CHO PHÉP NGƯỜI DÙNG KÉO THẢ NHỮNG CHIẾC HỘP TƯỢNG TRƯNG CHO CÁC GIẢI THUẬT VÀ DỮ LIỆU ĐỂ KẾT NỐI CHÚNG LẠI VỚI NHAU VÀ ĐƯA RA CẤU TRÚC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHO PHÉP NGƯỜI DÙNG KÉO THẢ NHỮNG CHIẾC HỘP TƯỢNG TRƯNG CHO CÁC GIẢI THUẬT VÀ DỮ LIỆU ĐỂ KẾT NỐI CHÚNG LẠI VỚI NHAU VÀ ĐƯA RA CẤU TRÚC":

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐIÊN TỬ

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐIÊN TỬ

thiết kế và mô phỏng lại quá trình hoạt động của đèn giao thông tại giao lộ với ngôn ngữ HDL, phần mềm IDE của hãng xilinx, kit spartan 3. trên nền FPGA. FPGA(Fieldprogrammable gate array) là một công nghệ cho phép người dùng có thể cấu hình lại bộ xử lý một cách tùy biến theo từng ứng dụng cụ thể, nhằm giúp tiết kiệm tài nguyên và tăng tốc độ xử lý. Nó gồm nhiều mảng các cổng đã được chế tạo sẵn nhưng chưa được kết nối với nhau, người lập trình có thể kết nối chúng lại với nhau tùy theo từng thuật toán cụ thể cho từng ứng dụng. Đèn giao thông là một phần thiết yếu đối với tất cả mọi người khi tham gia giao thông, giúp điều tiết mật độ và phân luồng giao thông trên tuyến đường. Nhằm giúp tìm hiểu công nghệ FPGA một cách trực quan, chúng em đã sử dụng kít FPGA để mô phỏng lại quá trình hoạt động của đèn giao thông.
Xem thêm

15 Đọc thêm

cách tạo form trên google drive

CÁCH TẠO FORM TRÊN GOOGLE DRIVE

TẠO FORM TRÊN GOOGLE DRIVE Drive là một phần không thể thiếu của bất cứ ai sử dụng tài khoản Google, và nó được biết đến nhiều nhất với tính năng dịch vụ lưu trữ đám mây và tích hợp bộ Microsoft Office (Word, Excel...). Ngoài ra, Drive còn có một công cụ làm khảo sát rất lý tưởng cho các cuộc thăm dò trực truyến đó là Forms. Trong bài hướng dẫn này giúp mọi người làm quen với Google Forms, về các loại câu hỏi có thể tạo ra với công cụ này, cách tạo câu hỏi tùy thuộc vào câu trả lời của người dùng, và cuối cùng cách có thể truy cập và phân tích dữ liệu sau khi thu về kết quả BẮT ĐẦU Trong trình duyệt web,hãy nhập địa chỉ drive.google.com và đăng nhập vào tài khoản Google của mình. Ở góc trên bên trái của màn hình, nhấp chuột vào Tạo Mới (New) và chọn Mẫu (Google Forms). Vị trí của biểu mẫu ở góc trên bên trái màn hình Một tab mới sẽ mở ra trong trình duyệt của người dùng và sẽ tạo bảng khảo sát trong tab này. Đầu tiên, nhập tiêu đề cho bảng hỏi (Nhấp chuột vào Untitled form), lúc nàyđang thao tác trên Chủ đề mặc định (default theme). Chủ đề mặc định sẽ phù hợp nếu muốn nhúng (embed) bảng khảo sát vào trang web của mình. Muốn thay đổi chủ đề, chỉ cần chọn Change theme ngay ở thanh công cụ phía trên. Bây giờ, người dùng đang ở trang chủ của biểu mẫu, và có thể làm việc theo thứ tự các mục được liệt kê. Đầu tiên là Cài đặt Biểu mẫu (Form Settings). Nếu mẫu của người dùng dài từ hai trang trở lên, hãy tick vào ô Hiển thị thanh tiến trình ở cuối trang biểu mẫu (Show progress bar at the bottom of form pages) để giúp người trả lời khảo sát nắm được tiến độ hoàn thành phiếu khảo sát. Tiếp theo là phần chính của phiếu khảo sát. Nó được chia thành các trang, nhưng khi mới bắt đầu, sẽ chỉ có một trang. Tiêu đề của mẫu và đoạn mô tả biểu mẫu sẽ nằm ở đầu trang,có thể nhấp chuột vào một trong hai vùng này để thêm hoặc chỉnh sửa. Bây giờ, chúng ta đã sẵn sàng để tạo câu hỏi đầu tiên. Nhấp chuột vào ô Tiêu đề Câu hỏi (Question Title) để tạo câu hỏi, và điền vào Văn bản Trợ giúp (Help Text) nếu cần giải thích cho câu hỏi. Chọn loại câu hỏi bằng cách nhấp vào hộp thả xuống. Câu hỏi Nhiều lựa chọn được thiết lập mặc định, nhưng có 13 loại câu hỏi khác nhau chia làm 3 nhóm 13 loại câu hỏi Khi chỉnh sửa, có 9 loại Chúng ta sẽ xem xét một số loại trong số này. CÁC LOẠI C U HỎI VĂN BẢN (TEXT) Loại câu hỏi này yêu cầu người trả lời nhập một câu trả lời rất ngắn, ví dụ như tên hoặc địa chỉ email của họ. Để đảm bảo họ nhập vào một địa chỉ email hợp lệ, hãy nhấp chuột chọn Cài đặt nâng cao (Advanced Settings). Đánh dấu vào Xác thực Dữ liệu (Data validation) và chọn Văn bản (Text) trong ô đầu tiên và Địa chỉ email (Email address) trong ô thứ hai. Trong ô Văn bản lỗi tùy chọn (Custom error text) hãy gõ Vui lòng nhập địa chỉ email của người dùng. Đảm bảo địa chỉ email nhập vào là hợp lệ bằng cách sử dụng Data Validation ĐOẠN VĂN BẢN (PARAGRAPH TEXT) Loại này cần câu trả lời dài như báo cáo, trả lời 1 câu hỏi, một nhận định C U HỎI NHIỀU LỰA CHỌN (MULTIPLE CHOICE) Dạng câu hỏi này đưa ra nhiều câu trả lời, và người dùng có thể lựa chọn chỉ một câu trả lời. Tạo câu trả lời đầu tiên trong hộp ghi Tùy chọn 1 (Option 1), sau đó nhấp vào hộp tiếp theo để tạo câu trả lời thứ hai và cứ như vậy. Người dùng cũng có thể nhấp vàoThêm “Khác” (Other) để thêm một khung văn bản nhỏ ở cuối danh sách. Người dùng có thể trả lời theo ý của họ ở đây. Câu hỏi nhiều lựa chọn trong Google forms HỘP ĐÁNH DẤU (CHECKBOXES) Đây là một kiểu câu hỏi nhiều lựa chọn nhưng người dùng có thể chọn nhiều hơn một câu trả lời. Tương tự như với câu hỏi nhiều lựa chọn, hãy nhập danh sách các câu trả lời và sử dụng Thêm “Khác” nếu cần. Người dùng có thể giới hạn tối thiểu, tối đa hoặc chính xác số câu trả lời mà người sử dụng phải đánh dấu bằng cách sử dụng Xác thực dữ liệu (Data Validation) trongCài đặt nâng cao (Advanced Settings). Chọn cách xác nhận câu trả lời CHỌN TỪ DANH SÁCH (CHOOSE FROM A LIST) Đây là một dạng câu hỏi nhiều lựa chọn trình bày dưới dạng một danh sách kéo thả. Người sử dụng chỉ có thể chọn một câu trả lời từ danh sách này, và không thể thêm lựa chọn của họ. Câu hỏi này xác định một kết quả duy nhất Câu hỏi dạng danh sách trong phiếu khảo sát, có kết thúc sớm nếu chọn Khác THANG ĐO (SCALE) Câu hỏi Thang đo yêu cầu người trả lời xếp hạng theo thang tỷ lệ mặc định, từ 1 đến 5. Người dùng nên mô tả cho điểm thấp nhất và cao nhất theo thang tỷ lệ để hướng dẫn người trả lời. Một ví dụ cho dạng câu hỏi này có thể là Mức độ hài lòng của người dùng đối với dịch vụ nhận được?” Nhãn (label) cho điểm 1 sẽ là Rất không hài lòng và 5 sẽ là Rất hài lòng. Câu hỏi Thang tỷ lệ phù hợp với nhiều ý hỏi, nhưng người dùng chỉ có thể tạo từng câu một. Tạo nhiều câu hỏi một cách nhanh chóng bằng cách nhấp vào nút Nhân bản (Duplicate), sau đó viết lại Tiêu đề Câu hỏi (Question Title) trong bản sao. Tạo một câu hỏi thang tỷ lệ cho những câu hỏi từ thấp lên cao hay ngược lại THÊM NHIỀU C U HỎI HƠN Khi tạo xong mỗi câu hỏi, nhấp vào Đã xong (Done) để thêm nó vào phiếu khảo sát. Sau đó nhấp chọn Thêm mục (Add item) để tạo một câu hỏi khác, rồi chọn loại câu hỏi từ danh sách. Thêm mục cũng cho phép người dùng thêm một trang mới (Trước đây có Section Header trong phần Layout của Add item, mục nầy đã hủy, nhưng được bổ sung Hình ảnh và Video qua các kênh truyền thông). Chức năng này rất có ích khi phiếu khảo sát của người dùng rất dài và có nhiều phần. Người dùng nên nhóm những câu hỏi về thông tin cá nhân trong hộp Về người dùng (About you). Hay như trong hình minh họa, có thể tạo thêm các câu hỏi Công việc của người dùng yêu cầu kiến thức về những mảng nào?; Người dùng thích đọc những thông tin nào về kinh tế?. Người dùng cũng có thể thêm Ngắt trang (Page break) để ngắt phiếu khảo sát ra thành nhiều trang. Văn bản đầu trang mô tả nhóm công việc khác Chia phiếu khảo sát thành các phần để giúp người làm khảo sát dễ theo dõi hơn TẠO CÁC BIỂU MẪU NỐI TIẾP NHAU (DYNAMIC FORMS) Ngắt trang cũng rất hữu ích khi tạo phiếu khảo sát gồm nhiều trang liên kết với nhau tức là nó sẽ hiển thị câu hỏi khác nhau dựa trên câu trả lời của người dùng. Dưới đây là một ví dụ: muốn tạo một phiếu khảo sát về ngành học, trong đó hỏi mọi người về cách chọn ngành học. Người dùng có thể liên kết hai phần này bằng cách tách các câu hỏi ra thành nhiều trang và nhảy đến trang đó khi có yêu cầu, kế toán nhảy đến trang 2, sở thích… Sử dụng nhiều trang để tạo ra các biểu mẫu gồm các trang liên kết với nhau Nếu chọn Quản trị kinh doanh sẽ chuyển tới trang 3 (ngân sách), nếu chọn Xuất nhập khẩu sẽ chuyển về 1 (Nhập rồi bỏ), cuối cùng, nếu không chọn gì cả sẽ đi tới trang kế tiếp. Chọn lựa thể đưa người tham gia đến một trang nhất định dựa trên câu trả lời của họ Phương pháp này đảm bảo người trả lời chỉ phải trả lời những câu hỏi liên quan đến họ, và giúp duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu mà người dùng nhận được trong quá trình này. KẾT THÚC Sắp xếp lại các câu hỏi, các phần và trang bằng cách di chuột và kéo di chúng vào vị trí mong muốn. Nhấp chọn Xem biểu mẫu trực tiếp (View live form) trên thanh công cụ ở phía trên cùng của màn hình để kiểm tra xem phiếu khảo sát của mình trông như thế nào bất cứ lúc nào. Người dùng có thể kiểm tra biểu mẫu trong khi đang tạo câu hỏi Khi đã hài lòng với những gì mình vừa tạo, chỉnh sửa Trang xác nhận (Confirmation page) ở dưới cùng của màn hình. Cảm ơn người sử dụng vì đã trả lời khảo sát, bỏ chọn tất cả các ô và nhấn Gửi biểu mẫu (Send). Tạo tin nhắn kết thúc và hành động cho biểu mẫu của người dùng Bây giờ người dùng sẽ thấy một cửa sổ hiện ra các liên kết phục vụ cho việc chia sẻ phiếu khảo sát qua email hoặc các mạng xã hội. Nếu người dùng muốn nhúng biểu mẫu của mình lên trang web, hãy nhấp vào nút Nhúng (Embed). Thay đổi chiều dài và chiều rộngđể form vừa với trang web của người dùng (chiều rộng là yếu tố quan trọng nhất), sau đó sao chép mã nhúng và dán nó lên trang web của người dùng. Điều chỉnh kích thước phiếu khảo sát để phù hợp với trang web Cuối cùng, trên thanh công cụ ở phía trên, nhấp vào Phản hồi (Responses) và Chọn đích tập hợp trả lời (Choose response destination). Số liệu khảo sát được lưu vào một bảng tính, nên hãy nhập tiêu đề phù hợp, sau đó nhấp vào Tạo (Create). Kiểm tra xem thanh công cụ có nói Chấp nhận câu trả lời (Accepting responses) nếu đúng như vậy, phiếu khảo sát của người dùng đã sẵn sàng. LẤY KẾT QUẢ Người dùng có thể kiểm tra kết quả bất cứ lúc nào. Mở Biểu mẫu trong tài khoản Drive của người dùng. Trong thanh menu ở phía trên, người dùng sẽ thấy một con số bên cạnh Câu trả lời (Responses). Đây là số lượng người đã điền vào phiếu khảo sát của người dùng. Chọn Câu trả lời (Responses) > Tóm tắt câu trả lời (Summary of responses) để xem tất cả các dữ liệu được hiển thị trong biểu đồ và đồ thị dễ đọc. Ngoài ra, nhấp chọn Xem câu trả lời (View responses) để xem tất cả các dữ liệu thô đã được lưu trong một bảng tính. Tốt nhất là không nên chỉnh sửa bảng tính này trực tiếp, nhưng người dùng có thể sao chép và dán số liệu vào một bảng tính khác hoặc tài liệu khác để phân tích thêm. Khi đã thu thập được đủ câu trả lời, người dùng có thể đóng phiếu khảo sát. Nhấp vào Chấp nhận câu trả lời (Accepting Responses) và nó sẽ chuyển thành Không còn chấp nhận câu trả lời (Not accepting responses). Người dùng có thể thêm một tin nhắn ngắn chỉ ra rằng cuộc khảo sát hiện đã đóng, và tất nhiên, người dùng có thể mở lại biểu mẫu bất cứ lúc nào. Form đang có hiệu lực trả lời Form bị từ chối, hãy liên hệ chủ nhân Form BÀI HỌC ĐẦU TIÊN Nếu bạn là người cầu thị, khám phá, sau khi thiết kế Form, nhận kết quả, tải về dạng bảng tính (Excel) bạn sẽ bối rối vì tiêu đề các câu hỏi quá dài, làm khó bạn khi phân tích, đánh giá. Hãy thiết kế lại Ta sẽ có một cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, dể tác nghiệp trên Laptop hay PC KẾT LUẬN Chức năng Biểu mẫu trong Google Drive là một công cụ cực kỳ mạnh mẽ, linh hoạt, có khả năng tạo ra các phiếu khảo sát phức tạp vì sự đa dạng của các loại câu hỏi, cho phép tùy biến câu hỏi khi trả lời, và nhất là được cập nhật liên tục về công nghệ do Google Drive cung cấp, hơn nũa Form cho phép nhúng trong Google site và trên các Website khác, tren các Blog, Forum và mạng xã hội. Nhờ vậy, tính tương tác, chia sẻ đã giúp chủ nhân các Form có cơ hội thu thập thông tin nhiều hơn, đánh giá hay dự báo xu thế chính xác hơn. Ngoài ra, với khả năng hoán vị các câu hỏi, đáp án, Form được dùng thiết kế bài thi trắc nghiệm rất tuyệt vời, giúp cho việc sử dụng Google Drive ngày càng sâu rộng, áp dụng hiệu quả với chi phí thấp (hầu như miễn phí)
Xem thêm

14 Đọc thêm

chuan kien thuc tin lop9_chuan

chuan kien thuc tin lop9_chuan

CHƯƠNG I: MẠNG MÁY TÍNH VÀ INTERNET Tuần 1 Ngày Soạn: 20/8 Tiết 1- BÀI 1: TỪ MÁY TÍNH ĐẾN MẠNG MÁY TÍNH (T1) I. MỤC TIÊU : 1. Kiến thức: - Giúp HS hiểu vì sao cần mạng máy tính.Biết khái niệm mạng máy tính là gì. Các thánh phần của mạng : Các thiết bị đầu cuối, môi trường truyền dẫn, các thiết bị kết nối mạng, giao thức truyền thông. 2. Kĩ năng: Biết vai trò của mạng máy tính trong xã hội. 3. Thái độ: Giáo dục thái độ học tập nghiêm túc II. CHUẨN BỊ : 1. Giáo viên : - SGK, tài liệu, giáo án. - Đồ dùng dạy học như máy tính. 2. Học sinh : - Đọc trước bài. - SGK, đồ dùng học tập. III. TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY : 1. Ổn định, Kiểm tra (5’) : 2. Dạy bài mới : Ở các lớp dưới các em đã được học một số phần mềm ứng dụng như : Microsoft Word, Microsoft Excel, Turbo Pascal. Hàng ngày các em thường hay trao đổi với bạn bè bằng cách Chat và gửi vào Email, các em có bao giờ thắc mắc là tại sao người ta lại làm được như vậy không. Muốn biết câu trả lời thì các em sẽ hiểu rõ hơn trong chương trình tin học lớp 9. Bài đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu bài 1 : Từ máy tính đến mạng máy tính. Hoạt động của thầy và trò Nội dung HOẠT ĐỘNG 1 : Vì sao cần mạng máy tính (15’) Hs: nghiên cứu sgk Gv: Kết nối các máy tính để làm gì? HS: Thảo luận nhóm trả lời câu hỏi HS: Nhận xét nhóm bạn trả lời GV chốt và kết luận vấn đề: GV: Việc kết nối các máy tính lại với nhau để có những lợi ích gì ? HS: Thảo luận trả lời câu hỏi Nhận xét bạn trả lời GV chốt và đưa ra một số ví dụ HS: lắng nghe và ghi vở 1. Vì sao cần mạng máy tính? Việc kết nối các máy tính đem lại nhiều lợi ích và hiệu quả trong việc trao đổi thông tin và tài nguyên như phần cứng (máy in, máy fax, bộ nhớ...), phần mềm và dữ liệu HOẠT ĐỘNG 2 : Khái niệm mạng máy tính (15’) HS: nghiên cứu sgk GV: Mạng máy tính là gì? gồm có các thành phần cơ bản nào? HS: Thảo luận nhóm trả lời câu hỏi HS: Nhận xét nhóm bạn trả lời GV chốt và kết luận vấn đề: GV: Có thể nối mạng máy tính theo những dạng nào ? HS: Thảo luận trả lời câu hỏi Nhận xét bạn trả lời GV chốt và đưa ra một số ví dụ HS: lắng nghe và ghi vở GV: Để thực hiện kết nối các máy tính cần sử dụng các thiết bị gì ? HS: Thảo luận trả lời câu hỏi Nhận xét bạn trả lời GV chốt và đưa ra một số ví dụ HS: lắng nghe và ghi vở 2. Khái niệm mạng máy tính a. Mạng máy tính là gì? - Mạng máy tính được hiểu là tập hợp các máy tính được kết nối với nhau theo một phương thức nào đó thông qua các phương tiện truyền dẫn cho phép người dùng chia sẽ tài nguyên. b. Các thành phần của mạng - Các thiết bị đầu cuối như máy tính, máy in, máy scan,... - Môi trường truyền dẫn cho phép tính hiệu truyền được qua đó. Môi trường truyền dẫn có thể là cáp, sóng điện từ, bức xạ hồng ngoại. - Thiết bị kết nối mạng như vỉ mạng (card NIC), hub, switch, bộ chuyển mạch,... - Giao thức truyền thông (protocol) là tập hợp các quy tắc quy định cách trao đổi thông tin giữa các thiết bị gửi và nhận thông tin. Đây là một thành phần không thể thiếu trong bất kỳ mạng máy tính nào. 3. Củng cố kiến thức. Dặn dò (10’): Chỉ định HS nhắc lại các khái niệm mạng máy tính, lợi ích việc kết nối các máy tính lại với nhau? Qua tiết học em đã hiểu được những điều gì? Về nhà: Học thuộc các khái niệm . Xem tiếp phần bài còn lại ………………………………………………….
Xem thêm

Đọc thêm

TÌM HIỂU VỀ MẠNG MÁY TÍNH

TÌM HIỂU VỀ MẠNG MÁY TÍNH

Ngô Thị Lan Phương, cô đã giúp đỡ em rất nhiệt tình, giới thiệu tài liệu để emhoàn thành đề tài được đúng thời hạn. Do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chếnên chắc chắn đề tài này còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự nhậnxét, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để nghiên cứu sâu hơn đềtài này. Em xin chân thành cảm ơn!4Chương 1Giới Thiệu Chung1.1. Kiến thức cơ bản về mạng LAN không dây1.1.1. Thế nào là mạng không dây?Mạng LAN không dây (Wireless Local Area Network - WLAN) là mộthệ thống các thiết bị được nhóm lại với nhau, có khả năng giao tiếp thông quasóng radio thay vì các đường truyền dẫn bằng dây. Mạng WLAN thực sự đangthay thế cho mạng máy tính có dây, cung cấp khả năng xử lý linh động hơn và tựdo hơn cho các hoạt động của mình. Người dùng có thể truy nhập vào mạngIntranet của nội cơ quan của mình làm việc, hoặc mạng Internet (WWW) từ bấtcứ địa điểm nào trong khuôn viên nơi làm việc mà không bị ràng buộc bởi cáckết nối vật lý.1.1.2. Lịch sử ra đờiCông nghệ WLAN lần đầu tiên xuất hiện vào cuối năm 1990, khi nhữngnhà sản xuất giới thiệu những sản phẩm hoạt động trong băng tần 900Mhz.Những giải pháp này (không được thống nhất giữa các nhà sản xuất) cung cấp.Năm 1992, những nhà sản xuất bắt đầu bán những sản phẩm WLAN sửdụng băng tần 2.4Ghz. Mặc dầu những sản phẩm này đã có tốc độ truyền dữ liệucao hơn nhưng chúng vẫn là những giải pháp riêng của mỗi nhà sản xuất khôngđược công bố rộng rãi. Sự cần thiết cho việc hoạt động thống nhất giữa các thiếtbị ở những dãy tần số khác nhau dẫn đến một số tổ chức bắt đầu phát triển chung.
Xem thêm

74 Đọc thêm

CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT

CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT

thuộc cấu hình máy, dữ liệu đưa vào, tàinguyên…• Để ước lượng thời gian thực hiện thuật toánxem xét 2 trường hợp– Trường hợp tốt nhất: Tmin– Trường hợp xấu nhất: Tmax• Với Tmin và Tmax  thời gian thực hiện trungbình của thuật toán Tavg Làm thế nào đánh giá?3Độ phức tạp của thuật toán• Để đánh giá hiệu quả của một thuật toán, có thể tính sốlượng các phép tính phải thực hiện của thuật toán này:– Phép so sánh– Phép gán• Thông thường số các phép tính được thực hiện phụthuộc vào cỡ của bài toán, tức là độ lớn của đầu vào• Vì thế độ phức tạp thuật toán là một hàm phụ thuộc đầuvào• Tuy nhiên, không cần biết chính xác hàm này mà chỉ cầnbiết một ước lượng đủ tốt của chúng• Để ước lượng độ phức tạp của một thuật toán ta thườngdùng khái niệm Big-O
Xem thêm

Đọc thêm

Ứng dụng ngăn xếp (Stack) và hàng đợi (Queue) để viết chương trình biến đổi biểu thức trung tố thành tiền tố và hậu tố.

ỨNG DỤNG NGĂN XẾP (STACK) VÀ HÀNG ĐỢI (QUEUE) ĐỂ VIẾT CHƯƠNG TRÌNH BIẾN ĐỔI BIỂU THỨC TRUNG TỐ THÀNH TIỀN TỐ VÀ HẬU TỐ.

Trong khoa học máy tính, cấu trúc dữ liệu là cách lưu dữ liệu trong máy tính sao cho nó có thể được sử dụng một cách hiệu quả. Thông thường, một cấu trúc dữ liệu được chọn cẩn thận sẽ cho phép thực hiện thuật toán hiệu quả hơn. Việc chọn cấu trúc dữ liệu thường bắt đầu từ chọn một cấu trúc dữ liệu trừu tượng. Một cấu trúc dữ liệu được thiết kế tốt cho phép thực hiện nhiều phép toán, sử dụng càng ít tài nguyên, thời gian xử lý và không gian bộ nhớ càng tốt. Các cấu trúc dữ liệu được triển khai bằng cách sử dụng các kiểu dữ liệu, các tham chiếu và các phép toán trên đó được cung cấp bởi một ngôn ngữ lập trình. Trong đó nổi trội lên là hai cấu trúc dữ liệu đó là Stack (ngăn xếp) và Queue (hàng đợi). Stack và Queue có ứng dụng rất nhiều kể cả trong thuật toán lẫn trong thực tế. Hàng ngày chúng ta thường xuyên làm việc và tiếp xúc với các biểu thức, toán hạng, toán tử… và máy tính cũng vậy. Tuy nhiên máy tính không thể nào hiểu được ngôn ngữ và cách viết của con người, vì vậy để máy tính hiểu được các biểu thức thì chúng ta phải chuyển chúng về một dạng mà máy tính có thể thực hiện được. Vì vậy em xin chọn đề tài “Ứng dụng ngăn xếp (Stack) và hàng đợi (Queue) để viết chương trình biến đổi biểu thức trung tố thành tiền tố và hậu tố” để làm bài tiểu luận.
Xem thêm

25 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN TIN HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN TIN HỌC

Câu 2: Chọn hai cách giao tiếp với các nguồn trợ giúp bên ngoài?a)Điện thoạib)Tin nhắn tức thờic)Trợ giúp trực tuyến thông qua Internetd)Trợ giúp trực tuyến đi kèm với phần mềmCâu 3: Hãy ghép từng loại dữ liệu được truyền qua mạng với mẫu phổ biến nhất của mạng truyền thông.1.Mạng điện thoạ0069a)Tạo cuộc gọi video2.Mạng máy tínhb)Tải file3.Mạng truyền thanhc)Nghe âm nhạcCâu 4: Hãy chỉ ra 2 lợi ích của mạng máy tính?a)Cho phép người dùng sd mạng để làm việc cùng nhaub) Cho phép người dùng sd mạng để chia sẻ tập tin và các ngồn lực khácc)Cho phép người dùng sd mạng để liên lạc với nhaud)Cho phép người dùng sd mạng để lưu dữ liệu trên máy tính kháce)Cho phép người dùng sd mạng để in tài liệu của họ.Câu 5 : Hãy chỉ ra 2 vd về mất tự chủ khi làm việc trong một môi trường mạng ?a)Bạn có thể lưu trữ tài liệu trên ổ đĩa cục bộ, tăng hiệu suất làm việc và giảm nguy cơ cơ mất dữ liệu
Xem thêm

23 Đọc thêm

CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT (DATA STRUCTURE AND ALGORITHMS): GIẢI THUẬT TIỆM CẬN - ASYMPTOTIC ALGORITHMS

CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT (DATA STRUCTURE AND ALGORITHMS): GIẢI THUẬT TIỆM CẬN - ASYMPTOTIC ALGORITHMS

Giải thuật tiệm cận - Asymptotic AlgorithmsPhân tích tiệm cận trong Cấu trúc dữ liệu và Giải thuậtPhân tích tiệm cận là gì?Phân tích tiệm cận của một giải thuật là khái niệm giúp chúng ta ước lượng đượcthời gian chạy (Running Time) của một giải thuật. Sử dụng phân tích tiệm cận, chúng tacó thể đưa ra kết luận tốt nhất về các tình huống trường hợp tốt nhất, trường hợp trungbình, trường hợp xấu nhất của một giải thuật. Để tham khảo về các trường hợp này, bạncó thể tìm hiểu chương Cấu trúc dữ liệu là gì?Phân tích tiệm cận tức là tiệm cận dữ liệu đầu vào (Input), tức là nếu giải thuậtkhông có Input thì kết luận cuỗi cùng sẽ là giải thuật sẽ chạy trong một lượng thời giancụ thể và là hằng số. Ngoài nhân tố Input, các nhân tố khác được xem như là không đổi.Phân tích tiệm cận nói đến việc ước lượng thời gian chạy của bất kỳ phép tính nàotrong các bước tính toán. Ví dụ, thời gian chạy của một phép tính nào đó được ước lượnglà một hàm f(n) và với một phép tính khác là hàm g(n2). Điều này có nghĩa là thời gianchạy của phép tính đầu tiên sẽ tăng tuyến tính với sự tăng lên của n và thời gian chạy củaphép tính thứ hai sẽ tăng theo hàm mũ khi n tăng lên. Tương tự, khi n là khá nhỏ thì thờigian chạy của hai phép tính là gần như nhau.Thường thì thời gian cần thiết bởi một giải thuật được chia thành 3 loại: Trường hợp tốt nhất: là thời gian nhỏ nhất cần thiết để thực thi chương trình. Trường hợp trung bình: là thời gian trung bình cần thiết để thực thi chương trình. Trường hợp xấu nhất: là thời gian tối đa cần thiết để thực thi chương trình.Asymptotic Notation trong Cấu trúc dữ liệu và giải thuậtDưới đây là các Asymptotic Notation được sử dụng phổ biến trong việc ước lượngđộ phức tạp thời gian chạy của một giải thuật: Ο Notation Ω Notation θ NotationBig Oh Notation, Ο trong Cấu trúc dữ liệugiải thuậtΟ(n) là một cách để biểu diễn tiệm cận trên của thời gian chạy của một thuật toán. Nóước lượng độ phức tạp thời gian trường hợp xấu nhất hay chính là lượng thời gian dàinhất cần thiết bởi một giải thuật (thực thi từ bắt đầu cho đến khi kết thúc). Đồ thị biểu
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bảo mật trong WiMAX và thuật toán mã hóa AES_ Có Code

BẢO MẬT TRONG WIMAX VÀ THUẬT TOÁN MÃ HÓA AES_ CÓ CODE

II.Các kỹ thuật bảo mật trong WiMAX:WiMAX thực hiện vấn đề bảo mật bằng cách mã hóa các kết nối giữa SS và BS. BS ngăn cản việc truy cập trái phép bằng cách giám sát việc mã hóa các luồng dịch vụ trong mạng. Giao thức bảo mật và quản lý khóa được dùng tại các BS để điều khiển việc phân phát khóa dữ liệu cho các SS. Điều này cho phép SS và BS được đồng bộ khóa dữ liệu.Liên kết bảo mật SA (Security Association): SA chứa các thông tin bảo mật của một kết nối gồm các khóa và các thuật toán mã hóa được lựa chọn. SA có 2 loại là DSA (Data SA) và ASA (Authentication SA).DSA có 16 bit nhận dạng SA, thông tin phương thức mã hóa nhằm bảo vệ dữ liệu khi truyền chúng trên kênh truyền và 2 TEK (Traffic Encrytion Key) để mã hóa dữ liệu.ASA bao gồm một khóa cấp phép dài 60 bit (AK) và 4 bit nhận dạng AK.Cơ sở chứng thực:HMAC (Hashed Message Authentication Code): bản tin HMAC được sử dụng để cung cấp bản tin nhận thực, có thể xác định nguồn gửi bản tin thông qua ban tin HMAC.Chứng nhận X.509: được sử dụng để cho phép BS nhận diện SS. Mỗi chứng thực, người dùng phải mang một dấu hiệu để truy cập.Giao thức chứng thực mở rộng (EAP): Chuẩn IEEE 802.16e giới thiệu một giải pháp để thực hiện sơ đồ chứng thực dựa trên cơ sở chứng nhận X.509. Sơ đồ mới này được coi là mềm dẻo hơn và dựa trên giao thức EAP. Để thực hiện được chứng thực trong suốt thời gian thiết lập đường truyền, các bản tin EAP được mã hóa trực tiếp vào bên trong các khung quản lý. Cộng thêm với hai bản tin PKM, đó là PKM EAP request và PKM EAP response, được thêm vào để truyền dữ liệu EAP.Về giao thức bảo mật và quản lý khóa thì SS sử dụng PKM để chứng thực và thu khóa lưu lượng từ BS. Giao thức PKM được chia ra làm 2 phần: Chứng thực và trao đổi khóa AK, trao đổi khóa TEK.Mã hóa dữ liệu: Để cung cấp tính bảo mật dữ liệu trong khi truyền trong mạng Wimax, chuẩn IEEE 802.16 đưa ra chuẩn mã hóa DES. Tuy nhiên, hiện nay DES được coi không còn an toàn nữa. Gần đây DES đã được thay bằng AES và chuẩn IEEE 802.16e đã sử dụng AES để mã hóa thông tin. Và thuật toán mã hóa AES sẽ được giới thiệu trong phần tiếp theo.III.Thuật toán mã hóa AES:Thuật toán AES (Advanced Encryption Standard) là một thuật toán mã hóa khối. Hầu hết các phép toán trong thuật toán AES đều thực hiện trong một trường hữu hạn. AES làm việc với từng khối dữ liệu 4×4 byte (state). Quá trình mã hóa bao gồm 4 bước:1.AddRoundKey — mỗi byte của khối được kết hợp với khóa con, các khóa con này được tạo ra từ quá trình tạo khóa con Rijndael.2.SubBytes — đây là phép thế (phi tuyến) trong đó mỗi byte sẽ được thế bằng một byte khác theo bảng tra (Rijndael Sbox).3.ShiftRows — đổi chỗ, các hàng trong khối được dịch vòng.4.MixColumns — quá trình trộn làm việc theo các cột trong khối theo một phép biến đổi tuyến tính.Tại chu trình cuối thì bước MixColumns được thay thế bằng bước AddRoundKeyQuá trình mở rộng khóa của AES:AES thực hiện một quá trình mở rộng khóa từ khóa mật mã để tạo ra các khóa mới gọi là khóa vòng. Quá trình mở rộng khóa mang lại một chuỗi khóa có độ dài là 16 byte và sử dụng liên tục ma trận rcon và đồng thời dựa vào hộp S để tạo ra một khóa có độ dài 176 byte, sẽ được sử dụng trong suốt quá trình mã hóa và giải mã.Quá trình giải mã AES:Quá trình giải mã của thuật toán AES là ngược lại với quá trình mã hóa. Bên cạnh đó khóa vòng của quá trình giải mã có thứ tự ngược lại với khóa vòng ở quá trình mã hóa. Tương tự như quá trình mã hóa, quá trình giải mã dùng các thủ tục biến đổi là InvShiftRows(), SubBytes(), InvMixColumns(), và AddRoundKey().Các phương pháp tấn công: có 3 phương thức tấn công phổ biến vào thuật toán mã hóa: + Phương pháp Brute Force là phương pháp kiểm duyệt toàn bộ. + Phương pháp tấn công kênh bên: dò tìm xung đột bên trong ma trận state. + Tấn công từ chối dịch vụ DoS: có thể mô tả như hành động ngăn cản những người dùng hợp pháp khả năng truy cập và sử dụng vào một dịch vụ nào đó.Để mô tả thuật toán AES ở trên ta có phần mô phỏng sẽ trình bày tiếp theo.
Xem thêm

81 Đọc thêm

Nghiên cứu VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH UBUNTU

NGHIÊN CỨU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH UBUNTU

LỜI MỞ ĐẦU Hệ điều hành là một phần mềm quản lý phần cứng của máy tính, cung cấp nền tảng cho các phần mềm ứng dụng và đóng vai trò trung gian giao tiếp giữa người dùng máy tính và phần cứng của máy tính đó. Ubuntu là hệ điều hành máy tính nguồn mở tuân theo giấy phép GNU General Public License có tính năng tương tự như hệ điều hành Windows của Microsoft. Ubuntu thích hợp với các công việc văn phòng, lập trình, thiết kế, giải trí, kết nối mạng... Đặc biệt khi dùng Ubuntu sẽ không phải lo ngại những nguy cơ bị nhiễm virus hay spyware nữa. Cách sử dụng Ubuntu hết sức đơn giản, tương tự như Windows và đặc biệt Ubuntu hỗ trợ rất nhiều ngôn ngữ, trong đó có cả tiếng Việt. Khi phân phối Ubuntu, thường cài sẵn những phần mềm thông dụng dùng trong văn phòng như: bộ phần mềm soạn thảo văn phòng OpenOffice.org; trình duyệt Web Mozilla Firefox; Mozilla Thunderbird; trình biên tập đồ hoạ GIMP; và một số trò chơi giải trí. Ubuntu cung cấp một tập hợp đầy đủ các tính năng có thể hoạt động ngay từ bản cài đặt chuẩn, nhưng lại vừa vặn trong một đĩa CDROM. Có đĩa chạy trực tiếp và đĩa cài đặt truyền thống cho mỗi lần phát hành. CDROM chạy trực tiếp cho phép người dùng xem xét phần cứng của họ có tương thích với hệ điều hành hay không trước khi cài đặt lên đĩa cứng. Từ phiên bản đầu tiên cho đến phiên bản 8.04. Hàng loạt tính năng mới cộng thêm khả năng hỗ trợ mạng không dây đã được nâng cấp đáng kể. Cụ thể Ubuntu Linux 8.04 được nâng cấp tổng thể về khả năng kết nối mạng không dây, bao gồm cả khả năng hỗ trợ mạng di động 3G nhằm mang đến cho người dùng nhiều lựa chọn và tạo sự thuận lợi hơn trong việc dò tìm và kết nối vào các hệ thống mạng không dây. Một ưu điểm vượt trội nữa là hệ điều hành này có thể được cài đặt lên thẻ nhớ USB cho phép người dùng lúc nào cũng có thể mang theo hệ điều hành ưa thích với những thiết lập cá nhân của riêng. Mọi dữ liệu hoàn toàn có thể được lưu trực tiếp trên thẻ nhớ USB đó. Vì vậy, nhóm em tìm hiểu về Hệ điều hành Ubuntu, cài đặt và tìm hiểu tính năng của các phần mềm trên Ubuntu như PHP, MySQL Server... và “xây dựng website giới thiệu sản phẩm (điện thoại di động)”
Xem thêm

14 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN TIẾNG VIỆT VỀ MẠNG ẢO CHO HYPERV

HƯỚNG DẪN TIẾNG VIỆT VỀ MẠNG ẢO CHO HYPERV

Hiểu việc kết nối mạng bên trong HyperV chính là chìa khóa cho việc đạt được hiệu suất cao đối với máy chủ và khả năng phục hồi cao. Trong loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về cách kết nối mạng ảo trong môi trường HyperV như thế nào và cách cấu hình mạng ảo nhằm giúp bạn đạt được các mục tiêu kết nối của mình. Một trong những lý do chính tại sao nhiều tổ chức thực hiện việc ảo hóa các trung tâm dữ liệu của họ trước tiên là để giảm chi phí phần cứng, bằng cách này họ có thể tận dụng được phần cứng máy chủ đang tồn tại trong tổ chức mình. Tuy nhiên việc tận dụng như thế nào lại nằm ở vấn đề bạn hiểu được cách cấu hình để có được hiệu suất cao nhất. Với lưu ý đó, chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn một số kiến thức chuyên sâu về việc kết nối mạng ảo. Cách cấu hình kết nối mạng ảo sẽ có ảnh hưởng lớn về hiệu suất máy chủ và khả năng phục hồi toàn bộ của các máy chủ mà nó nắm giữ. Trước khi bắt đầu, chúng ta cần phải hiểu mỗi sản phẩm ảo hóa sẽ cho phép thực thi kết nối mạng ảo theo một cách khác nhau. Trong loạt bài này, chúng tôi sẽ đề cập đến việc kết nối mạng ảo trong HyperV.
Xem thêm

32 Đọc thêm

CẤU TRÚC DỮ LIỆU DI ĐỘNG CHUONG 3A

CẤU TRÚC DỮ LIỆU DI ĐỘNG CHUONG 3A

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCMTRƯỜNG ĐẠI HỌCCÔNG NGHỆ THÔNG TINCẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬTCHƯƠNG IIICẤU TRÚC DỮ LIỆU ĐỘNGNguyễn Trọng Chỉnh1chinhnt@uit.edu.vnCẤU TRÚC DỮ LIỆU ĐỘNGĐẶT VẤN ĐỀKIỂU DỮ LIỆU CON TRỎDANH SÁCH LIÊN KẾTDANH SÁCH ĐƠNMỘT SỐ DẠNG DANH SÁCH LIÊN KẾTKHÁC2DANH SÁCH KÉPTỔ CHỨC..........

33 Đọc thêm

CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT PHẦN MỞ ĐẦU

CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT PHẦN MỞ ĐẦU

... Hai nội dung chính: Phần lý thuyết: Thực giải thuật tay (vẽ hình minh hoạ) Thiết kế cấu trúc liệu theo yêu cầu Đánh giá độ phức tập giải thuật Phần lập trình: Trình bày giải thuật chi tiết mã giả...Giới thiệu Môn học giới thiệu: Các cấu trúc liệu Các giải thuật điển hình cấu trúc liệu Dùng phương pháp hướng đối tượng Ngôn ngữ lập trình minh hoạ: Mã giả... thiệu môn học Tài liệu tham khảo [1] Kruse, R L., and Ryba, A J 1999 Data Structures and Program Design in C++ Prentice-Hall Inc [2] Trân, N N B 2001 Giáo trình Cấu trúc Dữ liệu Giải thuật KhoaCNTT,
Xem thêm

16 Đọc thêm

ĐO NHIỆT ĐỘ ĐỘ ẨM HIỂN THỊ LCD SỬ DỤNG ATMEGA

ĐO NHIỆT ĐỘ ĐỘ ẨM HIỂN THỊ LCD SỬ DỤNG ATMEGA

năng thanh ghi TCNT1 được tự động chép vào ICR1, chúng ta có thể tính đượckhoảng thời gian giữa 2 lần Input Caprture xảy ra, từ đó suy ra chu kỳ hay tần số tínhiệu cần đo.III.1.4 Truyền thông nối tiếp - USARTBộ truyền thông nối tiếp trên Atmega8 có thể hoạt động ở nhiều chế độ và ở đây ta chỉxét chế độ bất đồng bộ.- Khởi tạo nguồn clock cho bộ truyền thông, khởi tạo tốc độ Baud.Để khởi tạo tốc độ Baud ta ghi giá trị tương ứng với tốc độ Baud vào thanh ghiUBRR.Liên hệ giữa UBRR và tốc độ Baud cho bởi công thức sau:Bảng 2.4Ví dụ chúng ta sử dụng xung hệ thống là 3.6864MHz, ta cần dùng tốc độ Baud là9600Có 2 trường hợp: nếu ta chọn U2X=0 thì UBRR=3.686.400/9600/16-1=23.Nếu ta chọn U2X=1 thì UBRR=3.686.400/9600/8-1=47.- Định dạng khung truyền: ta chỉ xét định dạng khung truyền là 1 bit start, 8 bit dữliệu, 1 bit stop, không kiểm tra chẵn lẻ.* Các thanh ghi cấu hình, điều khiển bộ USART:- Thanh ghi UDR:+ Để truyền dữ liệu đi thì ta ghi dữ liệu cần truyền vào thanh ghi này và bộ USART sẽgửi dữ liệu cần truyền đi.+ Sau khi nhận đươc dữ liệu thì thanh ghi này sẽ chứa dữ liệu nhận được.- Thanh ghi USRCA:Nguyễn Thanh Tùng –ĐỒ ÁN I15
Xem thêm

52 Đọc thêm

Báo Cáo Thực Tập Tìm Hiểu và cài đặt cấu hình mạng Vlan

BÁO CÁO THỰC TẬP TÌM HIỂU VÀ CÀI ĐẶT CẤU HÌNH MẠNG VLAN

Giới thiệu Trước hết cần nhắc lại về mạng LAN. Mạng LAN là một mạng cục bộ (viết tắc của Local Area Network), được định nghĩa là tất cả các máy tính trong cùng một miền quảng bá (broadcast domain). Cần nhớ rằng các router (bộ định tuyến) chặn bản tin quảng bá, trong khi switch (bộ chuyển mạch) chỉ chuyển tiếp chúng. Mô hình mạng không có VLAN là một mạng phẳng (flat network) vì nó hoạt động chuyển mạch ở Lớp 2. Một mạng phẳng là một niểm quảng bá (broadcast), mỗi gói quản bá từ một host nào đó đều đến được các host còn lại trong mạng. Mỗi cổng trong switch là một miền đụng độ (collision), vì vậy người ta sử dụng switch để chia nhỏ miền collision, nhưng nó không ngăn được miền quảng bá. Vấn đề băng thông: trong một số trường hợp một mạng Campus ở lớp 2 có thể mở thêm một số tòa nhà cao tầng nữa, hay một số người dùng tăng lên thì nhu cầu sử dụng băng thông cũng tăng, do đó khả năng thực thi của mạng cũng giảm. Vấn đề bảo mật: mỗi người dùng nào cũng có thể thấy các người dùng khác trong cùng một mạng phẳng (flat network), do đó rất khó bảo mật. Vấn đề về cân bằng tải: trong mạng phẳng ta không thể thực hiện truyền trên nhiều đường đi, vì lúc đó mạng dễ bị vòng lặp, tạo nên cơn bão quảng bá (broardcast storm) ảnh hưởng đến băng thông của đường truyền. Do đó không thể chia tải (còn gọi là cân bằng tải). Để giải quyết vấn đề trên, ta đưa ra giải pháp VLAN. VLAN (Virtual Local Area Network) được định nghĩa là một nhóm logic các thiết bị mạng, và được thiết lập dựa trên các yếu tố như chức năng, bộ phận, ứng dụng…của công ty. Mỗi VLAN là một mạng con logic được tạo ra trên switch, còn gọi là đoạn hay miền quảng bá (broadcast). Như đã giới thiệu ở trên, VLAN là một mạng LAN ảo. Về mặt kỹ thuật, VLAN là một miền quảng bá được tạo bởi các switch. Bình thường thì router đóng vai tạo ra miền quảng bá. Đối VLAN thì có thể tạo ra miền quảng bá. VLAN là một kỹ thuật kết hợp chuyển mạch lớp 2 và định tuyến lớp 3 để giới hạn miền đụng độ và miền quảng bá. VLAN còn được sử dụng để bảo mật giữa các nhóm VLAN theo chức năng mỗi nhóm. nhiều switch khác nhau là quan trọng. 2.2 KHÁI NIỆM VỀ VLAN 2.2.1 Giới thiệu về VLAN VLAN là một nhóm các thiết bị mạng không giới hạn theo vị trí vật lý hoặc theo LAN switch mà chúng kết nối vào. VLAN là một segment mạng theo logic dựa trên chức năng, đội nhóm, hoặc ứng dụng của một tổ chức chứ không phụ thuộc vào vị trí vật lý hay kết nối vật lý trong mạng. Tất cả các trạm và server được sử dụng bởi cùng một nhóm làm việc sẽ được đặt trong cùng VLAN bất kể vị trí hay kết nối vật lý của chúng. Mọi công việc cấu hình VLAN hoặc thay đổi cấu hình VLAN điều được thực hiện trên phần mềm mà không cần thay đổi cáp và thiết bị vật lý. Một máy trạm trong một VLAN chỉ được liên lạc với file server trong cùng VLAN với nó. VLAN được nhóm theo chức năng logic và mỗi VLAN là một miền quảng bá, do đó gói dữ liệu chỉ được chuyển mạch trong cùng một VLAN. VLAN có khả năng mở rộng, bảo mật và quản lý mạng tốt hơn. Router trong cấu trúc VLAN thực hiện ngăn chặn quảng bá, bảo mật và quản lý nguồn giao thông mạng. Switch không thể chuyển mạch giao thông giữa các VLAN khác nhau. Giao thông giữa các VLAN phải được định tuyến qua router. Switch trong hình2.2.2b sẽ truyền frame lên cổng giao tiếp của router khi:  Gói dữ liệu là gói quảng bá.  Gói dữ liệu có địa chỉ MAC đích là một trong các địa chỉ MAC của router. Nếu máy trạm 1 trong VLAN Kỹ thuật muốn gửi dữ liệu cho máy trạm 2 trong VLAN Bán hàng, hai máy này nằm trong 2 miền quảng bá khác nhau, thuộc hai mạng khác nhau, do đó địa chỉ MAC đích trong gói dữ liệu sẽ địa chỉ MAC của default gateway của máy trạm 1. Vì vậy địa chỉ MAC đích của gói dữ liệu sẽ là địa MAC của tổng Fa00 trên router. Gói dữ liệu được chuyển đến router, bằng định tuyến IP, router sẽ chuyên gói đúng VLAN Bán hàng. Nếu máy trạm 1 trong VLAN Kỹ thuật muốn gửi gói dữ liệu cho máy trạm 2 trong cùng một VLAN thì địa chỉ MAC đích của gói dữ liệu sẽ chính là địa chỉ MAC của máy trạm 2. Tóm lại, switch sẽ xử lý chuyển mạch gói dữ liệu khi có chia VLAN như sau:  Đối với mỗi VLAN switch có một bảng chuyển mạch riêng tương ứng.  Nếu switch nhận được gói dữ liệu từ một port nằm trong VLAN 1 chẳng hạn , thì switch sẽ tìm địa chỉ MAC đích trong bảng chuyển mạch của VLAN mà thôi.  Đồng thời switch sẽ học địa chỉ MAC nguồn trong gói dữ liệu và ghi vào bảng chuyển mạch của VLAN 1 nếu địa chỉ này chưa được biết.  Sau đó switch quyết định chuyển gói dữ liệu.  Switch nhận frame vào từ VLAN nào thì switch chỉ học địa chỉ nguồn của frame và tìm địa chỉ đích cho frame trong một bảng chuyển mạch tương ứng với VLAN đó. 2.2.3 Hoạt động của VLAN Mỗi cổng trên switch có thể gán cho một VLAN khác nhau. Các cổng nằm trong cùng một VLAN sẽ chia sẻ gói quảng bá với nhau. Các cổng không nằm trong cùng VLAN sẽ không chia sẻ gói quảng bá với nhau. Nhờ đó mạng LAN hoạt động hiệu quả hơn.  
Xem thêm

39 Đọc thêm

AN TOÀN CƠ SỞ DỮ LIỆU THỐNG KÊ

AN TOÀN CƠ SỞ DỮ LIỆU THỐNG KÊ

Trong chương này, chúng ta đi sâu vào các vấn đề suy diễn trên các cơ sở dữ liệu thống kê, đặc biệt quan tâm đến các kỹ thuật bảo vệ có sẵn. Chúng ta thảo luận một số kỹ thuật bảo vệ cơ bản. Các kỹ thuật này dựa vào việc hạn chế các thống kê người dùng yêu cầu, đây là các thống kê cho phép người sử dụng suy diễn thông tin bí mật. Các kỹ thuật bảo vệ này cũng dựa vào việc xáo trộn dữ liệu, đây là các dữ liệu được sử dụng cho việc tính toán các thống kê yêu cầu. Cuối cùng là đánh giá chung về đặc trưng của các kỹ thuật này. 4.1 Giới thiệu 4.2 Các khái niệm cơ bản và giả định 4.3 Các kỹ thuật chống suy diễn 4.3.1 Các kỹ thuật khái niệm 4.3.1.1 Mô hình lưới 4.3.1.2 Phân hoạch khái niệm 4.3.2 Các kỹ thuật dựa vào hạn chế (139) 4.3.2.1 Kiểm soát kích cỡ tập truy vấn 4.3.2.2 Kiểm soát chồng lấp tập truy vấn 4.3.2.3 Kiểm soát dựa vào kiểm toán 4.3.2.4 Gộp 4.3.2.5 Kỹ thuật giấu ô 4.3.2.6 Kỹ thuật kết hợp 4.3.3 Các kỹ thuật dựa vào gây nhiễu 4.3.3.1 Kỹ thuật gây nhiễu dữ liệu 4.3.3.1.1 Chuyển đổi dữ liệu 4.3.3.1.2 Gây nhiễu dữ liệu cố định 4.3.3.1.3 Gây nhiễu dựa vào truy vấn 4.3.3.2 Kỹ thuật gây nhiễu đầu ra 4.3.3.2.1 Truy vấn mẫu ngẫu nhiên 4.3.3.2.2 Làm tròn 4.4 Khung làm việc chung dành cho việc so sánh các kỹ thuật chống suy diễn 4.1 Giới thiệu Trong các phần trước, chúng ta đã xem xét một số mô hình và cơ chế an toàn cho cơ sở dữ liệu, thông qua các truy nhập hợp pháp vào thông tin được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu này. Một cơ sở dữ liệu có thể được sử dụng cho các mục đích thống kê. Khái niệm Một cơ sở dữ liệu thống kê (SDB) là một cơ sở dữ liệu chứa các bản ghi nhạy cảm mô tả về các cá nhân nhưng chỉ các thông tin thống kê mới sẵn dùng, có nghĩa là chỉ các câu truy vấn thống kê (như: COUNT, SUM, MEAN, MAX, MIN…) mới được trả lời, ngoài các câu truy vấn này thì những truy vấn vào các mục dữ liệu riêng sẽ không được đáp lại. Ban đầu các SDB chỉ được sử dụng cho các tính toán thống kê (ví dụ như SDB điều tra dân số). Sau đó, chúng được sử dụng cho các cơ sở dữ liệu thông thường (ví dụ như các SDB của bệnh viện, ngân hàng, học viện, v.v). Các SDB được dùng trong nhiều ứng dụng, như cơ sở dữ liệu điều tra dân số, cơ sở dữ liệu về số người tử vong, về kế hoạch kinh tế, cơ sở dữ liệu thống kê về khám chữa bệnh, cơ sở dữ liệu về các vụ tai nạn ô tô, cơ sở dữ liệu về công nhân… Vấn đề bảo vệ SDB: Vấn đề chính trong bảo vệ SDB là dàn xếp giữa các yêu cầu cá nhân và quyền của các tổ chức để biết và xử lý thông tin. Nghĩa là bắt buộc phải chia sẻ thông tin thống kê để các tổ chức đó có thể biết và xử lý thông tin thống kê đó, trong khi vẫn đảm bảo giữ bí mật các thông tin của cá nhân trong SDB. Nói đến bảo vệ một SDB là nói đến việc ngăn chặn hay tránh khả năng suy diễn thống kê (statistical inference). Suy diễn trong một SDB có nghĩa là có thể thu được các thông tin bí mật trong các thực thể đơn lẻ, bằng cách lợi dụng các câu truy vấn thống kê. Biện pháp an toàn đầu tiên là xây dựng một bộ lọc thống kê (statistical filter), chỉ cho phép các câu truy vấn thống kê và ngăn chặn truy nhập trực tiếp vào các thực thể xác định trong SDB. Tuy nhiên, bộ lọc thống kê không đủ ngăn chặn suy diễn. Các thống kê đưa ra thường chứa một dấu vết về dữ liệu và sử dụng nó khi tính toán, người sử dụng có kỹ năng có thể thu được các thông tin không được phép. Ví dụ, trước tiên người sử dụng đưa ra câu truy vấn về mức lương trung bình của các nữ nhân công trong một bộ phận nào đó, sau đó đưa ra câu truy vấn tiếp theo về số lượng các nữ nhân công. Nếu phép tính này trả lại giá trị 1 thì người sử dụng thu được (suy diễn) lương của nữ nhân công này thông qua các câu truy vấn thống kê hợp lệ (đây chính là các câu truy vấn mà bộ lọc cho phép đi qua). Khi điều này xảy ra, người ta nói SDB chắc chắn bị lộ. Một SDB chắc chắn bị lộ nếu người sử dụng phát hiện được một cá nhân có một đặc điểm cụ thể nào đó, nghĩa là người dùng biết cá nhân này được biểu diễn trong SDB có một số giá trị thuộc tính nào đó. Một SDB hoàn toàn không bị lộ nếu người sử dụng biết được một cá nhân cụ thể không nắm giữ một đặc điểm nào đó. Việc bảo vệ chống suy diễn thống kê không thể chỉ dựa vào các kỹ thuật bảo vệ (đã được trình bày trong các phần trước) mà còn dựa vào các kỹ thuật phi thể thức. Tuy nhiên, các cơ chế (nhận dạngxác thực người dùng) vẫn được sử dụng để nhận dạng người sử dụng có yêu cầu thông tin từ SDB. Trong bảo vệ chống suy diễn, việc thiết kế và thực thi các kỹ thuật cho mục đích đặc biệt là một nhiệm vụ phức tạp và nảy sinh nhiều vấn đề cần quan tâm như sau: • Các đặc tính của SDB cần được bảo vệ:  Các SDB có thể trực tuyến (online): trong đó người sử dụng nhận được các phản hồi thời gian thực cho các câu truy vấn thống kê của mình.  Các SDB có thể ngoại tuyến (offline): trong đó người sử dụng không biết khi nào các thống kê của họ được xử lý, việc SDB bị lộ sẽ khó khăn. Tương tự, các SDB có thể động hoặc tĩnh.  Các SDB tĩnh: không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của chúng (ví dụ, không xảy ra các thao tác chèn hoặc xoá trong cơ sở dữ liệu điều tra dân số) và các thay đổi chỉ được đưa vào trong các cơ sở dữ liệu tĩnh mới tạo ra.  Các SDB động: thay đổi liên tục theo sự thay đổi của dữ liệu thực, cho phép sửa đổi, nghĩa là được phép chèn hoặc xoá các thực thể để phản ánh các thay đổi động của thế giới thực (ví dụ các cơ sở dữ liệu nghiên cứu trực tuyến, lớp học trực tuyến khi bổ sung thành viên,…). Việc bảo vệ một SDB động phức tạp hơn nhiều, vì cơ sở dữ liệu thường xuyên được bổ sung thêm các thông tin, do đó cần thiết kế các kỹ thuật đặc biệt. Ví dụ, một người sử dụng yêu cầu tính tổng số lương của các cá nhân trong SDB (đây là các cá nhân có các đặc điểm cụ thể nào đó) trước và sau khi chèn thêm một cá nhân (I) vào SDB, đồng thời cá nhân (I) cũng có các đặc điểm như trên. Do vậy, người dùng này có thể suy diễn lương của I bằng cách lấy giá trị tổng thứ hai trừ đi giá trị tổng ban đầu. Các SDB có thể tập trung hoặc phân tán.  SDB tập trung: Các hệ CSDL tập trung chạy trên máy đơn và không trao đổi với các máy khác.  SDB phân tán: Dữ liệu phân tán trên các site hoặc trên các phần trong một cơ quan cho phép các dữ liệu thường trú tại nơi chúng được sinh ra nhưng vẫn có thể truy xuất chúng từ các site khác hay các phần khác. Việc lưu nhiều bản sao của CSDL trên các site khác nhau cho phép các tổ chức lớn vẫn có thể tiếp tục hoạt động khi một hay một vài site bị sự cố. Hệ CSDL phân tán được phát triển để quản lý dữ liệu phân tán, trên phương diện địa lý hay quản trị, trải rộng trên nhiều hệ CSDL. Trong trường hợp này, các kiểm soát suy diễn phức tạp hơn nhiều, do phải áp dụng các kiểm soát tại từng địa điểm và phải kết hợp quản lý các hồ sơ của người dùng. Các SDB có thể hướng các ứng dụng đơn lẻ, hoặc có thể phục vụ như là một tập các ứng dụng hỗn tạp. Việc bảo vệ trong các ứng dụng hỗn tạp rõ ràng là rất phức tạp, do tồn tại một số lượng lớn các kiểu ứng dụng khác nhau tương tác với SDB. • Kiến thức bổ sung của người sử dụng: Người sử dụng có thể có kiến thức bổ sung về các cá nhân được biểu diễn trong SDB. Họ hoàn toàn có thể lợi dụng kiến thức này cho các mục đích suy diễn. Cần phân biệt kiến thức làm việc và kiến thức phụ (supplementary). Kiến thức phụ là tập các mục thông tin (thường không có trong SDB) mà một người sử dụng có thể có được. Kiến thức làm việc là tập các mục thông tin liên quan đến các giá trị thuộc tính trong SDB và các kiểu thống kê có sẵn trong SDB. Việc suy diễn sẽ dễ dàng hơn khi người sử dụng có được các thông tin phụ, giúp người sử dụng làm sáng tỏ các kết quả thống kê. Ví dụ, giả thiết rằng chỉ có một nam nhân công làm việc trong một bộ phận cụ thể nào đó. Một câu truy vấn thống kê về tổng số lương của các nam nhân công trong bộ phận này có thể suy ra lương của nhân công nếu người sử dụng biết được tên của nhân công này. • Các kiểu tấn công: Việc phát triển một kỹ thuật kiểm soát suy diễn hiệu quả phụ thuộc vào các kiến thức mà nhà phát triển có được, kiến thức này bao hàm các kỹ thuật mà một snooper (kẻ tấn công theo kiểu đánh hơi) đã sử dụng để tấn công vào SDB. Để đối phó với các kỹ thuật tấn công tinh vi, các cơ chế bảo vệ cũng cần tinh xảo hơn. Hơn nữa, cần kết hợp các kỹ thuật nhằm ngăn chặn suy diễn trên SDB, do đó cần thiết kế các kỹ thuật đơn lẻ để đối phó lại các kiểu tấn công cụ thể. Trong chương này, chúng ta đi sâu vào các vấn đề suy diễn trên các SDB, đặc biệt quan tâm đến các kỹ thuật bảo vệ có sẵn. Chúng ta thảo luận các kỹ thuật bảo vệ cơ bản. Các kỹ thuật này dựa vào việc hạn chế các thống kê mà người dùng yêu cầu, đây là các thống kê cho phép người sử dụng suy diễn thông tin bí mật. Các kỹ thuật bảo vệ này cũng dựa vào việc xáo trộn dữ liệu, đây là các dữ liệu được sử dụng cho việc tính toán các thống kê yêu cầu. Cuối cùng là đánh giá chung về đặc trưng của các kỹ thuật này.
Xem thêm

69 Đọc thêm

Luân án bản đồ dang TILE

LUÂN ÁN BẢN ĐỒ DANG TILE

Hệ thống map Tilebased đang trở thành 1 trong những hệ thống map được sử dụng phổ biến trong hàng loạt các công cụ tìm kiểm bán đồ trên Web. Ứng dụng map qua Internet đầu tiên được đưa vào giữa, cuối những năm 1990 bao gồm YahooMap, MapQuest, and Microsofts TerraServer. Các loại map trên cho phép ánh xạ tới các ứng dụng map thông qua bộ trình duyệt Web. Hệ thống định vị map trên nói chung là rất thô sơ. Để thực hiện những chuyển động đơn giản trên map, đa số map yêu cầu người dùng phải nhắp vào nút mũi tên chỉ dẫn xung quanh tầm nhìn map. Khi người dùng nhắp vào mũi tên, map di chuyển một lượng xác định trước theo hướng nhắp vào. Cũng có nút để zoom to và thu nhỏ. Số khác cho phép người dùng kéo và vẽ hộp trên map để dời đi tầm nhìn map. Tất cả các hệ thống này có vài sự bất lợi như cung cấp và tải các map view một cách rất chậm chạp bởi vì map view thường đã được đại diện bởi một tập tin ảnh lớn. Mỗi lần map đã được di chuyển sang trái hoặc phải; toàn bộ hình ảnh sẽ biểu hiện lại và gửi lại đến khách hàng mặc dù chỉ một phần hình ảnh là mới. Tuy nhiên, giao diện tương đối đơn giản và có ưu thế để phát triển giao diện .Giao diện cơ bản thích hợp với trình duyệt Web gần đây. Giao diện map có thể được viết hoàn toàn trong HTML hoặc với JavaScript rất rất nhỏ. Hai là, vì tất cả lệnh đã được xử lý, người dùng có thể lưu trữ nhiều map. Cũng có các Map View được xây dựng như là một ứng dụng trên máy tính.Hệ thống này phức tạp hơn và sử dụng nền tảng phát triển công nghệ và plugin trình duyệt như Java hay Flash. Google Maps đã được giới thiệu vào năm 2005 và thay đổi đáng kể cách thức mọi người xem map. Thay cho các phương pháp điều hướng map cồng kềnh và chậm chạp, Google Maps cung cấp những gì đã được biết đến như là một giao diện kiểu Slipp Map. Đó là giao diện cho phép người dùng nhanh chóng di chuyển, zoom to map và được viết không hoàn toàn bằng HTML và JavaScript. Cũng như rất nhiều các ứng dụng map Web trình diện một giao diện tương tự giao diện map. Cuối cùng loại giao diện “Slipp Map” xuất hiện ở nhiều nơi bao gồm cả các thiết bị máy tính xách tay và điện thoại di động. Một chìa khóa cho phép công nghệ xây dựng map dựa trên Tile. Ứng dụng map đã được thực hiện bằng cách sử dụng map nền cái mà đã bị phá vỡ thành những Tile image. Những Tile đã được lưu trữ, và sẵn sàng được trả lại, trên một máy chủ. Bởi vì chúng đã sẵn sàng được trả lại, chúng có thể được gửi cho khách hàng một cách nhanh chóng. Các Tile được giải quyết một cách rời rạc vì thế chúng có thể được lưu trữ bởi các dịch vụ bộ nhớ đệm Internet và trình duyệt của khách hàng. Các hình ảnh map được chia thành các phần nhỏ, vì vậy khi người dùng định vị được map view, chỉ có các phần mới của map đã được gửi lại từ máy chủ. Hệ thống Tilebased mapping có vài điểm mấu chốt cần chú ý để phân biệt với các loại khác. Dưới đây chúng ta sẽ đề cập tới những vấn đề đó: 1. Map View dựa trên nhiều cấp độ zoom riêng biệt, mỗi mức tương ứng với một quy mô map cố định. 2. Nhiều Tile image được sử dụng để ảo hóa một Map View. 3. Tile image có thể truy cập bằng cách sử dụng một chương trình rời rạc. 4. Tile image được lưu trữ trên một hệ thống máy chủ được gửi đến khách hàng với một tốc độ nhanh nhất có thể Dưới đây là những nhân tố bắt buộc trong hệ thống map Tilebased 1. Sự định vị Tile được sinh ra sau một phép chiếu toàn cầu. 2. Tile chủ yếu được phân tán bằng cách sử dụng một kiến trúc hệ thống clientserver. 3. Tile được tổ chức trong những lớp nhỏ và cố định
Xem thêm

41 Đọc thêm

Bài tiểu luận: TÌM HIỂU VÀ CÀI ĐẶT VMWARE

BÀI TIỂU LUẬN: TÌM HIỂU VÀ CÀI ĐẶT VMWARE

MỤC LỤCI.Giới thiệu……………………….......................................31.Tính năng ……………………………………………..4a.Tính năng cho người dùng…………………………4b.Tính năng chính…………………………………….52.Phương pháp trao đổi giữa máy thật và máy ảo………6a.Kéo thả……………………………………………..6b. Thư mục dùng chung………………………………6c. Sao chép dán file………………………………..8d.Sử dụng dữ liệu máy ảo trên máy thật……………...8II.Hướng dẫn sử dụng VMware Workstation……………..91.Cài đặt VMware Workstation trên Windowns……….92.Tạo máy ảo…………………………………………10TÌM HIỂU PHẦN MỀM VMWARE :HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG VÀ CẤU HÌNH.I.GIỚI THIỆU:
Xem thêm

10 Đọc thêm

Bài giảng hệ phân tán

BÀI GIẢNG HỆ PHÂN TÁN

A. Giới thiệu Hệ phân tán đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực phát triển của công nghệ máy tính, đăc biệt là trong điều kiện phát triển bùng nổ của các mạng máy tính. Sự phát triển của các mạng LAN, WAN cho phép hàng trăm, hàng nghìn hay thậm chí hàng triệu mát tính có thể kết nối với nhau. Kết quả của sự phát triển công nghệ hiện nay không chỉ đáng tin cậy mà còn tạo nên các hệ thống máy tính rất lớn, được kết nối bằng các đường kết nối tốc độ cao. Chúng tạo nên các mạng máy tính lớn hoặc các hệ phân tán, ngược với hệ thống tập trung trước đây, bao gồm các máy tính đơn và có thể cả thiết bị điều khiển đầu cuối (remote teminal). Có nhiều định nghĩa được đưa ra, nhưng nếu coi hệ phân tán là hệ thống phục vụ người dùng thì : hệ phân tán là tập các máy tính độc lập giao tiếp với người dùng như một hệ thống thống nhất và trọn vẹn. Hệ phân tán được xây dựng cần đảm bảo một số đặc trưng :  Chia sẻ tài nguyên  Tính trong suốt  Tính mở  Tính co giãn Tính trong suốt đảm bảo khả năng che giấu tiến trình và tài nguyên phân tán trong mạng máy tính. Hệ phân tán có khả năng biểu diễn bản thân nó với người dùng và ứng dụng giống như một máy tính đơn lẻ. Bài tiểu luận này sẽ trình bày về các đặc trưng về mặt lý thuyết để đảm bảo tính trong suốt trong hệ phân tán và triển khai nó trong hệ thống WEB. B. Nội dung I. Các vấn đề về lý thuyết của hệ phân tán 1. Tính trong suốt đối với người sử dụng • Truy nhập (Access transparency): che giấu sự khác biệt trong cách biểu hiện dữ liệu và cách thức truy nhập tài nguyên. Ở mức cơ bản, ta che giấu sự khác biệt về kiến trúc máy, nhưng quan trọng hơn chính là ta phải đạt được sự thống nhất trong biểu diễn dữ liệu bởi các máy tính khác nhau và các hệ điều hành khác nhau. Ví dụ, quy ước về cách đặt tên của các máy tính khác nhau chạy trên các hệ điều hành khác nhau là khác nhau, tuy nhiên cách thức này cùng với các thao tác với file hoàn toàn trong suốt với cả ứng dụng và người dùng. • Vị trí (Location transparency): che giấu vị trí tài nguyên  người dùng hoàn toàn không biết về vị trí vật lý của tài nguyên trong hệ thống. Để đạt được , ta cần tiến hành định danh bằng tên gọi logic. Tên gọi có thể đơn giản, không cần mã hóa. VD : cardchua.vn, là tên của trang web, ta không hề biết vị trí vật lý của nó trên Web server nào, nhưng vẫn có thể truy cập được. • Di trú (Migration transparency): che giấu việc tài nguyên di chuyển sang máy khác  tài nguyên có thể không nằm ở vị trí cố định, mà nó có thể được di chuyển sang các máy khác nhau trong hệ thống để phục vụ các yêu cầu khác nhau mà không ảnh hưởng tới việc truy nhập tài nguyên. • Di chuyển (Relocation transparency): che giấu việc tài nguyên có thể bị di chuyển sang nơi khác  tài nguyên có thể di chuyển sang nơi khác ngay cả khi nó đang bị truy cập. VD: người dùng điện thoại di động có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác, do đó chuyển liên lạc từ trạm phát sóng này sang trạm phát sóng khác nhưng cuộc thoại vẫn liên tục, không có bất kì gián đoạn nào. • Nhân bản (Repilcation transparency): che giấu việc sao chép tài nguyên  việc sao chép tài nguyên giúp đơn giản hóa và tăng tốc độ truy cập dữ liệu, các bản sao đặt gần hoặc ngay tại nơi truy cập dữ liệu. Các bản sao này phải có cùng tên, để che giấu với người dùng; và hệ thống cần có tính trong suốt về vị trí, để đảm bảo khả năng quản lý các bản sao khác nhau trên các máy trong hệ thống. • Tương tranh (Concurrency transparency): che giấu sự chia sẻ tài nguyên bởi một số người sử dụng, nhiều người dùng có thể cùng truy cập dữ liệu tại cùng một thời điểm, đặc biệt sử dụng nhiều trong mạng truyền thông. VD: hai người cùng lưu trữ file trên cùng server, và tại một thời điểm, họ truy cập tới cùng bản ghi trong cơ sở dữ liệu chung, để đảm bảo tính nhất quán và ổn định của dữ liệu với từng người dùng, ta cần sử dụng các cơ chế khóa. Ngoài ra, còn có thể thực hiện cơ chế giao dịch, tuy nhiên nó khó thực hiện trên hệ thống phân tán. • Lỗi (Failure transparency): che giấu lỗi và khắc phục lỗi  đảm bảo người dùng hoàn toàn không biết về các lỗi xảy ra trong hệ thống và sự khắc phục các lỗi này. Che dấu lỗi là một trong các yêu cầu khó thực hiện nhất, và có thể không thực hiện được trong một số tình huống cụ thể. Điểm khó nhất chính là ta không thể phân biệt được tài nguyên là truy cập chậm hay không thể truy cập được. VD: khi truy cập một web Server bận, trình duyệt thông báo “timeout”, thì ta không thể biết được server có thực sự bị lỗi hay không. Mức độ trong suốt Tuy nhiên không phải lúc nào cũng nên thể hiện tính trong suốt hoàn toàn với người dùng. Ví dụ, khi có báo điện tử xuất hiện trong hòm thư của người dùng vào lúc 7h, trong khi bạn đang ở múi giờ khác, người dùng cần phải biết thông tin về tờ báo này không phải là tờ báo mà họ vẫn sử dụng. Ngoài ra cũng có sự đánh đổi giữa mức độ trong suốt và tốc độ hệ thống. Ví dụ, nhiều ứng dụng Internet lặp lại việc truy cập máy chủ sau một khoảng thời gian nhất định trước khi từ bỏ, do đó, nếu ta cố che dấu việc kết nối thất bại sẽ làm chậm đáng kể tốc độ hệ thống. Với trường hợp này, cần rút ngắn thời gian cố kết nối hoặc để cho người dùng huỷ bỏ kết nối. Ví dụ khác, ta cần đảm bảo sự thống nhất giữa các bản sao trên các máy khác nhau. Một bản ghi bị thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của tất cả các bản ghi khác, làm chậm đáng kể thời gian hệ thống, nên không thể che giấu người dùng. Trong một số tình huống, tính trong suốt không hẳn là giải pháp tốt, cụ thể như trong các tình huống liên quan tới vị trí và hoàn cảnh đặc biệt, chúng ta nên thể hiện tính phân tán của hệ thống hơn là nên che dấu nó, cụ thể như trong các hệ phân tán nhúng và phân bố rộng. Ví dụ, khi ta muốn in văn bản thông qua các máy in mạng, nên gửi tới các máy in ở gần ta, dù đang bận, hơn là tại các máy in xa. Việc thiết kế hệ phân tán trong suốt là cần thiết, tuy nhiên cũng cần đảm bảo sự hài hoà với các đặc tính khác như hiệu năng và tính thân thiện với người dùng của hệ thống. Tuy nhiên có thể phải trả giá đắt cho việc không đảm bảo tính trong suốt hoàn toàn của hệ phân tán. 2. Kiến trúc Hệ phân tán thường bao gồm tập phức tạp của các phần mềm nằm rải rác trên các máy khác nhau, do đó cần tổ chức tốt. Có nhiều cách khác nhau để xem xét tổ chức của hệ phân tán , và một trong số đó là tách riêng tổ chức logic của các thành phần phần mềm và các phần cứng hệ thống. Một trong các mục đích quan trọng của hệ phân tán là phân tách các ứng dụng từ nền bên dưới thông qua lớp trung gian. Đó chính là bước thiết kế quan trọng với mục đích chính là đảm bảo tính trong suốt phân tán. Tuy nhiên, việc đó phải đánh đổi bằng nhiều biện pháp thiết kế phức tạp để làm lớp trung gian có khả năng tương tác tốt. Các loại kiến trúc hệ thống: kiến trúc lớp kiến trúc hướng đối tượng kiến trúc dữ liệu trung tâm kiến trúc hướng sự kiện Kiến trúc lớp : các thành phần được tổ chức theo kiểu lớp, thành phần lớp Li sẽ gọi thành phần ở lớp dưới Li1 , mô hình được sử dụng rộng rãi trong truyền thông mạng . Kiến trúc hướng đối tượng có các đối tượng được định nghĩa dưới dạng các thành phần và được kết nối với nhau thông qua cơ chế gọi thủ tục (remote). Dạng kiến trúc phần mềm này tương tự như kiến trúc clientserver. Hai dạng kiến trúc lớp và hướng đối tượng vẫn đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống phần mềm lớn. Kiến trúc dữ liệu tập trung suy ra từ ý tưởng các tiến trình giao tiếp thông qua phần tử (chủ động hay thụ động) chung. Kiến trúc này cũng quan trọng không kém 2 kiến trúc trên, ví dụ như hệ thống chia sẻ file chung nhằm che giấu tất cả các kết nối trong hệ thống thông qua các liên kết ảo tới file như trong hệ thống phân tán kiểu Web. Trong kiến trúc hướng sự kiện, tiến trình về cơ bản sẽ giao tiếp thông qua sự lan truyền của sự kiện, có thể mang cả dữ liệu. Với hệ phân tán, sự lan truyền sự kiện nói chung liên quan tới các hệ thống công cộng (publishsubscribe). Ý tưởng cơ bản là các tiến trình gửi sự kiện sau khi lớp trung gian đảm bảo chỉ các tiến trình chấp nhận sự kiện này mới có thể nhận chúng. Lợi ích lớn của hệ thống hướng sự kiện là các tiến trình có mỗi quan hệ linh động, chúng không cần liên quan chặ chẽ với các tiến trình khác. Do đó chúng có thể liên kết hoặc tự do. Kiến trúc hướng sự kiện có thể kết hợp với kiến trúc dữ liệu tập trung, tạo thành không gian dữ liệu chia sẻ. Bản chất của không gian dữ liệu tập trung là các tiến trình có thể không liên kết với nhau, chúng không cần sẵn sàng khi sự truyền đạt được thiết lập. Xa hơn, nhiều không gian dữ liệu chia sẻ sử dụng giao diện SQL để chia sẻ kho dữ liệu với ý nghĩa dữ liệu có thể truy nhập thông qua mô tả hơn là tham chiếu rõ ràng, như trong trường hợp với file. Sự cần thiết của các kiến trúc phần mềm để đảm bảo tính trong suốt đối với các hệ phân tán là không có gì phải bàn cãi, tuy nhiên yêu cầu về tính trong suốt phải đánh đổi với hiệu năng hệ thống, khả năng chịu lỗi, khả thi khi lập trình và còn một số các yêu cầu khác. Không có lời giải tách biệt nào đảm bảo tất cả yêu cầu của hệ phân tán, do đó ta cần áp dụng tổng hợp các giải pháp để đạt hiệu quả. 3. Tiến trình Khái niệm của tiến trình bắt nguồn từ các lĩnh vực của hệ điều hành , trong đó nó được định nghĩa như là chương trình đang thực thi . Trong đó thì việc quản lý và lập kế hoạch của các tiến trình có lẽ là vấn đề quan trọng nhất cần phải quan tâm . Ví dụ , để tổ chức hiệu quả 1 hệ thống clientserver, người ta thường sử dụng các kỹ thuật đa luồng. Như chúng ta đã thảo luận trong phần trước, đặc điểm quan trọng nhất của luồng trong hệ phân tán là chúng cho phép các máy trạm và máy chủ có thể được xây dựng để các kết nối và xử lý nội bộ có thể chồng lên nhau , điều này dẫn đến hiệu suất cao , Trong những năm gần đây , khái niệm về ảo hóa đã trở nên phổ biến . Ảo hóa cho phép một ứng dụng và có thể có môi trường hoàn chỉnh bao gồm hệ điều hành , để chạy đồng thời với các ứng dụng khác nhưng hoàn toàn độc lập về phần cứng và nền tảng nằm dưới . Hơn nữa , ảo hóa giúp tách được các sự cố gây ra do lỗi hay các vấn đề về bảo mật. Đây là một khái niệm quan trọng trong hệ phân tán . Một vấn đề quan trọng , đặc biệt là ở khu vực phân tán rộng, là việc di chuyển tiến tình giữa các máy tính khác nhau . Quá trình di chuyển hay cụ thể hơn là di trú mã. 3.1. Luồng Để thực thi 1 chương trình , hệ điều hành tạo ra một số bộ xử lý ảo, mỗi một bộ xử lý này chạy 1 chương trình khác nhau. Để theo dõi các bộ xử lý ảo này , hệ điều hành có 1 bảng tiến trình, mỗi mục lưu các giá trị thanh ghi, ánh xạ bộ nhớ, các tập tin mở, các thông tin tính toán, quyền hạn … Một tiến trình thường được định nghĩa như là một chương trình đang thực thi. Một vấn đề quan trọng là hệ điều hành sẽ theo dõi chặt chẽ để đảm bảo rằng các tiến trình độc lập không vô tình hoặc cố ý ảnh hưởng đến các hành vi của tiến trình khá. Tuy nhiên, thực tế là nhiều quá trình có thể chia sẻ cùng một bộ xử lý và tài nguyên phân cứng khác do tính trong suốt của hệ thống. Thông thường , hệ điều hành yêu cầu phần cứng hỗ trợ để thực hiện việc phân chia này. Điều này làm chi phí cho các tiến trình sẽ rất lớn . Ví dụ , mỗi lần 1 tiến trình được tạo ra, hệ điều hành cần phải tạo ra một không gian địa chỉ độc lập. Phân phối bộ nhớ được xem như khởi tạo phân đoạn bộ nhớ bằng cách xoá dữ liệu, sao chép chương trình vào phân đoạn text, và khởi tạo ngăn xếp . Tương tự, chuyển đổi phục vụ của CPU giữa 2 tiến trình có thể tương đối tốn kém. Ngoài việc tiết kiệm CPU ( các giá trị thanh ghi , bộ đếm chương trình , ngăn xếp con trỏ .. ) hệ điều hành cũng sẽ phải sửa đổi thanh ghi của bộ nhớ quản lý (MMU ) và bộ nhớ cache như trong bộ đệm TLB. Thêm vào đó, nếu hệ thống hỗ trợ nhiều tiến trình đồng thời nó cần phải lưu tiến trình trong bộ nhớ chính. Nó có thể có tiến trình nháp để trao đổi giữa bộ nhớ chính và ổ đĩa trước khi thực sự thực hiện tiến trình. Giống như tiến trình, một luồng thực thi các đoạn mã của nó độc lập với các luồng khác. Tuy nhiên, ngược với tiến trình nó không cố gắng để tạo ra sự độc lập với các luồng khác nếu việc này làm giảm hiệu năng. Do đó một luồng hệ thống thường chỉ duy trì các thông tin tối thiểu cho phép một CPU được chia sẻ bởi 1 vài luồng. Đặc biệt, một bối cảnh luồng thông thường chỉ gồm có bối cảnh CPU cùng với một số thông tin khác để quản lý luồng. Ví dụ , một hệ thống luồng có thể đảm bảo rằng một luồng hiện tại đang bị khóa thì sẽ không thể thực thi. Thông tin đó không thực sự cần thiết để quản lý đa luồng và thường bị bỏ qua. Vì lý do này , bảo vệ dữ liệu chống lại các truy cập không thích hợp bằng luồng trong 1 tiến trình được đặt hoàn toàn vào người phát triển ứng dụng . Có hai ý nghĩa quan trọng của phương pháp này. Trước hết , hiệu suất của 1 ứng dụng đa luồng khó có thể kém hơn ứng dụng đơn luồng. Trong thực tế, nhiều trường hợp đa luồng làm cho hiệu suất tăng . Thứ hai, bởi vì các luồng không tự động bảo vệ lẫn nhau như cách của tiến trình, nên việc phát triển các ứng dụng đa luồng cần được phát triển hơn nữa, đảm bảo thiết kế và giữ mọi thứ càng đơn giản càng tốt. Tuy nhiên, những thực nghiệm hiện nay không chứng mình rằng nguyên tắc này đều được các nhà phát triển nắm rõ. 3.2. Di trú mã Di trú mã là một trong các đặc tính của tính trong suốt trong hệ phân tán, nhằm di trú tiến trình (ngay cả khi chúng đang thực thi), nhằm đơn giản hoá việc thiết kế hệ phân tán. Phương pháp tiếp cận Di trú mã trong hệ phân tán là quá trình di chuyển toàn bộ tiến trình từ máy này sang máy khác. Tuy điều này làm tốn kém và phức tạp nhưng hiệu quả mang lại về hiệu năng là rõ rệt. Ý tưởng cơ bản là hiệu năng hệ thống có thể tăng rõ rệt nếu các tiến trình được di chuyển từ máy nặng tải sang máy nhẹ tải hơn. Các thuật toán phân chia tải cho hệ thống liên quan tới phân chia và tái phân chia các tác vụ với tập hợp các vi xử lý, đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống tính toán cường độ lớn. Mặc dù vậy, trong các hệ thống tính toán hiện đại, tối ưu tính toán tải ít được đưa ra hơn. Hơn nữa, do tính không đồng nhất của nền bên dưới và mạng máy tính, việc cải thiện hiệu năng thông qua di trú mã thường dựa trên lý do định tính hơn là định lượng. Ví dụ, trong trường hợp server chứa lượng cơ sở dữ liệu lớn, nếu client cần thực hiện nhiều hoạt động trên CSDL này, có thể nên chuyển một phần mã của ứng dụng client sang server và chỉ gửi kết quả qua mạng, giúp giảm tải đáng kể. Điều này có thể áp dụng tương tự cho phía client. Di trú mã có thể được áp dụng trong tính toán song song, dù không rắc rối như lập trình song song. Ví dụ cụ thể như với trường hợp tìm kiếm thông tin trên WEB, được thực hện thông qua tác tử di động, di chuyển từ site này sang site khác. Bằng cách sao chép tác tử này, do kích thước nhỏ nên thời gian thực hiện nhanh, và gửi chúng tới các site khác nhau, ta có thể thu dược hiệu quả như sử dụng một chương trình đơn lẻ. Bên cạnh việc cải thiện hiệu năng, còn một số lý do khác. Lý do quan trọng nhất là độ linh động của hệ thống. đơn giản nhất là ta chia ứng dụng thành các đoạn khác nhau, và đánh giá đoạn nào nên được thực thi.Tuy nhiên, nếu mã di chuyển giữa các máy khác nhau, ta có thể cấu hình động cho hệ phân tán. Mô hình di trú mã Mặc dù di trú mã có nghĩa là ta chỉ chuyển mã giữa các máy, điểu này bao hàm khu vực rộng lớn hơn nhiều. Theo truyền thống, truyền thông trong hệ phân tán liên quan tới việc trao đổi dữ liệu giữa các tiến trình. Di trú mã theo nghĩa rộng là di chuyển các chương trình giữa các máy với nhau, với mục tiêu thực hiện các chương trình này để đạt được mục đích. Trong một số trường hợp, trạng thái thực thi chương trình, thông tin hiện hành và một số phần khác của môi trường cũng được di chuyển theo. Ta sử dụng mô hình sau : trong mô hình này, tiến trình được chia thành 3 phần. Phần mã chứa tập lệnh thực hiện của tiến trình. Phần tài nguyên chứa các tài nguyên cần thiết như file, máy in, các thiết bị và các tiến trình khác. Cuối cùng, phấn thực thi lưu giữ các trạng thái của tiến trình trong thời điểm hiện tại, gồm dữ liệu riêng, ngăn xếp và bộ đếm chương trình. Ta có 2 mô hình chính của di trú mã: mô hình di động yếu và mô hình di động mạnh. Trong mô hình di động yếu, ta có thể chỉ chuyển phần mã, với một số dữ liệu ban đầu. Chức năng chính của mô hình này là chương trình được truyền luôn bắt đầu từ một trong các vị trí bắt đầu được xác định trước. Lợi ích rõ ràng nhất của phương pháp này là sự đơn giản, chỉ yêu cầu máy đích thực thi mã, thực tế làm giảm sự linh động của mã. Ngược với mô hình di động yếu, trong mô hình di động mạnh, tiến trình đang chạy có thể dừng lại và tiếp tục trạng thái đang hoạt động khi di chuyển từ máy này sang máy khác. Tuy nhiên nó phải trả giá bằng việc khó triển khai hơn so với mô hình di động yếu. Trong trường hợp mô hình di động yếu, có sự khác nhau nếu mã di trú được thực thi bởi tiến trình đích và với các tiến trình riêng biệt, ví dụ với Java applet được tải về bởi trình duyệt được thực thi trong không gian địa chỉ của trình duyệt. Lợi ích rõ ràng là không cần kết nối tới máy chủ, tuy nhiên cần bảo vệ tiến trình đích trước mã độc và sự sơ xuất khi thực thi. Có thể giải quyết bằng cách hệ điều hành chú ý tới việc tạo các tiến trình để thực thi mã di trú. Tuy nhiên nó không giải quyết được vấn đề truy nhập tài nguyên trái phép. Thay vì di chuyển các tiến trình đang chạy, mô hình di động mạnh được hỗ trọ bởi các remote cloning. Trái ngược với di trú mã, ta sao chép hoàn toàn chính xác tiến trình gốc, nhưng được thực hiện trên máy khác. Trong hệ thống UNIX, remote cloning chia nhánh một tiến trình con và để tiến trình này tiếp tục thực thi trên máy điều khiển. Lợi ích của việc nhân bản là tạo mô hình gần như tập hợp bởi các ứng dụng khác nhau đã được sử dụng. Điểm khác duy nhất là tiến trình nhân bản được thực thi trên máy khác. Do đó, việc di trú bằng cách nhân bản là cách đơn giản để cải thiện tính trong suốt.
Xem thêm

58 Đọc thêm

Luan van Huong dan su dung va cai dat PIVOTTABLE Nganh Ngan Hang

Luan van Huong dan su dung va cai dat PIVOTTABLE Nganh Ngan Hang

LỜI NÓI ĐẦU PivotTable là một công cụ rất mạnh của excel từ Office 97 đã có hiện diện của PivotTable.Trải qua các phiên bản khác nhau của MSOffice, công cụ này ngày một cải tiến và trở thành công cụ phân tích hàng đầu của excel. Không biết PivotTable, người dùng có khi phải sử dụng những công thức tính tổng, đếm, trung bình,...có điều kiện,nếu 2 điều kiện trở lên, sẽ phải dùng công thức mảng hoặc hàm SUMPRODUCT. Khi dữ liệu lên đến chục ngàn dòng , thì các công thức này khiến cho bảng tính chạy một cách ì ạch , khó chịu. Hơn nữa , có những dạng bảng phân tích dữ liệu hai chiều , việc tách một phần dữ liệu ra thành tiêu đề hai chiều dọc và ngang, có khi phải dùng VBA để giải quyết. Trong khi đó, nếu sử dụng PivotTable, bạn chỉ việc làm theo Wizard, và dùng chuột kéo thả.Mỗi lần kéo thả bạn sẽ có một dạng phân tích khác, tùy nhu cầu.Một ưu điểm mạnh của PivotTable là có thể phân tích với nhiều cấp, tương tự tính tổng nhiều điều kiện. Với PivotTable 2003, bạn có thể phân tích theo %, có thể tạo file tính toán và phân tích file mới này và nhiều tính năng khác. PivotTable làm việc hiệu quả và nhanh chóng cho dù bạn có dữ liệu rất nhiều dòng. PivotTable có nhược điểm là không dùng nó để trình bày như một báo cáo chính thức.Kể cả với Office 2007 hay 2010, các dạng trình bày thuộc dạng có sẵn rất đa dạng và phong phú, không ai muốn in nó ra như một báo cáo, vì không đúng mẫu ( form of report) chính thống.Vì vậy sứcmạnh của PivotTable là không thể thay thế trong rất nhiều trường hợp.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề