PHƯƠNG PHÁP DẠY CON TỰ LẬP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHƯƠNG PHÁP DẠY CON TỰ LẬP":

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬN DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO DẠY HỌC GIẢI PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỈ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬN DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO DẠY HỌC GIẢI PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỈ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Giáo dục có vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại ngày nay. Đại hội Đảng khóa VII đã khẳng định “ Giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài. Tầm quan trọng của giáo dục đào tạo trong sự nghiệp đổi mới hiện đại hóa đất nước đã đặt lên vai đội ngũ giáo dục nhiều trách nhiệm nặng nề…” Luật giáo dục nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ về phương pháp giáo dục phổ thông như sau: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng năng lực tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”. (Trích luật giáo dục 2005 chương II, mục 2, điều 2) Tiếp đó là nghị quyết hội nghị lần II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII khẳng định: “Cuộc cách mạng về phương pháp giảng dạy phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Giáo dục phổ thông giúp người học có thêm kiến thức để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống. Cũng như các ngành khoa học khác toán học cũng giữ một vị trí quan trọng. Nó giúp con người ta có tư duy sáng tạo, phát triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng, tính tự lập, tính chính xác,… Thực tế cho thấy, mức độ tiếp thu kiến thức của HS không đồng đều, có sự phân hóa rõ rệt giữa HS khá, giỏi với HS trung bình, yếu. Để HS hứng thú đồng thời có sự tiến bộ trong học tập thì GV cần phải thực hiện các pha phân hóa.Dạy học phân hóa phát huy được tính tích cực, chủ động của người học. Bên cạnh đó dạy học phân hóa còn khắc phục được hiện tượng không đồng đều, chưa hiệu quả của các phương pháp dạy học khác. Phương trình là một nội dung có vị trí quan trọng trong toán học. Chủ đề này được đưa vào trường phổ thông, thể hiện trong nhiều chương, phần của SGK môn Toán. Trong các kì thi do tính đa dạng về chủng loại, cách giải của phương trình vô tỉ nên học sinh thường hay lúng túng và gặp khó khăn. Xuất phát từ những lí do trên, đề tài được chọn là: “Vận dụng dạy họcphân hóa vào dạy học giải phương trình vô tỉ ở trường THPT”.
Xem thêm

24 Đọc thêm

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ QUẢN LÝ HÀNH VI TĂNG ĐỘNG CỦA TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ QUẢN LÝ HÀNH VI TĂNG ĐỘNG CỦA TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ

1. Lý do chọn đề tàiGiáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻrối loạn phổ Tự kỉ (RLPTK)nói riêng đang ngày càng nhận được sự quan tâm của xã hội. Số lượng trẻ RLPTK ngày càng gia tăng. Tại Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương, trẻRLPTK đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm 2000; số trẻ RLPTK đến điều trị năm 2007 tăng gấp 33 lần so với năm 20003. Qua đây đòi hỏi nghành giáo dục nước ta phải tìm ra biện pháp để giáo dục trẻ RLPTKmột cách hiệu quả.Các nhà tâm lý,giáo dục trên thế giới đã và đang tiến hành các nghiên cứu để tìm ra các phương pháp giáo dục trẻ RLPTK như TEACCH của tiến sĩ Eric Schopler;Phân tích hành vi ứng dụng (ABA) của các nhà hành vi học Baer, Wolf, Risley; Dựa trên sự phát triển,sự khác biệt cá nhân và các mối quan hệ (DIR) của Stanley Greespan Weider… Nhưng khi áp dụng vào Việt Nam thì còn gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa, xã hội và ngôn ngữ…Ở Việt Nam hiện nay các cơ sở chăm sóc và giáo dục sử dụng khá nhiều các phương pháp giáo dục trẻ RLPTK. Tuy nhiên việc áp dụng các phương pháp còn chưa được triệt để do vậy hiệu quả can thiệp chưa được cao. Do đó vấn đề giáo dục cho trẻ RLPTK cần được đầu tư và quan tâm để xây dựng các biện pháp và hoạt động giáo dục cho phù hợp và có hiệu quả hơn.Giáo dục trẻ RLPTK là vấn đề khó, đòi hỏi người giáo viên cần kiên trì, có chuyên môn và có nhiều sự sáng tạo để đưa ra các biện pháp, hoạt động phù hợp với trẻ thì mới có hiệu quả cao. Một trong những cách làm hiệu quả đó là quản lý tốt hành vi của trẻ RLPTK, đặc biệt là hành vi tăng động. Đây là việc làm quan trọng và cần thiết để làm nền tảng cho trẻ RLPTK học tập tốt và là điều kiện để trẻ học được trong môi trường hòa nhập.Dạy trẻ RLPTK theo phương pháp TEACCH có tính cấu trúc giúp trẻ tập trung một cách thích hợp vào các nhiệm vụ mà không phải lo lắng,giúp trẻ tiếp cận với chương trình học tập và các hoạt động trong đời sống có hiệu quả. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp TEACCH là tập trung vào từng cá nhân và dựa vào những điểm mạnh của từng trẻ để thiết lập môi trường và thói quen sinh hoạt tự lập.Phương pháp TEACCH là một phương pháp giáo dục cho trẻ RLPTK có hiệu quả cao và được nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng rộng rãi. Tôi cảm thấy rất tâm đắc và muốn tìm hiểu sâu hơn về phương pháp này, đặc biệt là sử dụng phương pháp này để quản lý hành vi tăng động của trẻ RLPTK.Với tất cả lý do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng phương pháp TEACCH để quản lý hành vi tăng độngcủa trẻ rối loạn phổ Tự kỉ” với mong muốn là góp một phần công sức của mình cho giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ RLPTK được hiệu quả hơn.
Xem thêm

84 Đọc thêm

Vận dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Nam Định

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NAM ĐỊNH

1.2.1.QTDHDựa trên những cơ sở phương pháp luận và quan điểm tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu giáo dục học đã đưa ra nhiều quan điểm về QTDH.Theo quan điểm hệ thống, QTDH gồm tập hợp các thành tố cấu trúc có quan hệ biện chứng với nhau. Bao gồm: mục đích DH, nội dung DH, phương pháp DH, hình thức tổ chức DH, kết quả DH và môi trường DH, đặc biệt phải kể đến hai thành tố cốt lõi của QTDH đó là người dạy và người học. Trong hệ thống, mỗi thành tố đều có chức năng riêng và tuân theo chức năng chung của hệ thống, mỗi thành tố trong hệ thống đều vận động theo một quy luật riêng và vận động theo quy luật chung của hệ. QTDH là một hệ thống luôn tồn tại trong một môi trường nhất định và chịu sự tác động của môi trường đó. Nhưng ngược lại, QTDH cũng có thể cải biến được môi trường xung quanh nó.Theo quan điểm tiếp cận hoạt động, QTDH là quá trình hoạt động phối hợp, thống nhất của người dạy và người học, nhằm giúp người học chiếm lĩnh nội dung học vấn.QTDH là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học – hoạt động dạy và hoạt động học.Dạy và học là hai hoạt động tác động và phối hợp với nhau, nếu thiếu một trong hai hoạt động đó thì QTDH sẽ không diễn ra. Nếu thiếu hoạt động dạy của người dạy thì quá trình đó chuyển thành quá trình tự học của người học. Còn nếu thiếu hoạt động học của người học thì hoạt động dạy không diễn ra, do đó không diễn ra quá trình dạy học. Quá trình dạy và quá trình học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ sẽ tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, từ đó sẽ tạo nên hiệu quả cho QTDH.Hoạt động dạyHoạt động dạy của người dạy: Đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của người học, giúp người học tìm tòi, khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân.Hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người dạy đối với hoạt động nhận thức – học tập của người học thể hiện như sau:Đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức – học tậpXây dựng kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động tương ứng của người học.Tổ chức thực hiện hoạt động dạy của mình với hoạt động nhận thức – học tập tương ứng của người học.Kích thích tính tự giác, tính tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của người học bằng cách tạo nên nhu cầu, động cơ, hứng thú, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu biết của người học, làm cho họ ý thức rõ trách nhiệm và nghĩa vụ học tập của bản thân.Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, qua đó có những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa kịp thời những thiếu sót, sai lầm của họ cũng như trong công tác giảng dạy của mình.Hoạt động họcHoạt động học của người học: Đó là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.Quá trình học của người học có thể diễn ra dưới sự tác động trực tiếp của giáo viên như diễn ra trong tiết học, hoặc dưới sự tác động gián tiếp của giáo viên như việc tự học ở nhà của người họcTrong trường hợp thứ nhất, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động nhận thức học tập của học sinh thể hiện ở các mặt:Tiếp nhận những nhiệm vụ, kế hoạch học tập do giáo viên đề ra.Tiến hành thực hiện những hành động, thao tác nhận thức – học tập nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập được đề ra.Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức – học tập của mình dưới tác động kiểm tra, đánh giá của người dạy và tự đánh giá của bản thân.Phân tích những kết quả hoạt động nhận thức – học tập dưới sự tác động của giáo viên, qua đó cải tiến hoạt động học của bản thân.Trong trường hợp thứ hai, quá trình hoạt động độc lập của người học, thiếu sự lãnh đạo trực tiếp của giáo viên được thể hiện như sau:Tự lập kế hoạch hoặc cụ thể hóa các nhiệm vụ học tập của mình.Tự tổ chức hoạt động nhận thức – học tập bao gồm việc lựa chọn các phương pháp và phương tiện của mìnhTự kiểm tra, tự đánh giá và qua đó tự điều chỉnh trong tiến trình hoạt động nhân thức – học tập của mình.Tự phân tích các kết quả hoạt động nhận thức – học tập, từ đó cải tiến phương pháp học tập của mình.
Xem thêm

112 Đọc thêm

Biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 5 6 TUỔI THÔNG QUA THÍ NGHIỆM KHÁM PHÁ THỰC VẬT

2. Mục đích nghiên cứu Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non thông qua thí nghiệm khám phá thực vật” nhằm mục đích nâng cao mức độ phát triển tính tự lập cho trẻ, tạo nền tảng cho việc phát triển những tính cách và năng lực cần thiết cho trẻ, chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông và cuộc sống sau này. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: quá trình phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật. 4. Giả thuyết khoa học Nếu sử dụng các biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ dựa trên việc tận dụng ưu thế của quá trình tổ chức thí nghiệm khám phá thực vật và thỏa mãn được nhu cầu nhận thức của trẻ 56 tuổi thì mức độ phát triển tính tự lập cho trẻ sẽ được nâng cao. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật. 5.2. Đề xuất biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật. 5.3. Thực nghiệm biện pháp phát triển tính tự lập cho trẻ 5 6 tuổi thông qua thí nghiệm khám phá thực vật ở trường MN.
Xem thêm

120 Đọc thêm

Bộ Thẻ Dot Cards dạy trẻ thông minh sớm

BỘ THẺ DOT CARDS DẠY TRẺ THÔNG MINH SỚM

Bộ thẻ Dot Card dậy trẻ thông minh sớm bằng phương pháp Glenn Doman. Bộ Gồm 100 thẻ bit thông minh dot Card cho các bố mẹ. Chỉ cần tải về và in ra là các bố mẹ đã có 100 thẻ flashcard chấm dot dạy con yêu mình.

100 Đọc thêm

Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc

Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc

Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc Phương pháp dạy dịch cho sinh viên hệ phiên dịch tiếng Trung Quốc
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 29

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN ĐỀ SỐ 29

Câu 1: (1 điểm) Nêu tên các phép tu từ từ vựng trong hai câu thơ sau và chỉ rõ những từ ngữ thực hiện phép tu  từ đó : Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Hồ Chí Minh, Cảnh khuya) Câu 2: (1 điểm) Xét theo mục đích giao tiếp, các câu được gạch chân trong đoạn văn sau thuộc kiểu câu nào? Đứa con gái lớn gồng đôi thúng không bước vào. (1) Ông cất tiếng hỏi: - Ở ngoài ấy làm gì mà lâu thế mày ? (2) Không để đứa con kịp trả lời, ông lão nhỏm dậy vơ lấy cái nón: - Ở nhà trông em nhá ! (3) Đừng có đi đâu đấy. (4). (Kim Lân, Làng) Câu 3: (1 điểm) Chỉ ra các từ ngữ là thành phần biệt lập trong các câu sau. Cho biết tên gọi của các thành phần biệt lập đó. a. Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. (Nam Cao, Lão Hạc) b. Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. (Hữu Thỉnh, Sang thu) Câu 4: (2 điểm) Tự lập là một trong những yếu tố cần thiết làm nên sự thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống. Hãy viết một đoạn văn hoặc một bài văn ngắn (khoảng 20 dòng) trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập của các bạn học sinh hiện nay. Câu 5: (5 điểm) Phân tích đoạn trích sau : CẢNH NGÀY XUÂN   Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay. Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Ngữ văn 9, Tập1,NXBGDVN, 2010, tr.84, 85)       BÀI GIẢI GỢI Ý Câu 1: -          Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,: phép tu từ từ vựng so sánh. -          Chưa ngủ (ở cuối câu thơ trên và được lặp lại ở đầu câu thơ dưới): phép tu từ từ vựng điệp ngữ liên hoàn. Câu 2: - Đứa con gái lớn gồng đôi thúng không bước vào. (1) : câu kể (trần thuật) - Ở ngoài ấy làm gì mà lâu thế mày ? (2) : câu nghi vấn - Ở nhà trông em nhá ! (3) Đừng có đi đâu đấy. (4) : câu cầu khiến. Câu 3: a. Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm : thành phần phụ chú. b. Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. : thành phần tình thái. Câu 4: Thí sinh cần đảm bảo các yêu cầu: -          Văn bản là một đoạn văn hoặc một bài văn ngắn (khoảng 20 dòng). -          Nội dung : suy nghĩ về tính tự lập của học sinh hiện nay. -          Hành văn : rõ ràng, chính xác, sinh động, mạch lạc và chặt chẽ. Sau đây là một số gợi ý về nội dung : + Tự lập, nghĩa đen là khả năng tự đứng vững và không cần sự giúp đỡ của người khác. + Tự lập là một trong những yếu tố cần thiết làm nên sự thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống. + Trong học tập, người học sinh có tính tự lập sẽ có thái độ chủ động, tích cực, có động cơ và mục đích học tập rõ ràng, đúng đắn. Từ đó, nó sẽ giúp cho học sinh tìm được phương pháp học tập tốt. Kiến thức tiếp thu được vững chắc. Bản lĩnh được nâng cao. + Hiện nay, nhiều học sinh không có tính tự lập trong học tập. Họ có những biểu hiện ỷ lại, dựa dẫm vào bạn bè, cha mẹ. Từ đó, họ có những thái độ tiêu cực : quay cóp, gian lận trong kiểm tra, trong thi cử; không chăm ngoan, không học bài, không làm bài, không chuẩn bị bài. Kết quả: những học sinh đó thường rơi vào loại yếu, kém cả về hạnh kiểm và học tập. + Học sinh cần phải rèn luyện tính tự lập trong học tập vì điều đó vừa giúp học sinh có thái độ chủ động, có hứng thú trong học tập, vừa tạo cho họ có bản lĩnh vững chắc khi tiếp thu tri thức và giải quyết vấn đề. Tự lập không phải là cô lập, không loại trừ sự giúp đỡ chân thành, đúng đắn của bạn bè, thầy cô khi cần thiết, phù hợp và đúng mức. + Tính tự lập trong học tập là tiền đề để tạo nên sự tự lập trong cuộc sống. Điều đó, là một yếu tố rất quan trọng giúp cho học sinh có được tương lai thành đạt. Tính tự lập là một đức tính vô cùng quan trọng mà học sinh cần có, vì không phải lúc nào cha mẹ, bạn bè và thầy cô cũng ở bên cạnh họ để giúp đỡ họ. Nếu không có tính tự lập, khi ra đời học sinh sẽ dễ bị vấp ngã, thất bại và dễ có những hành động nông nỗi, thiếu kiềm chế. Câu 5: Thí sinh có thể có nhiều cách trình bày khác nhau. Tuy nhiên, cần đảm bảo các yêu cầu: -          Phân tích một đoạn thơ. -          Bài viết có kết cấu đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc, chặt chẽ. Hành văn trong sáng, sinh động. Sau đây là một số gợi ý : + Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du và Truyện Kiều. + Giới thiệu đoạn thơ và vị trí của nó. + Giới thiệu đại ý đoạn thơ: tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh, chị em Kiều đi chơi xuân. + Dựa theo kết cấu của đoạn thơ để phân tích. * Phân tích 4 câu thơ đầu : khung cảnh ngày xuân với vẻ đẹp riêng của mùa xuân. - 2 câu đầu vừa nói về thời gian, vừa gợi không gian: thời gian là tháng cuối cùng của mùa xuân; không gian: những cảnh én rộn ràng bay liệng như thoi đưa giữa bầu trời trong sáng. - 2 câu sau là một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân, với hình ảnh thảm cỏ non trải rộng tới chân trời. Màu sắc có sự hài hòa đến mức tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống; trong trẻo, thoáng đạt; nhẹ nhàng, thanh khiết. Chữ điểm làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không tĩnh tại. * Phân tích 8 câu thơ tiếp : khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh. - Tảo mộ: đi viếng mộ, quét tước, sửa sang phần mộ của người thân; một loạt từ 2 âm tiết là tính từ, danh từ, động từ gợi lên không khí lễ hội rộn ràng, đông vui, náo nhiệt cùng với tâm trạng của người đi dự hội. - Hội đạp thanh : du xuân, đi chơi xuân ở chốn đồng quê. Cách nói ẩn dụ: nô nức yến anh gợi lên hình ảnh  những đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân, nhất là những nam thanh nữ tú, những tài tử giai nhân. Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả còn khắc họa một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa. * Phân tích 6 câu thơ cuối : khung cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về. - Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng nhưng không khí nhộn nhịp, rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lặng dần theo bóng ngã về tây. -  Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng của hai cô gái tuổi thanh xuân với những cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đang còn và những linh cảm về điều sắp xảy ra sẽ xuất hiện : nấm mồ của Đạm Tiên và chàng thư sinh Kim Trọng. + Đoạn trích thể hiện nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du: kết hợp bút pháp tả và gợi, sử dụng từ ngữ giàu chất tạo hình để thể hiện cảnh ngày xuân với những đặc điểm riêng, miêu tả cảnh mà nói lên được tâm trạng của nhân vật.
Xem thêm

4 Đọc thêm

SINH HOC 9 SOAN THEO THONG TU 1858

SINH HOC 9 SOAN THEO THONG TU 1858

Giao an chuan cao bang theo 1858 DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ Chương I. CÁC THÍ NGHIỆM CỦA MENĐEN Tiết 1. Bài 1: MENĐEN VÀ DI TRUYỀN HỌC Ngày soạn :14082016 Ngày dạy: .....................tại lớp: 9A sỹ số HS :............vắng............. Ngày dạy: .....................tại lớp: 9B sỹ số HS :............vắng............. 1. Mục tiêu. a) Về kiến thức. Nêu được mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của di truyền học. Hiểu được công lao và trình bày được phương pháp phân tích các thế hệ lai của Menđen. Hiểu và nêu được một số thuật ngữ, kí hiệu trong di truyền học. b) Về kỹ năng. Rèn kĩ năng hoạt động nhóm. Rèn kĩ năng thu thập, xử lí thông tin. c) Về thái độ. Yêu thích hứng thú học tập bộ môn. 2. Chuẩn bị của GV và HS a) Chuẩn bị của GV. Tranh phóng to H 1.2.SGK. Tranh hay ảnh chân dung của Menđen. b) Chuẩn bị của HS . SGK 3. Phương pháp giảng dạy: Đàm thoại Cá nhân làm việc với SGK. 4. Tiến trình bài dạy a)Ổn định tổ chức lớp học: 1’ b) Kiểm tra bài cũ. ko Đặt vấn đề vào bài mới. 1’ Chúng ta vẫn thường hay thắc mắc: Tại sao con được sinh ra lại có những điểm giống hay khác bố mẹ? Câu hỏi này sẽ được giải đáp trong phần sinh học lớp 9. c) Dạy nội dung bài mới.
Xem thêm

196 Đọc thêm

ĐÚNG SAI QUA các TÌNH HUỐNG dạy CON

ĐÚNG SAI QUA CÁC TÌNH HUỐNG DẠY CON

Ta thường nói: Con cái là “của để dành” của cha mẹ. Nhưng để chúng thực sự trở thành “của cải” với đúng nghĩa của từ này, những người làm cha, làm mẹ đều phải lao tâm khổ tứ, từ việc nuôi nấng, dạy dỗ đến đầu tư tiền của tạo điều kiện để con cái được học hành, thành đạt. Xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, cùng với sự du nhập của các nền văn hóa nước ngoài vào Việt Nam làm cho cuộc sống của chúng ta ngày càng phong phú và hấp dẫn. Tuy nhiên, cùng với sự đa dạng đó còn có những vấn đề hạn chế, những mặt tiêu cực cũng đang ảnh hưởng đến xã hội và trực tiếp tác động đến gia đình bạn. Vậy vấn đề đặt ra cho các gia đình đó là “Làm thế nào để con bạn không bị ảnh hưởng bởi những tiêu cực, tránh xa được những tệ nạn xã hội”. Hiện nay, có không ít những mối nguy hiểm từ xã hội, có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn đến con trẻ của các gia đình. Theo thống kê: Năm 2012 cả nước xảy ra 8.820 vụ vi phạm pháp luật ( tăng 231 vụ so với năm 2011) do 13.300 trẻ em, người chưa thành niên gây ra, trong đó độ tuổi từ 14 – 16 tuổi, chiếm 31,9% và từ 16 – 18 tuổi, chiếm 61,1%, tập trung nhiều nhất ở bậc Trung học cơ sở ( 41,8%), kế đến là Trung học phổ thông (31,9%). Nhìn vào những con số trên, các nhà quản lý, các bậc cha mẹ không khỏi lo ngại cho con em mình. Vậy làm thế nào để con của bạn được an toàn trong xã hội hiện nay? .
Xem thêm

13 Đọc thêm

DẠY CON THÔNG MINH NHƯ CÁCH DẠY CON CỦA NGƯỜI MẸ NHẬT BẢN

DẠY CON THÔNG MINH NHƯ CÁCH DẠY CON CỦA NGƯỜI MẸ NHẬT BẢN

khiến bé quen và thích với tiếng băng đĩa hơn và không có cảm xúc với tiếng nói của mẹ. Điềuquan trọng là các mẹ phải chăm nói chuyện với em bé từ khi lọt lòng. Khi cho em bé bú, khi thaytã lót, khi tắm cho con... hãy nhẹ nhàng nói chuyện với bé.Khi chào đời, trẻ sơ sinh đã có thể cảm nhận được về độ cao thấp của âm nhạc, các giai điệuquen thuộc, các bài hát và tiếng nói của cha mẹ với tiếng nói của người khác. Khả năng nàyPhysiolac – Sữa công thức cao cấp – Sữa mát dành cho bé.1Physiolac sưu tầmkhông cần phải học qua kinh nghiệm như trước đây chúng ta vẫn nghĩ. Các nghiên cứu thựcnghiệm cho thấy trẻ có thể cảm nhận một bài hát của cha, mẹ hát tốt hơn so với những ca khúctrên đĩa CD.Hãy đọc thơ, hát cho em bé nghe bằng giọng thực của người mẹ. Tuyệt đối không được chobé xem tivi khi bé chưa tròn 3 tuổi.Xúc giácTừ lúc lọt lòng, em bé đã bắt đầu học rất nhiều điều và ghi nhớ rất kĩ vào bộ nhớ của mình.Những gì bé nhìn thấy, nghe thấy... hình thành nên nếp tư duy rõ nét trong não bộ.Bú sữa mẹ, đây là bài học đầu tiên bằng xúc giác của em bé. Khi quan sát kĩ một em bé bú mẹ, tasẽ thấy thao tác tìm ti mẹ, ngậm miệng vào ti, mút sữa tiến bộ rất nhanh. Lúc đầu còn bị đập mũihay cằm, khó khăn lắm mới tìm được đúng đầu ti mẹ để đặt đúng vào miệng, nhiều người mẹ lấytay giúp con, song dần dần tự em bé có thể điều chỉnh được rất nhanh.Mẹ nên cố tình để đầu ti chạm vào những vị trí khác môi, miệng bé như hàm trên, hàm dưới,cằm, má phải, má trái. Làm vậy để em bé nhanh chóng học được cách điều chỉnh không gian,cảm nhận được vị trí trên - dưới, phải -trái.Không chỉ bằng đầu ti mẹ như trên, còn có thể dùng ngón tay, chiếc khăn xô, hay cái ống hút cọ
Xem thêm

6 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn - THCS Tân Trường năm 2015

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN - THCS TÂN TRƯỜNG NĂM 2015

TRƯỜNG THCS TÂN TRƯỜNG ĐÈ THI THỬ LẦN I   ĐỀ THI VÀO LỚP 10 THPT NĂM 2015-2016 MÔN NGỮ VĂN (Thời gian làm bài 120 phút)   CÂU 1 (2,0 điểm) Cho đoạn trích: “ Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức để trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc lấy cây lược đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh” a. Nêu tên tác phẩm, tác giả của đoạn trích? b. Theo em tại sao  tác giả lại viết “chỉ có tình cha con là không thể chết được” và tại sao nhân vật tôi (ông Ba) lại “không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn”  của đôi mắt ông Sáu? Câu 2 (3,0 điểm): Trong văn bản “Cổng trường mở ra”, Lý Lan viết: “Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay mà nói:“Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con”. Từ việc người mẹ không “cầm tay” dắt tay con đi tiếp mà “buông tay” để con tự đi, hãy viết một bài văn ngắn khoảng 01 trang giấy thi bàn về tính tự lập. CÂU 3 (5,0 điểm)           Những cảm nhận tinh tế, sâu sắc của nhà thơ Hữu Thỉnh về sự biến  đổi của trời đất từ cuối hạ sang đầu thu qua bài thơ “Sang thu”. Đáp án đề thi thử vào lớp 10 môn Văn - THCS Tân Trường năm 2015 CÂU 1(2,0 điểm) a. (0,5):  Nêu đúng tên tác giả, tác phẩm, viết đúng chỉnh tả, mỗi ý được 0,25. - Tác phẩm: Chiếc lược ngà. - Tác gải: Nguyễn Quang Sáng b. (1,5): - Hình thức (0,25):  HS viết được đoạn văn hoàn chỉnh, diễn đạt lưu loát, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu. - Nội dung (1,25):  Đoạn văn phải đảm bảo các ý: * Ông Ba nghĩ “chỉ có tình cha con là không thể chết được” vì: (0,5) + Trong giây phút hấp hối cuối cùng, điều mà ông Sáu nghĩ đến vẫn là chiếc lược ngà chưa trao được cho con. + Sự sống trong ông đang lụi tàn nhưng tình cha con lại đang bùng lên mãnh liệt hơn bao giờ hết . * Ông Ba “ không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn của ông Sáu” vì: (0,75) + Đó là cái nhìn của một người sắp ra đi, cái nhìn gửi gắm vào đó tất cả những tình cảm cháy bỏng của mình. + Đó là ánh mắt chứa đựng muôn vàn yêu thương, chứa đựng cả nỗi đau xót khi không còn gặp lại đứa con gái. Ánh mắt chứa đựng cả tình yêu mãnh liệt nhờ ông Ba gửi tới con gái, là mệnh lệnh thiêng liêng trao cho đồng đôi “anh hãy trao cây lược cho bé Thu”. + Đó là đôi mắt không bao giờ chết cũng như tình cha con mãi mãi tồn tại. Chiến tranh có thể cướp đi sự sống nhưng không thể hủy diệt tình cảm phụ tử mãnh liệt, thiêng liêng. Câu 2 (3,0 điểm) Viết bài ngắn văn, đảm bảo các yêu cầu: * Hình thức – kĩ năng (0,5): Làm đúng kiểu bài văn nghị luận xã hội. Bố cục và hệ thống ý rõ ràng. Biết vận dụng phối hợp các thao tác nghị luận giải thích, chứng minh, bình luận. Lời văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, Không mắc lỗi ngữ pháp, lỗi logic. * Nội dung – kiến thức đảm bảo các ý sau: (2,5) + Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận: Tính tự lập. (0,25) + Giải thích được các từ ngữ: cầm tay, buông tay để hiểu vấn đề cần bàn: Cẩm tay gợi sự sự dẫn dắt, chở che cho con; buông tay để con tự đi, tự khám phá. Việc bà mẹ buông tay để con tự đi: Người mẹ muốn con mình phải tự lập. (0,25) + Tự lập là gì? Là tự làm những việc của mình không nhờ vả, không ỷ lại, dựa dẫm vào người khác. ) (0,5) + Vì sao cần tự lập? Vì tự lập có có tác dụng : (0,5) - Giúp con người có ý thức rèn luyện để hoàn thiện bản thân. - Giúp con người thích nghi với hoàn cảnh, vượt qua mọi thử thách. Mỗi lứa tuổi, mỗi hoàn cảnh việc thể hiện tính tự lập khác nhau. - Người tự lập sẽ năng động không ỷ lại vào người khác. - Tự lập nhưng vẫn cần biết liên kết với người khác để tạo ra sức mạnh tập thể. + Làm thế nào để tự lập ? (0,5): Cần có các yếu tố nhất định như tự tin, các kĩ năng sống…Phải biết phê phán những kẻ ích kỉ, dựa dẫm (lấy dẫn chứng minh họa – dẫn chứng từ thực tế, dẫn chứng trong văn học) + Rút ra bài học nhận thức và hành động rèn luyện thái độ sống đúng đắn.(0,5) - Mức tối đa (3,0) : Đảm bảo hoàn hảo yêu cầu về hình thức và nội dung. - Mức chưa tối đa (0,25,0,5, 1,0, 1,5, 2,0, 2,5,…) : Chưa đạt yêu cầu hoàn hảo như ở mức tối đa. - Mức chưa đạt : Làm không đúng yêu cầu về nội dung và hình thức. Khi chấm cần lưu ý: GV chấm bài thống nhất để chia mức độ điểm theo cấu trúc bài nghị luận cho hợp lí, bài viết đảm bảo yêu cầu về hình thức và nội dung ở mức tối đa mới chấm điểm ở mức tối đa. CÂU 3(5, 0đ) 1. Yêu cầu về hình thức: (0,5)                     - Làm dúng kiểu bài nghị luận văn học, bố cục hợp lí, rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ trong sáng, câu, đoạn đúng ngữ pháp.           - Biết kết hợp phương thức nghị luận với các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự một cách linh hoạt, lời văn chặt chẽ, có cảm xúc. 2. Yêu cầu về nội dung (4,5) Bài viết có thể trình bày theo các cách khác nhau song cần có các ý cơ bản sau: * Cảm nhận chung (1,0): “Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn gồm 3 khổ. Với số câu từ khiêm tốn ấy, Hữu Thỉnh đã miêu tả thật hàm súc cái khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu; bộc lộ cảm xúc bâng khuâng, vương vấn trước đất trời trong trẻo đồng thời kín đáo thể hiện những suy nghĩ, triết lý của mình về cuộc sống. * Phân tích chi tiết (3,0) -  Cảm nhận tinh tế và sâu sắc của nhà thơ trước  những tín hiệu đầu tiên khi mùa thu về.(1,0) +Bài thơ mở ra bằng sự cảm nhận của khứu giác và xúc giác: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se” .Từ “bỗng” vang lên như một tiếng reo, một phát hiện, diễn tả cái đột ngột, bất ngờ, không báo trước. Qua đó ta thấy cảm xúc ngỡ ngàng của thi nhân khi nhận ra những dấu hiệu thiên nhiên đặc trưng lúc mùa thu về. .Ổi chín là hương của mùa thu làng quê mộc mạc, bình dị. . “phả” thơm trong “gió se”- làn gió nhẹ, khô, hơi lạnh của mùa thu muôn thuở- hấp dẫn và đánh thức cả vị giác, thị giác, khứu giác của người đọc. Động từ mạnh “phả” có thể thay thế bằng “lan”, “tan”, “thoảng”, “toả”… Nhưng bấy nhiêu từ không từ nào gợi nổi hương thơm như sánh lại, như đậm hơn của trái chín mà từ “phả” có khả năng diễn đạt. Vậy là, với “hương ổi” và “gió se” – hương thu và gió thu, mùa thu đã sang với những tín hiệu đầu tiên. + Sau hương, sau gió là sương: “Sương chùng chình qua ngõ” Từ láy gợi hình “chùng chình” diễn tả trạng thái dùng dằng nửa muốn đi nửa muốn ở của con người. Dùng để tả “sương”, Hữu Thỉnh đã thành công trong nghệ thuật tu từ nhân hoá. Nhờ nghệ thuật nhân hoá làn sương thu mỏng nhẹ, mong manh như tơ giăng, như khói tỏa hiện lên vừa sinh động vừa có hồn. + Từ những cảm nhận về hương, về gió, về sương, thi nhân lòng tự nhủ lòng: “Hình như thu đã về” “Hình như” là phần phụ tình thái diễn đạt ý chưa thật rõ, chưa chắc chắn, còn nghi hoặc. Phút giây giao mùa của thiên nhiên nhìn thấy rồi, cảm thấy rồi bằng cả khứu giác, xúc giác, thị giác vậy mà nhà thơ vẫn bối rối “hình như”. Vì sao? Có thể vì tín hiệu mùa thu nhà thơ quan sát được mơ hồ quá: hương thu, gió thu, sương thu -  những cảnh vật cảm thấy nhiều hơn là nhìn thấy. Nhưng chủ yếu là bởi cái rung động rất tinh tế, mới mẻ của tâm hồn thi nhân hoà nhịp, đồng điệu lắm với thiên nhiên cảnh sắc giao mùa như thực như ảo. - Cảm nhận của nhà thơ trước những thay đổi của thiên nhiên, đất trời lúc thu sang. (1,0) + Thiên nhiên được nhà thơ quan sát ở không gian vừa dài rộng vừa cao vời với những cảnh vật hữu hình, cụ thể: “Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã” . Hai câu thơ tạo nên một cặp đăng đối rất tự nhiên gần với vẻ đẹp của thơ cổ. Dòng sông không cuồn cuộn, gấp gáp như trong những ngày mưa lũ mùa hạ mà lắng lại êm đềm. Từ láy cùng nghệ thuật nhân hoá “dềnh dàng” miêu tả rất thực và sống động đặc điểm dòng chảy hiền hoà của sông mùa thu. Tương phản với sông, “chim bắt đầu vội vã”. Nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, bầy chim trời chuẩn bị hành trình bay về phương Nam tránh rét. + Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua hình ảnh nhân hoá- ẩn dụ: “Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu” . Hai câu thơ tả mây. Động từ “vắt” gợi liên tưởng đám mây như dải lụa, như tấm khăn voan của người thiếu nữ lửng lơ trên bầu trời nửa còn đang là mùa hạ, nửa đã nghiêng về mùa thu. . Lấy không gian, mượn cảnh vật để miêu tả bước đi thời gian rõ ràng là sáng tạo riêng, độc đáo của Hữu Thỉnh. Câu thơ nhờ vậy sống động, có hồn hơn; hình ảnh cụ thể, mới mẻ hơn. Bức tranh mùa thu mỗi lúc mỗi hiện rõ với vẻ đẹp vô cùng quyến rũ…   - Từ sự cảm nhận về mùa thu, nhà thơ hướng dần vào tâm tưởng.  (1,0) + Hai khổ thơ trước, mùa thu được cảm nhận trực tiếp bằng thị giác, khứu giác, xúc giác; được quan sát theo trình tự không gian từ gần đến xa, từ cao xuống thấp. Khổ 3, mùa thu được khẳng định bằng những đoán nhận, kinh nghiệm, đối chiếu; được quan sát theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại, từ hạ sang thu,  hướng dần vào tâm tưởng: “Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi” .Nắng rực rỡ, chói chang; mưa ào ạt, xối xả; sấm đột ngột, mạnh mẽ là những đặc điểm của thiên nhiên mùa hạ. Tất cả “vẫn còn” đấy nhưng đã “vơi”, “bớt” rồi.                        Tác giả đã chọn dùng những từ không lặp lại để diễn tả một ý nghĩa: sự giảm đi về mức độ. Không gay gắt, đổ lửa như nắng hạ, nắng thu dìu dịu, trong lành. Không sầm sập trút nước như mưa hè, mưa thu lưa thưa, lắc rắc. Sấm cũng không rền vang, bất ngờ mà ít đi, nhỏ hơn… + Khép lại cảnh thu đất trời quê hương là hình ảnh: Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi” . “Hàng cây đứng tuổi” vừa tả thực những cây cổ thụ lâu năm vừa gợi tới thế giới sang thu của hồn người, đời người. Vẻ điềm tĩnh của cây trước sấm sét phải chăng là ẩn dụ chỉ sự từng trải, chín chắn của con người sau những bão giông? Cũng như hàng cây nhiều năm tuổi không bất ngờ trước sấm chớp, người ta khi đã từng trải, đã chịu nhiều thử thách, gian nan thì vững vàng, bình tĩnh hơn trước mọi tác động bất thường của ngoại cảnh. . Như vậy, khổ cuối đâu chỉ miêu tả cảnh sang thu mà chất chứa những chiêm nghiệm, suy ngẫm thâm trầm của nhà thơ về con người và cuộc sống. Phải sâu sắc và nhiều nếm trải, Hữu Thỉnh mới khái quát được những điều thấm thía thế về kiếp sống, nhân sinh… * Đánh giá, bình (0,5):  với nghệ thuật tả cảnh điêu luyện, ý thơ hàm súc, ngôn từ chọn lọc, lời thơ biểu cảm… “Sang thu” đã miêu tả cảnh thu thiên nhiên đẹp, tình thu thi nhân thiết tha trìu mến. - Những biến chuyển của trời đất lúc thu sang được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố, bằng nhiều giác quan và sự rung động tinh tế. - Đọc bài thơ ta không chỉ thấy vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ mà còn biết yêu hơn cảnh sắc thân quen, bình dị, thơ mộng, hữu tình của mùa thu đất nước quê hương… - Mức tối đa (5,0): Đạt hoàn hảo các yêu cầu về hình thức và nội dung. - Mức chưa tối đa 90,5,1,0,1,5,2,0,2,5,3,3,5,4,0,….: Tùy từng ý đạt được để chấm các mức điểm. - Mức không đạt; Không làm đúng yêu cầu về hình thức và nội dung.  
Xem thêm

5 Đọc thêm

SKKN Đổi mới phương pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4

SKKN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4

SKKN đạt loại A cấp huyện Đổi mới phương pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4 SKKN đạt loại A cấp huyện Đổi mới phương pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4SKKN đạt loại A cấp huyện Đổi mới phương pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4 SKKN đạt loại A cấp huyện Đổi mới phương pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4 SKKN đạt loại A cấp huyện Đổi mới phương pháp dạy giải toán có lời văn ở lớp 4

13 Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON THỊ TRẤN TRIỆU SƠN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON THỊ TRẤN TRIỆU SƠN

mặt quan trọng của việc giáo dục con người mới phát triển toàn diện, có ảnh hưởngsâu sắc đến sự hình thành nhân cách trẻ. Tự lập giúp cho con người nói chung, trẻem nói riêng nhận ra được khả năng của mình và ý nghĩa của cuộc sống. Vì vậy,Luật Giáo dục (năm 2005) đã đưa ra những yêu cầu về phương pháp giáo dục là:“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê họctập và ý trí vươn lên”. Hay nói cách khác, giáo dục phải phát huy tính tự lập chongười học, điều đó nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của xã hội. Để trẻnhanh chóng thích nghi với sự phát triển của xã hội, hòa nhập với cuộc sống mớithì việc hình thành tính tự lập cho trẻ ở những năm đầu tiên của cuộc đời trẻ là rấtcần thiết, đặc biệt là ở giai đoạn trẻ tuổi mẫu giáo.Hiện nay việc giáo dục tính tự lập cho trẻ đã được xã hội và các bậc phụhuynh quan tâm. Ở trường mầm non giáo viên cũng đã luôn tạo điều kiện cho trẻđược rèn luyện tính tự lập thông qua các hoạt động học tập và các hoạt động sinhhoạt tự phục vụ bản thân phù hợp với khả năng của trẻ. Tuy nhiên mới dừng lại ởyêu cầu cần đạt, chưa có các kế hoạch hay các biện pháp giáo dục cụ thể.Mặt khác, do xã hội ngày càng phát triển, mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con.Điều kiện kinh tế đủ đầy hoặc dư thừa, con cái lại ít nên phụ huynh thường haynuông chiều con, làm hộ hay cấm đoán trẻ nhiều việc mà trẻ có thể làm được, từ đódẫn tới trẻ bị thụ động, thiếu kĩ năng lao động, thiếu tự tin, sinh ra thói quen dựadẫm, ỉ lại cho người khác, làm cho tính tự lập của trẻ khó phát triển.Thực tế cho thấy, không ít số trẻ mẫu giáo ở nước ta nói chung vẫn chưa có ýthức tự lập. Cả gia đình và trường mầm non chưa đánh giá đúng khả năng của trẻvà vai trò quan trọng của việc cần giáo dục tính tự lập cho trẻ. Điều này sẽ ảnhhưởng tiêu cực trước là tương lai của trẻ, sau là mục tiêu giáo dục con người mới“Tự chủ, sáng tạo, dễ dàng thích nghi với sự thay đổi của kinh tế thị trường” (theonghị quyết TW II, khóa 8) cũng khó thực hiện được.Vậy làm thế nào để tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục tínhtự lập cho trẻ? Đây là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với sự phát triển của trẻmà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với gia đình, các nhà giáo dục và với toàn xã hội
Xem thêm

17 Đọc thêm

bài giảng chương trình con bản cực chuẩn

BÀI GIẢNG CHƯƠNG TRÌNH CON BẢN CỰC CHUẨN

thiết kế theo phương pháp dạy đổi mới, slile cực chi tiết, nhiều hiệu ứng, tạo tình huống có vấn đề để HS phát hiện và giải quyết các phần bài học, giúp học sinh bước đầu hình thành khái niệm chương trình con, hiểu rõ cách làm việc với chương trình con cũng như lợi ích mà chương trình con mang lại. Nội dung trong slde được chọn lọc từ nhiều nguồn để đưa ra khung nội dung chi tiết truyền tải được đầy đủ và hay nhất các nội dung chính của bài học.

23 Đọc thêm

KHI SINH CON, HƯƠU MẸ KHÔNG NẰM MÀ LẠI ĐỨNG ... EM ĐÃ HỌC ĐƯỢC NHỮNG GÌ TỪ LOÀI HƯƠU CAO CỔ?

KHI SINH CON, HƯƠU MẸ KHÔNG NẰM MÀ LẠI ĐỨNG ... EM ĐÃ HỌC ĐƯỢC NHỮNG GÌ TỪ LOÀI HƯƠU CAO CỔ?

"Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng; và như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay đơ. Rồi hươu mẹ làm một việc kỳ lạ: đá hươu con cho đến khi nào chú ta chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Đến lúc hươu con đã thực sự đứng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để chú phải tự mình đứng dậy lần nữa." Em đã học được những gì từ loài hươu cao cổ? GỢI Ý LÀM BÀI Bài làm có thể trình bày nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo 1 số ý chính như sau: - Phân tích cách sinh con của loài hươu: + Điểm lạ: sinh con không nằm mà đứng, không nâng niu, vuốt ve mà bắt hươu con vận động ngay khi vừa lọt lòng. + Mục đích: muốn hươu con tự lập ngay từ nhỏ + Nguyên nhân: cuộc sống hoang dã vốn nhiều nguy hiểm, thậm chí có những cuộc đấu tranh một mất một còn, vì vậy hươu con cần phải học cách thích nghi để sinh tồn từ rất sớm. Chính nhờ điểm lạ này mà loài hươu cao cổ có khả năng chiến đấu thành thạo, phi nước đại rất nhanh... => Loài hươu đã cho chúng ta một bài học đáng quý. - Bài học từ loài hươu: + Biết sống tự lập, tự đứng vững trên đôi chân của mình [tự giải quyết những vấn đề của mình trong cs, không phụ thuộc, trông chờ, ý lại vào người khác] + Sống có ý chí, bản lĩnh, không ngừng vươn lên, chớ vội nản chí trước khó khăn, thử thách. - Tại sao con người cần tự lập và dũng cảm đối mặt với khó khăn, thách thức? + Cuộc đời vốn dĩ không bằng phẳng, luôn chứa đựng những bất ngờ.  + Không ai có thể sống thay chúng ta, đi theo nâng đỡ chúng ta trong suốt cuộc đời, ngay cả bố mẹ  + Không vươn lên chúng ta sẽ bị tụt hậu, bị đào thải. => Có bản lĩnh, biết tự lập sẽ giúp chúng ta vượt qua nó. [Cho ví dụ cụ thể] - Rèn luyện tính tự lập, tôi luyện ý chí, bản lĩnh, chúng ta được gì? Trong khó khăn, thử thách, chúng ta có thể khám phá ở bản thân những năng lực đặc biệt mà thường ngày chính chúng ta cũng chưa hề biết tới. Nói cách khác, những "đá tảng" giữ đường đi hay "giông bão" cuộc đời sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn, hoàn thiện mình hơn. [Lấy ví dụ cụ thể trong đời sống, trong văn học...] - Phản đề: bên cạnh những con người mạnh mẽ, tự lập, có ý chí, chúng ta vẫn thấy những người sống phụ thuộc như cây tầm gửi, dễ dàng buông xuôi, nản chí, sớm chấp nhận là người thua cuộc,... -> đáng phê phán. - Khẳng định lại vấn đề, liên hệ bản thân.  BÀI LÀM              Cuộc đời của con người là một cuộc hành trình dài với rất nhiều phiêu lưu, mạo hiểm và cả những điều bí ẩn đang chờ chúng ta khám phá. Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng có một khao khát được hoàn thiện bản thân mình về cả suy nghĩ lẫn hành động. Vì thế, chúng ta cần phải không ngừng tìm tòi, học hỏi từ bất cứ điều gì xung quanh mình. Tôi đã đọc được đâu đó về cách sinh con lạ lùng của loài hươu cao cổ rằng: “Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng và như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay đó. Rồi hươu mẹ làm một việc kỳ lạ: đá hươu con cho tới khi nào chú ta chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Đến lúc hươu con đã thực sự đứng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã để chú phải tự mình đứng dậy lần nữa”. Câu chuyện đã đem đến cho tôi bài học về ý chí, nghị lực, sự tự lập và niềm tin để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống.                Cũng giống như những loài vật khác, hươu cao cổ là một sinh vật sống trong môi trường tự nhiên. Nhưng điều khác biệt của loài hươu là khi sinh con và nuôi dạy con cái, chúng không nằm, không nâng niu, vuốt ve, nhẹ nhàng, ân cần mà bắt hươu con vận động ngay khi vừa mới lọt lòng. Liệu rằng hươu mẹ làm vậy là vì ghét bỏ hươu con? Không! Trái lại đó là cả một biển trời yêu thương mà hươu mẹ dành cho con, một tình thương đúng đắn, sáng suốt. Hươu mẹ làm như vậy để rèn luyện cho hươu con tính tự lập, ý chí, nghị lực bởi trong chốn rừng sâu nước độc có biết bao nhiêu là hiểm nguy đang rình rập chúng. Có như vậy, hươu con mới trưởng thành hơn, có thể tự mình vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống và sinh tồn từ rất sớm. Nhờ vậy, loài hươu cao cổ có khả năng chiến đấu thành thạo, phi nước đại rất nhanh.               Về phần hươu con, chúng ta thấy ngay được ý chí sắt đá, nghị lực, tinh thần quyết tâm của nó. Dù sinh ra trong hoàn cảnh hết sức nguy hiểm, bị hươu mẹ đá, thúc, đẩy ngã nhưng chú ta vẫn không hề nản chí, không hề bỏ cuộc, vẫn kiên trì tự mình đứng lên, vượt qua những khó khăn chẳng chút nề hà. Tại sao một loài vật nhỏ bé lại làm được như vậy mà chúng ta lại không?               Trong cuộc sống, gian nan, thử thách và khó khăn là những điều tất yếu sẽ xảy ra đối với con người. Nó hiện hữu trong cuộc sống từ những điều rất nhỏ: một em bé 3 tuổi lần đầu tiên chập chững bước đi và chắc chắn em sẽ bị ngã, cậu học sinh không giải được bài toán khó, một cô bé làm hỏng chiếc bánh sinh nhật tự tay làm mà cô muốn dành tặng cho mẹ….hay là những khó khăn lớn lao hơn: chàng sinh viên thất nghiệp, gia đình khó khăn về kinh tế, cô ca sĩ bị người hâm mộ tẩy chay, “ném đá”….Đó là lúc cuộc đời buộc chúng ta phải có sự lựa chọn: Sẽ gục ngã, than thân trách phận hay dừng lại và bỏ cuộc hay đứng dậy, bước tiếp? Chính chú hươu con đã cho chúng ta câu trả lời.               Nhờ sự tự lập, ý chí và nghị lực ngay từ lúc mới sinh hươu con mới có những khả năng sinh tồn giữa cuộc sống hoang dã nhiều hiểm nguy. Con người chúng ta cũng vậy. Hãy học cách sống tự lập và nghị lực ngay từ khi còn nhỏ, từ những việc làm nhỏ bé nhất: tự làm bài tập thay vì xem sách giải, tự dọn dẹp phòng thay vì nhờ mẹ, học cách nấu ăn để những khi mẹ vắng nhà, hai bố con vẫn có một bữa cơm đầy đủ, ấm cúng,… Chúng ta hãy học cách tự giải quyết những vấn đề của mình thay vì than vãn, phàn nàn, trách cứ,… Cuộc sống luôn chứa đựng những khó khăn bất ngờ, nếu không chuẩn bị sẵn những kĩ năng sống như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng trượt dốc, thất bại và gục ngã. Hơn nữa, sự nâng đỡ của những người xung quanh không phải là mãi mãi. Cha mẹ không thể đi cùng ta đến hết cuộc đời, những người bạn còn có cuộc sống riêng, những gánh nặng riêng của họ. Chúng ta không thể sống trông chờ, phụ thuộc vào người khác mãi. Bởi vậy, để vượt qua thử thách, để không bị tụt hậu, đào thải, không có cách nào hơn là chúng ta phải đi xuyên qua nó. Và có thể bạn không tin nhưng chắc chắn, sau mỗi lần vượt qua nó, bạn sẽ trưởng thành hơn, thậm chí có thể khám phá ở bản thân những năng lực đặc biệt mà thường ngày chúng ta không nhận ra. Nói cách khác, những "đá tảng" giữa đường đi hay những "giông bão" của cuộc đời sẽ giúp chúng ta hoàn thiện mình hơn về cả nhân cách lẫn tâm hồn.              Cũng với thông điệp như câu chuyện về loài hươu cao cổ, trong cuốn nhật ký của mình, nữ bác sĩ -  liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng viết: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”. Trong một bài thơ của mình, tác giả Tố Hữu cũng viết:                                   “Đừng nản chí, hãy vươn vai mà sống                                     Bùn dưới chân nhưng nắng ở trên đầu” Tôi đã thấm thía biết bao những bài  học ấy từ hàng ngàn tấm gương người thật, việc thật trong cuộc sống. Đó là bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Đó là thầy Nguyễn Ngọc Ký “vẽ cuộc đời từ chính đôi chân” - một nhà giáo ưu tú được nhiều người biết đến và khâm phục; là thầy giáo Nguyễn Ngọc Sơn – tác giả của “Xin đừng khóc nữa mẹ ơi!” và “Không là cơn gió thoảng” – người đã chung sống với căn bệnh suy thận từ những năm tháng tuổi trẻ nhưng vẫn không ngừng cống hiến cho giáo dục. Hay gần gũi hơn là những anh, chị từ nghèo khó biết vươn lên để trở thành thủ khoa đại học…. Họ là những tấm gương sáng cho chúng ta học tập, noi theo.               Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta lại bắt gặp không ít người có lối sống vị kỉ, không có ý chí, nghị lực, không có niềm tin vào cuộc sống, có người chỉ biết bó chặt mình trong bóng tối của sự đau khổ hoặc có người lại sống dựa dẫm vào người khác như những cây tầm gửi. Họ tự biến mình thành gánh nặng của gia đình và xã hội mà không hay. Những con người ấy sẽ không nhận được sự tôn trọng, tin yêu của mọi người. Lối sống ấy thật đáng chê trách, loại bỏ.                 Câu chuyện về loài hươu tuy giản dị nhưng chứa đựng những bài học thật quý báu: sống có ý chí, có nghị lực, sống tự lập, không ngừng vươn lên, không bao giờ chùn bước trước khó khăn. Từ nay, tôi đã biết mình phải làm gì khi gặp một bài toán khó, khi kết quả học tập chưa được hài lòng như mong đợi và làm thế nào biến ước mơ thành hiện thực. Còn bạn thì sao? Hoàng Thị Mỹ Duyên - Quảng Trị  Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 8 HỌC TỐT MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 8 HỌC TỐT MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

ghen ghét, nói xấu lẫn nhau hay đối xử thô bạo với nhau khi thấy bạn mìnhcó thêm người bạn khác giới. Tránh ngộ nhận tình bạn khác giới là tìnhyêu, cho dù rất thân nhau. Tránh thái độ lấp lửng, mập mờ dễ gây cho bạnkhác giới hiểu lầm là tình yêu đang đến. Sau khi học xong bài này tôikhuyên các em biết tôn trọng và xây dựng tình bạn trong sáng, lành mạnh,có ý thức bảo vệ giữ gìn tình bạn trong sáng, lành mạnh đã có với bạn bètrong lớp, trong trường và ở cộng đồng, kể cả bạn cùng giới và khác giới.1.3/ Những điều cần lưu ýKhi sử dụng cách tổ chức này cần lưu ý một số vấn đề sau:16+ Chủ đề thảo luận phải sát với nội dung bài học và trình độ học sinhcủa từng lớp khác nhau.+ Cách chia nhóm phải hết sức linh hoạt, luôn thay đổi để tạo điều kiệncho học sinh giao lưu với tất cả các bạn trong lớp chứ không phải mộtnhóm cố định.+ Kết quả thảo luận có thể trình bày trên bảng, trên giấy ( Nội dung dài)hoặc có thể trình bày miệng ( Nội dung ngắn).+ Tôi phải quan sát trong quá trình thảo luận không để lớp mất trật tự.+ Nhiệm vụ của nhóm trưởng, thư ký cũng để luân phiên để nhiều họcsinh làm được.2/ Tổ chức thi đua2.1/ Đặc điểmTổ chức trò chơi thi đua là một phương pháp rất có hiệu quả để thu hútsự tham gia của học sinh. Trong trò chơi mọi người đều bình đẳng và đềucố gắng để thể hiện hết mình.Vì vậy tổ chức trò chơi không những lànhững biện pháp để tăng cường hứng thú trong học tập, nâng cao sự chú ýthay đổi các trạng thái tâm lý mệt mỏi trong quá trình nhận thức mà còn là
Xem thêm

37 Đọc thêm

Phân tích Chân dung Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều hay

PHÂN TÍCH CHÂN DUNG THÚY KIỀU TRONG ĐOẠN TRÍCH CHỊ EM THÚY KIỀU HAY

Chân dung Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều + Tự lập, nghĩa đen là khả năng tự đứng vững và không cần sự giúp đỡ của người khác. + Tự lập là một trong những yếu tố cần thiết làm nên sự thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống. + Trong học tập, người học sinh có tính tự lập sẽ có thái độ chủ động, tích cực, có động cơ và mục đích học tập rõ ràng, đúng đắn. Từ đó, nó sẽ giúp cho học sinh tìm được phương pháp học tập tốt. Kiến thức tiếp thu được vững chắc. Bản lĩnh được nâng cao.
Xem thêm

2 Đọc thêm

XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC: HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ BẬC ĐẠI HỌC Ở MỸ: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC: HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ BẬC ĐẠI HỌC Ở MỸ: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ là phương pháp dạy và học mới, tiến bộ mà nhiều nước trên thế giới ngày nay áp dụng bởi những đặc tính ưu việt của nó, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Mỹ, nổi tiếng có một nền giáo dục hiện đại và tiên tiến, chính là cái nôi của hình thức đào tạo này. Những thành công mà Mỹ đạt được như là nước có nền kinh tế số 1 thế giới hay là nước đi đầu về khoa học công nghệ đã phần nào cho thấy hình thức đào tạo theo tín chỉ bậc đại học của Mỹ có hiệu quả cao trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, góp phần vào sự giàu mạnh của đất nước. Đó cũng chính là một trong những lí do mà hình thức đào tạo này trở nên phổ biến và trở thành hình thức đào tạo chính thức của nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam. Tuy nhiên hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ bên cạnh những hiệu quả tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định, mà ngay cả Mỹ cũng không tránh khỏi. Hơn nữa, việc vận dụng kinh nghiệm của một nước nào đó phải gắn liền với thực tiễn xã hội của nước mình, không thể áp dụng một cách máy móc, sao chép y nguyên mà không tính đến những thách thức phía trước. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cách đào tạo mới ở Việt Nam cho phép sinh viên chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình, vì thế sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân. Phương thức đào tạo này đòi hỏi cả người dạy và người học phải thay đổi cách tư duy, đổi mới phương pháp dạy và học từ bị động sang chủ động một cách nghiêm túc. Đó chính là những yếu tố mà chúng ta có thể nghiên cứu từ những thành công mà Mỹ đạt được trong việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ bậc đại học. Đặc biệt đối với sinh viên Việt Nam mới đầu chưa quen hình thức đào tạo này, việc học tập kinh nghiệm của Mỹ trong cách tư duy, phương pháp dạy và học của họ là điều hết sức cần thiết nếu muốn học tập có hiệu quả.
Xem thêm

Đọc thêm

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG TỰ LẬP CHO THANH THIẾU NIÊN RỐI LOẠN PHỔTỰ KỶ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG TỰ LẬP CHO THANH THIẾU NIÊN RỐI LOẠN PHỔTỰ KỶ

1. Lí do chọn đề tàiCon ngườitừ khi sinh ra và lớn lêntheo thời gian sẽ hình thành ở bản thân kỹ năngtự lập cần thiết để tồn tại, thích nghi và phát triển. Kỹ năng tự lập là tổng hợp của những kỹ năng đơn lẻ quan trọng như: tự phục vụ,lao động đơn giản, rèn luyện thể lực và vui chơi giải trí...Vì thế,kỹ năng tự lập đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân, đặc biệt từ độ tuổi thanh thiếu niên –tuổi trưởng thành cả về thể chất vàtâm lý để có thể bắt đầu cuộc sống tự lập. Tuy nhiên, với thanh thiếu niên RLPTK, việc phát triển kỹ năng tự lập gặp nhiều khó khănhơn so với thanh thiếu niên bình thườngvì những hạn chế nhất định về các mặt như:nhận thức, giao tiếp, hành vi hay những nguyên nhân khác, ví dụ : ảnh hưởng từ môi trường sống, thiếu cơ hội hòa nhập… Bên cạnh đó,hệ thống cơ sở vật chất ở các trường, trung tâmchưa đồng bộ, mô hình giáo dục đặc biệt cho đối tượng RLPTK hiện nay chủ yếu tập trung vào độ tuổi Mầm non và tuổi Tiểu học mà chưa có nhiều mô hình giáo dục dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Vì vậy, việc chú trọng phát triển kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK cũng bị hạn chế.Những hạn chế về mặt thể chất và tâm lý đã dẫn đến nhiều khó khăn trong cuộc sống cho thanh thiếu niên RLPTK, ví dụ: có nhiều thanh thiếu niên RLPTK chưa tự ý thức ăn uống mà còn phải cần nhắc nhở, chưa tự bản thân tắm gội được mà còn cần đến sự trợ giúp của cha mẹ, đa số các em không biết tham gia hoặc ít tham gia vào các hoạt động thể lực thể thao hay các trò chơi giải trí…Từ thực tế trên cho thấy, vấn đềhình thànhkỹ năng tự lập cho thanh thiếu niênRLPTKlà hết sức cần thiết và cấp bách nhằm giúpcác emtăng cơ hội làm chủ bản thân, thích nghihoàn cảnh đểhòa nhập cộng đồng.TEACCH là một trong những phương pháp trị liệu và giáo dục cho đối tượng RLPTKmang lạinhiều hiệu quả và phổ biến nhất hiện nay. Bằng hướng tiếp cận mang tính “cấu trúc hóa” hoạt động dạy học và tận dụng thế mạnh tư duy bằng hình ảnh của thanh thiếu niên RLPTK phương pháp TEACCH đã giảm thiểu hành vi, phát triển kỹ năng tự lập cho cá nhân RLPTK.Vì vậy, việc vận dụng các ứng dụng của TEACCH trong quá trình nâng cao kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng ở Việt Nam mô hình này chưa được chú ý nhiều. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng phương pháp TEACCH để nâng cao kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK’’.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Nghị luận xã hội về tính tự lập

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ TÍNH TỰ LẬP

Con chim sinh ra phải học cách bay, phải học cách kiếm mồi; Con gà học cách mổ thóc, bói giun; Con trâu học cách gặm cỏ... Bài làm Con chim sinh ra phải học cách bay, phải học cách kiếm mồi; Con gà học cách mổ thóc, bói giun; Con trâu học cách gặm cỏ... Thế giới này muôn tồn tại thì luôn luôn mỗi sinh vật phải tự học cách tự lập, không thể phụ thuộc mãi Con người cũng vậy, khi lông đã đủ, cánh đã rộng thì phải tự cất lên đôi cánh của mình để bay đi, không thể phó mặc cho cuộc đời muốn tới đâu thì tới, không thể ỉ lại, núp dưới bóng che của cha mẹ. Tự lập hay phó mặc cho cuộc đời là câu hỏi mà nhiều bạn trẻ hiện nay đang lưỡng lự... Biểu hiện của tự lập rất phong phú. Nó được thể hiện qua những hành vi từ rất nhỏ cho đến lớn lao. Một người nếu có ý thức tự lập cao thì ngay từ nhỏ họ đã có thể tự giặt quần áo cho chính mình. Khi đi học, làm bài gặp bài khó, họ tự suy nghĩ đủ mọi cách để giải được thì thôi, nếu vẫn không thể ra được, nằm ngoài khả năng của họ thì họ mới nhớ đến trợ giúp của bạn bè, thầy cô. Ấy cũng đã là tự lập. Chỉ hành vi nhỏ thôi đã có thể biết bạn là người tự lập hay không. Khi lớn lên rồi, thì tự lập sẽ có biểu hiện phong phú hơn. Nhiều người khi làm sinh viên đã bắt đầu đi làm thêm kiếm tiền, lấy kinh nghiệm cho công việc tuơng lai của mình, không phải xin tiền cha mẹ. Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, công việc gặp tai ương trắc trở thì họ không dễ gục ngã, nỗ lực đến cùng để vươn lên cho dù họ biết chỉ cần một cú điện thoại nhỏ để nhờ cậy cha mẹ giúp đỡ thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nhiều người sẽ nghĩ đó là ngốc nghếch, cái dễ dàng không chọn lại đi chọn cái phức tạp. Đó quả là một suy nghĩ sai lầm. Việc nhỏ trong khả năng của bản thân còn không làm nổi thì mãi mãi bạn chỉ biết sống núp dưới cái bóng của người khác, chỉ biết làm phiền đến người khác mà thôi. Tự lập là gì? Đó là một cách sống của con người, tự làm lấy, tự suy nghĩ, tự quyết định tương lai, số phận của mình mà không phụ thuộc vào quyết định ý muốn của người khác, không ỉ vào sự trợ giúp của người khác để rải thảm cho mình bước đi. Nhìn lại câu chuyện về Mai An Tiêm và quả dưa hấu, Mai An Tiêm là con nuôi của vua Hùng, muốn gì được nấy song chàng tự làm ra tất cả. Chàng có thể ngẩng cao đầu và tự hào rằng: Tất cả những thứ này, tất cả cơ ngơi này là do bàn tay tôi làm ra. Câu nói ấy đã làm cho vua Hùng tức giận, đày chàng ra đảo hoang tự sinh tự diệt. Song, với bản lĩnh đã được tôi luyện, với cách sống tự lập không sống phụ thuộc vào kẻ khác, chàng đã chứng minh được cho vua Hùng thấy bản lĩnh của mình, dâng lên vua cha quả dưa hấu lòng đỏ ngọt lịm như tấm lòng và nhân cách của chàng. Tự lập giúp cho Mai An Tiêm đứng vững được trước sóng gió. Ta đặt giả định chàng chỉ là kẻ biết phó mặc cuộc đời, một kẻ sống không tự lập, như vậy khi cao giọng nhận thành quả về mình có thể đường đường chính chính không? Có thể sông trên đảo hoang mà không có người ở, không thức ăn nước uống, không một tấc sắt trong tay không? Tôi dám chắc là không? Thậm chí, nói thẳng ra là chưa đến 3 ngày đã chết vì đói khát, vì nhu nhược trên hòn đảo đó. Xã hội ngày nay cái ăn không thiếu, nhiều gia đình có điều kiện thì con cái họ thậm chí không cần học hành, không cần làm việc họ vẫn ăn ngon, vẫn mặc đẹp, vẫn tiêu tiền, sống một cuộc sống đầy đủ mĩ mãn. Thế nhưng sống như vậy có đáng. Rất nhiều bạn trẻ đã chọn cách sống như vậy: sống bám vào cha mẹ, cứ đôi chút khó khăn đã kêu ca ầm ĩ, không thể tự vượt qua. Họ luôn có ý nghĩ là: Kệ mặc, đến đâu thì đến, dù sao cũng đã có cha mẹ, anh chị, bạn bè nâng đỡ. Nhiều người học hành không cần nỗ lực, thậm chí bỏ học suốt sa vào chơi bời cho đã vì biết cha mẹ đã lo lót trước cho hết rồi. Cần gì phải bằng cao, học nhiều, kiểu gì chả được ngồi vào vị trí “ngon", lương tháng cao mà việc lại nhàn rỗi... Tiêu những đồng tiền mà mình chăng phải bỏ mấy công sức thì biết bao nhiêu cho đủ? Bao giờ mới thỏa mãn được lòng tham của bản thân. Không biết được giá trị của mồ hôi công sức, thậm chí nước mắt và máu mới ra được đồng tiền, ra được thành quả thì làm sao biết quý trọng đồng tiền, quý trọng công sức lao động... Những người đó chẳng khác gì những con búp bê, những con lật đật để trang trí, để người khác sắp đặt trong xã hội này, mặc dù búp bê đó luôn luôn sang trọng, luôn sáng choang long lanh, đeo trên người những thứ đẹp đẽ giá trị... nhưng rốt cục cũng chỉ là thứ vô hồn, trống rỗng. Tự lập hay phó mặc cho cuộc đời - đó là do quyết định của bạn. Thế nhưng bạn cũng hãy nghĩ xem mình muôn là một con búp bê sung sướng hay là một người lao động chân chính biết tự hào về bản thân mình; muốn mình làm kẻ có ích cho xã hội này hay thích làm kẻ chi biết ngồi hưởng thụ trên công sức của kẻ khác? Ai cũng ngưỡng mộ và coi trọng một người tự lập chứ không bao giờ tôn vinh một kẻ không chí khí chỉ biết phó mặc số phận và ăn bám. Và cũng phải nhắc tới một phần quan trọng từ cách giáo dục của cha mẹ, bạn bè, xã hội. Đừng cho con mình quá nhiều, đáp ứng tất cả những thứ nó muốn. Hãy dạy cho con biết tự lập ngay từ bé và từ bỏ tính kiêu ngạo coi mình là trung tâm. Xã hội cũng cần tôn vinh những con người ngày đêm cố gắng, ngày đêm sáng tạo giúp ích cho xã hội cho dù đó là người quét rác, người kéo xe bán than... "Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý của con người nhưng con người sẽ làm nên sự cao quý của nghề nghiệp". Đúng vậy, chỉ những người nỗ lực, cố gắng hết mình cho công việc mình đang làm, tự lập cho cuộc sống thì mới đáng trân trọng. Nghề nghiệp chỉ cao quý khi con người cao quý. Con người chỉ cao quý khi họ biết tự lập, biết đứng bằng đôi chân của mình, biết quý trọng cái mình đang có, cái mình đang làm... Hãy sống tự lập, sống mạnh mẽ. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề