LỊCH TIÊM CHỦNG CHO TRẺ TỪ 0 ĐẾN 1 TUỔI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LỊCH TIÊM CHỦNG CHO TRẺ TỪ 0 ĐẾN 1 TUỔI":

Tài liệu Thời điểm tiêm chủng cho trẻ ppt

TÀI LIỆU THỜI ĐIỂM TIÊM CHỦNG CHO TRẺ PPT

cũng cần tiêm phòng một số bệnh mà chương trình TCMR không có ví dụ như: vắc xin phòng tiêu chảy do Rota vi rút, phòng bệnh cúm, thủy đậu, quai bị… Thời điểm tiêm chủng cho trẻ trong TCMR Với trẻ sơ sinh, cần tiêm BCG, viêm gan B (VBG) mũi không trong vòng 24 giờ để phòng bệnh lao, viêm gan siêu vi B. Trẻ hai tháng tuổi cần tiêm DPT – VGB – Hib mũi một (năm trong một) để phòng bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan siêu vi, viêm màng não mủ, viêm phổi do Hib. Tiêm OPV lần một để phòng bại liệt. Trẻ ba tháng tuổi cần tiêm DPT – VGB – Hib mũi hai (năm trong một) và OPV lần hai để phòng các bệnh giống trẻ ở hai tháng tuổi. Trẻ bốn tháng tuổi cần tiêm DPT – VGB – Hib mũi ba (năm trong một) và OPV lần ba để phòng các bệnh giống trẻ ở hai và ba tháng tuổi. Trẻ chín tháng tuổi cần tiêm sởi mũi một để phòng bệnh sởi. Trẻ được 18 tháng tuổi cần tiêm DPT mũi bốn để phòng bạch hầu, uốn ván, ho gà và tiêm sởi mũi hai để phòng sởi. Ngoài ra, để phòng bệnh uốn ván sơ sinh cho trẻ và uốn ván cho mẹ, phụ nữ khi mang thai cần được tiêm chủng vắc xin uốn ván theo lịch sau: mũi một cần tiêm sớm khi có thai lần đầu hoặc nữ trong tuổi sinh đẻ tại vùng nguy cơ cao; mũi hai ít nhất một tháng sau mũi một, mũi ba ít nhất sáu tháng sau mũi hai hoặc kỳ có thai lần sau; mũi bốn ít nhất một năm sau mũi ba hoặc kỳ có thai lần sau; mũi năm ít nhất một năm sau mũi bốn hoặc kỳ có thai lần sau. Lợi ích của tiêm vắc xin ngoài chương trình TCMR (phụ huynh phải trả phí) Đối với trẻ dưới một tuổi, cần cho trẻ uống vắc xin phòng bệnh tiêu chảy do Rota vi rút ( 2 – 3 liều) từ khi trẻ hai tháng tuổi và vắc xin phòng bệnh cúm tiêm cho trẻ khi sáu tháng tuổi. Khi trẻ trên một tuổi, trẻ cần tiêm chủng phòng các bệnh như thủy đậu, quai bị, rubella, viêm não Nhật Bản, viêm gan siêu vi A. Khi trẻ trên hai tuổi, có các loại vắc xin phòng các bệnh thương hàn, viêm màng não mô cầu, viêm phổi, viêm màng não do phế cầu.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Bài giảng TIÊM CHỦNG

BÀI GIẢNG TIÊM CHỦNG

1TIÊM CHỦNGTRẺ EMGV: Trần Thị Hồng Vân 2MỤC TIÊU HỌC TẬP1. Trình bày được tầm quan trọng của tiêm chủng phòng bệnh, sự phát triển và thành tích đạt được của chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt nam2. Nêu được các phân loại vaccine3. Kể tên được các bệnh có thể phòng bệnh bằng vaccine hiện có ở Việt nam4. Trình bày được các tai biến trong tiêm chủng và cách phòng tránh tai biến5. Trình bày được lịch tiêm chủng trong chương trình tiêm chủng mở rộng.31. ĐẶT VẤN ĐỀ•Trẻ em là lứa tuổi dễ mắc nhiều bệnh. bệnh nặngtỉ lệ tử vong cao/ di chứng nặng nềsuy dinh dưỡng sau khi mắc bệnh→ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện .•Một số lớn các bệnh thường gặp ở trẻ em có thể phòng ngừa được bằng tiêm chủng.•Chương trình tiêm chủng quốc gia Việt Nam(từ
Xem thêm

49 Đọc thêm

VẮC XIN, ĐỐI TƯỢNG, LỊCH TIÊM CHỦNG TRONG TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG

VẮC XIN, ĐỐI TƯỢNG, LỊCH TIÊM CHỦNG TRONG TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG

Sau khi TC đủ các mũi cơ bản và mũi nhắc lại, cơ thể có đủkháng thể để đáp ứng nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh.Khoảng cách giữa các mũi tiêm chủng là khoảng cách tốithiểu. Không tiêm vắc xin trước thời gian tối thiểu cho cácmũi tiêm tiếp theo.Nếu trẻ thiếu mũi tiêm chủng, cần tiêm chủng mũi tiếp theocàng sớm càng tốt.MIỄN DỊCH CHỦ ĐỘNG BẰNG VẮC XINĐáp ứng miễn dịch phụ thuộc nhiều yếu tố:• Cơ địa: hệ thống miễn dịch• Tiêm chủng đủ mũi, đúng lịch giữa các mũi tiêm• Đúng vị trí tiêm chủng, đúng liều lượng• Chất lượng vắc xin: bảo quản, nhà sản xuấtĐỐI TƯỢNG, LỊCH TIÊM VẮC XIN TCMR (1)Miễn dịch cơ bản cho trẻ em: Trẻ phòng bệnh (lao, bại liệt, viêm gan B,bạch hầu,ho gà, uốn ván, viêm phổi viêm màng não do
Xem thêm

42 Đọc thêm

Một số thay đổi trong tiêm chủng cho trẻ năm 201 pptx

MỘT SỐ THAY ĐỔI TRONG TIÊM CHỦNG CHO TRẺ NĂM 201 PPTX

theo thời gian, các bé sẽ được tiêm tăng cường. - Với loại vắc xin phòng viêm cầu khuẩn, nên tiêm cho bé tổng cộng bốn mũi vào độ tuổi 2, 4, 6, và 12 đến 15 tháng tuổi để trẻ được bảo vệ chống lại các vi khuẩn phế cầu khuẩn. Những bé dưới 5 tuổi chưa được tiêm chủng ngừa phế cầu khuẩn nên được chủng ngừa với một vaccine công thức mới - Prevnar 13 nhằm giúp bảo vệ bé chống lại 13 loại vi khuẩn có thể gây ra tất cả các loại tình trạng xáo trộn sức khỏe ở trẻ như bệnh viêm màng não, viêm phổi, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng máu, và thậm chí tử vong. Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc chủng ngừa này bao gồm buồn ngủ, sưng tại vết tiêm, sốt nhẹ, và khó chịu. - Vào khoảng 16 tuổi, thanh thiếu niên sẽ được tiêm nhắc phòng viêm màng não do não mô cầu tăng cường. Trước đây, việc tiêm vaccine viêm màng nào được thực hiện với trẻ 11 tuổi. Tuy nhiên, để bảo vệ trẻ nguy cơ mắc bệnh gia tăng do tác dụng của vaccine giảm theo thời gian, cần phải tiêm nhắc lại sau 5 năm, tức là khi 16 tuổi. - Các bé trai tuổi từ 9-18 có thể tiêm HPV giúp phòng ngừa nguy cơ ung thư và u sùi sinh dục như ung thư hậu môn và dương vật, bảo vệ trẻ chống lại hai loại virus lây truyền qua đường tình dục - nguyên nhân phổ biến gây bệnh ung thư cổ tử cung ở nữ giới. Việc tiêm phòng này cũng được khuyến nghị đối với tất cả các bé gái ở độ tuổi 11-12 nhằm phòng ngừa bệnh gây ra bởi 4 loại HPV có trong vaccine,
Xem thêm

5 Đọc thêm

Lịch tiêm chủng cho bé ppsx

LỊCH TIÊM CHỦNG CHO BÉ PPSX

TRANG 1 Lịch tiêm chủng cho bé Trừ khi bé đang sốt hoặc đang điều trị bệnh, còn lại, bạn hãy cho bé đi tiêm chủng theo lịch dưới đây.. Hãy cho bé đi tiêm chủng đúng lịch.[r]

6 Đọc thêm

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI MỘT TUỔI VỀ TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG THUỘC HAI TỈNH NGHỆ AN VÀ THANH HÓA NĂM 2015 (FULL TEXT)

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI MỘT TUỔI VỀ TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG THUỘC HAI TỈNH NGHỆ AN VÀ THANH HÓA NĂM 2015 (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong năm thập kỷ gần đây tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em đã giảm đi hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Một trong những vũ khí góp phần quan trọng nhất góp phần bảo vệ sức khỏe của trẻ em chính là tiêm chủng dự phòng , trong đó cốt lõi là Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) lấy đối tượng chính là trẻ em dưới năm tuổi. Tiêm chủng vắc- xin trở thành một trong những vũ khí sắc bén nhất trong bảo vệ sức khỏe, dự phòng bệnh tật cho con người. Tổ chức y tế thế giới (WHO) phát động một chương trình rộng lớn có tính toàn cầu là TCMR với mục dích chính là dự phòng chủ động các bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm trước hết cho trẻ em dưới năm tuổi bằng vắc- xin.[1] Các bệnh đầu tiên trong mục tiêu của Chương trình TCMR là bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và bệnh lao. Tiêm chủng là một công cụ đã được chứng minh cho việc kiểm soát và thậm chí xóa bỏ các bệnh truyền nhiễm. Chiến dịch tiêm chủng được thực hiện bởi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 1967-1977 đã loại trừ bệnh đậu mùa, căn bệnh đe dọa tính mạng 60% dân số thế giới. Giữa năm 2000 và 2008, số ca tử vong do sởi trên toàn thế giới đã giảm hơn 78%, và một số khu vực đã thiết lập mục tiêu xóa bỏ căn bệnh này. Uốn ván bà mẹ và trẻ sơ sinh đã được loại bỏ trên 20 trong số 58 quốc gia có nguy cơ cao [2]. Chương trình TCMR bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức WHO và Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF). Từ năm 1985 tới nay toàn bộ trẻ em dưới một tuổi trên toàn quốc đã có cơ hội tiếp cận với Chương trình TCMR. Đến năm 2010, đã có 11 vắc xin phòng bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi, viêm não Nhật Bản, tả, thương hàn, viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib.[3] Trong nhiều năm qua, Việt Nam được đánh gái là “Điểm sáng” về triển khai Chương trình TCMR trong khu vực và trên thế giới. Năm 2000 Tổ chức Y tế thế giới đánh giá và công nhận Thanh toán Bại liệt tại Việt Nam, năm 2005 WHO đánh giá và công nhận Loại trừ Uốn ván sơ sinh trên quy mô tuyến huyện.[4] Tuy nhiên nước ta, trong quá trình thực hiện tiêm chủng thời gian qua cũng có một số nơi, một số thời điểm tỷ lệ tiêm chủng thấp và dịch bệnh nghiêm trọng đã xảy ra như sởi, bạch hầu, ho gà , viêm não Nhật Bản v.v cướp đi sinh mạng của nhiều trẻ em. Điều này càng cho thấy nếu trẻ em không được tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đầy đủ, tiêm chủng muộn thì nguy cơ dịch bệnh quay trở lại là rất lớn, gây nguy hiểm cho sức khỏe trẻ em và toàn thể cộng đồng.[5] Mặt khác bà mẹ là đối tượng trực tiếp nuôi dưỡng trẻ và đưa trẻ đi tiêm chủng do đó nhận thức của bà mẹ về tiêm chủng sẽ ảnh hưởng đến thái độ của bà mẹ về tiêm chủng. Vấn đề thu thập thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của bà mẹ có con dưới 1 tuổi trở nên hết sức cấp thiết giúp cho địa phương, cán bộ y tế tìm ra những những mặt còn tồn tại và đưa ra giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiểu biết, thái độ và thực hành của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng, góp phần bảo vệ sức khỏe trẻ em, nâng cao sức khỏe cộng đồng.Đề tài là một phần của đề tài: “ Đánh giá thực trạng tiêm chủng ở một số tỉnh thuộc dự án tăng cường năng lực hệ thống y tế cơ sở một số tỉnh trọng điểm do Gavi hỗ trợ”. Vì những lý do cấp thiết như trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con dưới một tuổi về tiêm chủng mở rộng thuộc hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa năm 2015” với các mục tiêu sau: 1.Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con dưới 1 tuổi thuộc 2 tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa về tiêm chủng mở rộng năm 2015. 2.Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành của bà mẹ có con dưới một tuổi về tiêm chủng mở rộng năm 2015 thuộc địa dư nêu trên.
Xem thêm

56 Đọc thêm

Cách mới giảm đau cho trẻ sơ sinh khi tiêm chủng docx

CÁCH MỚI GIẢM ĐAU CHO TRẺ SƠ SINH KHI TIÊM CHỦNG DOCX

Cách mới giảm đau cho trẻ sơ sinh khi tiêm chủng Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Pain cho hay làm ấm cơ thể cho trẻ khi tiêm chủng sẽ làm các bé giảm đau và bớt khóc. Ở những năm tháng đầu đời, các em thường phải chịu cơn đau bởi những mũi tiêm do tiêm chủng hay lấy máu xét nghiệm. Thông thường, các em thường được cho ngậm núm vú giả để mút thuốc đường hoặc bú mẹ trong khi tiêm để giảm bớt đau đớn. Thuốc đường là phương pháp điều trị phổ biến nhất được sử dụng. Nhưng có vẻ như cách đó không được hiệu quả cho lắm. Mới đây, các bác sĩ ở một bệnh viện nhi, thuộc trường ĐH Chicago Comer đã thử nghiệm một phương pháp mới là làm ấm cơ thể nhằm giúp giảm đau khi tiêm chủng cho trẻ sơ sinh. Nghiên cứu được thử nghiệm trên gần 50 trẻ nhỏ được chia thành 3 nhóm bao gồm: nhóm được làm ấm cơ thể (các bé được đặt dưới một hệ thống sưởi nhằm làm ấm cơ thể), ngậm núm vú giả bú thuốc đường, và bú mẹ khi tiêm chủng vắc-xin phòng viêm gan B. Những biểu hiện như khóc hay nhăn nhó, nhịp tim đều được ghi lại. Kết quả cho thấy, những em được làm ấm lên khi tiêm đã ngừng khóc và cũng chẳng mấy nhăn nhó so với các bạn ở 2 nhóm còn lại. Thậm chí 1/4 số trẻ trong số đó không khóc, trong khi các bạn nhỏ khác được bú thuốc đường đều khóc vì đau sau khi tiêm. Các bác sĩ vẫn đang tiếp tục nghiên cứu thêm để có thể đưa ra kết luận chính xác liệu rằng sử dụng nhiệt có phải là cách tốt nhất làm giảm đau đớn cho trẻ sơ sinh khi tiêm chủng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TỔ CHỨC THỰC THI CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG CỦA VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỔ CHỨC THỰC THI CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG CỦA VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TÂY NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuChương trình tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF). Sau một thời gian thí điểmchương trình từng bước được mở rộng dần cả về địa bàn và đối tượng tiêm, đến năm 1985 chương trình TCMR được đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước. Từ năm 1986chương trình TCMR được coi là một trong 6 chương trình y tế quốc gia ưu tiên. Năm 1990, mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho toàn thể trẻ em dưới 1 tuổi đã được hoàn thành, với 87% trẻ dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại kháng nguyên (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và sởi). Chương trình tiêm chủng mở rộng góp phần giảm chi phí điều trị, giảm nguy cơ tàn phế của trẻ em…Để đạt được những thành quả như vậy, công tác tiêm chủng phải đảm bảo yêu cầu chất lượng cao vì vắc xin là một sinh phẩm đặc biệt, cần thiết được bảo quản lạnh, đòi hỏi phải có hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản vaccin, phương tiện vận chuyển vaccin…và trên bình diện toàn cầu, sự thành công của chương trình tiêm chủng không chỉ bảo vệ mà còn cứu sống được rất nhiều trẻ em. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính trung bình có khoảng 2,5 triệu trẻ em được cứu sống. Ở Việt Nam, sau gần 30 năm có khoảng 67 triệu trẻ em được bảo vệ. Theo tính toán của Tổ chức Y tế thế giới chương trình này cứu sống được khoảng 40.000 trẻ khỏi tử vong nếu không có chương trình tiêm chủng. Chương trình TCMR Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới từ trung ương tới xã (phường). Kể từ năm 1994, sau khi 100% số xã, phường trên toàn quốc đã được bao phủ chương trình TCMR, tỷ lệ số trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ trở thành một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng của chương trình. Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên là một đơn vị sự nghiệp Y tế dự phòng trực thuộc Bộ Y tế, đóng chân trên địa bàn Tây Nguyên có chức năng chủ yếu là chỉ đạo tuyến, phòng chống dịch bệnh cho đồng bào các dân tộc 04 tỉnh Tây Nguyên: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và nghiên cứu, phát hiện các bệnh truyền nhiễm trên địa bàn được giao.Tây Nguyên là một trong những địa bàn có diện tích lớn nhất cả nước, hiểm trở, đi lại khó khăn, khó tiếp cận; Tập tục, tập quán của người dân tộc lạc hậu, nhận thức của người dân hạn chế, khó tuyên truyền vận động; Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trạm y tế xã thiếu thốn; Trình độ các bộ chuyên trách tiêm chủng còn thấp; Sự tham gia của chính quyền địa phương còn nhiều hạn chế; Kinh phí hỗ trợ cho cán bộ làm công tác tiêm chủng thấp; Tỷ lệ sinh tại trạm y tế xã thấp, khó thực hiện tiêm phòng viêm gan B sơ sinh; Nhiều xã khu vực vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận nên không thể triển khai công tác tiêm chủng hàng tháng mà phải thực hiện theo định kỳ (được gọi là vùng lõm).Trong những năm gần đây, khi mà chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai và đạt nhiều kết quả đáng khích lệ đối với các cơ sở y tế dự phòng trên cả khu vực Tây Nguyên, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện chương trình TCMR. Trước tình hình đó, việc thực hiện nâng cao hiệu quả chương trình TCMR là việc làm hết sức cần thiết.Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức thực thi chương trình tiêm chủng mở rộng của Viện VSDT Tây Nguyên trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình, đồng thời qua đề tài, mong muốn đóng góp thêm những đề xuất của bản thân để công tác tổ chức thực thi chương trình của Viện VSDT Tây Nguyên được hoàn thiện hơn.2. Tổng quan nghiên cứu2.1. Các công trình nghiên cứu đã thực hiệnQuá trình phát triển của chương trình tiêm chủng mở rộng là quá trình mở rộng và tăng cường hỗ trợ cho các địa phương có nhiều khó khăn, đẩy mạnh công tác tiêm chủng cuối cùng tiến tới xoá xã trắng và bản trắng về tiêm chủng. Ngành y tếchương trình tiêm chủng mở rộng đã tích cực thực hiện triệt để chính sách tiêm chủng mở rộng của Nhà nước trong việc thiết thực bảo vệ chăm sóc trẻ em, đảm bảo quyền của trẻ em Việt Nam, tất cả vì một thế hệ trẻ em Việt Nam trong tương lai khỏe mạnh và sáng tạo.Tuy nhiên để thực hiện được các chính sách kinh tế xã hội có hiệu quả thì vai trò của việc tổ chức thực thi càng được nâng cao, nhiều khi còn phức tạp và khó khăn hơn việc hoạch định các chính sách.Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài tiêm chủng mở rộng cũng như việc tổ chức thực thi các chính sách kinh tế xã hội trong và ngoài nước, bao gồm cả các bài báo khoa học, các luận văn, luận án. Ta có thể nêu một số công trình điển hình như sau: Trần Thị Liên, (2011), “Thực trạng triển khai công tác tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Lai Châu”, Báo cáo tham luận hội nghị tiêm chủng mở rộng. Đề tài của tác giả tập trung vào nghiên cứu thực trạng triển khai công tác tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Lai Châu trong giai đoạn 1992 – 2012. Tác giả đã tiến hành điều tra, thu thập số liệu nghiên cứu về những tiêu chí như: Thời gian triển khai; Nhân lực tiêm chủng; Bảo quản vắc xin và hình thức tổ chức. Đề tài nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm của địa phương, những thuận lợi cũng như khó khăn còn tồn tại trong công tác tổ chức tiêm chủng mở rộng tại một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất là việc bảo quản lạnh vắc xin đảm bảo chất lượng mũi tiêm là yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ tiêm chủng. Đây là khó khăn lớn cho việc triển khai TCMR cho con em các dân tộc vùng biên giới này. Đó cũng là một thách thức đối với ngành y tế nói chung và của chương trình TCMR nói riêng. Đặng Tuấn Đạt và công sự, (2011), “Đánh giá một số lợi ích kinh tế xã hội của chương trình tiêm chủng mở rộng ở tỉnh Gia Lai, giai đoạn 1997 – 2006”, Báo cáo tham luận Hội nghị Tiêm chủng mở rộng. Đây là một nghiên cứu hồi cứu và cắt ngang để đánh giá một số lợi ích về kinh tế và xã hội của chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) ở tỉnh Gia Lai gia đoạn từ năm 1997 2006. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này là số liệu gốc hoặc thứ cấp từ các chứng từ, sổ chi và sổ cái, báo cáo tài chính của kế toán; số liệu về chi phí, tình hình mắc bệnh trong 10 năm từ 1997 đến 2006 được thu thập. Điều tra cộng đồng với cỡ mẫu 899 bà mẹ có con từ 0 10 tuổi tại tỉnh Gia Lai năm 2008 nhằm đánh giá hiểu biết, thực hành của bà mẹ về tiêm chủng vắc xin phòng bệnh. Kết quả phân tích lợi ích về kinh tế cho thấy: Chương trình TCMR để phòng bệnh ở Gia Lai là một đầu tư có lợi ích kinh tế y tế cao hơn so với điều trị bệnh; Lợi ích về xã hội: TCMR tỉnh Gia Lai đã bao phủ tới cấp xã và thôn; Tình hình bệnh và dịch bệnh trong các bệnh có vắc xin trong TCMR giảm rõ rệt; Cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Gia Lai tham gia tiêm chủng với tỷ lệ 90,7%. Trương Văn Dũng, (2011), “Nghiên cứu tình hình tiêm chủng mở rộng ở trẻ từ 10 đến 36 tháng tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh năm 2010”.Tác giả tập trung vào 02 mục tiêu nghiên cứu gồm: (1) Mô tả tình hình tiêm chủng mở rộng và thực trạng hiểu biết về chương trình tiêm chủng mở rộng của bà mẹ và trẻ từ 10 đến 36 tháng tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh năm 2010; (2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới tỷ lệ tiêm chủng mở rộng và sự hiểu biết về chương trình tiêm chủng mở rộng của đối tượng nghiên cứu trên. Đề tài nghiên cứu đã thành công trong việc thống kê được tỷ lệ trẻ em tiêm chủng trong huyện Châu Thành, đồng thời đo lường được sự hài lòng của các bà mẹ khi đưa trẻ đến tiêm chủng. Tác giả cũng chỉ ra được công tác truyền thông trực tiếp đã làm rất tốt với 98,91% bà mẹ biết được thông tin qua các cán bộ y tế. Ngoài ra, những yếu tố ảnh hưởng đến sự hiểu biết còn từ trình độ học vấn, độ tuổi và nghề nghiệp của bà mẹ. Nguyễn Thanh Hải (2011), “Tổ chức thực thi chính sách phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Đồng Nai”.Tuy đề tài này không đề cập tới vấn đề chính là chính sách tiêm chủng mở rộng mà tôi đang nghiên cứu nhưng đề tài này lại có nhiều mối liên hệ mật thiết, nhất là cùng đề cập tới nội dung tổ chức thực thi một chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước đề ra. Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề chính sau: Thông qua cơ sở lý luận và thực tiễn, việc tổ chức thực thi chính sách phòng chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tập trung nghiên cứu đưa ra một số vấn đề sau: (1) Hệ thống hóa một cách tương đối đầy đủ những vấn đề cơ bản về tham nhũng và chính sách phòng chống tham nhũng; (2) Liên hệ và vận dụng lý thuyết tổ chức thực thi chính sách kinh tế xã hội vào việc thực hiện một chính sách cụ thể đó là chính sách phòng chống tham nhũng trên địa bàn; (3) Đánh giá, phân tích việc tổ chức thực thi chính sách phòng chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở đối chiếu so sánh với chính sách chung đã được ban hành từ đó đưa ra được những hạn chế, tồn tại, bất cập đồng thời kiến nghị một số vấn đề cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn trong thời gian tới. Tác giả đã đề xuất được những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai như: Hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng thực thi công vụ; Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng, minh bạch; Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước...2.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứuTuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến việc đánh giá kết quả thực hiện hoặc quan tâm đến khía cạnh kỹ thuật tiêm chủng, chứ chưa đánh giá về góc độ quản lý.Công tác tổ chức thực thi một chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước tại từng lĩnh vực là hoàn toàn khác nhau, vì có những đặc trưng riêng nhất định. Nói đến chương trình tiêm chủng mở rộng là bao gồm tất cả các ngành và các địa phương trên cả nước cùng phối kết hợp thực hiện. Ngoài ra, mỗi địa phương có thể có những đặc thù riêng về việc thực hiện tiêm chủng mở rộng; Do đó các đề tài nghiên cứu về tổ chức thực thi nói chung cũng như tổ chức thực thi đối với chương trình tiêm chủng mở rộng nói riêng đều là cần thiết và không hoàn toàn giống nhau. Riêng đối với tỉnh Đắk Lắk và cụ thể là tại thành phố Buôn Ma Thuột, thì tác giả chưa thấy có công trình nào đi sâu nghiên cứu về việc đánh giá công tác tổ chức thực thi đối với chương trình tiêm chủng mở rộng. Do đó, đây chính là những điều kiện quan trọng để tác giả quyết định tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài này.3. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng khung lý thuyết về việc tổ chức thực thi chương trình tiêm chủng mở rộng Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chương trình tiêm chủng mở rộng của Viện VSDT Tây Nguyên trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân của những điểm yếu trong tổ chức thực thi chương trình của Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên. Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện tổ chức thực thi chương trình tiêm chủng mở rộng trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tổ chức thực thi chương trình tiêm chủng mở rộng của Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nội dung: Nghiên cứu được giới hạn với các nội dung về tổ chức thực thi chương trình tiêm chủng mở rộng của Viện VSDT Tây Nguyên. Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Phạm vi thời gian: Số liệu được thu thập, tập hợp và phân tích trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2015, giải pháp đề xuất đến 2020.
Xem thêm

129 Đọc thêm

Mốc phát triển khả năng giao tiếp của trẻ từ 0 – 1 tuổi ppt

MỐC PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG GIAO TIẾP CỦA TRẺ TỪ 0 – 1 TUỔI

Mốc phát triển khả năng giao tiếp của trẻ từ 01 tuổi Khả năng giao tiếp là một mặt rất quan trọng trong tiến trình phát triển của bé. Khả năng này sẽ dần được hoàn thiện trong năm đầu, từ việc bé sử dụng toàn bộ cơ thể để diễn tả các cảm xúc cho đến việc bé biết dùng những câu đơn giản để diễn tả những gì mình mong muốn và giao tiếp với những người xung quanh là cả một bước tiến dài trong sự phát triển của bé. Ba tháng đầu Lúc mới sinh: Trẻ sử dụng toàn bộ cơ thể để diễn tả niềm vui hay sự đau đớn, khó chịu. 0 – 2 tuần: Sau vài ngày, bé đã có những cử động như: nhoẻn miệng cườituy nhiên bé không hướng về một ai cả. Trong vài ngày đầu tiên, bé sẽ biết cách đáp ứng lại với giọng nói của cha mẹ mình. Gần 6 tuần tuổi: Nụ cười đầu tiên có ý nghĩa về mặt xã hội, bé cười bằng tất cả khuôn mặt. Từ 7 tuần tuổi trở đi: Trẻ đã tập nói các nguyên âm (a, e, o, u ) thường xuyên nhất là khi bé đáp ứng lại với cha mẹ. Lúc 8 tuần tuổi: Trẻ nhanh chóng học được quy luật chờ đến lượt mìnhmới nói. Bé yên lặng khi cha mẹ trò chuyện, tiếp đó khi cha mẹ ngưng nói, bé sẽ vung tay vung chân và phát ra âm thanh, giống như đến lượt bé nói vậy. Gần 12 tuần tuổi: -Bé khóc để diễn tả nhu cầu và cảm xúc của mình. Ngoài ra bé còn biết gầm gừ hay gù gù một cách tự phát nữa. -Biết mỉm cười khi được mọi người nhìn gần vào mặt và trò chuyện với bé. -Thường xuyên sử dụng cách biểu lộ cảm xúc bằng nét mặt. -Biết diễn tả rõ rệt những gì bé thích hoặc không thích. Chẳng hạn bé không thích cha mẹ làm việc gì cho bé vội vàng quá hoặc đột ngột
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tài liệu Kế họach truyền thông giáo dục sức khỏe của nghành mầm non - Phần 11 docx

TÀI LIỆU KẾ HỌACH TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA NGHÀNH MẦM NON - PHẦN 11 DOCX

II. Những điều cần lưu ý sau khi chủng ngừa Sau khi chủng ngừa có thể gặp một số phản ứng phụ sau: sốt 38 – 39°C, sưng, đỏ, đau hoặc nổi cục cứng ở nơi tiêm và một số phản ứng khác tùy theo từng loại vắc xin. Các phản ứng kể trên có thể xuất hiện sớm tức thì hoặc trong vòng 2-7 ngày,cần theo dõi trong 2 ngày sau chủng ngừa và trong mọi trường hợp đều phải được theo dõi ở các cơ sở Y tế gần nhất. III. Khi nào trẻ không chủng ngừa được: - Đang mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính. - Không chủng ngừa tiếp đối với vắc xin có phản ứng với liều tiêm trước. - Các bệnh suy giảm miễn dịch, các bệnh mạn tính triến triển, bệnh thận nặng, bệnh tim mất bù, bệnh bạch cầu cấp, các bệnh u ác tính. - Có tiền sử dị ứng, co giật bản thân hoặc gia đình… IV. Một số vấn đề có liên quan đến chủng ngừa 1. Phối hợp vắc xin: có thể chủng ngừa cùng một lúc nhiều loại vắc xin để phòng được nhiều bệnh khác nhau mà vẫn an toàn (không ảnh hưởng đến sức khỏe) và hiệu quả (đáp ứng được miễn dịch phòng bệnh cho nhiều bệnh), có thể phối hợp 1 lần 5-6 loại vắc xin. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai - Phối hợp trong 1 mũi tiêm: tiện lợi, giảm số lần tiêm. - Nhiều mũi tiêm đồng thời: bất lợi, phải đến cơ sở Y tế nhiều lần. 2. Khoảng cách giữa các mũi tiêm đối với những vaccin đa liều (viêm gan B, DTC…) - Tùy thuộc vào từng loại vắc xin. - Thông thường khoảng cách giữa các mũi tiêm tối thiểu 1 tháng là an toàn. - Cần tôn trọng khoảng cách tối thiểu. Tiêm chủng đúng lịch và đầy đủ sẽ có miễn dịch bảo vệ cơ thể sớm nhất, tuy nhiên trong nhiều trường
Xem thêm

15 Đọc thêm

CHĂM SÓC TRẺ ỐM3

CHĂM SÓC TRẺ ỐM3

lợi về kinh tế hay trẻ có bệnh trong thời gian chu sinh, dị tật bẩm sinh hay những bệnh mắc phải mạn tính.2.2. Nội dung của thăm khám 2.2.1.Đánh giá sự tăng trưởng Chiều cao và cân nặng được đánh dấu ở biểu đồ tăng trưởng vào mỗi lần thăm khám. Vòng đầu ít nhất được thăm khám đầu tiên vào lúc trẻ 12 tháng tuổi. Sự theo dõi thường xuyên có ích hơn là sự đánh giá cân nặng và chiều cao vào một lúc nào đó.2.2.2.Đánh giá sự phát triển Đánh giá sự phát triển tinh thần và những vận động nhỏ, tinh tế bằng test Denver2.2.3.Điều tra tình hình bệnh tật Phát hiện sớm bệnh tật hay là những vấn đề khác trong giai đoạn chưa có triệu chứng rõ ràng là rất quan trọng. Bố mẹ thường ghi nhận những bất thường trước khi nó có những bằng chứng hiển nhiên đối với người thầy thuốc.2.2.4. Tiêm chủng: ( Xem bài Tiêm chủng mở rộng). Nên kết hợp việc thăm khám trẻ khi trẻ được đem đến tiêm chủng3. Chăm sóc trẻ ốm3.1. Mục tiêu của chiến lược IMCI Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, mức độ nặng và tàn phế do bệnh tật, đồng thời góp phần cải thiện sự phát triển và tăng trưởng của trẻ em.3.2. Nội dung cấu thành chiến lược IMCIChiến lược IMCI bao gồm cả các biện pháp can thiệp điều trị và can thiệp dự phòng. Đối tượng trọng tâm của chiến lược là hoạt động xử trí lồng ghép các vấn đề bệnh lý và tử vong hay gặp ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi, lứa tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất do các bệnh thường gặp ở trẻ em. Chiến lược IMCI gồm 3 nội dung cấu thành:- Cải thiện kỹ năng xử trí trẻ bệnh của nhân viên y tế thông qua việc hướng dẫn áp dụng các phác đồ IMCI đã được chỉnh lý phù hợp với tình hình bệnh tật ở địa phương và các hoạt động nhằm thúc đẩy việc sử dụng chúng. - Cải thiện năng lực chung của hệ thống y tế nhằm đảm bảo việc xử trí hiệu quả các bệnh lý thường gặp ở trẻ em.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Chăm sóc trẻ em nhiễm HIV/AIDS tại gia đình và cộng đồng (kì 1) potx

CHĂM SÓC TRẺ EM NHIỄM HIV/AIDS TẠI GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG (KÌ 1) POTX

Hạch to kéo dài; Nhiễm khuẩn tái diễn, kéo dài. Khi đã khẳng định chắc chắn trẻ bị nhiễm HIV, cần chăm sóc trẻ như sau: Về tiêm chủng Trẻ nhiễm HIV khi chưa có biểu hiện triệu chứng vẫn phải cho tiêm chủng theo lịch như đối với trẻ bình thường, bao gồm: Ngay sau sinh: Tiêm vaccin phòng lao; Sau 1 tháng: Bạch hầu - uốn ván - ho gà + bại liệt; 2 tháng: Bạch hầu - uốn ván - ho gà + bại liệt; 3 tháng: Bạch hầu - uốn ván - ho gà + bại liệt; 4 tháng: Bạch hầu - uốn ván - ho gà + bại liệt; 9 tháng: Sởi. Ngoài ra, cần tiêm phòng một số bệnh hay xảy ra ở trẻ nhiễm HIV theo chỉ dẫn của bác sĩ như: thủy đậu, phế cầu. Trẻ nhiễm HIV đã có biểu hiện triệu chứng thì không tiêm phòng lao, sởi và không cho uống vaccin bại liệt. Về vệ sinh răng miệng Đối với trẻ dưới 3 tuổi: Hằng ngày dùng vải sạch nhúng nước sạch rồi lau sạch răng, lợi và miệng mỗi lần sau khi cho trẻ ăn. Nếu trẻ bị tưa miệng cần đánh tưa bằng chấm dung dịch tím gentitan tại chỗ ngày 1-2 lần. Hoặc hòa tan nystatin trong 0,5ml nước sạch rồi dùng vải mềm chấm dung dịch này lau sạch các màng tưa trắng trong miệng mỗi ngày 2 lần. Nếu trẻ vẫn bị tái phát hoặc bệnh không khỏi kéo dài trong 1-2 tuần thì cần đưa trẻ đến bệnh viện để được thăm khám và điều trị. Đối với trẻ trên 3 tuổi: Hằng ngày cho trẻ đánh răng vào buổi sáng, sau mỗi lần ăn và trước khi đi ngủ. Bàn chải và
Xem thêm

5 Đọc thêm

BỆNH SỞI VÀ VẮC XIN SỞI NHỮNG CÂU HỎI ĐÁP ĐỂ BẠN KHÔNG MẮC ‘SAI LẦM’

BỆNH SỞI VÀ VẮC XIN SỞI NHỮNG CÂU HỎI ĐÁP ĐỂ BẠN KHÔNG MẮC ‘SAI LẦM’

đầy đủ bằng chứng (phiếu, sổ tiêm chủng) chứng minh đã tiêm mũi thứ hai.7. Có nên tiêm vắc xin đối với người đã từng mắc sởi?Những trường hợp đã được xét nghiệm huyết thanh tìm IgM kháng sởi và có kết quả xét nghiệmdương tính không cần tiêm vắc xin sởi.Những trường hợp nghi ngờ mắc sởi trước đây nhưng không được chẩn đoán mắc sởi vẫn cầntiêm vắc xin sởi.8. Vắc xin có tác dụng phòng bệnh khi đã tiếp xúc với vi rút sởi không?Vi rút sởi cần thời gian để xâm nhập vào các mô cơ thể gây bệnh. Do vậy, vắc xin có thể phòngbệnh nếu tiêm trong vòng 72 giờ kể từ khi tiếp xúc.Việc tiêm vắc xin trong vòng 6 ngày kể từ khi tiếp xúc có thể phòng biến chứng nặng của bệnh.9. Lịch tiêm vắc xin sởi?Đối với tiêm vắc xin sởi trong chương trình Tiêm chủng mở rộng, áp dụng lịch tiêm chủng do BộY tế đã phê duyệt như sau:+ Trong tiêm chủng thường xuyên: Mũi thứ nhất khi trẻ 9 tháng tuổi và mũi thứ hai khi trẻ 18tháng tuổi.+ Trong tiêm chủng chiến dịch: thực hiện tiêm vắc xin cho tất cả các đối tượng trong phạm vi củachiến dịch.+ Khoảng cách tối thiểu giữa 2 mũi tiêm vắc xin sởi là 1 tháng.Đối với vắc xin tiêm chủng dịch vụ: tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tất cả các lứatuổi đều có thể tiêm vắc xin sởi.Cần tiêm mũi thứ hai vào lúc 18 tháng tuổi bởi vì: các trường hợp sau tiêm mũi thứ nhất chưa cóđáp ứng miễn dịch cần sớm được tiêm mũi thứ hai. Tiêm nhắc vắc xin DPT4 được thực hiện chotrẻ 18 tháng nên để tăng tỷ lệ trẻ tiêm mũi thứ hai vắc xin sởi cần lồng ghép hoạt động. Việc lồngghép náy nhằm làm giảm khối lượng công việc cho cán bộ y tế, giảm chi phí và tăng hiệu quảtriển khai.10. Có thể tiêm vắc xin sởi cho trẻ dưới 9 tháng tuổi hoặc trên 18 tháng tuổi không?Chỉ tiêm vắc xin sởi cho trẻ dưới 9 tháng tuổi khi có chỉ đạo của chương trình TCMR trongtrường hợp cần thiết. Tất cả các trường hợp tiêm vắc xin sởi trước 9 tháng tuổi cần tiêm ngay vắc
Xem thêm

9 Đọc thêm

Viêm màng não mủ ở trẻ em pptx

VIÊM MÀNG NÃO MỦ Ở TRẺ EM PPTX

được tiêm cùng lúc với các vacxin khác như bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt. Chúng ta nên bắt đầu cho trẻ tiêm phòng bệnh Hib 3 mũi: Lúc 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng. Sau đó nhắc lại mũi thứ tư lúc trẻ 18-24 tháng. Tuy nhiên, nếu trong thời gian trên trẻ chưa được chủng ngừa Hib, các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đến những nơi có bác sĩ chuyên khoa Nhi hoặc các trung tâm y tế dự phòng để được tư vấn vì thời gian chủng ngừa và số mũi tiêm có thể thay đổi.Chúng ta ít khi gặp tác dụng phụ sau tiêm vacxin ngừa Hib. Đã có hàng triệu liều vacxin ngừa Hib được sử dụng trên toàn cầu mà không có tác dụng phụ trầm trọng nào xảy ra. Một vài trẻ bị sưng đỏ tại nơi tiêm vacxin nhưng thường giảm sau một hoặc 2 ngày. Sốt có thể gặp nhưng thường nhẹ và hiếm khi sốt cao.Cách tốt nhất để các bậc cha mẹ bảo vệ con trẻ khỏi các bệnh lý nhiễm trùng là phòng bệnh bằng tiêm ngừa vacxin theo đúng lịch tiêm chủng. Chúng ta hãy nhớ rằng “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”.Theo BÙI QUỐC THẮNG (Trường Đại học Y dược TP.HCM)Sức khỏe & Đời sống
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tài liệu PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ pptx

TÀI LIỆU PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ PPTX

về đỡ đẻ hỗ trợ khi sinh:98% 100 Đạt40. Tỷ lệ phụ nữ đẻ và trẻ sơ sinh được chăm sóc sau sinh đạt:90% ?41. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng các loại vắc-xin phổ cập trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng theo quy định của Bộ Y tế95% ?42. Tỷ lệ trẻ em từ 6 đến 36 tháng tuổi được uống Vitamin A là 2 lần/năm:95% ?43. Tỷ lệ trẻ em dưới 2 tuổi được theo dõi tăng trưởng (cân nặng và chiều cao) 3 tháng 1 lần, trẻ bị suy dinh dưỡng theo dõi mỗi tháng 1 lần; trẻ em từ 2 đến 5 tuổi được theo dõi tăng trưởng mỗi năm 1 lần95% ?44. Tỷ lệ trẻ em <5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng/tuổi)<12% ?26/02/14 6Đối với nội dung phỏng vấn sâu (khó khăn, nguyên nhân chưa đạt, biện pháp khắc phục ):Có thể sử dụng đoạn văn tường thuật lại một vấn đề hoặc một chủ đề dưới dạng một đoạn viết văn26/02/14 7Ví dụ: Trong nghiên cứu về giới, Các cán bộ
Xem thêm

29 Đọc thêm

Đặc điểm dịch tễ học bệnh sởi tại miền Bắc giai đoạn 2008-2012 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm vắc xin sởi mũi hai ở trẻ 18 tháng tuổi

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH SỞI TẠI MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 2008-2012 VÀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH SAU TIÊM VẮC XIN SỞI MŨI HAI Ở TRẺ 18 THÁNG TUỔI

ĐẶT VẤN ĐỀ Sởi (ICD-10 B05) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút sởi gây ra. Bệnh có khả năng lây nhiễm cao và gây dịch trên quy mô lớn. Bệnh diễn biến cấp tính với các triệu chứng sốt, phát ban, ho, chảy nƣớc mũi, viêm kết mạc, nốt Koplik ở niêm mạc miệng... Bệnh gây ra các biến chứng nhƣ viêm phổi, tiêu chảy, viêm tiểu phế quản, suy dinh dƣỡng, mù loà, viêm não... và tử vong. Giai đoạn trƣớc khi có vắc xin, sởi là bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nƣớc trên thế giới với trên 90% số trẻ em dƣới 15 tuổi đã từng mắc bệnh. Sởi là nguyên nhân của 2,6 triệu ca tử vong mỗi năm. Trong hơn 50 năm qua, vắc xin sởi đã đƣợc triển khai rộng rãi tại hầu hết các nƣớc và đƣợc chứng minh là an toàn, hiệu quả. Nhờ đó đã làm giảm đáng kể số mắc và biến chứng do sởi. Số tử vong do sởi trên toàn cầu năm 2012 (122.000 ca) giảm 4,6 lần so với năm 2000 (562.400 ca) [72], [90], [106], [124]. Năm 2012, với những thành công đã đạt đƣợc trên toàn cầu và bài học của châu Mĩ, Tổ chức Y tế thế giới cùng với các quốc gia thành viên đã thống nhất đặt mục tiêu loại trừ bệnh sởi tại 5 khu vực vào năm 2020 và khẳng định chiến lƣợc hàng đầu để đạt mục tiêu là tiêm chủng 2 mũi vắc xin sởi đạt tỉ lệ cao, đảm bảo trên 95% cộng đồng có miễn dịch phòng bệnh để có thể cắt đứt sự lây truyền vi rút sởi và loại trừ bệnh sởi. Đây cũng là chủ trƣơng chung của các nƣớc và của Chính phủ Việt Nam. Đến nay, nhiều nƣớc trên thế giới đã công bố loại trừ bệnh sởi. Tuy nhiên, bệnh sởi trên thế giới vẫn là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh phòng đƣợc bằng vắc xin ở trẻ nhỏ. Dịch sởi đã quay trở lại ở một số nƣớc đã từng khống chế thành công hoặc loại trừ căn bệnh này. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh sởi trên thế giới đã thay đổi trong những năm gần đây, đặc biệt sau một thời gian dài toàn thế giới thực hiện tiêm vắc xin sởi đạt tỉ lệ cao: tính mùa và chu kỳ không còn rõ nét, thời gian giữa các vụ dịch sởi kéo dài ra, quy mô các vụ dịch bị thu nhỏ nhƣng có xu hƣớng tái diễn, lứa tuổi mắc sởi dần dịch chuyển sang lứa tuổi lớn và đặc biệt ghi nhận số mắc cao ở trẻ rất nhỏ khi chƣa đến tuổi tiêm chủng. Bởi vậy, mục tiêu loại trừ bệnh sởi vẫn còn là vấn đề thách thức trên phạm vi quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới [102], [121], [124]. Ở Việt Nam, từ năm 1984, chƣơng trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu triển khai vắc xin sởi cho trẻ 9 tháng tuổi. Sau năm 1992, tỉ lệ tiêm vắc xin sởi đạt trên 90%. Với tỉ lệ đáp ứng miễn dịch đạt khoảng 85%, nếu chỉ tiêm 1 mũi vắc xin sởi sau tiêm vắc xin sởi cho trẻ trƣớc 12 tháng tuổi thì vẫn còn khoảng 24% số trẻ sinh ra hàng năm không đƣợc bảo vệ khỏi bệnh sởi. Do vậy, từ năm 2006, vắc xin sởi mũi hai đƣợc đƣa vào lịch tiêm chủng cho trẻ 6 tuổi đồng thời với các chiến dịch tiêm chủng bổ sung quy mô lớn. Nhờ vậy, tỉ lệ mắc, chết do sởi giảm mạnh và đặc điểm dịch tễ học bệnh sởi đã thay đổi. Năm 2008, số mắc sởi giảm 368 lần so với năm 1984. Tuy nhiên, từ cuối năm 2008 đến giữa năm 2010, Việt Nam ghi nhận dịch sởi trên toàn quốc với hơn 7.000 ca mắc. Trong vụ dịch này, miền Bắc là khu vực chịu ảnh hƣởng lớn nhất. Nếu nhƣ trong các năm 2003-2007, dịch chỉ xuất hiện tại một vài tỉnh, số mắc sởi tập trung ở nhóm trẻ lớn từ 5-14 tuổi (75,1%) và ở vùng Đông Bắc Bộ thì trong các năm 2008-2012, dịch sởi xuất hiện tại hầu hết các tỉnh, phân bố số mắc sởi theo tuổi và theo vùng tại miền Bắc đã thay đổi. Để khống chế bệnh sởi, chƣơng trình Tiêm chủng mở rộng đã thay đổi lịch tiêm mũi hai vắc xin sởi cho trẻ 6 tuổi xuống 18 tháng tuổi từ giữa năm 2011 [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [16]. Các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học và miễn dịch học bệnh sởi trên thế giới đã đƣợc tiến hành từ rất lâu với nhiều quy mô khác nhau. Đã có một số nghiên cứu về dịch tễ bệnh sởi tại Việt Nam nói chung và tại một số tỉnh miền Bắc nói riêng trong các thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX [29], [35], [36], [38], [45], [48]. Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào về đặc điểm dịch tễ bệnh sởi tại miền Bắc trong những năm gần đây cũng nhƣ đánh giá đáp ứng miễn dịch của lịch tiêm chủng vắc xin sởi mũi hai trong chƣơng trình TCMR vào lúc 18 tháng tuổi ở trẻ em Việt Nam. Mục tiêu loại trừ bệnh sởi đang đến gần, trƣớc tình hình dịch sởi nghiêm trọng tái xuất hiện và nguy cơ tiếp tục quay trở lại mặc dù đã triển khai các hoạt động tăng cƣờng tiêm chủng vắc xin sởi đặt ra cho chúng ta những câu hỏi: Trong những năm gần đây dịch tễ học bệnh sởi tại miền Bắc có đặc điểm gì? đối tƣợng nào có nguy mắc bệnh? những yếu tố nào tạo tiền đề cho vụ dịch sởi trong thời gian gần đây? các biện pháp can thiệp nào cần thực hiện để cắt đứt sự lây truyền của vi rút sởi? lịch tiêm chủng vắc xin sởi mũi 2 vào lúc tẻ 18 tháng tuổi có tạo đƣợc miễn dịch ở mức độ cần thiết hay không?... Những hiểu biết có đƣợc qua kết quả nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ học bệnh sởi tại miền Bắc giai đoạn 2008-2012 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm vắc xin sởi mũi hai ở trẻ 18 tháng tuổi” để góp phần giải đáp câu hỏi trên và sẽ là cơ sở khoa học góp phần hoạch định chính sách nhằm giảm nhanh, giảm bền vững tỉ lệ mắc, chết do sởi, tiến tới loại trừ căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm này tại Việt Nam. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nêu trên với các mục tiêu cụ thể sau: 1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh sởi tại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2008- 2012. 2. Xác định đáp ứng miễn dịch sau tiêm vắc xin sởi mũi hai của chƣơng trình Tiêm chủng mở rộng trẻ 18 tháng tuổi tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Xem thêm

187 Đọc thêm

Mang thai có nên tiêm phòng Rubella? ppsx

MANG THAI CÓ NÊN TIÊM PHÒNG RUBELLA? PPSX

Mang thai có nên tiêm phòng Rubella? Bệnh Rubeon là một bệnh sốt phát ban do virut Rubella gây nên. Nếu mắc bệnh trong thời kỳ có thai, đặc biệt 3 tháng đầu, sẽ có nguy cơ con sinh ra mắc hội chứng Rubella bẩm sinh (CRS) với một số dị tật liên quan đến mắt, tai, não Về bản chất, bệnh thường không nguy hiểm với người lớn vì các triệu chứng thường nhẹ. Sau khi mắc bệnh sẽ có miễn dịch suốt đời. Tuy nhiên, do yếu tố nguy cơ với thai nhi nên cần đuợc tiêm phòng. Tại nhiều nước, vắc xin Rubella được tiêm cho trẻ em trên một tuổi, phối hợp với vắc xin quai bị và vắc xin sởi. Hiện tại vắc xin phối hợp này đã có ở Việt Nam. Khi tiêm chủng vắc xin Rubella cho phụ nữ tuổi sinh đẻ, Ủy ban tư vấn thực hành tiêm chủng Hoa Kỳ (ACIP) khuyến nghị cán bộ tiêm chủng phải hỏi người phụ nữ định tiêm vắc xin xem đang có thai hay không hoặc có dự định có thai trong 4 tuần tới không. Phụ nữ có thai hoặc dự định có thai trong vòng 4 tuần không nên tiêm vắc xin Rubella vì vẫn tồn tại một nguy cơ rất nhỏ về mặt lý thuyết cho thai nhi.
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP NUÔI TRẺ MAU LỚN, THÔNG MINH

PHƯƠNG PHÁP NUÔI TRẺ MAU LỚN, THÔNG MINH

GIỚI THIỆU3NHỮNG MÓN ĂN ĐẦU TIÊN3GIAI ĐOẠN 1:11NHỮNG HƯƠNG VỊ ĐẦU TIÊN – VỚI TRẺ 4 THÁNG TUỔI11GIAI ĐOẠN 2: VỚI TRẺ TỪ 5 ĐẾN 6 THÁNG TUỔI13GIAI ĐOẠN 3: VỚI TRẺ TỪ 6 ĐẾN 9 THÁNG TUỔI.21GIAI ĐOẠN 4: VỚI TRẺ TỪ 9 THÁNG ĐẾN 12 THÁNG TUỔI.29GIAI ĐOAN 5: TRẺ TRÊN 1 TUỔI40

45 Đọc thêm

Dạy con kiểu Nhật giai đoạn 0 tuổi

DẠY CON KIỂU NHẬT GIAI ĐOẠN 0 TUỔI

Dạy Con Kiểu Nhật Giai Đoạn Trẻ 0 TuổiMọi đứa trẻ sinh ra đều có thể trở thành thiên tài nếu chúng nhận được sự giáo dục đúng cách từ sớm. Và cha mẹ những bậc sinh thành, tiếp xúc thường xuyên nhất với trẻ là người có thể thực hiện việc này tốt hơn cả. Việc giáo dục trẻ cần được bắt đầu ngay từ khi bé chưa được 1 tuổi chứ không phải đợi đến lúc lớn lên. Đó không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn bởi vào giai đoạn này, bạn có thể dạy con mình ngay từ chính những hoạt động tiếp xúc khi bạn cưng chiều hay vui đùa với bé.Cuốn sách “Dạy Con Kiểu Nhật Giai Đoạn Trẻ 0 Tuổi” sẽ giúp những ông bố, bà mẹ tương lai tìm ra và ứng dụng hiệu quả phương pháp nuôi nấng những thiên thần của mình trưởng thành vững chắc và phát triển đầy đủ mọi tiềm năng của bé. Nó chứa đựng những kiến thức cơ bản, được diễn đạt dễ hiểu về đặc điểm sinh học của bé trong giai đoạn trước khi đầy năm. Từ những kiến thức nền tảng ấy, tác giả cung cấp cho các bậc phụ huynh những bài học, trò chơi thú vị để rèn luyện năng lực trí tuệ và phản xạ cho trẻ. Cuốn “Dạy Con Kiểu Nhật Giai Đoạn Trẻ 0 Tuổi” nằm trong bộ 3 cuốn sách dạy con của giáo sư Kubota Kisou (hai cuốn còn lại là: DẠY CON KIỂU NHẬT – GIAI ĐOẠN TRẺ 1 TUỔI và DẠY CON KIỂU NHẬT – GIAI ĐOẠN TRẺ 2 TUỔi).Đây là bộ sách cần có trong tủ của bất cứ ông bố, bà mẹ nào muốn tạo dựng nền móng ban đầu tốt nhất cho con em mình.
Xem thêm

55 Đọc thêm

VĂC XIN PHÒNG BỆNH BẠCH HẦU - HO GÀ UỐN VÁN pdf

VĂC XIN PHÒNG BỆNH BẠCH HẦU - HO GÀ UỐN VÁN PDF

Số liều tiêm chủng văc xin: tối thiểu 3 liều, với lịch tiêm như sau:  Trẻ 2 tháng tuổi tiêm mũi 1  Trẻ 3 tháng tuổi tiêm mũi 2  Trẻ 4 tháng tuổi tiêm mũi 3 TRANG 2 Những phản ứng sau [r]

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề