TIẾP NHẬN VĂN XUÔI VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TIẾP NHẬN VĂN XUÔI VIỆT NAM":

Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga potx

NHỮNG YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM QUA SO SÁNH VỚI VĂN XUÔI NGA POTX

văn học thế giới bằng nhiều “kênh” khác nhau, cực kì không thuần nhất - cũng kháctrước.Nền văn học Việt Nam “khác trước” hình thành trên cơ sở tâm thức mới của thờiđại, đòi phê bình, lí luận phải có tâm thức ấy để nhìn nhận, định giá trị. Và đương nhiên,các nguyên tắc phê bình, “bộ công cụ” mổ xẻ văn học hiện thực cổ điển và HTXHCNcũng không thể áp dụng đối với nền văn học mới này. Tất cả các cuộc hội thảo về lí luậnphê bình được tổ chức liên tiếp ở nước ta trong vài năm vừa qua, cùng các chuyên luận,bài viết và những cuộc cãi vã trên diễn đàn, suy cho cùng, chính là để xác định cái tâmthức ấy và tìm tòi những phương thức tiếp cận phù hợp với một nền văn học đangchuyển mình.Trong bối cảnh chung, tìm những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Namtrong tương quan so sánh với văn xuôi hậu hiện đại Nga - một khuynh hướng đã đượcxác định, là một trong những thể nghiệm, một mặt, nhằm khẳng định văn học hậuHTXHCN Việt Nam là một hệ hình văn học mới bao gồm những khuynh hướng sángtác khác nhau đặc trưng cho nền văn học phát triển tăng tốc, mặt khác, giúp hình thànhmột cách đọc mới với cái nhìn và tâm thế hậu hiện đại, đặng có thể “giải mã” một sốsáng tác văn học Việt Nam đương đại hiện đang được coi là những “hiện tượng”.1. Những đặc điểm chung của văn học hậu hiện đại.Trước khi tìm hiểu những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam, chúng tacần phải hiểu hậu hiện đại là gì và văn học hậu hiện đại nói chung có những đặc điểm gì.V vn c bn ny ó cú nhiu nh nghiờn cu nc ngoi cp ti v ara nhng nhn nh sõu sc, thuyt phc. Chỳng tụi cng ó cú dp trỡnh by cỏch hiuca mỡnh v ch nghió hu hin i, mi liờn quan ca nú vi ch ngha hin i, cựngnhng phõn tớch c th sỏng tỏc ca cỏc nh vn, nh th hu hin i Nga, ng trờntp chớ Nghiờn cu vn hc v mt s tp chớ, sỏch bỏo khỏc. õy chỳng tụi ch túmtt mt s im ch yu ngi c tin theo rừi.Mt cỏch khỏi quỏt nht, cỏc hc gi ó xỏc nh hu hin i l mt giai onlch s xó hi quy nh hỡnh thỏi vn hoỏ, tng th nhng phong tro lớ lun v sỏng tỏcth hin tõm thc bao trựm (mentalite) ca thi i, cm quan th gii v con ngi, sỏnh giỏ kh nng nhn thc v vai trũ, v trớ ca con ngi trong thc ti. Tinh thn hu
Xem thêm

10 Đọc thêm

Những yếu tố Hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga ppsx

NHỮNG YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM QUA SO SÁNH VỚI VĂN XUÔI NGA PPSX

rừ rt. Trong cuc th nghim ny, hi vng, ging nh cỏc th h nh vn n anh, h cngs lm c iu gỡ ú mi m cho vn hc, lm giu thờm h thng thi phỏp mi ó thnhhỡnh, y nhanh hn na vn hc dõn tc vo giũng chy chung ca vn hoỏ th gii.Kt lun:- Hậu hiện đại là một khuynh hướng lớn trong văn học thế giới, nên việc xuất hiệnnhững yếu tố hậu hiện đại trong văn học Việt Nam là điều dễ hiểu.- Hướng tiếp cận so sánh loại hình cho phép “đọc khác” những tác phẩm văn họcđương đại, qua đó nhận diện rõ hơn những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam haithập niên vừa qua, thấy được sự tìm tòi, thể nghiệm của các nhà văn, đặc biệt các nhà văn trẻViệt Nam, nhằm tạo dựng được một thứ văn học mới có khả năng soi chiếu những vấn đề vàcác góc tối của thời đại họ đang sống.- Nếu thể nghiệm này thành công, thì đây cũng là một đóng góp cho việc nghiên cứuvăn học hậu hiện đại nói chung, bằng cách đưa ra những đặc trưng riêng biệt của các yếu tốhậu hiện đại trong văn học dân tộc giai đoạn hai thập niên vừa qua
Xem thêm

10 Đọc thêm

VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

ông Thuấn vị tớng về hu - đợc kể lại qua lời của ngời con trai tên là Thuần. Sau khi về hu, ông Thuấntrở lại cuộc sống sinh hoạt thờng ngày cùng với gia đình song trong cuộc sống đó đã xuất hiện rất nhiềunhững mâu thuẫn đối nghịch. Rõ nét nhất là mâu thuẫn giữa ông và ngời con dâu tên Thủy. Từ chiến tr-ờng trở về sau nhiều năm chiến đấu và cống hiến, ông Thuấn là ngời của thế hệ trớc, sống giản dị, chânthành, có đạo đức. Còn Thủy lại là ngời của thế hệ mới, sống hiện đại, thực dụng, thiếu tình ngời. Sự đốilập, thậm chí là xung khắc mạnh mẽ giữa hai thế hệ, giữa hai luồng suy nghĩ và cách sống đã khiến ông t-ớng ấy không hề có một cuộc sống th thái khi về hu. Rồi ông lại vào quân đội và mất ở đó. Câu chuyệnchỉ xoay quanh những vấn đề rất đời thờng của cuộc sống nhng qua ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp, tácphẩm đã đặt ra một vấn đề của xã hội, đó chính là sự tha hóa về đạo đức lối sống của những con ngờitrong xã hội hiện đại. Đồng thới tác phẩm đã dóng lên một hồi chuông cảnh tỉnh kêu gọi con ngời hãygiữ gìn những gì là đẹp đẽ của quá khứ.5. Lê Lựu (sinh 1942)Cũng là một tên tuổi tiêu biểu trong số những nhà văn đã thành công trong văn xuôi Việt Namsau 1975, Lê Lựu đã từng tâm sự : Toàn bộ những trang viết chỉ theo đuổi một nguyên tắc là thật. Tôikhông thể viết đợc nếu không bám vào sự thật. Tôi chỉ là ngời kể chuyện có gì viết nấy.Với gần 400 trang sách, tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu thể hiện một khuynh hớng tiểuthuyết, một nhu cầu của văn học nhận thức lại thực tại. Có thể nói, lần đầu tiên trong văn học mới,lịch sử một dân tộc đợc khái quát bằng tiểu thuyết, qua số phận ngời nông dân, bằng bi kịch của một cánhân Giang Minh Sài. Ngời ta nói, với Thời xa vắng, Lê Lựu trở thành nhà văn nông thôn, kế sauNam Cao, Kim Lân nghĩa là nhìn ngời nhà quê bằng con mắt của ngời nhà quê.KTĐi qua một hành trình khá dài với nhiều sự kiện hấp dẫn, thu hút mối quan tâm rộng rãi củadư luận, nhiều cá tính nghệ sĩ độc đáo tạo ra những tiếp cận trái chiều, phức tạp, con đường đổi mớicũng như định hình các giá trị của văn xuôi Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn. Nhưng không có sự đổimới nào dễ dàng bởi cái mới ra đời bao giờ cũng gây hấn với truyền thống, chỉ khi đạt đến độ chín, nómới tự hòa giải được. Với thời gian phát triển vừa qua, văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng có không ítcực đoan, ngộ nhận hay thể nghiệm lạc hướng. Nhưng rõ ràng, nó đã có một diện mạo mới mẻ, hiệnđại, sinh động và phong phú hơn nhờ tâm huyết và tài năng của những người cầm bút. Cần có thêmthời gian để các giá trị lắng kết ổn định cũng như cần có sự khích lệ và nâng cao tầm đón đợi từ phíangười đọc để thúc đẩy quá trình phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975

SỰ ĐA DẠNG THẨM MĨ CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

nghiệm đến cùng cái tự do tất yếu. T tởng lạc quan mới cần phải đợc khai phóng từ tinh thần hớng thợng cất lên từ những tình huống éo le, nghiệt ngã nhất của nhân sinh, trên một nền tảng ý thức chủ động. 3.1.3. Cái nhìn số phận và những kiểu dạng tiêu biểu Bi kịch trong văn xuôi Việt Nam chủ yếu là những bi kịch số phận. ở tiểu thuyết của Phạm Thị Hoài, sau này là Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phơng hay trong phần lớn truyện của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái hoặc là cảm hứng về cái phi lí còn cha gắn với những ý niệm trọn vẹn, hoặc là chủ yếu tồn tại trong sự chuyển hoá hài hớc. Kiểu t duy siêu hình không phải sở trờng của phơng Đông. Hơn nữa, dù chủ ý vợt thoát thì nhà văn của chúng ta khó lòng mà dứt ra khỏi vô thức hiện thực chủ nghĩa. Tất nhiên, bi kịch số phận cũng có nhiều sắc thái. Có thể dựa vào tính chất của xung đột, cũng là hạt nhân chủ đề của cái bi để bớc đầu phân loại thành các dạng sau đây. 3.1.3.1. Bi kịch x hội Số phận cá nhân, cái phần đời t nhiều đau khổ của con ngời thờng gắn với cảm hứng thế sự. Bi kịch xã hội thờng đi liền với môtip sắm vai. Trong bối cảnh đời sống xã hội hậu chiến, bi kịch sắm vai thể hiện mối bất hoà, phần nào là sự cự tuyệt, của cuộc sống hoà bình với những nhân cách đợc định hình bởi chiến tranh và những vai sống, những nghịch cảnh mà chiến tranh đã nghiệt ngã sắp đặt: Tớng Thuấn (Tớng về hu), Hai Hùng, Ba Sơng (Ăn mày dĩ vãng), Thai (Cỏ lau) Tuy nhiên, môtip sắm vai còn mang ý nghĩa nhân sinh phổ quát, là vấn đề đặc biệt sâu sắc đối với những nơi đời sống vốn đợc tổ chức bởi những ràng buộc văn hoá đề cao tính cộng đồng: Thời xa vắng, Bớc qua lời nguyền, Chuyện tình kể trớc lúc rạng đông Tình yêu, hạnh phúc, niềm tin, đạo lí đó là những giá trị thờng bị đem ra mà xé nát, mà đập vỡ trong những bi kịch xã hội. Bi kịch xã hội còn đợc thể hiện ở kiểu hình tợng ngời nghệ sĩ nh là cái chết của sáng tạo, của tài năng, nhân cách: Bức tranh của Nguyễn Minh
Xem thêm

27 Đọc thêm

Giúp học sinh nắm chắc tác phẩm tự sự văn xuôi Việt Nam bằng sơ đồ hình vẽ và hệ thống câu hỏi trong chương trình Ngữ văn 8

GIÚP HỌC SINH NẮM CHẮC TÁC PHẨM TỰ SỰ VĂN XUÔI VIỆT NAM BẰNG SƠ ĐỒ HÌNH VẼ VÀ HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

PHÒNG GD……………… CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTrường THCS……………………… Độc lập - Tự do - Hạnh phúc o0o  GIÚP HỌC SINH NẮM CHẮC KIẾN THỨCTÁC PHẨM TỰ SỰ VĂN XUÔI VIỆT NAMBẰNG SƠ ĐỒ HÌNH VẼ VÀ HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8Người thực hiện : Chức vụ : Đơn vò công tác : Nhiệm vụ được giao : I/ ĐẶT VẤN ĐỀ :Tác phẩm văn chương là một tổ chức tinh vi, là một cấu trúc phức tạpnhiều tầng, là sự kết hợp hữu cơ giữa khách quan được phản ánh với chủquan biểu hiện của tác giả, hay nói cách khác, đó là sự kết hợp hữu cơ giữalớp vỏ âm thanh (vật chất, lớp hình) và lớp nghóa của hình (nội dung). Sựcảm thụ tác phẩm văn chương là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính cụthể, từ cảm nhận trực tiếp lớp hình đến sự phân tích khái quát được nghóacủa lớp hình, của các yếu tố nghệ thuật và nội dung của tác phẩm.Đối với học sinh phổ thông nói chung và học sinh lớp 8 nói riêng, chỗmạnh của các em là sự cảm nhận trực tiếp, là sự cảm thụ tươi mát, là sựphong phú về trí tưởng tượng. Tuy nhiên, ở giai đoạn cảm nhận lý tính, cósuy ngẫm thì các em hầu hết đều bộc lộ rõ điểm yếu. Người giáo viên giảngdạy văn học do đó, phải tìm ra hình thức, biện pháp gợi mở, dẫn dắt tìm tòi,khám phá, nâng dần lên nhận thức quan niệm tính về tác phẩm văn chươngở học sinh.Để thực hiện được điều đó, người giáo viên giảng dạy văn học phảikết hợp được tất cả các thao tác, các phương pháp tối ưu có thể trong một tiết giảng dạy. Đó là sự kết hợp giữa hệ thống câu hỏi, các kênh hình, cácsơ đồ liên kết … để giúp các em có thể nắm chắc kiến thức, phát huy đượctính tự chủ, sáng tạo trong việc tìm tòi, khám phá nội dung của tác phẩm.
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐẶC TRƯNG THƠ VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

ĐẶC TRƯNG THƠ VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Đặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đạiĐặc trưng thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại
Xem thêm

Đọc thêm

HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

loại có tính công cụ - hành chính (như chiếu, hịch, cáo, biểu, luận ), rồi mới đến các thể loại văn chương nghệ thuật (như truyện, ký, thơ, phú). Bên cạnh các thể được tiếp nhận từ Trung Hoa, văn học trung đại Việt Nam cũng sáng tạo ra những thể loại đặc thù, phần lớn có cội nguồn từ văn học dân gian và đều được viết bằng chữ Nôm, như: Truyện thơ, ngâm khúc, hát nói, tuồng Vào đầu thế kỷ XX, trên đất nước ta đang diễn ra những chuyển biến lớn lao trong đời sống xã hội và đời sống văn hóa, tinh thần. Hoàn cảnh ấy tạo cơ sở làm nảy sinh yêu cầu đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại hóa. Một trong những nội 8 dung quan trọng của hiện đại hóa văn học là biến đổi các thể loại văn học theo hướng hiện đại. Trong giai đoạn giao thời, khoảng vài chục năm đầu thế kỷ, các thể loại quen thuộc trong văn học trung đại vẫn còn được các tác giả xuất thân Nho học sử dụng, nhưng đã có ít nhiều biến đổi và nhường chỗ dần cho các thể loại mới xuất hiện chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây. Từ những năm 30, bức tranh thể loại của nền văn học đã biến đổi hẳn với một hệ thống thể loại mang tính hiện đại đã thực sự hình thành và phát triển khá hoàn thiện. Kịch nói được du nhập từ phương Tây đã bổ sung một thể loại sân khấu hiện đại bên cạnh các thể kịch hát truyền thống (tuồng, chèo). Sự phát triển của báo chí đã thúc đẩy thể phóng sự ra đời. Phê bình văn học được phát triển và trở thành một hoạt động chuyên biệt, tham gia tích cực vào đời sống văn học. Các thể loại văn xuôi tự sự có sự biến đổi nhanh chóng và sâu rộng. Vào cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên và sang đầu thế kỷ XX có cả một phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ. Các tiểu thuyết quốc ngữ hồi này còn mang nhiều dấu vết của văn xuôi tự sự trung đại, nhưng đã có những yếu tố mới, đặc biệt là việc đưa những hình ảnh, sự việc con người của cuộc sống ở
Xem thêm

132 Đọc thêm

Quá trình hình thành và phát triển của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN XUÔI QUỐC NGỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

Vũ Trọng Phụng). Bên cạnh đó, văn xuôi giai đoạn này bớc đầu đã thể hiện tính hiện đại khi mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm - độc giả đã đợc thiết lập, dù mới ở dạng phiến diện. Chú ý đến công chúng độc giả là một trong những tiêu chí để khẳng định quá trình hiện đại hoá của văn học. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc, một đời sống văn học sôi động đã diễn ra ở Nam kỳ với sự lên ngôi của các thể tiểu thuyết: kỳ tình võ hiệp, trinh thám, lãng mạn, tình cảm, đạo lý, xã hội, lịch sử Hiện tợng này đã thể hiện khả năng thích ứng và tiếp nhận cái mới một cách nhanh chóng linh hoạt của các nhà văn. Tuy nhiên, do chủ trơng thoả mãn sở hiếu tức thời của độc giả nên giá trị nghệ thuật trong mỗi tác phẩm cha đợc chú trọng. Đồng thời văn xuôi giai đoạn này, đặc biệt là văn xuôi Nam kỳ cũng chịu ảnh hởng quy luật cung cầu của thị trờng, chú ý nhiều đến giá trị giải trí, ít quan tâm trau chuốt nghệ thuật và t tởng. Hầu hết các văn gia Nam kỳ đều dừng lại trớc 1932 mà không tiến sâu đợc vào văn học giai đoạn sau khi chủ nghĩa hiện thực phê phán xuất hiện. Hơn nữa, dù đa dạng về thể loại, nhng cũng phải thừa nhận 22 một thực tế, văn xuôi giai đoạn này cha có những đỉnh cao về thành tựu, đa số các tác phẩm mới dừng lại ở sự mô phỏng hình thức, lắp ghép cốt truyện, cha thẩm thấu đợc tinh hoa dân tộc và nớc ngoài ở những tầng bậc sâu. Từ đây có thể rút ra những bài học thực tế về quá trình kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp nhận tinh hoa nớc ngoài. Đó là kế thừa và tiếp nhận một cách quan liêu duy ý chí hay tự do theo ý thích đều là bất cập. Nhân tố truyền thống - đặc biệt là tinh hoa dân tộc cần phải đợc duy trì, bồi đắp nh một thứ hồn cốt, một nét bản chất nhng không phải là ở mặt thủ cựu, bảo thủ. 5. Cùng với sự xuất hiện của văn xuôi quốc ngữ, một kiểu
Xem thêm

13 Đọc thêm

CẢM HỨNG NHẬN THỨC LẠI TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI SAU 1975 (Từ Nắng đồng bằng đến Ăn mày dĩ vãng)

CẢM HỨNG NHẬN THỨC LẠI TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI SAU 1975 (TỪ NẮNG ĐỒNG BẰNG ĐẾN ĂN MÀY DĨ VÃNG)

CẢM HỨNG NHẬN THỨC LẠI TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI SAU 1975 (Từ Nắng đồng bằng đến Ăn mày dĩ vãng) Chương I: Cảm hứng nhận thức lại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975. Chu Lai trong sự đổi mới văn xuôi viết về chiến tranh. 1. Bối cảnh lịch sử - văn hóa xã hội của khuynh hướng nhận thức lại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 1.1. Bối cảnh lịch sử 1.2. Bối cảnh văn hóa – xã hội 1.3. Một số biểu hiện của khuynh hướng nhận thức lại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 2. Chu Lai trong dòng chảy đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Chương II: Cảm hứng nhận thức lại trong tiểu thuyết Chu Lai từ phương diện Nội dung qua hai tiểu thuyết “Nắng đồng bằng” và “Ăn mày dĩ vãng” 1. Nhận thức lại đời sống 1.1. Chiến tranh với những mất mát, hi sinh 1.2. Hiện thực đời sống với những bi kịch 2. Nhận thức lại thân phận con người 2.1. Chiến tranh với thân phận con người 2.2. Hiện thực đời sống xã hội với thân phận con người Chương III: Cảm hứng nhận thức lại trong tiểu thuyết Chu Lai từ phương diện Nghệ thuật 1. Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật 2. Tổ chức kết cấu và tạo dựng điểm nhìn 2.1. Kết cấu nghệ thuật 2.2. Điểm nhìn trần thuật 3. Ngôn ngữ nghệ thuật 3.1. Ngôn ngữ đối thoại 3.2. Ngôn ngữ độc thoại 4. Giọng điệu 4.1. Giọng cảm thông 4.2. Giọng triết luận 4.3. Giọng mỉa mai, châm biếm
Xem thêm

76 Đọc thêm

con nười trong truyện ngắn sau 1975

CON NƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975

Con người trong truyện ngắn sau 1975:Chỉ có sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người mới tạo ra sự đổi mới toàn diện của văn xuôi. Quan niệm nghệ thuật về con người được xem như là cách tân quan trọng nhất của văn học nói chung ở mọi thời kỳ. Văn xuôi từ sau 1975 đến nay, quan niệm nghệ thuật về con người đang dần hướng về con người cá nhân, con người của những số phận riêng tư trong mối quan hệ nhiều chiều của đời sống xã hội. Nhờ đó các nhân vật tồn tại như một nhân cách, chứ không còn là một ý niệm. Và nó đã trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật mị trong truyện ngắn " Vợ Chồng A Phủ"

PHÂN TÍCH SỨC SỐNG TIỀM TÀNG CỦA NHÂN VẬT MỊ TRONG TRUYỆN NGẮN " VỢ CHỒNG A PHỦ"

Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại.. đang phơi phới sống về những ngày trước.[r]

3 Đọc thêm

Tiếp nhận M. Sôlôkhôp ở Việt Nam

TIẾP NHẬN M. SÔLÔKHÔP Ở VIỆT NAM

nhà văn, họ nhận ra sai lầm từ những nhân vật của ông. Đúng như kết luận của tác giả bài viết "M. Sôlôkhôp đã để lại trong trái tim người đọc một chân trời rộng mở, soi sáng mọi tâm hồn biết vì sự nghiệp chung mà tiến mãi không ngừng" [87, 6]. Không chỉ tiếp nhận các sáng tác của M. Sôlôkhôp qua việc đọc, đông đảo quần chúng Việt Nam còn biết tới ông qua những bộ phim được xây dựng từ tác phẩm của nhà văn. Có nhiều bài viết: Con người Xô viết, con người Nga trong phim Liên Xô (Nguyễn Tuân - 1959); Thêm đôi suy nghĩ về tháng phim Liên Xô (Nguyên Ngọc - 1959); Phim Sông Đông êm đềm - một tác phẩm điện ảnh giá trị của Liên Xô (Trịnh Mai Diêm - 1959); Xem phim Đất vỡ hoang (Mai Ngữ - 1962); Khi văn chương nghệ thuật trở thành tài sản chung của xã hội (Nhân xem lại phim Sông Đông êm đềm) (Dương Hà - 1994), Nhà văn và đạo diễn (Kỷ niệm 10 năm ngày mất M. Sôlôkhôp) và Số phận con người (Cao Thụy - 1994, 1996)… đã tái hiện thái độ tiếp nhận của độc giả Việt Nam với sáng tác của M. Sôlôkhôp qua điện ảnh. Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng: "phim Số phận con người được đông đảo khán giả chờ đợi nhiệt tình… [295, 89]. Nhà văn Mai Ngữ cũng tái hiện: "người xem, kể cả người đã hoặc chưa đọc tiểu thuyết của M. Sôlôkhôp đều rất coi trọng giá trị bộ phim lớn này…" [175,104]. Còn theo tác giả Nguyên Ngọc thì có không ít khán giả chỉ thích thú với một số chi tiết "đánh nhau rất ác", "yêu nhau rất hăng". Họ không nhìn ra: "bài học lớn: sự tất thắng vẻ vang của cách mạng, sự tan vỡ vô cùng bi đát của những kẻ mù quáng…" [171, 73]. Ông lí giải, do "chưa được hiểu đầy đủ trong một số người xem, nhất là ở thành phố…"[171, 73] nên đã dẫn đến tình trạng trên. Như vậy, từ những năm 60 của thế kỉ XX, sự tiếp nhận M. Sôlôkhôp ở Việt Nam đã không còn chỉ bó hẹp trong một bộ phận độc giả đọc các tác phẩm của nhà văn mà còn mở rộng tới những đối tượng mới là khán giả - người xem phim. Tuy nhiên, qua ý kiến của Nguyên Ngọc, chúng tôi cũng nhận thấy - dù không trực tiếp - nhưng những điều ông nêu ra có liên quan đến vấn đề tầm đón nhận của chủ thể tiếp nhận đối với các tác phẩm của M. Sôlôkhôp. Và mặc dù tầm đón nhận của công chúng còn ở nhiều cấp độ khác nhau nhưng có thể khẳng định: M. Sôlôkhôp là nhà văn được công chúng Việt Nam rất yêu thích. Các tác phẩm của ông được nhiều đối tượng độc giả đón nhận, nó thực sự đi vào đời sống tinh thần của họ. Ảnh hưởng từ tác phẩm của Sôlôkhôp với văn xuôi Việt Nam lần đầu được đề
Xem thêm

174 Đọc thêm

VĂN 9 TD

VĂN 9 TD

Nguyễn Dữ(?-?)- Là con của Nguyễn Tướng Phiên (Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27, đời vua Lê Thánh Tông 1496). Theo các tài liệu để lại, ông còn là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.- Quê: Huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương.b) Tác phẩm* Truyền kỳ mạn lục: Tập sách gồm 20 truyện, ghi lại những truyện lạ lùng kỳ quái.Truyền kỳ: là những truyện thần kỳ với các yếu tố tiên phật, ma quỷ vốn được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.Mạn lục: Ghi chép tản mạn.Truyền kỳ còn là một thể loại viết bằng chữ Hán (văn xuôi tự sự) hình thành sớm ở Trung Quốc,được các nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trên những chuyện có thực về những con người thật, mang đậm giá trị nhân bản, thể hiện ước mơ khát vọng của nhân dân về một xã hội tốt đẹp.-Chuyện người con gái Nam Xương kể về cuộc đời và nỗi oan khuất của người phụ nữ Vũ Nương, là một trong số 11 truyện viết về phụ nữ.- Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương” tại huyện Nam Xương (Lý Nhân- Hà Nam ngày nay).c) Chú thích(SGK)2. Tóm tắt truyện- Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, tính hay đa nghi).- Trương Sinh phải đi lính chống giặc Chiêm. Vũ Nương sinh con, chăm sóc mẹ chồng chu đáo. Mẹ chồng ốm rồi mất.- Trương Sinh trở về, nghe câu nói của con và nghi ngờ vợ. Vũ Nương bị oan nhưng không thể minh oan, đã tự tử ở bến Hoàng Giang, được Linh Phi cứu giúp.- Ở dưới thuỷ cung, Vũ Nương gặp Phan Lang (người cùng làng). Phan Lang được Linh Phi giúp trở về trần gian - gặp Trương Sinh, Vũ Nương được giải oan - nhưng nàng không thể trở về trần gian.3. Đại ý.Đây là câu chuyện về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, đức hạnh dưới chếđộ phụ quyền phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, bị đẩy đến
Xem thêm

23 Đọc thêm

NHỮNG ĐỀ XUẤT CÁCH TÂN THỂ LOẠI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

NHỮNG ĐỀ XUẤT CÁCH TÂN THỂ LOẠI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

cá nhân, hoặc nói con người là tổng hoà các quan hệ… đều là diễn đạt cách khác về cái ý ấy! Sự tổ hợp cái nhiều mặt, hoặc tập hợp những cái tôi, hoặc tổng hoà các quan hệ… nếu nhìn một cách mô hình, chính là kiến tạo theo nguyên tắc lập phương phức hợp cái chỉnh thể toàn vẹn tương đối của tính cách, bao gồm những phiến dẹt tính cách cụ thể mà nó có. Văn học nghiên cứu con người là khám phá tái hiện cái tính cách người của nó, thì ngoài việc khám phá từng mặt, từng cái tôi, từng quan hệ…, tức là từng phiến tính cách riêng biệt, còn phải khám phá tái hiện nó trong trạng thái lập phương phức hợp (lập thể) mang thuộc tính không gian trừu tượng của sự toàn vẹn chỉnh thể nữa – cái thuộc tính không gian nói đây chỉ là sự đồng hiện thời gian, hay là sự tồn tại cùng lúc, nhiều nét nhiều mặt khác nhau của tính cách con người đó thôi! Đó chính là tư duy về nhân vật và thi pháp nhân vật của tự sự hiện đại mà tiêu biểu là tiểu thuyết văn xuôi như một thể loại. Vì vậy, đó cũng là định hướng lớn, khách quan của mọi tiến bộ tất yếu về nghệ thuật trong lịch sử văn học.Mỗi tính cách trong LVT, nếu nhìn riêng rẽ cô lập, là một nhân vật, một người. Nhưng nhân vật trong LVT không xuất hiện đơn lập, mà song lập: mỗi nhân vật chính không xuất hiện một mình, mà bao giờ cũng gọi ra một nhân vật đối lập, cùng xuất hiện với nó thành một cặp. Có Nguyệt Nga thì lập tức có Thể Loan, Tử Trực xuất hiện thì cũng xuất hiện ngay Bùi Kiệm(12)… Trong truyện, sự xuất hiện song lập ấy phổ quát như một cơ chế, đi vào tiếp nhận của độc giả, người đọc cảm thụ nhân vật truyện theo từng cặp như vậy. Tôi gọi đó là cơ chế nhân vật đồng hiện song lập, chỉ có ở LVT. (Trong cổ tích và một số truyện thơ đôi khi có đồng hiện song lập: Tấm >/< Cám, Thạch Sanh >/< Lý Thông, Bá Cao >/< Lư Kỷ, v.v… nhưng đó là sự liên tưởng tự do của độc giả, chứ không thành cơ chế cấu tạo do tác giả ấn định).Cơ chế nhân vật đồng hiện song lập, cùng với nguyên tắc cấu tạo cặp đôi nhân vật hai thái cực ở trên, cho phép ta nói tới các tính cách song lập đối cực ở mỗi cặp nhân vật (gọi tắt là tính cách song lập), phân biệt với tính cách đơn lập đơn cực ở một nhân vật, từng nhân vật riêng rẽ. Mỗi tính cách song lập hiểu như vậy sẽ là toàn bộ nét đạo đức mà cặp tính cách đó biểu thị. Từ cực bên này đến cực bên kia của tính cách song
Xem thêm

12 Đọc thêm

tính bất khả tín và hàm hồ trong văn xuôi đương đại

TÍNH BẤT KHẢ TÍN VÀ HÀM HỒ TRONG VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI

MỞ ĐẦU1.Lí do chọn đề tài1.1.Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể vẹn toàn sinh động được tạo nên bởi những nguyên tắc tư tưởng và chịu sự tác động, chi phối của quan niệm của nhà văn. Là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thế giới nghệ thuật có cấu trúc và quy luật nội tại riêng mang đậm dấu ấn phong cách và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhà văn sáng tạo tác phẩm xét đến cùng là tái tạo lại thế giới hiện thực một cách có nghệ thuật, đặt nó trong mô hình không gian, thời gian nghệ thuật và một hình thức ngôn từ tương ứng. Cho nên, có thể nói rằng, thế giới nghệ thuật bộc lộ cái nhìn trong đó chứa đựng toàn bộ nhân sinh quan của nhà văn về cuộc sống, con người. Tìm hiểu thế giới nghệ thuật, vì thế, một mặt giúp chúng ta nhận diện được văn học ở bề sâu, bề sau, bề xa của nó. Mặt khác, con đường đi vào khám phá những giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học cũng được mở ra theo hướng tiếp cận này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề tài: “Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại” sẽ khẳng định sự sáng tạo, cách tân cũng như phong cách của nhà văn đối với việc đổi mới văn học dân tộc.1.2.Văn xuôi xét từ góc độ thể loại không cam chịu một hình thức hòa kết. Vì vậy, đổi mới trong văn xuôi luôn là đề tài bàn luận sôi nổi và được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu phê bình mà cả nhà văn. Ở Việt Nam, từ năm 1986 đến nay, sự đổi mới của đời sống, văn hóa, xã hội đã tạo điều kiện cho văn học vận động và phát triển, đặc biệt là văn xuôi. Giai đoạn này đã xuất hiện nhiều tác phẩm của các nhà văn đại diện cho hệ hình tư tưởng thẩm mĩ mới làm nên những hiện tượng văn học mới lạ, gây dư luận ồn ào, nhiều tranh cãi như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà,…1.3.Văn xuôi Việt Nam đương đại có nhiều đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật so với giai đoạn văn học trước đó. Điều này thể hiện sự thay đổi trong hệ hình tư duy, cách tiếp cận đối tượng của người nghệ sĩ. Đề tài khóa luận này sẽ nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại từ khía cạnh tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật để cho thấy sự chuyển dịch trong cái nhìn, ý thức của nhà văn về đối tượng, chủ thể, bạn đọc và bản thân văn học. Từ hướng tiếp cận này sẽ giúp chúng ta hiểu văn học đa diện, nhiều chiều hơn.1.4.Văn học Việt Nam đương đại luôn luôn vận động, cách tân, đặc biệt là trong xây dựng thế giới nghệ thuật. Chính vì vậy cách đánh giá chúng chưa có sự thống nhất, điều này thể hiện rõ “tính chất động”, không ổn định của giai đoạn văn học này. Việc lựa chọn đề tài thuộc mảng văn học đương đại, cụ thể là văn xuôi cho thấy sự quan tâm của chúng tôi đối với đời sống văn học hôm nay; đồng thời, nó cũng góp phần khắc phục sự chia cắt giữa văn học đương đại và văn học trong nhà trường. Thực hiện đề tài khóa luận là bước tập nghiên cứu văn học, qua đó giúp chúng tôi giải thích, đánh giá các hiện tượng văn học tốt hơn và đóng góp thêm một cách nhìn mới về thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam đương đại.2.Lịch sử nghiên cứu vấn đềVăn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là văn xuôi đã có những đổi mới độc đáo, khác lạ trong cấu trúc thế giới nghệ thuật so với văn xuôi giai đoạn trước, tạo ra nhiều luồng ý kiến ở cả giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc. Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam đương đại đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Có thể nêu ra một số ý kiến đánh giá, một số công trình với các cấp độ khác nhau như sau: Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình trong Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đặc biệt nhấn mạnh đến những biến đổi, cách tân trong thế giới nghệ thuật văn xuôi đương đại so với giai đoạn văn học trước đó. Tác giả khẳng định: “Văn xuôi chuyển từ tính thống nhất, một khuynh hướng cảm hứng sang tính nhiều khuynh hướng cảm hứng từ chịu các quy luật thời chiến sang chịu tác động của các quy luật thời bình, nhất là các quy luật kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa. Tính sử thi vốn bao trùm giai đoạn văn học chiến tranh giờ chuyển mạnh sang nhãn quan thế sự đời tư phong hóa. Hệ thống tiêu chí thẩm mĩ bị thay đổi, nhiều giá trị cũ tỏ ra lỗi thời, bên cạnh nhiều giá trị mới được xác lập” 5, tr. 7. Để chứng minh sự chuyển mình của văn xuôi, tác giả đi sâu nghiên cứu một số bình diện cơ bản trong mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức, cụ thể chỉ ra được sự chi phối của ý thức văn học đối với các yếu tố quan trọng nhất của nghệ thuật tự sự như hệ thống đề tài, nhân vật, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu,… Những nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình cho thấy hệ hình ý thức của nhà văn đã có những biến chuyển bước ngoặt, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa nhà văn với văn học hiện thực, nhà văn và công chúng, nhà văn với chính mình. Điều này cho thấy văn học đã được nhận thức lại, điều chỉnh lại. Chính những biến đổi của hệ hình ý thức của nhà văn đã dẫn đến sự thay đổi trong cách nghĩ, cách viết cũng như cách xây dựng các yếu tố của cấu trúc nghệ thuật. Tác giả đã chỉ rõ nhân vật đã chuyển dần từ kiểu sử thi sang quan niệm con người đời tư thế sự và được soi rọi từ nhiều từ nhiều chiều; không gian và thời gian không ngừng được mở rộng, nó không chỉ ở không gian và thời gian tuyến tính của hiện thực mà còn là sự phi tuyến tính trong cõi vô thức, bị dồn nén; ngôn ngữ và giọng điệu đa dạng, phong phú với những sự cách tân mới lạ.
Xem thêm

64 Đọc thêm

CHUẨN BỊ KIẾN THỨC THI VÀO THPT

CHUẨN BỊ KIẾN THỨC THI VÀO THPT

+ 1805-1808: làm quan ở Kinh Đô Huế.+ 1809: Làm cai bạ tỉnh Quảng Bình.+ 1813: Thăng chức Hữu tham tri bộ Lễ, đứng đầu một phái đoàn đi sứ sang TrungQuốc lần thứ nhất (1813 - 1814).+ 1820, chuẩn bị đi sứ sang Trung Quốc lần 2 thì ông nhiễm dịch bệnh ốm rồi mất tạiHuế (16-9-1802). An táng tại cánh đồng Bàu Đá (Thừa Thiên - Huế).+ 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ xin nhà vua mang thi hài của ông về an táng tại quênhà.- Cuộc đời ông chìm nổi, gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người. Cuộc đờitừng trải, vốn sống phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một trong 5 ngườigiỏi nhất nước Nam.- Là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèokhổ, với những đau khổ của nhân dân.Tác giả Mộng Liên Đường trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra hình nhưmáu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía,8ngậm ngùi, đau đớn đến dứt ruột. Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnhcũng hệt, đàm tình đã thiết. Nếu không phải con mắt trong thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩsuốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”.Kết luận: Từ gia đình, thời đại, cuộc đời đã kết tinh ở Nguyễn Du một thiên tài kiệt xuất.Với sự nghiệp văn học có giá trị lớn, ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danhnhân văn hoá thế giới, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam.Nguyễn Du là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, là ngôi sao chói lọi nhấttrong nền văn học cổ Việt Nam.Những tác phẩm chính:Tác phẩm chữ Hán:- Thanh Hiên thi tập (1787-1801)- Nam Trung tập ngâm (1805-1812)- Bắc hành tạp lục (1813-1814)Tác phẩm chữ Nôm:
Xem thêm

130 Đọc thêm

Soạn bài Con hổ có nghĩa - văn mẫu

SOẠN BÀI CON HỔ CÓ NGHĨA - VĂN MẪU

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG1. Tóm tắt:Truyện Con hổ có nghĩa gồm hai câu chuyện về loài hổ.Truyện thứ nhất: Một bà đỡ họ Trần người huyện Đông Triều một đêm nọ được hổ cõng vào rừng. Đến nơi bà thấy một con hổ cái đang sinh nở rất khó khăn bèn giúp hổ cái sinh con trót lọt. Hổ đực mừng rỡ đào lên một cục bạc biếu bà. Nhờ có cục bạc của hổ mà bà sống qua được năm mất mùa đói kém.Truyện thứ hai: Bác tiều ở huyện Lạng Giang đang bổ củi ở sườn núi thấy một con hổ bị hóc xương bèn giúp hổ lấy xương ra. Để tạ ơn, hổ biếu bác một con nai. Khi bác tiều mất, hổ đến viếng. Từ đó, mỗi lần giỗ bác, hổ lại đưa dê hoặc lợn về biếu gia đình bác.2. Lời kể:Kể câu chuyện Con hổ có nghĩa cần chú ý phân biệt lời dẫn chuyện với lời của nhân vật bà đỡ Trần và nhân vật người kiếm củi; diễn tả sinh động các chi tiết li kì:- “Hổ dùng một chân ôm lấy bà chạy như bay… Bà cho là hổ định ăn thịt mình, run sợ không giám nhúc nhích”;- “Khi chôn cất, hổ bỗng nhiên đến trước mộ nhảy nhót…”.3. Kể về một con chó có nghĩa.Gợi ý: Phát huy những điều đã biết nhất là trên phim ảnh. Có thể kể theo cốt truyện sau đây.- Giới thiều về con chó (tên con chó, nó được bố mẹ em mua về hay ai mang cho hoặc nó là con chó của ai mà em được biết chẳng hạn,…).- Kể về hành động “có nghĩa” của con chó mà em từng được chứng kiến hoặc nghe kể lại. Ví dụ:+ Cứu cô (cậu chủ) khỏi bọn bắt cóc trẻ em.+ Con chó được nuôi dưỡng chu đáo, đến khi bị bán đi, nó vẫn nhớ về chủ cũ và một hôm nó đã cứu người chủ cũ thoát khỏi một tai nạn ở giữa đường,…- Suy nghĩ về tình cảm của những con vật đang sống ở quanh ta.Tham khảo thêm truyện ngắn Tiếng gọi nơi hoang dã, tiểu thuyết Nanh trắng của Jack Lon Don.(1) Trong bài Khái quát về văn học trung đại Việt Nam, tác giả Bùi Duy Tân cho rằng:“Văn học trung đại Việt Nam, từng được gọi là Văn học cổ Việt Nam, từng được gọi là Văn học cổ Việt Nam, Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, Văn học Hán Nôm, hoặc Văn học viết hay Văn học thành văn Việt Nam… thời trung đại. Dòng văn học này, có tác giả là trí thức thời phong kiến (nhà sư, vua, quan, tướng lĩnh, nhiều nhất là nho sĩ) chính thức ra đời từ thế kỉ X, khi dân tộc ta khôi phục được
Xem thêm

2 Đọc thêm

TRUYỆN NGẮN BÌNH NGUYÊN LỘC DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

TRUYỆN NGẮN BÌNH NGUYÊN LỘC DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

1985, ông đƣợc gia đình ảo lãnh sang Mỹ chữa ệnh. Ngày 7 tháng 3 năm1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì ệnh caohuyết áp, thọ 74 tuổi.1.3.2. Sự nghiệp sáng tácTrong tập hồi ký viết dở trƣớc khi qua đời Nếu tôi nhớ kỹ, Bình NguyênLộc ể ại rằng ông ƣớc vào nghề viết một cách rất tình cờ. Vào hoảng đầu10những năm 1930, một bà phú thƣơng Việt Nam tên Tô Thị Thân thay mặtngƣời chồng Hoa iều, tục danh là Chú Xồi, đứng tên làm chủ 20 tiệm cầm đồtại Sài Gòn, vì ị báo chí Sài Gòn khi đó chỉ trích là gian thƣơng nên muốn ramột tờ báo để tự bênh vực, muốn tìm ngƣời phụ trách tờ báo đó. Bà Thân giaoviệc này cho ngƣời thƣ ký ế toán là ông Tô Văn Giỏi, vốn là anh họ củaBình Nguyên Lộc. Ông Giỏi nhờ Bình Nguyên Lộc tìm ngƣời làm báo. Chínhviệc tìm iếm ngƣời làm báo đó mà ông ắt đầu tới lui với các văn nghệ sĩ vàtập viết văn, viết báo.Bình Nguyên Lộc cho iết ông viết văn, viết báo từ năm 1942. Ông cộngtác với các báo Thanh niên, Ðời mới, Tin mới... trong các báo đó, có các câybút nổi tiếng nhƣ Xuân Diệu, Huy Cận, Mặc Ðỗ...Bình Nguyên Lộc là nhà văn ớn của văn học hiện đại Việt Nam. Ônglà một trong ba nhà văn sáng tác nhiều nhất của cả nƣớc. Nguyễn Ngu Ý gọiông là một trong tam iệt bên cạnh Hồ Biểu Chánh và Lê Văn Trƣơng. Ôngđể ại hoảng 50 tiểu thuyết, trên 1000 truyện ngắn và nhiều công trìnhnghiên cứu khác.Văn xuôi Bình Nguyên Lộc mang cảm hứng chủ đạo: hƣớng về cộinguồn. Sinh ra trong một gia đình đã có mƣời đời sống ở Tân Uyên, nhƣngtrong ý thức, Bình Nguyên Lộc luôn hƣớng về nguồn cội. Ông muốn tìmiếm nguồn gốc tổ tiên từ đất Bắc di dân vào Nam. Trong các công trình
Xem thêm

48 Đọc thêm

GIOI THIEU CAC TAC GIA VAN HOC NV THCS

GIOI THIEU CAC TAC GIA VAN HOC NV THCS

Ông đứng trong văn học Việt Nam đư ơng thời như một cây văn xuôi hàng đầu, nhất là ở thể truyện ngắn và bút ký, tuỳ bút, như là một con người có phong độ và cốt cách quyết thể hiện tấm l[r]

31 Đọc thêm

tờ trình tiếp nhận thử việc

TỜ TRÌNH TIẾP NHẬN THỬ VIỆC

thoạiTrân trọng./.Ngày …… tháng …… năm …….BAN TỔNG GIÁM ĐỐC PHÒNG TC-KT PHÒNG NL-HT BAN GIÁM ĐỐC TP NHÂN SỰ(đơn vị)BMNS-07LÔ GÔ ĐƠN VỊ(TÊN ĐƠN VỊ)Số: ………../TT-CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc--------o0o---------…………., ngày …… tháng …… năm 200…Diễn giải:(1)-Cán bộ NL-HT ghi rõ họ tên ứng viên đạt yêu cầu(2)-Ghi chức danh nhân viên mà đơn vị đề nghị tiếp nhận.(3)-Ghi cụ thể vị trí công tác của cán bộ mà đơn vị dự định tiếp nhận.(4)-Ghi mức lương cùng các khoản phụ cấp(nếu có); mức lương là khoản tiền dự kiến đã được phê duyệt trong tờ trình đề xuất tuyển dụng trước đó,(trừ trường hợp đặc biệt phải có sự phê duyệt của các ban chức năng của VP trụ sở và Ban Tổng giám đốc và đơn vị phải có văn bản chứng minh sự đặc biệt ). Mức lương có thể chỉ cần viết tắt.VD: 1.2 đ/ttức là: 1.200.000đồng/tháng(một triệu hai trăm nghìn đồng/tháng)(5)-Ghi rõ thời gian đơn vị tiếp nhận nhân sự vào làm việc(6)-Ghi loại hợp đồng mà đơn vị dự định ký với người lao động(7)-Ghi các chú thích cần thiết liên quan đến nhân sự(nếu có)VD: Chú thích :”Thử việc được hưởng 80% lương” BMNS-07
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề