HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA GÁN VỚI MÔI TRƯỜNG SÔNG NƯỚC Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA GÁN VỚI MÔI TRƯỜNG SÔNG NƯỚC Ở MIỀN TÂY NAM BỘ":

Văn hóa ứng xử của người việt tây nam bộ với môi trường sông nước (qua ca dao, tục ngữ)

VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ VỚI MÔI TRƯỜNG SÔNG NƯỚC (QUA CA DAO, TỤC NGỮ)

... ỨTIG XỬ CỦA NGƯỜI VIỆT TNB VÀI MƠI TRIRỜÌIG SƠNG NƯỚC (QUA CA DAO, TỤC NGỮ)" làm luận văn tốt nghiệp cao học chun ngành Văn hóa học, với mong muốn dem den nhiều diều hấp dẫn, thú vị qua góc nhò văn. .. văn hỏa gắn với mơi trường sơng nước miền TNB CHƯƠNG KHÁO SÁT CÁC YẾU TĨ VĂN HĨA GÁN VỚI MƠI TRƯỜNG SƠNG NƯỚC VÙNG TÂY NAM Bộ QUA CA DAO, TỤC NGỦ Từ thài Hùng Vương dựng nước, người Việt cồ khơng... tất ca dao, tục ngữ tồn lưu truyền vùng đất (trong đỏ phận khơng nhò ca dao, tục ngừ thuộc phần ca dao, tục niíừ chung nước; phù họp với tất vùng, miền) Còn nghiên cứu Văn hỏa ứng xử lỊắn với
Xem thêm

163 Đọc thêm

KHAI THÁC DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG

KHAI THÁC DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG

Có thể nói mùa nước nổi là đặc trưng riêng của miền sông nước miền Tây Nam Bộ, một đặc trưng được thiên nhiên trao tặng, qua thời gian dần trở thành một nét văn hóa, vẻ đẹp của sông nước miền Tây mà chẳng nơi nào có được. Nếu như trước kia, mùa nước nổi là nỗi ám ảnh hàng ngàn người dân vùng An Giang, thì nay đã trở thành mùa “hái ra tiền”của bà con và các công ty du lịch. Mùa nước nổi ở An Giang ngày nay đang thu hút được nhiều khách du lịch. Có lẽ ba từ “mùa nước nổi” là cách gọi nên thơ của những người làm du lịch nhưng đối với người dân miền Tây Nam Bộ thì đây chính là mùa lũ. Hàng năm, bắt đầu từ khoảng tháng 7 đến tháng 10 âm lịch, nước lũ từ thượng nguồn sông Mêkông ào ạt đổ về hạ lưu. Hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp ở đầu nguồn, là nơi đón lũ về sớm nhất. Mùa nước nổ đem phù sa về cho ruộng đồng, không những thế còn đem lại những cảnh sắc tuyệt vời làm ngơ ngẩn lòng du khách mà đặc biệt là đem về tôm cá, làm nên những món ngon đậm chất Nam Bộ. An Giang là vùng đất giàu tiềm năng, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều loại thực vật và thủy sản nước ngọt vô cùng phong phú, có bốn dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer cùng sinh sống với nền văn hóa đa dạng. Vì thế, những món ngon của An Giang đều mang đậm bản sắc riêng, đặc biệt là ẩm thực mùa nước nổi có thể khai thác du lịch. Các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An là những tỉnh đón đầu cơn lũ từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ xuống và cũng chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mùa lũ mang đến những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế. Trong đó khai thác dịch vụ du lịch mùa nước nổi vốn là thế mạnh và An Giang là một trong số các tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long chiếm nhiều ưu thế và có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch này. Tuy nhiên, để phát triển lâu dài và bền vững loại hình di lịch này chúng ta cần phải có những nghiên cứu và vạch ra một kế hoạch cụ thể. Bên cạnh đó, phải định hướng phát triển loại hình du lịch mùa nước nổi một cách đúng đắn sao cho không ảnh hưởng nhiều đến môi trường tự nhiên, không ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài sinh vật và phải bảo vệ tuyệt đối các loài động vật, thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Để góp phần làm cho cuộc sống người dân ở vùng lũ An Giang thoát khỏi tình trạng khó khăn, có việc làm và thu nhập ổn định thì chúng ta phải tận dụng tối đa nguồn lợi mùa lũ mang đến, phát triển và đầu tư dịch vụ du lịch mùa nước nổi là giải pháp thích hợp và tối ưu nhất, điều đó góp phần thúc đẩy nền du lịch An Giang ngày càng phát triển. Du lịch mùa nước nổi cũng tạo điều kiện cho du khách có sự kết nối, trải nghiệm và tìm hiểu sâu hơn về cuộc sống khó khăn của người dân vùng lũ như thế nào. Vì thế, tôi chọn đề tài “ Khai thác tiềm năng du lịch mùa nước nổi ở tỉnh An Giang” làm niên luận để có những nghiên cứu nhằm khai thác tối đa những tiềm năng du lịch mùa nước lũ ở tỉnh An Giang và tạo ra một loại hình du lịch mới “ Du lịch mùa nước nổi” mà An Giang là địa phương phát triển mạnh nhất loại hình du lịch này.
Xem thêm

46 Đọc thêm

Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

ĐỀ TÀI SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Lựa chọn đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA, chúng tôi cố gắng làm rõ những nét đặc sắc của văn hoá Nam Bộ được thể hiện trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư. Đồng thời chỉ ra những nét kế thừa và đóng góp mới của chị khi viết về mảnh đất Nam Bộ so với các nhà văn khác. Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm văn hoá, các thành tố văn hoá và mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, luận văn đi sâu vào nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn văn hoá. Từ vấn đề trung tâm, chúng tôi mở rộng các mặt biểu hiện cơ bản của sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trong tính thống nhất giữa nội dung và hình thức. Triển khai luận văn này, chúng tôi khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, trong đó trọng tậm tập trung vào 6 tập truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư. Cụ thể như sau: Các tập truyện ngắn: 1.Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2000) 2.Biển người mênh mông (Tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng, 2003) 3.Giao thừa (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2003) 4.Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2005) 5.Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2008) 6.Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn, NXB Thời đại, 2010) Tiểu thuyết: Sông (Tiểu thuyết, NXB Trẻ, 2012) 4.Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích, tổng hợp: vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ học, tự sự học, thi pháp học hiện đại... kết hợp với cảm thụ truyền thống để khảo sát và nhận định tác phẩm theo quan niệm, hiểu biết của mình. - Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để chỉ ra những đặc điểm giống nhau cũng như những nét riêng, tiêu biểu về văn hoá Nam Bộ được thể hiện trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu sáng tác của chị với một số nhà văn lớp trước và đương thời. Từ đó, khẳng định đóng góp của chị với nền văn học Việt Nam hiện đại. - Phương pháp thống kê, phân loại: khảo sát các hiện tượng lặp lại ở một số các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm và dựa vào tần số xuất hiện của các yếu tố đó để khái quát và hệ thống thành những đặc điểm riêng, nổi bật dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. 5. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn là công trình khảo sát về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hoá - văn học. Chúng tôi không đặt nhiều tham vọng đưa ra những kiến giải mới khác với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó mà chỉ vận dụng những thành tựu đã có để đưa ra những đánh giá có tính chất cụ thể bước đầu theo một hướng mới. Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đem lại một cái nhìn khái quát, đầy đủ hơn về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Từ đó thấy được những giá trị nghệ thuật, những tìm tòi, đổi mới, vận động và phát triển của văn chương chị mang đậm bản sắc văn hóa của vùng quê Nam Bộ. 6.Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành ba chương chính : PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIỚI THUYẾT VỀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA VÀ NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH VĂN HÓA NAM BỘ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 1. Giới thuyết về nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Văn hoá Văn hoá là một khái niệm đã có từ lâu đời và có nội hàm rất rộng. Theo A.L. Kroeber và C.L. Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: cái nhìn phân tích về khái niệm và định nghĩa có khoảng hơn 200 định nghĩa về văn hóa. Sở dĩ số lượng định nghĩa văn hóa phong phú như vậy vì một phần văn hóa là một phạm trù hết sức rộng. Phần khác, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích và phương pháp nghiên cứu của mình đều có quyền đưa ra một định nghĩa thích hợp. Sau đây, chúng tôi xin phép điểm qua một số định nghĩa về văn hóa tiêu biểu. Cụ thể như: Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa: “Văn hoá là: 1.Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Kho tàng văn hoá dân tộc. Văn hoá Phương Đông. Nền văn hoá cổ. 2.Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầucủa đời sống tinh thần (nói tổng quát). Phát triển văn hoá. Công tác văn hoá 3.Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát). Học văn hoá. Trình độ văn hoá. 4.Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. Sống có văn hoá. Ăn nói thiếu văn hoá. 5.Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau. Văn hoá rìu hai vai. Văn hoá gốm màu. Văn hoá Đông Sơn. Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. (Dẫn theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nguồn:hptt://vi.wikipedia.org Theo Đỗ Lai Thuý trong Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, NXB Văn hoá Thông tin, trang 15 thì theo nghĩa rộng: “Văn hoá là tất cả những gì phi tự nhiên”. Tác giả cũng cho rằng, đây là định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất. Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc cho rằng: “Văn hoá là quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ”. UNESCO – Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng”. Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Xem thêm

94 Đọc thêm

Tả một bạn nhỏ lần đầu em được gặp và nhớ mãi

TẢ MỘT BẠN NHỎ LẦN ĐẦU EM ĐƯỢC GẶP VÀ NHỚ MÃI

Đoạn văn miêu tả một bạn nhỏ lần đầu em gặp. Trên một vùng sông nước mênh mông, có hàng trăm chiếc thuyền chở đầy nông phẩm: rau, trái cây, gà vịt,... Bài mẫu tả một bạn nhỏ lần đầu gặp     Hè năm ngoái, em được theo mẹ vào Sóc Trăng thăm bố. Bố em là sĩ quan bộ đội Biên phòng miền Tây Nam Bộ. Em được theo mẹ, theo bố đi xem nhiều cảnh đẹp và lạ: núi Bà Đen, cảng cá, chùa chiền của người Miên,... và được đi chơi chợ nổi, lạ quá, vui quá. Trên một vùng sông nước mênh mông, có hàng trăm chiếc thuyền chở đầy nông phẩm: rau, trái cây, gà vịt,... Cảnh mua bán cực kì nhộn nhịp. Nhưng ấn tượng sâu sắc nhất của em là những bạn nhỏ miền Tây Nam Bộ. Các bạn theo ba, má chở hàng ra chợ bán. Bạn nào cũng to béo, khoẻ mạnh, bước từ thuyền này qua thuyền khác nhanh thoăn thoắt. Da ngăm đen, cặp mắt to đen nhánh. Tiếng nói lơ lớ, trọ trẹ, nghe rất vui. Khi bố mẹ và em bước lên một con thuyền mua hai con vịt xiêm và ít quả bưởi thì một bạn nhỏ khoảng sáu, bảy tuổi từ khoang thuyền chạy ra. Nó tên là Xì Mầy, em nghe tía nó gọi thế. Xì Mầy chỉ mặc quần xà-lỏn, cổ đeo vòng bạc to, nước da màu gỗ lim, trán rộng, mắt sáng, tóc húi ngắn. Nó xách dừa và bưởi ra, rồi vòng tay nói: “Con kính chào cô, chú!”. Nó nắm lấy tay em rồi cười... Nó lễ phép, bạo dạn và lao động giỏi quá! loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN RỪNG DỪA NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN RỪNG DỪA NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN

1. Tính cấp thiết của đề tài Hội An là một đô thị du lịch thực sự có sức hấp dẫn với một vùng cảnh quan sinh thái sông ngòi, cửa biển rất rộng lớn và đặc sắc tầm cỡ quốc tế; nhưng cũng là một trong những vùng tại Việt Nam dễ bị tổn thương nhất bởi các tác động xấu của biến đổi khí hậu. Hội An có hai tiềm năng chính là cảnh quan và đô thị lịch sử. Tuy nhiên, toàn bộ ngành du lịch hiện nay của Hội An mới chủ yếu khai thác tiềm năng văn hoá xã hội là khu phố cổ. Các định hướng chiến lược phát triển mới vẫn chỉ đề cập tập trung đến việc khai thác hướng vào sâu, lõi khu đất liền (nơi ít có giá trị cảnh quan) mà chưa chú trọng bảo tồn và khai thác thế mạnh sinh thái, cảnh quan phần sông nước. Giá trị lịch sử đã được phát huy tốt, nhưng không có khả năng tăng trưởng. Vì vậy cần phải có những khu đô thị mới làng mới khai thác tốt du lịch sinh thái sông nước trên cơ sở phát huy tiềm lực cảnh quan (hệ thống thủy văn phong phú) của Hội An tạo ra bản sắc đương đại, bền vững. Ngày 2652009, phiên họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế chương trình con người và sinh quyển diễn ra tại đảo Jeju của Hàn Quốc, Tổ chức UNESCO đã bỏ phiếu công nhận Cù Lao Chàm Hội An, trở thành Khu dự trữ sinh quyển thế giới đã đặt ra với chính quyền và người dân Hội An phải nhanh chóng có những hành động thiết thực, hạn chế các tác động tiều cực vào môi trường, giảm thiểu sự tác động của biến đổi khí hậu nhưng vẫn phát triển được kinh tế cộng đồng một cách bền vững. Nằm ở khu vực cửa sôngcửa biển, Cẩm Thanh là một trong những vùng đệm của khu sinh quyển thế giới Cù Lao ChàmHội An với hệ thống thủy văn và một thảm thực vật rất đặc thù là dừa nước. Các nhánh sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn đã tạo ra đa dạng các cồn gò như Thuận Tình, cồn Tiến, cồn 3 xã, gò Hí, gò Già…Hai bên bờ các kênh rạch là các loài cây ngập mặn sinh sống, trong đó quan trọng nhất là các dãy cây dừa nước quanh năm xanh tốt tạo cho khu vực đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn một sinh cảnh rất đặc biệt cho miền Trung Hội An mà ở Việt Nam, chúng ta chỉ có thể tìm gặp sinh cảnh này ở miền Tây Nam bộ. Rừng dừa nước Bảy Mẫu còn đóng vai trò hết sức quan trọng cho địa phương đó là chắn sóng, chắn gió và chắn bão cho vùng đất Cẩm Thanh. Và qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, rừng dừa nước Bảy Mẫu còn mang thêm một giá trị khác về văn hóa và lịch sử; cùng với nét đặc trưng của làng quê Việt Nam và các dấu ấn di tích văn hóa Chăm, xã Cẩm Thanh đã và đang trở thành một điểm đến thu hút đối với du khách trong và ngoài nước. Việc phát triển du lịch tại xã Cẩm Thanh thúc đẩy việc phát triển các ngành nghề dịch vụ của xã, trong đó phải kể đến sự lớn mạnh của làng nghề làm nhà tre dừa và đồ mỹ nghệ. Hiện nay, tại xã có 40 hộ làm nhà tre dừa và các sản phẩm mỹ nghệ với 300 lao động làm toàn thời gian. Nghề làm nhà tre dừa và các sản phẩm mỹ nghệ từ cây dừa nước hiện tại là một nghề đem lại thu nhập cao cho người dân của xã. Tận dụng những ưu thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, người dân vùng xã Cẩm Thanh đã và đang phát triển kinh tế dưới các hình thức du lịch sinh thái và thủ công mỹ nghệ từ dừa nước. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của sự phát triển kinh tế do làng nghề đem lại, xã Cẩm Thanh đang phải đối diện với nguy cơ tài nguyên dừa nước bị khai thác không đúng quy định dẫn đến những vấn đề môi trường nghiêm trọng như cây dừa bị xuống cấp và mất cân bằng sinh thái trong vùng đệm của khu dự trữ sinh quyển thế giới. Những nguy cơ này xuất phát từ nhu cầu lớn về sản phẩm tre dừa cho các mục đích của ngành dịch vụ, từ sự thiếu hiểu biết và lòng tham lợi của người sản xuất và từ chính sự quản lý khai thác thiếu chặt chẽ của chính quyền địa phương. Hơn nữa trước đây, do nuôi trồng thủy sản mang lại lợi nhuận cao và người dân cũng như chính quyền chưa thấy rõ tầm quan trọng của rừng dừa nên dẫn đến chính quyền buôn lỏng quản lý và người dân phá rừng dừa hàng loạt để làm ao nuôi tôm làm cho diện tích rừng dừa bị mất đi đáng kể làm ảnh hưởng đến du lịch sinh thái, khả năng bảo vệ vùng bờ và đặc biệt sự hấp thụ các chất ô nhiễm trong nước để bảo vệ vùng lõi xủa Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm Hội An. Vì vậy, việc bảo vệ và phục hồi một quần xã thực vật ngập mặn có giá trị (văn hóa, lịch sử, sinh thái) như rừng dừa nước Cẩm Thanh cần được chú trọng và có sự quản lý tốt. Việc phục hồi bảo vệ hơn 100 ha dừa nước rất quan trọng cho các hoạt động phát triển kinh tế, tái tạo, bảo tồn và khai thác hợp lý tài nguyên, phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu, giáo dục, đào tạo… nâng cao mức sống người dân ở Cẩm Thanh góp phần hạn chế tác động của con người và là yếu tố quan trọng đảm bảo cho bảo tồn thành công cho vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. Nhằm góp phần bảo tồn, phục hồi và quản lý tốt rừng dừa nước Cẩm Thanh. Tôi mạnh dạn đề xuất đề tài luận văn: “Thực trạng và giải pháp phục hồi, phát triển rừng dừa nước dựa vào cộng đồng ở xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An”.
Xem thêm

63 Đọc thêm

Nhật ký Thế hệ Hồ Chí Minh

NHẬT KÝ THẾ HỆ HỒ CHÍ MINH

Nhật ký Thế hệ Hồ Chí Minh của Nhà giáo Liệt sỹ Lê Thị Thiên mang lý tưởng của tuổi trẻ, có giá trị giáo dục đạo đức cách mạng và giáo dục cách sống cho thế hệ trẻ hôm nay. Không trau chuốt, không hoa mỹ mà đậm đà bản sắc người con gái miền Tây Nam bộ nhưng quyển Nhật ký lại đẹp lạ thường chính nhờ sự mộc mạc, chân chất của mình.

7 Đọc thêm

Giới thiệu về chợ nổi miền Tây Nam Bộ ( Bài 2 )

GIỚI THIỆU VỀ CHỢ NỔI MIỀN TÂY NAM BỘ ( BÀI 2 )

Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán. Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán. Chợ họp suốt cả ngày, nhưng nhộn nhịp nhất là vào buổi sáng. Thuyền, ghe tấp nập đi lại, luồn lách trên mặt nước. Tiếng chào mời mua bán, tiếng cười nói gọi nhau, tiếng ồn ã của động cơ... làm vang động cả một vùng, quang cảnh nhộn nhịp và sôi động. Trên thuyền chất đầy hàng hoá, nhiều nhất vẫn là trái cây, mùa nào thức nấy: chôm chôm, xoài, cam, quýt, bươi, măng cụt, sầu riêng... sản vật của vùng sông nước kênh rạch như: cá, rùa, rắn, cua, tôm, chim đồng, bông súng, rau tươi... Chủ nhân vài ghe, thuyền treo lủng lẳng một vài thứ trái cây, hàng hoá hay một bảng hiệu quảng cáo trên chiếc sào nơi thuyền của mình, cái cao cái thấp, cái thẳng cái nghiêng trông thật lạ mắt. Các loại dịch vụ ăn uống, hớt tóc, may vá... cũng diễn ra ngay trên ghe, xuồng, rất tiện dụng và dường như thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm sinh hoạt đời thường của người dân vùng này. Các chợ nổi lớn của miền Tây như Phụng Hiệp, Phong Điền, Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang)... Phần lớn nông sản hàng hoá ở đây được bán sì cho những thương nhân rồi từ đó được chuyển tới các nhà máy chế biến thực phẩm, hoa trái hay chở ra tận Hà Nội và các địa phương miền Bắc. Chợ nổi là nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của người dân vùng châu thổ sông Cửu Long. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Giới thiệu về chợ nổi miền Tây Nam Bộ

GIỚI THIỆU VỀ CHỢ NỔI MIỀN TÂY NAM BỘ

Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán. Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán. Chợ họp suốt cả ngày, nhưng nhộn nhịp nhất là vào buổi sáng. Thuyền, ghe tấp nập đi lại, luồn lách trên mặt nước. Tiếng chào mời mua bán, tiếng cười nói gọi nhau, tiếng ồn ã của động cơ... làm vang động cả một vùng, quang cảnh nhộn nhịp và sôi động. Trên thuyền chất đầy hàng hoá, nhiều nhất vẫn là trái cây, mùa nào thức nấy: chôm chôm, xoài, cam, quýt, bưởi, măng cụt, sầu riêng..., sản vật của vùng sông nước kênh rạch như cá, rùa, rắn, cua, tôm, chim đồng, bông súng, rau tươi... Chủ nhân của ghe, thuyền treo lủng lẳng một vài thứ trái cây, hàng hoá hay một bảng hiệu quảng cáo trên chiếc sào nơi thuyền của mình, cái cao cái thấp, cái thẳng cái nghiêng trông thật lạ mắt.                                                   Các loại dịch vụ ăn uống, hớt tóc, may vá... cũng diễn ra ngay trên ghe, xuồng, rất tiện dụng và đường như thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm sinh hoạt đời thường của người dân vùng này. Các chợ nổi lớn của miền Tây như Phụng Hiệp, Phong Điền, Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang)... Phần lớn nông sản hàng hoá ở đây được bán cho những thương nhân rồi từ đó được chuyển tới các nhà máy chế biến thực phẩm, hoa trái hay chở ra tận Hà Nội và các địa phương miền Bắc. Chợ nổi là nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của người dân vùng châu thổ sông Cửu Long. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

PHONG TRÀO CHỐNG PHÁ ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN TÂY NAM BỘ (1961 1965)

PHONG TRÀO CHỐNG PHÁ ẤP CHIẾN LƯỢC Ở MIỀN TÂY NAM BỘ (1961 1965)

lược “Chiến tranh đặc biệt” của quân dân miền Nam, trong đó có phong trào chốngphá ấp chiến lược. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích một số chiến thắngquan trọng như chiến thắng Ấp Bắc (1961) chiến trường Trung Nam Bộ, chiếnthắng Đầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (1963), chiến thắng Lộc Ninh (1963), chiếnthắng Vĩnh Thuận (1964) chiến trường Tây Nam Bộ để người đọc có thể tiếp cậnphong trào chống phá ấp chiến lược trên toàn miền một cách bao quát. Đây là mộtcông trình nghiên cứu rất quan trọng của những nhà viết sử quân đội với những kiếngiải sâu sắc trên lĩnh vực đấu tranh quân sự kết hợp với chính trị và binh vận trongphong trào chống phá ấp chiến lược miền Nam nói chung và miền Tây Nam Bộnói riêng [67].Về sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong phong trào chống phá ấpchiến lược có thể kể đến công trình Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miềnNam (1954-1975) do Nguyễn Quý chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, 2010), côngtrình này đã trình bày quá trình lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cụcmiền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó các tác giảđã cung cấp những tư liệu quan trọng về sự lãnh đạo của Đảng trong phong tràochống phá ấp chiến lược miền Nam Việt Nam nói chung và miền Tây Nam Bộ nóiriêng, các tác giả đã nhận xét: “Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải đổi ấp chiến lượcthành ấp tân sinh thể hiện sự thừa nhận thất bại từng bước trong âm mưu cô lập điđến tiêu diệt Đảng ta của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong quá trình thực hiệnquốc sách ấp chiến lược” [146, tr. 258] và khẳng định: “thắng lợi của quân và dânmiền Nam trong giai đoạn này khẳng định chủ trương thành lập Trung ương Cụcmiền Nam của Trung ương Đảng khi tình thế cách mạng đã thay đổi, trong tìnhhình giao thông liên lạc giữa hai miền còn khó khăn, nhằm tăng cường sự lãnh đạotrực tiếp, toàn diện của Trung ương Đảng đối với cách mạng miền Nam là hoàntoàn đúng đắn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng” [146, tr. 259].14
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ ÁN GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC Ở TÂY NAM BỘ

ĐỀ ÁN GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC Ở TÂY NAM BỘ

Đề án tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị.Tình trạng học sinh bỏ học tại khu vực miền Tây Nam Bộ. Nguyên nhân của tình trạng này và các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trong giai đoạn đến năm 2020

42 Đọc thêm

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỶ VÀ ỨNG DỤNG MÁY TÍNH VINACAL 570ES PLUS VÀO GIẢI PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỶ

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỶ VÀ ỨNG DỤNG MÁY TÍNH VINACAL 570ES PLUS VÀO GIẢI PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỶ

Bấm phím CALC , nhập một vài giá trị bất kỳ của X rồi bấm phím  , ta thấy cáckết quả đều là 0. Vậy, các hệ số tìm được là đúng và ta viếtx5  2 x4  6 x3  2 x 2  23x  7   x 2  3x  1 x3  x 2  2 x  7 .II. CHỨC NĂNG STOMáy tính VINACAL 570ES PLUS có tám biến đặt sẵn có tên là A, B, C, D, E, F, X,Y. Ta có thể gán giá trị cho các biến và dùng các biến này trong tính toán.Các bước thực hiệnBƣớc 1: Nhập giá trị cần gán.Bƣớc 2: Bấm phím SHIFT RCL (chức năng STO).Bƣớc 3: Nhập biến được gán giá trị.15Ví dụ 2.5: Gán giá trị 1  2 cho biến A.Bƣớc 1: Nhập 1  2Bƣớc 2: Bấm SHIFT RCL .Bƣớc 3: Nhập biến A (bấm phím ( ) ).III. CHỨC NĂNG SOLVEChức năng SOLVE dùng để tìm nghiệm của phương trình.Chức năng SOLVE chỉ dùng trong tính toán số thực.Khi nhập biểu thức f ( x) và bấm SHIFT CALC (chức năng SOLVE), màn hìnhhiển thị “X=?”, ta nhập một giá trị bất kì thì bộ xử lý sẽ quay một hình tròn có tâm làđiểm ta vừa nhập trên trục hoành, với bán kính lớn dần. Khi gặp giá trị gần nhất thoả mãnthì máy tính sẽ dừng lại và hiển thị nghiệm đó dưới dạng phân số tối giản hoặc số thậpphân với sai số hai vế là thấp nhất. L-R hàng thứ hai trên màn hình chính là sai số haivế (thông thường sai số này rất bé khoảng 106 trở xuống).
Xem thêm

81 Đọc thêm

Bài tiểu luận môn kiểm soát đồ uống và thực phẩm: Ẩm thự cá diêu hồng

BÀI TIỂU LUẬN MÔN KIỂM SOÁT ĐỒ UỐNG VÀ THỰC PHẨM: ẨM THỰ CÁ DIÊU HỒNG

1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nền văn hóa của dân tộc Việt Nam ta từ lâu đời đã mang tính “thực vật – sông nước”, tính “thực vật – sông nước” được thể hiện trong các mặt của đời sống con người như ăn, ở, mặc, đi lại…Về mặt ẩm thực, ta có thấy các món ăn truyền thống của dân tộc đều gắn với các loài thực vật, hải sản như “canh rau muống”, “cà dầm tương”: Hay như món “tép kho” cũng là một món ăn đặc trưng của dân tộc ta từ xa xưa, ngày nay tính “thực vật – sông nước” vẫn được thể hiện rõ ràng và món Cá diêu hồng cũng được xếp vào một trong những món ăn ngon của nền ẩm thực Việt thể hiện được tính chất này
Xem thêm

23 Đọc thêm

TÌM HIỂU THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT “SÔNG”

TÌM HIỂU THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT “SÔNG”

2.Lịch sử vấn đềCùng với Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Võ Thị Hảo…Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ tuổi tiêu biểu trong nền văn xuôi đương đại. Xuất hiện lần đầu với tập truyện “Ngọn đèn không tắt”(2000), bằng văn phong nhẹ nhàng, trong trẻo, in đậm dấu ấn sông nước miền Nam, Nguyễn Ngọc Tư đã giành được sự quan tâm đặc biệt của công chúng yêu thích văn học và giới phê bình.Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: “Ngọn đèn không tắt đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc – mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông ta dày công khai phá” 41.Năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư cho ra mắt tập truyện ngắn mang tên “Cánh đồng bất tận”.Tập truyện đã nhận được sự phản hồi tích cực của dư luận và trở thành một “hiện tượng” của văn học Việt Nam với 108.000 bản được tiêu thụ tính đến năm 2010, nhất là sau khi bộ phim dựa trên truyện vừa cùng tên được ra mắt cùng năm. Cùng trong năm 2005, truyện “Cánh đồng bất tận” được đứng đầu trong một cuộc bình chọn truyện ngắn đặc sắc trên báo Văn nghệ.Vào năm 2006, tập truyện đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho tác phẩm xuất sắc.Năm 2007, tác phẩm được dịch và xuất bản tại một số nước trên thế giới.Nhà văn Hữu Thỉnh đã nhận xét: “Với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá rất ngoạn mục, tự vượt lên chính mình và tạo nên những bất ngờ thú vị cho giới nhà văn” 26;1.Nhà văn Chu Lai khẳng định: “Cánh đồng bất tận viết về những con người Nam Bộ với tính cách đặc thù: chân thực, hồn nhiên, chất phác và bản năng. Cốt truyện mang tính chất cổ điển, không có gì mới nhưng tác giả viết bằng thứ ngôn ngữ và hơi văn lạ, tạo được sức rung chuyển thẩm mỹ” 26.Năm 2012, Nguyễn Ngọc Tư “đổi món” với “Sông”. Từ địa hạt truyện ngắn và tản văn chị đã “lấn sân” sang tiểu thuyết. Tiểu thuyết “Sông” ít nhiều gây tò mò và háo hức cho bạn đọc bởi lẽ đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của một cây bút Nam Bộ đã gặt hái được những thành công nhất định trên lĩnh vực truyện ngắn và tản văn. Người ta tò mò vì muốn biết một Nguyễn Ngọc Tư viết tiểu thuyết ra sao; người ta háo hức vì với những thành quả Ngọc Tư đạt được trong truyện ngắn và tản văn sẽ hứa hẹn một thành công khác trong “Sông”.Trần Ngọc Sinh đã có lời nhận xét ngắn gọn nhưng bao quát về tiểu thuyết “Sông”:“Đẹp. Đáo để. Trần tục và hư ảo” 3.Câu nói của Trần Ngọc Sinh như đã nắm bắt được cái “thần” của tác phẩm.Trần Hữu Dũng qua bài viết: “Nguyễn Ngọc Tư và sông” nhận xét: “Nguyễn Ngọc Tư đang vạch một hướng đi mới, nhưng nếu nhìn ngoái lại thì người đọc vẫn thấy con đường ấy bắt đầu từ hành trình đã qua của một Nguyễn Ngọc Tư mà độc giả từng yêu mến” 8.Tác giả Mai Anh Tuấn cho rằng: “Sônglà sự hợp thức giữa tiểu thuyết và lối viết du khảo. Cứ mỗi nơi nhân vật đi qua đều để lại tên người, tên đất. Con người dấn về phía trước còn những địa danh lùi lại phía sau. Sông Di vì thế có thể coi là một thực thể vùng miền.Nhưng mặt khác, sông Di cũng là con sông trong tâm tưởng. Nhân vật xuôi theo dòng sông thực thể nhưng lại đi ngược con sông tâm tưởng. Tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư chứa đựng cảm thức của giới trẻ về sự biến mất, nhưng biến mất là để trục vớt ký ức của mình” 4.Trong bài viết :“Đọc tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư khảo về sự biến mất”, tác giả Mai Anh Tuấn cũng viết: “Với Sông, Nguyễn Ngọc Tư càng cho thấy mình là người tận lực với cơ địa văn hóa vùng miền, bởi, xét rộng hơn, phần lớn những không gian nổi bật, những hình tượng nghệ thuật vươn tới biểu tượng trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, một cách chủ ý, đều dấp dính sông nước và những hắt bóng của nó như lời ăn tiếng nói, phong cảnh tập tục, đến nhân tình thế thái” 59.Về những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, đa số ý kiến đều khẳng định rằng chị là một nhà văn luôn trăn trở nghĩ suy về cuộc sống và thân phận của con người. Chị đã từng nói: “Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt. Khi ấy, trong lòng các bạn, tôi không còn là cô gái Việt Nam viết về Việt Nam, mà là một nhà văn viết về thân phận con người, như các bạn” 22.Trong “Sông” hiện lên thân phận của những con người cô đơn đang lang thang kiếm tìm bản thể “trên con đường không dấu chân”.Có nhiều người quan tâm tới thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư qua ở các phương diện như: nghệ thuật xây dựng nhân vật; quan điểm nghệ thuật về con người...Đa số các ý kiến đều đánh giá cao tài năng của chị trong việc lựa chọn các chi tiết, hình ảnh, chất giọng, ngôn ngữ…xây dựng thành công con người Nam Bộ.Huỳnh Công Tín trong bài “Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam Bộ” viết: “Nhân vật trong tác phẩm của chị là những con người Nam Bộ với những cái tên hết sức bình dị, chân chất kiểu Nam Bộ…Đó là những người sinh sống bằng những ngành nghề cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ. Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn ngữ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” 57.Càng ngày Nguyễn Ngọc Tư càng nhận được nhiều yêu mến của độc giả bởi chất giọng Nam Bộ mộc mạc, thấm đượm yêu thương. Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận định: “Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng chàm, rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế” 65.
Xem thêm

104 Đọc thêm

Lượng giá giá trị cảnh quan của Vườn quốc gia Bái Tử Long, Tỉnh Quảng Ninh

LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN CỦA VƯỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Ngày nay, du lịch là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của con người. Du lịch không chỉ đem lại lợi ích cho người đi du lịch mà đem lại lợi ích cho toàn xã hội, đóng góp trực tiếp vào giá trị tổng sản phẩm quốc nội – GDP. Bên cạnh đó, du lịch còn mang lại cho con người cơ hội trao đổi văn hóa, bản sắc dân tộc giữa các dân tộc, các quốc gia khác nhau. Người đi du lịch có nhiều cách thức đi du lịch khác nhau, như đi phượt, du lịch bụi, đi theo tour...Nhưng chung quy lại, họ thường đến những điểm du lịch có thiên nhiên phong phú, hoang sơ kì thú, hay nói cách khác là du lịch dựa vào thiên nhiên. Tuy nhiên, con người vẫn còn tồn tại ý thức rằng, môi trường là “ trời cho”, là “thiên nhiên ban tặng” nên người ta khai thác và sử dụng không tính toán đến những thiệt hại do hoạt động khai thác gây ra mà chỉ quan tâm đến cái lợi trước mắt. Chính vì vậy mà nhiểu địa điểm du lịch sau một thời gian hoạt động đã trở nên xuống cấp, môi trường tự nhiên bị tàn phá, mất đi vẻ hoang sơ, phong phú lúc đầu. Một trong những nguyên nhân của điều này là giá trị của địa điểm du lịch không được định giá trên thị trường, giá trị cảnh quan môi trường bị ẩn sau những giá trị trực tiếp khác. Do vậy nghiên cứu đánh giá giá trị cảnh quan là điều hết sức cần thiết. Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, là một trong bảy vườn quốc gia của Việt Nam vừa có diện tích trên cạn vừa có diện tích biển. Đây là nơi rất phong phú và đa dạng về hệ sinh thái, nơi tập trung rất nhiều động, thực vật quý hiếm có trong sách đỏ và các hệ sinh thái cảnh quan đặc sắc. Điều này đã tạo nên điểm đặc biệt riêng cho vườn. Đây sẽ là điểm du lịch lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước. Thế nhưng, giá trị cảnh quan vốn là giá trị cơ bản để thu hút khách du lịch tại khu du lịch chưa dược xác định rõ. Trong khi đó là cơ sở quan trọng để khai thác du lịch bền vững, cũng như nâng cao nhận thức của người dân địa phương và khách du lịch trong việc bảo vệ môi trường. Vifvaayj, việc xác định giá trị cảnh quan của khu du lịch là rất cần thiết để khai thác hợp lý tiềm năng du lịch kết hợp với mục tiêu bảo tồn. Đó chính là lí do tôi lựa chọn đề tài: “Lượng giá giá trị cảnh quan của Vườn quốc gia Bái Tử Long, Tỉnh Quảng Ninh”.
Xem thêm

64 Đọc thêm

Giới thiệu thành phố hồ chí minh về du lịch

GIỚI THIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ DU LỊCH

GIỚI THIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DU LỊCH Sơ lược Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở giữa vùng Nam Bộ trù phú, tiếp giáp với phía Nam của miền Ðông Nam Bộ và rìa Bắc của miền Tây Nam Bộ. Là thành phố đông dân và lớn nhất Việt Nam. Nơi đây là đầu mối giao thông lớn, nối liền với các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế của khu vực. Ngay cái nhìn đầu tiên, Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh đã để lại ấn tượng sâu sắc của một đô thị lớn nhất, náo nhiệt nhất và năng động nhất trong cả nước. Những phố xá đèn sáng choang, sinh hoạt và vui chơi giải trí kéo dài đến tận khuya. Những dòng xe cộ hối hả trên khắp các ngả đường như không bao giờ dứt. Dãy dãy cửa hiệu với hàng hóa phong phú đủ màu, đủ loại góp phần làm nên danh tiếng Sài Gòn thiên đường mua sắm. Nhan nhãn những quán ăn, cửa tiệm, nhà hàng với thực đơn rất đa dạng khiến ẩm thực trở thành một cái thú không thể thiếu đối với du khách đến nơi đây.
Xem thêm

22 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

GVHD: Nguyễn Thúy Hằng Thành viên: Trần Kiều Linh B1309279 Nguyễn Quốc Hậu B1207358 Dương Việt Trinh B1309346 Ngô Hải Long 115209 PHƯƠNG PHÁP NĂNG SUẤT TÓM TẮT Bài viết này xem xét tính khả thi và độ tin cậy của các giá trị ước tính về Phương pháp Năng suất bằng cách áp dụng nó vào nhà máy xử lý nước Gubi ở Bauchi, Nigeria. Các cơ sở lý luận của phương pháp xác định giá trị kinh tế cũng đã được kiểm tra để làm rõ cơ sở, lý do cơ bản và điều kiện của họ, theo đó bài viết sẽ được hợp lệ. Cuộc phỏng vấn được tiến hành với các cán bộ quản lý của các nhà máy và Bộ Tài nguyên nước ở Bauchi. Từ các dữ liệu thu thập N127,900,000 đã được tiết lộ như chi phí hàng năm của xử lý nước trước khi kiểm soát ô nhiễm. Nghiên cứu kết luận rằng phương pháp này áp dụng trong khu vực nghiên cứu mà cần phải được cải thiện, để làm cho các giá trị ước tính đáng tin cậy hơn trong việc phát triển nền kinh tế. Trong số các lĩnh vực khác như văn hóa được phản ánh trong thái độ và quản lý, đã quan sát được là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp trong nghiên cứu khu vực. Cuối cùng, các khuyến nghị đã được thực hiện cho việc chiết khấu các lợi ích kinh tế để phản ánh giá trị thời gian của tiền và luật môi trường được thực thi cho các phương pháp có hiệu quả hơn. Từ khóa: Đa dạng sinh học, hệ sinh thái, sự định giá, giá sẵn lòng trả Giới thiệu Nghiên cứu dựa trên giá trị thường chỉ là nguồn khách quan và đáng tin cậy của thông tin mà các nhà hoạch định chính sách về giá trị và cách duy nhất để ngăn cản các khoản đầu tư lãng phí môi trường mà không phải là lợi ích công cộng. Ưu tiên chính sách trong việc ra quyết định về chi tiêu bảo tồn đòi hỏi thông tin về Sự kiện và Giá trị đó là nguồn gốc thông qua: (1) Thông tin giá trị miễn phí được cung cấp bởi các nhà khoa học; (2) Các nhóm lợi ích thu được từ việc bán phá giá (3) (Hội đồng nghiên cứu quốc gia (NRC), 1999) nghiên cứu cho thấy khó khăn và tranh cãi khi nghiên cứu dựa trên giá trị , nó là mục tiêu duy nhất và là nguồn gốc của thông tin mà các nhà hoạch định chính sách có về giá trị. Thường thì nó là cơ sở đáng tin cậy duy nhất đối với lợi ích được quan tâm đặc biệt về giá trị, và cách duy nhất để khuyến khích đầu tư tránh lãng phí về lợi ích môi trường mà không phải là lợi ích công cộng (Daily, 1997). Về mặt lý thuyết, đa dạng sinh học, hoặc một sự cố của sự đa dạng sinh học, bao gồm tính chất bất đồng hoặc sự đa dạng trong thế giới sinh vật (Encarta, 2009). Mặc dù đa dạng sinh học cũng có thể có giá trị kinh tế đáng kể, so với sự thay thế tiêu hao sử dụng tài nguyên, giá trị kinh tế không cho chúng ta tất cả mọi thứ chúng ta cần phải biết về giá trị đa dạng sinh học, nó chủ yếu là giúp trong các chính sách ưu tiên trong quá trình ra quyết định (Wilson, 1998). Giá trị kinh tế là một nỗ lực để cung cấp một tài khoản thực nghiệm về giá trị của các dịch vụ và tiện nghi trong những lợi ích và chi phí của các hành động được đề xuất (dự án hay chính sách) mà sẽ thay đổi dòng chảy của các dịch vụ và tiện nghi. kinh tế định giá cung cấp một tài khoản tiện dụng (có nghĩa là, một tài khoản đóng góp cho sự hài lòng của các sở thích của con người). Do đó, nó cung cấp một quan điểm cụ thể về giá trị (NRC, 1999). Xác định giá trị hệ sinh thái có thể là một nhiệm vụ khó khăn và gây tranh cãi, và các nhà kinh tế đã thường xuyên bị chỉ trích vì cố gắng đưa một giá vào thiên nhiên (www.ecosystemvaluation.org, tháng sáu, 2006). Tuy nhiên, cơ quan phụ trách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và quản lý thường khó khăn trong việc đưa ra các quyết định có liên quan đến giá trị thương mại trong việc phân bổ nguồn lực. Những loại quyết định về kinh tế, được xác định hoặc rõ ràng hoặc ngầm hiểu , về giá trị xã hội. Do đó, giá trị kinh tế có thể có ích, bằng cách cung cấp một cách giải thích và thiết lập ưu tiên cho các chương trình, chính sách, hay hành động bảo vệ hoặc khôi phục hệ sinh thái và dịch vụ của họ (Evenson, 1995). Xác định giá trị đa dạng sinh học có khó khăn đặc biệt được liệt kê theo những lý do dưới đây: Hàng hóa phi thị trường: Hầu hết hàng hóa môi trường, chẳng hạn như làm sạch không khí và nước, và cá và động vật hoang dã quần thể khỏe mạnh, không có giao dịch trong thị trường. Giá trị kinh tế của họ (tức là bao nhiêu người sẽ sẵn sàng trả tiền cho họ bằng tiền) là không tiết lộ giá cả thị trường. Các lựa chọn duy nhất để gán giá trị tiền tệ để họ là dựa vào phương pháp xác định giá trị phi thị trường (Heal, 2000); Hàng hóa độc quyền: Một người tiêu thụ của hầu hết các hàng hóa (ví dụ như nhà ở) giảm số tiền có sẵn cho tất cả mọi người khác, nhưng hàng hóa môi trường khác nhau. Làm sạch nước và không khí, khung cảnh đẹp, và ở một mức độ giải trí ngoài trời, có thể được thưởng thức bởi tất cả mọi người trong cùng một cách như đài phát thanh và truyền hình. Hàng không độc quyền: Người dân không thể được loại trừ từ thưởng thức hầu hết các môi trường hàng hóa và các chi phí cố gắng để loại trừ chúng là cấm (www.ao.uiuc.edu, July 2006). Hàng hóa không thể tách rời: thực hành bảo tồn tại một vị trí nhất định đóng góp trong nhiều cách vòng xoay để hàng hóa môi trường và kết quả trong môi trường và kinh tế lợi ích mà tích luỹ trên một khoảng cách rất lớn trong thời gian và không gian. Nó có thể là không thể tách các lợi ích kinh tế là kết quả từ một thực tế bảo tồn thực hiện tại một khu vực này đến một khu vực khác. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC Mặc dù nguồn tài nguyên sinh học là vô giá, những nỗ lực được thực hiện thường xuyên để gán số đo giá trị đa dạng sinh học nhằm thu hút sự chú ý của chính phủ và lợi ích thương mại. Thật khó để đưa giá trị tiền tệ về lợi ích người dân xuất phát từ môi trường tự nhiên, nhưng trong khi đây là một nhiệm vụ khó khăn, một số phương pháp xác định giá trị đã được phát triển trong nỗ lực để cung cấp cho các ước tính giá trị thực tế của đa dạng sinh học. Các phương pháp bao gồm (www.ecosystemvaluation. org, March 2007): (a) Phương pháp năng suất: Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp hàng hóa dịch vụ môi trường là một số (hoặc một) trong những yếu tố đầu vào để sản xuất ra một sản phẩm thị trường. Một chức năng sản xuất thích hợp theo quy định có thể cho thấy sự đóng góp của các yếu tố đầu vào cho việc sản xuất và từ các thông tin này người ta có thể suy ra các lợi ích của các yếu tố đầu vào. Phương pháp này đòi hỏi dữ liệu phải được thu thập về những thay đổi trong số lượng hoặc chất lượng của tài nguyên môi trường ảnh hưởng (i) chi phí sản xuất cho sản phẩm cuối cùng, (ii) nhu cầu và cung ứng của các sản phẩm cuối cùng, (iii) nhu cầu và cung ứng của các yếu tố sản xuất khác. Thông tin này được sử dụng để liên kết các tác động của những thay đổi về số lượng hoặc chất lượng của các nguồn tài nguyên dẫn đến thay đổi trong thặng dư tiêu dùng và hoặc thặng dư sản xuất, và qua đó ước tính lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, không phải tất cả hàng hóa dịch vụ môi trường đều có liên quan đến việc sản xuất hàng hóa trên thị trường. Thực tế này đã hạn chế phạm vi áp dụng của phương pháp này. Trong việc đưa ra các chính sách, người ta phải hiểu được mối quan hệ giữa hành động để cải thiện chất lượng và số lượng của các nguồn tài nguyên và kết quả của những hành động này. Những mối quan hệ không rõ ràng. Nếu những thay đổi trong sự sẵn có, số lượng và chất lượng của hàng hóa dịch vụ môi trường ảnh hưởng đến giá thị trường của sản phẩm cuối cùng, hoặc giá của bất kỳ yếu tố đầu vào khác, phương pháp này là rất khó áp dụng. Đặc điểm kỹ thuật và dự toán của một hàm sản xuất phù hợp không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Hơn nữa, các khái niệm về hàm sản xuất giả định sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào, trong đó, trong thực tế cuộc sống không phải lúc nào cũng khả thi. Có rất nhiều trở ngại để sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào, chẳng hạn như Xhiệu quả, nguy cơ về đạo đức, phí bảo hiểm cho bất trắc, sự thiếu hiểu biết,…. Nó cũng đã được chỉ ra rằng việc phân tích hoạt động, chứ không phải là chức năng sản xuất, cung cấp một hình ảnh thực sự của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Nếu phân tích hoạt động của quá trình sản xuất được thực hiện như một nền tảng cho phương pháp xác định giá trị năng suất, định giá tốt hơn và đáng tin cậy hơn sẽ có thể (b) Phương pháp giá thị trường: Phương pháp này ước tính thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất bằng cách sử dụng giá thị trường và số lượng dữ liệu về hàng hóa dịch vụ môi trường (ví dụ như cá, gỗ) được giao dịch trên thị trường. Thặng dư của người tiêu dùng là lợi ích được hưởng của người tiêu dùng trên các chi phí mà họ đã chi trả để có được chúng. Tương tự như vậy, thặng dư của nhà sản xuất là những lợi ích được hưởng của nhà sản xuất trên các chi phí mà họ đã phát sinh trong sản xuất và tiếp thị đầu ra. Tổng lợi ích kinh tế ròng hoặc thặng dư kinh tế, là tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất. Hàng hóa và dịch vụ môi trường tạo ra thặng dư ròng lớn hơn có giá trị hơn. Phương pháp này có một số hạn chế. Thứ nhất, vì chỉ có một vài hàng hóa dịch vụ môi trường được mua và bán trên thị trường, sự phủ sóng của nó là hạn chế. Thứ hai, sự không hoàn hảo của thị trường làm méo mó giá cả và hiệu quả của giá cả trong việc đo lường lợi ích ròng. Giá cả cũng khác nhau tùy theo mùa và theo chu kỳ. Hơn nữa, phạm vi của nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế kém phát triển nhiều nguồn lực góp phần vào việc sản xuất dẫn đến tình trạng thị trường không tính được và do đó không được phản ánh vào giá cả. Nó cũng có thể được lưu ý rằng ước tính lợi ích kinh tế ròng phụ thuộc vào dự toán của người tiêu dùng và nhà sản xuất dư thừa, do đó, phụ thuộc vào các thông số kỹ thuật của nhu cầu và đường cung. Tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật, các mối quan hệ chức năng giữa cung, cầu và yếu tố quyết định của họ có thể sẽ cực kỳ phức tạp hoặc rất đơn giản. Các mối quan hệ chức năng có thể tuyến tính hoặc phi tuyến tính, hai biến hoặc đa biến và như vậy. Danh sách các biến số quyết định (như thu nhập, giá cả của các sản phẩm thay thế, giá các mặt hàng khác, vv) có thể không phải là một viêc dễ dàng thực hiện. Do tất cả các yếu tố đó, dự toán của người tiêu dùng cũng như thặng dư nhà sản xuất sẽ được mô hình phụ thuộc. Do đó, lợi ích ròng ước tính cũng sẽ là mô hình phụ thuộc. (c) Phương pháp định giá hưởng thụ: Xem xét một (thị trường) sản phẩm dịch vụ như là một gói các đặc điểm (như Lancaster đã đề xuất). Các nhà sản xuất làm phong phú thêm sản phẩm của mình với những đặc điểm về nhu cầu (và một số chi tiết mà có thể gây ra sự phân biệt sản phẩm và hoặc bao che cho các nhu cầu của một khách hàng lớn hơn hoặc không đồng nhất). Một người mua có nhu cầu cho một số những đặc điểm này (có lẽ, không phải tất cả các đặc điểm mà bó cho biết sở hữu) và trả tiền cho họ. Một phòng giảm các đặc tính mong muốn sẽ làm giảm nhu cầu đối với các bó (tốt dịch vụ) và do đó sẽ ảnh hưởng đến giá của nó xấu và ngược lại. Trong mạch này, một số sản phẩm trên thị trường được gắn với một số hàng hóa dịch vụ môi trường. Khi một người mua những hàng hóa dịch vụ, ông cũng mua các hàng hóa dịch vụ môi trường gắn liền với họ. Người mua trả tiền không chỉ đối với hàng hóa dịch vụ trên thị trường, mà còn cho các gói bao gồm các hàng hóa dịch vụ môi trường gắn lên. Một phòng giảm giá hàng hóa dịch vụ môi trường, do đó, làm giảm các gói và làm giảm giá của nó. Thực tế này được sử dụng theo phương pháp giá cả hưởng thụ xác định giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường. Vì vậy, phương pháp này là thích hợp nhất để đánh giá giá trị của các thuộc tính môi trường địa phương. Nó được sử dụng để ước tính lợi ích kinh tế hoặc chi phí liên quan đến chất lượng môi trường, như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, hoặc tiếng ồn, và môi trường tiện nghi, chẳng hạn như quan điểm thẩm mỹ hoặc gần với các khu vực giải trí… Những thuộc tính trực tiếp ảnh hưởng đến tiền thuê nhà và giá đất ở một địa phương. Từ những thay đổi trong giá thuê nhà, đất, xác định giá trị của các thuộc tính môi trường được thực hiện. Phương pháp này chỉ áp dụng để xác định giá trị của những mặt hàng dịch vụ môi trường được gắn với một thị trường hàng hóa dịch vụ và giá cả của các phản ứng sau những thay đổi trong chất lượng số lượng và các thuộc tính của các cựu. Nó cũng giả định rằng không có gì khác làm thay đổi mối quan hệ giữa chúng. Hơn nữa, phương pháp này đòi hỏi một cơ sở dữ liệu phong phú và phương pháp ước lượng đáng tin cậy. Nó cũng là nhạy cảm với sự lựa chọn của các đặc điểm kỹ thuật mô hình được sử dụng để ước tính ở bàn tay. Một đặc điểm kỹ thuật sai trái của các mô hình hoặc các phương pháp ước lượng có thể dễ dàng đánh giá thấp hoặc đánh giá quá cao xác định giá trị hàng hóa dịch vụ môi trường. (d) Phương pháp chi phí du hành: Phương pháp chi phí du lịch dựa trên giả định rằng chi phí mà người dân phải chịu để tham quan một khu vực là việc thanh toán hoặc giá của truy cập tới các khu vực và các dịch vụ môi trường của nó. Nó có thể được đo bằng giá trị tiền của thời gian cũng như chi phí của cuộc hành trình. Sẵn sàng trả tiền để truy cập khu vực của người dân có thể được ước tính dựa trên số lượng các chuyến đi mà họ thực hiện tại chi phí đi lại khác nhau. Phương pháp chi phí du hành thường được sử dụng để ước tính giá trị sử dụng kinh tế của các điểm vui chơi giải trí hoặc các khu vực, ảnh hưởng của những thay đổi trong chi phí tham quan cho một khu vực giải trí, xóa bỏ một khu vực giải trí hiện có, phát triển của một khu vực giải trí mới và bổ sung hoặc loại bỏ một số dịch vụ môi trường hoặc thay đổi trong chất lượng của các dịch vụ có sẵn tại một khu vực giải trí. Nó cũng có thể được sử dụng để đánh giá các quyết định vị trí của một dịch vụ công mà trong đó có nhiều người đến thăm. Phương pháp chi phí du hành là bàn bạc, không tốn kém và đáng tin cậy, nhưng nó có những hạn chế riêng của nó. Đặc biệt, nó rất khó để gán giá trị bằng tiền để chi phí thời gian của chuyến thăm một địa điểm. Nếu các lần phục vụ cho nhiều mục đích của khách tham quan, hoặc kết hợp rất khác nhau của các mục đích khác nhau của khách tham quan khác nhau, phương pháp này có thể cắt giảm một số lỗi trong việc ước tính giá trị sử dụng dịch vụ đặc điểm của một khu vực (e) Chi phí tránh được thiệt hại, Chi phí thay thế (f) Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM): Cái tên “ngẫu nhiên” dựa trên các tính năng đặc trưng của phương pháp này là nó hoạt động trên yêu cầu mọi người ghi sẵn sàng chi trả, ngũ trên một kịch bản giả định cụ thể và mô tả về hàng hóa môi trường và dịch vụ của họ. Nó được dựa trên một giả định rằng mọi người sẽ làm những gì họ nói. Thật vậy giả thiết này làm cho các nền tảng của phương pháp này khá run rẩy vì các tương đẳng trong suy nghĩ, nói và làm là không cần thiết. Nó không phải là bất thường để trải nghiệm rằng khi nói người được hướng dẫn bởi các lý tưởng, nhưng trong khi làm họ quên khá lý tưởng. Tuy nhiên, nếu có một số liên quan đáng kể giữa nói và làm, phương pháp này có thể rất thành công trong việc khơi gợi sự tự nguyện của người dân để chi trả cho các hàng hóa và dịch vụ môi trường và do đó, giá trị của họ. Vì vậy, các cấp rằng giả định của mình là đúng, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là một phương pháp rất linh hoạt có thể được áp dụng để xác định giá trị của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường không phân biệt họ đang được thị trường hay không thị trường. Nó có thể được sử dụng để ước tính giá trị sử dụng, không sử dụng (thụ động) giá trị, lựa chọn giá trị (dành cho một người sử dụng trong tương lai) hoặc giá trị thừa kế (dành cho việc sử dụng bởi các thế hệ tương lai). Mặt khác, nó cũng là gây tranh cãi nhất trong số các phương pháp xác định giá trị phi thị trường, chủ yếu là trên tài khoản của giả định không vững chắc. Nó sẽ có giá trị để mô tả các bước để được theo sau trong việc áp dụng phương pháp này để xác định giá trị hàng hóa và dịch vụ môi trường. Để bắt đầu, người đánh giá phải xác định các vấn đề định giá, mô tả tính chất, mức độ phù hợp, ý nghĩa của nó… Nó dễ dàng hơn và tự nhiên hơn để diễn tả của một người sẵn sàng trả tiền cho một dịch vụ tốt hay cái nào là có liên quan với hơn đối với những hàng hóa và dịch vụ không có một mối quan tâm, sự liên quan hay thậm chí đầy ý nghĩa. Trong bước thứ hai, tính chất, quy trình khảo sát được quyết định. Điều gì sẽ là phương thức có được sự trả lời hoặc dữ liệu vào sự sẵn sàng bày tỏ để trả? Những câu hỏi được được hỏi? người sẽ được điều tra? Điều gì sẽ là cỡ mẫu? Và các chi tiết như vậy về các nhạc cụ, bị đơn và thủ tục của các cuộc khảo sát phải được xác định một cách cẩn thận. Các cuộc điều tra có thể khá tốn kém nếu bị đơn có được đáp ứng trong người. Trong trường hợp đó, những hạn chế chi phí khảo sát là để được nhìn vào. Các dụng cụ và thủ tục của cuộc khảo sát là để được kiểm tra và hoàn thiện trước khi họ cuối cùng đã thực hiện. Trong bước tiếp theo các cuộc khảo sát thực tế được thực hiện trên những người được hỏi mẫu được lựa chọn bởi một phương pháp lấy mẫu được thiết kế tốt. Cuối cùng, các dữ liệu thu được thông qua các cuộc điều tra được phân tích để đánh giá sự sẵn sàng thể hiện chi trả. Trong phân tích ta có thể đối phó với những người không phản ứng phù hợp. Kết quả của việc thực hiện dựa trên các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên có thể dễ bị nhiều thành kiến: (i) thành kiến do chênh lệch giữa nhập khẩu nhằm mục đích (của người đánh giá) và nhận được nhập khẩu (do người được hỏi) của kịch bản giả thuyết đưa ra trong khảo sát, (ii) thành kiến do liên kết của các kịch bản khác nhau với một đưa lên bởi người đánh giá trước khi trả lời phỏng vấn một khi người đánh giá đã đưa ra một kịch bản trước khi trả lời, nó có thể gọi các kịch bản khác trong tâm trí của người trả lời ức chế hoặc thúc đẩy tăng lên sự đánh giá của các kịch bản của người đánh giá. Điều này có thể dẫn đến những phản ứng sai lệch, (iii) kịch bản Evaluator của thể gọi ánh sáng ấm áp có hiệu lực cảm giác tốt để trả cho lợi ích công cộng, hoặc nó có thể làm giảm các phản ứng thực tế do những định kiến chính trị gợi lên bởi các kịch bản do đó làm cho các phản ứng thiên vị , (iv) thành kiến do kinh doanh bình thường của người trả lời với bài tập toàn bộ của cuộc khảo sát có thể có, (v) Nếu người đầu tiên hỏi cho sẵn sàng chi trả cho một phần của một tài sản môi trường và sau đó họ được yêu cầu đánh giá toàn bộ tài sản, các khoản ghi có thể tương tự. Điều này được gọi là hiệu ứng nhúng. Do hiệu ứng này, các câu trả lời là thiên vị. (vi) thiên vị chiến lược khi người trả lời cung cấp một câu trả lời thành kiến để tác động đến một kết quả cụ thể. (vii) thiên vị thông tin nó phát sinh khi người ta phải bày tỏ quan điểm của họ về cái gì đó mà họ không biết đúng. Trong việc áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, nhiều người trả lời có thể không có khả năng đánh giá cao các vấn đề và sẵn sàng thể hiện mình để thanh toán có thể kết hợp loại này thiên vị. Sự thành công của phương pháp này nằm trong những kết luận ròng của những thành kiến. Đây là một nhiệm vụ kỳ diệu. Mặc dù đó là tuyên bố rằng phương pháp này cũng không kém phần hiệu quả trong việc có được các loại khác nhau của các giá trị giá trị sử dụng, giá trị không sử dụng, giá trị tùy chọn và giá trị thừa kế người ta phải nhìn vào những định kiến mà mọi người triển lãm giữa sự lựa chọn của hiện tại trong tương lai và các sự lựa chọn của mình hơn những người khác (con). Tương lai là không chắc chắn. Con người trải qua một sự thay đổi lớn trong việc chỉ trong một phần của thời gian cuộc sống của họ. Sự không chắc chắn luôn luôn chi phí và chi phí này là rất có khả năng được đưa vào các giá trị mà người được hỏi bày tỏ. Trong việc sử dụng các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, thực tế này không nên đánh mất (g) Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên: Giống như phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên là một phương pháp rất linh hoạt, có thể được áp dụng để xác định giá trị của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường không phân biệt họ đang được thị trường hay không thị trường. Nó có thể được sử dụng để ước tính giá trị sử dụng, không sử dụng giá trị (thụ động) giá trị tùy chọn (dành cho một người sử dụng trong tương lai) hoặc giá trị thừa kế (dành cho việc sử dụng bởi các thế hệ tương lai). Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên cũng được gọi là phân tích kết hợp. Nó được phát triển trong các lĩnh vực marketing và tâm lý để đo sở thích cá nhân của các đặc tính khác nhau hoặc các thuộc tính của một sự lựa chọn vấn đề đa thuộc tính. Phương pháp này cũng tương tự như các đánh giá ngẫu nhiên. Giống như phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, nó được dựa trên yêu cầu mọi người ghi sẵn sàng để trả tiền, ngũ trên một kịch bản giả định cụ thể và mô tả hàng hóa môi trường khác nhau và các dịch vụ mà họ phải thực hiện một sự lựa chọn. Làm lựa chọn trong số các lựa chọn thay thế khác nhau (hàng hóa và dịch vụ môi trường) trong một kịch bản mô phỏng hoặc nhân tạo chứ không trực tiếp gán giá trị bằng tiền đối với hàng hoá dịch vụ được thực hiện trong các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là tính năng đặc trưng của phương pháp này. Từ các dữ liệu trên các lựa chọn ngũ hoặc thích thương mại được thực hiện bởi các người, các giá trị khác nhau (thay thế) hàng hóa môi trường dịch vụ này được suy ra bằng cách sử dụng phương pháp khác nhau. Phương pháp này gợi ra những thông tin từ những công vào sở thích giữa các lựa chọn thay thế khác nhau của hàng hóa và dịch vụ môi trường, với mức giá khác nhau hoặc chi phí cho cá nhân.Có nhiều hình thức khác nhau để thực hiện các phân tích lựa chọn ngẫu nhiên. Một số trong số đó là: (a) Xếp hạng ngẫu nhiên trong các cuộc điều tra cá nhân được yêu cầu so sánh và xếp hạng các kết quả hành động xen kẽ với các đặc tính khác nhau, bao gồm cả chi phí, (b) Lựa chọn rời rạc người trả lời được hiển thị đồng thời lựa chọn thay thế khác nhau và đặc điểm của họ, và yêu cầu xác định sự thay thế ưa thích nhất trong việc lựa chọn, (c) Bình chọn đôi người trả lời được yêu cầu so sánh hai tình huống thay thế và được yêu cầu đánh giá chúng về sức mạnh ưu tiên. Các lựa chọn chào của người trả lời được phân tích thống kê bằng cách sử dụng kỹ thuật thống kê lựa chọn rời rạc, để xác định các giá trị tương đối của các đặc điểm khác nhau hoặc các thuộc tính. Vì giá là một trong những đặc điểm của các lựa chọn thay thế, lựa chọn được gắn thẻ với các biện pháp tiền. Có thể, do đó, để tính sẵn sàng của bị đơn phải trả cho các đặc tính khác. Nó có thể được lưu ý rằng nguồn gốc của các giá trị từ các dữ liệu trên các lựa chọn ngũ là khó khăn hơn và đòi hỏi hơn từ các dữ liệu về định giá ngũ. Phương pháp khác nhau đã được phát triển cho mục đích này. Một phương pháp rất mạnh để kết thúc này là “Phân tích lựa chọn rời rạc”. Phân tích lựa chọn rời rạc bao gồm một loạt các kỹ thuật thử nghiệm thiết kế, thủ tục thu thập dữ liệu, và các thủ tục thống kê có thể được sử dụng để dự đoán những sự lựa chọn mà người tiêu dùng sẽ làm cho giữa lựa chọn thay thế. Những kỹ thuật này được áp dụng khi người tiêu dùng có khả năng lựa chọn giữa (rời rạc) các khóa học riêng biệt của hành động. Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên có lẽ là phương pháp hiệu quả nhất để khơi gợi sự sẵn lòng bày tỏ để thanh toán hàng hóa và dịch vụ môi trường mà có thể hoặc không thể được giao dịch trên thị trường. Tuy nhiên, nó có một số hạn chế chủ yếu là do các phương pháp đó thông qua. Thứ nhất, người trả lời có thể tìm thấy một số cân bằng khó khăn để đánh giá, bởi vì họ không quen thuộc với họ có thể giới thiệu sai lệch thông tin vào sự lựa chọn của họ. Thứ hai, những người trả lời có thể áp dụng quy tắc quyết định rất đơn giản và thường xuyên nếu những lựa chọn phức tạp. Thứ ba, sự phức tạp của cuộc khảo sát, phân tích phản ứng và phát triển ít nhất là ở một tỷ lệ bậc hai với số lượng các lựa chọn thay thế có trong kịch bản. Khi trình bày với một số lượng lớn các câu hỏi đánh đổi, trả lời có thể mất hứng thú hoặc trở nên thất vọng và tâm lý không phù hợp. Mặt khác, bằng cách chỉ cung cấp một số lượng hạn chế các lựa chọn, các cuộc điều tra có thể buộc người trả lời để làm cho sự lựa chọn mà họ đã không làm khác đi. (h) Phương pháp chuyển giao lợi ích: liên quan đến chuyển giao gía trị ước tính từ các nghiên cứu định giá kinh tế hiện có đến các mặt trong vấn đề nghiên cứu, điều chỉnh lại những điểm thích hợp. Phương pháp này có lợi thế là nó tương đối không tốn kém và nhanh chòng thực hiện, nhưng phải thực hiện thật kĩ lưỡng và rõ ràng để tránh “sai một li đi một dặm”. Phương pháp này ngày càng được sử dụng nhiều vì hiệu quả chi phí của nó. Mặc dù ban đầu gọi là “lợi ích chuyển đổi”, bởi vì các giá trị bị chuyển cũng có thể là chi phí, nên dần dần đổi thành “giá trị chuyển đổi”. Ngoài ra, định giá phi tiền tệ của các lợi ích hệ sinh thái có thể có thể thông qua một loạt các phương pháp trong đó bao gồm các phương pháp tiếp cận nhiều tiều chí, thận trọng hoặc đặc biệt. Đặc biệt, “phân tích cân bằng môi trường sống” có thể được dùng để xác định số lượng môi trường sống mới cần thiết( tức là được khôi phục hoặc tạo ra) để bù đắp cho những tổn thất hàng hóa và dịch vụ từ những khu vực bị tàn phá của môi trường sống tương tự. Dữ liệu về giá trị kinh tế là bằng chứng trực tiếp và gián tiếp 1 cách cơ bản từ các thị trường và bên thứ ba thường được chấp nhận cách tiếp cận để định giá các giá trị tiền tệ của dịch vụ hệ sinh thái là: Biểu lộ sự sẵn lòng chi trả (giá thị trường): Khi người ta mua một cái gì đó (ví dụ như một nhà) hoặc dành thời gian và tiền bạc để có được một nơi nào đó (ví dụ như một điểm câu cá) họ tiết lộ rằng họ sẵn sàng trả ít nhất những gì họ thực sự chi tiêu; họ có thể sẵn sàng trả nhiều tiền hơn. Dịch vụ hệ sinh thái, như nước sạch, được sử dụng như là đầu vào trong sản xuất, và giá trị của họ có thể được đo lường bằng sự đóng góp của họ cho lợi nhuận làm từ sản phẩm cuối cùng. Giá mọi người sẵn sàng trả tiền tại các thị trường liên quan cho hàng hóa có thể được sử dụng để ước tính giá trị của họ. Bày tỏ sự sẵn lòng chi trả (Kết quả khảo sát): Nhiều dịch vụ không có giao dịch trong thị trường để mọi người có thể không bao giờ tiết lộ những gì họ sẵn sàng trả tiền cho họ. Giá trị một số dịch vụ hệ sinh thái có thể được đo bằng cách ước tính những ai sẵn sàng phải trả tiền để tránh những tác dụng phụ có thể xảy ra nếu các dịch vụ này đã bị mất, hoặc để thay thế các dịch vụ bị mất. Sẵn sàng xuất phát để trả tiền (bằng chứng gián tiếp): Khảo sát có thể được sử dụng để yêu cầu mọi người 1 cách trực tiếp những gì họ sẵn sàng trả tiền dựa trên một kịch bản giả định. Ngoài ra, mọi người có thể được yêu cầu để làm cho sự cân bằng giữa khả năng khác nhau,từ đó sự sẵn lòng chi trả của họ có thể được ước tính Các giải pháp tiền tệ của giá trị hệ sinh thái: Trong kinh tế học vi mô, nó thường được Xem như là một thước đo giá trị dựa trên những gì mọi người mong muốn và rằng người, và không phải là chính phủ, các nhà khoa học, hoặc giảng thuyết (Stanlake và Grant, 1999).Tiền là một cơ sở vô cùng hữu ích và phổ quát được sử dụng để thể hiện và so sánh giá trị kinh tế vì số tiền mà mọi người sẵn sàng trả tiền cho một cái gì đó phản ánh bao nhiêu để bán hàng hóa và dịch vụ mà họ sẵn sàng khác từ bỏ để có được nó. Trong trường hợp của các hệ sinh thái ,điều đó rất quan trọng để đo lường các giá trị kinh tế của một cái gì đó dựa trên khái niệm này không yêu cầu rằng nó được mua và bán ra trên thị trường, nhưng yêu cầu một người nào đó ước tính có bao nhiêu lượng mua (bằng tiền) người dân sẽ sẵn sàng từ bỏ để có được nó (hoặc sẽ cần phải trả tiền để cung cấp cho nó lên) nếu họ bị buộc phải chọn lựa (Freeman, 2003). Quá trình Đánh giá kinh tế của đa dạng sinh học: Mục tiêu của bất kỳ định giá là việc xác định giá trị, cho dù bằng tiền hoặc bằng tỷ lệ đo lường hàng yêu cầu đổi. Mục tiêu của bất kì định giá nào cũng là việc xác định giá trị, cho dù bằng tiền hoặc như là một tỷ lệ đo lường hàng hoá đòi đổi. Quá trình này bao gồm: (a) các vấn đề được xác định, (b) các dữ liệu cần thiết được xác định, thu hồi, phân loại, phân tích, giải thích; và (c) các dữ liệu được áp dụng cho các phương pháp khác nhau để đi đến việc xác định giá trị (Ifediora, 2009). Xác định giá trị đa dạng sinh học dựa trên các thông tin chi tiết từ khoa học tự nhiên . Một môi trường có thể được đánh giá như một tài sản, trong trường hợp mà giá trị của nó sẽ là giá trị hiện tại ròng của các dịch vụ mà nó cung cấp hiện tại và trong tương lai. Ngoài ra, một số hành động được đề xuất (một dự án hay chính sách) có thể được định giá; giá trị sau đó sẽ là giá trị hiện tại ròng của sự thay đổi trong các dịch vụ mà môi trường sẽ cung cấp trừ đi các chi phí thực hiện các hành động được đề xuất. Hoặc cách khác, định giá đòi hỏi kiến thức chi tiết về các luồng dịch vụ môi trường, các chi phí phát sinh trong việc chuẩn bị các dịch vụ này để thưởng thức của con người, và của sự đáp ứng của các luồng dịch vụ và chi phí để can thiệp của con người (Randall, 1987 và NRC, 1999). Phương pháp Năng suất: Các phương pháp sản xuất, hay còn gọi là mạng thu nhập yếu tố hoặc phương pháp giá trị có nguồn gốc, được sử dụng để ước tính giá trị kinh tế của sản phẩm hoặc dịch vụ hệ sinh thái, góp phần vào việc sản xuất thương mại hàng hóa trên thị trường. Nó được áp dụng trong trường hợp các sản phẩm hoặc dịch vụ của một hệ sinh thái được sử dụng, cùng với các yếu tố đầu vào khác, để tạo ra một sản phẩm thị trường (Shiklomanov, 2000). Ví dụ, chất lượng nước ảnh hưởng đến năng suất của hệ thống tưới tiêu nông nghiệp cây trồng, hoặc các chi phí làm sạch nước uống, thành phố. Các nguyên tắc cơ bản của Phương pháp Năng suất là kiểm soát ô nhiễm môi trường là một sự thay thế trực tiếp cho đầu vào sản xuất khác, chẳng hạn như các hóa chất lọc nước và lọc. Do đó, lợi ích của việc cải thiện chất lượng nước có thể dễ dàng liên quan đến giảm chi phí làm sạch nước. Năm 2005, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Bauchi State (BASEPA) giới thiệu một số biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lưu vực của nhà máy xử lý nước Gubi Dam ở Bauchi, với sự tăng thêm cải thiện chất lượng nước thô vào đập do đó làm giảm chi phí xử lý nước. Mục đích chính của nghiên cứu này là đánh giá tác động của kiểm soát ô nhiễm biện pháp của BASEPA 20052008 sử dụng phương pháp Năng suất kinh tế để xác định giá trị đa dạng sinh học, nhằm làm nổi bật các sai sót của họ và làm cho khuyến nghị thích hợp về khắc phục hậu quả của họ. Nghiên cứu sâu rộng đã được giới hạn với phương pháp năng suất giữa các phương pháp khác được sử dụng để xác định giá trị kinh tế của đa dạng sinh học. Bảng () dưới đây cho thấy phương pháp định giá thường được sử dụng để định giá các lợi ích hệ sinh thái khác nhau. Lưu ý rằng khi các lợi ích hệ sinh thái dịch chuyển trên vùng phổ từ giá trị sử dụng trực tiếp đến giá trị phi sử dụng, độ lớn của của giá trị thường tăng lên (ví dụ: giá trị không sử dụng thường vượt quá xa giá trị của các lợi ích hệ sinh thái ở các thị trường hiện có), trong khi mức độ tin cậy trong các kết quả thường giảm (ví dụ giá trị thị trường hiện tại đang chắc chắn nhất, và sở thích của các người trả lời khảo sát đã được nêu rõ cho các giá trị phi sử dụng đang ít chắc chắn nhất). Bảng (): So sánh các kỹ thuật đánh giá hệ sinh thái Loại Kỹ thuật Mô tả Số liệu cần thiết Thời gianNgân sách (US) Kỹ năng cần thiết Ưu điểm Nhược điểm Phương pháp tiếp cận tiết lộ sở thích Giá thị trường Tốn bao nhiêu để mua 1 sản phẩm sinh thái hoặc dịch vụ, hoặc những gì giá trị để bán Giá thị trường của sản phẩm sinh thái hoặc dịch vụ. Các chi phí liên quan để xử lý và đưa sản phẩm ra thị trường (ví dụ như gỗ chế biến). Nhiều ngàyThấp ( 100s1,000s) Cơ bản +Một phương pháp dễ dàng minh bạch và bảo vệ vì dựa trên dữ liệu thị trường. +Phản ánh sự sẵn lòng chi trả của một cá nhân (WTP) Chỉ áp dụng cho những nơi có thị trường của dịch vụ sinh thái và dữ liệu sẵn có Hiệu quả sản xuất Những thay đổi trong sản lượng của 1 hàng hóa hoặc dịch vụ thị trường liên quan đến sự thay đổi có thể đo lường được của sản phẩm sinh thái. Dữ liệu về các thay đổi trong sản lượng của một sản phẩm. Dữ liệu về quan hệ nguyên nhân và hậu quả (ví dụ như sự biến mất của thủy sản do mất môi trường sống của cỏ biển và san hô). Nhiều ngàyThấp ( 100s1,000s) Cơ bản +Đây là 1 phương pháp dễ áp dụng nếu dữ liệu có sẵn. Cần nhận biết và hiểu được mối quan hệ giữa các dịch vụ sinh thái và đầu ra của sản phẩm. Có thể khó khăn để có được dữ liệu về cả hai thay đổi trong các dịch vụ hệ sinh thái và trong ảnh hưởng đến sản xuất. Chi phí du hành Sử dụng thông tin về thời gian và tiền bạc của mọi người chi ra khi thăm một hệ sinh thái cho mục đích giải trí hoặc thư giãn để tính ra giá trị mỗi lần. Lượng thời gian và tiền bạc mà mọi người dùng để đến thăm một hệ sinh thái cho các mục đích giải trí hoặc thư giãn. Động lực cho du lịch. Nhiều tuầnnhiều tháng Cao (10,000s) Bảng câu hỏi ,phỏng vấn và phân tích kinh tế +Căn cứ vào hành động thực tế (những gì mọi người làm) hơn là nêu 1 giả thuyết WTP +Kết quả tương đối dễ hiểu và dễ giải thích. Phương pháp tiếp cận được giới hạn để sử dụng trực tiếp lợi ích giải trí. Khó khăn trong việc phân bổ chi phí khi chuyến đi là đến nhiều địa điểm hoặc là cho nhiều hơn một mục đích. Xem xét chi phí đi lại cá nhân bỏ qua các chi phí cơ hội của thời gian trong khi đi du lịch. Giá cả hưởng thụ Sự khác biệt về giá bất động sản hoặc tỷ lệ tiền lương có thể được gán cho những phẩm chất hoặc giá trị khác nhau của hệ sinh thái. Thông thường dữ liệu liên quan đến sự khác biệt về giá bất động sản hoặc tỷ lệ tiền lương có thể được gán cho những phẩm chất của hệ sinh thái khác nhau (ví dụ như một cảnh xem, chất lượng không khí). Nhiều tuần Trung bình ( 1,000s10,000s) Toán kinh tế +Một phương pháp dễ dàng minh bạch và bảo vệ vì dựa trên dữ liệu thị trường. + Thị trường bất động sản nói chung là khá nhạy nên dự báo tốt về giá trị. Phương pháp tiếp cận phần lớn là giới hạn lợi ích liên quan đến tài sản. Thị trường bất động sản bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bên cạnh các thuộc tính môi trường, do đó, những việc đó cần phải được xác định và giảm giá. Phương pháp tiếp cận dựa trên chi phí Chi phí thay thế Các chi phí thay thế một sản phẩm hay dịch vụ hệ sinh thái với các sản phẩm nhân tạo, cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ, về mặt chi phí lưu. Chi phí (giá thị trường) thay thế một sản phẩm hay dịch vụ hệ sinh thái bằng một vật nhân tạo tương đương (ví dụ: thay thế cỏ biển như một vườn ươm cá con với các trang trại cá). Nhiều ngàynhiều tuần Thấp ( 100s1,000s) Cơ bản + Cung cấp các phương pháp thay thế các giá trị cho các dịch vụ pháp lý (mà rất khó để định giá bằng các phương tiện khác). +Một phương pháp dễ dàng minh bạch và bảo vệ vì dựa trên dữ liệu thị trường. Có thể đánh giá quá cao giá trị. Không xem xét ưu đãi xã hội đối với các dịch vụ hoặc hành vi trong sự vắng mặt của các dịch vụ. Các dịch vụ thay thế có lẽ chỉ chiếm một tỷ trọng của các cấp đầy đủ các dịch vụ được cung cấp bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chi phí ngăn chặn thiệt hại Các chi phí phát sinh đối với tài sản, cơ sở hạ tầng và sản xuất khi các dịch vụ hệ sinh thái, trong đó bảo vệ các tài sản có giá trị kinh tế bị mất, về mặt chi phí lưu. Dữ liệu về các chi phí phát sinh đối với tài sản, cơ sở hạ tầng hoặc sản xuất như là một kết quả của sự mất mát của các dịch vụ hệ sinh thái. Thiệt hại theo các kịch bản khác nhau bao gồm “có và không có dịch vụ pháp lý. Nhiều tuần Thấp ( 100s1,000s) Quy trình kỹ thuật và vật lý sinh học + Cung cấp các biện pháp thay thế các giá trị cho các dịch vụ pháp lý mà khó để định giá bằng cách khác (ví dụ như bão, lũ lụt và kiểm soát xói mòn). Phương pháp này chủ yếu giới hạn các dịch vụ liên quan đến tài sản, tài sản và hoạt động kinh tế. Có thể đánh giá quá cao giá trị. Đánh giá ngẫu nhiên (CV) Suy ra các giá trị hệ sinh thái bằng cách hỏi những người sẵn lòng chi trả (WTP) cho họ hoặc sẵn sàng để chấp nhận (WTA) bồi thường thiệt hại của họ lưu của họ là trực tiếp những gì. Giá trị ghi rằng người đặt trên một hệ sinh thái tốt, dịch vụ (ví dụ như sự tồn tại của một loài, sạch sẽ của một bãi biển); thông tin nhân khẩu học và tiểu sử về người trả lời khảo sát. Thu được thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Nhiều tuầnnhiều tháng Cao ( 10,000s100,000s) Bảng câu hỏi thiết kế, phỏng vấn và phân tích kinh tế + Bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. + Cung cấp các giá trị về mặt lý thuyết chính xác hơn cho thay đổi biên (ví dụ giá trị mỗi% tăng độ che phủ san hô). + Cung cấp cho một kết quả chính xác hơn nhiều so với chuyển lợi. Các kết quả được giả định trong bản chất và chịu nhiều định kiến khác từ các đối tượng. Ví dụ: trả lời có thể thể hiện một WTP tích cực để thúc đẩy một ánh sáng ấm áp có hiệu lực, đánh giá quá cao giá trị. Ví dụ: nếu chi phí được coi là một loại thuế, trả lời có thể thể hiện một WTP tiêu cực, đánh giá thấp giá trị. Nó là nguồn lực chuyên sâu. Thử nghiệm lựa chọn (CE) Trình bày một loạt các nguồn tài nguyên hoặc sử dụng hệ sinh thái lựa chọn thay thế, sẽ được xác định bởi các thuộc tính khác nhau đặt ở mức độ khác nhau (bao gồm cả giá cả), và yêu cầu người trả lời để chọn câu (tức là bộ thuộc tính ở các cấp độ khác nhau) họ thích (ví dụ như các loài hiện tại và tỷ lệ che phủ san hô). Đối với CV trên, mặc dù CE tương phản kịch bản khác nhau. Một tập hợp các cấp độ được yêu cầu cho các thông số khác nhau (ví dụ: từ 0% phủ san hô để 100%). Nhiều tuầnnhiều tháng Cao ( 10,000s100,000s) Bảng câu hỏi thiết kế, phỏng vấn và phân tích kinh tế + Bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. + Cung cấp các giá trị về mặt lý thuyết chính xác hơn cho thay đổi biên (ví dụ giá trị mỗi% tăng độ che phủ san hô). + Cung cấp cho một kết quả chính xác hơn nhiều so với chuyển lợi. Các kết quả có thể thiên vị từ người trả lời và chỉ là giả thuyết trong tự nhiên. Nó là nguồn lực chuyên sâu. Có thể được tinh thần đầy thách thức đối với người trả lời thực sự cân nhắc các lựa chọn thay thế cho họ trong thời gian có sẵn. Chuyển giao lợi ích Chuyển giao lợi ích Liên quan đến việc chuyển giao dự toán giá trị từ các nghiên cứu đánh giá kinh tế hiện có để các điểm nghiên cứu trong câu hỏi, những điều chỉnh thích hợp. Định giá từ các nghiên cứu tương tự ở những nơi khác. Dữ liệu về các biến số chủ yếu từ các nghiên cứu khác nhau (ví dụ như GDP mỗi người). Nhiều ngàyThấp ( 100s1,000s) Phân tích cơ bản hay kinh tế nếu sử dụng chức năng đấu giá + Chi phí thấp và phương pháp nhanh chóng để ước lượng giá trị giải trí và không sử dụng. Các kết quả có thể có vấn đề, trừ khi áp dụng một cách cẩn thận. Hiện các nghiên cứu định giá có thể được mạnh mẽ hơn và nhiều hơn cho một số dịch vụ cho những người khác. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các thiết kế áp dụng trong nghiên cứu này là một sự nhìn chung định giá kinh tế của Đa dạng sinh học và phân tích các thủ tục định giá kinh tế của đa dạng sinh học như tài liệu. Các dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu thu được từ các cuộc phỏng vấn cá nhân tiến hành với bộ tài nguyên nước của Bauchi (BSMOWR) và cán bộ chủ chốt của BASEPA cũng như quan sát. Bauchi thuộc diện chính quyền địa phương của nhà nước Bauchi với diện tích bề mặt của 600 ha (Ita, et al, 1985) được đưa ra khi các nghiên cứu trường hợp. Đập được đưa từ bốn con sông khác nhau cụ thể là Ran, Tagwaye, Shadawanka và sông Gubi ở Bauchi trong khi diện tích lưu vực của nó, được xác định bởi địa hình, được bao bọc bởi các con đường chính trong thành phố Bauchi Ran đường từ Awalah Roundabout, qua Barkin Kura đến Wunti ,Yandoka và Jos sau đó thông qua các cơ khí từ làng này sang làng Gubi. Đập có khả năng bơm khoảng 45 triệu cubic mét nước mỗi ngày (khảo sát thực địa, 2008) .Các dữ liệu thu thập được phân tích bằng cách sử dụng lập bảng với số tiền và đồ thị. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Bảng 1: Sản xuất đầu vào cho uống tại Nhà máy xử lý nước Gubi Đầu vào sản xuất Phân loại Hóa chất xử lý nước biến số Chi phí trên không (tiền lương, nhiên liệu, không đổi văn phòng phẩm, chi phí văn phòng, vv) Hóa đơn Diesel cho Máy phát điện không đổi Bảo dưỡng Nhà máy thiết bị máy móc không đổi Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2008 Từ bảng 1, các chi phí duy nhất mà có thể bị ảnh hưởng bởi dòng nước thô sạch, như là kết quả của kiểm soát ô nhiễm tốt hơn, sẽ là các hóa chất xử lý nước. Chi phí quản lý, chi phí điện năng và bảo dưỡng không phải chịu trực tiếp đến chất nước chảy vào đập. Chi phí ước tính của các chất xử lý nước tại Gubi: Các yếu tố đầu vào sản xuất nước uống tại Gubi Dam trước khi kiểm soát ô nhiễm đã được giới thiệu. Bảng 2: Chi phí hàng năm điều trị tại Gubi Dam năm 2005 Xử lý nước Sự tiêu thụ Cách dùng Tỷ lệ Số lượng hóa học hằng năm chlorine 30 tấn Tẩy Uế 800,000tấn 24,000,000 Vôi Soda Ash 350 tấn Độ PH 100,000tấn 35,000,000 Phèn 700 tấn Lên men 95,000tấn 66,500,000 Poly điện giải 2,4 tấn Xúc tác 1,000,000tấn 2,400,000 Tổng 127,900,000 Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2008 Kiểm soát ô nhiễm tại Khu vực lưu vực đầm Gubi: Nhà nước Bauchi về môi trường Cơ quan Bảo vệ (BASEPA) là chủ yếu chịu trách nhiệm về việc kiểm soát ô nhiễm trong vòng các đô thị, bao gồm các khu vực dẫn nước nhà máy Gubi. Sau đây là thông tin thu thập tại BASEPA tiết lộ những nỗ lực của các cơ quan trong việc kiểm soát ô nhiễm trong các khu vực lưu vực: Ngay lập tức sơ tán của chất thải từ lưu vực Area: Cơ quan đã tăng từ hai chiếc xe tải ở điều kiện làm việc tốt trong năm 2000 đến mười lăm chiếc năm 2008 và nó đã có hiệu quả hơn trong việc thu gom chất thải Thay đổi địa điểm chôn lấp rác thải bên ngoài nước lưu vực Area: Một bãi rác là một khu vực sử dụng chôn lấp chất thải của vật liệu (Allaby, 1988), và BASEPA đã chuyển việc xử lý các vật liệu phế thải hoặc từ chối bằng cách chôn nó trong lỗ tự nhiên hoặc khai quật hoặc trầm cảm bên ngoài lưu vực nước, trong khi các bãi rác ban đầu trong phạm vi lưu vực khu vực đã được sơ tán Tách Vật liệu thải: Rác cũng được phân loại lại, để loại bỏ các vật liệu có thể có giá trị cứu hộ hoặc không thể được ủ. Sản phẩm chất thải khác nhau từ rác thải: chất thải phân huỷ từ thực phẩm; rác: chất thải không phân huỷ, hoặc dễ cháy (như giấy, gỗ, vải) hoặc không cháy (như kim loại, thủy tinh, gốm sứ); tro: dư lượng của quá trình đốt cháy các nhiên liệu rắn; chất thải lớn: việc phá hủy và các mảnh vụn và cây xây dựng; động vật chết; chất thải công nghiệp: chẳng hạn vật liệu là hóa chất, sơn, cát; và chất thải nông nghiệp: phân động vật trang trại và tàn dư cây trồng Ủ phân: Đây là quá trình sinh hóa trong đó các vật liệu hữu cơ, chẳng hạn như đá dăm cỏ và phế liệu nhà bếp, được phân hủy để một vật liệu phong phú, giống đất. Hoạt động ủ chất thải rắn bao gồm chuẩn bị rác và phân hủy các chất hữu cơ bởi các vi sinh vật hiếu khí sau khi ly thân. LỢI ÍCH CỦA KIỂM SOÁT Ô NHIỄM ĐẾN NHÀ MÁY NƯỚC GUBI Thiên nhiên đóng một vai trò thanh lọc lớn tại nhà máy kể từ khi nó loại bỏ nhiều tạp chất trước khi nước đạt đến đập qua lọc tự nhiên (www.en.wikipedia.org, May, 2008) Tuy nhiên, những nỗ lực của các đại lý là tiếp tục hạn chế vì những lý do sau đây: Thứ nhất, các biện pháp hầu như không ảnh hưởng đến khử trùng vì tác nhân gây bệnh chủ yếu đến từ nước thải và điều trị của nó không phải là hiện nay giải quyết của Cơ quan. Vì vậy hiệu quả tối đa mà nó có trên Chlorine là không đáng kể. Ở nhiều nước đang phát triển phần lớn nước thải sinh hoạt và công nghiệp là thải không qua xử lý hoặc sau khi điều trị tiểu học chỉ (en.wikipedia org., May, 2008). Hơn nữa, Gubi không có vấn đề các chất bẩn, tiết kiệm trong mùa mưa như là kết quả của sự xói mòn và không bị ô nhiễm do con người tạo ra. Tác dụng khác của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bao gồm giảm các yếu tố hóa học như chì, từ nước pin và hóa chất khác được thải bỏ bừa bãi; nitơ và phốt phát từ runoffs nông nghiệp. Tuy nhiên, những yếu tố này không đặc biệt xử lý trong quá trình điều trị; kể từ khi họ bám vào các hạt trong keo tụ và khi các hạt này được dỡ bỏ nhiều những yếu tố không kém gỡ bỏ, nhưng số còn lại sẽ được chuyển tới người tiêu dùng (BSMOWR, 2009). Do đó, ảnh hưởng của việc loại bỏ các mặt hàng từ nước không ảnh hưởng đến chi phí điều trị hóa chất đáng kể. Bảng 3: Lợi ích của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm Lợi ích Thành phần Giảm (%) Độ cứng của nước Giảm Lime 15% Giảm độ đục Giảm Alum 2% Giảm PE 2% Giảm axit Giảm vôi 15% Giảm tác nhân gây bệnh Giảm Chlorine 5% Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2009 Bảng 4: Chi phí Lợi ích của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm Thành phần (s) Giảm (%) Chi phí thành phần (N) Tổng Giảm Lime 30% 19,950,000.00 Giảm Alum 2% 700,000.00 Giảm PE 2% 48,000.00 Giảm Chlorine 5% 1,200,000.00 Tổng Giảm Giá Hàng năm N21,898,000.00 Hình 6: Giảm chi phí điều trị hóa chất (Nm) Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2009 Bảng 5: Giá quốc tế và hợp đồng của hóa chất xử lý tại Gubi Dam Tên hóa chất Giá quốc tế (N) Giá hợp đồng (N) Chlorine 31.200 tấn 800.000 tấn Lime Soda Ash 22.750 tấn 100.000 tấn Alum 11.050 tấn 95.000 tấn Poly Electrolyte 520.000 tấn 1.000.000 tấn Nguồn: Khảo sát hiện trường, 2009 Cuộc khảo sát được tiến hành quan sát để thấy rằng phương pháp này là khả thi dựa trên sự ứng dụng nó trên khu vực nghiên cứu mặc dù, một số yếu tố có thể ảnh hưởng những lợi ích dựa trên những kết quả sau đây: Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bởi BASEPA đề xuất có một tác động không đáng kể đến chi phí đầu vào bởi vì xử lý nước thải, mà đã có thể giảm đáng kể việc sử dụng Clo và các mối nguy hiểm tiềm năng của nó là không xem xét. Khoảng cách giữa Bauchi và Dam đã cung cấp một bản chất có nghĩa là loại bỏ nhiều tạp chất trước khi chúng đến đập thông qua lọc tự nhiên nhiều hơn so với các đại lý có thể làm. Trong đợt khảo sát nó được phát hiện rằng các hóa chất xử lý thường được cung cấp với giá cắt cổ. Giá này đã không làm cho các lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm tốt hơn 1 cách hiệu quả .Việc di dời các bãi rác bên ngoài khu vực đập chứa nước Gubi là một nỗ lực đáng khen ngợi nhưng một số cán bộ vô nguyên tắc của Cơ quan vẫn đổ các chất thải bất hợp pháp trong khu vực lưu vựcvì những chi phí ít ỏi. Vì những lợi ích sẽ vẫn còn miễn là việc kiểm soát ô nhiễm vẫn tiếp tục,lợi ích nên được đánh giá vĩnh viễn nghĩa là một hạn định giá chuyên nghiệp tính liên tục của các lợi ích. Sử dụng tổng lợi ích của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tức là N21,898,000.00, các dòng chảy tương lai của lợi ích có thể có giá trị vĩnh viễn sử dụng giá trị hiện tại của N1 mỗi năm (hoặc chiết khấu dòng tiền). KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Phương pháp này đã được chứng minh là áp dụng trong khu vực nghiên cứu, tuy nhiên, quá trình vẫn được cải thiện, để làm cho nó đáng tin cậy hơn ở các nước đang phát triển vì nó đã được chứng minh ở các nước đã phát triển. Trong số những yếu tố khác, văn hóa (được phản ánh trong quản lý và thái độ) đã được xem như là một nguyên nhân chính, ảnh hưởng đến hiệu quả của các phương pháp trong khu vực nghiên cứu. Các khuyến nghị sau đây có thể được thực hiện: 1. Phương pháp năng suất nên được sử dụng để ước tính vĩnh viễn. 2. Các phương pháp năng suất sẽ hiệu quả hơn khi các biện pháp kiểm soát ô nhiễm được thực hiện. Xử lý nước thải sẽ là biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường cần thiết trong khu vực nghiên cứu. Các thành phố lớn trên thế giới, bao gồm Abuja, có nhà máy xử lý nước thải và ngoài ra, nó có các lợi ích môi trường ngoài việc xử lý nước. 3. Dự toán giá trị từ phương pháp này nên được giảm giá để cho phép thời gian trôi qua bằng cách cung cấp các giá trị hiện tại của tất cả các dòng lợi ích trong tương lai (hoặc chi phí). 4. Để có được một ước tính giá trị thiên nhiên theo phương pháp năng suất, chi phí dữ liệu bộ sưu tập nên được dựa trên giá trị thị trường với việc cung cấp cho các nhà thầu đánh dấu theo quy định. Phương pháp này đã được chứng minh là đáng tin cậy hơn trong các nước phát triển, nơi cán bộ công chức có trách nhiệm hơn đối với hành động của họ. Mua hàng trực tiếp có thể được thực hiện để mua hóa chất xử lý trực tiếp từ các nhà sản xuất như thế này sẽ đi một chặng đường dài để phản ánh thị trường thực tế giá trị của hàng hoá đó. 5. Kiểm soát ô nhiễm hiệu quả đối với các đập chỉ có thể được phản ánh bằng cách giải quyết điều trị chủ yếu của nước ở bất kỳ khu vực cụ thể cho các phương pháp năng suất có hiệu quả. Ở Bauchi ,Cặn tiêu thụ tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí điều trị và các biện pháp kiểm soát ô nhiễm do đó cần giải quyết các vấn đề đặc thù phù hợp với từng khu vực có hiệu quả. 6. Cần có luật môi trường và thực thi có hiệu lực ở các nước để mà các phương pháp, đặc biệt là các phương pháp Năng suất có thể hiệu quả hơn.Nền văn hóa ở các nước đã cho phép nhiều người coi thường pháp luật và bỏ qua nó. Ví dụ, việc bán phá giá của các chất thải trong cấm khu vực của các nhân viên của BASEPA. TÀI LIỆU THAM KHẢO: THE PRODUCTIVITY METHOD OF ECONOMIC EVALUATION OF BIODIVERSITY APPLICATION IN BAUCHI STATE, NIGERIA 2010 (Adeyemi, A) Corporate Ecosystem Valuation Additional Notes B Selection Application of Ecosystem Valuation Te
Xem thêm

20 Đọc thêm

Soạn bài Mùa nước nổi

SOẠN BÀI MÙA NƯỚC NỔI

Câu hỏi 1: Em hiếu thế nào là mùa nước nổi? Câu hỏi 2: Bài văn tả mùa nước nổi ở vùng nào?Câu hỏi 3: Tìm một vài hình ảnh về mùa nước nổi được tả trong bài. Câu hỏi 1: Em hiếu thế nào là mùa nước nổi? -  Hướng dẫn: Đọc kĩ bài văn tìm xem những dấu hiệu mà nước dàng lên, mưa đố xuống để hiểu thế nào là mùa nước nôi. -  Gợi ý. Mùa nước nổi là mùa mà nước mỗi ngày mỗi dâng lên một cách hiền hòa và mưa dầm dề, sướt mướt ngày này qua ngày khác.  Câu hỏi 2: Bài văn tả mùa nước nổi ở vùng nào? -  Hướng dẫn: Em đọc kĩ lại trong bài, tìm xem dòng sông nào được nhà văn đề cập trong bài? Dòng sông đó thuộc khu vực nào ở nước ta? Trả lời được câu hỏi đó là em đã tìm được câu trả lời. -  Gợi ý: Bài văn tả mùa nước nổi ở vùng miền Tây Nam bộ nước ta. Em biết được là vì bài văn có nói đến dòng sông Cửu Long. Sông Cửu Long đi qua vùng miền Tây Nam bộ. Câu hỏi 3: Tìm một vài hình ảnh về mùa nước nổi được tả trong bài. -  Gợi ý. Đó là những hình ảnh: “Nước mỗi ngày mỗi dâng lên. Mưa dầm dề, sướt mướt, dòng sông Cửu Long no đầy, tràn qua bờ. Ngồi trong nhà, thấy cả những đàn cá ròng ròng từng đàn, từng đàn theo cá mẹ xuôi theo dòng nước”.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP môn BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Câu 1: Bản sắc văn hóa và những đặc trưng cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam. Trả lời: Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu đời của đất nước, với các giá trị mang tính bền vững, trường tốn, trừu tượng và tiềm ẩn. Nói đến bản sắc văn hóa của Việt Nam tức là nói đến giá trị gốc cốt lõi hạt nhân trong văn hóa của dân tộc được thể hiện trong cuộc sống của người Việt. Những đặc trưng cơ bản của Bản sắc văn hóa Việt Nam: • Sống quần tụ và có tình nghĩa: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp. Và từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học , nghệ thuật. • Bản sắc không ngẫu nhiên mà hình thành, nó là kết quả tất yếu của con người với môi trường tự nhiên. Bản sắc văn hóa Việt Nam gắn liền với các đặc thù của mình. Xét về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở gọc tận cùng của phía Đông Nam nên thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình. Trong cách ứng sử với môi trường tự nhiên, nghề trồng lúa nước buộc người dân phải sống định cư, canh tác. Do đó, có ý thức tôn trọng và ước mong sống hòa bình với thiên nhiên. Về mặt tình cảm cộng đồng, con người nông nghiệp với lối sống trọng tình, trọng nghĩa, dẫn tới các biểu hiện trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Do lối sống định cư lâu dài, gắn bó nên ý thức coi trọng cộng đồng luôn được đề cao. Tuy nhiên, mặt trái của lối sống sinh hoạt là sự tùy tiện trong cuộc sống.
Xem thêm

25 Đọc thêm

SOẠN BÀI CẢNH ĐẸP NON SÔNG

SOẠN BÀI CẢNH ĐẸP NON SÔNG

1. Mỗi câu ca dao nói đến một vùng. Đó là các vùng nào ? Trả lời : Mỗi câu ca dao nói đến một vùng : - Hai câu đầu nói đến vùng Lam Sơn. 1. Mỗi câu ca dao nói đến một vùng. Đó là các vùng nào ? Trả lời : Mỗi câu ca dao nói đến một vùng : - Hai câu đầu nói đến vùng Lam Sơn. - Bốn câu tiếp theo nói đến vùng đất thuộc Hà Nội. - Câu 7, câu 8 nói đến vùng Nghệ An. - Câu 9, câu 10 nói đến đèo Hải Vân nằm giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng. - Câu 11, câu 12 nói đến vùng đất Đồng Nai và Sài Gòn Gia Định. - Hai câu cuối cùng nói đến vùng Đồng Tháp Mười ở miền Tây Nam Bộ. 2 . Mỗi vùng có cảnh đẹp gì ? Trả lời : Mỗi vùng có cảnh đẹp riêng : - Cảnh đẹp của Lạng Sơn là phố Kì Lừa và động Tam Thanh (trong động có chùa), có tượng nàng Tô Thị bồng con trên đỉnh núi đá. - Cảnh đẹp của Hà Nội là chùa Trấn Vũ và Hồ Tây. - Cảnh đẹp của Nghệ An là non xanh nước biếc. - Cảnh đẹp của Hải Vân là đèo cao, núi lớn giáp liền với biển. - Cảnh đẹp của vùng Sài Gòn Gia Định - Đồng Nai là sông Nhà Bè. - Cảnh đẹp của Đồng Tháp Mười ở miền Tây Nam Bộ là ruộng thẳng cánh cò bay và rất nhiều tôm cá.  3. Theo em, ai đã giữ gìn, tô điểm cho non sông ta ngày càng đẹp hơn ? Trả lời : Theo em chính nhân dân lao động Việt Nam đã từ mấy ngàn năm nay, luôn chiến đấu để giữ gìn Tổ quốc và dựng xây, tô điểm cho non sông ta ngày càng đẹp hơn. Nội dung: Sự giàu đẹp của các vùng miền trên đất nước ta.  
Xem thêm

1 Đọc thêm

NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ẨM THỰCNGÀY TÉT MIỀN NAM

NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ẨM THỰCNGÀY TÉT MIỀN NAM

NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ẨM THựCNGÀY TÉT MIỀN NAMI. MỞ ĐẦUTet là dịp đế chúng ta quay về với gốc rễ, với cộinguồn, với quê hương, với ông bà cha mẹ. Dù chocuộc sống có thay đổi đến bao nhiêu, nhịp sốngcó náo nức khẩn trương như thế nào thì cứ Tetđến Xuân về, người Việt Nam chúng ta cũng dànhcho mình những thời khắc hoài cổ, thả hồn mìnhvề một chốn xa xưa của nguồn cội và ngóng chờmột bữa tất niên đầm ấm, đầy đủ người thân tronggia đình.Ấm thực ngày Tet là một nét văn hoá hết sứcphong phú và mang đậm dấu ấn Việt. Đó là nhữngbữa cơm tất niên ngày cuối năm, mâm cơm cúngkiếng, đưa rước ông bà, là bữa tiệc đoàn viên củagia đình, là những món ngon được sẻ chia, mờimọc láng giềng, bạn bè. Bên cạnh trái dưa hấu đỏ,mâm trái cây ngũ quả thì ẩm thực miền Nam cónhững đặc sản, những món truyền thống mangphong vị rất riêng.II. ĐẶC ĐIẾM VĂN HÓA ẨM THựC MIỀNNAMVới khí hậu nhiệt đới, hai mùa rõ rệt, có hệ thốngkênh rạch dày đặc, có hạ lưu sông Cửu Long vàĐồng Nai, có các cửa sông nên đất đai màu mỡ,thiên nhiên ưu đãi nhiều sản vật. Hơn nữa miềnNam là vùng đất khai hoang, người dân nhiều nơitụ họp về, có đầu mối giao thương với nhiều nướctrong khu vực. Người dân miền Nam rất mạnh mẽ,hiếu khách, hào hiệp. Cũng chính vì điều kiện khí
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề