ĐỊA DANH TRONG CA DAO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐỊA DANH TRONG CA DAO":

BÀI 3. NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI

BÀI 3. NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI

Cdao, dân ca.D. Hình thức đối đáp này không phổ biến trongca dao, dân ca.Trong bài 1, vì sao chàng trai và cô gái lại dùng những địa danh với những đặc điểm nổi bật nhưvậy để hỏi đáp?1/ Trong bài này, chàng trai và cô gái dùng những địa danh và đặc điểm từng địa danh nhưvậy để hỏi đáp vì đây là thể loại hát đố, một hình thức để trai gái thử tài nhau. Các địa danhtrong bài đều là những địa danh có đặc điểm lịch sử văn hóa nổi bật.Long Thành bao quản nắng mưaCửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây.( Ca dao)Sông Lục ĐầuSÔNG THƯƠNGBÊN ĐỤC BÊN TRONGNÚI ĐỨC THÁNH TẢNĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TẢNĐỀN SÒNG
Xem thêm

20 Đọc thêm

BÀI 12. TÁC ĐỘNG CỦA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG VIỆC HÌNH THÀNH ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT

BÀI 12. TÁC ĐỘNG CỦA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG VIỆC HÌNH THÀNH ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT

 Núi Tô Thị hay còn gọi là núi Vọng Phu (nằm trong quần thể di tích NhịTam Thanh) có tảng đá tự nhiên giống hình người phụ nữ bồng con nhìnvề phương xa đã đi vào truyền thuyết, ca dao của dân tộc ta, tượng NàngTô Thị chờ chồng như một biểu tượng cho lòng chung thuỷ son sắt củangười phụ nữ Việt NamTừ xưa, tảng đá hình người đã được gắn với truyện cổ tích nàng Tô Thịbồng con đứng chờ chồng đi đánh trận Phương Bắc. Chờ mãi khôngđược, nàng cùng con đã hóa đá. Vì thế nên người đời cũng gọi tảng đá lànàng Tô Thị. Câu ca dao về địa danh Lạng Sơn gắn liền với chùa TamThanh, gắn bó với bao nhiêu thế hệ người Việt Nam bởi nó được in trongsách giáo khoa:Đồng Đăng có phố Kỳ LừaCó nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh.Quá trìnhphong hóaNàng Tô Thị hiện tạiTác động của con người đến bề mặt địa hình Trái ĐấtTrồng rừng ngập mặnĐê chống sóng biểnChặt phá rừng đầu nguồnĐào đất làm gạch
Xem thêm

38 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ KIỂM TRA NGỮ VĂN LỚP 7 CÓ LỜI GIẢI

CHUYÊN ĐỀ KIỂM TRA NGỮ VĂN LỚP 7 CÓ LỜI GIẢI

Câu 1 : Thông điệp nào được gởi gắm qua chuyện “Cuộc chia tay của những con búp bê”? A. Hãy tôn trọng những ý thích của trẻ em B. Hãy để trẻ em được sống trong một mái ấm gia đình C. Hãy hành động vì trẻ em D. Hãy tạo điều kiện để trẻ em phát triển những tài năng sẵn có Câu 2 : Cách tả cảnh ở những bài ca dao về tình yêu quê hương, đất nước, con người có đặc điểm chung: A. Gợi nhiều hơn tả B. Tả rất chi tiết những hình ảnh thiên nhiên C. Chỉ tả chi tiết những đặc điểm tiêu biểu nhất D. Chỉ liệt kê tên địa danh chứ không miêu tả
Xem thêm

Đọc thêm

Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người

Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người

I. VỀ THỂ LOẠI, Ca dao, dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Hiện nay còn phân biệt ca dao và dân ca: Dân ca là những sáng tác kết hợp giữa lời và nhạc, ca dao là lời thơ của dân ca, ngoài ra còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca. 2. Ca dao, dân ca thuộc loại trữ tình, phản ánh tâm tư tình cảm, thế giới tâm hồn của con người (trữ: phát ra, bày tỏ, thể hiện ; tình: tình cảm, cảm xúc). Nhân vật trữ tình phổ biến trong ca dao, dân ca là những người vợ, người chồng, người mẹ, người con,… trong quan hệ gia đình, những chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu, người nông dân, người phụ nữ,… trong quan hệ xã hội. Cũng có những bài ca dao châm biếm phê phán những thói hư tật xấu của những hạng người và những sự việc đáng cười trong xã hội. Ca dao châm biếm thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam. 3. Bên cạnh những đặc điểm chung với thơ trữ tình (có vần, nhịp, sử dụng nhiều biện pháp tu từ,…), ca dao, dân ca có những đặc thù riêng: + Ca dao, dân ca thường rất ngắn, đa số là những bài gồm hai hoặc bốn dòng thơ. + Sử dụng thủ pháp lặp (lặp kết cấu, lặp dòng thơ mở đầu, lặp hình ảnh, lặp ngôn ngữ,…) như là một thủ pháp chủ yếu để tổ chức hình tượng. 4. Ca dao, dân ca là mẫu mực về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm và khả năng lưu truyền. Ngôn ngữ ca dao, dân ca là ngôn ngữ thơ nhưng vẫn rất gần với lời nói hằng ngày của nhân dân và mang màu sắc địa phương rất rõ. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đáp án đúng là: b) Bài ca có hai phần: phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần sau là lời đáp của cô gái. c) Hình thức đối đáp rất phổ biến trong ca dao. Ví dụ: - Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng.         Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng - Chàng hỏi thì thiếp xin vâng.        Tre non đủ lá, nên chăng hỡi chàng?… 2. Trong bài 1, chàng trai và cô gái lại dùng những địa danh với nhưng đặc điểm của từng địa danh như vậy để hỏi – đáp nhau, vì đây là lời mà các chàng trai và các cô gái hát giao duyên trong chặng hát đố – chặng hát thử tài hiểu biết của nhau về lịch sử, địa lí,…của các vùng miền. Những địa danh trong bài 1 là những địa danh ở vùng Bắc Bộ nước ta. Nó gắn với những đặc điểm lịch sử, địa lí, văn hoá của nhiều vùng đất. Người hỏi đã chọn được nhiều nét tiêu biểu để đố, trong khi đó, người đáp cũng trả lời rất đúng. Cuộc hỏi đáp diễn ra như vậy chính là cơ sở để các chàng trai và các cô gái bày tỏ tình cảm với nhau. 3. Ca dao có nhiều bài mở đầu bằng cụm từ “Rủ nhau”: Rủ nhau đi cấy đi cày…, Rủ nhau đi tắm hồ sen… Người ta thường “rủ nhau” khi người rủ và người được rủ có quan hệ gần gũi, thân thiết và cùng chung mối quan tâm, cùng muốn làm một việc gì đó. Điều này là một trong những yếu tố thể hiện tính chất cộng đồng của ca dao. Trong bài 2 có cảnh Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ. Kiếm Hồ tức Hồ Hoàn Kiếm (hay còn gọi là Hồ Gươm), một thắng cảnh thiên nhiên đồng thời cũng là một di tích lịch sử, văn hoá, gắn với truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nơi Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần từng giúp Lê Lợi đánh tan giặc Minh hung bạo ngày nào. Câu “Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ” thực ra là một câu dẫn, hướng người đọc, người nghe đến thăm hồ Gươm với những tên gọi nổi tiếng (cầu Thê Húc, chùa Ngọc Sơn, Đài Nghiên, Tháp Bút), góp phần tạo nên vẻ đẹp hài hoà, đa dạng vừa thơ mộng vừa thiêng liêng. Thủ pháp ở đây là gợichứ không tả, hay nói cách khác là tả bằng cách gợi. Chỉ dùng phương pháp liệt kê, tác giả dân gian đã gợi lên một cảnh trí thiên nhiên tuyệt đẹp ngay giữa thủ đô Hà Nội. Những địa danh và cảnh trí đó gợi lên tình yêu, niềm tự hào về cảnh đẹp, về truyền thống lịch sử, văn hoá của đất nước, quê hương. Câu cuối bài 2 (Hỏi ai xây dựng nên non nước này) là một câu hỏi tu từ, có ý nghĩa khẳng định, nhắc nhở về công lao xây dựng non nước của ông cha ta. Hồ Gươm không chỉ là một cảnh đẹp của thủ đô, nó đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp, cho truyền thống văn hoá, lịch sử của cả đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở các thế hệ mai sau phải biết trân trọng, gìn giữ, xây dựng và tiếp nối truyền thống đó. 4. Cảnh trí xứ Huế trong bài 3 được tác giả dân gian phác hoạ qua vẻ đẹp của con đường. Đó là con đường được gợi nên bằng những màu sắc rất nên thơ, tươi tắn (non xanh, nước biếc). Cảnh ấy đẹp như trong tranh vẽ (“tranh hoạ đồ”) – ngày xưa cái gì đẹp thường được ví với tranh (đẹp như trong tranh). Bức tranh xứ Huế như thế vừa khoáng đạt, lại vừa gần gũi quây quần. Biện pháp so sánh vẫn là biện pháp tu từ chủ đạo tạo nên vẻ đẹp trong những câu ca dao này. Đại từ “Ai” trong lời mời, lời nhắn gửi (“Ai vô xứ Huế thì vô”) là một từ phiếm chỉ (đa nghĩa, có thể chỉ trực tiếp người mà tác giả quen nhưng cũng có thể hiểu đó là lời nhắn gửi đến mọi người). Lời mời ấy vừa có hàm ý tự hào về cảnh thiên nhiên xứ Huế, vừa như muốn chia sẻ nó với tất cả mọi người. 5. Trong nhóm bài ca dao này, hầu hết các câu được sáng tác theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể. Riêng hai câu đầu của bài 4 lại có hình thức khác thường. Mỗi câu được kéo dài ra thành 12 tiếng để gợi sự to lớn, rộng rãi của cánh đồng. Bên cạnh đó, các biện pháp điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ, đối xứng giữa câu 1 với câu 2 càng tô đậm cảm giác về một không gian rộng rãi, tràn đầy sức sống. 6. Hai câu cuối của bài 4 có nhiều cách hiểu. Cách hiểu phổ biến hơn cả cho rằng đây là hai câu ca dao miêu tả vẻ đẹp của cô gái. Trước cánh đồng mênh mông, bát ngát, hình ảnh cô gái có vẻ nhỏ bé nhưng cô chính là người làm ra cánh đồng “mênh mông bát ngát” đó, và hình ảnh của cô “như chẽn lúa đòng đòng – Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai” thật đẹp, vẻ đẹp kết tinh từ sắc trời, hương đất, từ cánh đồng “bát ngát mênh mông” kia. 7. Theo cách hiểu trên thì đây là lời chàng trai đang ngắm cô gái đứng trên cánh đồng. Chàng trai thấy cánh đồng mênh mông bát ngát và thấy cô gái hồn nhiên, trẻ trung, đầy sức sống. Nhưng ngoài ra, còn có cách hiểu khác cho rằng đây là lời của cô gái. Đứng trước cánh đồng “bát ngát mênh mông” rợn ngợp, nhìn đâu cũng không thấy bờ, cô gái cất lên những tiếng than về thân phận nhỏ bé, vô định. III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc Có thể coi phần lớn các bài ca dao này được viết theo thể lục bát nhưng một số dòng được kéo dài ra: Sông nào / bên đục / bên trong. Núi nào thắt cổ bồng / mà có thánh sinh? Do đó, cách hiệp vần cũng không hoàn toàn theo kiểu bình thường: Nước sông Thương / bên đục / bên trong. Núi Đức Thánh Tản / thắt cổ bồng / lại có thánh sinh. 2. Khác với chùm bài ca dao về tình cảm gia đình đã học, ở nhóm bài này ngoài thể thơ lục bát còn có loại lục bát biến thể (bài 1 và bài 3 – tự khảo sát từng câu để nhận ra sự khác biệt) và thể thơ tự do (hai câu đầu bài 4). Mỗi thể loại như đã nêu lại có những ưu điểm khác nhau trong việc thể hiện tình cảm cảm xúc (xem lại phần phân tích ở trên). 3. Tình cảm chung thể hiện trong các bài ca dao là tình yêu quê hương, đất nước, con người.  loigiaihay.com
Xem thêm

Đọc thêm

Tình yêu lứa đôi trong ca dao

Tình yêu lứa đôi trong ca dao

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian , kho tàng qúi giá của đất nước đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành một thành tố quan trọng trong nền văn học Việt Nam. Có rất nhiều mảng đề tài về ca dao như: ca dao về tình cảm gia đình, ca dao tình yêu quê hương đất nước, ca dao về sản xuất lao động, ca dao sản vật thiên nhiên, nhưng không thể bỏ qua mảng đề tài “Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”. Từ xưa đến nay tình yêu luôn là một đề tài vô tận của văn chương, các nhà thơ nổi tiếng viết về tình yêu như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh, Nguyễn Bính... tùy vào mỗi phong cách mà nhà thơ có cách cảm nhận về tình yêu khác nhau, trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính có hai câu thơ, mang nỗi niềm cảm xúc của một người đang yêu, nhớ nhung đến phát bệnh: “Nắng mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Xuân Diệu thốt lên rằng: “ Làm sao sống được mà không yêu, Không nhớ không thương một kẻ nào”. Đó là cách cảm nhận về tình yêu trong thơ ca có một sự mạnh mẽ, dám thổ lộ hết cảm xúc của mình, đến với “Tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” không hoa mĩ trau chuốt mà thể hiện một cách rất là bình dị mộc mạc, dễ hiểu, rất thật với cuộc sống và gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, chàng trai yêu mà chẳng dám thổ lộ tình cảm , nhếnh nhác bằng hành động ngắt cọng ngò: “Đưa tay anh ngắt cọng ngò, Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất thấp, kênh rạch chằng chịt, dòng sông là vẻ đẹp của thiên nhiên tạo hóa, cho nên ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cây cầu khỉ bắc ngang những con sông nhỏ, những con đò đưa khách sang sông, bến nước...đó là những hình ảnh quá quen thuộc, rất là gần gũi với người dân miệt sông nước, chính vì điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên tạo thành một khoảng cách cho các cuộc gặp gỡ của các đôi nam nữ đang yêu nhau. Hình ảnh cây cầu đã được phổ nhạc, nếu đã là người dân miệt sông nước thì chắc hẳn ai cũng đã nghe qua bài hát “Cây cầu dừa ”rất nổi tiếng do nhạc sĩ Hàn Châu sáng tác, đó là hình ảnh của một cô gái xa quê đã lâu, nhưng về quê lại không đi qua được cầu dừa, đó là một hình ảnh rất thực nhưng lại ngộ nghĩnh và đáng yêu. Không chỉ dừng lại ở đó cây cầu đã đi vào trong “ ca dao tình yêu”, bằng sự mời mộc chân thành của chàng trai: “Bắc cầu cho kiến leo qua, Cho ai bên ấy sang nhà tôi chơi”. Để tìm hiểu con người và tình cảm gắn bó chân thành của con người Đồng bằng sông Cửu long. Nơi tôi được sinh ra và lớn lên và là vùng đất hoang sơ, huyền bí “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh” là mảnh đất được hình thành sau nhất của bản đồ Việt Nam. Là nơi tạo nên tình yêu của những chàng trai hiền lành chất phác, thiệt thà đáng yêu, bên cạnh đó với những cô gái tuổi mới trăng tròn, đang độ tuổi biết yêu , e thẹn, nụ cười hồn nhiên, mang chút gì đó dễ thương của người miền Tây. Các anh chàng cô gái cũng rất mạnh mẽ và táo bạo trong tình yêu. Vì thế tôi muốn đi sâu tìm hiểu mảng đề tài “ Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” người dân vùng sông nước đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng đất được mệnh danh là “ Chín Rồng”. 2. Lịch sử vấn đề Ca dao là kho tàng qúi giá về tinh thần của người Việt Nam. Bởi thế ca dao luôn là đề tài đối các nhà nghiên cứu văn học dân gian nói riêng và những người đam mê văn học nói chung. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về ca dao nói chung là vấn đề được nhiều người quan tâm tìm hiểu. Sau đây là một số công trình nghiên cứu: Năm 1986, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh có công trình Ca dao – dân ca Nam Bộ bài viết đã thể hiện đặc điểm cũng như tính chất của ca dao Nam Bộ là luôn gắn liền với quê hương đất nước, lao động sản xuất tình duyên gia đình hay là bằng hữu bằng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc: “Trong văn học dân gian có một bộ phận sáng tác bằng thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làng điệu âm nhạc, để diễn đạt các khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình quan hệ bằng hữu các vấn đề xã hội đó là một bộ phận của Ca dao dân ca Nam Bộ 1;19 Năm 1992, Nguyễn Xuân Kính có công trình Thi pháp ca dao. Bài viết này, tác giả đã phân tích đầy đủ các yếu tố thi pháp của ca dao như ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật… đã cho ta cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn về nghệ thuật trong ca dao Việt Nam cũng như sự khác biệt cơ bản của loại hình văn học dân gian với các loại hình văn học khác: “Xét về mặt thi pháp bên cạnh những đặc điểm giống thơ của các tác giả thuộc dòng văn viết, ca dao có những đặc điểm riêng biệt. Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, về thể thơ 95% ca dao cổ truyền được sáng tác theo thể lục bát, thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, diễn xướng, không gian nghệ thuật chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị”3;289 Năm 2007, Bích Hằng có công trình nghiên cứu Ca dao Việt Nam trong đó có nhận định “ Ca dao Việt Nam là viên ngọc qúy luôn tỏ sáng trong kho tàng văn hohjc dân gian việt Nam. Với ngôn ngữ tinh tế, sinh động, duyên dáng, giàu hình tượng và đày chất thơ, ca dao luôn đi vào lòng người, được người người thuộc nhớ, trau chuốt và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác”3;5 Nghiên cứu về ca dao nói chung có rất nhiều công trình như đã nêu trên. Riêng về tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông cửu Long thì có công trình nghiên cứu: Năm 1997, Chu Xuân Diên có công trình Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long bài viết này tác giả đã bao quát tương đối đầy đủ các loại chính của văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long như truyện địa danh và các sản vật địa phương, truyện loài vật, truyện liên quan đến lịch sử và văn hóa, ca dao¬ dân ca… Nó cho ta biết thực trạng tồn tại của văn học dân gian trong nhân dân thuộc một vùng được xác định cả về không gian và thời gian: “Vùng văn học dân gian đã được biết đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX qua các tài liệu sách báo. Từ sau thế kỉ XX đặc biệt là những thập niên gần đây đã làm phong phú rất nhiều những hiểu biết về văn học dân gian này”4;3 Đối với đề tài “ Tình yêu đôi lứa” tôi muốn hướng người đọc đến với cái nhìn rộng hơn, đa chiều về con người và vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài, chúng tôi hướng đến mục đích sau: khám phá, thể hiện, nét đẹp về tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng. Chỉ ra được nét đặc sắc về nghệ thuật thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Làm rõ nét riêng của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long khi viết về tình yêu lứa đôi. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: nội dung ca dao rất phong phú đa dạng nhưng do yêu cầu của đề tài người viết chỉ tìm hiểu “Tình yêu lứa đôi trong ca dao”. Phạm vi nghiên cứu: những bài ca dao viết về tình yêu trong cuốn văn học nhân gian Đồng bằng sông Cửu Long của khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp khảo sát: khảo sát các bài có liên quan đến đề tài. Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: tìm kiếm các tài liệu có liên quan đến đề tài. Phương pháp phân tích: phân tích rõ những vấn đề trong ca dao. Phương pháp bình giảng: làm sáng tỏ kết hợp với đánh giá các bài ca dao, nhằm mục đích chỉ ra cái hay cái đẹp trong ca dao. Ngoài ra người viết còn kết hợp thêm các thao tác: chứng minh, giải thích, so sánh, bình luận… Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Vài nét về vùng đất và con người Đồng bằng sông Cửu Long 1.1.1 Vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 1.1.2. Con người Đồng bằng sông Cửu |Long 1.2. Vài nét về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 1.2.1. Khái niệm 1.2.2. Đặc điểm ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Chương 2 NHỮNG CUNG BẬC CẢM XÚC TÌNH YÊU TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2.1. Sự gặp gỡ và lời tỏ tình trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.1.1. Sự gặp gỡ 2.1.2. Lời tỏ tình 2.2. Nỗi nhớ nhung và tương tư trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.2.1.Nỗi nhớ nhung 2.2.2. Nỗi tương tư 2.3. Lời thề nguyền và hẹn ước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.3.1. Lời thề nguyền 2.3.2. Lời hẹn ước 2.4. Nỗi đau khổ và oán trách khi tình yêu không trọn vẹn 2.4.1. Nỗi đau khổ 2.4.2. Nỗi oán trách Chương 3 THUẬT NGHỆ THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3.1. Cách xưng hô của tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.2. Nghệ thuật so sánh và nghệ thuật ẩn dụ thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.2.1. Nghệ thuật so sánh thể hiện tình yêu đôi lứa 3.2.2 Nghệ thuật ẩn dụ thể hiện tình yêu đôi lứa 3.3. Nghệ thuật nhân cách hóa và biểu tượng tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.3.1. Nhân cách hóa 3.3.2. Biểu tượng tình yêu đôi lứa 4. KẾT LUẬN
Xem thêm

Đọc thêm

Đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

Đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

Hình ảnh con thuyền được miêu tả rất lãng mạn: có thực nhưng lại lẫn vào trong ảo. Với sự tưởng tượng bay bổng, thuyền có người cầm lái là gió trời, cánh buồm là trăng. Thuyền và người hòa nhập vào thiên nhiên, lâng lâng trong cái thơ mộng của gió, trăng, trời, biển. Đoàn thuyền đánh cá trên biển trong đêm trăng Trong phần thứ hai của bài thơ nổi bật là những bức tranh đẹp, rộng lớn, lộng lẫy, kế tiếp nhau về thiên nhiên vùng biển và tư thế của con người lao động trước thiên nhiên, vũ trụ. Cảm hứng lãng mạn khiến nhà thơ phát hiện những vẻ đẹp của cảnh đánh cá giữa biển đêm, trong niềm vui phơi phới, khỏe khoắn của người lao động làm chủ công việc của mình:       Thuyền ta lái gió với buồm trăng,       Lướt giữa mây cao với biến bằng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển,     Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Hình ảnh con thuyền được miêu tả rất lãng mạn: có thực nhưng lại lẫn vào trong ảo. Với sự tưởng tượng bay bổng, thuyền có người cầm lái là gió trời, cánh buồm là trăng. Thuyền và người hòa nhập vào thiên nhiên, lâng lâng trong cái thơ mộng của gió, trăng, trời, biển. Hình ảnh con người hiện lên là hình ảnh con người lớn ngang tầm vũ trụ và chan hòa với khung cảnh trời nước bao la tuyệt đẹp. Công việc đánh cá do đó bỗng nhiên trở nên rất thơ mộng. Những hình ảnh này được sáng tạo như trên có thể không hoàn toàn đúng như trong thực tế nhưng đã làm giàu thêm cách nhìn cuộc sống (thiên nhiên và con người), biểu hiện niềm say mê, hào hứng và những mơ ước bay bổng của con người muốn hòa hợp với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình. Sự giàu có, đẹp đẽ của biển cả được tác giả miêu tả hết sức duyên dáng, lấp lánh màu sắc như bức tranh sơn mài về một bể cá khống lồ: Cá nhụ cá chim, cùng cá đé,      Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,         Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.      Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt kê các loài cá khác nhau: cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song. Đây đều là những loài cá quý vùng biển nước ta, mang lại giá trị kinh tế lớn cho ngành thủy sản Việt Nam. Biển không chỉ giàu mà còn đẹp một cách thơ mộng. Nó lấp lánh, dịu dàng, thanh thoát. Khi ánh trăng chiếu xuống mặt nước, những đàn cá quẫy đuôi khiến ánh trăng như tan đi trong làn nước biển, vẻ đẹp đó hòa cùng với màu sắc của muôn loài cá trên biển. Đặc biệt, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long là một hình ảnh nhân hóa đẹp. Đêm. được miêu tả như một sinh vật đại dương khổng lồ mà tiếng thở của đêm chính là tiếng sóng biển dào dạt. Hơn nữa, sự tưởng tượng của nhà thơ được cắt nghĩa cũng bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm nên tiếng thở của đêm. Thực ra, đây là hình ảnh đảo ngược vì sóng biển đu đưa lùa ánh sao trời nơi đáy nước chứ không phải sao lùa bóng nước. Đó là một hình ảnh lạ, một sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận khiến cho cảnh vật thêm sinh động. Tất cả làm nên một bức tranh hòa nhịp kì diệu giữa thiên nhiên và con người lao động. Cảnh vật thật lung linh và huyền ảo như thế giới thần tiên, cô tích. Biển không nhừng giàu đẹp mà còn rất ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ. Biển cho con người cá, nuôi lớn con người. Những người dân chài đã hát bài ca gọi cá vào với họ:                                            Ta hát bài ca gọi cá vào,         Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.   Biển cho ta cá như lòng mẹ   Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là trăng cao gõ. Trong đêm trăng sáng, vầng trăng in xuống mặt nựớc, sóng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn thuyền thành hình ảnh nhịp trăng cao. Có thể nói đây là hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ để làm đẹp thêm công việc lao động đánh cá trên biển. Công việc đánh cá của ngư dân ở đây như một trận đánh hào hùng có sự tham gia của cả thiên nhiên. Câu thơ Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào là một lời hát ân tình sâu sắc trong bài ca lao động. Trong con mắt và tình cảm của những người dân chài thì biển như lòng mẹ. Biển cả đối với ngư dân trở nên thật ấm áp, như người mẹ hiền chở che, nuôi nấng họ lớn lên, bao bọc họ với một tình cảm trìu mến, thân thương. Câu thơ như một sự cảm nhận thấm thía của những người dân chài đối với biển khơi. Cảnh buông lưới, đợi chờ, ngắm biển đêm, cảnh kéo lưới đều được tác giả hình dung đầy chất thơ: Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.    Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông.     Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Công việc đánh cá qua cái nhìn, tưởng tượng cùa nhà thơ tương rằng chỉ đơn giản: dòng thuyền ra khơi, chọn địa điểm, dàn thuyền, buông lưới, chờ đợi, kéo lưới thu hoạch hải sản lên thuyền, trở về. Nhưng trên thực tế thì mọi chuyện không hề đơn giản như vậy, Những câu thơ trên tạo nên hình   ảnh người lao động trên nền trời đang sáng dần, ửng hồng. Riêng cảnh kéo lưới đã được tả khá sát thực và cụ thể bằng hình ảnh kéo xoăn tay chùm cá nặng - kéo hết sức, kéo liền tay để cá không thoát ra ngoài được. Những con cá to nhỏ mắc lưới dính sát nhau như những chùm quả nặng trĩu từ dưới biển sâu để xuống khoang thuyền. Trời vừa sáng thì lưới cá cũng vừa kéo hết lên thuyền. Câu thơ lưới xếp buồm lên đón nắng hồng như tạo một sự nhịp nhàng giữa lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ. Con người như muốn sẻ chia niềm vui với ánh bình minh.  Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

Đọc thêm

Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc dưới góc nhìn văn hóa

Địa danh vùng ngã ba Bạch Hạc dưới góc nhìn văn hóa

Trình bày cơ sở nhận thức về địa danh, những cách hiều, quan niệm về địa danh. Khái quát về vùng ngã ba Bạch Hạc và những tên gọi có liên quan trong lịch sử. Nêu đặc điểm về cách đặt tên của vùng đất này trong quá trình phát triển. Nêu khái niệm về truyền thuyết và cách thức giải mã truyền thuyết, từ đó tìm hiểu địa danh thông qua việc giải mã các truyền thuyết có liên quan đến các địa danh. Tìm hiểu về truyền thuyết gắn với những địa danh trên vùng ngã ba Bạch Hạc, để thấy được phần lớn những địa danh, những truyền thuyết đều gắn với thời các vua Hùng, đồng thời phản ánh đầy đủ các mặt văn hóa và tinh thần của cư dân Văn Lang xưa. Qua những truyền thuyết này không phải chỉ là hư cấu bởi nó một phần phản ánh cuộc sống, phản ánh lịch sử, phản ánh những tâm tư, tình cảm của người dân. Bên cạnh đó những chứng cứ khảo cổ học, có thể chứng minh được rằng có tồn tại thời đại Hùng Vương trong lịch sử. Tìm hiểu địa danh thông qua các di tích khảo cổ học, di tích kiến trúc – tôn giáo, địa danh gắn với lễ hội và địa danh liên quan đến văn hóa ẩm thực. Qua đó, nhìn đầy đủ và toàn diện về lịch sử và văn hóa của vùng ngã ba Bạch Hạc. Đây không chỉ là mảnh đất mang trong mình chiều dài 4000 năm lịch sử, bắt đầu từ thời Hùng Vương dựng nước mà còn chứa đựng chiều sâu văn hóa. Bao trùm toàn bộ văn hóa vùng ngã ba Bạch Hạc là văn hóa thời Hùng Vương, văn hóa gắn liền với 18 đời họ Hùng. Địa danh di chỉ khảo cổ, địa danh di tích kiến trúc tôn giáo, địa danh lễ hội và địa danh ẩm thực minh chứng rằng thời đại Hùng Vương không chỉ tồn tại trong truyền thuyết mà còn tồn tại trong hiện thực, trong lịch sử qua những chứng cứ hùng hồn và thuyết phục.
Xem thêm

Đọc thêm

Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)

Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)

Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Địa danh trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Tìm hiểu địa danh tỉnh Cà Mau

Tìm hiểu địa danh tỉnh Cà Mau

Tên đề tài: Tìm hiểu địa danh tỉnh Cà Mau Tác giả: Huỳnh Thu Thảo Luận văn gồm 3 chương: CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN Nội dung chương 1 là những vấn đề chung về địa danh và địa danh học; khái quát về tỉnh Cà Mau (địa lí, lịch sử, đời sống văn hóa, hành chính, dân cư, ngôn ngữ,...) CHƯƠNG 2. PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH, ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI ĐỊA DANH TỈNH CÀ MAU Chương 2 gồm 3 nội dung: phương thức định danh, đặc điểm cấu tạo và vấn đề biến đổi địa danh tỉnh cà Mau CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GỐC – Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA ĐỊA DANH TỈNH CÀ MAU Giá trị phản ánh hiện thực của địa danh tỉnh Cà Mau Các nhóm nghĩa của địa danh tỉnh Cà Mau Nguồn gốc – ý nghĩa của một số địa danh tỉnh Cà Mau Tìm hiểu về đặc điểm cũng như phương thức cấu tạo địa danh tỉnh Cà Mau
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỊA DANH NGHỀ NGHIỆP

ĐỊA DANH NGHỀ NGHIỆP

GIải thích tên gọi các địa danh ở Việt Nam theo tên nghề nghiệp gắn liền với địa phương, ví dụ: Làng Diêm Điền thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Tục truyền rằng: cách đây hơn 100 năm, làng Diêm Điền chỉ là một vùng ruộng, sông toàn nước mặn, chỉ có cây đước, lác và năn mọc. Dân làng sống bằng nghề làm muối, mùa nóng ruộng đóng diêm thành muối. Khi Ngài tiên hiền họ Phạm di dân đến khai hoang, vỡ hóa mới đặt tên cho làng là Diêm Điền (làng ruộng muối) như ngày hôm nay.
Xem thêm

Đọc thêm