QUỐC HỘI TRUNG QUỐC BẦU CHỦ TỊCH NƯỚC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUỐC HỘI TRUNG QUỐC BẦU CHỦ TỊCH NƯỚC":

Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992

Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992

Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hiến pháp Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ và kiêm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955, chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm và Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi Người mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Từ đó đến nay, vai trò lãnh đạo chính trị nói chung và của Chủ tịch nước nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến thể chế, con người và toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, lãnh đạo nói chung và đặc biệt vị trí đứng đầu nói riêng có xu hướng cá nhân hóa nếu địa vị của họ không được thiết lập một cách chặt chẽ và vững chắc trong Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, vai trò, chức năng và thẩm quyền của Chủ tịch nước cần phải được hiến định trong Hiến pháp. Ở nước ta, việc hoàn thiện phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực của Chủ tịch nước là một nội dung rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế chính trị pháp lý Hiến pháp. Mặt khác chủ trương của Đảng thể hiện trong các Văn kiện Đại hội X, XI đặt ra những thay đổi chế định trong quá trình thiết kế và vận hành chính thể nói chung và chế định Chủ tịch nước nói riêng. Do đó, nghiên cứu chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trải qua các thời kỳ lịch sử với 5 bản Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa những chế định cơ bản, quan trọng của Hiến pháp năm 1992 nhưng có những đổi mới, bổ sung mang tính phù hợp để thể hiện Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Việt Nam và là nguyên thủ quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, em xin chọn đề tài: “Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992” để tìm hiểu và nghiên cứu. NỘI DUNG I. Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013. Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định tại chương VI với 8 điều và chỉ ngay sau chương V quy định về Quốc hội cho thấy vị trí quan trọng của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước Việt Nam, có vai trò phối hợp quyền lực, là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước và cho hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều 86: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Điều 87: Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Chủ tịch nước. Điều 88: Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất; 2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; 3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá; 4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam; 5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; 6. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. Điều 89: 1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn. Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. 2. Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định; động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Điều 90: Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ. Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước. Điều 91: Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Điều 92: Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch nước thực hiện một số nhiệm vụ. Điều 93: Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước. II. Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 2013 . 1. Những điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước. a Về bố cục: Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định tại Điều 88 còn theo Hiến pháp năm 1992 thì được quy định tại Điều 103. Dễ dàng nhận thấy, so với Điều 103 Hiến pháp năm 1992 thì Điều 88 Hiến pháp năm 2013 có sự thay đổi đáng kể về mặt bố cục. Nếu như Hiến pháp năm 1992 chia tách từng nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Chủ tịch nước tại 12 khoản của Điều 103 thì Hiến pháp năm 2013 gom những nhiệm vụ và quyền hạn đó thành những nhóm, theo từng lĩnh vực, quy định tại 6 khoản của Điều 86. Đó là: Khoản 1 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vự lập pháp; Khoản 2 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc quyết định nhân sự của Chính phủ; Khoản 3 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực tư pháp và quản lý nhân sự của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Khoản 4 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc khen thưởng, quốc tịch; Khoản 5 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh; Khoản 6 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước về đối ngoại. b Về nội dung: Khoản 4 – Điều 103, Hiến pháp năm 1992 quy định Chủ tịch nước có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ phải căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Theo Hiến pháp năm 2013 thì quyền bổ nhiệm bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ chỉ cần căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội (Khoản 2 – Điều 88). Khoản 3 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 có nêu Chủ tịch nước có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức tất cả các Thẩm phán. Còn Khoản 8 – Điều 103, Hiến pháp năm 1992 chỉ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc đổi mới này đã tái quy định thẩm quyền của người đứng đầu nhà nước trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, pháp lý. Đó là tất cả các Thẩm phán dù ở bất kỳ cấp nào cũng đều nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp. Vì vậy, việc Chủ tịch nước thay mặt nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán chính là việc trao hoặc tước quyền nhân danh nhà nước của Thẩm phán. Qua đó góp phần tăng tính độc lập trong hành động xét xử của Thẩm phán, để Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Về vấn đề quốc tịch, Khoản 4 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 có điểm mới là Chủ tịch nước có thẩm quyền cho “trở lại quốc tịch” Việt Nam đối với người đã mất quốc tịch Việt Nam, khi có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể trở lại quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong số những trường hợp sau: + Xin hồi hương về Việt Nam; + Có vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam; + Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; + Có lợi cho Nhà nước Việt Nam; Ngoài ra, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam nếu làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam. Về thẩm quyền mới này của Chủ tịch nước đã cho thấy Việt Nam mở rộng cửa cho phép người mất quốc tịch Việt Nam trở lại quốc tịch Việt Nam mà không hề ngăn cấm, cấm đoán. Theo Hiến pháp năm 1992, Chủ tịch nước quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác (Khoản 9 – Điều 103). Để làm rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm này của Chủ tịch nước trong việc thống lĩnh lực lượng vũ trang thì Khoản 5 – Điều 88 quy định việc phong hàm cấp tướng chỉ giao cho Chủ tịch nước thực hiện. Chủ tịch nước có quyền quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Như vậy, với quy định mới này, Hiến pháp năm 2013 đã phân định quyền “thống lĩnh” của Chủ tịch nước trong công tác quyết định nhân sự chỉ huy cấp cao trong lực lượng vũ trang (cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước. Tuy nhiên, việc chủ tịch nước quyết định nhân sự chỉ huy cấp cao trong lực lượng vũ trang luôn tuân thủ lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ của lực lượng vũ trang. Vì thế, quy định mới này vừa đảm bảo nguyên tắc lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là sự thống lĩnh của Chủ tịch nước. Về công tác đối ngoại, theo Khoản 6 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 thì Chủ tịch nước quyết định đàm phán, kí điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. Trong khi theo Khoản 10 – Điều 103, Hiến pháp năm 1992 thì Chủ tịch nước vẫn đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế (trừ trường hợp cần trình Quốc hội giải quyết) nhưng đàm phán, kí kết với người đứng đầu Nhà nước khác. Điểm mới này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay trong công tác điều ước quốc tế của Chủ tịch nước vì Chủ tịch nước cũng như các nguyên thủ quốc gia khác trên thế giới không trực tiếp tiến hành đàm phán điều ước quốc tế mà thưởng ủy quyền cho cá nhân, cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực đó đàm phán như vậy vừa bất gánh nặng công việc cho Chủ tịch nước, vừa để các cơ quan, cá nhân đó đàm phán, kí kết đúng lĩnh vực sẽ hiệu quả hơn. Vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quyết định rõ quyền quyết định việc đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước của Chủ tịch nước, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội và nhân dân về đàm phán, kí kết các điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước. Ví dụ: Khi Việt Nam muốn đàm phán và kí kết với Nhật Bản để xây dựng cầu Nhật Tân thì không nhất thiết Chủ tịch nước trực tiếp đàm phán mà Chủ tịch nước có thể ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng đi đàm phán thì việc đàm phán sẽ hiệu quả hơn vì Bộ trưởng Bộ Xây dựng am hiểu sâu hơn về lĩnh vực này. 2. Những điểm mới về Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch. Khoản 2 – Điều 89, Hiến pháp năm 2013 quy định thẩm quyền của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch được trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Những quy định mới này là để làm rõ và cụ thể hơn thẩm quyền của thiết chế quan trọng này so với Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định trong trường hợp chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt (Điều 104 – Hiến pháp năm 1992). Việc Hội đồng quốc phòng và an ninh được bổ sung thêm nhiệm vụ và quyền hạn mới này cho thấy vai trò quan trọng của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước đứng đầu trong việc bảo vệ hòa bình, an toàn khu vực và trên thế giới, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ Tổ quốc nhất là khi Việt Nam đang bị đe dọa bởi các nước láng giềng và âm mưu phản động trong và ngoài nước. 3. Những điểm mới về tham dự các phiên họp của Chủ tịch nước. Điều 90 – Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ. Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước”. Trong khi theo Điều 105 – Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ. Đây là một trong những điểm mới của Hiến pháp năm 2013. Bằng quy định mới này cho thấy thẩm quyền tham dự các phiên họp Chính phủ của Chủ tịch nước được đề cao hơn khi Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn nhưng với điều kiện là vấn đề cần họp bàn phải thực sự cần thiết và phù hợp với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước. Điểm mới đề cao vai trò của Chủ tịch nước trong việc xem xét quyết định vấn đề lớn trong quản lí điều hành đất nước phù hợp với tình hình đất nước hiện nay có rất nhiều vấn đề lớn gây bức xức trong dư luận như: tham nhũng, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội,… những vấn đề lớn này cần được Chủ tịch nước – người thay mặt cho nhân dân giải quyết trước Chính phủ. Có như vậy, Chủ tịch nước mới xứng đáng là người đứng đầu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. III. Những điểm hạn chế về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992. Thứ nhất, điều kiện để trở thành Chủ tịch nước không khác so với điều kiện để trở thành Đại biểu Quốc hội bởi Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 đều quy định Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, đồng thời không có quy định về quốc tịch, xuất thân, độ tuổi, trình độ,…để trở thành ứng viên làm Chủ tịch nước. Điều này có thể coi là hạn chế vì Chủ tịch nước là người đứng đầu một quốc gia, đại diện cho toàn bộ nhân dân, có vị thế rất lớn trong bộ máy nhà nước. Vì thế, điều kiện trở thành Chủ tịch nước cần phải co những quy định riêng, được các nhà làm luật xem xét sửa đổi. Có như vậy, nhân dân mới thực sự tin tưởng giao trách nhiệm cho Chủ tịch nước. Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 đều quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong công tác khen thưởng (tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng, danh hiệu vinh dự nhà nước) mà không quy định trách nhiệm của Chủ tịch nước trong công tác thi đua. Điều này cũng cần được các nhà làm luật xem xét vì Chủ tịch nước phải gương mẫu trong công tác thi đua như: thi đua yêu nước, thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,… thì nhân dân, cơ quan trương ương đến địa phương mới học tập và noi theo. Từ đó mới đẩy mạnh việc thi đua mới thực sự có hiệu quả tối đa. KẾT LUẬN Trên đây là một số nhận định của em về điểm mới của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 cũng như một số điểm hạn chế. Những chế định về Chủ tịch nước trong bản Hiến pháp năm 2013 đã tiến một bước phát triển dài trên con đường hoàn thiện và phát triển. Điều đó sẽ tạo nền tảng pháp lý cao nhất để Chủ tịch nước thực hiện đầy đủ quyền hạn và nhiệm vụ của mình đưa đất nước thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mong rằng, qua bài viết này, em đã giúp mọi người hiểu rõ phần nào các chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 cũng như Hiến pháp năm 1992 và những điểm mới của Hiến pháp năm 2013. Từ đó, khẳng định chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân.
Xem thêm

Đọc thêm

KỊCH BẢN CHI TIẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ, ĐIỀU HÀNH CỦA CHỦ TỊCH ĐOÀN

KỊCH BẢN CHI TIẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ, ĐIỀU HÀNH CỦA CHỦ TỊCH ĐOÀN

Đề nghị nhiệt liệt chào mừng.* Về phía nhà trường xin trân trọng giới thiệu- Thầy : Nguyễn Văn Bông- Bí thư chi bộ , Hiệu trưởng nhà trường- Cô :Dương thị Minh Hải – Phó hiệu trưởng nhà trườngThầy nguyễn Văn Hà – Phó Bí thư chi bộ , Phó Hiệu trưởng nhà trườngĐề nghị nhiệt liệt chào mừng.- Đặc biệt Ban tổ chức Xin trân trọng kính giới thiệu …… đại biểu.đoàn viên côngđoàn trường THPT Việt Yên số 2 về dự Đại hội. Đề nghị nhiệt liệt chào mừng.34Đ/c: HinhBầu đoàn Chủ tịch, Đoàn thư ký, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu đại hội:tiếp tục đứng tại Tiếp theo chương trình, thay mặt Ban Tổ chức tôi xin báo cáo và xin ý kiến Đại hội vềbụcbầu Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký và Ban thẩm tra tư cách Đại biểua. Về bầu Đoàn Chủ tịch:* Dự kiến số lượng thành viên Đoàn chủ tịch: 03 đồng chí.- Xin ý kiến đại hội số lượng thành viên ĐCT (chờ 1 chút). Nếu Đại hội khôngcó ý kiến xin biểu quyết thông qua- Đại biểu nào thống nhất với số lượng thành viên Đoàn chủ tịch là 03 đ/c chobiểu quyết (giơ tay) - Xin cám ơn.- Đại biểu nào không thống nhất - không cóNhư vậy, Đại hội thống nhất 100% số lượng thành viên Đoàn chủ tịch là 03 đ/c.Xin cám ơn.* Sau đây tôi xin thông qua danh sách dự kiến Đoàn Chủ tịch:1. Đ/c: Hoàng Quốc Huy
Xem thêm

15 Đọc thêm

kịch bản chi tiết đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2015 2017

kịch bản chi tiết đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2015 2017

DẪN CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỘI CHI BỘ Mời đại biểu ổn định vị trí, tiến hành làm việc. Xin trân trọng kính mời toàn thể đại biểu đứng lên trang nghiêm làm lễ chào cờ, Chào (mở băng nhạc: Quốc ca, Quốc tế ca). Thôi xin mời tất cả đại biểu an tọa. Kính thưa toàn thể quý vị đại biểu: Thực hiện Kế hoạch số 73KHHU, ngày 15102014 của Ban Thường vụ Huyện ủy về triển khai thực hiện Chỉ thị số 36CTTW, ngày 3052014 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và các Hướng dẫn Đại hội của Ban Thường vụ Huyện ủy; Ban Tổ chức Huyện ủy. Sau thời gian tích cực chuẩn bị các mặt cho Đại hội được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy và Ban Thường vụ Đảng ủy xã Khánh Lâm. Đến nay mọi công việc chuẩn bị cho Đại hội chi bộ cơ bản đã hoàn tất. Được sự thống nhất của BTV Đảng uỷ, hôm nay ngày …. tháng ….. năm 2015, chi bộ …………………….., tổ chức Đại hội đảng viên, lần thứ …….., nhiệm kỳ 2015 – 2017. Đó là lý do Đại hội. Đến dự và chỉ đạo Đại hội hôm nay, xin trân trọng giới thiệu và nhiệt liệt đón tiếp các đồng chí: Đc………………………………………………. ………………………... Đc………………………………………………………………………… Đc ………………………………………………………………………… (Đề nghị nhiệt liệt hoan hô) ……………………………………………………………………………….…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. Cùng với sự có mặt của …..…… đảng viên của chi bộ được triệu tập dự Đại hội. (xin nhiệt liệt hoan hô chung) Kính thưa đại hội. Để Điều hành Đại hội, Đại hội tiến hành bầu đoàn Chủ tịch đại hội (hoặc Chủ tịch Đại hội) và thư ký Đại hội, thay mặt cấp ủy chi bộ nhiệm kỳ 20132015 tôi xin Đề xuất với Đại hội về số lượng đoàn chủ tịch Đại hội là 03 đc (hoặc 01 đc). Xin ý kiến Đại hội về số lượng tôi vừa đề xuất ... Nếu Đại hội không có ý kiến tôi xin biểu quyết quyết bằng cách giơ thẻ đảng. Đồng chí nào đồng ý số lượng đoàn chủ tịch là 03 đc (hoặc Chủ tịch đại hội là 01 đc), xin cho biểu quyết.... có ý kiến nào khác…; không có, Đại hội thống nhất 100%. Tiếp theo tôi xin giới thiệu danh sách bầu đoàn Chủ tịch Đại hội(hoặc Chủ tịch đại hội) do cấp ủy triệu tập Đại hội chuẩn bị để Đại hội xem xét. 1. Đc …………………………….. ............................................................... 2. Đc ………………………………… .......................................................... 3. Đc ……………………………………………. …………………………. Tôi vừa thông qua danh sách bầu đoàn Chủ tịch (hoặc Chủ tịch) Đại hội, Xin Đại hội cho ý kiến thảo luận….. Nếu Đại hội không có ý kiến….; tôi xin biểu quyết. Đồng chí nào thống nhất bầu các đc: 1. Đc …………………………….. ............................................................... 2. Đc ………………………………… .......................................................... 3. Đc ……………………………………………. …………………………. làm đoàn chủ tịch (hoặc Chủ tịch) Đại hội. Xin Đại hội biểu quyết…bằng cách giơ thẻ đảng; có ý kiến nào khác…; không có; đại hội thống nhất 100%, (đề nghị ĐH cho tràng pháo tay) Bầu thư ký Đại hội: Kính thưa đại hội.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận báo chí quản lý sự thay đổi

tiểu luận báo chí quản lý sự thay đổi

Tình huống: Thực hiện thí điểm việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở một số địa phươngSau khi xem xét Tờ trình số 18TTrCP ngày 30 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về Đề án và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; Báo cáo thẩm tra số 544BCUBPL12 ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban pháp luật của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 262008QH12, ngày 15112008 về việc thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về bản CHẤT dân CHỦ của NHÀ nước xã hội CHỦ NGHĨA và sự vận DỤNG TRONG đổi mới tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của HĐND các cấp ở NGHỆ AN

LUẬN văn THẠC sĩ tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về bản CHẤT dân CHỦ của NHÀ nước xã hội CHỦ NGHĨA và sự vận DỤNG TRONG đổi mới tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của HĐND các cấp ở NGHỆ AN

Sự ra đời và phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung và Hội đồng nhân dân (HĐND) nói riêng gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, xây dựng Nhà nước Việt Nam thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người yêu cầu các cơ quan nhà nước phải lấy dân làm gốc, nhân dân là người chủ đất nước, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND
Xem thêm

Đọc thêm

Bầu đẹp như hotgirl nhờ không ăn đêm

BẦU ĐẸP NHƯ HOTGIRL NHỜ KHÔNG ĂN ĐÊM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mẹ Aiuncle (Triều Dương, Trung Quốc) hiện đã sinh nở được hơn 1 tháng. Chia sẻ về ca sinh nở của mình, bà mẹ trẻ cho biết cô sinh con rất nhẹ nhàng. Vì trong thai kỳ không tăng cân nhiều nên cô không phải đẻ mổ mà sinh thường. Sau khi đau đẻ 7 giờ, bà mẹ trẻ được đưa lên bàn đẻ và chỉ nửa giờ sau đã được nghe con khóc chào đời. Khi được hỏi bí quyết gì giúp Aiuncle không tăng cân nhiều mà con sinh ra vẫn đủ chất để phát triển, bà mẹ trẻ cho biết bí quyết của cô đơn giản lắm, chỉ cần không ăn uống quá nhiều trong thai kỳ và quan trọng là phải biết chọn lựa thực phẩm để ăn.   Theo mẹ Aiuncle, bà bầu ăn đêm là nguyên nhân khiến chị em tăng cân quá nhiều khi mang thai.     Cả thai kỳ, mẹ Aiuncle chỉ tăng 11kg nhờ bí quyết ăn uống đặc biệt.Vì tăng cân khi mang thai điều độ nên cô sinh nở rất dễ dàng Những quy tắc mà mẹ Aiuncle đã áp dụng trong chế độ ăn uống để không tăng cân nhiều trong thai kỳ là: - Không ăn cho hai người: Mẹ Aiuncle cho biết, quan niệm của người Trung Quốc xưa là khi mang bầu phải ăn cho hai người và mang thai đôi thì phải ăn cho 3 người. Tuy nhiên quan điểm này không đúng bởi ăn quá nhiều chỉ tổ béo mẹ và con cũng vượt mức cân cho phép, không hề tốt. - Không uống sữa bầu: Sữa bầu được nhiều mẹ Trung Quốc ưa chuộng nhưng với mẹ Aiuncle thì sữa bầu rất nhiều chất, chỉ làm cô tăng cân nhiều hơn và không cần thiết chút nào. Cô thường thay sữa bầu bằng sữa tươi. Những lúc khát, mẹ Aiuncle thường uống nước lọc, sữa tươi hoặc nước cam. - Nhớ uống multivitamin: Dù có thể nhịn ăn một bữa nhưng mẹ Aiuncle không bao giờ quên uống thuốc bổ. Cô thường sử dụng thuốc bổ dành riêng cho bà bầu để bổ sung các dưỡng chất cần thiết như canxi, sắt, axitfolic… để con có đủ chất phát triển. - Không ăn đêm: Theo mẹ Aiuncle, việc ăn đêm không hề tốt cho bà bầu đặc biệt là ăn những món chiên, rán hoặc có chứa nhiều tinh bột. Cô chỉ uống thêm 1 ly sữa lúc 9 giờ tối và không ăn thêm bất cứ món gì khác. Đó là bí quyết giúp bà mẹ trẻ không tăng cân nhiều khi mang thai. 9 tháng mang thai, mẹ Aiuncle chỉ tăng 11kg nhưng em bé chào đời nặng đúng chuẩn 3,2kg và rất kháu khỉnh. Với cô, đó là thành tích đáng ngưỡng mộ và cô luôn tự hào vì điều này.   Những hình ảnh mẹ Aiuncle khi mang thai 32 tuần   Dù đã bầu bí ở cuối tháng thứ 7nhưng bà mẹ trẻ vẫn rất gọn gàng     Do không tăng cân nhiều nên cô không phải đẻ mổ.       Hình ảnh đời thường khi Aiuncle mang bầu tháng thứ 9   Em bé của Aiuncle chào đời nặng 3,2kg và rất kháu khỉnh.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Sốt xu hướng vẽ tranh trên bụng bầu

SỐT XU HƯỚNG VẼ TRANH TRÊN BỤNG BẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 9 tháng mang thai là khoảng thời gian vô cùng ý nghĩa với tất cả mẹ bầu và đương nhiên ngày các nhiều mẹ nghĩ ra các cách khác nhau để lưu giữ lại khoảng thời gian này. Có mẹ viết nhật ký mang thai, có người vẽ truyện tranh và một hình thức mới nữa là vẽ tranh trực tiếp trên bụng bầu. Nắm bắt được xu hướng này, một công ty ở California đã cho ra mắt dịch vụ vẽ tranh bụng bầu để phục vụ các mẹ mang thai. Đến đây, chị em bầu sẽ được tự chọn mẫu vẽ hoặc tự yêu cầu mẫu vẽ theo sở thích và sẽ được các họa sĩ tự tay thiết kế trên chính bụng bầu của mẹ. Sau khi bức vẽ được hoàn thành, sẽ có nhiếp ảnh gia chụp lại và chắc chắn đây sẽ là món quà tuyệt vời để làm kỷ niệm đúng không?   Vẽ tranh trên bụng bầu đang được các mẹ thích thú   Rất nhiều bà bầu đã tìm đến các trung tâm vẽ tranh để ghi lại những hình ảnh này làm kỷ niệm. Có rất nhiều loại tranh có sẵn để các mẹ lựa chọn như tranh phong cảnh thiên nhiên, hồ nước hoặc tranh về các em bé đang nằm trong bụng mẹ, tranh bé khóc, bé cười… Ngoài những dịch vụ có sẵn, rất nhiều mẹ cũng tự tay thiết kế những bức họa cho chính bụng bầu của mình như mẹ Luo ở Trung Quốc. Bà mẹ này đã vẽ rất nhiều tranh trên bụng bầu và mỗi bức vẽ của chị mất khoảng 3-5 giờ.   Bà mẹ Luo ở Trung Quốc tự vẽ tranh trên bụng bầu của mình   Mỗi bức tranh mất khoảng 3-5 giờ. Để có được những bức vẽ này, người ta dùng loại sơn để vẽ mặt và bàn chải mềm, đủ nhẹ để không hề làm đau bụng bầu. Loại sơn này cũng dễ dàng rửa sạch khi mẹ muốn xóa đi. Rất nhiều ngôi sao nổi tiếng như Alessandra Ambrosio , Hilary Duff và Mariah Carey cũng đã từng vẽ tranh trên bụng bầu để làm kỷ niệm. Thời điểm bụng bầu đẹp nhất để vẽ tranh là 6-8 tháng và đương nhiên những bức hình tuyệt đẹp này sẽ theo mẹ đến suốt cuộc đời.   Có rất nhiều mẫu tranh để chị em lựa chọn.       Hoặc mẹ có thể tự yêu cầu mẫu vẽ mình thích thú       Các mẹ bầu chụp hình bên họa sĩ vẽ tranh cho mình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

luật xây dựng số 50 năm 2014

luật xây dựng số 50 năm 2014

luật xây dựng năm 2014 của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam khoá 13, luật xây dựng năm 2014 của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam khoá 13, luật xây dựng năm 2014 của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam khoá 13, luật xây dựng năm 2014 của quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam khoá 13

Đọc thêm

BIEN BAN DAI HOI CHI BO

BIEN BAN DAI HOI CHI BO

5………………………………………………………………………..6………………………………………………………………………..7………………………………………………………………………..Đại hội đã bầu:Đồng chí: Vũ Mạnh Hồng, làm Chủ tịch Đại hội;Đồng chí: Vũ Thị Thu Hằng, làm Thư ký Đại hội.II- Đại hội đã nghe báo cáo tổng kết hoạt động của chi bộ nhiệmkỳ 2009-2011, và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2011-2013 và báocáo tình hình đảng viên tham dự Đại hội do đồng chí Vũ Mạnh Hồngtrình bày trước Đại hội1- Đại hội thảo luận báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của chi bộ với cácý kiến đóng góp, bổ sung như sau:………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………2- Đại hội đóng góp bổ sung về phương hướng, nhiệm vụ của chibộ trong nhiệm kỳ tới như sau:…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Xem thêm

3 Đọc thêm

THÔNG TƯ 09/2016/TT-NHNN QUY ĐỊNH VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ DO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC BAN HÀNH

THÔNG TƯ 09/2016/TT-NHNN QUY ĐỊNH VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ DO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC BAN HÀNH

1. Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:“Điều 41. Hoạt động đối với các quỹ tín dụng nhân dân thành viên1. Nhận tiền gửi điều hòa vốn, cho vay điều hòa vốn đối với các quỹ tín dụng nhân dânthành viên theo Quy chế điều hòa vốn.Việc xây dựng và nội dung của Quy chế điều hòa vốn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:a) Quỹ tín dụng nhân dân thành viên gửi tiền (không kỳ hạn, có kỳ hạn) tại ngân hànghợp tác xã để điều hòa vốn. Trường hợp rút tiền trước hạn, quỹ tín dụng nhân dân thôngbáo trước cho ngân hàng hợp tác xã;b) Quỹ tín dụng nhân dân thành viên được ngân hàng hợp tác xã cho vay điều hòa vốnkhi có nhu cầu về vốn để mở rộng tín dụng;5. Hỗ trợ các quỹ tín dụng nhân dân trong việc thực hiện kiểm toán nội bộ khi các quỹ tíndụng nhân dân yêu cầu.6. Có ý kiến tham gia bằng văn bản đối với danh sách nhân sự dự kiến bầu, bổ nhiệm làmChủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viênkhác của Ban kiểm soát, Giám đốc quỹ tín dụng nhân dân thành viên khi được Ngân hàngNhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu.7. Thực hiện trách nhiệm khác theo quy định của Điều lệ và pháp luật”.4. Khoản 3 Điều 46 được sửa đổi, bổ sung như sau:“3. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện công tác thanh tra, giám sáthoạt động của ngân hàng hợp tác xã; tiếp nhận và yêu cầu ngân hàng hợp tác xã sửa đổi,bổ sung Quy chế điều hòa vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Thông tư này cho phùhợp với quy định của pháp luật nếu thấy cần thiết” .Điều 2. Hiệu lực thi hành1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.2. Chánh Văn phòng, Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng, Thủ trưởng các đơn vị thuộcNgân hàng Nhà nước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc ngân hàng hợp tác xã chịutrách nhiệm tổ chức thi hành Thông tư này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tiểu luận mối quan hệ giữa quốc hội và chính phủ

Tiểu luận mối quan hệ giữa quốc hội và chính phủ

Phần mở đầu Quốc hội và Chính phủ là hai cơ quan quan trọng nhất trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay.Từ khi ra đời cho đến nay, Quốc hội và Chính phủ có những thay đổi về tên gọi và cơ cấu tổ chức nhưng bản chất và tầm quan trọng của hai cơ quan này không thay đổi và được khẳng định qua các bản Hiến pháp. Phân tích mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ theo pháp luật hiện hành giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về hoạt động của Quốc hội và Chính phủ.   Nội dung 1.Quan hệ giữa quốc hội và chính phủ. Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(điều 83). Mọi quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội. Theo pháp luật hiên hành,cụ thể là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001,trong mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ, Quốc hội có những quyền hạn và trách nhiệm đối với Chính phủ được thể hiện ở những phương diện sau đây: 1.1Trong lĩnh vực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Với thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như kế hoạch, ngân sách, các loại thuế, ban hành Hiến pháp và luật…Để triển khai được các nghị quyết đó, Chính phủ phải tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả. Trên cơ sở cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật, Chính phủ đề ra biện pháp thích hợp, phân công, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó trên thực tế. 1.2Trong lĩnh vực tổ chức nhà nước Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Căn cứ vào điều 84 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001: Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ của Chính phủ; Quốc hội bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hôi. Căn cứ điều 98 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001: đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng Chính phủ. 1.3Trong lĩnh vực giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát tuân theo Hiến pháp và pháp luật Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp,luật và nghị quyết của Quốc hội đối với Chính phủ.Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ,đình chỉ thi hành các văn bản của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luât, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ các văn bản đó.Mọi hoạt đông của Chính phủ nằm dưới sự giám sát của Quốc hội.Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với Chính phủ nhằm đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp, pháp luật được thi hành triệt để,nghiêm minh và thống nhất,đảm bảo việc Chính phủ hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, từ đó hoạt động của Chính phủ đạt hiệu quả cao,phát huy tốt vai trò của mình.Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét báo cáo hoạt động của Chính phủ,hoạt động chất vấn tại các kì họp của Quốc hội. 2.Quan hệ giữa Chính phủ đối với Quốc hội Chính phủ do Quốc hội thành lập ra,cơ cấu tổ chức,hoạt động và tính chất của Chính phủ được thể hiên thông qua mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội.Mối quan hệ này được thể hiện ở các phương diện sau đây: 2.1Điều 109 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001:“Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Khẳng định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội nhưng là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm chỉ rõ tính chất của Chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội. Chính phủ do Quốc hội thành lập ra, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội, khi Quốc hội hết nhiệm kì Chính phủ tiếp tục hoạt động cho đến khi bầu ra Chính phủ mới. Thành viên của Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Thành viên của Chính phủ có thể bị Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo quy định của pháp luật. Chính phủ có nhiệm vụ chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội,chịu trách nhiệm chính trong việc triển khai thực hiên các văn bản nói trên.Chính phủ có thể ban hành các văn bản quan trọng để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, văn bản của Chính phủ không được trái với văn bản của Quốc hội,Ủy ban thường vụ Quốc hôi, thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Chính phủ có nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước về tất cả các lĩnh vực trên phạm vi cả nước, Chính phủ đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước lãnh đạo ủy ban nhân dân các cấp. Về mặt quản lý hành chính, các quyết định của Chính phủ là quyết đinh cao nhất,quyết định cuối cùng. 2.2.Trong kì họp thứ nhất của mỗi khóa: Quốc hội quy định cơ cấu tổ chức của Chính phủ cho phù hợp trên cơ sở căn cứ vào quy định của Hiến pháp, luật tổ chức Chính phủ hiện hành.Trên cơ sở quy định Hiến pháp năm 1992 và luật tổ chức Chính phủ năm 2001, tại kì họp thứ nhất Quốc hội khóa XI bầu ra Thủ tướng, bổ nhiệm 3 phó Thủ tướng, thành lập 20 bộ và 6 cơ quan ngang bộ. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có bộ và cơ quan ngang bộ, Quốc hội quyết định thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Thủ tướng trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và từ chức đối với phó Thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Thành viên Chính phủ không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội trừ Thủ tướng, quy định này nhằm thể hiện quan điểm phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước đồng thời bảo đảm hiệu quả hoạt động cho thành viên Chính phủ và đại biểu Quốc hội. 2.3Trong hình thức hoạt động của Chính phủ Tại phiên họp Chính phủ thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn như: chương trình hoạt động hành năm của Chính phủ, các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trình Quốc hội và ủy ban thường vụ Quốc hội; các đề án trình Quốc hội về cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, các báo cáo trình Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội. Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ,trước Quốc hội về lĩnh vực,ngành mình phụ trách. Xuất phát từ chức năng của Quốc hội và Chính phủ trong bộ máy nhà nước thông qua mối quan hệ giữa hai hoạt động lập pháp và hành pháp ở Việt Nam,Chính phủ xem như chủ thể chính trong việc soạn thảo,trình các dự án luật,pháp lệnh trước Quốc hội,Ủy ban thường vụ Quốc hội,hay nói cách khác,sáng kiến lập pháp hiện nay chủ yếu là từ phía Chính phủ(trên 90% các dự án luật,pháp lệnh do Chính phủ trình).Điều đó khẳng định chính sách cũng như xây dựng, ban hành các dự án luật, pháp lệnh không phải chỉ có một cơ quan duy nhất, mà là sản phẩm của mối quan hệ mang tính chất “cộng đồng trách nhiệm”giữa các chủ thể trình (trong đó có Chính phủ) và chủ thể ban hành là Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. 2.4Mối quan hệ giữa các thành viên Chính phủ với Quốc hội (các ủy ban của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội) Các thành viên Chính phủ do Quốc hội phê chuẩn, giới thiệu cuả Thủ tướng Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội (trách nhiệm chính trị) và trách nhiệm trước bộ, ngành mình với tư cách là bộ trưởng trước Quốc hội, Chính phủ. Theo đó, thành viên Chính phủ phải thực hiên thẩm quyền theo luật định,ngoài ra còn phải chịu trách nhiêm về các hoạt động chỉ đạo, điều hành cụ thể của mình trong bộ, ngành trước Quốc hội (Quốc hội có thể chất vấn những vấn đề cụ thể trong điều hành của bộ trưởng…kể cả quá trình xây dựng pháp luật). Thành viên Chính phủ hiện nay được chia thành hai loại chủ thể (thành viên Chính phủ là đại biểu Quốc hội, thành viên Chính phủ không là đại biểu Quốc hội). Trong mối quan hệ với Quốc hội, các thành viên Chính phủ đều có trách nhiệm như nhau về ngành, lĩnh vực mình phụ trách,nhưng thẩm quyền đầy đủ sẽ thuộc về các thành viên Chính phủ là đại biểu Quốc hội. Bởi lẽ, họ có thể phát biểu trước Quốc hội với hai tư cách: thành viên Chính phủ và đại biểu Quốc hội. Từ cách khai thác thẩm quyền trên,trong thực tế cho thấy các bộ trưởng đều có trách nhiệm chính trị cao, làm tốt nhiệm vụ Quốc hội, Chính phủ giao.Trong công tác lập pháp, thì trách nhiệm này cũng được thể hiện đầy đủ thông qua các hoạt động như thay mặt Chính phủ chịu trách nhiệm về các dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hôi, Ủy ban thường vụ Quốc hội, trả lời chất vấn về các vấn đề liên quan đến xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật, về tiến bộ, chất lượng các dự án luật, pháp lệnh. Các thành viên Chính phủ là người thực thi pháp luật,chỉ đạo,điều hành để đưa các dự án luật, pháp lệnh vào đời sống thực tiễn thông qua sự chấp hành của Chính phủ,mà cụ thể là các bộ, ngành. 3.Những hạn chế trong quan hệ giữa Quốc hộivà chính phủ hiên nay Chất lượng lập pháp của chúng ta hiên nay là thấp, chất lượng không cao, nhiều dự án luật, pháp lệnh không khả thi, thiếu thực tiễn. Có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân chính là sự phối kết hợp giữa Chính phủ (các cơ quan của Chính phủ) với Quốc hội (các cơ quan của Quốc hội) trong quá trình xây dựng chưa đạt yêu cầu của một chu trình lập pháp khoa học, khách quan và mang tính sáng tạo. Về mặt pháp lý, chúng ta chưa có quy chế ràng buộc lẫn nhau giữa các cơ quan của Chính phủ với Quốc hội (thông qua chế tài cụ thể) để quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong mối quan hệ này.Chúng ta có các đạo luật về tổ chức (luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ) nhưng các đạo luật này chỉ quy định thẩm quyền mang tính chất nội dung chứ không phải quy định thể hiện mối quan hệ trình tự thủ tục trong việc phối hợp để tăng cường công tác lập pháp. 4.Phương hướng hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ Phát huy, nâng cao sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong tình hình mới, sự tương tác giữa Quốc hội và Chính phủ trong quá trình lập pháp để tạo ra sự năng động cho hệ thống , khắc phục tình trạng luật chờ nghị định. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, kết hợp hài hòa quá trình hoạt đông của Chính phủ và Quốc hội để đất nước phát triển, vững mạnh hơn. Tăng cường năng lực cho hoạt động lập pháp thông qua các mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ (đặc biệt là giữa cơ quan của Quốc hội với các Bộ, ngành thuộc Chính phủ). Tăng cường hoạt động thông tin pháp luật giữa các cơ quan của Quốc hội với các Bộ, Ban ngành của Chính phủ. Những thông tin lập pháp của Quốc hội đã có truyền thống qua nhiều khóa Quốc hội sẽ là bài học kinh nghiệm cho công tác lập pháp nói chung và các ban soạn thảo nói riêng. Đổi mới hoạt động của Chính phủ trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh sao cho có chất lượng bằng các hình thức hội thảo, phản biện, lấy ý kiến rộng rãi từ nhân dân .   KẾT LUẬN Thông qua các phân tích trên, có thể thấy hiện nay quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ có những tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế. Hy vọng rằng các nhà lãnh đạo đứng đầu Quốc hội và Chính phủ có những biện pháp, chiến lược đúng đắn để quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ chặt chẽ hơn, khi đó đất nước ta sẽ phát triển hơn,vững mạnh hơn để hội nhập với thế giới.   QUI ĐỊNH VỀ BỐ CỤC VÀ HÌNH THỨC LUẬN VĂN THẠC SỸ Luận văn thạc sỹ luật của Học viên cao học Trường ĐH Luật TP HCM phải thoả mãn các yêu cầu về bố cục và hình thức như sau: 1 Về cấu trúc luận văn: Luận văn tốt nghiệp bao gồm các bộ phận theo trình tự sau: 1.1. TRANG BÌA (phụ lục 01) 1.2. TRANG PHỤ BÌA (phụ lục 02) 1.3. LỜI CAM ĐOAN (Tác giả luận văn cần có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của mình) 1.4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT (nếu có) 1.5 DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU (nếu có) 1.5. MỤC LỤC (phần mục lục chỉ liệt kê tên đề mục đến 3 chữ số, ví dụ: 1; 1.1; và 1.1.1.) 1.6. PHẦN MỞ ĐẦU: đảm bảo các nội dung sau đây: Lý do chọn đề tài; Tình hình nghiên cứu đề tài (Giới thiệu và đánh giá sơ bộ các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận văn); Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu; Các phương pháp tiến hành nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài; Bố cục của luận văn. 1.7. PHẦN NỘI DUNG: Số chương của một luận văn tuỳ thuộc vào từng đề tài cụ thể theo đề cương đã thống nhất giữa Học viên và GV hướng dẫn. Thông thường Luận văn Thạc sỹ luật có thể chia làm 2 hoặc nhiều chương. Mỗi chương chia làm nhiều mục; kết thúc mỗi chương nên có kết luận của chương, kết thúc mỗi mục có thể có tiểu kết l cho mục đó. Số thứ tự của các chương, mục được đánh số bằng hệ thống số Ả rập. Các tiểu mục của luận văn được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, nhiều nhất gồm bốn chữ số với số thứ nhất chỉ số chương. Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo. Ví dụ: CHƯƠNG 2…. 2.1. 2.1.1. 2.1.1.1. (nếu có) 2.1.1.2..... ........ 2.1.2. Tên chương phải ở đầu trang mới. Tên chương viết chữ hoa, in đậm, cỡ chữ 14. Tên các mục trong chương viết chữ thường, in đậm, cỡ chữ 13; tên các tiểu mục trong mục viết chữ thường, in nghiêng, cỡ chữ 13 1.8. KẾT LUẬN: Phải khẳng định được những nội dung chính của luận văn và kết quả đạt được, những đóng góp và đề xuất mới. Phần kết luận cần ngắn gọn, không có lời bàn và bình luận thêm. 1. 9. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: Học viên liệt kê danh mục các tài liệu được trích dẫn trực tiếp trong luận văn. 1.10. PHỤ LỤC (nếu có). Phần này bao gồm các bảng, biểu, các bản án, mẫu hợp đồng, mẫu phiếu khảo sát, điều tra xã hội học kết quả thống kê, khảo sát có ý nghĩa và có liên quan đến nội dung của đề tài mà không tiện đưa vào phần nội dung của luận văn. Luận văn được in thành 7 bản, đóng bìa cứng, bìa màu xanh dương, in chữ nhũ, đủ dấu tiếng Việt trên bìa trước (xem phụ lục 1). Trên gáy của luận văn in đủ các thông tin sau: tên tác giả, chữ “luận văn cao học” và năm ….. theo chiều đứng của luận văn. Học viên không được sử dụng giấy có mùi để in luận văn 2. CÁC YÊU CẦU VỀ HÌNH THỨC VÀ CÁCH TRÌNH BÀY LUẬN VĂN Luận văn phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, sạch sẽ, không được tẩy xoá, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị (nếu có). Luận văn sử dụng chữ Times New Roman hoặc VnTime, cỡ chữ 13 hoặc 14 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương; mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ. Giãn dòng đặt chế độ 1.2 đến 1,3 lines; Luận văn được in (hoặc phô tô) trên một mặt giấy trắng khổ A4 (210 x 297 mm), lề trên 3,5cm; lề dưới 3cm; lề trái 3,5 cm; lề phải 2cm. Số trang được đánh ở giữa, phía trên mỗi trang giấy, bắt đầu đánh số trang từ Phần mở đầu và kết thúc ở phần Kết luận. Không đánh số trang các trang phụ bìa, lời cam đoan, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn Thạc sỹ từ 60 đến 80 trang , không kể trang phụ bìa, lời cam đoan, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 3. QUI ĐỊNH VỀ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Không lạm dụng việc viết tắt trong luận văn. Chỉ viết tắt những từ, cụm từ hoặc thuật ngữ được sử dụng nhiều lần trong luận văn. Không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề; không viết tắt những cụm từ ít xuất hiện trong luận văn. Nếu cần viết tắt những từ, thuật ngữ, tên cơ quan, tổ chức... thì chỉ được viết tắt sau lần viết thứ nhất có kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Nếu luận văn có nhiều chữ viết tắt thì phải có Bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự ABC) ở phần đầu luận văn. Trường hợp dẫn chiếu văn bản pháp luật cần ghi đầy đủ số ký hiệu văn bản và tên văn bản , ví dụ: Nghị định số 882006NĐCP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Trường hợp văn bản đó được sử dụng nhiều lần trong luận văn thì từ lần thứ 2 trở đi có thể viết tắt như sau: Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật còn lại được sắp xếp theo thứ tự: số thứ tự của văn bảnnăm ban hànhtên viết tắt của loại văn bảntên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản ví dụ: Nghị định số 882006NĐCP. Trường hợp các văn bản luật, pháp lệnh thì có thể viết tắt tên luật, pháp lệnh và năm ban hành, Ví dụ: Luật doanh nghiệp 2005. Không viết tắt ở tên đề tài, tên chương, tên mục và trong phần mục lục, phần mở đầu và kết luận. 4. CÁCH TRÍCH DẪN VÀ CHÚ DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG LUẬN VĂN. Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa khoa học mà không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được chú dẫn ở cuối trang và được liệt kê trong trong Danh mục Tài liệu tham khảo của luận văn. Nếu sử dụng tài liệu của người khác mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì luận văn không được duyệt để bảo vệ. Không trích dẫn những kiến thức phổ biến, mọi người đều biết. Việc trích dẫn, tham khảo chủ yếu nhằm thừa nhận nguồn của những ý tưởng có giá trị và giúp người đọc theo được mạch suy nghĩ của tác giả, không làm trở ngại việc đọc. Nếu không có điều kiện tiếp cận được tài liệu gốc mà phải trích dẫn thông qua một tài liệu khác thì phải nêu rõ cách trích dẫn này, đồng thời tài liệu gốc đó không được liệt kê trong Danh mục tài liệu tham khảo của luận văn. Khi cần trích dẫn một đoạn ít hơn hai câu hoặc bốn dòng đánh máy thì có thể sử dụng dấu ngoặc kép “....” để mở đầu và kết thúc phần trích dẫn. Nếu cần trích dẫn dài hơn hai câu hoặc 4 dòng đánh máy thì phải tách phần này thành một đoạn riêng khỏi phần nội dung đang trình bày, với lề trái lùi vào thêm 2 cm. Trong trường hợp này mở đầu và kết thúc đoạn trích này không phải sử dụng dấu ngoặc kép. Chú dẫn (footnote) đặt ở cuối trang (vào Insertreferencefootnote... sử dụng bottom of page để chú dẫn). Chú dẫn theo số và số chú dẫn phải liên tục từ nhỏ đến lớn cho toàn bộ luận văn (chọn continuous ở mục numbering). Phần chú dẫn phải ghi các thông tin về tài liệu đó theo trình tự sau: a) Tài liệu tham khảo là sách, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, báo cáo… phải ghi đầy đủ các thông tin sau + Tên các tác giả hoặc cơ quan ban hành (không có dấu ngăn cách) (không ghi chức vụ, danh hiệu, học hàm, học vị của tác giả) + Năm xuất bản, (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn) + Tên sách, luận án, luận văn hoặc báo cáo (in nghiêng, dấy phẩy cuối tên) + Nhà xuất bản, (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản) + Nơi xuất bản, (dấu phảy sau nơi xuất bản) + Trang (viết tắt: tr. ) (dấu chấm để kết thúc) b) Tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, bài trong một cuốn sách … ghi đầy đủ các thông tin theo trình tự sau: + Tên các tác giả (không có dấu ngăn cách) + Năm công bố, (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn) + Tên bài báo, (đặt trong ngoặc kép, không in nghiêng, dấu phẩy cuối tên) + Tên tạp chí hoặc tên sách, (in nghiêng, dấu phẩy cuối tên) + Tập (không có dấu ngăn cách) (nếu có) + Số, (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn) + Các số trang, (gạch ngang giữa hai chữ số, dấu chấm kết thúc) c) Nếu tài liệu được trích từ các website nên copy toàn bộ đường dẫn trang web có tài liệu đó. Ví dụ: http:www.sbv.gov.vnvnhomehtNHnngoai.jsp http:vi.wikipedia.orgwikiThu%E1%BA%BFL.C3.BD_do_.C4.91.C3.A1nh_thu.E1.BA.BF. d) Nếu tài liệu là văn bản pháp luật cần ghi đúng ký hiệu văn bản pháp luật qui định tại Đ. 7 Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008. Ví dụ: Nghị định số 722006NĐCP ngày 25 tháng 7 năm 2006 qui định chi tiết thi hành Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. e) Nếu tài liệu là bản án cần ghi đúng ký hiệu bản án và trích yếu theo hướng dẫn tại Nghị Quyết số 012005NQTANDTC ngày 31 tháng 3 năm 2005. Ví dụ: Bản án số: 092005KDTMST về Vv tranh chấp về hợp đồng thuê mua tài chính” của Tòa án Nhân dân tỉnh X. g) Trường hợp một tài liệu tham khảo nhưng được trích dẫn nhiều lần trong luận văn, bắt đầu từ chú dẫn thứ hai trở đi nếu HV không muốn lặp lại chú dẫn đó, thì có thể ghi: Tên tác giả, (phảy) tlđd số chú dẫn trước đó….., (phảy) tr.…. (sau số trang kết thúc bằng dấu chấm) h) Ngoài ra Học viên có thể sử dụng các footnote để giải nghĩa từ ngữ, làm rõ thêm một nội dung nào đó mà không tiện viết trong phần nội dung. 5 YÊU CẦU VỀ LẬP DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Danh mục tài liệu tham khảo bao gồm: 1. Danh mục văn bản pháp luật (danh mục văn bản pháp luật Việt Nam, nước ngoài, các Hiệp định, Hiệp ước, Công ước quốc tế) (trường hợp có nhiều ngôn ngữ khác nhau thì lập danh mục văn bản pháp luật theo từng ngôn ngữ riêng) 2. Danh mục các tài liệu tham khảo 2.1. Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt 2.2. Tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh (nếu có) 2.3. Tài liệu tham khảo bằng tiếng Pháp (nếu có) 2.4. ……….. Tài liệu tham khảo bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch (đối với những tài liệu bằng ngôn ngữ còn ít người biết có thể thêm phần dịch tiếng Việt đi kèm theo mỗi tài liệu). Tài liệu tham khảo xếp theo thứ tự ABC theo họ tên tác giả luận văn theo thông lệ của từng nước. Tác giả là người nưới ngoài: xếp thứ tự ABC theo họ. Tác giả là người Việt Nam: xếp theo thứ tự ABC theo tên nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự thông thường của tên người Việt Nam, không đảo tên lên trước họ. Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự ABC từ đầu của tên cơ quan ban hành báo cáo hay ấn phẩm. Không ghi học hàm, học vị, chức vụ của tác giả các tài liệu Ở mỗi tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo Học viên cũng ghi đầy đủ các thông tin theo trình tự như đã hướng dẫn ở phần chú dẫn (footnote) (xem hướng dẫn ở phần 4 của tài liệu này) Riêng đối với tài liệu tham khảo là sách, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, luận văn cử nhân, báo cáo… thì không phải ghi số trang như trong footnote. Đối với tài liệu từ internet chỉ cần ghi tên của website đó: Ví dụ: www.sbv.gov.vn Dưới đây là ví dụ về cách trình bày trang tài liệu tham khảo: Ví dụ: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Nguyễn Đăng Dung (2001), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy nhà nước, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. ……….. 2. Võ Khánh Vinh (2006), “Khung tư duy nhận thức về xã hội dân sự”, Nhà nước và pháp luật, (02), tr. 37. Tiếng nước ngoài 23. Christian Gavanlda, Jean Stuofflet (1994), Droit bancaire: Institutions Comptes Opérations, Litec, Paris. ……. 26. David Buxbaum and Tang Ying (2000), “Foreign investment in infrastructure projects in China”, Journal of Project Finance, (12), pp 38. ………….. 30. Slattery P.D.(1993), “Project Finance: An Overview”, Journal of Corporate and Business Law, (1), pp. 6181. Phụ lục 01: MẪU BÌA KHÓA LUẬN CÓ IN CHỮ NHŨ Khổ 210 x 297 mm BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2008 Phụ lục 02: MẪU TRANG PHỤ BÌA KHÓA LUẬN (title page) BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành….. Mã số….. Người hướng dẫn khoa học:……………. TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2008
Xem thêm

Đọc thêm

5 xu hướng mẹ bầu không biết - hơi phí!

5 XU HƯỚNG MẸ BẦU KHÔNG BIẾT - HƠI PHÍ!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Thai kỳ không chỉ trôi qua êm đềm trong 9 tháng mang thai mà rất nhiều mẹ bầu đã nghĩ ra những cách để ghi dấu lại thời gian này một cách đặc biệt nhất. Những cách này ngày càng được nhiều mẹ áp dụng theo và rất nhanh chóng trở thành xu hướng “hot” như chụp ảnh sinh nở, chụp ảnh cả thai kỳ, trực tiếp ca đẻ trên mạng hay vẽ tranh trên bụng bầu… Hãy cùng điểm danh lại những trào lưu “hot” được các mẹ trên toàn thế giới thích thú và làm theo: Chụp ảnh sinh đẻ Đối với nhiều phụ nữ, giây phút đón con chào đời là khoảnh khắc riêng tư mà chỉ họ, bác sĩ hoặc bà đỡ và có chăng là người chồng biết. Thế nhưng cuộc sống hiện đại nên suy nghĩ của con người cũng tân tiến hơn. Họ muốn ghi lại khoảnh khắc kỳ diệu này để chia sẻ với tất cả mọi người và để làm kỷ niệm cho tương lai, để làm món quà cho con yêu sau này lớn lên. Vì thế mà dịch vụ chụp ảnh sinh nở ra đời.   Còn gì tuyệt vời hơn khoảnh khắc đau đẻ, khoảnh khắc con ra khỏi cơ thể mẹ, giây phút con bú dòng sữa ấm nóng đầu tiên… được ghi lại dưới góc máy của nhiếp ảnh gia.   Theo thống kê mới nhất, ngày càng nhiều mẹ bầu sắp đến ngày sinh nở gọi điện cho nhiếp ảnh gia với yêu cầu được ghi lại khoảnh khắc sinh nở. Còn gì tuyệt vời hơn khoảnh khắc đau đẻ, khoảnh khắc con ra khỏi cơ thể mẹ, giây phút con bú dòng sữa ấm nóng đầu tiên… được ghi lại dưới góc máy của nhiếp ảnh gia. Xu hướng chụp ảnh sinh nở đã rất phổ biến ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ trở lại đây và bây giờ nó đã lan rộng ra toàn thế giới đặc biệt là những đất nước phát triển như Anh, Pháp, Nga. Tại Việt Nam, xu hướng này cũng bắt đầu nhen nhóm. Theo thống kê mới nhất, ngày càng nhiều mẹ bầu sắp đến ngày sinh nở gọi điện cho nhiếp ảnh gia với yêu cầu được ghi lại khoảnh khắc sinh nở. Tỷ lệ những bà mẹ có nhu cầu chụp ảnh sinh con đã tăng 112% so với thời điểm này năm ngoái, kết quả thống kê mới nhất cho biết. 20% các mẹ bầu được hỏi chia sẻ rằng họ đang cân nhắc hoặc sẽ thuê nhiếp ảnh gia để ghi lại khoảnh khắc sinh nở. Chi phí cho một bộ ảnh sinh nở khoảng 25-35 triệu nếu mẹ thuê nhiếp ảnh gia riêng. Tuy nhiên, các mẹ cũng có thể tiết kiệm tiền bằng cách nhờ người thân hoặc chính người chồng tự chụp ảnh quá trình sinh nở. Mời các mẹ xem bộ ảnh sinh mổ của mẹ Việt tại đây. Trực tiếp ca đẻ trên mạng Việc chụp ảnh chỉ có thể gián tiếp ghi lại được quá trình sinh nở của mẹ khi người khác xem, ngày nay rất nhiều mẹ muốn cả thế giới đặc biệt là người thân, bạn bè của mình biết được mình đang đau đẻ, sinh con như thế nào. Và xu hướng trực tiếp ca sinh nở qua mạng xã hội ra đời.   Rất nhiều mẹ vừa đẻ vừa trực tiếp ca sinh nở của mình trên Twitter để chia sẻ với người thân và bạn bè. Xu hướng này đang cực kỳ “hot” ở những đất nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ… Rất nhiều mẹ bầu dù phải đối mặt với những cơn đau đẻ kinh khủng nhưng vẫn dành thời gian để đăng tải những “status” về quá trình sinh nở của mình trên Twitter. Họ cho rằng việc làm này giúp các mẹ “giết” thời gian và quên đi cơn đau đẻ. Việc đăng tải những chia sẻ của mình và nhận được những lời khuyên của bạn bè, người thân cũng giúp sản phụ cảm thấy được an ủi và tiếp thêm sức mạnh đối mặt với những cơn đau. Xu hướng trực tiếp ca sinh nở trên mạng cũng bắt đầu manh nha ở châu Á. Mới đây, mẹ bầu Ray ở Hồ Nam, Trung Quốc cũng vừa đẻ vừa cập nhật tình hình của mình trên mạng.  Vẽ tranh trên bụng bầu Vẽ tranh trên bụng bầu có thể được coi là xu hướng mới nhất được nhiều mẹ bầu thích thú. Các mẹ có thể tự tay vẽ tranh hoặc nhờ người vẽ hộ. Với những dịch vụ vẽ tranh trên bụng bầu, các mẹ chỉ cần nằm thư giãn trong khoảng 1 giờ là đã có được một tác phẩm tuyệt đẹp và được các nhiếp ảnh gia tại cửa hàng vẽ tranh chụp lại để làm kỷ niệm.   Vẽ tranh trên bụng bầu có thể được coi là xu hướng mới nhất được nhiều mẹ bầu thích thú. Tuy nhiên, việc làm này dường như không có nhiều ý nghĩa bằng việc tự tay mẹ mài mực rồi vẽ những suy nghĩ, những sở thích của mình về con yêu lên bụng. Ngày nay, rất nhiều mẹ đã tự tay thiết kế những bức họa cho chính bụng bầu của mình như mẹ Luo ở Trung Quốc. Bà mẹ này đã vẽ rất nhiều tranh trên bụng bầu và mỗi bức vẽ của chị mất khoảng 3-5 giờ. Để có được những bức vẽ này, người ta dùng loại sơn để vẽ mặt và bàn chải mềm, đủ nhẹ để không hề làm đau bụng bầu. Loại sơn này cũng dễ dàng rửa sạch khi mẹ muốn xóa đi. Rất nhiều ngôi sao nổi tiếng như Alessandra Ambrosio , Hilary Duff và Mariah Carey cũng đã từng vẽ tranh trên bụng bầu để làm kỷ niệm. Thời điểm bụng bầu đẹp nhất để vẽ tranh là 6-8 tháng và đương nhiên những bức hình tuyệt đẹp này sẽ theo mẹ đến suốt cuộc đời. Chụp ảnh bầu dưới nước   Việc chụp ảnh bầu dưới nước sẽ giúp mẹ dễ dàng khoe cơ thể sexy của mình trong làn nước mờ ảo. Lưu giữ lại những hình ảnh tuyệt đẹp trong 9 tháng mang thai là việc làm của hầu hết các mẹ bầu. Thông thường chị em hay chụp ảnh nude trong phòng tối, chụp ảnh trước biển hay chụp ảnh bên hoa... Tuy nhiên, một xu hướng mới rất 'hot' đang thu hút sự quan tâm và thích thú của hầu hết mẹ bầu đó là chụp ảnh bụng bầu dưới nước. Xu hướng này xuất phát từ phương Tây và đang được nhiều mẹ bầu Việt truyền tai nhau. Việc chụp ảnh bầu dưới nước sẽ giúp mẹ dễ dàng khoe cơ thể sexy của mình trong làn nước mờ ảo. Xu hướng chụp ảnh dưới nước được lấy ý tưởng từ bào thai trong bụng mẹ cũng trôi nổi trong bọc ối. Làm sách “Nhật ký mang thai”   Không chỉ chụp ảnh khi sinh nở, rất nhiều mẹ bầu đã “đầu tư” chụp ảnh cả thai kỳ để làm kỷ niệm. Không chỉ chụp ảnh khi sinh nở, rất nhiều mẹ bầu đã “đầu tư” chụp ảnh cả thai kỳ để làm kỷ niệm. Hầu như mỗi tuần, mỗi tháng mẹ đều chụp ảnh sự lớn lên của bụng bầu để nhận thấy sự thay đổi rõ rệt. Với những bức ảnh này, các mẹ thường dựng thành video hoặc sách để người xem có cái nhìn rõ nét về 9 tháng mang bầu. Xu hướng này cũng đang được các mẹ trẻ vô cùng thích thú.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bài tập nhóm Lý luận nhà nước và pháp luật: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bài tập nhóm Lý luận nhà nước và pháp luật: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Bài tập nhóm Lý luận Nhà nước và pháp luật TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ TÀI Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động dựa trên những nguyên tắc, điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật nhằm vận hành quyền lực nhà nước hay thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của nhà nước. Theo đó, những những nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước là những nguyên lý có tính nền tảng chỉ đạo toàn bộ quá trình thiết lập, hoạt động của từng loại cơ quan nhà nước cũng như của tổ chức bộ máy nhà nước. Hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) rất phong phú và nhiều loại, trong đó những nguyên tắc cơ bản có tính bao quát đối với toàn thể bộ máy nhà nước thường được ghi nhận trong hiến pháp, đạo luật cơ bản của nhà nước. Ở các nước XHCN nguyên tắc cơ bản đó bao gồm: nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của nhân dân vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nguyên tắc bình đẳng đoàn kết giữa các dân tộc. Trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN. Hiện nay, còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về nguyên tắc này. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng nguyên tắc này là sự kết hợp hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, bất kì sự nhấn mạnh hay coi nhẹ một mặt nào của nguyên tắc sẽ dẫn đến sự thiếu hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Loại ý kiến thứ hai cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung “một cách” dân chủ. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách nhiệm, ý thức kỉ luật cao. Ngoài ra, còn có loại ý kiến thứ ba cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn quyền quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân viên. Như vậy, có thể thấy đa số các tác giả cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ. Đây là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo tâp trung thống nhất của cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương, giữa cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới và địa phương trong quá trình tổ chức và hoạt động của nhà nước. Đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo của quần chúng nhân dân, của nhân viên các cơ quan nhà nước và nâng cao ý thức kỷ luật, ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc: Đây là nguyên tắc hiến vị vì nó được quy định trong Hiến pháp. Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980 và Điều 6 Hiến pháp 1992 “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Không những ở nước ta, các nước XHCN cũng ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và cũng xác định là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN nói chung và bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nói riêng, vì vậy, với bài tập nhóm tháng thứ hai này, nhóm B2 lớp 3417 chúng em quyết định chọn đề tài: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Liên hệ với Việt Nam với mong muốn được hiểu cũng như làm rõ hơn nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN. NỘI DUNG CHÍNH Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện dựa trên ba mặt chủ yếu: tổ chức bộ máy; cơ chế hoạt động và chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề khen thưởng và kỉ luật. Về mặt tổ chức, quyền lực nhà nước tập trung nhất vào nhân dân vì nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền lực ấy được nhân dân thực hiện một cách trực tiếp, hoặc thông qua bộ máy nhà nước mà cơ quan cao nhất thực hiện quyền lực nhà nước là Quốc hội do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm và báo cáo trước quốc hội. Đến lượt mình, các hệ thống cơ quan nhà nước khác đều trực thuộc hoặc chịu sự chỉ đạo của một trung tâm cơ quan cao nhất của hệ thống mình. Ở các nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng, nguyên tắc tập trung dân chủ được áp dụng trong lĩnh vực tổ chức bộ máy đều xuất phát từ nguyên lý: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ thống cơ quan đại diện, trao quyền cho các cơ quan đại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống cơ quan khác. Ở trung ương, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mọi cơ quan khác đều bắt nguồn từ Quốc hội, phải báo cáo, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Ở địa phương, các Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, mọi cơ quan khác đều chịu trách nhiệm trước HĐND và chịu sự giám sát của HĐND. Tính tập trung là biểu hiện quan trọng của bộ máy nhà nước nhưng sự tập trung đó đều bắt nguồn và dựa trên cơ sở của chế độ dân chủ sau khi đã được tập trung phải chịu sự chỉ đạo của các cơ quan nhà nước, nhưng đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự kiểm tra trước giám sát của nhân dân. Nguyên tắc này thể hiện ở chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, xác lập và giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước nói chung, giữa trung ương và với địa phương, giữa các bộ phận trong mỗi cơ quan nhà nước và trên bình diện chung nhất là giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân Ở Việt Nam, Hiến pháp 1992 có quy định rõ ở Điều 2: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”; Điều 6:” Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội, HĐND và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”; Và Điều 8: “Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.” Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với chế độ bầu cử, nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, HĐND các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ. Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Nếu không còn được sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm. Điều này cũng được quy định rõ tại Điều 7 Hiến pháp 1992. Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, nhưng những vấn đề quan trọng nhất của đất nước trước khi quyết định phải lấy ý kiến của dân hoặc phải do nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc trưng cầu ý kiến của nhân dân. Ở địa phương, những vấn đề quan trọng của địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp quyết định. Trên cơ sở quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lí của địa phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết định đối với địa phương (và cấp dưới). Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể từng địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các quy định của trung ương (và cấp trên). Về mặt hoạt động, nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện ở việc phân định rõ ràng chức năng, thẩm quyền và mối quan hệ công tác giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp trên và các cơ quan nhà nước ở địa phương, cấp dưới nhằm bảo đảm sự hoạt động thống nhất, thông suốt của bộ máy nhà nước. Cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng nhất, về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước trung ương và cơ quan nhà nước cấp trên. Trong phạm vi thẩm quyền các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan cấp dưới tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề cụ thể của địa phương và cấp mình. Các cơ quan nhà nước trung ương, cấp trên có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan địa phương, cấp dưới, thậm chí có thể đình chỉ, huỷ bỏ quyết định của các cơ quan địa phương, cấp dưới của mình nếu những quyết định đó trái với luật định, nhưng đồng thời cơ quan trung ương, cấp trên cũng phải tạo điều kiện cho các cơ quan địa phương, cấp dưới phát huy quyền làm chủ, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề, gớp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyên bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình. Những vấn đề cá nhân có quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp do HĐND cùng cấp bầu ra (và do cấp trên phê chuẩn) phải thực hiện các quyết nghị của cơ quan quyền lực, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp. Nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng trong tổ chức và hoạt động trong các cơ quan nhà nước khác nhau. Có thể phác hoạ hình thức thể hiện nguyên tắc này trong từng loại cơ quan nhà nước như sau: Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Các đại biểu dân cử có thể bị nhân dân bãi nhiệm nếu không còn sự tín nhiệm của nhân dân. Các văn bản của Quốc hội và HĐND các cấp có giá trị bắt buộc đối với các cơ quan cùng cấp và dưới cấp. Tất cả những vấn đề thuộc quyền hạn của Quốc hội và HĐND các cấp đều được thảo luận một cách dân chủ, công khai trong các kì họp và quyết định theo đa số (trừ một số vấn đề đặc biệt được quyết định khi có ít nhất 23 tổng số đại biểu biểu quyết tán thành). Đối với cơ quan hành chính nhà nước, nguyên tắc này thể hiện: Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm (đối với Thủ tướng), phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ) theo đề nghị của Thủ tướng (sau khi đã được tập thể Chính phủ quyết định). Chính phủ thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định để thi hành Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội. Chính phủ thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số 8 nhóm vấn đề quan trọng, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì sẽ thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng đã biểu quyết. Thủ tướng có quyền quyết định cá nhân những vấn đề khác (Điều 20, Luật tổ chức Chính phủ nắm 2001). Uỷ ban nhân các cấp do HĐND cùng cấp bầu ra. Người đứng đầu cơ quan hành chính cấp trên có quyền phê chuẩn nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp về việc bầu UBND; có quyền điều hành hoạt động, miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của cơ quan hành chính cấp dưới trực tiếp. UBND thảo luận 6 nhóm vấn đề quan trọng. Chủ tịch UBND quyết định những vấn đề còn lại thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND. Đối với các Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ làm việc theo chế độ Thủ trưởng, bảo đảm tính dân chủ. Bộ trưởng có quyền quyết định các công việc thuộc phạm vi quản lý của bộ và chịu trách nhiệm về những quyết định đó, Bộ trưởng chịu trách nhiệm về những công việc do Bộ trực tiếp quản lý, chịu trách nhiệm liên đới về những công việc đã phân cấp cho chính quyền địa phương nhưng do Bộ không thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên và hoạt động theo chế độ Thủ trưởng. Tập trung dân chủ không phải là cơ quan cấp trên làm thay hoặc “lấn sân” cơ quan cấp dưới, đồng thời cũng không phải là việc cơ quan cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy cho cơ quan cấp trên. Trong tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân, nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện rất đa dạng như chánh toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Chánh toà án nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước HĐND cùng cấp, trả lời chất vấn của HĐND. Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Toà án các cấp. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Toà án quân sự cấp quân khu, khu vực. Việc xét xử ở Toà án có Hội thẩm tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Thẩm phán với Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang hang với Thẩm phán. Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, toà án xét xử công khai (trừ một số trường hợp đặc biệt). Toà án đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Toà án đảm bảo cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án. Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử… Đối với viện kiểm sát nhân dân (KSND), nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện mang tính đặc thù. Viện trưởng viện KSND tối cao do quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm, chịu sự giám sát của quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo trước quốc hội. Viện trưởng viện KSND địa phương do viện trưởng viện KSND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chịu sự giám sát của HĐND cùng cấp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND. Viện kiểm sát do viện trưởng lãnh đạo, viện trưởng viện KSND các địa phương, viện trưởng viện Kiểm sát Quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của viện trưởng viện KSND tối cao. Viện KSND cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của viện KSND cấp dưới. Để áp dụng có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN cần chú trọng xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử lý các vấn đề kịp thời, đúng đắn, khách quan và khoa học. Các chủ trương, quyết định của cấp trên phải được thông báo kịp thời cho cấp dưới, để cấp dưới nắm được đúng tinh thần chỉ đạo của cấp trên, từ đó chủ động giải quyết các vấn đề đúng pháp luật và đáp ứng đúng yêu cầu của cấp trên. Các hoạt động của cấp dưới phải báo cáo kịp thời và đầy đủ cho cấp trên để cấp trên nắm được và có sự chỉ đạo đối với cấp dưới. Đồng thời phải đảm bảo chế độ kỷ luật nghiêm minh trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước cấp trên phải thực hiện kiểm tra và xử lí các vi phạm một cách nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích và khen thưởng kịp thời các đơn vị cá nhân có nhiều sáng kiến, thành tích. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ cũng có nghĩa là phải kiên quyết đấu tranh với thói tập trung quan liêu, bệnh vô tổ chức, vô chính phủ Nguyên tắc tập trung dân chủ có nội dung chủ yếu như trên nhưng khi thực hiện trong các cơ quan nhà nước khác nhau, trong các ngành và lĩnh vực khác nhau thì nó lại mang tính chất và đặc điểm khác nhau. Thí dụ: việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các cơ quan văn hóa – sản xuất có những đặc điểm riêng so với việc thực hiện những nguyên tắc này trong các cơ quan an ninh, quốc phòng. Hơn nữa, khi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải xuất phát từ tình hình và nhiệm vụ của từng giai đoạn tuỳ theo thái độ, tình hình kinh tế sản xuất mà vận dụng cho thích hợp. Chẳng hạn như khi đất nước đã chuyển sang thời kì xây dựng trong hoà bình thì không thể xây dựng nguyên tắc tập trung dân chủ như trong thời kì chiến tranh. Nguyên tắc tập trung dân chủ cần được bổ sung những nội dung mới phù hợp với cuộc sống luôn biến đổi, năng động. Đối với Việt Nam, thực trạng áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ đã đạt được những thành tựu, đáng chú ý nhất là trong việc đổi mới tư duy nhận thức về nội dung và yêu cầu của tập trung dân chủ trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập như: chưa phân định rõ chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, của cá nhân trong chỉ đạo điều hành; tập trung dân chủ trong quan hệ giữa các cấp cơ quan chưa rõ ràng, nhất là yếu tố tập trung chưa được đảm bảo làm cho trật tự, kỉ cương lỏng lẻo, nảy sinh tình trạng “trên bảo dưới không nghe”; tư tưởng về tập trung bao cấp trong cán bộ công chức còn khá nặng nề, nhất là các cấp chính quyền địa phương làm cho bộ máy trì trệ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa các bộ, ngành còn chồng chéo, tập trung còn thiếu đồng bộ trong khi dân chủ chưa thực sự được phát huy. Giải pháp: Thiết lập các hình thức cụ thể về trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của cá nhân. Giảm cấp phó để tập trung quyền lực vào người đứng đầu, đồng thời để xác định rành mạch hơn thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu. Kiên trì khẳng định vị trí vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. KẾT LUẬN Có thể nói dân chủ là bản chất của nhà nước XHCN. Có bảo đảm dân chủ mới có thể phát huy trí tuệ và sức mạnh của tập thể, phát huy tính chủ động và sức sáng tạo của nhân dân. Tuy nhiên nếu quá đề cao yếu tố dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, vô chính phủ… Do vậy, dân chủ phái gắn liền với tập trung. Trong quản lý nhà nước, quản lý sản xuất đỏi hỏi phải có sự tập trung quyền lực, có tập trung mới quản lý được sản xuất, mới thiết lập được trật tự xã hội. Tuy nhiên nếu quá tập trung sẽ dẫn tới tập trung quan liêu, lạm quyền, độc đoán, vì vậy tập trung phải đi liền với dân chủ. Như vậy, tập trung dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất không thể tách rời. Vấn đề quan trọng của sự vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ là tìm tỉ lệ kết hợp tối ưu hai mặt tập trung và dân chủ trong tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực, ngành cụ thể, trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, thậm chí là từng vấn đề cụ thể. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phải là một hoạt động thường xuyên trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng.
Xem thêm

Đọc thêm

Ấn tượng những xu hướng bầu bí hot nhất năm 2014

ẤN TƯỢNG NHỮNG XU HƯỚNG BẦU BÍ HOT NHẤT NĂM 2014

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cuộc sống vật chất đầy đủ, hiện đại dường như cũng kéo theo đời sống tinh thần của con người phong phú hơn. Vì thế ngày nay, thai kỳ 9 tháng của một mẹ bầu không trôi qua đơn giản mà phong phú hơn rất nhiều. Các mẹ bầu đã nghĩ ra rất nhiều cách để lưu giữ những khoảnh khắc tuyệt đẹp thời gian “đeo bao lô ngược” và có những cách đã trở thành xu hướng của năm 2014 được rất nhiều mẹ bầu làm theo. Hãy cùng điểm lại những xu hướng lưu giữ kỷ niệm mang thai hot nhất năm 2014: Chụp ảnh sinh đẻ Đối với nhiều phụ nữ, giây phút đón con chào đời là khoảnh khắc riêng tư mà chỉ họ, bác sĩ hoặc bà đỡ và có chăng là người chồng biết. Thế nhưng cuộc sống hiện đại nên suy nghĩ của con người cũng tân tiến hơn. Họ muốn ghi lại khoảnh khắc kỳ diệu này để chia sẻ với tất cả mọi người và để làm kỷ niệm cho tương lai, để làm món quà cho con yêu sau này lớn lên. Vì thế mà dịch vụ chụp ảnh sinh nở ra đời.   Hình ảnh chân thực về ca sinh thường của một sản phụ được chụp lại bởi chính chồng mình.   Xu hướng chụp ảnh khi sinh nở đang dần được nhiều mẹ Việt thích thú. Còn gì tuyệt vời hơn khoảnh khắc đau đẻ, khoảnh khắc con ra khỏi cơ thể mẹ, giây phút con bú dòng sữa ấm nóng đầu tiên… được ghi lại dưới góc máy của nhiếp ảnh gia. Xu hướng chụp ảnh sinh nở đã rất phổ biến ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ trở lại đây và bây giờ nó đã lan rộng ra toàn thế giới đặc biệt là những đất nước phát triển như Anh, Pháp, Nga. Tại Việt Nam, xu hướng này cũng bắt đầu nhen nhóm. Theo thống kê mới nhất, ngày càng nhiều mẹ bầu sắp đến ngày sinh nở gọi điện cho nhiếp ảnh gia với yêu cầu được ghi lại khoảnh khắc sinh nở. Tỷ lệ những bà mẹ có nhu cầu chụp ảnh sinh con đã tăng 112% so với thời điểm này năm ngoái, kết quả thống kê mới nhất cho biết. 20% các mẹ bầu được hỏi chia sẻ rằng họ đang cân nhắc hoặc sẽ thuê nhiếp ảnh gia để ghi lại khoảnh khắc sinh nở. Chi phí cho một bộ ảnh sinh nở khoảng 15-35 triệu nếu mẹ thuê nhiếp ảnh gia riêng. Tuy nhiên, các mẹ cũng có thể tiết kiệm tiền bằng cách nhờ người thân hoặc chính người chồng tự chụp ảnh quá trình sinh nở. Mời các mẹ xem tận mắt bộ ảnh một ca sinh thường của mẹ Việt tại đây. Vẽ tranh trên bụng bầu Vẽ tranh trên bụng bầu có thể được coi là xu hướng mới nhất được nhiều mẹ bầu thích thú. Các mẹ có thể tự tay vẽ tranh hoặc nhờ người vẽ hộ. Với những dịch vụ vẽ tranh trên bụng bầu, các mẹ chỉ cần nằm thư giãn trong khoảng 1 giờ là đã có được một tác phẩm tuyệt đẹp và được các nhiếp ảnh gia tại cửa hàng vẽ tranh chụp lại để làm kỷ niệm.   Vẽ tranh trên bụng bầu có thể được coi là xu hướng mới nhất được nhiều mẹ bầu thích thú. Tuy nhiên, việc làm này dường như không có nhiều ý nghĩa bằng việc tự tay mẹ mài mực rồi vẽ những suy nghĩ, những sở thích của mình về con yêu lên bụng. Ngày nay, rất nhiều mẹ đã tự tay thiết kế những bức họa cho chính bụng bầu của mình như mẹ Luo ở Trung Quốc. Bà mẹ này đã vẽ rất nhiều tranh trên bụng bầu và mỗi bức vẽ của chị mất khoảng 3-5 giờ. Để có được những bức vẽ này, người ta dùng loại sơn để vẽ mặt và bàn chải mềm, đủ nhẹ để không hề làm đau bụng bầu. Loại sơn này cũng dễ dàng rửa sạch khi mẹ muốn xóa đi. Rất nhiều ngôi sao nổi tiếng như Alessandra Ambrosio , Hilary Duff và Mariah Carey cũng đã từng vẽ tranh trên bụng bầu để làm kỷ niệm. Thời điểm bụng bầu đẹp nhất để vẽ tranh là 6-8 tháng và đương nhiên những bức hình tuyệt đẹp này sẽ theo mẹ đến suốt cuộc đời. Làm sách “Nhật ký mang thai”   Không chỉ chụp ảnh khi sinh nở, rất nhiều mẹ bầu đã “đầu tư” chụp ảnh cả thai kỳ để làm kỷ niệm. Hầu như mỗi tuần, mỗi tháng mẹ đều chụp ảnh sự lớn lên của bụng bầu để nhận thấy sự thay đổi rõ rệt. Với những bức ảnh này, các mẹ thường dựng thành video hoặc sách để người xem có cái nhìn rõ nét về 9 tháng mang bầu. Xu hướng này cũng đang được các mẹ trẻ vô cùng thích thú. Xem một bộ sách ảnh sinh nở tại đây. Chụp ảnh bầu dưới nước   Ảnh chụp dưới nước của MC Ốc Thanh Vân. Lưu giữ lại những hình ảnh tuyệt đẹp trong 9 tháng mang thai là việc làm của hầu hết các mẹ bầu. Thông thường chị em hay chụp ảnh nude trong phòng tối, chụp ảnh trước biển hay chụp ảnh bên hoa... Tuy nhiên, một xu hướng mới rất 'hot' đang thu hút sự quan tâm và thích thú của hầu hết mẹ bầu đó là chụp ảnh bầu dưới nước. Xu hướng này xuất phát từ phương Tây và đang được nhiều mẹ bầu Việt truyền tai nhau. Việc chụp ảnh bầu dưới nước sẽ giúp mẹ dễ dàng khoe cơ thể sexy của mình trong làn nước mờ ảo. Xu hướng chụp ảnh dưới nước được lấy ý tưởng từ bào thai trong bụng mẹ cũng trôi nổi trong bọc ối. Mới đây nhất, MC Ốc Thanh Vân cũng đã có bộ ảnh bầu dưới nước vô cùng đẹp mắt. Trực tiếp ca đẻ trên mạng Việc chụp ảnh chỉ có thể gián tiếp ghi lại được quá trình sinh nở của mẹ khi người khác xem, ngày nay rất nhiều mẹ muốn cả thế giới đặc biệt là người thân, bạn bè của mình biết được mình đang đau đẻ, sinh con như thế nào. Và xu hướng trực tiếp ca sinh nở qua mạng xã hội ra đời.   Vừa đau đẻ, sản phụ vừa liên tục cập nhật trên Twitter Xu hướng này đang cực kỳ “hot” ở những đất nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ… Rất nhiều mẹ bầu dù phải đối mặt với những cơn đau đẻ kinh khủng nhưng vẫn dành thời gian để đăng tải những “status” về quá trình sinh nở của mình trên Twitter. Họ cho rằng việc làm này giúp các mẹ “giết” thời gian và quên đi cơn đau đẻ. Việc đăng tải những chia sẻ của mình và nhận được những lời khuyên của bạn bè, người thân cũng giúp sản phụ cảm thấy được an ủi và tiếp thêm sức mạnh đối mặt với những cơn đau. Xu hướng trực tiếp ca sinh nở trên mạng cũng bắt đầu manh nha ở châu Á. Cách đây không lâu, mẹ bầu Ray ở Hồ Nam, Trung Quốc cũng vừa đẻ vừa cập nhật tình hình của mình trên mạng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

VĂN BẢN HÀNH CHÍNH: HƯỚNG DẪN ĐẠI HỘI ĐOÀN HDDHD

VĂN BẢN HÀNH CHÍNH: HƯỚNG DẪN ĐẠI HỘI ĐOÀN HDDHD

Số phiếu phát ra = 19; số phiếu thu vào 18. (vì có thể 1 đoàn viên nhận phiếu nhưng vì lý dođột xuất nào đó lại không bỏ).Số phiếu hợp lệ =16; phiếu không hợp lệ = 2Như vậy, người trúng cử phải có số phiếu hợp lệ ghi tên người đó tối thiểu phải có 10/18.Còn phiếu không hợp lệ có ghi tên ai thì cũng không được tính. Tuy vậy, phiếu không hợp lệvẫn có ảnh hưởng tới kết quả vì nó vẫn nằm trong tổng số để tính tỷ lệ. (Ví dụ có ngườiđược 10 phiếu bầu nhưng lại nằm ở 2 phiếu không hợp lệ thì chỉ được (tính 8/18 phiếu, nhưvậy không trúng cử).Tuy nhiên, dù được 10/18 phiếu bầu, nhưng cũng có thể không trúng của khi thứ tự số phiếucủa người này dưới số lượng định bầu. (ví dụ: Danh sách bầu của 5 người để lấy 3 người.Mặc dù đã trúng quá 1/2 (10/18) nhưng lại xếp thứ 4 nên vẫn không trúng cử).- Trường hợp bầu lần thứ nhất chưa đủ số lượng đã quyết định bầu, thì việc có tiếp tục bầunữa hay không do đại hội, hội nghị quyết định.- Nếu đại hội, hội nghị tiến hành bầu lần thứ 2 mà vẫn thiếu số lượng định bầu thì khôngtiến hành bầu tiếp nữa. Nếu là bầu các chức danh chủ chốt của Đoàn thì báo cáo với cấp uyvà Đoàn cấp trên trực tiếp quyết định, nếu là bầu đại biểu đi dự đại hội Đoàn cấp trên thìbáo cáo để Ban Chấp hành cấp triệu tập đại hội quyết định.III. TRÌNH TỰ ĐẠI HỘI CHI ĐOÀN:Đại hội chi đoàn thông thường không tiến hành họp trù bị, nên trình tự như sau:+ Ôn định tổ chức.+ Nghi lễ chào cờ (hát Quốc ca, và bài ca chính thức của Đoàn: Bài Thanh niên làm theolời Bác - Nhạc là lời: Hoàng Hòa).+ Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu (Bí thư thực hiện)+ Bầu chủ tịch Đại hội và giới thiệu thư ký. (Bầu bằng biểu quyết giơ tay).+ Đọc báo cáo Đại hội và phương hướng nhiệm kỳ đến (do Bí thư trình bày, trường hợp đặcbiệt có thể Phó bí thư nhưng phải là chủ tịch Đại hội).+ Đại hội thảo luận báo cáo và phương hướng đại hội.+ Đại biểu chi ủy và Đoàn cấp trên phát biểu ý kiến chỉ đạo. (Cấp ủy phát biểu trước, Đoàncấp trên phát biểu sau. Mỗi ý kiến phát biểu xong, Bí thư chi đoàn đáp từ từng người một).+ Tổng kết phần thảo luận của chi đoàn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

HUONG DAN DAI HOI CHI DOAN(1) (1)

HUONG DAN DAI HOI CHI DOAN(1) (1)

- Những đoàn viên vắng mặt có lý do thì đại biểu của Đại hội vẫn có quyền đề cửngười đó vào BCH và bầu đại biểu dự Đại hội Đoàn cấp trên.- Khi người được đề cử có ý kiến rút tên khỏi danh sách đề cử (hoặc người đề cử xinrút ý kiến đề cử người vắng mặt) thì việc rút tên hay không rút tên khỏi danh sách bầucử sẽ do chủ tịch Đại hội hội ý và thông báo. Nếu chủ tịch Đại hội có 1 người thì cầnxin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy và Đoàn cấp trên. Việc cho rút tên hay không cho rútkhông cần phải lấy biểu quyết Đại hội.- Chỉ nên cho rút những người ngoài nguồn nhân sự chuẩn bị của BCH khóa củ. Tuynhiên những người trong nguồn vẫn cố ý xin rút thì xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy vàĐoàn cấp trên.- Sau khi chốt danh sách ứng cử, đề cử, phải lấy biểu quyết Đại hội về danh sách bầucử. Sau đó chủ tịch Đại hội dự kiến lập Ban kiểm phiếu và lấy biểu quyết Đại hội vềBan kiểm phiếu.- Ban kiểm phiếu làm việc, chỉ tịch Đại hội nên rời vị trí chuyển xuống dưới cùngngồi với đại biểu.- Ban kiểm phiếu thông báo nguyên tắc, thể lệ bầu cử, nói rõ như thế nào là phiếu hợplệ, không hợp lệ để đại biểu khỏi mắc phải, thực hiện việc phát phiếu, sau đó thuphiếu. Đại biểu bỏ phiếu xong, kiểm tra lại để thông báo với Đại hội về tổng số phiếuphát ra, phiếu thu vào, sau đó mang phiếu đến nơi khác kiểm phiếu. Kiểm phiếu xongtrở lại thông báo kết quả bầu cử.2. Các bước thực hiện sau Đại hội:- BCH mới họp phiên thứ nhất để bầu Bí thư, Phó bí thư và phân công nhiệm vụ đốivới từng ủy viên. (cuộc họp này phải mời cấp ủy và Đoàn cấp trên dự chỉ đạo)- Gửi hồ sơ lên Đoàn cấp trên để Đoàn cấp trên công nhận BCH. Hồ sơ gồm: Biênbản Đại hội; Biên bản kiểm phiếu bầu BCH; Biên bản họp phiên thứ nhất của BCHvà biên bản kiểm phiếu bầu Bí thư và Phó bí thư; danh sách trích ngang BCH.- BCH và các chức danh mới được bầu có quyền điều hành công việc ngay sau khiđược phân công và được công nhận chính thức khi có quyết định chuẩn y của Đoàncấp trên.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Goi y tra loi cau hoi cuoc thi viet tim hieu HP chính thức

Goi y tra loi cau hoi cuoc thi viet tim hieu HP chính thức

GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI CUỘC THI VIẾT “TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” Câu 1. Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào? Gợi ý trả lời: Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có 05 bản Hiến pháp. Cụ thể là các bản Hiến pháp sau đây: 1. Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua vào ngày 09 tháng 11 năm 1946. 2. Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua vào ngày 31121959.
Xem thêm

Đọc thêm

mẫu hợp đồng kinh tế

mẫu hợp đồng kinh tế

Căn cứ vào luật dân sự số 332005QH 11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 1462005, có hiệu lực từ ngày 01012006; Căn cứ vào luật doanh nghiệp số 602005QH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29112005, có hiệu lực từ ngày 01072006; Căn cứ vào luật thương mại số 362005QH 11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 1462005, có hiệu lực từ ngày 01012006; Căn cứ vào nhu cầu và khả năng của hai bên, Hôm nay, ngày 25 tháng 05 năm 2017, chúng tôi gồm có:
Xem thêm

Đọc thêm

bài lớn môn Hiến Pháp Việt Nam

BÀI LỚN MÔN HIẾN PHÁP VIỆT NAM

Trong bộ máy nhà nước ta,Quốc hội chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng.Bởi vì, theo Hiến pháp năm 1992, Điều 83 thì: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực.Nhà nước cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.” Để hiểu sâu hơn về Quốc hội em xin trình bày đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội Thực trạng và giải pháp”.
Xem thêm

10 Đọc thêm

VĂN BẢN PHÁP LUẬT MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

VĂN BẢN PHÁP LUẬT MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

LUẬT Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 512001QH10; Quốc hội ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật 1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. 2. Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Điều 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. 2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. 3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. 4. Nghị định của Chính phủ. 5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. 6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Xem thêm

303 Đọc thêm

Cùng chủ đề