khoa học công nghệ ngày càng cao, yêu cầu con người phải không ngừng lao động, học tập nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và sự phát triển của xã hội. Việc đáp ứng yêu cầu và nhịp độ khẩn trương của công việc khiến con người dễ cảm thấy quá tải và dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt tới cơ thể cũng như kết quả lao động. Chính vì vậy, đối với con người không chỉ sức khỏe thể chất mà cả nhu cầu về sức khỏe tâm trí cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Hiện nay, trong nhà trường nhiều học sinh gặp khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống và xác định cách thức ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xung quanh. Đặc biệt, độ tuổi Vị thành niên là độ tuổi đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh về mặt nhân cách. Các em rất dễ bị ảnh hưởng xấu bởi các tiêu cực của xã hội, dễ gặp phải những vấn đề khó giải quyết trong cuộc sống, trong học tập, quan hệ bạn bè, cha mẹ...Vì vậy, việc trợ giúp tâm lý cho những học sinh tại thành phố lớn như Hà Nội là rất cần thiết. Thực trạng trên đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu về TVTL cho học sinh. Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình khác nhau, trong đó TVTL học đường đang trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội cần được đáp ứng kịp thời. TVTL học đường đóng vai trò rất quan trọng đối với học sinh. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng nhu cầu TVTL của học sinh ở nội thành thành phố Hà Nội là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để xác định phương hướng, cách thức tổ chức các hoạt động tham vấn có hiệu quả cho HS. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội” được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
Xem thêm

Đọc thêm

BQ KDTM TRUC TUYEN WWW BEENVN COM DOWNLOAD SACH MIEN PHI

BQ KDTM TRUC TUYEN WWW BEENVN COM DOWNLOAD SACH MIEN PHI

omBí mật Kinh doanh theo mạng trực tuyếnDaegan Smith là chủ của Net MLM Articles và thủ lĩnhcủa nhóm thành công nhanh nhất trong các doanhnghiệp KDTM tại nhà, tìm ra cách làm thế nào ñể ñạtñược tự do tài chính khắp quả ñịa cầu và làm sao ñểñạt ñược ñiều ñó mà không cần tốn nhiều tiền.n.cKinh doanh theo mạng vốn còn ñược gọi là kinh doanhña cấp. ðó là ngành kinh doanh có kết quả từ nỗ lực kép của kinh doanh nhượngquyền và tiếp thị chuyên biệt cho sản phẩm. Những cá nhân quan tâm có thể cộng tácvới một công ty mẹ theo một quan hệ có vẻ như là không ràng buộc.nvHọ ñược gọi là những nhà phân phối sau khi vào tham gia doanh nghiệp. Nhữngngười bán ñược trả thưởng hoa hồng dựa vào lượng doanh số tiếp thị hoặc khả năngbuôn bán của họ cũng như doanh số của những người khác ñược họ giới thiệu vàocông ty.www.BeeDưới ñây tôi sẽ cung cấp cho bạn vài mẹo nhỏ ñể mở khoá cánh cửa vào Kinh doanhtheo mạng trực tuyến. Chúng sẽ mang ñến cho bạn ñiều kiện ñể thúc ñẩy doanhnghiệp KDTM của mình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CON NGƯỜI, yếu tố hợp THÀNH hệ THỐNG xã hội TRONG tác PHẨM CON NGƯỜI TRONG QUẢN lý xã hội của a g AFANAXEP ý NGHĨA THỰC TIỄN của vấn đề

TIỂU LUẬN CON NGƯỜI, yếu tố hợp THÀNH hệ THỐNG xã hội TRONG tác PHẨM CON NGƯỜI TRONG QUẢN lý xã hội của a g AFANAXEP ý NGHĨA THỰC TIỄN của vấn đề

Trong lịch sử phát triển của tâm lý học từ trước tới nay,“con người” luôn được xem là đối tượng tranh cãi của các nhà tư tưởng, các trường phái tâm lý học. Xét tới cùng thì vấn đề con người đã được xác định, bản chất con người và vai trò của con người trong xã hội được làm rõ trong học thuyết khoa học Mác Lênin. Số phận của con người và ý nghĩa của cuộc sống con người là một vấn đề hết sức cơ bản, đang được nghiên cứu rất sâu sắc trong tâm lý học
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG TÂM LÝ QUẢN TRỊ KINH DOANH.

ĐỀ CƯƠNG TÂM LÝ QUẢN TRỊ KINH DOANH.

ĐỀ CƯƠNG TÂM LÝ QUẢN TRỊ KINH DOANH. CHƯƠNG 1: Câu 1: Khái niệm tâm lý QTKD. 1 môn KH chuyên ngành, nghiên cứu ứng dụng các kiến thức tâm lí vào hoạt động QTKD, tác động vào tính tích cực của người lao động, thúc đẩy họ làm việc vì lợi ích của bản than, tập thể lao động và toàn xã hội tác động vào tập thể lao động tạo nên bầu không khí tâm lý tích cực trong toàn DN. Câu 2: Nguyên tắc quản trị của F.W.Taylor cha đẻ của lý thuyết quản lí theo KH và là người mở ra một “kỉ nguyên vàng” trong KHQL. pp quản lí của ông được ứng dụng nhanh chóng ở Mỹ, Anh và nhiều nước khác. pp quản lí kiểu trại lính = pp quản lí có huẩn luyện, có định mức, có hoạch định và phân công công việc cho từng ng lao động một cách KH > Năng suất lđ đc nâng cao, phế phẩm giảm đáng kể. Những nguyên tắc cơ bản: + XD phương pháp KH để thực hiện có kết quả từng công việc cụ thể trong nhà máy. + Tuyển chọn, huẩn luyện công nhân phù hợp vs mỗi công việc. + XD định mức lđ và phân công, hợp tác lđ một cách KH. Biện pháp cụ thể: + Nghiên cứu toàn bộ quy trình thực hiện công việc của người công nhân + Sau đó chia nhỏ các công việc của họ ra nhiều công đoạn khác nhau + Tìm cách cải tiến, tối ưu hóa các thao tác và XD hệ thống khuyến khích vật chất để kích thích ng lđ (Vd trả công theo sp) Hạn chế: + Máy móc hóa con người + Cột chặt ng lđ vào dây chuyền sx để quản lí, tạo đk để giới chủ khai thác, vắt kiệt sức lđ của ng công nhân,… Được các nhà quản lí nghiên cứu áp dụng trong hoạt động KD + Khi giao việc cho ng lđ, nhà quản trị cần hình dung đc CV sẽ diễn re ntn, có thuận lợi, khó khăn gì. > hướng dẫn, tạo đk cho ng lđ thực hiện tốt các nhiệm vụ đc giao + Chú ý phối hợp giữa các cá nhân, bộ phận một cách nhịp nhàng, hiệu quả thì CV mới đạt kq + Quan tâm đến việc XD định mức lđ và trả công hợp lí để kích thích ng lđ Câu 3: Lý thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow Lý thuyết về hệ thống thứ bậc các nhu cầu cng, sắp xếp theo 1 hình tháp 5 bậc. + Các nhu cầu sinh lý: ăn, uống, tình dục,… + Các nhu cầu về an toàn: đc bảo vệ tài sản, tính mạng, đc sống yên ổn,… + Các nhu cầu XH: đc chấp nhận, qh bạn bè,… + Nhu cầu đc tôn trọng: có địa vị, uy tín, thành đạt,… + Nhu cầu tự hoàn thiện: đc phát triển, hoàn thiện bản thân.
Xem thêm

Đọc thêm

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường của học sinh Trung Học Cơ Sở xã Vĩnh khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường của học sinh Trung Học Cơ Sở xã Vĩnh khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

1. Tính cấp thiết của đề tài Xã hội càng phát triển, càng phát sinh nhiều nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người, đặc biệt là sức khỏe tâm trí. Nhiều người trong chúng ta có thể tự mình vượt qua những khó khăn mà không cần tới sự trợ giúp của người khác, nhưng cũng có không ít người không tìm được giải pháp, cá nhân có thể sẽ tự hủy hoại bản thân và người khác, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Đối với tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 15 tuổi, các em được vào học ở trường THCS (từ lớp 6 9). Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “Thời kỳ quá độ, “Tuổi khó bảo“, “Tuổi khủng hoảng, “Tuổi bất trị “..v.v Thực tế chỉ ra rằng ở mỗi giai đoạn lứa tuổi các em có những vấn đề tâm lý lứa tuổi riêng. Ở lứa tuổi học sinh THCS, tâm lý của các em thường chưa ổn định, đôi khi các em tự trầm trọng hóa những vướng mắc của mình, dẫn đến dễ chán nản, bất lực. Bên cạnh đó, trước sự phát triển nền kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều biến động của nền kinh tế thị trường, đô thị hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin, sức ép của nhà trường, gia đình..v.v đã đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với các em. Mặt khác, kỳ vọng quá cao của cha mẹ, thầy cô đang tạo nên áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho học sinh trong cuộc sống và trong học tập. Trong khi đó, sự hiểu biết của các em về bản thân cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn nhiều hạn chế. Một bộ phận không nhỏ các em lứa tuổi học sinh đang gặp phải những vấn đề về tâm lý. Nhu cầu được đồng cảm, chia sẻ, định hướng và chăm sóc tâm hồn của các em đã và đang trở thành vấn đề hiện hữu, mang tính phổ biến và bức xúc trong xã hội. Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh lí, trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè..v.v nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời, thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc: Nhẹ thì chán học, bỏ học; Nặng thì trầm cảm, bạo lực học đường,.. thậm chí tự tử, gây án mạng. Lúc này vai trò của những chuyên gia tâm lý học đường thực sự rất quan trọng. Sự chia sẻ, tư vấn kịp thời của các thầy cô sẽ giúp các em tìm lại được ý nghĩa trong cuộc sống, tránh được những lầm lạc không đáng có. Thực trạng Tâm lý học đường hiện nay đã và đang trở thành mối quan tâm cấp thiết của toàn xã hội. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có những biện pháp hỗ trợ tích cực, đáp ứng hiệu quả nhu cầu TLHĐ cho các em, nhằm giúp các em vượt qua những khó khăn tâm lý trong cuộc sống, học tập, giúp các em ý thức được sự phát triển của bản thân, tự tin trong hoạt động, tránh những cám dỗ xấu ngoài xã hội. Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và từ thực tiễn, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường của học sinh Trung Học Cơ Sở xã Vĩnh khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

Tâm lý sáng tạo một tác phẩm báo chí tiểu luận cao học

Tâm lý sáng tạo một tác phẩm báo chí tiểu luận cao học

Như chúng ta đã biết, tâm lý là tổng thể nhận thức, tình cảm, ý chí của mỗi con người. Nó bao gồm tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành những hoạt động của con người. Đó là cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, tình cảm… Tâm lý con người có nguồn gốc là thế giới khách quan, bao gồm thế giới tự nhiên và xã hội, trong đó yếu tố xã hội đóng vai trò quyết định.Vì vậy, tâm lý là sản phẩm hoạt động và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội. Trong cuộc sống của chúng ta, mỗi con người, trong những hoàn cảnh sống, môi trường sống khác nhau thì luôn luôn có những tâm lý khác nhau tùy thuộc vào môi trường mà người đó đang sống, và tùy thuộc vào tính cách riêng, đặc thù của mỗi người thì tâm lý đó cũng khác nhau, tuy cùng chung một sự vật, hay một hiện tượng xảy ra, nhưng ở mỗi con người, mỗi hoàn cảnh sống thì cách nghĩ hay hay cách cảm nhận đó cũng hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt tâm lý của con người cũng thay đổi, cũng khác nhau theo từng lứa tuổi, ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì tâm lý cũng khác nhau, cách nghĩ hay cách cảm nhận cũng khác nhau hoàn toàn, có thể nói ở lứa tuổi trẻ em tiểu học từ 6 đến 10 tuổi là lứa tuổi quan trọng đây là lứa tuổi không phải lớn mà cũng không còn quá nhỏ, đây là lứa tuổi hình thành cho các em một tư duy và lứa tuổi học ăn, học nói cuả các em vì vây rất quan trọng.
Xem thêm

Đọc thêm

KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÂM LÝ CON NGƯỜI

KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÂM LÝ CON NGƯỜI

TÀI LIỆU ĐỘC QUYỀN HÌNH ẢNH MINH HỌA, DẪN CHỨNG SINH ĐỘNG Khái niệm tâm lý Quá trình nảy sinh tâm lý: Thế giới khách quan là gì 3 dạng phản ánh Phản ánh vật lý: Phán ánh sinh học: Phản ánh tâm lý: Điều kiện để có tâm lý người: Đặc điểm của tâm lý người: Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não: Tâm lý người mang tính chủ thể: Tâm lý người mang bản chất xã hội – lịch sử:

Đọc thêm

Nhu cầu tham vấn tâm lý và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nhu cầu tham vấn tâm lý và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế

Việt Nam có tốc độ già hóa nhanh trên thế giới, những nhu cầu tham vấn tâm lý ở người cao tuổi chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Nghiên cứu thực hiện nhằm tìm hiểu về nhu cầu tham vấn tâm lý và một số yếu tố liên quan ở người ≥ 60 tuổi xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế

Đọc thêm

TIỂU LUẬN một số mô HÌNH cấu TRÚC NHÂN CÁCH TIỂU BIỂU TRONG tâm lý học và vấn đề xây DỰNG mô HÌNH NHÂN CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

TIỂU LUẬN một số mô HÌNH cấu TRÚC NHÂN CÁCH TIỂU BIỂU TRONG tâm lý học và vấn đề xây DỰNG mô HÌNH NHÂN CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga L.X.Vưgốtxki đã từng khẳng định: vấn đề nhân cách và phát triển nhân cách là vấn đề tập trung cao nhất của toàn bộ tâm lý học. Trong nghiên cứu nhân cách, vấn đề cấu trúc nhân cách lại là vấn đề trung tâm bởi lẽ nó chỉ ra những yếu tố tương đối ổn định trong tâm lý con người, chỉ ra cách mà các yếu tố này liên kết với nhau, tác động qua lại với nhau và chi phối hành vi của con người. Do đó, cấu trúc nhân cách tạo ra công cụ thao tác trong tư duy và hành động thực tiễn. Nhà nghiên cứu dựa trên mô hình cấu trúc nhân cách mà tiến hành thu thập, mô tả, lý giải các hiện tượng tâm lý đa dạng của con người và cũng trên mô hình cấu trúc nhân cách đưa ra các định hướng, chiến lược và biện pháp can thiệp nhằm thay đổi tâm lý và hành vi cá nhân.
Xem thêm

Đọc thêm

Thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đại học

Thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đại học

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường gặp những hiện tượng khen hoặc chê nhau: Anh này rất tâm lý, chị kia chẳng tâm lý tý nào?..., những lời khen, chê đó muốn nói lên thái độ hoặc cách xử lý công việc nào đó của con người. Nhưng thực ra tâm lý không phải có bấy nhiêu hiện tượng mà tâm lý của con người rất đa dạng và phong phú, nó luôn gắn liền với hoạt động của con người và trong bất cứ hoạt động nào của con người đều nảy sinh tâm lý. Một em bé hân hoan khi mẹ đi chợ về cho chiếc kẹo, một cô gái rạo rực trong lòng khi mối tình đầu xuất hiện, NewTon phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn khi chợt nhận thấy quả táo rơi. Chính vì vậy Sêchênốp, nhà sinh lý học người Nga, đã phát biểu: “ mọi hành động của chúng ta dù có ý thức hay không có ý thức, xét về mặt nguồn gốc đều là phản xạ ”. Phản xạ là cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý. Trong cuộc sống con người luôn luôn hoạt động vì:
Xem thêm

Đọc thêm

Thuyết quản lý con người của Mayo

Thuyết quản lý con người của Mayo

Theo quan điểm của Mayo, con người là tổng hòa các mối quan hệ ngoài quan hệ kinh tế. Trong quản lý phải đối xử với con người như là con người xã hội. Con người không phải chỉ là con người kinh tế; tiền bạc hay lợi ích vật chất không phải là động lực thúc đẩy duy nhất. Muốn nâng cao năng suất lao động cần phải giữ cân bằng giữa nhu cầu kinh tế và nhu cầu xã hội. Huy động được những động lực tinh thần, tư tưởng tâm lý tình cảm hòa quyện cùng yếu tố kinh tế tạo nên hiệu quả tốt nhất trong quản lý. Đồng thời đề cao vai trò của các nhóm nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân, phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó lợi ích với nhau, hình thành các giá trị chung.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề