DÙNG THUỐC NGOÀI DA CHO TRẺ EM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "DÙNG THUỐC NGOÀI DA CHO TRẺ EM":

Đừng bôi thuốc, dầu lên da trẻ

ĐỪNG BÔI THUỐC, DẦU LÊN DA TRẺ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mới đây, 2 trẻ 7-8 tuổi phải nhập viện tai Khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP HCM) vì nhiễm trùng nặng khớp cổ chân do người nhà của trẻ đắp thuốc lá trị trẹo cổ chân. Hoại tử đầu ngón tay Đắp thuốc lá là một cách dùng thuốc ngoài da. Thời gian qua đã xảy ra những vụ dùng thuốc ngoài da gây tai biến trầm trọng cho trẻ. Như vào ngày 4-11-2011, Bệnh viện Nhi trung ương cho biết có 4 trẻ dưới 1 tuổi bị ngộ độc nặng suýt nguy đến tính mạng do cha mẹ dùng thuốc bôi ngoài da gọi là “thuốc cam”, chữa các nốt nhiệt hoặc vết viêm ở miệng của trẻ. Xét nghiệm cho thấy mẫu thuốc cam chứa hàm lượng chì lên đến 10%. Sau đó không lâu, Bệnh viện Nhi Đồng 2 thông báo trường hợp đau lòng là một trẻ 2 tháng tuổi bị hoại tử đầu ngón tay, phải phẫu thuật cắt bỏ phần hư chỉ vì người thân mua kem chứa thuốc chống viêm glucocorticoid thoa mụn bóng nước trên da của trẻ. Các sự việc đau lòng xảy ra chỉ vì nhiều người cứ tưởng thuốc bôi ngoài da là loại chẳng hại gì, dùng sao cũng được. Nhưng đối với trẻ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, nhiều cơ quan chưa phát triển hoàn chỉnh so với người lớn nên việc dùng thuốc ngoài da vẫn phải hết sức thận trọng; dùng không đúng, hậu quả đáng tiếc chắc chắn sẽ xảy ra. Do da của trẻ còn non nớt, dễ hấp thu dược chất vào máu nên việc dùng thuốc ngoài da không thể xem thường, có nhiều thuốc bôi tuyệt đối không dùng. Còn đắp thuốc lá cũng là cách làm da của trẻ bị vi khuẩn có từ thuốc đắp xâm nhiễm da gây nhiễm trùng.    Phải hết sức thận trọng khi dùng thuốc bôi ngoài da cho trẻ em (Ảnh minh họa) Tuyệt đối không dùng dầu gió Trước đây khá lâu, đã xảy ra trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc thần kinh do dùng xà bông chứa hexaclorophen (có tên Phisohex) để gội đầu. Hexaclorophen thấm qua da vào hệ thần kinh của trẻ và gây độc. Đầu năm 2009, một nghiên cứu ở Mỹ đã báo cáo nhiều trường hợp trẻ bị ngộ độc do được bôi vùng da ở mũi loại dầu gió có chứa tinh dầu bạc hà (menthol), tinh dầu long não (camphor) và methyl salicylat bị kích ứng mạnh làm ngưng hô hấp. Ở TP HCM, cách nay khá lâu, đã xảy ra một số trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc do bôi phấn rôm (bột rắc) có chứa warfarin (chất tạo mùi thơm nhưng đồng thời có tác dụng gây xuất huyết). Cũng đã từng xảy ra trường hợp khó tin là có bậc cha mẹ đã dùng thuốc súng bôi lên da trẻ để trị ghẻ ngứa, hậu quả là trẻ bị ngộ độc. Các trường hợp nêu trên cho thấy tuyệt đối không được dùng dầu gió cho trẻ sơ sinh, nhất là không bôi lên mũi trẻ (các bà mẹ sau khi sinh tránh dùng dầu gió, loại dầu dùng được là dầu bạch đàn, còn gọi là dầu khuynh diệp, dầu tràm. Còn xà bông, phấn rôm dùng cho trẻ cũng phải thật thận trọng trong chọn lựa sử dụng. Hết sức cảnh giác corticoid Ở đây, xin được nhấn mạnh về việc sử dụng thuốc bôi ngoài da dạng kem thuốc (crème) hoặc thuốc mỡ (pommade) có chứa dược chất glucocorticoid (gọi tắt corticoid). Một số biệt dược có thể kể là cortibion, celestoderme, synalar, halog, hydrocortisone, flucinar, topsyne, betneval… và hàng chục loại biệt dược khác. Nên lưu ý rằng các loại corticoid nếu bôi lâu ngày trên da sẽ làm teo da, rạn da, da dễ bị nhiễm trùng do mất sự đề kháng. Nếu bôi lên da mặt lâu ngày, da mặt mịn màng đâu chẳng thấy mà chỉ thấy bị trứng cá đỏ, phát mụn li ti khắp mặt. Không những thế, thuốc có thể thấm qua da vào máu gây tác dụng toàn thân (có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm). Các cô gái trước tuổi dậy thì nếu bôi lên da diện rộng, lâu ngày bị rối loạn sự phát triển hệ lông. Corticoid có thể thấm qua da vào máu ở trẻ sơ sinh, nhũ nhi. Bôi ngoài da ở trẻ, thuốc chứa corticoid sẽ làm giảm sức đề kháng ở nơi bôi làm bùng phát hiện tượng nhiễm khuẩn (trường hợp bị hoại tử đầu ngón tay nêu trên là do vi khuẩn gây hoại tử nhờ corticoid có điều kiện phát triển). Một loại thuốc bôi ngoài da khác cũng không được dùng cho trẻ sơ sinh là dung dịch chứa iod có tên povidon-iod (betadine) dùng ngoài da sát trùng. Dùng ở trẻ còn quá nhỏ tuổi mà lại dùng thường xuyên, iod sẽ thấm qua da vào máu gây rối loạn hoạt động tuyến giáp của trẻ. Tóm lại, dù là thuốc dùng ngoài da cũng phải hết sức thận trọng khi sử dụng cho trẻ con. Khi dùng thuốc, phải xem kỹ hướng dẫn để biết phạm vi sử dụng, tác dụng phụ và có chống chỉ định đối với trẻ hay không. Nên lưu ý rằng nhiều bệnh ngoài da, cả người lớn và trẻ con, muốn điều trị có hiệu quả tốt nhất là đến bác sĩ chuyên khoa da liễu để được khám và chỉ định đúng thuốc. Không vì là thuốc bôi ngoài da mà cứ thoa bừa lên da trẻ, sẽ có lúc hối tiếc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Corticoid: Con dao hai lưỡi

CORTICOID: CON DAO HAI LƯỠI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Corticoid là một chất nội tiết do 2 tuyến thượng thận tiết vào trong máu, 2 tuyến này nằm ngay ở phía trên 2 quả thận. Bình thường, corticoid giúp cơ thể chống lại những tình huống nguy kịch (đau đớn, nhiễm trùng...). Corticoid được dùng để điều trị và phòng ngừa nhiều bệnh hiểm nghèo. Trị được nhiều bệnh Các corticoid được ví như con dao 2 lưỡi, mà lưỡi nào cũng sắc. Người ta đã tổng hợp được rất nhiều nhóm thuốc steroid như hydrocortison, prednison, betamethason, dexamethason, prednisolon, methylprednison và sử dụng rộng rãi, đồng thời cũng kéo theo tình trạng lạm dụng thuốc rất phổ biến. Corticoid được ứng dụng để điều trị rất nhiều bệnh khác nhau: Chống viêm ở giai đoạn sớm, giai đoạn muộn bất kể nguyên nhân gì như cơ học, hóa học, nhiễm khuẩn...; bệnh dị ứng, bệnh ngoài da, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; bệnh khớp, bệnh miễn dịch, viêm phần trước mắt; viêm đại tràng, viêm gan mạn tự miễn và một số bệnh ác tính về máu. Ngoài ra còn trị xuất huyết giảm tiểu cầu do cơ chế miễn dịch, tán huyết miễn dịch... Chính vì nhiều công dụng như thế nên nhiều người lầm tưởng thuốc corticoid là loại “thần dược”, trị được bách bệnh.    Điều trị người lạm dụng corticoid tại Bệnh viện Vạn Hạnh (Ảnh: VH) Những tác hại không ngờ Những tác hại này thường gặp ở những người dùng corticoid lâu dài. Cụ thể: Gây suy tuyến thượng thận do khi dùng thuốc corticoid từ ngoài vào cơ thể sẽ làm ức chế tuyến thượng thận bài tiết ra corticoid. Lúc đó, cơ thể hay mệt mỏi, nôn, nặng hơn nữa có thể gây huyết áp thấp hay tụt huyết áp. Ngoài ra, corticoid gây tăng cân do giữ muối nước, cơ thể bệnh nhân mập ra, vai rộng, bụng to, chân tay teo lại, da mỏng dễ bầm máu, nứt da bụng, rậm lông. Thuốc còn làm tăng huyết áp, đái tháo đường (khoảng 10% bệnh nhân), gây tình trạng loãng xương vì uống corticoid lâu ngày làm cho xương bị mất chất vôi, xương xốp dần nên nên khi té ngã dễ bị gãy xương. Dùng corticoid còn dễ bị sỏi thận do tăng đào thải canxi qua đường tiểu, hạ kali trong máu làm bệnh nhân bị yếu cơ, có thể loạn nhịp tim. Cortisol làm giảm sức đề kháng của cơ thể, dẫn đến dễ bị nhiễm trùng hô hấp. Có thể gây hại cho thai, làm trẻ em chậm phát triển chiều cao, gây thiểu năng sinh dục ở nam giới, nữ có thể rối loạn kinh nguyệt, loét dạ dày tá tràng, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp. Đặc biệt, thuốc còn gây hoại tử xương vô trùng, thường ở đầu xương đùi; teo cơ, chủ yếu cơ mông, cơ tứ đầu đùi. Tâm thần kinh biểu hiện mất ngủ, nóng nảy, kém chú ý, cơn hưng phấn hay trầm cảm, ý định tự tử. Nhiều loại kem trị mụn chứa corticoid nếu dùng dài ngày sẽ làm mụn nổi nhiều hơn khi ngưng thuốc hoặc gây nám da mặt. Hội chứng Cushing do thuốc Tiền sử của bệnh nhân thường gặp một trong những trường hợp hen suyễn, đau khớp, chàm, bệnh tự miễn... phải dùng thuốc corticoid hoặc tự dùng các thuốc đông dược mà không rõ thành phần, xuất xứ. Hình ảnh của người bệnh thường khá điển hình với mặt tròn, đỏ, tụ nhiều mỡ ở thân mình, vùng vai, ngực, bụng. Hai tay, 2 chân teo, da mỏng, có dấu xuất huyết dưới da tự nhiên hoặc do va chạm. Lông, râu mọc nhiều hơn trước. Có thể có dấu hiệu bứt rứt, khó chịu, mỏi mệt, buồn nôn, nôn... do tình trạng thiếu cortisol cấp.
Xem thêm

2 Đọc thêm

KHỔ QUA: RAU NGON THUỐC TỐT

KHỔ QUA: RAU NGON THUỐC TỐT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thức ngon lắm món Có rất nhiều món ăn được chế biến từ khổ qua: nấu với tôm, thịt heo nạc; khổ qua ninh xương; hấp với thịt băm; muối dưa; làm nộm; xào, kho, ăn sống làm món ăn bổ mát, chống viêm nhiệt. Khổ qua còn được chế thành trà uống rất tốt. Người ta đã biết thành phần dinh dưỡng của trái khổ qua tính theo g%: protid 0,9, glucid 3, cellulose 1,1 và theo mg%: calcium 18, phosphor 29, sắt 0,6, caroten 40, vitamin B1 0,07 và vitamin C 22. Trong trái khổ qua có một glycosid đắng gọi là momordicin và các vitamin B1, C, các acid amin như adenin, betain… Hạt chứa một chất dầu và một chất đắng.   Khổ qua tên khoa học Momordica charantia L., thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) (Ảnh: Internet) Thuốc hay nhiều vị Hải Thượng Lãn Ông viết trong Lĩnh Nam bản thảo: “Khổ qua tục gọi quả mướp đắng. Hột nó ích khí, làm dương tráng. Bổ hư lao, mát tim rất hay. Khổ hàn chữa tạng nhiệt, mắt sáng”. Khi còn xanh, khổ qua có tính giải nhiệt, tiêu đàm, sáng mắt, mát tim, nhuận tràng, bổ thận, nuôi can huyết, bớt mệt mỏi, trừ nhiệt độc, lợi tiểu, làm bớt đau nhức xương. Khi chín, nó có tính bổ thận, kiện tỳ, dưỡng huyết. Nói chung, khổ qua là thuốc bổ máu, giải nhiệt, giảm ho, trị giun, nhuận tràng, sát trùng và hạ đái đường. Dùng để tắm thì đỡ nhọt sởi, xát ngoài da cho trẻ em thì trừ rôm sảy và trị chốc đầu. Ở Trung Quốc, người ta dùng khổ qua trị đột quỵ tim, bệnh sốt, khô miệng, viêm hầu, bệnh ecpet mảng tròn; liều dùng là 15 – 30g, dạng thuốc sắc. Hạt khổ qua ngoài bổ dương, tráng khí còn dùng chữa ho, viêm họng (nhai hạt nuốt nước hoặc mài cho đặc, lấy nước chưng hoặc hấp cơm uống, hoặc nhai ngậm với muối). Hoa, lá và rễ khổ qua đều có tác dụng trị lỵ, nhất là lỵ amip: dùng rễ nấu nước uống; mỗi lần 30g rễ sắc uống với đường trắng (cũng dùng trị tiêu chảy). Trường hợp đinh nhọt và bệnh viêm mủ da, dùng 5 – 10g lá tươi (hoặc dùng trái) nghiền ra, thêm nước làm thuốc đắp ngoài, đồng thời ăn trái tươi.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU INVITRO ẢNH HƯỞNG CỦA TÁ DƯỢC TỚI TÁC DỤNG CỦA KETOCONAZOL TRONG DẠNG THUỐC DÙNG NGOÀI DA

NGHIÊN CỨU INVITRO ẢNH HƯỞNG CỦA TÁ DƯỢC TỚI TÁC DỤNG CỦA KETOCONAZOL TRONG DẠNG THUỐC DÙNG NGOÀI DA

Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da Nghiên cứu invitro ảnh hưởng của tá dược tới tác dụng của ketoconazol trong dạng thuốc dùng ngoài da
Xem thêm

55 Đọc thêm

Bộ đề Dược lý đại cương dành cho sinh viên y dược

BỘ ĐỀ DƯỢC LÝ ĐẠI CƯƠNG DÀNH CHO SINH VIÊN Y DƯỢC

11. Độc tính của thuốc lên hệ TKTƯ ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh có liên quan các yếu tố sau, ngoại trừ: A. Tỷ lệ não cơ thể lớn B. Thành phần Myelin thấp C. Tế bào TK chưa biệt hóa D. Lưu lượng máu não thấp E. Hàng rào TKTƯ chưa phát triển đầy đủ 12. Do chức năng gan, thận chưa hoàn chỉnh nên thời gian bán huỷ thuốc ở trẻ em dài hơn người lớn gấp: A. 5 lần B. 10 lần C. 15 lần D. 20 lần E. 30 lần 13. Ở trẻ em dễ xãy ra ngộ độc thuốc vì các yếu tố sau, ngoại trừ: A. Thuốc dễ vào thần kinh trung ương B. Tỷ lệ thuốc gắn protein huyết tương cao C. Chức năng chuyển hoá của gan chưa hoàn chỉnh D. Trung tâm hô hấp dễ nhạy cảm E. Da dễ hấp thu thuốc 14. Ở người già dễ xảy ra ngộ độc thuốc vì các yếu tố sau, ngoại trừ: A. Tăng hấp thu thuốc qua đường tiêu hoá B. Tăng nồng độ thuốc tự do trong máu C. Tăng chức năng chuyển hoá của gan D. Tình trạng bệnh lý kéo dài E. Thận bài tiết kém 15. Một trong những yếu tố có thể tạo nên sự khác biệt về ảnh hưởng của thuốc ở Nam và Nữ là do: A. Cân nặng B. Hệ thống Hormon C. Đặc điểm sống D. Đặc điểm bệnh lý E. Yếu tố chuyển hoá 16. Người da trắng dể nhạy cảm với thuốc cường giao cảm, đây là loai ảnh hưởng liên quan đến: A. Giống nòi B. Cơ địa C. Địa lý D. Môi trường sống E. Tất cả sai 17. Trong lao phổi mạn tính sulfamid sẽ gắn mạnh vào huyết tương và làm giảm lượng sulfamid tự do trong máu, đây là loai ảnh hưởng liên quan đến: A. Chuyển hoá B. Phân phối C. Di truyền D. Cơ địa E. Bệnh lý 18. So với người gầy, liều lượng thuốc dùng ở người mập phải : A. Thấp hơn nhiều B. Hơi thấp hơn
Xem thêm

7 Đọc thêm

bài báo cáo dược lý các thuốc ho hen đầy đủ

BÀI BÁO CÁO DƯỢC LÝ CÁC THUỐC HO HEN ĐẦY ĐỦ

I. Thuốc chủ vận β2 – adrenergic tác dụng nhanh dạng khí dung 1. Salbutamol Tên biệt dược: Salbutamol Tên dược chất: Salbutamol sulfat Dạng thuốc: Viên nén Hàm lượng: 2 mg Cơ chế tác dụng: các chất chủ vận β2 adrenergic gắn vào thụ thể của β2 – adrenergic và hoạt háo enzyme adenylat cyclase, làm tăng nồng độ cAMP, gây hiệu lực giãn cơ trơn phế quản Tác dụng: giãn cơ trơn phế quản Chỉ định: làm giảm và phòng ngừa co thắt phế quản ở bệnh nhân mắt bệnh tắc nghẽn đường thở có hồi biến. Chống chỉ định: bệnh nhân có tiền sử tăng cảm với salbutamol Tác dụng phụ: Đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, đổ mồ hôi, nhức đầu, run tay, mất ngủ. Cách dùng – Liều dùng: Người lớn: 2 4 mg lần x 3 – 4 lần ngày. Trẻ em 2 – 6 tuổi: 1 – 2 mg lần x 3 – 4 lần ngày. Trẻ em trên 6 tuổi: 2 mg lần x 3 – 4 lần ngày. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Bảo quản: Trong lọ kín, tránh ánh sáng, không quá 30ºC
Xem thêm

16 Đọc thêm

Thận trọng với thuốc giảm đau

THẬN TRỌNG VỚI THUỐC GIẢM ĐAU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thuốc giảm đau không cần kê đơn được cho là khá an toàn nhưng các chuyên gia khuyến cáo dù thuộc nhóm nào: paracetamol, thuốc chống viêm hay thuốc có chứa codeine, mỗi loại đều có nguy cơ khác nhau. ParacetamolParacetamol là sự lựa chọn tối ưu đối với cả trẻ em và người lớn, nhưng lưu ý hàng đầu là không được vượt quá liều khuyến cáo. Việc sử dụng paracetemol quá liều khuyến cáo có thể gây tổn thương gan. Nguy cơ dùng quá liều này đôi khi nhiều người không để ý, nhất là khi họ mua cùng lúc một vài loại thuốc về uống, ví dụ thành phần paracetamol cũng có thể có trong thuốc trị ho, cảm lạnh, thuốc dị ứng. Về cơ bản, paracetamol là thuốc giảm đau an toàn nhất, hiệu lực giảm đau của nó có thể được tối ưu hóa bằng cách dùng liên tục (ví dụ ba lần một ngày, trong vài ba ngày) nhưng đôi khi, muốn nhanh và hiệu quả hơn, nhiều người dùng kèm với chất chống viêm, và hệ quả không hề ngạc nhiên là thuốc càng làm giảm đau nhanh, tác dụng phụ càng lớn hơn. Thuốc chống viêmCác thuốc chống viêm như ibuprofen và aspirin được cho là an toàn đối với hầu hết mọi người, tất nhiên nếu được sử dụng đúng liều và trong thời gian ngắn. Những loại thuốc này (còn gọi là thuốc chống viêm non-steroidal - NSAIDs) có thể gây ra tác dụng phụ như đau dạ dày, trường hợp hiếm gặp là loét hoặc chảy máu dạ dày. Các nguy cơ đó càng tăng cao nếu sử dụng liều cao hoặc dùng thuốc một thời gian dài.    Thuốc giảm đau không phải là giải pháp lâu dài. Chúng có thể gây hại cho sức khỏe nếu chúng ta bỏ qua bất kỳ bước nào trong quy trình (Ảnh minh họa) Vì vậy, trước khi sử dụng thuốc chống viêm, những người mắc bệnh viêm loét dạ dày, tiểu đường, bệnh thận… rất nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ. Ngoài ra, những người có yếu tố nguy cơ khác, chẳng hạn như suy tim, huyết áp cao hoặc có tiền sử triệu chứng tim mạch, sử dụng thuốc này lâu dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Người bệnh cũng nên tránh uống nhiều loại thuốc kháng viêm cùng lúc, vì điều này có thể làm tác dụng phụ tăng lên. Ví dụ, người dùng aspirin liều thấp hoặc warfarin (làm loãng máu) nên tránh sử dụng thuốc chống viêm khác, bao gồm cả một số thuốc trị cảm lạnh và cúm có chứa aspirin. Điều quan trọng cần nhớ khác là các bậc cha mẹ nên tránh cho trẻ em dưới 12 tuổi dùng aspirin vì aspirin có liên quan đến hội chứng Reye – bệnh có thể gây tổn thương cho gan, não, đôi khi dẫn đến tử vong ở trẻ. Thuốc chứa codeine Mọi người ở mọi lứa tuổi khi đụng đến dược phẩm có chứa codeine chỉ nên coi là giải pháp cứu trợ ngắn hạn bởi dù có dùng liều thấp thì vẫn đối mặt với một số nguy cơ. Loại thuốc có chứa codeine, thành phần độc lập hoặc kết hợp với paracetamol hay một chất chống viêm có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lớn tuổi, cụ thể là ảnh hưởng đến chức năng nhận thức, khả năng lái xe, cũng như làm tăng nguy cơ bị té ngã.  Mới đây, sau khi xuất hiện các báo cáo về nguy cơ do dùng codeine quá mức như loét dạ dày, chảy máu dạ dày, bệnh thận… Australia đã hạn chế hơn việc lưu hành loại thuốc không kê đơn này. Các sản phẩm này được bán ở các hiệu thuốc trong các gói nhỏ hơn, đủ cho 5 ngày dùng. Khi mua, khách hàng sẽ phải trao đổi thông tin với dược sĩ, sau đó thông tin sẽ được ghi lại. Tóm lại, thuốc giảm đau không phải là giải pháp lâu dài. Chúng có thể gây hại cho sức khỏe nếu chúng ta bỏ qua bất kỳ bước nào trong quy trình: tuân thủ hướng dẫn về liều lượng, dùng trong thời gian ngắn và theo dõi những phản ứng lạ. Điều quan trọng cần nhớ: Đau chính là dấu hiệu sức khỏe đang “có vấn đề”. Nếu dùng thuốc mà cơn đau vẫn còn hoặc người dùng bỗng dưng bị huyết áp cao hoặc có vấn đề về thận, lúc này nên gặp bác sỹ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Trẻ thêm bệnh do tùy tiện tắm nước lá

TRẺ THÊM BỆNH DO TÙY TIỆN TẮM NƯỚC LÁ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tắm nước dừa khiến con viêm da nặng Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, mỗi ngày tại bệnh viện có trên 100 trẻ em vào khám với những tổn thương trên da. Điều đáng nói, có không ít trường hợp đã trở nặng do cha mẹ không biết cách phòng và điều trị cho trẻ mà tự ý sử dụng các loại lá, hoa quả theo truyền miệng để chữa trị. Điển hình là trường hợp của bé Trần Quang Minh, hơn 7 tháng tuổi, ở Thanh Oai, Hà Nội. Bé đến khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng mụn trên đầu rất dày đặc do mẹ bé đã lạm dụng nước dừa để tắm cho con. Chị Thanh Hương, mẹ của bé Minh cho biết, nghe mọi người mách tắm bằng nước dừa da trẻ sẽ mát mẻ, không bị rôm sảy nên chị thường xuyên mua nước dừa về tắm cho cháu. Nhưng sau một thời gian thì da đầu cháu mọc mụn rất nhiều. Sau khi cháu bị nổi mụn trên đầu, chị cũng rửa mặt cho bé rồi bôi thuốc mà chị tự ra hiệu hỏi mua rồi được nhà thuốc tư vấn và bán. Ngay sau đó, một số nốt mụn to thì xẹp xuống nhưng sau vài ngày các nốt mụn lại nổi lên nhiều hơn, chị đành phải cho con đến bệnh viện. Không riêng gì trường hợp của bé Minh, khá nhiều trẻ cũng đến viện trong tình trạng bệnh ở da đã nặng. Theo các bác sĩ, vì da là hệ thống phòng vệ ban đầu rất quan trọng của của cơ thể. Trên da luôn có tụ cầu và nhiều vi sinh vật khác. Vì vậy, các bệnh về da có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng ở trẻ em do sức đề kháng cơ thể chưa được hoàn thiện, cộng với làn da rất mỏng và mềm nên dễ bị tổn thương.   Không nên tuỳ tiện tắm nước lá cho trẻ kẻo bị viêm da (Ảnh minh họa) Chỉ tắm nước lá cho trẻ khi nào? Theo Bác sĩ, An Thị Kim Cúc, Nguyên phó chủ nhiệm Khoa Sức khỏe cộng đồng, Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội cho biết, có nhiều trường hợp gia đình dã dùng nước dừa để tắm cho trẻ sơ sinh và tắm trong vòng 1 tuần khiến bé bị viêm da rất nặng. Bởi vì, trong nước dừa có đường làm bít các lỗ chân lông, dẫn đến tình trạng viêm da. Da trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh còn rất mỏng, cấu trúc chưa ổn định nên rất dễ bị tổn thương, dị ứng và nhiễm trùng. Trong khi đó, các loại lá lại mọc ở bờ bụi nên rất dễ nhiễm khuẩn. Thậm chí có thuốc bảo vệ thực vật nên khó rửa sạch ngay cả khi đun sôi nên nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao. Do đó, chỉ nên tắm nước lá cho trẻ khi có chỉ định của bác sĩ Đông y và chỉ thực hiện với trẻ ngoài 1 tuổi. Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Mai Hương, Phòng khám Da liễu, Bệnh viện Nhi Trung ương cũng cho biết, chỉ khuyên dùng các bài thuốc làm từ cây lá cho trẻ trong trường hợp trẻ mới bị viêm da nhẹ. Và phải chú ý quá trình thu lượm, chế biến sản phẩm để thành một bài thuốc phải thực sự vô trùng. Tùy từng đặc tính da của trẻ mà tắm các loại lá khác nhau. Ngay cả lá bàng, lá chè xanh mà các bậc cha mẹ hay dùng để tắm cho con cũng có thể khiến trẻ mắc bệnh. Trong 2 loại lá này có chất tamin dễ làm cho da trẻ bị tổn thương. Hay như lá tre tuy không độc, nhưng cũng không nên dùng vì có lông nên dễ làm cho trẻ bị ngứa và dị ứng. Ngoài ra, có một số loại lá tuyệt đối không được dùng đẻ tắm cho trẻ như: lá trúc đào, lá than, lá bạch hoa xà thiệp thảo vì chúng có chứa chất độc có thể gây viêm da, nhiễm trùng nặng. Và điều đáng lưu ý là tuyệt đối không tuỳ tiện tắm lá cho trẻ khi trẻ có các bệnh ngoài da mà nên đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị đúng. Mong rằng những lời khuyên trên sẽ giúp các bậc cha mẹ có thêm kiến thức để hiểu hơn về việc dùng nước lá mà có sự lựa chọn phù hợp khi tắm cho trẻ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

cây đinh lăng chữa bệnh

cây đinh lăng chữa bệnh

Một số bài thước ứng dụng Bồi bổ cơ thể: Lấy 20g rể đinh lăng,rửa sạch,thái mỏng,sao vàng,tán bột mịn rồi viên thành viên uống. Chữa tê thấp,đau lưng: Lấy khoảng 100g cành nhỏ,thái mỏng,sao vàng,sắc với khoảng 300ml nước,còn 100ml đem chia làm 2 lần uống trong ngày. Nối gân: +Lá đinh lăng 200g +Vỏ cây gạo(bỏ vỏ đen) 100g +Chân cua sống 100g +Bột tô mộc 50g +Đing hương 5 cái Dùng nước muối rủa sạch(8%) lá đinh lăng,vỏ cây gạo, chân cua sống rồi đem giã thật nát.Đinh hương tán riêng thật mịn rồi trộn đều với tô mộc.Cho tất cả cá vị vào giã luyện đều. Nắn và lựa cho 2 đầu gân tiếp giáp nhau rồi dụng nẹp cố định,không để xê dịch,rồi đắp thuốc đã luyện trên.Dùng vải sạch mềm quấn vừa tay cho thuốc khỏi rơi.Hằng ngày thay thuốc vào buổi chiều hoặc tối.Người lớn trên 30 tuổi buộc thuốc 25 ngày,đổi với trẻ em khoảng 1415 ngày.sau khi thôi không dùng thuốc,vẫn phải giữ nguyên nẹp từ 2022 ngày. Trong thời gian đắp thuốc không nên dùng chân gà,vịt,gân bò,gân trâu mà cần phải tăng cường ăn nhiều rau,đặc biệt là rau má rất tốt. Thông tia sữa: Người bị tắc tia sữa,vú sữa sưng đau nhức thì lấy khoảng 4050g rễ đinh lăng sắc cùng với 300ml nược,còn lại khoảng 100150ml dùng uống trong ngày.Uống liên tục từ 23 ngày.
Xem thêm

Đọc thêm

CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH CỦA NGHỆ

CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH CỦA NGHỆ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nghệ có nguồn gốc từ cây curcuma longa - là một loại cây thân thảo lâu năm, thuộc họ gừng. Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Á màu da cam. Nghệ từ lâu đã được sử dụng như một loại thuốc chống viêm trong cả y học Trung Quốc và y học của Ấn Độ. Củ nghệ được gọi là "nghệ tây Ấn Độ", nghệ được sử dụng như là một thứ gia vị, phương thuốc chữa bệnh. Dưới đây là một số công dụng trị bệnh hữu ích của nghệ.   Nghệ là một chất khử trùng và kháng khuẩn tự nhiên, rất hữu ích trong khử trùng các vết cắt và vết bỏng. (Ảnh minh họa) Nghệ là một chất khử trùng và kháng khuẩn tự nhiên, rất hữu ích trong khử trùng các vết cắt và vết bỏng.  Nghệ kết hợp với súp lơ có thể ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt và ngăn chặn sự phát triển của bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Có thể ngăn ngừa và làm chậm sự tiến triển của bệnh Alzheimer bằng cách loại bỏ mảng bám amyloid trong não. Nghệ ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu mới trong các khối u. Tốc độ chữa lành vết thương và hỗ trợ trong việc tái tạo làn da bị hỏng nhanh. Có thể giúp điều trị các bệnh vẩy nến và bệnh ngoài da viêm khác. Có thể hỗ trợ trong việc chuyển hóa chất béo và giúp đỡ bạn trong việc giảm cân. Ngoài ra nghệ cũng được sử dụng trong y học Trung Quốc để điều trị trầm cảm từ lâu. Làm giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ em. Làm chậm sự tiến triển của bệnh đa xơ cứng ở chuột. Là một chất giải độc gan tự nhiên và thuốc giảm đau tự nhiên.
Xem thêm

1 Đọc thêm

PHÒNG NGỪA SÂU RĂNG VÀ THUỐC CHỮA

PHÒNG NGỪA SÂU RĂNG VÀ THUỐC CHỮA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bệnh sâu răng xảy ra phổ biến ở trẻ em. Những người không giữ vệ sinh răng miệng tốt cũng dễ bị sâu răng. Sâu răng làm tiêu men răng, ngà răng, các tổ chức không có tế bào. Ngoài ra, sâu răng còn làm cho hơi thở hôi, gây đau nhức, khó chịu cho người bệnh và thậm chí là hỏng răng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và thẩm mỹ. Nguyên nhân gây sâu răng có nhiều nhưng chủ yếu là do vệ sinh răng miệng kém. Tuy nhiên, những yếu tố bẩm sinh lên quan đến cấu tạo hình thể của răng như rãnh, lõm trên mặt nhai cũng là những nguyên nhân dễ gây sâu răng. Khi ta ăn, thức ăn hình thành mảng bám trên răng, nếu không làm vệ sinh răng đúng cách sau khi ăn thì những mảng bám này chính là nguyên nhân làm cho răng bị sâu. Đường cũng có vai trò hết sức quan trọng trong sự lên men hình thành acid là nguyên nhân gây phá hủy men răng. Hơn nữa, đường là nguồn thức ăn của vi khuẩn. Vi khuẩn gây bệnh sâu răng chủ yếu là Streptococcus mutans hoặc Lactobacillus acidophillus. Những vi khuẩn này dễ dàng có cơ hội phát triển khi các mảng bám không được làm sạch ngay sau khi ăn và lưu cữu trên răng.   Bệnh sâu răng xảy ra phổ biến ở trẻ em. Những người không giữ vệ sinh răng miệng tốt cũng dễ bị sâu răng (Ảnh minh họa) Để đề phòng bệnh sâu răng cần phải chải răng thường xuyên vào buổi sáng hoặc tối, tốt nhất là sau mỗi bữa ăn, chải răng đúng cách bằng bàn chải lông mềm, chải mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai, trên và dưới. Nên cầm bàn chải quay 450 về phía lợi, chải kỹ rìa lợi và cổ răng. Súc miệng bằng nước lọc, có thể súc với nước chè (chè tươi, chè hạt, nước vối) trong vài phút vì chè có nhiều flo. Nên tập cho trẻ từ tuổi mẫu giáo thói quen chải răng bằng bàn chải nha khoa với kem có fluor. Đặc biệt, cần tránh ăn bánh kẹo giữa các bữa ăn hoặc ăn vào buổi tối. Nếu ăn nên súc miệng ngay. Dùng nước máy, muối ăn, sữa chứa flo, dùng kem đánh răng có flo giảm được 30% sâu răng. Khi bị sâu răng cần điều trị sớm bằng khoan răng, trám răng. Nên đến thầy thuốc chuyên khoa răng để điều trị tận gốc bằng cách làm sạch mảng bám, phát hiện lỗ sâu và trám lại bằng thuốc chuyên khoa có thành phần phối hợp calci, phosphate và fluorin. Dùng thuốc trị sâu răng theo hướng dẫn của thầy thuốc. Các thuốc để chấm vào chỗ răng sâu thường là các dung dịch sát khuẩn. Kháng sinh hay dùng là rodogyl gồm hai chất phối hợp là spiramycin và metronidazol. Một số thuốc Đông y cũng có tác dụng tốt. Song cần chọn các thuốc có nguồn gốc rõ ràng và được bán trong các nhà thuốc theo quy định. Không dùng thuốc không rõ nguồn gốc của những người bán rong. Cần điều trị sớm, không đợi răng đau mới chữa.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Dị ứng thức ăn, có cần dùng thuốc?

DỊ ỨNG THỨC ĂN, CÓ CẦN DÙNG THUỐC?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một số người khi sử dụng thực phẩm như tôm, cua, ốc, sò,  hến, nhộng, ba ba, cá... có những biểu hiện bệnh dị ứng. Ở người sẵn có cơ địa dị ứng (mẫn cảm, không dung nạp) thì ngay những thức ăn thông thường  như lạc, cà chua, hành, tỏi... vẫn có thể gây dị ứng thành mày đay. Ngoài ra, yếu tố gây dị ứng trong thức ăn còn có thể là các chất màu, chất bảo quản, chất phụ gia trong quá trình chế biến.  Sở dĩ thức ăn gây dị ứng là do hoặc bản thân thức ăn chứa nhiều histamin hoặc khi vào cơ thể qua chuyển hóa  thức ăn làm sản sinh ra nhiều histamin và một số chất gọi là chất hóa học trung gian (serotomin, axeticolin...) có tác dụng làm giãn mao mạch, thoát huyết tương và một số tế bào trắng thoát ra đọng lại gây phù nề tại chỗ, ở một vùng hoặc rải rác khắp cơ thể.   Tôm, cua... là thực phẩm dễ gây dị ứng. Để điều trị dị ứng thức ăn, nếu chỉ là mày đay cấp, nhẹ chỉ cần dùng thuốc kháng histamin như: phenergan, dimedron, chlopheniramin, cimetidin... Nặng hơn có khi phải kết hợp với các chế phẩm corticoid (prednisolon, dexamethason...) uống hoặc tiêm, truyền. Đối với phù Quincke, sốc phản vệ do thức ăn phải được phát hiện và điều trị kịp thời ở cơ sở y tế chuyên khoa mới mong thoát khỏi tử vong. Về ngoài da có thể bôi kem dịu da, chống ngứa có methol, phenol, sulfat kẽm nhưng bệnh nhân phải không gãi vì càng gãi càng tăng ngứa, tăng sẩn nề. Trong Đông y thường dùng các đơn thanh lương giải độc có kim ngân, bồ công anh, ké đầu ngựa, cỏ mực, cam thảo,... vừa có hiệu lực, vừa an toàn đối với các thể mày đay nhẹ, mạn tính. Khi dùng thuốc cần lưu ý, các thuốc kháng histamin và corticoid tuy có tác dụng đặc hiệu trong dị ứng nhưng đều có thể gây tác dụng phụ và tai biến đôi khi nghiêm trọng. Thuốc kháng histamin thường gây ù tai, chóng mặt, nặng đầu, choáng váng, buồn ngủ. Do đó, khi dùng thuốc không nên lái xe, đi xe máy, làm việc ở giàn giáo cao, dễ gây tai nạn. Đối với corticoid dùng liều cao, lâu ngày có thể dẫn tới phù nặng mặt, teo da, xốp xương, rối loạn chuyển hóa nhẹ hoặc nặng... Vì vậy, tốt nhất bệnh nhân nên đi khám bệnh sớm ngay từ khi mới phát bệnh để được thầy thuốc hướng dẫn và điều trị thích hợp, nhất là giúp phát hiện thức ăn gây dị ứng để loại trừ, đó là phương pháp triệt để nhất. Nổi ban sẩn nề, kèm theo triệu chứng khác thường về nội tạng, nhất là khi có phù nề ở mặt, môi, lại càng phải sớm đi khám bệnh để phòng diễn biến xấu hơn. Dị ứng thức ăn tuy là thông thường nhưng không thể xem nhẹ.  
Xem thêm

1 Đọc thêm

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG MARKETING NHÓM THUỐC DÙNG NGOÀI DA TÁC DỤNG TẠI CHỖ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 2007

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG MARKETING NHÓM THUỐC DÙNG NGOÀI DA TÁC DỤNG TẠI CHỖ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 2007

Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007 Khảo sát hoạt động marketing nhóm thuốc dùng ngoài da tác dụng tại chỗ trên địa bàn hà nội giai đoạn 2005 2007
Xem thêm

70 Đọc thêm

Người lớn đừng quên tẩy giun

NGƯỜI LỚN ĐỪNG QUÊN TẨY GIUN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nguy cơ nhiễm giun sán không chỉ xảy ra ở trẻ nhỏ mà có thể xảy ra ở cả người lớn. Vì vậy, việc dùng thuốc tẩy giun định kỳ là việc làm cần thiết. Tuy nhiên rất nhiều người lớn lại lãng quên việc tẩy giun. Nhưng theo TS. Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng Trung ương, nhiễm giun kéo dài có thể gây thiếu máu, thiếu sắt và các bệnh lý về gan, phổi, ảnh hưởng về lâu dài đối với sức khoẻ con người. Vì vậy, mỗi người nên tẩy giun 6 tháng/1 lần, kể cả người lớn. Còn ở trẻ em thì từ 2 tuổi trở lên mới cho tẩy giun.   Khi sử dụng thuốc tẩy giun phải theo chỉ định của bác sĩ (Ảnh minh họa) Khi sử dụng thuốc tẩy giun phải theo chỉ định của bác sĩ. Tốt nhất khi đến định kỳ tẩy giun, các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế để bác sĩ khám và chỉ định loại thuốc, liều thuốc, thời điểm uống cho phù hợp. Trước đây, người ta thường nhịn đói để uống thuốc, nhưng với một số thuốc tẩy sán thì nhịn đói uống có thể tăng tác dụng, còn với những thuốc tẩy giun thông thường tốt nhất nên uống sau khi ăn. Sau khi dùng thuốc trẻ có thể bị đau bụng, buồn nôn và tiêu chảy thoáng qua. Những triệu chứng này thường nhẹ và sẽ tự khỏi. Một số ít trẻ có các triệu chứng dị ứng, phát ban, nổi mề đay. Khi đó cần đưa trẻ đi khám để được các bác sĩ tư vấn và có hướng xử lý phù hợp. Người đang bị sốt, bị viêm họng, viêm gan, viêm thận, bệnh cấp và mãn tính thì không nên dùng thuốc tẩy giun. Phụ nữ có thai cũng không nên dùng thuốc tẩy giun. Bên cạnh việc dùng thuốc tẩy giun đúng cách cần tạo thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; thực hiện đúng quy trình làm sạch thực phẩm trong quá trình chế biến; rau quả cần được ngâm với nước muỗi loãng; đồ ăn phải được nấu chín để hạn chế mầm bệnh, đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Những thuốc không được dùng với rượu

NHỮNG THUỐC KHÔNG ĐƯỢC DÙNG VỚI RƯỢU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Rượu lúc đầu mới uống ít hoặc chưa ngấm sâu chỉ ức chế trung tâm ức chế ở não, tạo ra hiện tượng giống như hưng phấn (nói nhiều, hoa chân múa tay), sau đó do uống thêm hoặc do rượu ngấm sâu mà sự ức chế ấy lan khắp não (không biết gì, ngủ như chết)... Như vậy, trong mọi giai đoạn rượu là chất ức chế. Vì vậy không dùng rượu khi dùng các thuốc sau: Thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương: Các thuốc như thuốc an thần (diazepam) điều chỉnh rối loạn quá trình hưng phấn - ức chế, thuốc ngủ (phenobarbital) ức chế quá trình kích thích, thuốc động kinh (carbamazepin) làm giảm quá trình kích thích... khi dùng cùng với rượu thì rượu sẽ làm tăng tác dụng của các thuốc này, gây độc giống như dùng quá liều. Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương: Khi dùng các thuốc này với rượu thì rượu sẽ làm đảo ngược tác dụng của thuốc làm cho thuốc giảm hiệu lực. Khi uống thuốc phải kiêng rượu để tránh những tương tác bất lợi. Thuốc có tác dụng phụ ức chế hệ thần kinh trung ương: Các kháng histamin thế hệ cũ (chlopheniramin, alimemazin, promethazin cycloheptadin) thấm vào não gây ức chế. Đối với các thuốc này khi dùng cùng với rượu thì rượu làm tăng tác dụng của thuốc, gây độc.   Rượu lúc đầu mới uống ít hoặc chưa ngấm sâu chỉ ức chế trung tâm ức chế ở não, tạo ra hiện tượng giống như hưng phấn (nói nhiều, hoa chân múa tay), sau đó do uống thêm hoặc do rượu ngấm sâu mà sự ức chế ấy lan khắp não (Ảnh minh họa) Rượu khi uống làm giãn mạch làm thoát nhiệt ra ngoài, mặt đỏ bừng làm cho có cảm giác ấm nhưng thực chất là làm giãn mạch làm thân nhiệt hạ. Sự giãn mạch này đưa đến hạ huyết áp. Nếu dùng chung với thuốc làm hạ huyết áp (dù với cơ chế làm hạ huyết áp như thế nào) thì rượu cũng làm tăng tính hạ huyết áp của thuốc gây nên việc giảm huyết áp đột ngột, nguy hiểm. Rượu gây độc cho gan, nếu dùng rượu chung với các nhóm thuốc gây độc cho gan như thuốc chống lao (pyrazinamid), thuốc sốt rét (mepraquin) thuốc chống nấm (griseopulvin), thuốc mạch vành (herhexilin), thuốc chữa loạn nhịp (quinidin) thì rượu và thuốc cùng gây độc cho gan làm cho tính độc cho gan tăng lên. Ngoài ra cần biết khi uống rượu, gan phải dùng gluthation để giải hóa làm cạn kiệt chất này và những thuốc nào nhờ chất này mà chuyển hoá thành chất không độc như paracetamol thì quá trình chuyển hóa bị trở ngại và trở nên độc cho gan hơn.   Rượu làm tăng phản ứng hạ đường huyết. Khi dùng chung với các thuốc hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường týp II  (Ảnh minh họa) Rượu làm tăng phản ứng hạ đường huyết. Khi dùng chung với các thuốc hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường týp II (chlopropamid, glibenclamid, glipizid tolbutamid) thì nó tác dụng như một chất hiệp đồng làm hạ đường huyết đột ngột, gây hôn mê. Rượu còn bị một số kháng sinh gây ra phản ứng sợ rượu (gọi là phản ứng altabuse) như các kháng sinh nhóm cephalosporin, nhóm phenicol (chloramphenicol), nhóm azol (metronidazol, ketocanzol). Khi dùng các nhóm kháng sinh này (hiện nay có rất nhiều) thì không được uống rượu. Rượu còn gây ra một số phản ứng phức tạp trên các kháng viêm không steroid thế hệ cũ. Các kháng viêm không steroid thế hệ cũ vừa ức chế cyclo-oxydase II làm giảm đau, ức chế cả cyclo-oxydase I gây tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Với tác dụng ức chế của mình, rượu làm tăng tác dụng có hại nhiều hơn. Vì thế, khi dùng các kháng viêm không steroid thế hệ cũ (như aspirin, paracetamol, ibuprofen...) phải tuyệt đối kiêng rượu.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NHỮNG THUỐC CẦN DÙNG NGAY, KHÔNG CHẬM TRỄ

NHỮNG THUỐC CẦN DÙNG NGAY, KHÔNG CHẬM TRỄ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một số thuốc có thể “đợi tí chút” rồi uống. Nhưng một số thuốc lại không được chậm trễ, phải dùng ngay lập tức. Vì nếu trì hoãn hậu quả sẽ khó lường. Dưới đây là một vài thuốc tiêu biểu mà bạn cần dùng ngay. Thuốc trị hen Tết đến, xuân sang, khi trăm hoa đua nở thì cũng là lúc tạo điều kiện để bùng phát những cơn hen phế quản. Người ta nói rằng hoa nở thì cơn hen cũng nở. Lý do thì có quá nhiều. Đó là phấn hoa xuân bung ra khắp nơi, mưa bụi lất phất, ẩm ướt khắp nơi, nấm mốc, bọ mạt đua nhau sinh sôi. Đối với người bị bệnh hen nếu không kiểm soát tốt thì cơn hen có thể đến khi đang ngồi chơi, chúc Tết hoặc thậm chí là đang ngủ... Đã hen thì phải dùng thuốc và phải dùng ngay, không chậm trễ. Tại sao vậy? Vì bệnh hen là bệnh rất dễ xảy ra biến chứng. Nếu cơn hen không được khống chế, bạn có thể rơi vào tình trạng nguy kịch. Thuốc cắt nhịp nhanh Nhịp tim bình thường của bạn rất đều đặn và nhịp nhàng trong lồng ngực. Nhưng bỗng dưng lên cơn nhịp nhanh bất thường thì rất đáng sợ. Bạn gần như không còn đủ sức làm bất cứ thứ gì. Đang ngồi ở nhà, bạn cũng phải gục xuống. Mức nhịp tim nhanh có thể dẫn tới ngất khi tim co bóp rỗng, đe dọa tính mạng rất đáng sợ và nguy hiểm. Nhưng sự cố này lại có thể chống cự ngay chỉ với một liều thuốc. Lúc đó không thể đợi gọi bác sĩ hay nhân viên y tế. Điều cần làm lúc này đó là với lấy một liều thuốc cắt nhịp tim nhanh. Thuốc chống nhịp nhanh cấp cứu không được dùng bừa bãi nhưng cũng không được trì hoãn. Nhớ chỉ dùng trong trường hợp cấp cứu và phải thật khẩn trương. Đó là thuốc cordarone. Ngậm ngay dưới lưỡi 1 viên thuốc. Sau đó chừng dăm phút là nhịp đã giảm, chừng 15 phút sau bạn thấy êm và sau 1 giờ thì bạn hoàn toàn thoát khỏi. Sau đó, bạn nên liên hệ ngay với bác sĩ để được hướng dẫn dùng thuốc an toàn.   Khi nhịp tim nhanh bất thường, cần dùng ngay một liều cắt nhịp Vì vậy, bạn cần có thuốc sẵn ở trong nhà. Một trong những loại thuốc cần có để dùng ngay cấp tốc là một lọ thuốc xịt chống hen. Bạn có thể ra ngoài quầy thuốc hoặc liên hệ với bác sĩ điều trị kê đơn. Thuốc này có bản chất là salbutamol. Những thuốc này không được câu nệ là dùng trước ăn hay sau ăn. Bất cứ khi nào bệnh xảy ra, bạn đều có thể dùng. Để không muốn ai biết bệnh của bạn, bạn chỉ cần lịch sự quay người đi, đưa lọ xịt lên miệng, ngậm kín, xịt mạnh rồi hít thật mạnh, cơn hen sẽ được khống chế dễ như không. Nhưng bạn cần chú ý, ngay khi có triệu chứng khó thở, rít lên, bạn phải dùng ngay thì coi như việc điều trị hen chỉ đúng như là việc nhấp một chén trà Tết vậy. Vậy dùng thuốc như thế nào? Khi huyết áp tăng cao, thấy bốc hỏa, nóng bừng, nhức đầu, đau nhói, mạch máu giật giật mạnh vùng thái dương, hãy đo huyết áp ngay. Nếu chỉ số huyết áp tối đa cao từ 200mmHg trở lên, ngậm ngay 1 viên adalat 10mg. Đây là thuốc công hiệu hạ áp nhanh. Nếu có thuốc dạng gel, bạn chọc một lỗ nhỏ bằng cây kim khâu, bóp nhẹ, nhỏ 1 giọt vào dưới lưỡi thay vì ngậm thuốc viên. Vậy là huyết áp hạ xuống. Gọi điện cho bác sĩ riêng để có hướng xử trí an toàn tiếp theo. Và dĩ nhiên đối với người tăng huyết áp đã phải dùng thuốc cần phải dùng thuốc thường xuyên, hàng ngày như cơm bữa để bình ổn huyết áp. Khi huyết áp bình ổn bạn sẽ không phải dùng thuốc cấp cứu nữa. Thuốc chống dị ứng Tết là mùa ưa thích nhất của bệnh dị ứng. Món ăn pha tạp, thực phẩm lẫn lộn, thực phẩm giàu đạm cứ đầy ăm ắp, hoa nở khắp nơi, bụi phấn, bụi mạt cứ lơ lửng trong không khí... là những dị nguyên gây ra dị ứng. Vì vậy những người có tiền sử bị dị ứng cần chuẩn bị sẵn sàng thuốc chống dị ứng là có thể ổn định như clorpheniramin, telfast. Khi có biểu hiện dị ứng (ngứa da, nổi mẩn hoặc sụt sịt mũi), chỉ cần dùng ngay 1 liều clorpheniramin hoặc telfast. Sau 30 phút, bạn sẽ thấy êm ro. Sau 2 giờ thì bạn hoàn toàn bình thường. Nhưng cần lưu ý là clorpheniramin sẽ gây buồn ngủ. Thuốc trị sâu răng Tết được cái vui, cái thú là ăn uống và thưởng thức sơn hào hải vị mà nếu bị sâu răng thì coi như mất Tết. Không cái đau nào khó chịu như cái đau răng, vì nó không chỉ đau tận óc mà nó còn làm cho người sâu răng ấm ức. Nếu không dùng thuốc ngay thì bạn cứ thế mà ngồi ôm cái miệng không mà rên rỉ. Không lẽ, mới sáng ra, ngày đầu năm mà đã đến gõ cửa nha sĩ! Cần chuẩn bị sẵn một vài vỉ thuốc chống sâu răng như rodogyl và một vỉ giảm đau như efferalgan codein. Khi bị đau răng, bạn hãy dùng ngay rodogyl, khi đang ăn. Thuốc kháng sinh này không phải là thuốc giảm đau nhưng lại khống chế cho ổ sâu răng không tiến triển thêm. Vì thế, ổ đau được giảm bớt. Sau đó, nhớ dùng ngay một viên giảm đau sẽ giúp bạn lấy lại cảm giác vui vẻ để hưởng Tết.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN NGUY HIỂM TỚI MỨC NÀO?

BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN NGUY HIỂM TỚI MỨC NÀO?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bệnh dễ phát thành dịch, diễn biến thường lành tính. Tuy nhiên với thể nặng và thể tối độc, điều trị không đúng và không kịp thời dễ dẫn tới tử vong hoặc để lại những di chứng nặng nề. Biểu hiện như thế nào? Đây là bệnh truyền nhiễm lây bằng đường tiêu hóa do trực khuẩn lỵ Shigella gây nên. Lâm sàng biểu hiện với tình trạng nhiễm độc toàn thân, nhiễm độc thần kinh và viêm đại tràng ở các mức độ khác nhau. Bệnh lây bằng đường tiêu hóa thông qua nguồn thực phẩm nhiễm mầm bệnh hoặc qua tay, chân. Ruồi, nhặng là các trung gian truyền bệnh đóng vai trò quan trọng. Biểu hiện lâm sàng đa dạng tùy theo sức đề kháng của bệnh nhân, típ huyết thanh, các bệnh mạn tính khác kèm theo. Thông thường, sau khi mắc bệnh 1 – 3 ngày, bệnh nhân đột ngột xuất hiện sốt cao, sốt nóng có gai rét, đôi khi có rét run. Kèm theo sốt là đau đầu nhiều, đau toàn bộ đầu, mệt mỏi, bơ phờ, thờ thẫn, mất ngủ, da xanh tái, chán ăn, khát nước, môi khô, đái ít… Đau bụng âm ỉ dọc theo khung đại tràng, nhất là vùng hố chậu trái, đôi lúc đau quặn thành cơn làm bệnh nhân xuất hiện cảm giác mót rặn. Sau mỗi lần đi ngoài, cảm giác đau có xu hướng giảm sau đó lại xuất hiện trở lại. Đi ngoài xuất hiện sau mỗi lần đau quặn bụng, đi ngày nhiều lần, từ vài lần đến vài chục lần, khi ngoài luôn có cảm giác mót rặn. Phân lỏng, sệt lúc đầu sau đó phân toàn nhầy máu lẫn lộn, nhầy mủ, nước phân như nước rửa thịt, tanh, và thối. Nếu bệnh nhân không được điều trị hoặc điều trị không đúng, bệnh sẽ có những diễn biến nặng nề hơn.   Nguồn nước ô nhiễm là nguyên nhân gây bệnh lỵ trực khuẩn Cách điều trị Bù nước và điện giải là vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt nếu lỵ trực khuẩn cấp xảy ra ở trẻ em. Phải cho trẻ uống bù nước ngay vì ở trẻ em thể trọng cơ thể nhỏ, tỷ lệ nước cao, khi tiêu chảy, sốt cao rất dễ bị mất nước, điện giải, sẽ nhanh chóng gây giảm khối lượng tuần hoàn và rối loạn nước điện giải. Ngay tại nhà, cần bù nước bằng dung dịch osezol hoặc viên hydrite. Cần chú ý pha dung dịch bù nước theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói osezol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi. Kháng sinh: có nhiều loại kháng sinh có thể sử dụng trong điều trị lỵ trực khuẩn như nhóm bactrim, nhóm beta lactam, quinolon… tùy theo tình hình thực tế. Hiện nay, hay sử dụng và hiệu quả nhất là nhóm quinolon. Tuy nhiên, theo khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh với các trường hợp ở thể vừa trở lên, không dùng cho thể nhẹ. Dùng thuốc gì, liều dùng bao nhiêu và dùng như thế nào cần có ý kiến của bác sỹ, bệnh nhân không nên tự ý sử dụng. Ngoài các nhóm khánh sinh trên còn có thể sử dụng berberin chiết xuất từ cây vàng đắng, thuốc an toàn nhưng chỉ nên dùng cho thể nhẹ và vừa, nếu uống liều cao, thuốc gây mỏi mệt. Thuốc rẻ tiền, ít độc nhưng có hiệu quả. Bên cạnh bồi phụ nước điện giải và dùng kháng sinh, cần cho bệnh nhân sử dụng thêm các thuốc sinh tố, an thần, trợ tim mạch và điều trị các triệu chứng khác nếu có.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Trẻ dễ mắc bệnh gì vào mùa hè?

TRẺ DỄ MẮC BỆNH GÌ VÀO MÙA HÈ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thời tiết oi bức rất thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Do vậy, mùa hè trẻ rất dễ mắc các bệnh như tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm, sốt, chân tay miệng, viêm màng não, sốt xuất huyết... Vậy làm thế nào để phòng tránh bệnh tật cho trẻ trong mùa hè? Bệnh tiêu chảy Tiêu chảy là hiện tượng đi ngoài phân lỏng 3 lần trở lên trong ngày. Nguyên nhân chính là do ăn uống thiếu vệ sinh, thức ăn ôi thiu gây nhiễm khuẩn, thiếu vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh. Đặc biệt bệnh tiêu chảy dễ dàng bùng phát do ô nhiễm nguồn nước.Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em. Các triệu chứng của bệnh tiêu chảy là nôn mửa, chuyển động, đau dạ dày, miệng trở nên khô, da bị mất nước và không còn đàn hồi, đi tiểu ít. Để phòng bệnh tiêu chảy cho con, cha mẹ cần lưu ý cho uống nước đun sôi, rửa tay và chân trước khi ăn uống, vệ sinh sạch móng tay. Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em.     Nếu bị mắc tiêu chảy, nên cho con uống nhiều nước, uống thêm dung dịch Oresol cho trẻ em (Ảnh minh họa) Lưu ý, cha mẹ không nên tự ý sử dụng kháng sinh cho trẻ, không nên ăn những thực phẩm ngoài đường phố vì những thực phẩm này gây nguy cơ ngộ độc rất cao nhất là vào mùa hè. Ngoài ra, các bậc cha mẹ cần chú ý giữ gìn vệ sinh cho trẻ và theo dõi để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bệnh tiêu chảy, chủ động đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời, đề phòng biến chứng nguy hiểm. Ngộ độc thực phẩm Mùa hè là thời điểm dễ xảy ra ngộ độc thực phẩm, nhất là với trẻ nhỏ vì sức đề kháng kém. Khi bị ngộ độc thức ăn trẻ thường có các biểu hiện như nôn ói, đau bụng và tiêu chảy. Các triệu chứng thường xuất hiện sau khi ăn thức ăn bị nhiễm độc từ 1 giờ đến 3 ngày. Trẻ có thể nôn liên tục hoặc vài lần trong ngày. Đau bụng dữ dội, quặn từng cơn sau đó đi tiêu chảy, triệu chứng đau quặn bụng thường xảy ra trước lúc đi ngoài. Tùy theo tác nhân gây ngộ độc mà triệu chứng nôn mửa nổi bật hay tiêu chảy nhiều hơn. Để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm cho trẻ, các bậc cha mẹ nên bảo đảm thức ăn an toàn và hợp vệ sinh, nấu chín thức ăn. Bảo quản thức ăn đã nấu cẩn thận, tốt nhất là giữ thức ăn lạnh. Hâm nóng kỹ lại thức ăn trước khi ăn để tiêu diệt các vi khuẩn mới nhiễm. Tạo thói quen cho trẻ và người chăm sóc rửa tay cho trẻ trước khi ăn. Bên cạnh đó hành trang khi đi du lịch của nhà bạn nên kèm theo vài gói oresol để kịp thời bù nước cho trẻ khi trẻ bị ngộ độc thực phẩm. Chân tay miệng Tay chân miệng là một bệnh rất phổ biến, thường là nhẹ, gặp nhiều ở trẻ nhỏ do nhiễm virus, đặc trưng bởi sốt và phát ban thường thấy trên lòng bàn tay, lòng bàn chân và bên trong miệng. Bệnh lây lan trực tiếp từ người sang người, qua dịch tiết mũi họng, nước bọt, các mụn nước, hoặc phân của người bệnh. Nguyên nhân hàng đầu là do coxsackievirus A16, một loại virus thuộc họ enterovirus. Cũng có thể do các loại enterviruses khác gây ra nhưng ít gặp hơn. Đặc biệt enterovirus 71 ít gặp hơn nhưng có nhiều nguy cơ gây biến chứng nặng hơn, như viêm màng não, viêm cơ tim… dẫn đến tử vong. Để phòng bệnh, các bậc cha mẹ cần giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ em. Nếu thấy có dấu hiệu ngứa và nổi mụn ở chân, tay, miệng, hãy đi khám càng sớm càng tốt. Bệnh thuỷ đậu Thuỷ đậu là bệnh do virus gây ra. Trẻ bị thuỷ đậu trước tiên sẽ có triệu chứng ngây ngấy sốt, sau có thể sốt cao. Bệnh có thể kéo dài 4-5 ngày. Bệnh hay gặp lúc chuyển mùa, giao thời tiết nóng - lạnh. Khi đã mắc bệnh, con người sẽ có miễn dịch lâu dài suốt đời và ít khi bị lại lần hai. Đây là bệnh lành tính, đa số trẻ đến khám được cho về điều trị tại nhà. Bệnh hay gặp ở trẻ 1-9 tuổi. Trẻ dưới 1 tuổi khả năng bị ít hơn nhưng không phải là không có. Bệnh lây qua đường hô hấp nên khi trẻ ho, virus bắn ra môi trường xunh quanh là các bé khác dễ bị lây. Cha mẹ cần tăng cường vấn đề vệ sinh, ăn uống, đường hô hấp, da để phòng bệnh. Quan trọng là cần đưa trẻ đi tiêm phòng khi được 12 tháng tuổi. Trẻ đã bị thủy đậu thì không cần tiêm phòng nữa. Nếu trẻ có dấu hiệu sốt trong những ngày nốt thuỷ đậu xuất hiện và lan rộng thì phải đưa con đi bác sĩ ngay lập tắc, nếu không sẽ rất nguy hiểm. Sốt xuất huyết Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm, có thể gây thành dịch. Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa hè và gây nguy hiểm ở trẻ em nếu không được điều trị kịp thời. Biểu hiện bệnh là trẻ sốt cao đột ngột 39 – 40độ C kéo dài, không kèm theo ho, sổ mũi. Trên người nổi những nốt xuất huyết ngoài da, thường là ở cánh tay, cẳng chân. Trẻ có thể đau bụng ở hạ sườn phải do gan to lên. Ngoài ra, trẻ có thể bị chảy máu cam, chảy máu chân răng. Nặng hơn trẻ có thể xuất huyết tiêu hóa: nôn hoặc đi ngoài ra máu, tay chân lạnh, đau bụng, trụy tim mạch. Khi trẻ bị sốt xuất huyết, các bậc cha mẹ cần phải cho trẻ uống nhiều nước. Nếu trẻ sốt trên 38,5 độ C thì cho uống thuốc hạ nhiệt như Paracetamol (tuyệt đối không dùng Aspirin vì thuốc này làm tăng nguy cơ chảy máu). Cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay nếu thấy có dấu hiệu nặng như chảy máu cam, lừ đừ, đau bụng. Để phòng bệnh sốt xuất huyết, cần đổ nước thừa ở chỗ ứ nước, thùng nước, xô, chậu... Thả cá vào các vật chứa nước trong nhà để diệt bọ gậy, cọ rửa và thay nước thường xuyên. Luôn luôn đậy kín tất cả các vật dụng chứa nước. Thu gom, huỷ đồ phế thải ở xung quanh nhà, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh. Ngoài ra, cha mẹ nên mắc màn khi trẻ ngủ để tránh muỗi đốt. Sử dụng thuốc diệt muỗi thận trọng khi sử dụng thuốc này đối với trẻ nhỏ. Dùng rèm che, màn tẩm hoá chất diệt muỗi để hạn chế và diệt muỗi. Viêm màng não Bệnh viêm não, viêm màng não do nhiều loại virus gây ra, như virus Arbovirus, các virus đường ruột, virus thủy đậu, quai bị…   Biểu hiện của bệnh là sốt, choáng váng, đau họng, đau bụng, sổ mũi, hắt hơi, ho, đau đầu, nôn. Nếu bệnh nhân bị tổn thương não sâu hơn sẽ dẫn đến ngủ lịm, hôn mê, thiểu năng trí tuệ. Một số trường hợp xuất hiện sốt đột ngột, co giật ngoại ý, liệt chân tay. Viêm não cấp tính thường kéo dài 1- 3 tuần, nhưng sự hồi phục rất chậm. Mặc dù đã có thuốc kháng virus nhưng thuốc chỉ có tác dụng với một số loại virus chứ không phải kháng tất cả các virus. Để phòng bệnh, cần tránh để muỗi đốt bằng cách dùng nhang xua muỗi, phun thuốc muỗi định kỳ, mặc quần áo dài, ngủ màn, nuôi cá diệt loăng quăng ở những nơi chứa nước, phát quang bụi rậm... Đối với bệnh viêm não Nhật Bản B đã có vắc xin thì nên cho trẻ tiêm phòng bệnh. 
Xem thêm

3 Đọc thêm

CẢI THÌA: THANH NHIỆT, DƯỠNG SINH

CẢI THÌA: THANH NHIỆT, DƯỠNG SINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cải thìa, còn gọi cải bẹ trắng, cải trắng, đại bạch thái, hoàng nha thái,... Đông y cho rằng, cải thìa vị cay, ấm; có tác dụng thông khí trừ đờm, làm ấm tỳ vị và kích thích tiêu hóa... Cải thìa là thực phẩm dưỡng sinh, ăn vào có thể lợi trường vị, thanh nhiệt, lợi tiểu tiện và ngừa bệnh ngoài da. Cải thìa có tác dụng chống scorbut, tạng khớp và làm tan sưng. Hạt cải thìa kích thích, làm dễ tiêu, nhuận tràng. Kiêng kị: Ăn rau cải thối dễ trúng độc. Khi cất trữ chú ý chống thối. Người bị khí hư, vị hàn thì không được ăn nhiều.   Cải thìa có công dụng chữa nhiều bệnh (Ảnh: Internet) Xin giới thiệu cách trị bệnh từ cây cải thìa: Làm thuốc thanh nhiệt: Người bị bệnh nội nhiệt nặng thiếu tân dịch, môi khô ráo hay lưỡi sinh cam, chân răng sưng thũng, kẽ răng chảy máu, họng khô cứng... dùng rau cải thìa nấu canh ăn sẽ có tác dụng thanh hỏa rất tốt. Nước ép cải thìa trị nội nhiệt: Trẻ em bú sữa bò thường có bệnh nội nhiệt, cũng là do thiếu vitamin C. Chỉ cần lấy cải thìa dầm nát, cho nước sôi để nguội vào lọc lấy nước, sau nấu sôi lên đợi âm ấm, cho uống hoặc đổ vào bình sữa cho trẻ bú. Sau 1 tuần, hiện tượng nội nhiệt mất dần. Chữa nhiệt miệng: Rễ cải thìa gọt bỏ vỏ già ở ngoài, thái lát, sao nhỏ lửa vàng cháy, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần. Mỗi ngày lấy bột thuốc bôi vào chỗ bị bệnh 2 - 3 lần. Dùng liền  3 - 5 ngày. Chữa cảm mạo: Rễ cải thìa 50g rửa sạch, gọt bỏ vỏ ngoài, thái lát, đường đỏ 30g. Đổ 400ml nước sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống lúc còn nóng. Chữa cảm gió: Chọn 1 trong 2 cách sau: - Lấy 3 cây cải thìa rửa sạch gọt lớp vỏ già, cắt thành miếng, 7 cây hành tây, rửa sạch. Cùng đun thành canh, cho lượng đường vừa đủ, để nóng mà uống sau đắp chăn cho toát mồ hôi. - Bọc cải thìa 250g, củ cải trắng 60g. Nấu nước cho thêm đường đỏ vừa đủ. Ăn rau uống nước. Mỗi ngày hai, ba lần, dùng liên tục. Trị ho lâu: Hai cây cải thìa, rửa sạch, thêm 30g đường phèn, đun nước uống. Ngày 2 - 3 lần. Chữa đầy bụng, khó tiêu: Cải thìa (cả cây) rửa sạch giã vắt lấy nước, hâm cho âm ấm, ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần 30ml. Dùng liền 3 - 5 ngày. Trị bệnh hoại huyết: Dùng cải thìa tươi hoặc khô nấu ăn như rau tươi để đảm bảo dinh dưỡng bình thường và phòng chống bệnh hoại huyết. Xuất huyết do viêm loét đường tiêu hóa: Dùng cả cây cải thìa giã vắt lấy nước, hâm cho âm ấm, ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần một chén (khoảng 30ml) (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương). Bệnh đái tháo đường: Cải thìa rửa sạch cắt đoạn, bã đậu phụ lượng bằng rau, bột gạo nếp vừa đủ. Trộn đều, đồ lên ăn. Thận hư, liệt dương: Cải thìa tươi 250g, tôm nõn 10g, xào ăn. Giải độc rượu, lợi tiểu: Lõi cải thìa tươi cắt đoạn, thêm giấm, muối ăn, dầu mè, tỏi đánh đều. Ăn sống, có thể đun với nước thành canh để ăn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phòng bệnh đau mắt đỏ

PHÒNG BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bệnh đau mắt đỏ lây qua đường hô hấp, qua tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh như nước bọt, ghèn, nước mắt... hoặc qua tiếp xúc trực tiếp như dùng chung khăn, gối, tay bị nhiễm dụi vào mắt. Muốn tránh lây lan, người bệnh phải đeo khẩu trang, đeo kính để bảo vệ mắt; không dùng chung đồ đạc với người khác, tránh sinh hoạt chung trong phòng máy lạnh hay phòng kín gió. Không cần nhỏ thuốc khi chưa mắc bệnh vì thuốc nhỏ mắt không phòng ngừa được bệnh đau mắt đỏ. Khi nhiễm Adenovirus, bệnh nhân có triệu chứng giống bị nhiễm siêu vi như hơi nóng sốt, hơi mệt mỏi, đau họng nhưng những triệu chứng này rất mơ hồ, thường đau hạch trước tai (đụng vào rất đau). Mắt còn có những triệu chứng đặc trưng như đau, đỏ, cộm, xốn cả 2 bên, chảy nước mắt, sưng phù mi nhưng nhìn không bị mờ, dịch tiết (ghèn) thường trong, nhiều hay ít tùy trường hợp, ghèn làm dính mi khi ngủ dậy. Khi bị bội nhiễm vi trùng, ghèn thường đục, nhiều và màu vàng. Nếu không bị bội nhiễm hay biến chứng, bệnh sẽ tự khỏi sau 7 đến 10 ngày. Khi phát hiện mắt đỏ hay cảm giác khó chịu ở mắt, người bệnh nên đi khám tại bác sĩ chuyên khoa mắt để được hướng dẫn đúng và kịp thời, đồng thời phát hiện những bệnh nguy hiểm khác có thể nhầm với đau mắt đỏ như glocoma, viêm màng bồ đào, viêm loét giác mạc...   Không dùng cùng một lọ thuốc nhỏ mắt cho nhiều người (Ảnh minh họa) Bệnh nhân cần đeo khẩu trang, đeo kính, tránh dùng chung đồ dùng với người khác và tránh đến nơi đông người ít nhất 3-5 ngày. Không dùng cùng một lọ thuốc nhỏ mắt cho nhiều người. Nên dùng bông gòn sạch thấm dịch tiết nhẹ nhàng một lần rồi bỏ đi, tránh dụi mắt, tránh chạm vào bên trong mắt, nhất là tròng đen vì có thể gây viêm hay loét giác mạc. Cần rửa tay bằng xà bông nhiều lần trong ngày, trước và sau khi tra thuốc nhỏ mắt. Việc điều trị không thể diệt được virus gây bệnh mà chỉ điều trị tùy theo triệu chứng: Nếu mắt đỏ ít, không sưng phù nhiều, ghèn trong thì chỉ cần nhỏ nước muối sinh lý. Nếu mắt có ghèn đục, có thể nhỏ kháng sinh. Chỉ dùng thuốc kháng viêm sau khi đã được bác sĩ mắt khám và kê toa. Tự ý mua thuốc kháng viêm nhỏ mắt có thể dẫn đến biến chứng trên giác mạc, tăng nhãn áp... Có thể dùng kháng sinh toàn thân nếu bác sĩ thấy cần thiết. Bệnh đau mắt đỏ thường xảy ra theo mùa, nhất là những tháng giao mùa giữa hè và thu hay mùa đông. Việc phòng ngừa rất cần thiết - nhất là ở những người có cơ địa yếu, người lớn tuổi, bị bệnh mạn tính, trẻ em... - bằng cách rửa tay sạch, tránh tiếp xúc với những bệnh nhân đau mắt đỏ. Tránh đến nơi đông người như nhà hàng, khách sạn, quảng trường, bệnh viện... khi mùa dịch đến.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề