VAI TRÒ CỦA THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VAI TRÒ CỦA THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ":

Tổng hợp môn hợp đồng thương mại quốc tế

Tổng hợp môn hợp đồng thương mại quốc tế

nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế×luật hợp đồng thương mại quốc tế×giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế×hợp đồng thương mại quốc tế là gì×kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế×những nguyên tắc trong hợp đồng thương mại quốc tế× Từ khóa hợp đồng thương mại quốc tếgiáo trình về luật hợp đồng thương mại quốc tếhợp đồng thương mại quốc tế mẫuhợp đồng thương mại quốc tế mẫu bằng tiếng anh

Đọc thêm

Nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan trong tiến trình tự do hóa thương mại nông sản với các nước nhật bản, trung quốc, hàn quốc, ấn độ

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN VỚI CÁC NƯỚC NHẬT BẢN, TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, ẤN ĐỘ

Nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan trong tiến trình tự do hóa thương mại nông sản với các nước nhật bản, trung quốc, hàn quốc, ấn độ

95 Đọc thêm

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2 DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU 3 LỜI MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 7 1.1.1 Khái niệm về vốn 7 1.1.2 Đặc điểm của vốn 8 1.1.3 Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 9 1.1.4 Phân loại vốn 10 1.2 Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động. 11 1.2.1 Tổng quan về vốn lưu động 11 1.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 21 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ INDICO. 30 2.1 Khái quát về công ty Cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 30 2.1.1 Tên và địa chỉ công ty. 30 2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty. 32 2.1.3 Đặc điểm, nhiệm vụ 33 2.1.4 Ngành nghề kinh doanh của công ty. 33 2.1.5 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Cổ phần May và Thương mại quốc tế INDICO. 34 2.1.6. Mô hình bộ máy Ban Tài chínhKế toán 36 2.1.7 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần May và Thương mại quốc tế INDICO. 39 2.1.8 Cơ cấu lao động của công ty. 40 2.1.9 Khái quát tình hình tài chính của công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 43 2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDIC 49 2.2.1 Nguồn hình thành vốn lưu động 49 2.2.2 Diễn biến, cơ cấu vốn lưu động của công ty qua các năm 52 2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn lưu động của công ty. 59 2.2.4 Hiệu quả sử dụng từng bộ phận vốn lưu động 61 2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 72 2.3.1 Những thành quả đạt được trong công tác sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 72 2.3.2 Những hạn chế cần khắc phục trong việc sử dụng vốn tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 74 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ INDICO. 75 3.1 Định hướng phát triển công ty. 75 3.1.1 Các mục tiêu chủ yếu của công ty. 75 3.1.2. Chiến lược phát triển trung và dài hạn. 75 3.1.3. Các mục tiêu đối với môi trường, xã hội và cộng đồng của Công ty. 76 3.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 77 3.3. Một số kiến nghị về chính sách vĩ mô của Nhà nước để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần may và thương mại quốc tế INDICO. 82 KẾT LUẬN 84 CÁC PHỤ LỤC 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Xem thêm

Đọc thêm

Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại quốc tế

Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại quốc tế

MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6 LỜI NÓI ĐẦU 7 CHƯƠNG I 8 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 8 1.1. Sự cần thiết tổ chức kế toán bán hàng và kết quả bán hàng trong DN 8 1.1.1.Quá trình bán hàng, kết quả bán hàng. 8 1.1.2.Yêu cầu quản lý quá trình bán hàng, kết quả bán hàng. 9 1.1.3.Vai trò, nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng. 10 1.2. Lý luận cơ bản về bán hàng và kết quả bán hàng 11 1.2.1.Phương thức bán hàng 11 1.2.2.Doanh thu bán hàng 12 1.2.4. Giá vốn hàng tiêu thụ, giá vốn hàng xuất bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho hàng tiêu thụ 14 1.2.5 Doanh thu hoạt động tài chính, chi phí hoạt động tài chính. 18 1.2.6. Kế toán các khoản chi phí và thu nhập khác 19 1.2.7. Xác định kết quả kinh doanh. 19 1.3. Tổ chức kế toán bán hàng và kết quả bán hàng trong doanh nghiệp 20 1.3.1. Chứng từ tài khoản kế toán sử dụng 20 1.3.2. Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng 24 1.3.3. Sổ và báo cáo kế toán sử dụng 26 CHƯƠNG II 29 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 29 2.1. Đặc điểm chung của công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Quốc tế 29 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty. 29 2.1.2. Đặc điểm kinh doanh và tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại quốc tế 32 2.1.2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty. 32 2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động quản lý của công ty ICT. 2.1.3.1 Mô hình tổ chức bộ máy công ty 33 2.1.3.2 Đặc điểm quản lý và chức năng nhiệm vụ vủa từng phòng ban 35 2.1.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán 36 2.1.4.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán. 36 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Quốc tế là công ty thương mại có quy mô lớn và mạng lưới chi nhánh, xí nghiệp trực thuộc trải dài khắp cả nước, công ty áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung phân tán. 36 2.1.4.2. Nhiệm vụ của các bộ phận kế toán trong phòng kế toán. 37 2.1.5. Hình thức sổ kế toán áp dụng ở công ty. 39 2.1.6. Vận dụng chế chính sách kế toán tại công ty 41 2.1.6.1. Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng 41 2.1.6.2. Chính sách kế toán 41 2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hâng ở công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Quốc tế. 43 2.2.1. Tổ chức kế toán hàng hoá xuất kho và phương pháp xác định giá vốn hàng xuất bán. 44 2.2.1.1. Phương pháp xác định trị giá vốn thực tế hàng mua vào. 44 2.2.1.2. Phương pháp xác định trị giá vốn thực tế hàng xuất bán 45 2.2.2. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu 65 2.2.2.1. Kế toán doanh thu bán hàng 65 2.2.2.2. Ké toán các khoản giảm trừ doanh thu 69 2.2.3. Kế toán thuế GTGT đầu ra và thuế xuất nhập khẩu 69 2.2.4. Kế toán CPBH và CPQLDN 70 2.2.4.1. Kế toán CPBH 70 2.2.4.2. Chi phí quản lý doanh nghiệp 75 2.2.5.Kế toán chi phí hoạt động tài chính và doanh thu hoạt động tài chính 78 2.2.5.1. Kế toán chi phí hoạt động tài chính 78 2.2.5.2.Kế toán doanh thu hoạt động tài chính 80 2.2.6Kế toán xác định kết quả bán hàng 81 CHƯƠNG III 86 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 86 3.1.Nhận xét 86 3.1.1.Ưu điểm 86 3.1.2. Những điểm cần hoàn thiện 87 3.2. Một số ý kiến cần hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại quốc tế 88 3.2.1. Công ty cần xây dựng hệ thống danh mục khách hàng thống nhất toàn công ty 88 3.2.2 Công ty nên xem xét mở thêm sổ kế toán để hoàn thiện hệ thống sổ kế toán 89 3.2.3. Việc áp dụng phần mềm kế toán máy vào công tác kế toán 90 KẾT LUẬN 91 Tài liệu tham khảo 92
Xem thêm

Đọc thêm

Phân biệt 2 công cụ của chính sách thương mại quốc tế thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu liên hệ thực tiễn việt nam

Phân biệt 2 công cụ của chính sách thương mại quốc tế thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu liên hệ thực tiễn việt nam

Phân biệt 2 công cụ của chính sách thương mại quốc tế thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu liên hệ thực tiễn việt nam

Đọc thêm

Power Point Đề bài 4: Bình luận hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN trong lĩnh vực du lịch

Power Point Đề bài 4: Bình luận hoạt động tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN trong lĩnh vực du lịch

Tự do thương mại là sự nới lỏng của nhà nước hay chính phủ trong lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.Nội dung của tự do thương mại hoá dịch vụ là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động thương mại dịch vụ quốc tế cả bề rộng và bề sâu. Các biện pháp ở đây là điều chỉnh theo hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp trên cơ sở các thoả thuận song phương và đa phương với các quốc gia.
Xem thêm

Đọc thêm

CS thúc đẩy xuất khẩu singapore 2006 2015

CS thúc đẩy xuất khẩu singapore 2006 2015

Mục lụcLỜI NÓI ĐẦU11.Tổng quan chung về Singapore21.1. Vị trí địa lý và sơ lược về lịch sử hình thành21.2. Thể chế chính trị21.3. Tổng quan tình hình kinh tế31.4. Văn hóaxã hội, tôn giáo52.Thực trạng và đánh giá chính sách xuất khẩu singapore (2006 2015)62.1.Thực trạng chính sách xuất khẩu của Singapore (2006 – 2015)62.1. Chú trọng hơn việc thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại62.2. Đa dạng hóa thị trường92.3. Một sô chính sách Singapore vẫn áp dụng hạn chế đén nay102.2.Đánh giá chung về chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Singapore163.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam183.1 Chính sách thúc đẩy xuất khẩu liên quan đến thuế193.2. Chính sách tự do hóa thương mại213.3. Chính sách liên quan đến tín dụng, ngân hàng233.4. Một số chính sách khác24DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO25 LỜI NÓI ĐẦU“…Tạo niềm tin người tài luôn đứng ở vị trí caoBiệt đãi người tài không chưa đủ, mà cần tạo niềm tin ở nơi họ. Những người tài ngoài thu nhập, nhu cầu được cống hiến, được tôn trọng và được vinh danh là rất lớn.Thực tế quản lý bộ máy đất nước Singapore cho thấy, những người đứng đầu đất nước Singapore hiện nay đều là những người rất giỏi. Bản thân ông Lý Quang Diệu – Thủ tướng đầu tiên của quốc đảo tốt nghiệp ngành luật tại trường đại học danh tiếng Cambridge. Cựu Thủ tướng Goh Chok Tong cũng tốt nghiệp trường Williams College, Mỹ, về chuyên ngành Phát triển kinh tế. Đương kim Thủ tướng Lý Hiển Long cũng tốt nghiệp trường Đại học Cambridge của Anh về ngành toán và vi tính. Sau đó ông Lý Hiển Long còn tham gia học về ngành Hành chính công tại Đại học Harvard – Mỹ….Không phải ngẫn nhiên tạp chí Foreign Policy xếp Singapore là quốc gia toàn cầu hóa nhất trên thế giới. Với một chính sách bài bản và đúng đắn như vậy, Singapore xứng đáng với tên gọi “Trung tâm thu hút nhân tài” của thế giới.”Đoạn trên được trích từ bài báo về “Chính sách thu hút nhân tài của Singapore: Bài bản và chuyên nghiệp” của báo Dân trí. Đoạn trên đã thể hiện được chiến lược rõ ràng của một quốc gia nhỏ bé nhưng đầy sức mạnh. Singapore đã lấy con người làm trung tâm của sự phát triển. Quốc gia phát triển có rất nhiều yếu tố, nhưng đối với những Singapore chính sách xuất khẩu vẫn luôn là vấn đề với quốc gia phụ thuộc nhiều vào bên ngoài này. 1.Tổng quan chung về Singapore1.1. Vị trí địa lý và sơ lược về lịch sử hình thànhVị trí địa lýCộng hòa Singapore là quốc gia nhỏ nhất vùng Đông Nam Á với diện tích khoảng 697,25 km², nằm phía Nam của bán đảo Malaysia, tiếp giáp tiểu ban Johor của Malaysia về phía Bắc và đối diện đảo Riau của Indonesia về phía Nam. Đất nước Singapore bao gồm một hòn đảo chính và trên dưới 60 hòn đảo lớn nhỏ nằm ở cực Nam của bán đảo Malaysia. Thủ đô của nước này, cũng với tên gọi là Singapore, chiếm một phần ba diện tích hòn đảo chính. Trong số những đảo nhỏ, ba hòn đảo Pulau Tekong, Pulau Ubin và Sentosa có diện tích lớn nhất.Lịch sử hình thànhSingapore là thuộc địa của Anh từ năm 1819, sau đó tham gia vào Liên bang Malaysia năm 1963 và tách ra thành một quốc gia độc lập vào ngày 08 tháng 09 năm 1965. Singapore với sự lãnh đạo tài tình của Thủ tướng Lý Quang Diệu đã trở thành một quốc gia thịnh vượng vào bậc nhất trên thế giới với liên kết kinh doanh quốc tế mạnh mẽ (cảng biển của Singapore là một trong những cảng biển tấp nập nhất thế giới). Năm 2014, GDP bình quân đầu người của Singapore là 82,762 USD, là một trong những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới.Dân số: khoảng 5,47 triệu dân (2014)Đơn vị tiền tệ: Dollar Singapore (SGD)1.2. Thể chế chính trịThể chế chính trị của Singapore theo thể chế Cộng hoà nghị viện (dân chủ nghị viện), chế độ một viện (từ năm 1959), có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử.Hiến pháp của quốc gia thiếp lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện. Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo và ở một mức độ thấp hơn là Tổng thống.Tổng thống hiện tại: Trần Khánh ViêmThủ tướng hiện tại: Lý Hiển Long1.3. Tổng quan tình hình kinh tếSingapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu chủ yếu đều phải nhập từ bên ngoài, hàng năm đều phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và nước ngọt để đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, Singapore đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp phát triển hàng đầu châu Á và trên thế giới như: cảng biển, hệ thống giao thông, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp linh kiện...Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công. Người dân Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa đa dạng, lành mạnh và không tham nhũng, thu nhập bình quân đầu người vào hàng cao nhất thế giới. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là khu công nghiệp Jurong. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu châu Á. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ. Tuy nhiên, năm 2014 Singapore cũng được đưa vào danh sách 10 quốc gia đắt đỏ nhất thế giới.Nền kinh tế Singapore phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm và lĩnh vực ngân hàng tài chính. Năm 2012 do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP của Singapore chỉ đạt 1.3% tuy nhiên đã tăng lên 3.7% vào năm 2013, tỷ lệ lạm phát ở mức 1.5%, năm 2014 tăng 2,9% nhưng 2015 giảm 2%. Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của Singapore (nguồn: website www.tradingeconomics.com)Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm ở Singapore trung bình 6.82 phần trăm từ năm 1976 đến năm 2015, đạt mức cao nhất của 18,90 phần trăm trong quý thứ hai của năm 2010 và mức thấp kỷ lục của 8,80 phần trăm trong quý đầu tiên của năm 2009.Singapore hiện là quốc gia đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức với mục tiêu đến năm 2018 sẽ trở thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và khu vực châu Á. Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đôi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối cuat mạng lưới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á.Các tổ chức quốc tế đã gia nhập: ADB, AOSIS, APEC, ARF, ASEAN, BIS, C, CP, EAS, FATF, G77, IAEA, IBRD, ICAO, ICC, ICRM, IDA, IFC, IFRCS, IHO, ILO, IMF, IMO, Interpol, IOC, IPU, ISO, ITSO, ITU, ITUC, MIGA, NAM, OPCW, PCA, UN, UNCTAD, UNESCO, UNMIT, UPU, WCO, WHO, WIPO, WMO, WTO.1.4. Văn hóaxã hội, tôn giáoVăn hóaxã hộiGiáo dục bắt buộc và miễn phí 10 năm (từ 6 đến 16 tuổi). Sau khi học xong 6 năm tiểu học, học sinh phải học 4 năm trung học, có tới 100% học sinh học qua tiểu học vào khoảng 70% học lên trung học. Tất cả trẻ em học xong trung học có thể vào học ở các trường dạy nghề hoặc đại học. Trẻ em được học bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh. Trường đại học Quốc gia Singapore thành lập năm 1988 có nhiều chuyên ngành khác nhau. Thanh niên thường đi du học đại học ở nước ngoài để có bằng cấp cao hơn.Danh thắng du lịch: Sentosa, Merlion, vịnh Marina Bay, khu vườn Garden by the Bay, nhà hát Victoria, Singapore Flyer, Phim trường Singapore Universal, Vườn thú Safari, vườn chim Jurong... Khu mua sắm: Orchard road, Bugis, Marina Bay Sand, Vivo City, Mustafa...Tôn giáoSingapore là một quốc gia đa tôn giáo, theo thống kê khoảng 51% dân số Singapore theo Phật giáo và Đạo giáo, 15% dân số(chủ yếu là người Hoa, người gốc Âu và người Ấn Độ) là tín đồ Đạo Cơ Đốc. Hồi giáo chiếm khoảng 14% dân số, chủ yếu tồn tại trong cộng đồng người Mã Lai, người Ấn Độ theo Hồi giáo và người Hồi (người Hoa theo Hồi giáo). Có khoảng 15% dân số Singapore tuyên bố không theo tôn giáo, các tôn giáo khác chiếm không đáng kể. Xã hội Singapore là một xã hội đa sắc tộc gồ nhiều nền văn hóa khác nhau như Trung Quốc, Ấn Độ, Mã Lai,…Ngôn ngữ chính: Tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng Ma lai 2.Thực trạng và đánh giá chính sách xuất khẩu singapore (2006 2015)2.1.Thực trạng chính sách xuất khẩu của Singapore (2006 – 2015)Singapore đang thực1 hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh. Để đạt được mục tiêu trên, thời gian vừa qua, trong giai đoạn 2009 – 2015, Singapore đã thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế trong thương mại hàng hóa, đem lại nhiều kết quả đáng ngưỡng mộ cho đảo quốc Sư Tử này.2.1. Chú trọng hơn việc thực hiện các cam kết tự do hóa thương mạiChính phủ chú trọng hơn việc thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại trong khối mậu dịch tự do AFTA, tích cực tham gia các vòng đàm phán, kí kết các hiệp định để nhận các khoản ưu đãi từ các hiệp định này trong xuất khẩu hàng hóa.Cụ thể, Singapore có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia có chủ quyền. Là một trong năm thành viên sáng lập của ASEAN, Singapore là một quốc gia ủng hộ mạnh mẽ đối với Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Khu vực đầu tư ASEAN. Cựu Thủ tướng Ngô Tác Đống đề xuất hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) , một bước vượt qua AFTA, đưa Đông Nam Á tiến gần hơn đến một thị trường chung. Có thể nói đây chính là tầm nhìn rất chiến lược nhằm mở rộng thị trường hàng hóa cho đất nước này. Singapore cũng duy trì tư cách thành viên trong các tổ chức khu vực khác như Hội nghị ÁÂu, Diễn đàn Hợp tác Đông ÁMỹ Latinh, Hệ thống các thành phố lớn châu Á, và Hội nghị cấp cao Đông Á.Đặc biệt, trong năm 2015, Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương TPP đã hoàn thành việc đàm phán tại Hoa Kì, mở ra cơ hội lớn trong xuất khẩu hàng hóa cho các nước tham gia kí kết, trong đó cũng có Singapore. Có thể coi đây là một trong những chiến lược lớn của Singapore nhằm mở rộng thị trường hàng xuất khẩu của mình. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nhấn mạnh rằng đây là một thời khắc lịch sử và ông rất hài lòng khi thỏa thuận về TPP đã đạt được sau hơn 5 năm đàm phán. Ông nhận định tham gia TPP với một khu vực bao gồm 12 nền kinh tế lớn trong khu vực châu ÁThái Bình Dương; trong đó có Mỹ, Nhật Bản, Malaysia, Việt Nam, Australia, Mexico và Peru, Singapore sẽ có nhiều cơ hội hơn để có thể mở rộng thị trường xuất khẩu tại những nước này và nhà đầu tư sẽ có một “sân chơi” rộng với mức độ mở cửa nhiều hơn…Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) Lim Hong Kiang cho biết TPP sẽ làm thay đổi khu vực này bằng cách giảm đáng kể hàng rào thuế quan và phi thuế quan cho cả hàng hóa và dịch vụ, khuyến khích đầu tư lớn hơn cũng như giải quyết các thách thức thương mại mới trong nền kinh tế hiện đại, giúp Singapore thâm nhập vào một số nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ và Nhật Bản. TPP cũng sẽ giúp mở các thị trường mới như Canada và Mexico đến Singapore, bởi hiện tại chưa có hiệp định thương mại tự do song phương giữa các quốc gia này. Như vậy, rõ ràng đây sẽ là một bước ngoặt lớn nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ góp phần cải thiện cán cân thương mại cho quốc gia này.Cùng với đó, Singapore cũng luôn luôn củng cố mối quan hệ hợp tác vững chắc trên mọi mặt với các quốc gia phát triển là bạn hàng lâu năm trên thương trường như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Australia,… góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ vốn đã rất tiềm năng của mình.Gần đây, Singapore cũng mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị với Nga, theo đó Asemconnect Vietnam Singapore và Liên minh Kinh tế ÁÂu sẽ sớm tiến hành đàm phán về một hiệp định thương mại tự do giữa hai bên. Singapore và Nga đã nhất trí tiến hành đàm phán về hiệp định trên, theo đó sẽ cho phép Singapore tiếp cận một thị trường 180 triệu dân với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn khối là 4.200 tỷ USD.  Liên minh Kinh tế ÁÂu gồm năm thành viên là Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan. Nga là đối tác thương mại lớn của Singapore trong năm ngoái, với kim ngạch thương mại song phương đạt gần 11 tỷ SGD (gần 8 tỷ USD), tăng hơn 50% so với năm 2014. Và như vậy, đây rõ ràng là một cơ hội lớn cho Singapore để thúc đẩy trao đổi hàng hóa, xuất khẩu và phát triển thị trường tiềm năng của mình.Việc chính phủ áp dụng chính sách hạn chế người lao động nước ngoài trong nhiều năm qua, dẫn đến việc thị trường lao động bị thắt chặt, gây ảnh hưởng xấu đến hiệu suất kinh tế của Singapore về lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu…Thủ tướng Lý Hiển Long cũng thừa nhận nếu đóng cửa với công nhân nước ngoài, nền kinh tế Singapore sẽ lâm vào khủng hoảng. Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng dài hạn, chính phủ Singapore sẽ tiếp tục giảm bớt nguồn lao động nước ngoài. Quốc đảo này hiện đang sử dụng một lượng lớn nguồn lao động nước ngoài giá rẻ. Ước tính có khoảng 1 triệu công nhân nước ngoài đang sinh sống tại đây. Tuy nhiên, khi chính phủ tiến hành thắt chặt các chính sách về nguồn lao động nước ngoài, các doanh nghiệp ở Singapore sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt nhân lực và tăng giá lao động. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) mới đây cũng vừa công bố và đánh giá, cho rằng chính sách tăng chậm lao động nước ngoài của Singapore đang và có thể tiếp tục gây hại cho tăng trưởng tiềm tàng cũng như làm giảm sút tính cạnh tranh của đảo quốc Sư tử này. Tuy nhiên, qua đánh giá hàng năm về chính sách kinh tế và tài chính của Singapore, IMF cũng nhấn mạnh rằng chính vì nguồn cung lao động bị thắt chặt do hạn chế sử dụng lao động nước ngoài công với dân số già trong hạn sẽ khiến cho tiền lương tăng. 2.2. Đa dạng hóa thị trườngChính sách thương mại quốc tế của Singapore thời kỳ này được thực hiện theo hướng đa dạng hóa thị trường vừa khai thác thị trường các nước phát triển vừa khai thác thị trường các nước đang phát triển đặc biệt là các nước Đông Nam Á và Trung Quốc.Là một quốc gia phụ thuộc vào xuất khẩu, Singapore cũng đang phải đối mặt với bài toán đầu ra khi thị trường thế giới liên tục sụt giảm cả về giá cả cũng như nhu cầu... Singapore dẫn nguồn Cơ quan Doanh nghiệp quốc tế nước này (IE) ngày 191 cho biết xuất khẩu nội địa phi dầu mỏ (NODX) của Quốc đảo Sư tử trong tháng 122015 đã sụt giảm mạnh ở mức 7,2% so với cùng kỳ năm ngoái, do xuất khẩu các mặt hàng phi điện tử giảm tới 10,3%.Giá dầu trên thế giới liên tục giảm mạnh dẫn đến việc xuất khẩu các sản phẩm hóa dầu của Singapore giảm 17,5%, trong khi các loại hóa chất giảm 41,8% và thiết bị máy móc giảm 43,5%. Xuất khẩu các mặt hàng điện tử cũng giảm 0,3% trong tháng 12 sau khi tăng 0,6% vào tháng trước đó, chủ yếu là do xuất khẩu IC (vi mạch) giảm 11,3%, các bộ phận máy tính cá nhân giảm 13% và ổ đĩa giảm 22%.Đáng chú ý, 10 thị trường xuất khẩu hàng đầu của Singapore ngoại trừ Mỹ, Nhật Bản và Hong Kong (Trung Quốc) đều giảm trong tháng 12, trong đó giảm mạnh nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).Các chuyên gia dự báo thời gian tới nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Singapore tiếp tục giảm sút. Tình hình kinh tế Mỹ phục hồi chưa vững chắc, trong khi nền kinh lớn thứ hai thế giới là Trung Quốc rơi vào suy thoái dự kiến sẽ tiếp tục đè nặng lên tăng trưởng của khu vực, trong đó có Singapore.2.3. Một sô chính sách Singapore vẫn áp dụng hạn chế đén nay2.3.1. Miễn giảm tổng hợp nhiều loại thuếThực hiện chính sách miễn giảm thuế cụ thể là thuế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào sản xuất, máy móc thiết bị và tiến hành giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.Đối với các doanh nghiệp bình thường: thuế thu nhập là 40%.Đối với các doanh nghiệp có giá trị xuất khẩu > = 100000 USDnăm thì thuế là 4%năm.2.3.1.1. Lợi nhuận xuất khẩuMột công ty hoạt động trong lĩnh vực trong lĩnh vực sản xuất xuất khẩu ở Singapore, thì bất cứ là thành phẩm hay linh kiện xuất khẩu đều được miễn giảm 90% khoản lợi nhuận xuất khẩu vượt quá định mức. Trong trường hợp một công ty xuất khẩu những sản phẩm đã được xuất khẩu, định mức đó là trung bình của lãi suất xuất khẩu hàng năm trong 3 năm kể từ khi có giấy phép chứng nhận xuất khẩu của công ty. Trong các trường hợp khác, cơ sở này do Bộ trưởng Bộ Thương mại Công nghiệp quy định.Đối với các xí nghiệp không thuộc diện mũi nhọn, thời gian miễn thuế 3 năm, còn đối với các xí nghiệp thuộc diện mũi nhọn thì thời hạn miễn thuế là 5 năm kể từ sau thời kỳ thử thách. Trong những trường hợp đặc biệt, thời gian miễn thuế có thể là 15 năm. Vai trò của việc trả cổ phiếu thu được từ lợi nhuận xuất khẩu cũng giống như lợi nhuận có được từ doanh thu trong thời kỳ đầu.Xuất khẩu dịch vụ.Dịch vụ xuất khẩu ưu tiên bao gồm:Dịch vụ công nghệ bao gồm: xây dựng, phân phối, thiết kế và xây dựng.Tư vấn, quản lý và điều hành dịch vụ tư vấn có liên quan tới vấn đề kỹ thuật, buôn bán và giao dịch khác.Máy dệt hoặc các thiết bị, vật liệu đấu thầu, linh kiện hoặc thiết bị.Xử lý số liệu, lập trình, phát triển phần mềm vi tính, viễn thông và các dịch vụ máy tính khác.Các dịch vụ chuyên ngành như: kế toán, luật pháp, hóa học và kiến trúc.Dịch vụ về giáo dục và đào tạo.Các dịch vụ chỉ định khác.Để khuyến khích xuất khẩu thì thu nhập từ dịch vụ xuất khẩu mà vượt chỉ tiêu sẽ được giảm 90% thuế trong 5 năm.Có thể nói, ngành xuất khẩu dịch vụ của Singapore đã đem lại những kết quả rất khả quan cho kinh tế nước này. Điển hình, Singapore đã xuất khẩu sang Anh kỹ năng đáng ngưỡng mộ nhất của họ đó là hệ thống giáo dục chất lượng cao khiến học sinh quốc đảo Sư tử luôn đứng đầu bảng xếp hạng toàn cầu về toán. Đây là sáng kiến tầm chính phủ và kết quả là môn toán của học sinh Anh đã cải thiện rõ rệt chỉ sau một năm. Thêm vào đó, có rất nhiều ngành nghề mà Singapore có thể chuyển giao công nghệ và kỹ năng, từ hoạch định chính sách, tư vấn xử lý nước thải cho tới kiến trúc và thiết kế cảnh quan. Những sản phẩm phụ từ các bộ ngành chính phủ giờ đây đang trở thành những thương vụ quốc tế có lãi.Các nhà kinh doanh dầu.Để khuyến khích hoạt động kinh doanh năng lượng ở Singapore, các nhà kinh doanh dầu được giảm 10% thuế thu nhập từ các buôn bán dầu hoặc hoa hồng từ môi giới mua bán.Hàng đổi hàng.Các công ty tiến hành hoạt động mua bán hàng đổi hàng được miễn thuế từ hoạt động này trong 5 năm. Các hoạt động này gồm: hàng đổi hàng, mua bán đi lại. Để việc ưu tiên là phù hợp, một phần của mỗi giao dịch này, hoặc tài chính hoặc hàng hóa thực, phải qua Singapore. Ưu tiên này do Ủy ban phát triển Thương mại giám sát.2.3.1.2. Chính sách hoàn thuế GST (thuế hàng hóa và dịch vụ)Tại Singapore hiện áp dụng thuế hàng hóa và dịch vụ (Goods and Services Tax) ở mức 7%. Để khuyến khích xuất khẩu tại chỗ, Singapore đã thực hiện chính sách hoàn thuế cho du khách để kích thích chi tiêu của họ. Theo chương trình hoàn thuế cho du khách (Tourist Refund Scheme), nếu mua hàng hóa tại Singapore từ những cửa hiệu bán lẻ tham gia chương trình, du khách có thể được hoàn lại thuế GST khi vận chuyển hàng hóa ra khỏi Singapore qua sân bay quốc tế Changi (Changi International Airport) hoặc Sân Bay Seletar (Seletar Airport) trong vòng 2 tháng kể từ ngày mua hàng.Các khoản hoàn thuế GST không được áp dụng cho những du khách khởi hành bằng đường bộ hoặc đường biển. Những du khách đáp ứng các điều kiện của chương trình sẽ được quyền nhận tiền hoàn thuế GST từ những cửa hiệu bán lẻ hoặc tại một chi nhánh hoàn thuế trung tâm. Hiện tại, có 2 chi nhánh hoàn thuế trung tâm. Đó là công ty Global Refund Singapore Pte Ltd và Premier Tax Free (Singapore) Pte Ltd.Theo đó, năm 2010, tổng giá trị thương mại của Singapore tăng 20,7%, đạt 902 tỷ đôla Singapore (tức 704 tỷ USD). Trung bình mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu của Singapore cao gấp 3 lần GDP. Doanh nghiệp Singapore lệ thuộc quá nhiều vào việc xuất khẩu các mặt hàng mà nhu cầu sử dụng không quá cấp bách, như tivi màn hình phẳng, điện tử…. Giúp đỡ doanh nghiệp nhiều nhưng khó tìm đầu ra hơn với sản phẩm.2.3.2. Cung cấp vốn tín dụng ưu đãi và hỗ trợ bảo hiểm xuất khẩuThành lập cục xúc tiến thương mại năm 1983 nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các doanh nghiệp tham gia sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu. Đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa doanh nghiệp và chính phủ, và giữa doanh nghiệp với khách hàng nước ngoài.2.3.2.1. Chính sách xúc tiến thương mạiTừ nhiều thập kỷ gần đây, Singapore đã rất quan tâm, chú trọng đến công tác xúc tiến thương mại nhằm đa dạng hóa thị trường và các công ty Singapore mở rộng đến các thị trường chưa được khai phá. Vai trò xúc tiến thương mại của Singapore thuộc về Hội đồng phát triển thương mại Singapore (TDB), chịu trách nhiệm trong việc thúc đẩy ngoại thương quốc tế đồng thời bảo vệ lợi ích của quốc đảo này. TDB được thành lập từ năm 1983. Hiện nay TDB có hơn 30 văn phòng thương mại trên khắp thế giới, với chức năng quảng bá nền thương mại cho Singapore và quan trọng hơn là hỗ trợ Singapore trong hoạt động giao thương quốc tế. Sự hỗ trợ này được thể hiện nhuần nhuyễn và đa đạng thông qua các đoàn công tác, các hội chợ thương mại nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác và đầu tư. Qua đó đã nâng cao được công tác quảng bá sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu Singapore và đưa hình ảnh của đất nước này đến với bạn bè quốc tế. 2.3.2.2. Chính sách tỷ giá, ngân hàngCơ quan quản lý tiền tệ Singapore (MAS, ngân hàng trung ương) thông báo nới lỏng chính sách tiền tệ lần thứ hai trong năm 2015 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong thông báo về chính sách tiền tệ nửa năm một lần, MAS cho biết ngân hàng này tiếp tục duy trì chính sách nâng giá đồng nội tệ ở mức vừa phải và dần dần, song giảm nhẹ tỷ lệ nâng giá để hàng xuất khẩu của nước này cạnh tranh hơn trong bối cảnh các nước khác trong khu vực châu Á đã làm yếu đồng nội tệ.Ngân hàng trung ương Singapore sử dụng chính sách tiền tệ, theo đó điều chỉnh giá đồng nội tệ so với giỏ tiền tệ của các đối tác thương mại cũng như các đối thủ cạnh tranh, để thúc đẩy kinh tế, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, trao đổi hàng hóa diễn ra mạnh mẽ hơn.2.3.2.3. Chính sách hỗ trợ tín dụng và hỗ trợ bảo hiểm hàng hóaTrong thương mại quốc tế, vốn là một yếu tố quan trọng nhằm quyết định quy mô và trình độ của sản xuất. Bởi vậy, để hoạt động xuất khẩu hàng hóa được diễn ra với quy mô lớn, chính sách hỗ trợ tín dụng có vai trò vô cùng quan trọng với mọi doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm luôn chứa đựng những rủi ro. Vì lẽ đó, chính sách hỗ trợ bảo hiểm hàng hóa sẽ giúp các nhà sản xuất và xuất khẩu yên tâm hơn về độ an toàn của sản phẩm, từ đó mở rộng hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài.Nhận thức được vấn đề trên, chính phủ Singapore hỗ trợ doanh nghiệp Singapore 50% phí bảo hiểm rủi ro lỗi thanh toán từ phía khách hàng nước ngoài đối với các khoản tín dụng được cấp cho doanh nghiệp. Mức hỗ trợ tối đa không quá 100.000 SGD doanh nghiệp đủ điều kiện. Sau khủng hoảng kinh tế, chính phủ Singapore đã bổ sung thêm một hình thức hỗ trợ phí bảo hiểm. Theo hình thức này, chính phủ sẽ dàn xếp với một số hãng bảo hiểm để tăng gấp đôi giá trị bảo hiểm rủi ro thanh toán cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hỗ trợ và đã mua bảo hiểm tín dụng. Gía trị bảo hiểm gia tăng không vượt quá mức 2 triệu SGD doanh nghiệp. Chương trình hỗ trợ xuất khẩu thông qua bảo hiểm tín dụng sẽ hỗ trợ cho khoảng 1000 doanh nghiệp Singapore với tổng giá trị 4 tỷ SGD (5,2 tỷ USD).2.3.3. Tích cực thực hiện các biện pháp, chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tăng cường cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu.Các đối tác thươnag mại chủ yếu của Singapore trong thời kỳ này là các nước phát triển tiêu biểu là Nhật Bản, các nước Tây Âu và Hoa Kỳ.Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ hiện đại, cải thiện chất lượng giáo dụcCó thể nói, cơ sở vật chất, hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Một quốc gia chỉ có thể phát triển sản xuất, từ đó tạo một thị trường rộng lớn để xuất khẩu hàng hóa khi có cơ sở vật chất hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất với quy mô lớn, trình độ cao. Nhận thức được điều đó, Singapore luôn quan tâm tới những chính sách nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng và số lượng của sản phẩm, dịch vụ tạo ra.Ngày 110, Chính phủ Singapore nhiệm kỳ 2015 2020 đã chính thức nhậm chức trong bối cảnh được cho là thời điểm quan trọng đối với Singapore. Tại buổi lễ nhậm chức của nội các mới, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long một lần nữa khẳng định, những ưu tiên của nhiệm kỳ này nằm ở 4 lĩnh vực là an ninh quốc gia, kinh tế, phát triển mạnh về hạ tầng và đảm bảo tốt đời sống cho người dân. Trong đó, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng được ưu tiên hàng đầu.Việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại và hiệu quả được xem là một nền tảng quan trọng cho sự thành công của nền kinh tế Singapore. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm có cảng biển, sân bay, bưu chính viễn thông, đường xá, và các tiện ích khác. Một ví dụ điển hình về thành quả của chính sách này là sân bay Changi của Singapore trở thành trạm trung chuyển quan trọng và hiện đại bậc nhất ở châu Á Thái Bình Dương. Sân bay là một trung tâm vận chuyển hàng không quốc tế (cảng trung chuyển hàng không) lớn và là cửa ngõ rất quan trọng của châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Diện tích 1500 ha, cách trung tâm thương mại của Singapore 20 km đông đông bắc.Về giáo dục đào tạo, hàng năm, Chính phủ Singapore dành 20% tổng ngân sách quốc gia cho việc đầu tư vào giáo dục chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất trong tất cả các ngành. Singapore cũng khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Nhà nước áp dụng nhiều chính sách nhằm khuyến khích các công ty tự tổ chức các khóa đào tạo hoặc dạy nghề cho nhân viên và công nhân trong quá trình làm việc. Viện giáo dục kỹ thuật kết hợp với các công ty thực hiện mô hình học nghề song song, các học viên sẽ tham gia thực tập và được trả lương ngay tại công ty, trong khi quá trình học lý thuyết sẽ diễn ra tại các học viện dạy nghề. Nhà nước Singapore chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực. Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế có uy tín đặt chi nhánh để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước.Chiến lược giáo dục của Singapore một mặt vừa đáp ứng những thay đổi của điều kiện kinh tế toàn cầu, vừa là công cụ xây dựng và duy trì bản sắc văn hóa quốc gia, đó là chương trình song ngữ áp dụng trên toàn cầu. Các trường đều đào tạo bằng tiếng Anh và một trong 3 tiếng mẹ để đại diện cho 3 dân tộc lớn là tiếng Hoa, tiếng Mã lai và tiếng Tamil. Việc đưa tiếng Anh vào chương trình giảng dạy bắt buộc để kết nối Singapore với thế giới nhưng dạy tiếng mẹ đẻ để giữ gìn bản sắc dân tộc. Môn giáo dục quốc gia được đưa vào giảng dạy tại các trường đại học. Về bản chất, môn này nhằm trang bị cho thế hệ trẻ những cách ứng xử cơ bản, những giá trị và những định hướng làm nên những công dân Singapore thực thụ.Như vậy, có thể nhận thấy rằng, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại thông qua hệ thống cảng biển, sân bay,… đã góp phần quan trọng trong đơn giản hóa và nâng cao chất lượng của hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Singapore trong những năm vừa qua. Nhờ có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại mà việc sản xuất, vận chuyển hàng hóa cho xuất khẩu trở nên thuận tiện, dễ dàng hơn và đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt.2.2.Đánh giá chung về chính sách thúc đẩy xuất khẩu của SingaporeCó thể nói chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Singapore là một trong những thành công rất vang dội của nước này. Chính sách ấy có tác dụng vực dậy một nền kinh tế non trẻ mà tưởng như sẽ không thể phát triển bởi thiếu tài nguyên thiên nhiên và tình trạng nghèo nàn lạc hậu.Nền kinh tế phát triển “thần kỳ” của Singapore đã được đánh giá cao như một mô hình phát triển cho châu Á. Từ một quốc gia nghèo của thế giới và của Đông Nam Á vào những năm trước 1959, Singapore cùng 3 quốc gia là Hàn Quốc, Hồng Kông và Đài Loan đã trở thành 4 con rồng lớn của châu Á về phát triển kinh tế xã hội.Những thành công về mặt chính sách:Thứ nhất, thành công lớn nhất của Singapore trong những năm gần đây là thực hiện chính sách hoàn thuế GST đối với hàng hóa và dịch vụ, áp dụng đối với khách du lịch đến Singapore bằng đường hàng không và mua sắm tại quốc đảo này. Chính sách này thực chất là một biện pháp thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ, kích thích nhu cầu mua sắm của người nước ngoài tại Singapore và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nền kinh tế.Thứ hai, không thể không nói đến Singapore với chính sách giáo dục phát triển bậc nhất trên thế giới.Singapore xác định giáo dục là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế và ban hành hàng loạt chính sách giáo dục, trong đó có sử dụng tiếng Anh bắt buộc trong trường học một quyết định cực kỳ nhạy cảm tại một quốc gia đa dạng về sắc tộc như Singapore.Bởi vậy, nền giáo dục Singapore đã đào tạo rất nhiều nhân tài phục vụ cho đất nước trong thời kì toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.Thứ ba, Singapore đã thực hiện chính sách tài chính ngân hàng một cách rất bài bản và chắc chắn, tạo một môi trường ổn định, có tiềm lực vững mạnh, các hình thức huy động vốn nhanh chóng, đa dạng, cùng với đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính nhằm khai thông vốn trong nước, đồng thời thu hút tư bản nước ngoài để đáp ứng vốn và kỹ thuật cho quá trình công nghiệp hóa. Thứ tư, Singapore đã rất thành công khi xây dựng được một hệ thống tài chính công vững mạnh, chi tiêu chính phủ hợp lí, thông qua đó có những biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy và khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trường và xây dựng cơ sở vật chất hiện đại phục vụ sản xuất; có chiến lược thúc đẩy xuất khẩu rất rõ ràng, từ xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản, sang xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng lao động lớn, và cuối cùng là xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Đó là một tầm nhìn chiến lược mang tính thời đại và cũng là nét khởi sắc cho kinh tế Singapore.Những hạn chế trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Singapore.Một trong số đó là thị trường xuất khẩu của Singapore hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào một số thị trường lớn, tên tuổi lâu năm như Tây Âu, Hoa Kì, Nhật Bản… mà chưa chú trọng nhiều tới thị trường của một số quốc gia đang phát triển có nhiều tiềm năng trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Điều đó cũng dẫn đến sự giảm đi các cơ hội phát triển mà trong đó tận dụng được thuận lợi về khoảng cách địa lí và chi phí kinh tế.Thêm vào đó, hạn chế của Singapore cũng nằm ở chính sách về nguồn lao động. Gần đây, chính sách hạn chế người lao động từ nước ngoài của Singapore đã tạo ra sự thiếu hụt lớn về lao động, làm giảm năng suất lao động và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của đất nước này. Đây là một trong những hạn chế lớn của Singapore, gây ảnh hưởng tới sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trong những năm gần đây.Trên đây là những thành tựu và hạn chế của chính sách thúc đẩy xuất khẩu Singapore trong giai đoạn 20062015. Từ những thành tựu và hạn chế này, Việt Nam nên rút ra bài học, tiếp thu những thành công và rút kinh nghiệm từ hạn chế để từ đó phát triển sản xuất và xuất khẩu cho Việt Nam trong giai đoạn hiện tại.3.Bài học kinh nghiệm cho Việt NamNhờ có những bước đi đúng đắn trong thực hiện các chính sách, hành trình vươn lên trở thành con rồng Châu Á của Singapore chỉ trong vòng 30 năm và Singapore cũng trở thànhmột trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất. Là quốc gia đi trước, Singapore đã để lại cho nhiều quốc gia trong khu vực những bài học đắt giá, trong đó có Việt Nam. Mô hình chính sách thúc đẩy xuất khẩu là mô hình thành công tại nhiều nước NIEs và đặc biệt là Singapore. Để có được những thành tựu vượt bậc về tăng trưởng, xuất khẩu ở các nước NIEs cần phải kể đến sự kết hợp rất tốt giữa chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, các công ty và các nhà kinh doanh. Hoạt động đó thông qua các tổ chức trung gian như Cục phát triển thương mại, Singapore, xúc tiến các liên minh chiến lược với các bạn hàng quốc tế Singapore. Đó là sự phối hợp thống nhất và toàn diện trong và ngoài nước. Khuyến khích không chỉ bó hẹp trong phạm vi các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, tín dụng mà bao gồm cả sự điều hành và can thiệp của Chính phủ. Chính phủ còn cần phải chi cho sự thâm nhập thị trường, đào tạo cán bộ, tuyên truyền cổ động, tổ chức các cuộc triển lãm tạo chỗ đứng cho hàng hoá nước mình trên thị trường. Nền kinh tế của Việt Nam và Singapore có những nét tương đồng như chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay cũng mong muốn phát triển công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu mở cửa nền kinh tế, hướng ra thị trường bên ngoài và chú trọng ngoại thương. Tuy nhiên thì xuất phát điểm của Việt Nam và Singapore là rất khác nhau. Việt Nam có xuất phát điểm thấp hơn Singapore về mọi mặt như cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực chất lượng thấp, lượng vốn đầu tư thấp,… Bởi vậy mà không phải chính sách thúc đẩy xuất khẩu nào của Singaore chúng ta cũng có thể học tập được. Trong từng chính sách sẽ có những vấn đề riêng chúng ta cần học tập và cần rút kinh nghiệm.3.1 Chính sách thúc đẩy xuất khẩu liên quan đến thuế Singapore đã thực hiện rất thành công chính sách này và với điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay chúng ta có thể học tập để áp dụng.Về cơ chế hoàn thuếĐể tạo một môi trường công bằng và trong sạch cho các doanh nghiệp, có thể thay hệ thống tính toán hoàn thuế trực tiếp hiện nay bằng một hệ thống tính toán hoàn thuế trên cơ sở áp dụng các mức chuẩn về hàm lượng nhập khẩu trong giá trị xuất khẩu FOB. Mức chuẩn này được công bố trước, doanh nghiệp dựa vào sản lượng xuất khẩu của mình để xin hoàn thuế theo mức đã công bố, kể cả khi họ thay nguyên liệu đầu vào nhập khẩu bằng nguyên liệu sản xuất trong nước.Để giải quyết thiên lệch bất lợi cho các nhà sản xuất xuất khẩu gián tiếp, cần thiết phải mở rộng diện được hoàn thuế tới cả đầu vào nhập khẩu của những nhà xuất khẩu gián tiếp này. Có như vậy mới khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng các sản phẩm trung gian trong nước. Trên thực tế hai con rồng Hàn Quốc và Đài Loan đã thực hiện thành công những cơ chế hoàn thuế toàn diện như vậy. Về các loại thuếĐể đi tắt và đón đầu trong điều kiện mới, Việt Nam cần áp dụng công cụ điều tiết mới. Để điều tiết hàng hoá XNK, thời gian qua, chúng ta đã sử dụng công cụ phi thuế như: cấm, tạm ngừng hạn ngạch, chỉ tiêu, phụ thu, gía tính thuế tối thiểu. Công cụ này sẽ không còn tồn tại sau đàm phán thương mại quốc tế nên để đáp ứng nhu cầu bảo hộ chính đáng, cần sớm áp dụng những công cụ quản lý mới đang phổ biến trên thế giới.Thứ nhất là áp dụng thuế tuyệt đối tính trên một đơn vị hàng hóa. Thuế này không gây ảnh hưởng đến mậu dịch chính ngạch nhưng lại có tác dụng lớn đối với mậu dịch biên giới, nơi hàng hoá được nhập khẩu với giá rất rẻ làm mất tác dụng của tính thuế theo tỷ lệ phần trăm. Bên cạnh đó biện pháp này vừa bãi bỏ được chế độ tính thuế theo giá tối thiểu vừa chống được gian lận thương mại thông qua khai man trị giá tính thuế. Biện pháp này phù hợp với hàng nông sản và một số sản phẩm công nghiệp khác vẫn được nhập khẩu vào nước ta với giá quá thấp, đặc biệt có tác dụng đối với hàng tiêu dùng đã qua sử dụng.Thứ hai là cần áp dụng thuế chống phá giá nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh an toàn cho các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam. Cần tận dụng chức năng của thuế bảo vệ môi trường để có khoản thu bồi đắp cho thiệt hại môi trường cũng như hỗ trợ việc giảm hay cấm nhập hàng tiêu dùng đã qua sử dụng. Biện pháp này còn có tác dụng đệm trong trường hợp không thể nâng thuế lên quá cao để bảo hộ hàng trong nước.Thuế và chính sách thuếThứ nhất là ủng hộ thương mại tự do, nghĩa là loại bỏ cả thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu vì nếu xét tới tác động ròng của khuyến khích xuất khẩu thì thuế nhập khẩu ngang với trợ cấp xuất khẩu cũng tương đương với không có thuế nhập khẩu và không có trợ cấp. Sự can thiệp đồng nhất sẽ không phải là chính sách tốt nhất của chính sách thương mại vì việc không can thiệp luôn được ưa chuộng hơn so với sự can thiệp đồng nhất bởi bất cứ sự can thiệp nào cũng không thể tránh khỏi chi phí quản lý.Thứ hai là trong trường hợp mà giải pháp tự do hóa thương mại ngay lập tức không thể thực hiện được, cần có sự lựa chọn chính sách khác nhằm giảm khuynh hướng chống xuất khẩu trong nền kinh tế, đó là thực hiện tăng trợ cấp xuất khẩu đi cùng với giảm thuế nhập khẩu đầu vào trung gian cho xuất khẩu. Như vậy trên thực tế sẽ làm giảm tăng mức độ bảo hộ hiệu quả cho khu vực xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng có một vài bất lợi đối với giải pháp này, đó là việc suy giảm nguồn thu, trực tiếp là do thuế nhập khẩu giảm và gián tiếp là những chi phí liên quan đến việc hoàn thuế hoặc thực hiện chính sách miễn thuế đối với khu vực nhập khẩu tăng lên.Chiến lược duy nhất để Việt Nam giảm khuynh hướng chống xuất khẩu là đơn giản các loại thuế suất và giảm mức thuế. Chuyển sang hệ thống thuế thống nhất là cách hữu hiệu để giảm những tổn thất do phân bổ sai nguồn lực, loại bỏ tham nhũng và tuỳ tiện trong quản lý thuế, giảm bỡt sự chậm trễ và cách làm sai trái trong thủ tục hải quan.3.2. Chính sách tự do hóa thương mạiTăng cường vai trò của các tổ chức xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xúc tiến thương mạiChính phủ Việt Nam cần tạo điều kiện và tăng cường vai trò các tổ chức xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ phát triển quan hệ thương mại quốc tế theo đúng hướng và đúng chiến lược đề ra.Đồng thời khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tìm hiểu về thị trường và các đối tác nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh.Từ nhiều thập kỷ gần đây, Singapore đã rất quan tâm, chú trọng đến công tác xúc tiến thương mại nhằm đa dạng hóa thị trường và các công ty Singapore mở rộng đến các thị trường chưa được khai phá. Vai trò xúc tiến thương mại của Singapore thuộc về Hội đồng phát triển thương mại Singapore (TDB), chịu trách nhiệm trong việc thúc đẩy ngoại thương quốc tế đồng thời bảo vệ lợi ích của quốc đảo này.Việt Nam trước mắt cần tập trung tăng cường mối quan hệ thương mại với các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Châu Âu và Trung Quốc. Đây là những đối tác giúp VN tiêu thụ được các mặt hàng xuất khẩu và đem đến những lợi ích căn bản như nguồn vốn ODA, FDI và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, việc tìm kiếm các thị trường tiềm năng khác cũng cần được quan tâm.Chính sách tự do hóa thương mại theo một lộ trình phù hợp.Nhà nước cần có những chính sách tự do hóa thương mại phù hợp với đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam và xu hướng của quốc tế trong từng thời kỳ. Từng bước thực hiện tự do hóa thương mại như việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm bớt danh mục các hàng hóa quản lý bằng giấy phép nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu.Bên cạnh những bài học đó Việt Nam cần chú ý khi áp dụngMô hình chính sách thương mại quốc tế của Singapore chỉ có thể áp dụng thành công ở những nước có nền kinh tế phát triển đến trình độ khá cao, ít chịu biến động bất thường của môi trường bên ngoài. Đồng thời, đây cũng phải là những quốc gia có hệ thống thị thị trường phát triển. Ngược lại, đối với các nước kém phát triển, việc áp dụng mạnh mẽ chính sách tự do hoá thương mại ( giảm tối đa vai trò quản lý, kiểm soát của Nhà nước ) thường dẫn đến tình trạng tài nguyên bị cạn kiệt, thiếu nguồn lực cho sản xuất trong nước ( do khai thác thái quá để xuất khẩu hoặc nợ nước ngoài gia tăng ( do phải chi tiêu những khoản ngoại tệ quá lớn cho nhập khẩu, vượt quá khả năng của nền kinh tế ). Bởi vậy nếu muốn áp dụng chính sách thương mại quốc tế của Singapore, Việt Nam cần thay đổi để phù hợp với điều kiện kinh tế trong nước. 3.3. Chính sách liên quan đến tín dụng, ngân hàngNhà nước tăng cường hoạt động của tổ chức tín dụng.Phối hợp giữa việc tăng cường hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại với các tổ chức tín dụng. Đặc biệt ở những ngành then chốt, trọng điểm, nhằm cung cấp vốn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước phát triển hàng hóa, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời mở rộng thị trường. Tuy nhiên, cần quản lý vốn và các khoản tín dụng một cách chặt chẽ để tránh tình trạng cho vay tràn lan, gây thất thoát vốn, đầu tư không hiệu quả, cản trở sự phát triển kinh tế.Về hoạt động tài chính ngân hàngXây dựng hệ thống ngân hàng có tiềm lực vững mạnh, nhanh chóng đa dạng các hình thức huy động vốn, cùng với đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính nhằm tạo ra sự tương thích phù hợp với hệ thống ngân hàng của các nước khác, tạo sự thuận lợi cho việc thanh toán các đơn hàng xuất khẩu với giá trị lớn.Cần có sự can thiệp kịp thời của Chính phủ đối với hệ thống ngân hàng, mở rộng tín dụng và thực hiện chính sách ưu đãi lãi suất đối với những mặt hàng, ngành công nghiệp ưu tiên hướng đến xuất khẩu, nhằm tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, nếu sự can thiệp quá mức mang tính áp đặt của Chính phủ vào hoạt động ngân hàng sẽ trở nên bị gò bó, thiếu tính linh động, gây khó khăn cho ngân hàng trong tiến trình hội nhập quốc tế. Kết hợp đồng bộ, việc sửa đổi hệ thống pháp luật điều chỉnh hàng loạt về chính sách môi trường kinh tế, cải cách hành chính để mở cửa cho ngân hàng nước ngoài đầu tư, cởi bỏ mọi hạn chế về quyền sở hữu, hình thức hoạt động, kể cả huy động và giao dịch với các đối tác tiền gởi bằng VND và thiết lập các chi nhánh ngân hàng tại các địa phương; mở rộng việc cung cấp các dịch vụ cao cấp, dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt … 3.4. Một số chính sách khácXác định mặt hàng xuất khẩu chủ lựcViệt Nam cần xác định các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp của mình trong từng thời kỳ. Hiện nay, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng sơ chế, ít chế biến, sử dụng nhiều lao động, do đó, tuy kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá trị thực tế nhận được lại không nhiều; Việt Nam cần tiến tới xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng chất xám, công nghệ cao.Tăng cường việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn.Hiện nay, Việt Nam đang tận dụng nguồn nhân công lao động giá rẻ, dồi dào để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như là sử dụng lao động trong các ngành có hàm lượng lao động cao. Tuy nhiên, lợi thế đó của Việt Nam đang mất dần bởi nhiều quốc gia khác có nguồn lao động giá rẻ và có trình độ cao hơn lao động Việt Nam như Thái Lan, Indonesia,…Bởi vậy, Việt Nam cần học tập Singapore trong việc tăng cường đào tạo người lao động có năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ nhằm đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.Chính sách phát triển ngoại thươngSingapore đã có một chiến lược xuất khẩu rất thông minh với một lộ trình rõ ràng, đi từ xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản, sang xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng lao động lớn, và cuối cùng là xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Việt Nam hiện nay đã và đang đi trên con đường xuất khẩu nguyên liệu thô (chiếm tới gần 40% GDP) và tăng cường xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng lao động lớn như dệt may và các mặt hàng nông thủy sản.Dệt may VN vẫn chủ yếu là gia công (chiếm tới hơn 70%) còn tỉ lệ xuất khẩu hàng FOB (lại thấp, chỉ chiếm 30% xuất khẩu). Để thúc đẩy xuất khẩu dệt may, vấn đề trước đó là tăng cường xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ và hỗ trợ việc nhập khẩu đầu vào, tạo điều kiện để giảm chi phí cho các DN, từng bước nâng cao số lượng cũng như chất lượng hàng FOB, giảm tỉ lệ gia công. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1.GS.TS. Đỗ Đức Bình, PGS.TS. Ngô Thị Tuyết Mai (2012) Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Đại học Kinh tế quốc dân.2.Ủy Ban quốc gia về Hội nhập Kinh tế quốc tế (2011), Giới thiệu về ASEAN, www.nciec.gov.vn3.Wikipedia Tiếng Việt, Singapore, https:vi.wikipedia.orgwikiSingapore4.Báo thanh niên online (2015), 10 bài học rút ra từ một Singapore thành công của ông Lý Quang Diệu,http:thanhnien.vnthegioi10baihocrutratumotsingaporethanhcongcuaonglyquangdieu545973.html5.Báo công an nhân dân (2015), Những chính sách xây dựng Singapore mang dấu ấn Lý Quang Diệu,http:cand.com.vntulieuquocteNhungchinhsachxaydungSingaporemangdauanLyQuangdieu3454116.Báo dân trí (2015), Lý Quang Diệu đã xây dựng Sungapore như thế nàohttp:dantri.com.vnthegioilyquangdieudaxaydungsingaporenhuthenao1427682670.htm
Xem thêm

Đọc thêm

Thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Thuế xuất nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế. Thuế xuất nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế. Thuế xuất nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế. Thuế xuất nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế. Thuế xuất nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế.
Xem thêm

Đọc thêm

“So sánh cách xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá hải quan (Hiệp định GATT 1994) và pháp luật Việt Nam”. Bài tập 9 điểm

“So sánh cách xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá hải quan (Hiệp định GATT 1994) và pháp luật Việt Nam”. Bài tập 9 điểm

MỞ ĐẦUTrong bối cảnh hiện nay, xác định trị giá hải quan luôn là mối quan tâm hàng đầu của hải quan các nước trong đó có Việt Nam. Hệ thống các phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định trị giá hải quan ( Hiệp định GATT 1994) được xây dựng trên cơ sở các khái niệm thực tiễn chuẩn xác nên không gây tranh chấp khi thực hiện. Kế thừa được điều này, Việt Nam đã cho ra đời Nghị định 402007NĐCP quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và cho đến năm 2010 thì Bộ tài chính đã có văn bản hướng dẫn cho nghị định này đó là Thông tư 2052010TTBTC Hướng dẫn Nghị định số 402007NĐCP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác địnhtrị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Trong bài tập lớn này, em xin trình bày đề tài: “So sánh cách xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá hải quan (Hiệp định GATT 1994) và pháp luật Việt Nam”.NỘI DUNG1.Khái niệm trị giá hải quanHiệp định trị giá đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ và hoàn chỉnh về TGHQ như sau: “TGHQ của hàng hóa nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu...”.Đây là định nghĩa được xây dựng trên cơ sở khái niệm thực định, tức là TGHQ là giá trị của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu. Hiệp định nhấn mạnh rằng, việc xác định TGHQ phải dựa vào trị giá của chính lô hàng đang được xác định trị giá và có tính đến các chi phí liên quan đến giao dịch bán để xuất khẩu lô hàng này, chứ không phải dựa vào giá thông thường của hàng hóa đó.TGHQ bao gồm TGHQ của hàng hóa xuất khẩu và TGHQ của hàng hóa nhập khẩu. TGHQ của hàng hóa xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển và bảo hiểm quốc tế. Còn TGHQ của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6 phương pháp được quy định tại HĐTG và dừng lại ngay ở phương pháp đã xác định được trị giá.Nghị định 402007NĐCP của Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa tương tự và không có gì khác biệt đáng kể về TGHQ như trên.2.Đặc điểm và vai trò của trị giá hải•Đặc điểm của trị giá hải quan Đặc điểm chung: Nhằm mục đích tính thuế (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thu chênh lệch giá)Đặc điểm riêng: Với mỗi khái niệm kéo theo những đặc điểm khác nhau, chẳng hạn trị giá hải quan theo khái niệm Việt Nam còn nhằm mục đích thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu. Phương pháp xác định cũng khác nhau tùy theo chính sách xác định giá trị thuế từng giai đoạn.•Vai trò của trị giá hải quanTrị giá hải quan phục vụ mục tiêu quản lý và xây dựng chính sách xuất nhập khẩu hàng hóa trong nền kinh tế.Trị giá hải quan là cơ sở để thực thi các chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.Trị giá hải quan tham gia thực hiện nhiệm vụ thống kê nền kinh tế;Trị giá hải quan là cơ sở quan trọng cho việc tính toán, xác định thuế đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây là vai trò cơ bản cả trị giá hải quan.•Ý nghĩa của trị giá hải quanTrị giá hải quan góp phần hình thành đúng giá cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Với môt cơ chế tính thuế nhất định, xác định đúng trị giá tính thuế sẽ góp phần bình ổn giá cả thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu;Trị giá tính thuế là yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống thuế quan của một quốc gia, là căn cứ để xác định các loại thuế nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng, chênh lệch giá hàng hóa nhập khẩu;Xác định đúng về giá trị hải quan sẽ góp phần chống thất thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước phát triển, tạo sự minh bạch, bình đẳng trong cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường, kích thích phát triển giao lưu thương mại quốc tế.Xác định đúng về trị giá còn góp phần xác định đúng về kim ngạch nhập khẩu, làm căn cứ số liệu để Chính phủ điều hành và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia.3.Nguyên tắc xác định trị giá hải quanCả Hiệp định trị giá và NĐ 402007NĐCP đều quy định việc xác định TGHQ phải tuân thủ những nguyên tắc sau:a.Hệ thống xác định TGHQ phải thống nhất, khách quan và hợp líXác định TGHQ phải thống nhất được hiểu ở hai khía cạnh:Thứ nhất, hệ thống xác định TGHQ phải đảm bảo tính thống nhất về các phương pháp xác định và những vấn đề khác có liên quan đến xác định TGHQ.Thứ hai, hệ thống xác định TGHQ phải được đảm bảo áp dụng thống nhất giữa các quốc gia thành viên.Xác định TGHQ phải khách quan và hợp lí: xác định TGHQ là một hoạt động mang tính kĩ thuật – nghiệp vụ, trong đó chủ thể xác định TGHQ phải căn cứ vào những thông tin, số liệu cùng với phương pháp phù hợp để xác định trị giá hàng hóa nhập khẩu một cách chính xác.Việc xác định TGHQ trên cơ sở nguyên tắc này hướng tới việc loại bỏ việc sử dụng TGHQ áp đặt hay hư cấu để đưa ra một hệ thống phương pháp thống nhất, khách quan và hợp lí, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn thương mại quốc tế.b.Xác định TGHQ phải theo giá trị thực tế của hàng hóaTrước hết, với việc định nghĩa “trị giá giao dịch là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán…”, điều đó khẳng định rằng, đó phải là giá trị thực tế chứ không phải là một loại giá hư cấu nào đó, trị giá này phải tồn tại trong giao dịch; do đó, đối với cùng một loại hàng hóa, ở mỗi thời điểm khác nhau, do sự tác động của những điều kiện môi trường thương mại khác nhau mà trị giá này sẽ là khác nhau.Thứ hai, đó phải là trị giá giao dịch của chính lô hàng đang được xác định trị giá, bởi vì chỉ có xuất phát từ lô hàng đó mới cho được một kết quả gần nhất với giá thực tế.
Xem thêm

Đọc thêm

WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới

WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới

WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới. Tuy nhiên, hiện nay các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực, các liên minh kinh tế khu vực ngày càng phát triển với số lượng lớn và tốc độ đáng kinh ngạc. Trước thực trạng này, nhiều người đặt ra câu hỏi vậy WTO có còn duy trì được vai trò của mình trong thương mại quốc tế. Vì muốn làm sáng tỏ điều đó, bài luận dưới đây sẽ: “Bình luận về vai trò của WTO trong bối cảnh chủ nghĩa khu vực ngày càng phát triển”.
Xem thêm

Đọc thêm

khoá luận tốt nghiệp Giải pháp mở rộng thị phần thanh toán quốc tế đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

khoá luận tốt nghiệp Giải pháp mở rộng thị phần thanh toán quốc tế đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

1.Tính cấp thiết của đề tàiCùng với xu thế quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.Với việc chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày 1112007 đã tạo ra cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức để khẳng định vị trí và vai trò của mình trên trường thế giới. Để tiếp tục thực hiện và hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì hoạt động thương mại nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng đã và đang đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM ĐỊA LÝ LỚP 9

BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM ĐỊA LÝ LỚP 9

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN ĐỊA LÝ 111/ Trình bày biểu hiện của toàn cầu hóa và hệ quả của toàn cầu hóa.Biểu hiện:+ Thương mại thế giới phát triển mạnh+ Đầu tư nước ngoài tăng trưởng nhanh+ Thị trường tài chính quốc tế mở rộng+ Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớnHệ quả:+ Thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu+ Đẩy nhanh đầu tư - khai thác triệt để khoa học công nghệ,+ Tăng cường sự hợp tác quốc tế theo hướng ngày càng toàn diện hơn+ Làm gia tăng nhanh chóng khoảng cách giàu nghèo trong mỗi quốc gia và giữa cácnước.2/ Nêu đặc trưng nổi bật và tác đông của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiệnđại đến nền kinh tế thế giới.-Đặc trưng nổi bật là làm xuất hiện và phát triển bùng nổ công nghệ cao với 4 công nghệtrụ cột..- Tác động đến nền kinh tế- xã hội thế giới:* Trực tiếp làm ra nhiều sản phẩm.* Xuất hiện nhiều ngành mới.* Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất.* Thay đổi cơ cấu lao động. Xuất hiện nền kinh tế tri thức* Thúc đẩy sự phân công lao động quốc tế, chuyển giao công nghệ.3/ Qua bảng số liệu sau (đơn vị %)196019651975198019851990
Xem thêm

8 Đọc thêm

SKKN VAI TRÒ GIẢNG dạy CÁCH báo cáo THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP đối với học SINH KHỐI TRUNG cấp CHUYÊN NGHIỆP

SKKN VAI TRÒ GIẢNG dạy CÁCH báo cáo THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP đối với học SINH KHỐI TRUNG cấp CHUYÊN NGHIỆP

I. PHẦN MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra, nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Để nền tài chính quốc gia trở nên lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân đó, vì thế thuế là một công cụ quan trọng góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài của đất nước. Việt Nam đang từng bước tiến tới hội nhập nền kinh tế thế giới. Để bắt kịp tiến trình này chúng ta cần phải có những cải cách nhằm phù hợp và thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh của nền kinh tế thế giới. Trong đó việc thực hiện cải cách về thuế là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm tăng sức cạnh tranh của Việt Nam về thương mại mậu dịch trên thương trường quốc tế. Tại kì họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01011999. Từ khi ra đời cho đến nay, thuế giá trị gia tăng đã chiếm vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống thuế của nước ta. Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu, người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng người bán hàng lại là người nộp thuế, như vậy có nghĩa là những người bán hàng hay những doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế hàng tháng theo quy định và để thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ cục thuế đã đưa ra biểu mẫu kê khai thuế giá trị gia tăng hàng tháng chung cho tất cả các đối tượng nộp thuế, điều này đồng nghĩa với việc mỗi doanh nghiệp phải có một kế toán để kê khai thuế một cách thường xuyên.
Xem thêm

Đọc thêm

Quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore trong những năm gần đây và định hướng cho những năm tiếp theo

Quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore trong những năm gần đây và định hướng cho những năm tiếp theo

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 2 1.1. Cơ sở lý luận 2 1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế 2 1.1.2. Vai trò của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia 6 1.2. Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 6 1.2.1. Nhân tố bên ngoài 6 1.2.2. Nhân tố bên trong 7 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 11 2.1. Quan hệ thương mại Việt NamSingapore 11 2.1.1. Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore 11 2.1.2. Hiện trạng nhập khẩu của Việt Nam sang Singapore 17 2.2. Đánh giá chung về quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 21 2.2.1. Về xuất khẩu 24 2.2.2. Về nhập khẩu 24 CHƯƠNG III. TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỖI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE 25 3.1. Triển vọng mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore 25 3.1.1. Phương hướng phát triển quan hệ thương mại Việt NamSingapore 25 3.1.2. Tác động của tiến trình hội nhập kinh tế đối với triển vọng mối quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 28 3.2. Kiến nghị một số giảp pháp thúc đẩy mối quan hệ kinh tế thương mại giữaViệt Nam Singapore 32 3.2.1. Giải pháp vi mô 32 3.2.2. Giải pháp vĩ mô 34 KẾT LUẬN 38 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, quốc tế hóa – toàn cầu hóa đang là một xu thế chung trên thế giới. Trong đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước, tạo dựng mối quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng được tiềm năng về vốn, khoa học kỹ thuật và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết các nước trên thế giới. Đó là con đường duy nhất để Việt Nam có thể thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất. Song cái gì cũng có tính hai mặt của nó, hoạt động thương mại càng mở rộng và tự do hóa thì càng gây áp lực cho các nước có nền kinh tế vẫn còn lạc hâu, chưa phát triển. Việc lựa chọn một thị trường kinh tế thích hợp để mở rộng quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ và thu hút được nguồn vốn đầu tư là vô cùng nan giải. Chính vì vậy, phân tích thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới là vô cùng cần thiết, qua đó có thể đề ra các giải pháp hữu hiệu để phát triển hơn nữa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Do vậy, nhóm em mạnh dạn lựa chọn chủ đề:“Quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore” qua đó tập trung phân tích thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Singapoe, đánh giá những tác động của mối quan hệ này từ đó xác định triển vọng của mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước, xác định rõ hơn quan điểm và đưa ra những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy mối quan hệ này trong tương lai.   NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế Định nghĩa Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước. Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế. Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế. Mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội. Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp. Điều kiện để thương mại quốc tế tồn tại và phát triển là: Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ, kèm theo đó là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp. Có sự ra đời của nhà nước và sự phân công lao động quốc tế. Các lý thuyết thương mại quốc tế • Chủ nghĩa trọng thương Chủ nghĩa trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert (Pháp),… Nội dung chính của thuyết này là: Vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của sự giàu có. Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu dương (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu). Đây đã là những tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển nghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương. Ngoài ra, những người trọng thương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý, điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịch trong nước... để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu. • Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith. Trong cuốn sách “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã đề cao vai trò của thương mại, song khác với sự phiến diện của trọng thương đã tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thương, ông cho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phải nguồn gốc duy nhất của sự giàu có. Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông. Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định. Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác, nhưng lại thu được lượng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng. Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng. Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế. Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất được nhiều sản phẩm A hơn là nước thứ 2. • Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo. Nếu chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối thì khó có thể giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có lợi thế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế. Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế. Nội dung của lý thuyết này bao gồm: Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế. Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. • Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher - Ohlin. Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau?... Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã không giải thích được những vấn đề trên đây. Để khắc phục những hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế so sánh của David Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ưu đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác, theo lý thuyết H-O, một số nước này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nước đó đã được ưu đãi hơn so với một số nước khác. Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu...) đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó. Sau này, nó còn được các nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Paul Samuelson, James William... tiếp tục mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định tư tưởng khoa học của định lý H-O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trước đó đã được Hecksher-Ohlin đưa ra với nội dung: một nước sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm hơn của nước đó. 1.1.2. Vai trò của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Trong xu thế mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì vai trò của thương mại quốc tế đối với mỗi quốc gia là vô cùng quan trọng. Thương mại quốc tế vừa là cầu nối kinh tế giữa các nước với nhau trên thế giới, vừa góp phần cho sản xuất và đời sống toàn xã hội ngày một phồn vịnh hơn. Cụ thể là: Thương mại quốc tế tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước để đầu tư phát triển. Đẩy nhanh đổi mới cơ cấu nền kinh tế và sự phát triển của kinh tế xã hội. Phát huy lợi thế so sánh, khai thác hiệu quả tiềm năng nguồn lực sẵn có của đất nước. Tiếp thu, học hỏi khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước trên thế giới. Nâng cao đời sống kinh tế xã hội của người dân. 1.2. Cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore 1.2.1. Nhân tố bên ngoài Ngày nay, xu thế đa phương hoá, toàn cầu hoá thương mại đã và đang tác động sâu sắc đến nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Sự tồn tại và phát triển của các nền kinh tế đang ngày càng trở nên lệ thuộc lẫn nhau nhiều hơn trong những mối quan hệ thương mại đa phương phức tạp. Bên cạnh đó, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đã đưa các quốc gia gắn kết với nhau thành một mạng lưới toàn cầu. Việc thị trường thế giới hình thành như một chỉnh thể thống nhất bắt buộc nền kinh tế mỗi quốc gia phải tiến hành cải cách, chuyển đổi tích cực để trở thành một phần hữu cơ của nó. Để tránh nguy cơ tụt hậu và tiến tới hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới Việt Nam cũng phải mở rộng và đa dạng hoá các hình thức thương mại song phương và đa phương. Thị trường hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam được mở rộng tới trên 100 quốc gia trên thế giới. Nước ta đã chính thức là thành viên của nhiều tổ chức và thể chế thương mại khu vực và quốc tế quan trọng như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị thượng đỉnh ÁÂu (ASEM), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đang tích cực xúc tiến gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Lợi ích của tham gia vào thương mại quốc tế là vô cùng to lớn. Nó là con đường duy nhất để Việt Nam có thể thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất. 1.2.2. Nhân tố bên trong Những đặc điểm cơ bản của thị trường Singapore Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Nhưng bù lại, tạo hóa đã cho quốc đảo này một vị trí địa lý lý tưởng, nằm án ngữ trên trục đường vận tải biển từ Á sang Âu, Đông sang Tây, cửa ngõ ra vào của Châu Á. Hơn thế, Singapore còn là tâm điểm nối các châu lục Á – Âu – Phi – Úc và Bắc – Nam Mĩ. Vị trí tự nhiên hiếm có cùng với những thế mạnh do chính con người Singapore tạo ra đã biến Quốc đảo này trở thành mảnh đất có sức hấp dẫn cao trên thế giới. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là khu công nghiệp Durông (Jurong). Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở Châu Á. Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và Châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh. Nền kinh tế nước này phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, và lĩnh vực dịch vụ tài chính. Nền kinh tế sụt giảm 0,8% trong năm 2009 do hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng lại hồi phục 14,5% trong năm 2010 và 5,3% trong năm 2011 nhờ sức mạnh của xuất khẩu. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tại Singapore trị giá 307.860.000.000 đô la Mỹ trong năm 2014. Giá trị GDP của Singapore chiếm 0,50 phần trăm của nền kinh tế thế giới. Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công. Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa và không có tham nhũng, giá cả ổn đỉnh, và thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn so với hẩu hết các nước phát triển khác. Singapore có chế độ nhập khẩu rất mở. Tất cả các loại thực phẩm đều được miễn thuế nhập khẩu, ngoại trừ đồ uống có cồn và thuốc lá. Trên thực tế, không có những hàng rào phi thuế quan nào ở thị trường này bởi có quá ít sản phẩm nội địa và các chính sách của chính phủ trong thời gian gần đây là để tìm kiếm nguồn thực phẩm từ khắp nơi trên thế giới. Về chính sách thương mại tổng thể: Khoảng 99% hàng hóa nhập khẩu vào Singapore không phải chịu thuế nhập khẩu hoặc các biện pháp phi thuế quan khác. Đối với các doanh nghiệp bình thường: thuế thu nhập là 40%. Đối với các doanh nghiệp có giá trị xuất khẩu > = 100000 USDnăm thì thuế là 4%năm. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ 200 triệu trở lên được hưởng mức thuế doanh thu 10% (mức chung 25,5%) trong 10 năm. Quốc gia này không sử dụng hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch, không trợ giá xuất nhập khẩu. Nhà nước không bảo hộ, nhưng nhà nước ưu tiên đầu tư cho doanh nghiệp ở các ngành quan trọng phát triển bằng cổ phần lớn của nhà nước, khi các doanh nghiệp này đủ mạnh trong cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế thì nhà nước bán cổ phiếu cho dân. Singapore tham gia nhiều cam kết WTO, ASEAN, APEC… và nhiều cam kết song phương khác nhằm tự do hóa nền kinh tế, tăng năng lực cạnh tranh toàn cầu của hàng hóa, dịch vụ và của cả nền kinh tế. Về lâu dài, Chính phủ hy vọng sẽ thiết lập một lộ trình tăng trưởng mới tập trung vào nâng cao năng suất. Singapore đã thu hút được đầu tư lớn vào sản xuất dược phẩm và công nghệ y tế và sẽ tiếp tục nỗ lực để thiết lập Singapore là trung tâm tài chính và công nghệ cao của khu vực Đông Nam Á. Tình hình đổi mới của Việt Nam Qua gần 30 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc hiện thực hoá đường lối đó, chúng ta đã đạt dược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài nhiều năm, khắc phục được nạn lạm phát có lúc trên 700% (năm 1986) xuống mức lạm phát 12% (năm 1995) và từ đó đến nay lạm phát chỉ còn một con số; khắc phục được nạn thiếu lương thực trước đây và hiện nay kinh tế phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo thứ hai, thứ ba trên thế giới. Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với tăng trưởng kinh tế, trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã chú ý đến việc thực hiện chính sách công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện một bước đáng kể. Tính riêng trong 5 năm (19931998), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 2,45 lần. Giai đoạn 2000 – 2015, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tăng 5,25 lần. (Nguồn: Tổng cục thống kê) Một đặc điểm khác đáng chú ý nữa là sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã xác định đổi mới kinh tế là trọng tâm, trước hết phải đổi mới tư duy về kinh tế. Nhờ định hướng đúng đắn mà những yêu cầu cấp thiết của nhân dân ta về sản xuất và đời sống được giải quyết, đem lại sự tin tưởng của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới, tự nó trở thành động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới giành nhiều thắng lợi. Song song với đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới về chính trị, xã hội, văn hóa với mục tiêu phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, xây dựng và phát huy đại đoàn kết toàn dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo được Nhà nước hết sức chăm lo. Nhà nước coi chính sách phát triển khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam thực hiện chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Trên cơ sở đường lối đó, Việt Nam đã kiên trì phấn đấu đẩy lùi và làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô lập Việt Nam của các thế lực thù địch, tạo được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tháng 71995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).Tháng 31996, Việt Nam đã tham gia Diễn đàn hợp tác Á Âu (ASEM) gồm 10 nước châu Á và 15 nước châu Âu với tư cách thành viên sánglập. Tháng 111998, Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) gồm các nước và lãnh thổ thuộc châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương ở ven hai bờ Thái Bình Dương. Tháng 102004, Hội nghị ASEM lần thứ năm đã họp tại Thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO và gần đây nhất là chính thức ký kết gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP vào ngày 04 tháng 2 năm 2016. Tính đến 2014 , Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Chúng ta đã có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu lục trên thế giới. Những thắng lợi trong hợp tác kinh tế ở Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam thông qua việc khai thác thị trường mới, mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi. Tuy nhiên, cùng với những mặt tích cực của việc mở rộng thương mại quốc tế như đã nêu trên thì Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn về sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ cũng như đảm bảo cân bằng cán cân thương mại. Do trình độ công nghệ, chất lượng hàng hóa dịch vụ và năng lực cạnh tranh của chúng ta còn chưa cao, cơ cấu sản xuất – đầu tư của chúng ta chưa được điều chỉnh kịp thời đồng bộ và dựa trên một chiến lược tổng thể. Khả năng tiếp cận và phát triển thương mại đến các thị trường còn rất hạn chế. Vì vậy, để hoạt động thương mại quốc tế có hiệu quả tạo ra được nguồn ngoại tệ và kích thích được sản xuất, đầu tư trong nước thì việc xác định, lựa chọn thị trường thích hợp nhằm tận dụng, khai thác những lợi thế thương mại, hạn chế rủi ro sẽ được coi như nhân tố chiến lược trong việc hoạch định chính sách thương mại quốc tế ở Việt Nam. Do đó, với những điều kiện khá thuận lợi thì Singapore sẽ là một bước đệm quan trọng trên con đường hội nhập của Việt Nam. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM SINGAPORE 2.1. Quan hệ thương mại Việt NamSingapore 2.1.1. Hiện trạng xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore a. Về kim ngạch xuất khẩu Singapore là một quốc gia có quá ít tiềm năng về nông nghiệp và khoáng sản, do vậy Singapore đã trở thành một nước luôn trong tình trạng nhập siêu, vì phải nhập khẩu gần như toàn bộ nguyên vật liệu để chế biến hàng xuất khẩu, tiêu dùng trong nước và một phần để tái sản xuất. Cơ cấu các mặt hàng chính của Việt Nam vào thị trường Singapore được chia thành 2 nhóm mặt hàng chính: Nhóm mặt hàng phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng của Singapore là dầu thô, hải sản, hàng dệt may, giày dép.., và nhóm hàng phục vụ cho chuyển khẩu sang nước thứ 3 như: gạo, lạc, cà phê…Mặc dù không có lợi thế về điều kiện tự nhiên, song với vị thế địa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng rất thuận lợi cho việc chuyển khẩu hàng hóa từ khu vực sang nước thứ ba, Singapore trở thành đầu mối tiêu thụ một lượng hàng hóa lớn của nhiều nước, chính vì vậy, hàng Việt Nam xuất khẩu sang Singapore trong những năm qua cũng đáp ứng nhu cầu đó của thị trường này và thường được tiêu thụ theo 2 kênh: Kênh thứ nhất: Nhóm hàng nguyên, nhiên liệu, vật tư phục vụ cho sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, tiêu dùng trong nước, tái sản xuất. Mục đích chủ yếu của Singapore khi nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam là phục vụ cho sản xuất và tái sản xuất, hướng chính vào các sản phẩm công nghiệp mang lại giá trị gia tăng cao khi xuất khẩu. Những mặt hàng tái xuất như hàng điện tử, dệt may, giày dép… (Hiện nhóm mặt hàng này vẫn chưa có chỗ đứng tại thị trường Singapore) Kênh thứ hai: Nhóm mặt hàng xuất khẩu sang Singapore nhằm phục vụ cho chuyển khẩu sang các nước khác. Nhóm măt hàng này có khối lượng kim ngạch khá lớn (chiếm 6065% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Qua thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam đã khai thác hiệu quả những thế mạnh này thông qua các công ty nước ngoài đóng tại Singapore để đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt những mặt hàng có khối lượng kim ngạch lớn mà ta đang gặp khó khăn về bạn hàng, thị trường như: gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hải sản… Trên đây là 2 kênh phân phối hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang cùng một địa bàn Singapore, mỗi kênh đảm trách phần cơ cấu mặt hàng khác nhau và được tiêu thụ thông qua 2 mục tiêu của thị trường Singapore (tiêu dùng, tái sản xuất và chuyển khẩu). Điều đáng nói là trong những năm qua, chủng loại hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường khá đa dạng nhưng số lượng còn khiêm tốn, nó chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu của Singapore Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore từ năm 2010 – 2015 và Tỷ trọng so với ASEAN và thế giới Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) Tỷ trọng so với ASEAN (%) Tỷ trọng so với thế giới (%) 2010 2.121,314 20,49 2,94 2011 2.285,653 16,83 2,36 2012 2.367,897 13,68 2,07 2013 2.662,361 14,41 2,01 2014 2942,040 15,40 1,96 2015 3090,087 17,13 1,87 Nguồn: Tổng cục Thống kê Tổng cục Hải quan Nhìn vào bảng trên ta thấy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore từ năm 20102015 chiếm tỷ trọng không cao trong khối ASEAN (trung bình 15%) và so với thế giới thì chiếm ở vị trí khá thấp (trung bình khoảng 2%). Tuy nhiên, nhìn chung, giá trị kim ngạch xuât khẩu sang Singapore có xu hướng tăng dần qua các năm. Từ 2,1 tỷ USD năm 2010 tăng lên đến 2,37 tỷ USD năm 2012 với tốc độ tăng trung bình đạt 5%. Giai đoạn 2014 là giai đoạn kim ngạch xuất khẩu sang Singapore tăng mạnh nhất, tăng hơn 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Một trong những lý do chính là giai đoạn 20142015 Việt Nam mở rộng xuất khẩu hàng nông thủy sản qua cửa ngõ Singapore . Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Singapore đều tăng trong những năm gần đây với mức tăng 19,5%năm. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng 1,3 lần từ 274,6 triệu USD năm 2012 lên 355,8 triệu USD năm 2014, đặc biệt kim ngạch xuất khẩu gạo lại đột nhiên tăng trưởng 1,2% trong 10 tháng đầu năm 2014 . Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore trong những năm gần đây có tiến bộ nhưng vẫn vẫn chưa tương xứng với những ưu đãi của đất nước Singapore đầy triển vọng, vẫn còn chiếm tỷ trong thấp so với khối ASEAN nói chung và thế giới nói riêng. Do đó,Việt Nam cần có những giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ,cân bằng cán cân thương mại với thị trường này. b. Về cơ cấu hàng xuất khẩu Những nhóm hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Singapore gồm: dầu thô; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; phương tiện vận tải và phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện; hạt tiêu; cà phê; hàng thủy sản; hàng dệt may… Về mặt hàng nông – thủy sản, Singapore hàng năm nhập khẩu 90% lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Singapore là rau quả, cà phê, hạt tiêu.., tăng trưởng trong 3 năm trở lại đây (2013 – 2015), đạt 19,5%năm. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng 1,3 lần từ 274,6 triệu USD (2012) lên đến 355,8 triệu USD (năm 2014). Tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Singapore tăng từ 2,9% (năm 2012) lên 4,1% (năm 2014). Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản, thủy sản sang thị trường Singapore gồm một số mặt hàng chủ yếu: hạt tiêu (Singapore là 1 trong 5 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam); thủy sản (đứng thứ 3); gạo (đứng thứ 3); rau quả (đứng thứ 6); cà phê, hạt điều và cao su đều chiếm tỷ trọng không nhỏ. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông thủy sản của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng tốt trong những năm gần đây, tuy nhiên chưa thực sự tương xứng với tiềm lực giữa hai nước. Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu sang Singapore năm 2015 Đơn vị tính: USD Mặt hàng T122015 12T2015 + %) năm 2015 so với năm 2014 Tổng kim ngạch 232.232.308 3.284.259.853 +10,4 Dầu thô 47.811.747 721.497.679 +16,2 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 30.393.532 366.806.947 29,8 Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác 23.708.846 321.723.398 +1,4 Phương tiện vận tải và phụ tùng 2.498.950 303.868.975 +73,8 Điện thoại các loại và linh kiện 12.455.009 297.730.509 +2,1 Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh 21.779.618 262.253.759 +18,0 Hàng thủy sản 9.870.844 103.224.744 3,3 Xăng dầu các loại 10.053.881 97.742.195 +93,3 Hạt tiêu 346.140 84.456.787 26,1 Hàng dệt, may 7.739.517 67.694.770 +25,8 Gạo 5.636.007 62.296.088 46,8 Giày dép các loại 3.860.673 45.962.174 +21,0 Dây điện và dây cáp điện 3.786.476 42.540.897 12,8 Sản phẩm từ sắt thép 2.939.528 26.317.735 7,6 Sắt thép các loại 1.874.609 15.444.556 41,7 Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù 846.076 15.361.644 +22,3 Cà phê 660.860 10.980.911 +25,0 Hạt điều 858.035 8.096.290 91,4 Chất dẻo nguyên liệu 162.636 3.788.184 +12,5 Thức ăn gia súc và nguyên liệu 177.821 2.627.130 +45,8 Nguồn: Tổng cục Hải quan Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất từ Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy: Trong năm 2015, mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất là dầu thô với 721,4,9 triệu USD, chiếm 22,0% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 16,2% so với năm ngoái. Đứng thứ hai là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, trị giá đạt 336,80 triệu USD, giảm 29,8% so với năm 2014, chiếm 11,2% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Singapore. Mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác xếp thứ ba về kim ngạch, đạt 321,72 triệu USD, chiếm 9,8% tổng trị giá xuất khẩu sang Singapore, tăng 15,4% so với năm trước. Một số mặt hàng có mức tăng trưởng kim ngạch cao trong năm 2015 so với năm 2014 gồm: phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 73,8%; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh tăng 18,0%; hàng dệt may tăng 25,8%; giày dép các loại tăng 21,0%; túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù tăng 22,3%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 45,8%;... Ngược lại, một số mặt hàng lại có kim ngạch sụt giảm so với năm ngoái như: kim loại thường khác và sản phẩm giảm 110,6%; hạt điều giảm 91,4%; gạo giảm 46,8%; dây điện và dây cáp điện giảm 12,8%; sắt thép các loại giảm 41,77%;... So sánh cơ cấu nhập khẩu của Singapore những năm 1990 với hiện tại, thì cơ cấu này đã hoàn toàn thay đổi. Những năm 1990, tỷ trọng nhập khẩu nguyên liệu hàng sơ chế và bán thành phẩm là chủ yếu nhằm phục vụ cho mục đích tái sản xuất, chuyển khẩu, một phần làm nguyên liệu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước. Hiện nay, Singapore tập trung nhập khẩu vào một số nhóm sản phẩm của các ngành công nghiệp là chính, nhằm thu về giá trị kim ngạch lớn, thu về giá trị gia tăng cao, khối lượng hàng nguyên liệu thô, sơ chế giảm hẳn cả về khối lượng, kim ngạch, kể cả tái xuất khẩu. Thống kê cho thấy xu hướng giảm thiểu dần nhập khẩu nhóm nguyên liệu thô sơ, sơ chế có nguồn gốc nông lâm thủy sản ,cho mục đích tái xuất, chuyển khẩu (nhóm hàng chủ yếu của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Singapore) và xu hướng tăng rất nhanh nhóm sản phẩm công nghiệp, thiết bị máy móc, hóa chất, các nhóm này có hàm lượng giá trị gia tăng cao khi tái xuất khẩu, mà trước mắt , Việt Nam chưa có khả năng xuất khẩu khối lượng lớn chuyển dịch cơ cấu nói trên. 2.1.2. Hiện trạng nhập khẩu của Việt Nam sang Singapore a. Về kim ngạch nhập khẩu Những năm trở lại đây, Singapore luôn là thị trường cung cấp hàng nhập chủ yếu cho Việt Nam (có năm đứng thứ 2 sau Nhật Bản). Hàng nhập khẩu từ Singapore chủ yếu là máy móc thiết bị, nguyên liệu phục vụ sản xuất, phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao. Do đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh, trong đó Singapore cũng là một nước có vốn đầu tư cao nên lượng hàng nhập khẩu dưới hình thức góp vốn đầu tư chiếm số lượng đáng kể trong tổng số nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore trong những năm gần đây như sau: Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore từ năm 2010 – 2015 và Tỷ trọng so với ASEAN và thế giới Năm Kim ngạch nhập khẩu (triệu USD) Tỷ trọng so với ASEAN (%) Tỷ trọng so với thế giới (%) 2010 4.101,144 25,00 4,83 2011 6.390,575 30,56 5,99 2012 6.690,330 32,23 5,88 2013 5.702,562 26,71 4,32 2014 6.834,730 29,82 4,62 2015 6.071,183 25,42 3,67 Nguồn: Tổng cục Thống kê Tổng cục Hải quan Nhìn vào bảng trên ta có nhận xét kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore chiếm tỷ trọng đáng kể trong khối ASEAN (trung bình chiếm 28,3%) và có xu hướng tăng theo các năm (riêng năm 2013 giảm đáng kể). Cụ thể, năm 2010 kim ngạch nhập khẩu từ Singapore đạt 4,1triệu USD chiếm tỷ trọng 25% so với ASEAN và 4,83 % so với thế giới thì đến năm 2012, Singapore là thị trường cung cấp hàng hóa lớn thứ 5 của Việt Nam với trị giá đạt 6,7 tỷ USD, tăng 4,7% so với năm 2011 và tăng hơn 63% so với năm 2010. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam có xuất xứ từ Singapore đang chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch nhập hàng hóa của cả nước, chiếm gần 13 tỷ trọng nhập khẩu trong ASEAN và gần 6% so với thế giới. Có thể nói , năm 2012 Việt Nam đã rơi vào tình trạng nhập siêu lớn, nhập siêu với Singapore đã lên tới 4,32 tỷ USD, cao gấp 1,8 lần kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước sang thị trường này. Đến năm 2013, kim ngạch nhập khẩu đã chững lại giảm 15% chỉ còn 5,7 triệu USD. Một trong số các lý do làm kim ngạch nhập khẩu từ Singapore giảm là do trong năm 2013 , nhập khẩu xăng dầu từ Singapore chiếm 54,7% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường, nhưng giá xăng lại giảm (từ 2,14% đến 2,43%). Đến năm 2014, giá trị nhập khẩu tăng trở lại đạt 6,8 triệu USD, đạt mức lớn nhất trong những năm vừa qua. Có thể nói giai đoạn 20102015, tình trạng nhập siêu từ Singapore nhìn chung vẫn ở mức cao. Sở dĩ có tình trạng này là do một số nguyên nhân chủ yếu sau: Đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng làm cho khối lượng nhập khẩu thiết bị, máy móc nguyên nhiên vật liệu… tăng đáng kể (Singapore là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam). Singapore là thị trường đầu cầu, Việt Nam vừa có thể nhập khẩu từ thị trường này vừa thông qua thị trường này để chuyển tải hàng nhập khẩu từ khắp nơi về Việt Nam. Hơn nữa, thị trường Singapore có thể đáp ứng phần lớn những nhu cầu nhập khẩu ở Việt Nam. Trong trương lai thị trường Singapore vẫn là thị trường nhập khẩu đầy tiêm năng, bạn hàng tập trung, trong đó phải kể đến sự góp mặt của các công ty xuyên quốc gia, công ty quốc tế lớn ở các nước phát triển như Châu Âu, Mỹ… đều có các đại diện tại Singapore và sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu của thị trường Việt Nam. b. Về cơ cấu hàng nhập khẩu Hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore (mặt hàng chính) có thể được chia thành 2 nhóm chính như sau: Nhóm 1: Nguyên, nhiên, vật liệu, hóa chất, sắt thép chiếm tỷ trọng 70 – 75% kim ngạch nhập khẩu từ Singapore Ví dụ như: xăng, dầu, hóa chất công nghiệp, máy thiết bị và phụ tùng. Nhóm 2: Hàng tiêu dùng, xe gắn máy, ôtô nguyên chiếc, bột mỳ, linh kiện điển tử tin học và một số hàng tiêu dùng khác, nhóm này chiếm khoảng 2530% kim ngạch nhập khẩu. Bảng 2.4: Cơ cấu hàng nhập khẩu từ Singapore giai đoạn 20102012 Đơn vị tính: triệu USD Tên hàng hóa 2010 2011 2012 Xăng dầu các loại 2.056 3.892 3.663 Máy vi tính, sản phẩm điện tử linh kiện 228 423 1.026 Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 226 272 334 Chất dẻo nguyên liệu 258 292 260 Sản phẩm từ dầu mỏ khác 206 254 163 Giấy các loại 115 127 129 Sản phẩm hóa chất 95 111 108 Bánh, kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc 6 6 103 Hóa chất 68 85 100 Sản phẩm từ sắt thép 36 94 91 Hàng hóa khác 806 833 713 Tổng 4.101 6.391 6.691 Nguồn: Tổng cục Hải quan Hình 2.1: Cơ cấu nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ Singapore trong năm 2012 (Nguồn: Tổng cục Hải quan) Nhận xét: Xăng dầu các loại: xăng dầu tinh lọc là một trong những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch nhập khẩu của Việt. Trong năm 2012, nhập khẩu nhóm hàng này đạt kim ngạch 3,66 tỷ USD, giảm 5,9% so với năm 2011 và chiếm 54,7% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này. Năm 2013 chiếm đến trên 50% lượng hàng hóa nhập khẩu. Trong tương lai khi nền kinh tế càng phát triển với nhiều khu công nghiệp mới ra đời thì nhu cầu về xăng dầu của Việt Nam chắc chắn cũng vẫn tiếp tục tăng. Máy vi tính,sản phẩm điện tử: Việt Nam nhập khẩu linh kiện điện tử Singapore năm 2011 là 423 triệu USD ,năm 2012 tăng lên 1026 triệu USD chiếm 15,3 % gia strị các mặt hàng nhập khẩu. Trong chiến lược phát triển kinh tế của Singapore thì mặt hàng này là mặt hàng mà Singapore luôn tập trung sự quan tâm và đầu tư lớn và đây cũng là đối tác trao đổi quan trọng của Việt Nam trong những năm tới đây. Máy móc thiết bị: để tiến hành chiến lược phát triển kinh tế thì nhu cầu về máy móc thiết bị ngày càng tăng. Singapore cũng là một trong những thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam. Mặt hàng này đứng vị trí thứ 3 (năm 2012) và dự đoán nhu cầu mặt hàng hàng này chắc chắn sẽ tăng trong tương lai (hiện nay Việt Nam không ngừng tăng lên số dự án, mở rộng liên doanh, đầu tư nước ngàoi vì vậy không thể không cần mặt hàng quan trọng này). Nhìn chung cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore tập trung chủ yếu vào xăng dầu các loại,vào thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu cho xây dựng công nghiệp, cho sản xuất, phát triển các ngành kinh tế là chính. 2.2. Đánh giá chung về quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore Mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore đã có từ khá lâu. Từ trước những năm 1970, mặc dù chưa thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước, song Singapore đã là đầu cầu trung chuyển, là thị trường đầu mối xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác thuộc khu vực ngoài khối xã hội chủ nghĩa. Cũng qua thị trường này, Việt Nam nhập khẩu được nhiều hàng hóa, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư quan trọng cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Hiệp định Thương mại giữa Singapore và Việt Nam được ký vào năm 1992 đã thực sự tạo ra sự cất cánh về thương mại giữa hai nước. Đặc biệt, từ sau khi Việt Nam tiến hành đổi mới, thực hiện chính sách mở cửa, các mối quan hệ kinh tế thương mại song phương luôn luôn được tăng cường, củng cố. Cùng là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), quan hệ thương mại Việt Nam Singapore vẫn luôn có những bước phát triển tốt đẹp.Việt Nam luôn coi Singapore là đối tác thương mại hàng đầu trong khối ASEAN và thế giới. Năm 2013, Singapore là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt nam trong khối ASEAN, Chỉ sau Malaysia và Thailand. Năm 2014, Singapore là đối tác thương mại thế giới thứ 6 của Việt nam chỉ sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Hòa Kì, Đài Loan, Nhật Bản. Hiện nay, Singapore là nước mạnh nhất trong khối ASEAN. Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm của chính phủ Singapore. Trong những năm vừa qua, Chính phủ Singapore đã tạo được nhiều điều kiện thuận lợi trong chính sách kinh tế đặc biệt là thương mại để từng bước giúp đỡ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới. Trước khi ký Hiệp định thương mại giữa hai nước, chính phủ Singapore cho phép các thương nhân Singapore khi nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam chỉ phải nộp thuế 0.5% giá trị hàng nhập khẩu. Vì vậy, đã khuyến khích các doanh nghiệp Singapore đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Singapore. Khi Hiệp định thương mại giữa hai nước được ký kết thì chính phủ đã chính thức xóa bỏ những khoản thuế này.Nhìn chung Singapore cho tự do xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, hầu hết (99%) hàng hoá xuất nhập khẩu không phải nộp thuế. Duy có xe máy, rượu, xăng dầu và thuốc lá là bị đánh thuế nặng. Đối với hàng hóa nhập khẩu từ Singapore, Singapore cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam được hưởng những ưu đãi như điều kiện thanh toán, ưu đãi về thuế quan (Singapore hiện đang nằm trong khối CEPT Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung với thuế suất = 0 – 5%). Trong suốt mấy năm liền, Singapore luôn nhượng lại hạn ngạch may mặc xuất khẩu sang EU cho Việt Nam (mặt hàng áo len, áo T – shirt, quần, sơ mi nữ, sơ mi nam,…) Hiện nay, Singapore đã và đang là thị trường xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao cho Việt Nam. Kim ngạch các mặt hàng linh kiện điện tử, tin học và thiết bị bưu chính viễn thông có chiều hướng tăng. Số lượng các công ty mang Quốc tịch Singapore hoạt động trong lĩnh vực thiết kế phần mềm, kết nối mạng tin học,… đăng ký mở văn phòng đại diện tại Việt Nam trong những năm gần đây tăng lên rất nhiều. Ngược lại, Singapore cũng luôn tạo điều kiện cho các công ty, doanh nghiệp Việt Nam thành lập văn phòng đại diện họa động tại Singapore nhằm tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam qua các đầu mối này và nó cũng tạo đà cho việc thúc đẩy quan hệ mua bán giữa hai nước. Còn về phía Việt Nam, Singapore là một quốc đảo rất hạn chế về tài nguyên, nguyên liệu chủ yếu nhập từ nước ngoài, tuy nhiên lại có một nền công nghiệp hiện đại rất phát triển, đặc biệt là công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến, công nghệ sản xuất các máy móc, linh kiện điện tử. Trong khi đó, nguồn nguyên vật liệu của Việt Nam lại khá dồi dào mà các ngành công nghiệp còn hạn chế, nên Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Singapore dầu thô, các loại nguyên nhiên vật liệu chưa chế biến và nhập khẩu các sản phẩm như linh kiện điện tử, máy móc, dầu …. 2.2.1. Về xuất khẩu • Thành công Giá trị xuất khẩu luôn có xu hướng gia tăng đóng góp không ít vào GDP cũng như tốc độ tăng trưởng của Việt Nam. Chính phủ Singapore cũng có rất nhiều ưu đãi đối với hàng hóa Việt Nam, rất nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu có thuế suất bằng 0%. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho xuất nhập khẩu và các dịch vụ rất tốt, vận chuyển nhanh và thuận tiện, thủ tục dễ dàng. Hệ thống dịch vụ cho kinh doanh phát triển, đạt trình độ quốc tế, tin cậy cao như hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông… Đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thì Singapore còn là thị trường tiêu thụ và đầu cầu trung chuyển hàng hóa xuất khẩu quan trọng. • Hạn chế Mặc dù đã có nhiều cố gắng, cùng với việc tận dụng các lợi thế rất hấp dẫn của thị trường Singapore nhưng kim ngạch xuất khẩu còn rất thấp. Việc cung ứng mặt hàng chưa phù hợp với thị trường Singapore, nước này tập trung vào việc nhập khẩu hàng công nghiệp, bán thành phẩm công nghiệp và chủ yếu là xuất khẩu, trong khi Việt Nam lại chỉ tập trung xuất khẩu những mặt hàng nông lâm thô sơ. Doanh nghiệp Việt Nam non nớt và kém hiểu biết, không tận dụng được những lợi thế đó, tầm nhìn còn hạn chế. 2.2.2. Về nhập khẩu Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị điện tử, nguyên vật liệu từ Singapore đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp nước ta thông qua việc mua bán, chuyển giao các dây chuyền công nghệ, máy móc, kĩ thuật hiện đại. Tuy nhiên, cũng do các mặt hàng này luôn có giá trị lớn nên làm cho kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam luôn rất cao, và kim ngạch xuất nhập khẩu luôn trong tình trạng nhập siêu. Cũng từ đó làm giảm giá trị GDP cả nước, tăng sự cạnh tranh của các hàng hóa trong nước. Việt Nam cần có những biện pháp tăng các ngành công nghiệp chế biến, phát triển khoa học công nghệ để có thể hạn chế nhập khẩu những nguyên vật liệu giá trị cao, thúc đẩy xuất khẩu thành phẩm, hàng hóa đã qua chế biến. Đồng thời tận dụng được những lợi thế về mối quan hệ để tăng cường xuất khẩu những mặt hàng mới, đầy tiềm năng ra Singapore. CHƯƠNG III. TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MỖI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE 3.1. Triển vọng mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore 3.1.1. Phương hướng phát triển quan hệ thương mại Việt NamSingapore Như đã phân tích ở trên thương mại Việt Nam Singapore có rất nhiều tiềm năng. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam còn rất nhiều cơ hội để tiến vào thị trường Singapore, còn về nhập khẩu thì Singapore luôn là bạn hàng tiềm lực, đáp ứng đủ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam. Điều đáng nói là, Singapore là thị trường mà hoạt động thương mại và thuế quan hầu như được nới lỏng. Chính phủ Singapore chỉ đánh thuế nhẹ với một số mặt hàng như rượu, bia,thuốc lá, ô tô…còn đa số các hàng hóa khác không phải chịu thuế. Đây chính là nững thuận lợi về chính sách thương mại và quản lý xuất nhập khẩu của Singapore mà các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng,để từ đó quan hệ buôn bán giữa hai nước phát triển được như hiện nay. Cụ thể có những ưu đãi thuế quan xuất nhập cảnh và những chính sách khuyến khích khác như sau: Trong số các mặt hàng chủ yếu ta xuất sang Singapore thì chỉ có mặt hàng quần áo là phải chịu thuế nhập khẩu, mức thuế khoảng 5%. Hàng xuất khẩu từ Singapore không phải đóng thuế. Nếu tạm nhập để tái chế thì phải nộp thuế hàng hóa và dịch vụ 3%, khi tái xuất sẽ được hoàn lại. Hàng nhập không phải nộp thuế nhập khẩu, chỉ phải chịu 3% thuế hàng hóa và dịch vụ theo trị giá CIF hoặc giá bán và phụ phí nếu có. Các công ty xuất nhập khẩu chỉ phải đóng thuế ngành hàng và thuế công ty 26% (mức này năm 1993 là 31%) tính trên lợi nhuận ròng của năm tài chính và chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh giảm thuế khi tình hình kinh tế phát triển tốt, ngoài ra không phải đóng thuế thêm bất cứ loại thuế nào khác. Thuế nhập khẩu cá nhân từ 228% (mức thấp nhất khu vực), người nước ngoài (không cư trú) không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Các công ty lớn có vốn trên 200 triệu đô la tại Singapore chỉ phải nộp thuế ở mức là 10% do chính phủ khuyến khích các công ty lớn và công ty đa quốc gia đặt trụ sở tại Singapore. Singapore không áp dụng các biện pháp phi thuế quan nhằm hạn chế thương mại hoặc có mục đích khác (trừ những biện pháp áp dụng chung của các tổ chức mà Singapore có tham gia như cấm vận của Liên hợp quốc đối với Nam phi trước đây) và cũng không áp dụng các loại thuế đối kháng cũng như các khoản phụ thu thường xuyên hoặc bất thường. Singapore mở rộng cửa cho tất cả các dạng, các hình thức, tổ chức kinh doanh Việt Nam cũng như nước ngoài mở công ty, xí nghiệp bằng mọi loại hình, công ty cổ phần liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện…với các thủ tục nhanh chóng, dễ dàng đặc biệt là những tập đoàn đa, xuyên quốc gia, công ty lớn đầu tư vốn lớn…Singapore cũng khuyến khích các công ty, doanh nghiệp đưa kỹ thuật cao, sáng chế mới, chuyên gia giỏi và thuê mướn nhân tài từ ngoài vào. Chế độ ngoại hối hoàn toàn tự do, thị trường vốn tự do, tự do lưu chuyển vốn, lãi, lợi nhuận trên thị trường và ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Hối đoái giữa các đồng tiền được chuyển dịch tự do. Có thể nói , với những chính sách thuận lợi trên của Singapore thì Việt Nam chưa thực sự tận dụng hết những ưu đãi này.Trong những năm sắp tới,nếu các doanh nghiệp Việt Nam biết tranh thủ thời cơ, tận dụng thị trường Singapore một thị trường mở hoàn toàn,chắc chắn kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước sẽ tăng lên rất nhiều. a. Phương hướng phát triển xuất khẩu Hiện tại hàng xuất khẩu của Việt Nam chiếm tỷ trọng hết sức khiêm tốn trong tổng ngạch xuất nhập khẩu của Singapore (xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 0,400,45%, xuất khẩu hai chiều Việt NamSingapore chiếm khoảng 0,850,92% xuất nhập khẩu của Singapore hàng năm). Trong khi đó, nhập khẩu của Singapore từ châu Á là rất lớn chiếm khoảng trên 60% tổng ngạch nhập khẩu. Từ so sánh trên cho ta nhận xét đó là, hàng xuất khẩu Việt Nam còn nhiều tiềm năng tại thị trường này, nếu ta biết khai thác triệt để những thế mạnh của hàng xuất khẩu Việt Nam và tận dụng những lợi thế thị trường Singapore có để tăng nhanh khối lượng xuất khẩu của ta trong tương lai. Một số mặt hàng của Việt nam đã được xếp thứ hạng trong các nước cung cấp khối lượng lớn như: Mặt hàng Xếp thứ Mặt hàng Xếp thứ Tôm đông các loại 4100 Gừng khô và tươi 725 Cá biển các loại 10100 Rau chế biến 725 Cá nước ngọt các loại 921 Bắp cải 314 Mực các loại 921 Chuối 59 Tinh bột sẵn 624 Quế và hoa quế 213 Bột khoai lang 624 Chè xanh 216 Lạc nhân 18 Tinh dầu 8100 Như vậy ,có thể coi khả năng hàng Việt Nam xuất khẩu sang và qua thị trường Singapore là rất lớn.Nhiều mặt hàng như thủy hải sản,nông sản ,lâm sản đã chiếm vị trí cao trong số mặt hàng mà Singapore nhập khẩu. b. Phương hướng phát triển nhập khẩu Trong nhập khẩu hàng hóa do nước ta còn đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, trình độ phát triển còn thấp,nên chưa xóa bỏ ngay được tình trạng nhập siêu. Mặt khác một điểm lưu ý Việt Nam luôn là bạn hàng nhập siêu truyền thống từ thị trường Singapore,và tương lai điều này cũng không thể khắc phục được do tính chất và đặc điểm khác nhau của hai nước, song Việt Nam chỉ có thể giảm bớt nhập siêu nếu có chính sách đầu tư thỏa đáng và khi hàng xuất khẩu của các xí nghiệp đầu tư xuất khẩu sang thị trường này tăng dần lên sau khi sản xuất đi vào ổn định và nhu cầu nhập khẩu để đầu tư ban đầu của xí nghiệp liên doanh giảm. Vì vậy, chúng ta phải cố gắng đảm bảo uy tín bạn hàng với Singapore song song với việc đầu tư sản xuất các mặt hàng đáp ứng nhu cầu của thị trường và khai thác khả năng hợp tác trong các lĩnh vực quản lý, điều hành thương mại,dịch vụ hậu cần của nước này. 3.1.2. Tác động của tiến trình hội nhập kinh tế đối với triển vọng mối quan hệ thương mại Việt Nam – Singapore Thời gian qua, với nhiều nỗ lực và cố gắng, quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng giúp Việt Nam nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với trên 180 nước thuộc tất cả các châu lục và 70 vùng lãnh thổ, là thành viên của hầu hết các tổ chức quan trọng trong khu vực và quốc tế như: ASEAN, APEC, ASEM, WTO, AEC, TPP….Việc mở rộng giao lưu mối quan hệ thương mại với các nước, các tổ chức đã giúp thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng giúp giải quyết các vấn đề việc làm, nghèo đói, bất bình đẳng….cho người dân Việt Nam . Việc kí kết nhiều hiệp định thương mại và tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế, đặc biệt là WTO đã giúp cho thương mại quốc tế Việt Nam đạt được nhiều bước tiến quan trọng, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ vào GDP cũng như là cải thiện cán cân thương mại. Về quy mô, kim ngạch xuất khẩu không ngừng được tăng lên, năm 1986, tổng kim ngạch xuất khẩu mới đạt 789 triệu USD, thì năm 2014 đã cao gấp 190,11 lần, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng cao (trừ năm 2009 tốc độ tăng trưởng âm). Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước ước đạt 150 tỷ USD. Trong khi đó, kim ngạch nhập ước đạt 148 tỷ USD, với việc xuất siêu 2 tỷ USD, năm 2014 trở thành năm thứ 3 liên tiếp có cán cân thương mại thặng dư, vượt chỉ tiêu đầu năm Quốc hội đặt ra với mức tăng khoảng 10% của kim ngạch xuất khẩu Sự chuyển dịch mạnh mẽ từ xuất khẩu hàng thô hoặc mới sơ chế giảm (từ 55,8% năm 2000 xuống còn khoảng 34% năm 2013), tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã tinh chế tăng (tương ứng từ 44,2% lên 66%. Hàng hóa của Việt Nam đã được mở rộng trên thị trường 220 nước và vùng lãnh thổ, hầu hết các châu lục, chủ yếu là châu Á. Về hoạt động nhập khẩu hàng hóa, cũng gia tăng mạnh mẽ. Năm 1995 so với 1985, kim ngạch nhập khẩu tăng gấp gần 5 lần (8.155,4 triệu USD1.857,4 triệu USD); năm 1996 kim ngạch nhập khẩu là 11.143,6 triệu USD, đến năm 2006 là 44.981,1 triệu USD, tăng gấp khoảng gần 4 lần so với năm 1996.Năm 2012 so với năm 2006, kim ngạch nhập khẩu tăng gấp hơn 2,5 lần (113.792,7 triệu USD44.891,1 triệu USD).Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyê
Xem thêm

Đọc thêm

WTO lịch sử hình thành và phát triển

WTO lịch sử hình thành và phát triển

Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại La Habana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này.567 Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997). ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT đóng vai trò là khung pháp lí chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, kí kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới. Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995.8
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày nay. Xu hướng hội nhập đã tác động mạnh mẽ đối với các quốc gia, thể hiện rõ nét trên lĩnh vực thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Các quốc gia ngày càng chủ động mở cửa hội nhập sâu, rộng các lĩnh vực trong nền kinh tế của mình, trong đó có cả lĩnh vực vốn nhạy cảm của nền kinh tế như lĩnh vực tài chính ngân hàng. Việt Nam đã gia nhập WTO mở ra thị trường toàn cầu cho hàng hoá dịch vụ trong nước. Quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có những bước phát triển khả quan, thương mại hai chiều ngày một tăng trưởng, xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng được cải thiện rõ nét. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình mở rộng giao lưu thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp cũng đang tìm mọi biện pháp để xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường mới. Khi các hoạt động này càng sôi động và phát triển thì kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu qua các Ngân hàng thương mại sẽ tăng theo. Thực tế, hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam tăng lên qua các năm cũng đồng thời đi với nó là hoạt động thanh toán XNK của các Ngân hàng thương mại cũng tăng lên. Thanh toán quốc tế trở nên ngày càng quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam là mắt xích quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển, đồng thời hỗ trợ thúc đẩy hoạt động kinh doanh Xuất – Nhập khẩu của các doanh nghiệp. Ngân hàng ngoại thương Hà Nội là một chi nhánh của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – ngân hàng luôn tiên phong trong hoạt động TTQT. Bên cạnh các kết quả đạt được, Ngân hàng phải luôn đối mặt với rất nhiều rủi ro khi kinh doanh trong môi trường biến động và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mặt khác, hoạt động TTQT gắn liền với hoạt động thương mại song phương, đa phương, liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều đối tác tham gia ở các quốc gia khác nhau; do đó cùng với việc mở rộng hoạt động TTQT tất yếu sẽ kéo theo sự gia tăng các rủi ro cho ngân hàng. Trong thời gian thực tập tại NHNT Hà Nội, xuất phát từ những vấn đề và thực tiễn trên, xét thấy tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, em đã lựa chọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội ” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Thứ nhất, phân tích mặt lý thuyết về TTQT và rủi ro trong TTQT đối với các NHTM. Thứ hai, đánh giá thực trạng rủi ro trong TTQT tại NHNT Hà Nội để thấy được nguyên nhân rủi ro, từ đó rút ra được những vấn đề cần nghiên cứu giải quyết. Thứ ba, từ thực trạng rủi ro TTQT tại NHNT Hà Nội và nguyên nhân đã được phân tích, đề tài đã đưa ra định hướng, giải pháp và một số kiến nghị cần thiết nhằm góp phần hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT đối với NHNT Hà Nội trong hội nhập kinh tế quốc tế. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về TTQT và rủi ro TTQT đối với các NHTM; thực trạng rủi ro trong TTQT tại NHNT Hà Nội; từ đó đánh giá nguyên nhân rủi ro và tầm quan trọng của việc hạn chế rủi ro TTQT đối với ngân hàng, đặc biệt là các rủi ro trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài chỉ nghiên cứu ở NHNT Hà Nội, lấy thực tiễn từ năm 2005 đến năm 2007 làm cơ sở chứng minh. Trên cơ sở những nghiên cứu này, đề tài đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin về sự vận động và phát triển của xã hội. Phương pháp lấy mẫu thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp. Phương pháp diễn giải, quy nạp. Lý thuyết kinh tế vi mô, vĩ mô. 5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài được kết cấu thành ba chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế và rủi ro thanh toán quốc tế đối với các NHTM. Chương 2: Thực trạng rủi ro thanh toán quốc tế tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế đối với Ngân hàng ngoại thương Hà Nội.
Xem thêm

66 Đọc thêm

Bảo hộ tên thương mại và nhãn hiệu Bài tập nhóm Luật Sở hữu trí tuệ

BẢO HỘ TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU BÀI TẬP NHÓM LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế thị trường và thương mại quốc tế, các nhãn hiệu và tên thương mại ngày càng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của chủ thể kinh doanh. Dù là hai yếu tố khác biệt nhau nhưng “tên thương mại” và “nhãn hiệu” rất dễ bị nhầm lẫn và thực chất chúng cũng có mối quan hệ lẫn nhau và cùng nhau tạo nên dấu hiệu nhận biết các doanh nghiệp, thương nhân với nhau. Vấn đề bảo hộ tên thương mại và nhãn hiệu vì thế mà được đặt ra và được đảm bảo thực hiện bởi pháp luật, đặc biệt là luật Sở hữu trí tuệ.
Xem thêm

9 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI HÀ NỘI THEO HƯỚNG VĂN MINH, HIỆN ĐẠI ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI HÀ NỘI THEO HƯỚNG VĂN MINH, HIỆN ĐẠI ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, thương mại tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước. Kinh tế càng phát triển thì hình thức hoạt động thương mại càng phong phú, sự phát triển của thương mại là một trong những yếu tố phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình phát triển thương mại của một nước được thể hiện trên cả khía cạnh nội dung và hình thức. Về khía cạnh nội dung, sự phát triển của thương mại được phản ánh qua khối lượng hay giá trị của hàng hóa và dịch vụ được mua bán trao đổi, tạo ra sự thông suốt nối liền sản xuất và tiêu dùng. Về khía cạnh hình thức, sự phát triển thương mại phản ánh việc mua bán trao đổi được tiến hành theo phương thức hay hình thức nào. Tính văn minh và hiện đại của hoạt động thương mại không chỉ góp phần làm tăng khối lượng hàng hóa và dịch vụ được lưu chuyển trong nền kinh tế mà còn là hình thức biểu hiện sự phát triển của một quốc gia. Văn minh hóa và hiện đại hóa thương mại là hai xu thế có tính quy luật của phát triển thương mại nói chung, thương mại bán lẻ đương đại nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và gia tăng cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên tất cả các hoạt động kinh tế. Xuất phát từ vai trò của các hình thức hoạt động thương mại, bên cạnh việc nhấn mạnh vai trò lưu thông của thương mại đối với phát triển kinh tế, Đảng ta còn nhấn mạnh vai trò của các hình thức hoạt động thương mại, một trong những định hướng quan trọng là phát triển thương mại theo hướng văn minh và hiện đại. Là thủ đô của cả nước, Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Thương mại Hà Nội là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của thương mại cả nước, nên đương nhiên được định hướng phát triển văn minh, hiện đại. Đồng thời, phát triển thương mại Hà Nội theo hướng văn minh, hiện đại còn là điều kiện và công cụ cấp thiết để thực hiện mục tiêu xây dựng Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Việc phát triển thương mại theo hướng văn minh hiện đại có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với Hà Nội mà còn đối với cả nước. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, mặc dù có nhiều khó khăn song kinh tế Hà Nội vẫn tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn cao hơn mức bình quân của cả nước. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Một trong những nguyên nhân góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô thời gian qua là sự phát triển các hình thức hoạt động thương mại. Bên cạnh các phương thức thương mại truyền thống, nhiều hình thức thương mại mới theo hướng văn minh hiện đại được hình thành và phát triển như hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi, thương mại điện tử… Sự phát triển của các hình thức thương mại này không chỉ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần quan trọng đối với việc phát triển thủ đô theo hướng xanh - sạch - đẹp, từng bước đáp ứng nhu cầu mong mỏi của người dân trong nước cũng như khách quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, sự phát triển của thương mại Hà Nội còn nhiều hạn chế và không ít bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Thủ đô. Số lượng các cơ sở thương mại bán lẻ đã được tăng lên, song tỷ trọng còn nhỏ. Bên cạnh các cơ sở bán lẻ được gọi là “văn minh, hiện đại” vẫn còn những điểm kinh doanh thương mại lấn chiếm vỉa hè lòng đường, làm cản trở giao thông, mất mỹ quan thành phố và gây phản cảm với khách du lịch quốc tế. Về hàng hóa, bên cạnh các cơ sở kinh doanh thương mại văn minh, hiện đại, các mặt hàng được bày bán với giá cả được niêm yết rõ ràng, chất lượng bảo đảm; vẫn còn các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, giá cả mập mờ chất lượng không bảo đảm, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ các mặt hàng kém chất lượng… Để phát huy vai trò của thương mại đối với phát triển kinh tế- xã hội của Thủ đô, đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại. Thực hiện mục tiêu đó, cần tiến hành nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại; phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của thương mại Hà Nội thời gian qua, chỉ ra các nguyên nhân hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm phát triển thương mại Hà Nội theo hướng văn minh, hiện đại trong thời gian tới là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề trên đây, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: "Phát triển thương mại Hà Nội theo hướng văn minh, hiện đại đến năm 2020, tầm nhìn 2030" làm đề tài luận án tiến sỹ của mình, với hy vọng kết quả của luận án sẽ góp phần phát triển Thủ đô trong thời gian tới. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích: Trên cơ sở nhận diện nội hàm lý luận chung và thực tế, yêu cầu phát triển thương mại văn minh hiện đại trên địa bàn Hà Nội, luận án đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh sự phát triển thương mại trên địa bàn Thủ đô theo hướng văn minh, hiên đại, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn mới. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu lý thuyết nhằm góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận chung về phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại. - Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thương mại văn minh, hiện đại ở một số Thủ đô các nước trong khu vực và rút ra bài học cho phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại ở thành phố Hà Nội. - Phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua. - Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án: Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự phát triển thương mại Hà Nội, theo hướng văn minh, hiện đại. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Phạm vi về thời gian: Từ năm 2008 đến 2014, đề xuất giải pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030. - Phạm vi nội dung: + Tập trung vào thương mại bán lẻ hàng hóa ở Hà Nội. + Tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng phát triển của một số cơ sở bán lẻ văn minh, hiện đại tiêu biểu như: siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng bán giá rẻ, chuỗi cửa hàng bán lẻ, thương mại điện tử...
Xem thêm

209 Đọc thêm

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta và đề xuất ý kiến nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta và đề xuất ý kiến nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu Bài tập học kỳ Luật Tài chính 8,5đ Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tài chính Hội nhập với thế giới là một một xu hướng chung của bất kì các quốc gia nào trong thời kì hiện nay, một trong những phương thức để hội nhập với kinh tế toàn cầu đó là xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xư hướng chung đó của toàn thế giới, chúng ta cũng không ngừng nỗ lực để phát triển nền kinh tế đất nước. Luật Thuế xuất nhập khẩu năm 2005 ra đời đã kịp thời điều chỉnh những quan hệ trong quá trình thu và quản lí hàng hóa xuất nhập khẩu. Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu”. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ NHẬP KHẨU 1. Một số nét về thuế nhập khẩu a. Khái niệm về thuế nhập khẩu Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhập khẩu tùy thuộc và từng góc độ tiếp cận như : Xét về phương diện kinh tế, thuế Nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hoá qua biên giới một nước. Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu. Ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thuế nhaaph khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào hành vi dịch chuyển hàng hóa qua biên giới của một quốc gia b. Đặc trưng của thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có 3 đặc trưng dễ nhận thấy nhất như sau: Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hoá được phép vận chuyển qua biên giới. Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu. Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu. c. Vai trò thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có 3 vai trò lớn sau đây: Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Thuế Nhập khẩu không chỉ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn có tác động tới số lượng và cơ cấu các nguồn thu từ các sắc thuế khác có liên quan. Trong mối quan hệ hữu cơ với các sắc thuế khác, thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách từ những hình thức thuế gắn với hoạt động kinh doanh, thương mại như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp… Điều tiết hoạt động kinh tế. Thuế Nhập khẩu là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà nước đối với nền kinh tế. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước điều chỉnh quá trình phân bổ và phân bổ lại các nguồn lực của nền kinh tế. Với việc tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hóa trong thương mại quốc tế, thuế nhập khẩu điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và như vậy tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất. Thuế Nhập khẩu là công cụ hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu đánh thuế ở mức khác nhau đối với từng loại hàng hóa nhập khẩu, từ đó điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và từ đó tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực cho các ngành sản xuất. 2. Pháp luật về thuế nhập khẩu a. Khái niệm về pháp luật thuế nhập khẩu: Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu phát sinh giữa nhà nước với người nộp thuế b.Nội dung pháp luật thuế nhập khẩu b1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu Gồm người nộp thuế là tổ chức,cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu( điều 4 luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu) và người thu thuế là Nhà Nước trong đó có những cơ quan đại diện cho nhà nước để thu thuế nhập khẩu như cơ quan hải quan và một số cơ quan chức năng khác. b2. Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu Gồm: Các quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu Các sự kiện pháp lí b3. Căn cứ xác định nghĩa vụ thuế nhập khẩu Đối với những mặt hàng áp dụng thuế suất theo tỉ lệ phần trăm (%), căn cứ tính thuế là: Số lượng,đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu Thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với hàng hóa nhập khẩu Đối với những mặt hàng nhập khẩu ấp dụng thuế tuyệt đối Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan Mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vi hàng hóa nhập khẩu b4.Phương pháp tính thuế Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x giá tính thuế x thuế suất(%) của từng mặt hàng ghi trong biểu thuế tại thời điểm tính. Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối: Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị từng mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x mức thuế tuyệt đối quy định trên 1 đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính b5. Đồng tiền tính thuế nhập khẩu; đồng Việt Nam, trong trường hợp được phép nộp bằng ngoại tệ thì phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. b6. Trình tự, thủ tục nộp thuế nhập khẩu 1: Kê khai thuế và tính thuế nhập khẩu 2. Nộp thuế và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu II. TÌNH HÌNH THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA Luật thuế Xuất khẩu,thuế Nhập Khẩu đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1993 và 1998). Tuy nhiên, luật này đã bộc lộ nhiều bất cập, quy định không hợp lý dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách và ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Để khắc phục, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 đã ra đời. Bên cạnh đó là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đạo luật này đã khắc phục được nhiều bấp cập của Luật Thuế xuất khẩu, thuế Nhập Khẩu 1991. Trong quá trình thực thi từ 112006 đến nay, đạo luật này đã thể hiện nhiều ưu điểm, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Từ khi Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chính sách thuế, góp phần thúc đẩy hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Trong điều kiện quốc tế hóa nền kinh tế, Việt Nam gia nhập WTO, chính sách về thuế Nhập khẩu ngày càng được mở rộng, mức độ mở cửa thị trường ngày càng cao đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu. Pháp luật thuế nhập khẩu đã phản ảnh chủ trương mở rộng kinh tế quốc tế, mở rộng ngoại giao của nước ta. Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, có các ưu đãi thuế quan, xác định giá tính thuế phù hợp với pháp luật quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Từ đó, thúc đẩy quan hệ ngoại giao với các quốc gia liên quan. Nguồn thu từ thuế Nhập khẩu là một nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước. Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, tính từ 112011 đến 3132111, thu ngân sách nhà nước của ngành hải quan ước đạt 44.000 tỷ đồng, tăng khoảng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 ra đời đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao sự minh bạch trong hoạt động hải quan, theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy vậy vẫn còn một số hạn chế trong việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như sau: Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu chưa thật sự triệt để, pháp luật thuế có nhiều chỗ còn lỏng lẻo tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế luồn lách. Việc kê khai thuế, nộp thuế còn mất nhiều thời gian và còn quá nhiều uẩn khúc. Còn nhiều cán bộ thuế chưa có đủ năng lực và trách nhiệm trong bộ máy quản lý thuế nhập khẩu…. III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Những nhân tố chung ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế nhập khẩu nói riêng Pháp luật thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng chung với các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế ở Việt Nam như: Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước; Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới;Chính sách phát triển chung của nhà nước; Nhu cầu của Ngân sách a. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn đó. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chỉ là tấm gương phản chiếu thực trạng tình hình kinh tế và xã hội trong nước và quốc tế mà thôi. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích chung của từng quốc gia với lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, từng cá nhân và hộ gia đình, chính sách thuế xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ có thể sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ; mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc và mục tiêu tự do hóa thương mại. . Tình hình kinh tế Hiện nay nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đây bình quân đầu người tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức ổn định, đời sống của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như thất nghiệp, sản xuất suy giảm, hàng hóa sản xuất ngày càng kém cạnh tranh với hàng nước ngoài. Đặc biệt, trong những năm gần đây, hàng hóa tiêu dùng, hàng điện tử của các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngày càng tràn lan trên thị trong nước hàng nội địa gần như không có khả năng cạnh tranh, không còn chỗ đứng trên chính thị trường quốc gia của mình. Vì vậy, Thuế nhập khẩu đã ra đời với chức năng cơ bản của một loại thuế và quan trọng hơn nó còn có vai trò đặc thù đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa ngoại nhập. Vai trò này xuất phát từ nguồn gốc của hàng hóa, hàng nhập khẩu sẽ có giá cả cao hơn do phải chịu một mức thuế nhất định khi nhập khẩu qua các cửa khẩu, cảng biển trong khi hàng hóa trong nước lại không phải chịu phần thuế nhập khẩu này ( trừ những nguyên liệu, linh kiện phải nhập từ nước ngoài về).Vì vậy, Chính phủ xem việc đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để góp phần đảm bảo sức cạnh tranh cho hàng hoa strong nước, hanjc hế được phần nào sự độc chiếm thị trường của hàng ngoại nhập . Tình hình trính trị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Hiện nay tình hình chính trị nước ta tương đối ổn định, không xảy ra các cuộc chiến tranh, khủng bổ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thành phần chống phá Nhà nước, những người có hành động phản Đảng và những thế lực thù địch bên ngoài nên phải hết sức đề phòng. Trong thời gian qua, một số vụ tham nhũng, hối lộ đang diễn ra một cách phức tạp nổi cộm như vụ án Dương Chí Dũng với sự nhũng tay của không ít các quan chức cấp cao nhà nước đã gây ra những chấn động lớn đối với cục diện chính trị, kinh tế trong nước. Đặc biệt, gần đây, Trung Quốc đã sử dụng nhiều chiêu trò để thao túng thị trường nông sản trong nước gây ra những bất lợi nhất định đối với quá trình hội nhập kinh tế nước ta. Chính vì vậy, bên cạnh chính sách duy trì nền chính trị trong nước ổn định, Đảng và nhà nước ta cần siết chặt hơn nữa công tác quản lý hàng hóa nhập vào trong nước, tránh để trường hợp lợi dụng chính sách hội nhập để thực hiện âm mưu về chính trị, thao túng thị trường trong nước gây nên nhiều bất lợi cho quốc gia. b. Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới Trên thế giới xu hướng chung là các nước cùng liên minh thành lập lên những liên minh kinh tế thế giới để cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Theo đó các nước thành viên sẽ có những thỏa thuận tạo lên khung pháp lý mà muốn tham gia thì quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí đó. Trên thực tế, luật thuế nhập khẩu của mỗi quốc gia sẽ phán ánh tình trạng hội nhập của quốc gia đó và vì vậy nó chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của các điều ước quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, pháp luật thuế nhập khẩu ở mỗi nước( trong đó có cả Việt Nam) được xây dựng và hoàn thiện theo hướng cơ bản sau: Chuyển hóa các cam kết quốc tế thành các quy định pháp luật trong nước bằng cách đưa vào luật những quy định mới hoặc sửa đổi, điều chỉnh những quy định đã có cho tương thích với các quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia đó đã hoặc sẽ tham gia. Thừa nhận các quy định quốc tế để áp dụng, sau đó sửa đổi luật pháp cho phù hợp với các quy định quốc tế( Ở Việt Nam hiện nay, giải pháp này được goi là “nội luật hóa” các điều ước quốc tế). Những chính sách trên đã có tác động lớn tới pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam và dẫn tới những thay đổi trong pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam.Ở Việt Nam,những thay đổi lớn lao và quan trọng trong chính sách thuế xuất nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của AFTA). Ngày 7112006 Việt Nam gia nhập WTO và trở thành thành viên chính thức của WTO từ ngày 1112007. Trước khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật như ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005,…để tương thích với các quy chế của WTO. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật bổ sung, hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật thời hậu WTO. Và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ, nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ. Hầu hết những thay đổi này đều được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn. Như vậy có thể nói, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến nội dung và thực thi chính sách thuế nhập khẩu ở Việt Nam c. Chính sách phát triển chung của nhà nước Dựa trên bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới,Đảng ta đề ra đường lối hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kì. Đảng và nhà nước đã đưa ra hai xu hướng để phát triển kinh tế đất nước đó là:Bảo hộ mậu dịch, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước. Xu hướng thứ hai là tự do hóa thương mại, cắt giảm tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan của xu hướng tự do hóa thương mại. Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”. Để phù hợp với xu thế chung của thế giới,Việt Nam là lần lượt trở thành quốc gia thành viên của WTO, APEC, IMF, ASEAN…Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương. Tuy vậy việc trở thành thành viên của các liên minh kinh tế thế giới, việc kí kết những hiệp ước song phương, đa phương cũng lại trở thành một thách thức lớn cho Việt Nam vì Việt Nam phải cắt giảm quá nhiều loại thuế nhập khẩu đưa tới việc giá thành của những hàng hóa nhập khẩu đó giảm xuống trong khi đó chất lượng lại tốt hơn hàng hóa của Việt nam nên hàng hóa sản xuất trong nước không thể cạnh tranh được. Chính vì thế, để đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ về tập quán quốc tế về thuế quan và thương mại,ể bảo vệ được hàng hóa trong nước pháp luật thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam đã quy định việc áp dụng các biện pháp về thuế tự bảo vệ( nhằm bảo hộ các hàng hóa trong nước do bị cạnh tranh không chính đáng với hàng hóa cùng lọai được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam); áp dụng thuế chống bán phá giá( đối với hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam thấp hơn giá thông thường trong giao dịch thương mại; áp dụng thuế chống trợ cấp (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được trợ cấp từ nước xuất khẩu) và áp dụng thuế chống phân biệt đối xử (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt nam được xuất xứ từ nước ngoài mà trước đó đã có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Việt Nam). Đây là biện pháp quan trọng để bảo hộ nền sản xuất trong nước và tạo được nguồn thu đáng kể cho Ngân Sách Nhà nước từ việc “nhập khẩu” hàng hóa d. Nhu cầu thu Ngân Sách Nhà Nước về thuế nhập khẩu. Ngân sách nhà nước được hình thành để Nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội đồng thời tạo ra các hàng hóa, dịch vụ công cộng phục vụ cho người dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN trong đó có thuế nhập khẩu. Cũng giống như các quốc gia đang phát triển khác, bên cạnh vai trò bảo hộ hàng hóa, dịch vụ trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài thì ở nước ta, thuế nhập khẩu cũng giữ vai trò quan trọng cho ngân sách nhà nước. Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã ban hành và điều chỉnh các quy định pháp luật về thuế nhập khẩu cho phù hợp với từng giai đoạn nhất định của đất nước. Cụ thể, nhằm hạn chế tiêu dùng đối với một số hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, Nhà nước tăng thuế suất thuế nhập khẩu; đồng thời, để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước, pháp luật thuế nhập khẩu đã có các quy định hạn chế việc nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa mang tính chất tiêu dùng xa xỉ như ô tô, thuốc lá, rượu ngoại... Sự hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với hàng hóa nhập khẩu. Những số liệu về tỷ trọng của số thu hải quan so với tổng thu ngân sách nhà nước đã thể hiện được sự quan trọng của thuế nhập khẩu. Tiêu biểu, theo số liệu từ phòng thuế xuất nhập khẩu chỉ riêng tại Cục Hải quan Quảng Ninh, tính tới ngày 3032014, Hải quan Quảng Ninh đã thu nộp ngân sách nhà nước đạt 4,734 tỷ đồng, đạt 25,3% kế hoạch Bộ Tài chính giao cho, tăng 62% so với cùng kì năm 2013. Trong đó, đặc biệt là thu từ xăng dầu nhập khẩu. Cụ thể, số thu từ nhóm mặt hàng này đã đạt 2,985 tỷ đồng, chiếm 63% tổng thu toàn Cục; tăng 57% (tương đương 1,087 tỷ đồng) so với cùng kì 2013. Yếu tố tác động tới việc tăng kim ngạch, số thu từ nhóm mặt hàng xăng dầu nhập khẩu được lí giải là do mức thuế suất thuế nhập khẩu nhóm hàng này tăng hơn 4% so với mức thuế suất cùng kì 2013, lượng xăng dầu nhập là 453.000 tấn, tăng 23% (tương đương 87.000 tấn), kim ngạch tăng 14% (tương đương 54 triệu USD) so với năm 2013. Trước áp lực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4% với lộ trình thực hiện sau 5 đến 7 năm. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu – một trong những loại hình thuế gián thu quan trọng, đang đặt ra những thử thách mới cho việc xây dựng chính sách thuế gián thu, đó là làm sao tiếp tục bảo hộ sản xuất trong nước, tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước, không quá ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Thực tế đã cho thấy, khi thuế nhập khẩu bị cắt giảm, giá cả của một số nhóm hàng hóa như máy móc, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài cũng bị giảm theo. Do nhu cầu trong nước vẫn không giảm và có thể còn tăng lên nên những sản phẩm trong nước có cơ hội tăng lên về số lượng và giảm giá thành. Hệ quả này thúc đẩy nhu cầu mua sắm, tiêu dùng hàng hóa trong nước và làm tăng thu ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân,… Bên cạnh đó, ngoài việc bù đắp cho ngân sách bằng khoản thu của các loại thuế khác, việc cắt giảm thuế nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng nếu không muốn bị loại ra khỏi cuộc chơi. Như vậy, có thể thấy, với nhu cầu của ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các khoản chi tiêu phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển của đất nước, Nhà nước bằng quyền lực của mình đã có những tác động không nhỏ tới các chính sách cũng như các quy định về pháp luật thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng. 2. Các yếu tố mang tính đặc thù ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam a. Ý thức của người tham gia nộp thuế nhập khẩu Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi Luật thuế nhập khẩu. Ý thức của người nộp thuế tốt thì việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu sẽ tốt và ngược lại. Nhưng trên thực tế, việc thực thi pháp luật thuế còn gặp nhiều bất cập và một lý do là do ý thức của người nộp thuế chưa được tốt. Trên thực tế, người nộp thuế đã luôn có những hành vi gian lận thuế nhập khẩu như: Khai báo không trung thực về giá tính thuế nhập khẩu,các chủ thể nộp thuế thường không khai báo chính xác mà khai giá nhập khẩu thấp hơn hoặc khai thấp về chất lượng hàng những chủ thể nộp thuế thường khai chất lượng hàng thấp hơn so với thực tế nhằm trốn thuế nhập khẩu… Gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam cam kết giảm thuế. Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế suất thấp hơn… Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu Mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập, trị giá hải quan ảnh hưởng đến công tác kiểm tra của hải quan. Một số kiểu lách luật khác…. Chính những hành vi gian lận trên đã có ảnh hưởng xấu tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Pháp Luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam vốn dĩ vẫn chưa được hoàn thiện và còn nhiều kẽ hở khiến cho việc người nộp thuế tìm ra những vết nứt để luồn lách khiến cho pháp luật thuế nhập khẩu đã hổng nay còn hổng hơn. Trong khi đó bộ máy quản lý pháp luật thuế nhập khẩu cũng vẫn chưa được hoàn thiện. Vậy nên có thể nói việc thực hiện pháp luât thuế nhập khẩu có tốt hay không phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của người đi nộp thuế. Nếu người nộp thuế có ý thức tự giác trong việc nộp thuế, sẵn sàng đóng góp ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế nhập khẩu thì dù có còn lỗ hổng thì việc thực thi và quản lý pháp luật thuế nhập khẩu vẫn sẽ trở nên rất dễ dàng ở Việt Nam. a. Sự quản lý, trình độ quản lý của bộ máy quản lý thuế nhập khẩu Trong những năm vừa qua, Nhà nước ta đã chăm lo nhiều đến công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, phẩm chất đạo đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ quản lí thuế, tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho công tác quản lí thuế, đổi mới cơ cấu tổ chức ngành thuế cho phù hợp, đổi mới cải cách thủ tục hành chính,… Nói chung, Nhà nước thực hiện các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực quản lí của cả bộ máy quản lí thuế để tiến đến việc ban hành các quy định mới trong pháp luật thuế như: quản lí thuế thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp; quản lí thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ, thực hiện quản lí thuế hiện đại theo chuẩn mực chung. Nhờ đó mà năng lực quản lý của cán bộ thuế ngày càng được bồi dưỡng và đạt được hiểu quả cao trong công tác. Việc thực thi pháp luật thuế trở nên đúng mực, dễ thực hiện hơn. Tuy vậy cũng không thể không kể tới một số không nhỏ cán bộ công chức còn chưa có năng lực thực sự, thêm vào đó là bộ máy quản lý thuế nhập khẩu còn cồng kềnh, chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến những kẻ hở để những nhà nhập khẩu có thể lách luật nên công tác tự khai tự nộp thuế nhập khẩu ở nước ta vẫn chưa thể thực hiện được b. Cơ sở vật chất Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động nhập khẩu cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Không thể phủ nhận là cơ sở vật chất của ngành hải quan đang ngày càng được hoàn thiện. Hiện nay, chúng ta đang triển khai mô hình thực hiện hải quan điện tử theo Quyết định 1032009QĐTTg, Thông tư 2222009TTBTC. Mô hình này đã đạt được những thành tựu nhất định. Đối với 13 cục hải quan tỉnh, thành phố, số doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện tử đã đạt 43.168 doanh nghiệp; số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đạt 1,58 triệu tờ khai, chiếm tỷ lệ 70%; kim ngạch thực hiện hải quan điện tử đạt 116,7 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 70,3% . Hải quan điện tử mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp như giảm chi phí thủ tục, thời gian…, giảm việc sách nhiễu, tiêu cực. Số chi cục thực hiện hải quan điện tử cũng đã đạt 80 chi cục, chiếm tỷ lệ 95%. Việc này giúp cho hoạt động kiểm tra, giám sát nhập khẩu được dễ dàng, thuận tiện hơn, giúp cho pháp luật thuế nhập khẩu có thể được thực hiện một cách triệt để hơn. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bất cập, thiếu thốn, là yếu tố trở ngại cho việc thực thi thuế nhập khẩu như:Phương tiện, trang thiết bị trợ giúp cho cán bộ hải quan vẫn còn lạc hậu, gây ra nhiều khó khăn, đặc biệt là trong công tác chống buôn lậu ; Nơi làm việc cho cán bộ công chức tại trụ sở Cục hải quan Thành phố cũng như tại các Chi cục cửa khẩu có nhiều khó khăn do mặt bằng làm việc chật hẹp. Tại các cửa khẩu Hải quan không có đất để xây dựng trụ sở mà phải lệ thuộc vào cơ quan chủ quản trên địa bàn (Cảng biển, sân bay, bưu điện…) nên rất khó khăn, bị động trong triển khai nghiệp vụ. Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị, công nghệ thông tin cũ, không đồng bộ, phần mềm quản lý chưa hoàn thiện nhưng chưa được trang bị mới, nâng cấp, chưa được trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết như: camera quan sát, máy soi, máy phát hiện ma túy… Chính những khó khăn này đã gây ra những cản trở tới việc quản lý, giám sát các hoạt động thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta. c. Nhu cầu của người tiêu dùng Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Bởi lẽ có “cầu” thì mới có “cung”. Tuy Việt Nam vừa thoát khỏi danh sách những nước nghèo trên thế giới nhưng ở Việt Nam lại có tâm lí “sính hàng ngoại”. Tuy nhiên trước đây do thuế suất những mặt hàng nhập rất cao nên những mặt hàng nhập khẩu chỉ đến được tay giới thượng và đương nhiên tính về mặt bằng chung thì nhu cầu về hàng nhập khẩu cũng không lớn. Phải cho đến mấy năm gần đây, khi mà kinh tế của nước ta bắt đầu có bước phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, họ đã có nhu cầu nhiều hơn được sử dụng những mặt hàng nhập khẩu với chất lượng tốt, thêm vào đó thuế suất các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng giảm,nó đã làm cho nhu cầu của người dân về hàng nhập tăng lên. Như vậy phần nào nó cũng có ảnh hưởng gián tiếp tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu bởi lẽ khi người dân có nhu cầu, những nhà nhập khẩu sẽ tìm cách để cung ứng được cho khách hàng. Từ đó, những nhà nhập khẩu sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi việc áp dụng thuế nhập khẩu ở nước ta. Còn vấn đề thực thi thế nào(trung thực hay gian lận) lại phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của các nhà nhập khẩu. d. Những yếu tố khác chi phối pháp luật thuế nhập khẩu. Ngoài những vấn đề nêu trên, Thuế nhập khẩu Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố khác như những Hiệp định, các văn bản kí kết của Việt Nam với các quốc gia khác. Tính đến giai đoạn hiện tại, Việt Nam đã ký kết gần 50 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia, vùng lãnh thổ. Nội dung thỏa thuận trong các Hiệp định có những phần đã thể hiện tại các văn bản pháp luật trong nước nhưng còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nội luật hóa, khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ trong ngành thuế cũng gặp nhiều khó khăn. Thực hiện các cam kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thực chất liên quan đến quyền lực của Nhà nước về thuế trước xu thế toàn cầu hóa.Quan hệ pháp luật thuế không chỉ chịu tác động của quá trình hội nhập mà còn chịu tác động của quá trình tái cơ cấu các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia.Chính những tác động này ảnh hưởng đến chính sách thuế và hệ thống pháp luật thuế. Nếu không có chính sách và lộ trình, bước đi cụ thể, tác động của hội nhập có thể ảnh hưởng đến quyền tự quyết và quyền chính trị quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần đưa ra những đường lối, chính sách đúng đắn và hệ thống pháp luật thuế phải trên cơ sở đường lối, chính sách mà Đảng, Nhà nước đưa ra. Yếu tố liên quan đến việc xây dựng và ban hành pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn của nhà lập pháp còn chưa cao, cơ quan lập pháp thể hiện ý chí chủ quan của mình, các văn bản pháp luật liên quan tuy nhiều nhưng chống chéo. Yếu tố liên quan đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật thuế chưa cao, trình độ nhận thức của người nộp IV. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN PHÁP LÝ NHẰM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA 1. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật . Thứ nhất : Cần bổ sung thêm một số quy định chi tiết và cụ thể hơn nữa nhằm tạo một hành lang pháp lý đầy đủ và thống nhất cho hoạt động nhập khẩu, đây là giải pháp đòi hỏi phải có tính đồng bộ nhằm tránh việc mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định của Luật và văn bản dưới luật. Trên cơ sở các cam kết của quá trình hội nhập, chúng ta phải nội luật hóa, từ đó xây dựng một hệ thống pháp luật tương thích với những quy tắc chung trong thương mại quốc tế, hướng đến một hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp và có tính khả thi. Thứ hai: Pháp luật thuế nhập khẩu phải xây dựng một hàng rào bảo hộ thuế quan hợp lý. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế điển hình là việc chúng ta gia nhập WTO đòi hỏi chúng ta phải cắt giảm hàng rào thuế quan, do đó cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng các loại thuế nhập khẩu bổ sung như thuế nhập khẩu để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa. Trong luật thuế xuất nhập khẩu 2005 thì những quy định về các loại thuế này chỉ mang tính hình thức, quy định cho có chứ chưa làm rõ và chưa phát huy được vai trò của các loại thuế này. Trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay, khi vai trò của thuế nhập khẩu buộc phải giảm dần theo các cam kết quốc tế thì việc nâng cao vai trò của các loại thuế nhập khẩu bổ sung là vô cùng cần thiết. Thứ ba: Về cách quy định thuế suất thuế nhập khẩu: theo quy định của luật thì “thuế suất thông thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng do chính phủ quy định”. Theo cách tư duy ngôn ngữ của người Việt thì quy định này dễ gây hiểu sang hướng thuế suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, tức là thuế suất thông thường tối đã bằng 70% thuế suất ưu đãi chứ không phải là 170% theo cách hiểu của nhà làm luật. Do vậy luật nên đổi lại cách diễn đạt cho phù hợp và dễ hiểu, nhằm giúp những người không nghiên cứu sâu về luật có được cách hiểu đúng nhất khi đọc luật thuế xuất, nhập khẩu năm 2005. Thứ tư: Về thời hạn nộp thuế: hiện nay luật đưa ra hai tiêu chí để xác định thời hạn nộp thuế là thời hạn xác định theo mặt hàng nhập khẩu và thời hạn xác định theo sự chấp hành pháp luật thuế của chủ thể nộp thuế. Theo em, luật chỉ nên lấy một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế. Như vậy sẽ vừa phù hợp với Luật hải quan đã sửa đổi, bổ sung năm 2005, vừa khuyến khích sự chủ động, tự giác tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế. Nếu dựa trên mặt hàng nộp thuế để xác định thời hạn nộp thuế vô hình chung đã đánh đồng những người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật với những người không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tạo những kẽ hở cho những doanh nghiệp “ma” lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước để trục lợi, trốn thuế. Thứ năm: Về thuế suất: hiện nay thuế suất thông thường được Bộ tài chính quy định áp dụng thống nhất ở mức bằng 150% thuế suất ưu đãi. Quy định này mang nặng tính duy ý chí và vô hình lấn át cả quy định của luật (luật cho phép dao động ở mức 100% đến 170%). Như vậy Bộ tài chính cần có những quy định cụ thể, trường hợp nào áp dụng thuế suất là bao nhiêu nhằm khắc phục sự cứng nhắc trong áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan cho từng trường hợp riêng lẻ nào. 2. Cải cách thủ tục hải quan theo hướng giản đơn, thông thoáng, hiệu quả, hợp lý. Thứ nhất: đối với những cải cách trong thủ tục hải quan: hiện nay ngành hải quan đang nỗ lực trong việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan, đây là dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động nhập khẩu được thực hiện một cách nhanh gọn, hiệu quả. Song một số quy định của Luật tuy rất tiến bộ nhưng lại chưa phù hợp với thực tế. Theo những quy định của pháp luật thuế và hải quan kể từ năm 2006 chính thức thực hiện quy trình thủ tục hải quan thực hiện kĩ thuật quản lí rủi ro. Quản lý thủ tục hải quan phải hướng tới áp dụng phương pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ số để phù hợp với xu hướng chung của thế giới, hạn chế được những khâu rườm rà trong việc kê khai thủ tục. Cùng với đó, phương thức quản lý này cũng giảm được đáng kể tình trạng khai lậu, trốn thuế, góp phần giảm thiểu đáng kể các khâu trong quá trình thu thuế, khai thuế và nộp thuế ở các cửa khẩu. Công tác này nếu dược thực hiện nghiêm túc sẽ đem lại kết quả cao trong công tác hải quan, quản lí và kiểm soát một cách chặt chẽ, sát thực tế nhất. Thứ hai, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan như Tổng cục hải quan phải kết hợp với Bộ tài chính cải cách và phổ biến cách thức quản lý mới. Chúng ta cần đơn giản hóa bộ hồ sơ hải quan, cụ thể là bỏ bớt một số giấy tờ như giấy giới thiệu, tờ khai trị giá, bộ hồ sơ copy, hợp đồng thương mại. Đặc biệt, nhóm hàng gia công yêu cầu nộp bảng khai nguyên vật liệu cho doanh nghiệp tự cung ứng trong nước là không thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta cần cải cách mạnh mẽ khung pháp lý quản lý hàng nhập khẩu theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch đồng thời tăng cường hiện đại hóa ngành hải quan thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hải quan. 3. Nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và chất lượng đội ngũ cán bộ hải quan. Cần đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật giúp các cán bộ hải quan hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Đề cập đến vấn đề này tại Hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2011, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Ban chỉ đạo 127 Trung ương phải khẩn trương tổng hợp và đề xuất bổ sung các phương tiện cụ thể để đáp ứng tốt hơn cho công tác chống buôn lậu trong thời gian tới. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng: “Về phương tiện và trang thiết bị, cần có danh mục và đề xuất phương án cụ thể. Trên cơ sở danh mục, đề xuất cụ thể đó, Chính phủ sẽ có chính sách để tập trung trong 1 số năm đẩy mạnh trang thiết bị cũng như công tác đào tạo cho các đồng chí để chúng ta có thể đáp ứng được yêu cầu”. Đi đôi với việc cải cách thủ tục hành chính, chúng ta cần đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu vì nếu như có một hệ thống pháp luật khoa học, đúng đắn nhưng người thực hiện không làm đúng, làm tốt nhiệm vụ của mình thì cũng không thể mang lại hiệu quả cao được. Theo đó, chúng ta cần lựa chọn công chức có đạo đức, trình độ để bố trí vào những bộ phận cụ thể, có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cán bộ hải quan để nâng cao trình độ nghiệp vụ của họ đồng thời xử lí nghiêm minh công chức vi phạm pháp luật thuế nhập khẩu. Bên cạnh đó cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu vì công tác thanh tra, kiểm tra có tác dụng bảo đảm việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu đúng đắn hơn, phát hiện những thiếu sót, hạn chế của chính sách để từ đó có thể khắc phục kịp thời, đồng thời tránh tình trạng quan liêu, cửa quyền hay lợi dụng quyền hạn để làm trái pháp luật của một số cán bộ công chức nhà nước. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy có thể nói có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay. Những nhân tố trên là nhân tố thúc đẩy pháp luật thuế nhập khẩu ngày một hoàn thiện hơn. Qua đó có thể thấy, pháp luật thuế nhập khẩu vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được lấp đầy, sửa đổi, bổ sung hơn nữa .
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn tốt nghiệp thiết kế hệ thống cung cấp điện

Luận văn tốt nghiệp thiết kế hệ thống cung cấp điện

điện năng đang ngày càng đóng vai trò hết sức quan trong trong đời sống con người. chính vì những ưu điểm vượt trội của nó so với các nguồn năng lượng khác mà ngày nay điện năng được sử dụng hết sức rộng rãi trong mọi lĩnh vực. Có thể nói rằng ngày nay không một quốc gia nào trên thế giới không sản xuất và tiêu thụ điện năng, và trong tương lai thì nhu cầu của con người về nguồn năng lương đặc biệt này sẽ vẫn tiếp tục tăng cao. Trong những năm gần đây, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, xã hội. Số lượng các nhà máy công nghiệp, các hoạt động thương mại, dịch vụ...gia tăng nhanh chóng, dẫn đến sản lượng ddienj sản xuất và tiêu dùng ở nước ta tăng lên đang kể và dự báo sẽ tiếp tục tăng nhawnh trong những năm tới.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề